Đài Vatican phỏng vấn Đức Hồng Y Fernando Filoni

Đài Vatican phỏng vấn Đức Hồng Y Fernando Filoni

TIN VIỆT NAM. Trong chương trình viếng thăm Giáo Hội tại Việt Nam, sáng ngày 21-1-2015, ĐHY Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ Truyền Giáo đã đến viếng thăm giáo xứ Hòa Bình thuộc giáo phận Hưng Hóa và chủ sự lễ ban bí tích Khai Tâm Kitô giáo cho hàng trăm dự tòng.

Chiều hôm trước đó, 20-1, ĐHY đã gặp Ban tôn giáo chính phủ, rồi được thủ tướng Việt Nam tiếp kiến..

Trong cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Roberto Piermarini, trưởng các ban thông tin của Đài Vatican, ĐHY Filoni đã kể lại một số cảm tưởng của ngài:

– Giáo Hội tại Việt Nam là một Giáo Hội rất sinh động. Tôi đã gặp thấy tại Hà Nội này và cả sáng hôm nay (21-1), tại giáo xứ Hòa Bình trong giáo phận Hưng Hóa, một Giáo Hội rất đẹp, rất sinh động, rất khả ái và rất nhiệt thành. Hôm nay trong giáo xứ ấy tôi đã ban phép rửa tội cho hơn 200 tín hữu – người lớn, cả các cha mẹ và trẻ em-. Đó là những tín hữu phần lớn là người dân tộc, sống trong các cộng đoàn ở miền núi. Đó thực là một buổi lễ rất đẹp. Sau khi chịu phép rửa tội, họ được nhận lãnh bi tích Thêm Sức và Thánh Thể. Rồi có một đại lễ cho toàn thể cộng đoàn để đón nhận các anh chị em từ nay là thành phần của Giáo Hội địa phương. Đó là những yếu tố vắn tắt để giải thích vẻ đẹp, sức sinh động của Giáo Hội này và tất cả sự sẵn sàng của họ cùng tiến bước với Đức Thánh Cha Phanxicô trong việc dấn thân truyền giáo.

H. ĐHY đã được chính quyền Việt Nam tiếp đón như thế nào? Cuộc viếng thăm ca ĐHY có thể là một bước tiến xa hơn nữa trong quan hệ giữa Việt Nam và Tòa Thánh hay không?

Đ. Tôi nghĩ và hy vọng là như thế. Với sự ngạc nhiên từ phía tôi, trước tiên tôi đã được Ban tôn giáo chính phủ tiếp kiến, ông trưởng ban và các cộng sự viên của ông, tôi đã gặp Ban tôn giáo chính phủ trong một tiếng đồng hồ, rồi sau đó được thủ tướng Việt Nam tiếp kiến trong 45 phút. Ông là người rất tử tế, ông đã gặp Đức Thánh Cha và vì thế ông có nhắc lại cuộc gặp gỡ với Ngài. Tôi thấy ông là người rất cởi mở, rất sẵn sàng tiếp tục cuộc đối thoại đã được khởi sự và dần dần có thể thực hiện những bước tiến. Rồi chiều hôm nay (21-1), tôi cũng có cuộc gặp gỡ hơn 3 khắc đồng hồ với ông bí thư đảng cộng sản ở Hà Nội, và ông cũng là thành viên Ủy ban trung ương đảng cộng sản Việt Nam. Chúng tôi đã có một cuộc trao đổi rất dễ chịu, về lòng quí mến đối với nhân dân Việt Nam, sự dấn thân từ phía các tín hữu Công Giáo. Tôi tái khẳng định rằng đối thoại là yếu tố cơ bản để cảm thông lẫn nhau, và ở căn bản sự đối thoại cần phải có sự quí chuộng. Và sự quí chuộng mà Tòa Thánh có đối với nhân dân Việt Nam cũng được biểu lộ qua tình yêu thương, đó không phải chỉ là một khía cạnh hoàn toàn là hình thức quí mến, nhưng là một tình yêu sâu xa đối với dân tộc Việt Nam, đặc biệt là đối với cộng đoan Kitô. Vì thế, tôi đón nhận những yếu tố tích cực củng tố cuộc đối thoại đã có và dĩ nhiên chúng tôi hy vọng là có thể tiến triển nữa. Đó là đường hướng mà tôi thấy. Tham dự cuộc đối thoại của tôi cũng có Đức Cha Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Việt Nam, Đức TGM Girelli Đại diện Tòa Thánh, Đức TGM Hà Nội: tất cả chúng tôi đều có sự ngạc nhiên ấy và ấn tượng tốt về một quan hệ chắc chắn là sẽ còn có thể tăng trưởng”.

G. Trần Đức Anh OP chuyển ý

Họp báo của Đức Thánh Cha trên máy bay: 19-01-2015

Họp báo của Đức Thánh Cha trên máy bay: 19-01-2015

Trên chuyến bay dài gần 15 tiếng từ Manila về Roma, ĐTC đã mở cuộc họp báo dài hơn 1 tiếng đồng hồ với 76 ký giả tháp tùng, để tổng kết chuyến viếng thăm tại Philippines và ngài cũng đề cập đến nhiều vấn đề thời sự: từ nạn tham nhũng trong các tổ chức dân sự và Giáo Hội đến vấn đề ”thực dân hóa gia đình về ý thức hệ”, từ lý thuyết về giống (Gender theory) cho đến vấn đề ngừa thai. Ngài cũng nói đến một loạt những cuộc tông du có thể thực hiện trong năm nay, 2015.

– Trả lời câu hỏi: ”Dân Philippines đã học được nhiều từ các sứ điệp của ĐTC. Vậy ĐTC đã học đưc điều gì nơi dân Philippines? Ngài đáp:

”Những cử chỉ.. những cử chỉ làm cho tôi cảm động. Không phải những cử chỉ theo nghi thức, nhưng là những cử chỉ xuất phát từ con tim, hầu như những cử chỉ ấy làm rơi lệ (ĐGH rướm lệ). Đức tin, tình yêu, gia đình, tương lai, nơi cử chỉ của những người cha nâng bổng các đứa con của họ.. như thể họ nói: đây là kho báu của tôi, đây là tương lai của tôi và làm việc và chịu đau khổ vì kho báu này thật là điều bõ công”. Một cử chỉ độc đáo, xuất phát từ con tim.

Điều thứ hai làm tôi xúc động nhiều: lòng nhiệt thành không giả bộ, niềm vui, sự hân hoan, khả năng mừng lễ. Dù dưới trời mưa. Một trong những người trong ban nghi lễ phụng vụ nói với tôi là rất cảm động, vì thấy những người giúp lễ ở Tacloban, dưới trời mưa, vẫn không bao giờ mất nụ cười. Một niềm vui không giả dối, không phải là một nụ cười gượng gạo, nhưng đó là một nụ cười đàng sau đó có cuộc sống bình thường, có những đau khổ, các vấn đề. Những người mẹ mang những đứa con bệnh tật.. Bao nhiêu trẻ em tàn tật, với những tật nguyền có thể gây ấn tượng, họ không giấu kín con của họ, họ mang đến để ĐGH chúc lành: đây là con tôi, bé tàn tật như thế, nhưng đó là con tôi. Tất cả những bà mẹ làm điều ấy, nhưng cách họ làm khiến tôi xúc động. Một cử chỉ của tình mẫu tử, phụ tử… Philippines là một dân tộc biết chịu đau khổ và có khả năng trỗi dậy, tiếp tục tiến bước. Hôm qua (18-1-2015), trong cuộc nói chuyện với thân phụ cô Krystel, thiếu nữ thiện nguyện bị thiệt mạng ở Tacloban, tôi cảm thấy được khích lệ vì điều mà ông nói: ”Cháu đã chết trong lúc phục vụ”. Ông tìm những lời để diễn tả sự chấp nhận tình trạng bị mất con như vậy”.

Những cử chỉ đã đánh động sâu xa con tim của ĐGH Phanxicô cũng là những cử chỉ của các nạn nhân sống sót sau cuồng phong ở Tacloban. Ngài nói: ”Khi nhìn thấy toàn thể dân Chúa cầu nguyện sau thiên tai ấy, tôi cảm thấy như bị tiêu diệt, hầu như không nói nên lời nữa”.

– Và thực sự khi gợi lại điều ấy, ĐGH vẫn còn cảm thấy xúc động, nhưng giọng nói của ngài thay đổi khi một ký giả hỏi ngài: đâu là những cuộc viếng thăm ngài d định thực hiện trong những tháng tới đây. Như thói quen, ngài chỉ trả lời lướt qua, và cho biết đây chỉ là những dự án đang ở trong vòng cứu xét:

”Tôi chỉ trả lời như giả thuyết. Chương trình dự tính là đến thăm Cộng hòa Trung Phi và Uganda. Hai nước trong năm nay. Tôi nghĩ là cuộc viếng thăm sẽ diễn ra vào khoảng cuối năm, vì lý do thời tiết, làm sao để thời tiết không bị mưa làm cho cuộc viếng thăm trở nên khó khăn hơn. Cuộc viếng thăm này hơi bị trể, vì có vấn đề bệnh dịch Ebola. Thật là trách nhiệm lớn khi tổp chức các cuộc tập họp lớn vì có nguy cơ bị lây bệnh. Tại hai nước vừa nói không có vấn đề”.

ĐTC cũng cho biết ngài có thể thăm 3 nước Mỹ châu la tinh, dự kiến cho năm nay – vẫn còn ở trong vòng dự định – đó là Ecuador, Bolovia và Paraguay. ”Rồi năm tới (2016), nếu Chúa muốn, tôi muốn thăm Chile, Argentina và Uguray, nhưng chưa dự kiến gì cả.”

Vì lý do thực tiễn trong việc tổ chức (cần thêm 2 ngày), ĐTC loại bỏ giả thuyết ngài sẽ đến California để phong hiển thánh cho chân phước Junipero Serra O.F.M. Lễ tôn phong sẽ diễn ra trong Đền thánh quốc gia ở Washington. Cũng vì lý do tương tự, không có vấn đề từ Mêhicô đi vào Hoa Kỳ, tuy rằng cử chỉ đó có thể có giá trị ”huynh đệ” đối với những người nhập cư. ”Đi vào Hoa Kỳ từ biên giới Mêhicô sẽ là một điều đẹp như một dấu chỉ huynh đệ, nhưng bạn biết rằng đi Mêhicô mà không đến viếng Đức Mẹ (Guadalupe) thì sẽ là một thảm trạng, ”một chiến tranh sẽ bùng nổ!.. Tôi nghĩ tôi sẽ thăm 3 thành phố Hoa Kỳ thôi.”

ĐTC cũng cho biết ngài không đến El Salvador để phong chân phước cho Đức Cha Oscar Romero (TGM San Salvador).

– Trả lời câu hỏi về việc nhiều lần ngài tố giác nạn tham ô hối lộ, ĐTC tái khẳng định rằng đó là một điều ác, một hành động xấu xa có những hậu quả tai hại, đó là một ”vấn đề thế giới” thường ẩn nấp dễ dàng trng các tổ chức, các cơ quan, không kể nơi mỗi cá nhân, và tệ nạn này thường tạo nên nạn nhân nhiều nhất nơi người nghèo. Điều tương tự cũng có thể xảy ra khi những kẻ thối nát thuộc về Giáo Hội và ở trong Giáo Hội. ĐGH Phanxicô kể lại một giai thoại khi ngài còn làm GM ở Buenos Aires, khi hai quan chức chính phủ đến gặp và đề nghị sẽ chuyển một ngân khoản lớn (400.000 USD) cho những ”Villas miserias” (những khu phố nghèo) mà ngài thành lập, với điều kiện là ngài phải lấy một nửa số tiền đó bỏ vào ngân hàng để trao cho họ. Ngài đã nói với họ những lời này:

”Quí vị biết là chúng tôi trong các giáo hạt không có tài khoản ở ngân hàng; quí vị phải gửi tiền ở tòa Giám Mục với giấy chứng nhận”. Họ đáp: ”Ồ chúng con không biết như vậy”. Rồi họ ra đi.. Tham nhũng thật là điều dễ làm. Nhưng chúng ta phải nhớ điều này: tội lỗi thì có, tham nhũng thì không! Không bao giờ được tham nhũng. Chúng ta phải cầu xin ơn tha thứ cho những tín hữu Công Giáo ấy, gây gương mù vì sự tham nhũng của họ. Đó cũng là một tai ương trong Giáo Hội, nhưng cũng có bao nhiêu vị thánh, những vị thánh tội nhân, nhưng không tham nhũng.. Nhưng chúng ta cũng hãy nhìn sang phía bên kia, Giáo Hội Thánh Thiện”.

– Một ký giả Italia đã nhắc đến tấm gương cách đây 40 năm một vị Hồng Y (Léger) đã từ bỏ mọi sự đi đến ở nơi người cùi và phục vụ họ. ĐHY ấy là người duy nhất. Tại sao rất khó noi gương phục vụ người nghèo, kể cả đối với các Hồng Y?

ĐTC đáp: ”Về sự thanh bần, tôi nghĩ là Giáo Hội ngày càng phải nêu gương hơn về vấn đề này, từ khước mọi thứ trần tục. Đối với chúng tôi, những người được thánh hiến, các giám mục, linh mục, nữ tu, giáo dân có lòng tin thực sự, thì sự đe dọa trầm trọng nhất chính là tinh thần trần tục. Thật là điều đau buồn dường nào khi thấy một người thánh hiến, một người của Giáo Hội, một nữ tu, có tinh thần thế gian trần tục như vậy. Thật là xấu! Đó không phải là con đường của Chúa Giêsu, nhưng là của một tổ chức phi chính phủ (ONG) gọi là Giáo Hội. Đó không phải là Giáo Hội của Chúa Giêsu, nhưng là con đường của ONG”.

– Hai ký giả xin ĐGH làm sáng tỏ hai nhận xét mà ngài đã nói trong cuộc họp báo trên đường từ Colombo, Sri Lanka, đến Manila. Một câu hỏi về 'cú đm' cho người dám xúc phạm đến mẹ ngài – như từ vài ngày nay, báo chí vẫn đăng như một tựa đề -, nghĩa là ”đâu là những giới hạn của tự do ngôn luận. ĐGH tái khẳng định rằng ”trên lý thuyết” tất cả đều đồng ý về việc giơ má bên kia trong trường hợp bị khiêu khích, nhưng thực tế chúng ta là những con người và vì thế sự xúc phạm lập đi lập lại có thể tạo nên một phản ứng sai lầm. Vì thế, ĐGH quả quyết, có thái độ thận trọng, đó không phải là một điều xấu.

– Trả lời câu hỏi về thành ngữ mà ĐGH sử dụng, ”thực dân ý thức hệ”, ngài kể lại một sự kiện cách đây 20 năm, một bà bộ trưởng giáo dục đã yêu cầu (các tổ chức quốc tế) cho vay mượn một ngân khoản lớn để thiết lập những trường học cho người nghèo ở vùng nông thôn. Các tổ chức ấy cho mượn tiền với điều kiện là phải du nhập vào trường học một cuốn sách giáo khoa dạy lý thuyết về giống. Bà bộ trưởng ấy cần tiền và đó là điều kiện.. Bà trả lời là đồng ý, nhưng bà cũng ”khôn ngoan”, bà cho soạn một cuốn sách thứ II, có chiều hướng khác, và cho phân phát cùng với cuộc sách thứ I về lý thuyết giống.

ĐTC nhận xét: ”Đó thực là một sự thực dân hóa ý thức hệ: họ đi vào một dân tộc với một ý tưởng chẳng có liên hệ gì với dân chúng; đúng vậy, nó có liên hệ với những nhóm dân, nhưng không phải với nhân dân, và người ta thực dân hóa nhân dân với một ý tưởng thay đổi hoặc muốn thay đổi một não trạng hoặc một cơ cấu (…). Dầu sao đó không phải là điều mới mẻ. Các chế độ độc tài trong thế kỷ trước cũng đã làm như vậy. Họ đề ra các lý thuyết của họ. Các bạn hãy nghĩ đến ”Balilla”, đến giới trẻ Hitler. Họ đã thực dân hóa dân chúng và muốn làm như vậy. Bao nhiêu là đau khổ. Các dân tộc không được đánh mất tự do của mình”.

– Một đề tài khác được đề cập đến trong cuộc họp báo là vấn đề ngừa thai. Ký giả hỏi:

ĐTC đã nói về bao nhiêu trẻ em và niềm vui của ngài, nhưng theo các cuc thăm dò, phần lớn dân Philippines nghĩ rằng sự tăng trưởng quá lớn về dân số là một trong những lý do tạo nên nghèo đói ti nước này. Bình thường một phụ nữ sinh hơn 3 đứa con. Lập trường của Giáo hội về vấn đề ngừa thai là một trong những điều mà nhiều ngưi không đồng ý với Giáo Hội.” ĐTC đáp:

”Tôi nghĩ rằng con số 3 người con cho mỗi gia đình mà bạn nói, theo những điều mà các chuyên gia nói, là con số quan trọng để duy trì dân số. Khi xuống dưới mức đó thì người ta rơi vào thái cực khác, đó là điều đang xảy ra ở Italia, nơi mà tôi nghe nói – không biết có đúng không, – vào năm 2024 sẽ không đủ tiền để trả lương hưu.. Chìa khóa để trả lời – Giáo hội sử dụng và tôi cũng sử dụng – đó là sinh sản có trách nhiệm và mỗi người trong cuộc đối thoại với mục tử của mình tìm cách thực hiện việc làm cha làm mẹ trách nhiệm. Thí dụ mà tôi đã vừa nhắc đến là người phụ nữ đang mang thai đứa con thứ 8 và bà đã có 7 người con sinh bằng giải phẫu (parto cesareo). Làm như thế là vô trách nhiệm. Bà nói: ”Không, nhưng con tin tưởng nơi Thiên Chúa..”. Đúng vậy, Thiên Chúa ban cho bà các phương tiện, nhưng xin lỗi, có người nghĩ rằng để là tín hữu Công Giáo tốt, thì chúng ta phải như ”thỏ”. Phải sinh sản có trách nhiệm: vì thế trong Giáo Hội có những nhóm hôn nhân, những chuyên gia trong vấn đề này, và có các vị mục tử và tôi biết có bao nhiêu lối thoát hợp pháp, giúp trong vấn đề này. Một điều khác: đối với những người nghèo nhất, con cái là một kho tàng, dĩ nhiên là phải thận trọng, nhưng người con chính là một khó tàng. Sinh sản có trách nhiệm, nhưng cũng phải nhìn đến lòng quảng đại của người cha và người mẹ nhìn thấy nơi con cái họ là một kho tàng”.

ĐTC cũng nhắc đến thông điệp ”Humanae vitae” của Đức Phaolô 6, một vị ngôn sứ, chứ không phải là một vị Giáo Hoàng ”khép kín”. Ngài nói:

”Đức Phaolô 6 nhìn chủ thuyết tân Malthus (cho rằng nghèo đói là do dân số quá đông gây ra) đang lan tràn bấy giờ. Chủ thuyết ấy tìm cách kiểm soát nhân loại từ phía các cường quốc.

– Về lời ngài kêu gọi các nước Hồi giáo có lập trường chống lại các nhóm khủng bố, ĐTC nói là ngài tin tưởng rằng với thời gian, nhiều ”người tốt” trong thế giới Hồi giáo sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ hơn. Ngài cũng minh xác về việc không tiếp kiến Đc Đạt Lai Lạt Ma, vì ”thói quen trong nghi thức ngoại giao của Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh” không đón tiếp các vị Quốc Trưởng hoặc các vị ở cấp tương đương như vậy, khi các vị ấy đến Roma để tham dự một cuộc gặp gỡ quốc tế. ”Trong những ngày hội nghị thượng đỉnh FAO ở Roma, tôi không tiếp vị quốc trưởng nào. Không phải tôi không tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma vì sợ Trung Quốc. Ngài đã xin được tiếp kiến – và chúng tôi có quan hệ – nhưng lý do ở đây không phải là từ khước một nhân vật hoặc vì sợ Trung Quốc. Chúng tôi cởi mở và muốn có hòa bình với tất cả mọi người. Vậy quan hệ với Trung Quốc thế nào? Chính Phủ Trung Quốc thông thạo và cả chúng tôi cũng thông thạo và chúng tôi tiến hành sự việc từng bước một, cũng như sự việc tiến hành trong lịch sử. Chúng tôi không biết, nhưng họ biết rằng tôi sẵn sàng tiếp kiến hoặc đi tới Trung Quốc. Họ biết điều đó”.

Vào cuối cuộc họp báo, ĐTC đã chúc mừng sinh nhật bà Valentina Alazraki, ký giả truyền hình của Mexico, niên trưởng các ký giả tháp tùng ngài trên các chuyến bay. Ngài tặng quà riêng cho bà và cũng tặng bà và tất cả các ký giả tháp tùng một bánh ngọt lớn để mừng.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Nội dung bài nói chuyện của ĐHY Filoni Tổng trưởng Bộ Truyền Giáo với các linh mục giáo tỉnh Hà Nội

Nội dung bài nói chuyện của ĐHY Filoni Tổng trưởng Bộ Truyền Giáo với các linh mục giáo tỉnh Hà Nội

** Như qúy vị đã biết, trong các ngày từ 19 đến 25 tháng giêng ĐHY Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ Truyền Giáo, viếng thăm Việt Nam, theo lời mời của ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ tịch HĐGMVN.

Lúc 10 sáng ngày 20-1 vùa qua ĐHY đã gặp gỡ các linh mục toàn Giáo tỉnh Hà Nội. Sau đây chúng tôi xin gửi tới quý vị nội dung bài nói chuyện của ngài.

Mở đầu bài nói chuyện ĐHY nói: Anh em thân mến trong chức Linh Mục, tôi xin chào anh em tất cả, và tôi đem đến cho anh em phép lành của ĐTC Phanxicô. Tôi hài lòng được ở trên miền đất được chúc phúc này, miền đất của một Giáo Hội sinh động và vững vàng, nơi máu của nhiều vị tử đạo đã đổ ra một cách anh hùng. Hàng năm vào ngày 24 tháng 11 Giáo Hội cử hành việc tưởng nhớ các Thánh Anrê Dũng Lạc linh mục và 116 bạn tử đạo, tôi có dịp đọc lại bức thư hay đẹp của thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh, viết trong ngục gửi các chủng sinh. Tình yêu của ngài đối vớí Chúa Giêsu và Giáo Hội cũng như sự lo lắng mục vụ cho các chủng sinh được giao phó cho ngài, đánh động tôi rất nhiều. Gương sáng của ngài luôn luôn dấy lên trong tôi ước muốn nồng cháy đối với Chúa và việc phục vụ Giáo Hội Ngài. Như là các linh mục có trách nhiệm với các giáo đoàn Việt Nam anh em được mời gọi là “muối đất và ánh sáng” (x. Mt 5,13-15) trong xã hội này. Hãy noi gương các tiền nhân tử đạo anh dũng của anh em và hãy xứng đáng là những người kế vị các ngài.

** Tiếp tục diễn văn ĐHY Tổng trưởng Bộ Truyền Giáo đề cập tới công tác rao truyền Tin Mừng. Ngài nói: Anh em thân mến, đề trài rao giảng Tin Mừng vẫn còn và sẽ luôn luôn đáng kể, bởi vì Giáo Hội tự bản chất là truyền giáo. Đề tài này đã được ĐTC Phanxicô nhắc lại và nêu bật đặc biệt trong Tông huấn “Niềm vui Phúc Âm”. Tài liệu qúy báu này phải là điểm tham chiếu cho Giáo Hội Việt Nam, được mời gọi đồng thời bưóc đi trên con đường hoán cải và dấn thân rao giảng Tin Mừng. Trong nghĩa đó chúng ta hãy nhớ rằng việc rao giảng Tin Mừng nảy sinh từ Tin Mừng và liên tục tái sinh trong cuộc găp gỡ cá nhân với Chúa Giêsu. Cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu thay đổi đời sống đồng thời trao ban niềm vui sâu xa đích thật luôn hướng tới chỗ truyền thông. ĐTC viết: “Nếu có một ai đã tiếp nhận tình yêu trao ban cho mình ý nghĩa cuộc sống, làm sao lại có thể kìm hãm ước muốn thông truyền nó cho người khác được?” (EG, 8). Rao giảng Tin Mừng là loan báo Chúa Kitô, gặp gỡ Ngài và được Ngài canh tân. Thật là hay, điều ĐTC đã viết trong Thông điệp Ánh Sáng Đức Tin và lấy lại trong Tông huấn Niềm Vui Phúc Âm: “Giáo Hội không lớn lên vì chiêu dụ tín đồ nhưng vì hấp dẫn” (s. 14). Như là những người rao giảng Tin Mừng chúng ta sống kinh nghiệm niềm vui Phúc Âm trong việc trở thành con cái của Thiên Chúa, là linh mục của Chúa, trong việc phục vụ tín hữu được giao phó cho cho sự chăm sóc của chúng ta.

** ĐHY Tổng trưởng Bộ Truyền Giáo cũng đã đề cập tới tầm quan trọng của đời sống thiêng liêng. Ngài nói: Trước hết tôi muốn nói tới đời sống thiêng liêng của linh mục, bởi vì “nếu chúng ta sống theo Thần Khí, chúng ta cũng bước đi theo Thần Khí”, theo lời thánh Phaolô dậy các tín hữu Galát (5,25). Với các lời này thánh Tông Đồ nhắc cho chúng ta nhớ rằng cuộc sống thiêng liêng của linh mục phải được linh hoạt bởi Thần Khí của Thiên Chúa, là Đấng dẫn đưa chúng ta tới sự thánh thiện, được hoàn thiện bởi lòng bác ái. Chúng ta là linh mục, còn hơn mọi tín hữu khác, chúng ta được mời gọi sống thánh thiện bởi căn tính của mình: là những người đã được thánh hiến với dầu và được sai đi loan báo sứ điệp tươi vui cho người nghèo. Việc thánh hóa linh mục trước hết hệ tại mối dây thân tình và sâu xa với Chúa Giêsu, là Đầu và là Mục Tử của Giáo Hội. Các linh mục được mời gọi sống tính cách triệt để của Tin Mừng, bước theo Chúa Kitô khiết tịnh, khó nghèo và vâng lời. Trước hết linh mục là một người được mời gọi trở nên đồng hình dạng với Chúa Giêsu Thượng Tế và là Linh Mục Đời Đời. Nói cách khác, chúng ta phải yêu như Chúa Giêsu yêu, nghĩ như Chúa Giêsu nghĩ, hành động như Chúa Giêsu hành động, phục vụ như Chúa Giêsu phục vụ, trong mọi lúc của cuộc đời. Là linh mục không phải là một nghề hay một văn phòng bàn giấy có thể chọn thi hành trong một thời gian, rồi thôi. Là linh mục là “một kiểu sống” chứ không phải là một công việc. Vị linh mục sống chức linh mục của mình, nhưng không bao giờ hoàn toàn chiếm hữu nó. Là các linh mục của Thiên Chúa, hơn là các giáo sĩ, nghĩa là những người quen thuộc với một điều kiện tôn giáo trong chức linh mục. Để sống tràn đầy căn tính linh mục, đời sống thiêng liêng của linh mục phải gắn liền với lời cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa. Cầu nguyện và lắng nghe, như Mẹ Maria. Đó là thái độ của người tín thác nơi quyền năng của Thiên Chúa, để cho mình được Thiên Chúa sửa dậy và để cho Thiên Chúa hoạt động trong cuộc đời mình.

** Điểm thứ tư ĐHY Tổng trưởng Bộ Truyền Giáo trình bầy trong bài nói chuyện với các linh mục giáo tỉnh Hà Nội sáng ngày 20 tháng Giêng là cuộc sống luân lý. ĐHY nói: Liên quan tới cuộc sống luân lý tôi muốn nói về việc độc thân linh mục. Sự lựa chọn này phải đuợc nhìn trong bối cảnh của “mối dây mà sự độc thân có với Phép Truyền Chức Thánh, khiến cho vị linh mục trở nên đồng hình dạng với Chúa Giêsu Kitô, là Đầu và là Phu Quân của Giáo Hội. Giáo Hội, như là Hôn Thê của Chúa Giêsu Kitô, muốn được linh mục yêu thương một cách toàn vẹn và triệt để như kiểu Chúa Giêsu Kitô đã yêu thương Giáo Hội” (Pastores Dabo Vobis, 29). Hiểu như thế linh mục sẽ tiếp nhận sự độc thân “với quyết định tự do và yêu thương cần liên lỉ canh tân” (ibid.), vì ý thức về sự yếu đuối của điệu kiện là người của mình. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng “để sống tất cả các đòi buộc luân lý, nục vụ và tinh thần của việc độc thân linh mục lời cầu nguyện khiêm tốn và tin tưởng là điều tuyệt đối cần thiết (ibid,). Có một cách duy trì cuộc sống linh mục đó là vun trồng một tương quan huynh đệ với các anh em khác trong chức linh mục. Việc đồng hành và sư nâng đỡ của các linh mục luôn luôn là một ơn thánh và là một cứu giúp quý báu giúp cho chức linh mục và sứ vụ của chúng ta được sinh động. Nơi đâu thiếu một tương quan huynh đệ giữa các linh mục, thì nơi đó luôn luôn bắt đầu một cuộc khủng hoảng. Cần duy trì một tương quan tốt với cả Giám Mục của mình nữa, là cha và là đầu của Giáo Hội địa phương, trong sự qúy trọng và tin tưởng thổ lộ.

** Điểm cuối cùng ĐHY Filoni trình bầy là đời sống mục vụ. Ngài nói với các linh mục: Liên quan tới cuộc sống mục vụ ĐTC Phanxicô đã cảnh báo chúng ta về nguy cơ các linh mục gặp phải là “ám ảnh lo lắng cho thời giờ riêng tư của mình”. Ngài viết : “Điều này xảy ra một cách thường xuyên do sự kiện người ta cảm thấy nhu cầu cấp thiết phải duy trì các khoảng không độc lập, làm như thể nhiệm vụ rao truyền Tin Mừng là một thuốc độc nguy hiểm, thay vì là một trả lời tươi vui đối với tình yêu của Thiên Chúa, là Đấng triệu vời chúng ta cho một sứ mệnh và khiến cho chúng ta hoàn toàn và phong phú. Vài người kháng cự lại đến độ cảm thấy cho tới tận cùng hương vị của sứ mệnh và bị lôi cuốn vào sự thờ ơ gây tê liệt” (EG, 81). Để tận hiến toàn cuộc sống và sức lực cho việc phục vụ Giáo Hội, chúng ta cần có tình bác ái mục vụ của Chúa Giêsu, là Đấng đã trao ban mạng sống mình cho đoàn chiên. Chúng ta phải noi gương Chúa Giêsu trong việc tận hiến chính mình và trong việc phục vụ. Chính lòng bác ái mục vụ mà chúng ta đã được thấm nhuần, sẽ làm cho sứ vụ linh mục của chúng ta được phong phú và sẽ định đoạt kiểu suy tư và hành xử của chúng ta” (Pastores Dabo Vobis, 23). Tình bác ái mục vụ đòi hỏi nơi chúng ta việc hoán cải mục vụ, xin chúng ta “ra khỏi các tiện nghi của mình và có can đảm đi tới các vùng ngoại biên cần ánh sáng Tin Mừng” (EG, 20). Mục tiêu ưu tiên của lòng bác ái mục vụ là những người nghèo, những người bị gạt bỏ ngoài lề, những người bé nhỏ, đau yếu, những người tội lỗi và những người không tin.

Thể rồi trong các thành phố lớn cần chú ý đến các người di cư và các nô lệ mới. Trong sứ điệp gửi Ngày Hoà Bình Thế Giới 2015 ĐTC đã đề cập tới nhiều gương mặt của cảnh nô lệ: các công nhân bị biến thành nô lệ, các người di cư, các nam nữ nô lệ tình dục vv… Ngoài ra, trong sứ điệp cho Ngày Đi Cư Tỵ Nạn 2015 lần thứ 101 (3-9-2014) ĐTC đã viết rẳng Chúa Giêsu là “người rao giảng Tin Mừng tuyệt vời, là hiện thân Tin Mừng; và sự ân cần của Ngài đặc biệt hướng tới những người dễ bị tổn thương nhất và bị gạt bỏ ngoài lề, mời gọi tất cả mọi người lo lắng cho các người giòn mỏng nhất và nhận ra gương mặt đau khổ cùa Ngài, nhất là nơi các nạn nhân của các hình thức mới của sự nghèo túng và nô lệ”. Tình bác ái mục vụ khiến cho chúng ta luôn luôn sẵn sàng lãnh nhận bất cứ dấn thân nào cho thiện ích của Giáo Hội và của các linh hồn.

Anh em thân mến trong chức Linh Mục, tôi xin cám ơn lòng nhiệt thành và dấn thân không mệt mỏi của anh em trong công tác rao truyền Tin Mừng. Chúng ta hãy tiến lên, đươc linh hoạt bời tình yêu thương chung đối với Chúa và Giáo Hội Thánh Mẹ chúng ta. Xin Đức Mẹ La Vang che chở và đồng hành với anh em. Chúng ta hãy hiệp nhất trong lời cầu nguyện.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Hồng Y Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo gặp Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

Đức Hồng Y Tổng Trưởng Bộ Truyền Giáo gặp Hội Đồng Giám Mục Việt Nam

HÀ NỘI. Lúc 8 giờ rưỡi sáng thứ ba, 20-1-2015, ĐHY Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ truyền giáo, đã gặp HĐGM Việt Nam tại tòa TGM Hà Nội.

Hiện diện trong dịp này cũng có Đức TGM Leopoldo Girelli, đại diện không thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam. Sau lời giới thiệu của ĐHY Tân Cử Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, TGM Hà Nội, và diễn văn chào mừng của Đức TGM Phaolô Nguyễn Văn Đọc, Chủ tịch HĐGM Việt Nam, ĐHY Tổng trưởng Bộ truyền giáo đã ngỏ lời với các GM Việt Nam.

Trước tiên ngài chúc mừng Đức TGM Phêrô Nguyễn Văn Nhơn được ĐTC chọn làm Hồng Y trong những ngày qua và sẽ gia nhập Hồng Y đoàn vào ngày 14-2 tới đây. ”Đây thực là một cử chỉ rất đẹp đối với vị Giám Mục nhiệt thành này và là một vinh dự lớn cho Giáo phận Hà Nội và toàn thể Việt Nam. Tôi rất hài lòng được ở đây với anh em và thành tâm cám ơn Hội Đồng Giám Mục vì đã mời tôi viếng thăm đất nước của Anh em.”

ĐHY Filoni nhắc đến cuộc viếng thăm tại Việt Nam của hai vị tiền nhiệm ĐHY Crescenzio Sepe và ĐHY Ivan Dias, ”hai vị mang theo mình ấn tượng thật đẹp về một Giáo Hội sinh động. Cả tôi, trong dịp ấy tôi cũng có thể thấy tận mắt sức sinh động của các cộng đoàn anh em, nhiềm tin kiên vững của các tín hữu Việt Nam, mà tôi đã nghe trong các cuộc gặp gỡ với anh em và từ những phúc trình của vị Đại diện Tòa Thánh. Tôi biết rằng mức thực hành đạo thật là cao, từ 80 đến 93%, và nồng nhiệt, không những vào chúa nhật nhưng cả các ngày thường. Tôi cũng biết rằng trong tất cả các giáo phận và giáo xứ ở Việt Nam, các tín hữu thích họp thành các hội đoàn tông đồ giáo dân, và đây là điều rất hay. Khắp nơi họ tỏ ra đặc biệt quan tâm tới Lời Chúa và học hỏi giáo lý. Ngoài ra, họ muốn góp phần theo những cố gắng và khả năng của mình vàoviệc xây dựng và phát triển Giáo Hội cũng như đất nước.”

ĐHY Filoni nhắc đến Tông huấn Evangelii Gaudium (Niềm Vui Phúc Âm), là một văn kiện quí giá, vì là văn kiện chứa đựng chương trình hoạt động của Giáo Hội và trình bày viễn tượng của ĐGH Phanxicô về Giáo Hội trong những năm tới đây. Văn kiện này nói rằng ”niềm vui Phúc âm là căn bản của việc loan báo Tin Mừng. Niềm Vui Phúc Âm nảy sinh và tái nảy sinh từ cuộc gặp gỡ bản thân với Chúa Giêsu, từ đó phát xuất sự thay đổi trong cuộc sống và hoạt động truyền giáo..”

ĐHY Tổng trưởng Bộ truyền giáo cũng nói đến kỷ niệm 50 năm Sắc lệnh Ad Gentes của Công đồng chung Vatican 2 về hoạt động truyền giáo của Giáo Hội. ”Văn kiện khẳng định rằng hoạt động truyền giáo nảy sinh trực tiếp từ chính bản chất của Giáo Hội. Do động lực truyền giáo này, các hạt giống đầu tiên của đức tin được đưa tới Việt Nam này, do công trình của các cha dòng Tên, Hội thừa sai Paris, Dòng Đa Minh, dòng thánh Augustino, Phanxicô và bao nhiêu người khác. Những hạt giống bé nhỏ đã ăn rễ trong nền văn hóa và các phong tục, đến độ ngày nay đức tin đã đi vào sời sống của bao nhiêu người Việt Nam..”

”Sắc lệnh Ad Gentes của Công đồng ngày nay vẫn còn giá trị. ĐTC Phanxicô, trong Tông huấn ”Niềm Vui Phúc Âm”, khi trích dẫn thông điệp ”Sứ mạng Đấng Cứu Chuộc (Redemptoris Missio) đã tái khẳng định rằng ”hoạt động truyền giáo, cả ngày nay, vẫn là thách đố lớn nhất đối với Giáo Hội” và ”chính nghĩa truyền giáo phải là trách nhiệm đầu tiên” (n.15) của các Giám Mục. Giám Mục như là đầu và là trung tâm hoạt động tông đồ của giáo phận, phải thăng tiến, điều khiển và phối hợp hoạt động truyền giáo, và hơn nữa, phải khuyến kích tất cả mọi thành phần Dân Chúa tham gia hoạt động truyền giáo…”

ĐHY Tổng trưởng Bộ truyền giáo cũng đề cao ”Vị Tôi Tớ Chúa Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, chứng nhân hy vọng và là thừa tác viên lòng từ bi của Chúa, thực là mẫu gương đặc biệt về việc loan báo Lời Chúa, trong mọi lúc, dù thuận lợi hay không thuận lợi, Người cũng chỉ cho chúng ta thấy cách thực thực thi lòng kiên nhẫn và khôn ngoan, đặc biệt là trong việc đối thoại. Đức Thánh Cha Phanxicô thường khẳng định rằng cần phải thăng tiến đối thoại và nền văn hóa gặp gỡ”.

Và ĐHY Tổng trưởng Bộ truyền giáo nói với HĐGM Việt Nam rằng: ”Vai trò của HĐGM anh em hệ tại trước tiên là hướng dẫn và phối hợp công cuộc loan báo Tin Mừng, để tránh phân tán năng lực về nhân sự và hoạt động, làm sao để toàn thể thực tại – địa phương, dân sự và xã hội- có thể được hội nhập với nhau, đặt trong tình hiệp thông những cố gắng của cá nhân và các nhóm họp thành Giáo Hội. Như thế sự hiệp nhất được thể hiện trong sự đa diện, và sự hiệp nhất ấy không phải là đồng nhất”.

”Trước khi kết thúc những suy tư vắn của tôi, tôi muốn gửi đến tất cả các anh em trong hàng giám mục, một lời đánh giá cao hoạt động truyền giáo mà anh em đang thực hiện, vì lòng quảng đại mục vụ và về tình hiệp thông đáng ca ngợi của anh em với Đức Thánh Cha.”

”Tôi phó thác mỗi người trong anh em, các giáo phận và sứ vụ chủ chăn của anh em cho sự bảo vệ từ mẫu của Đức Mẹ La Vang. Xin Chúa Thánh Linh, nhờ lời chuyển đầu của Mẹ maria, củng cố nơi anh em ước muốn phụng sự Nước Thiên Chúa, với tất cả tâm hồn và sức lục, trong tình liên đới với Đức Thánh Cha và giữa anh em với nhau”.

G. Trần Đức Anh OP – Viatican Radio

6 triệu người tham dự thánh lễ với Đức Thánh Cha tại Manila

6 triệu người tham dự thánh lễ với Đức Thánh Cha tại Manila

VATICAN. Chiều chúa nhật 18-1-2015, 6 triệu người – theo chính quyền địa phương – đã tham dự thánh lễ do ĐTC Phanxicô cử hành tại Công viên Rizal (Luneta) ở thủ đô Manila, là hoạt động cuối cùng của ngài trong 3 ngày viếng thăm Philippines.

Lúc 2 giờ rưỡi chiều, ĐTC đã rời tòa Sứ Thần Tòa Thánh để đến Công viên Luneta cách đó 7 cây số, để cử hành thánh lễ cho các tín hữu. Công viên này có tên chính thức là Rizal, tên của Ông José Rizal, anh hùng quốc gia, vốn là một thi sĩ, văn sĩ và là nhà cách mạng bị người Tây Ban Nha hành quyết vì tội khuynh đảo hồi năm 1896.

Công viên Luneta rộng 60 hécta, có thể chứa được vài triệu người, vào những dịp đại lễ toàn quốc. Đặc biệt trong dịp Ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 10, ngày 15-1 năm 1995, có tới 4 triệu tín hữu đến tham dự thánh lễ do thánh Gioan Phaolô 2 Giáo Hoàng cử hành tại đây.

 

Khi đến nơi, ĐTC Phanxicô đã dành 45 phút đồng hồ, đi xe díp trắng tiến qua các lối đi của công viên rộng lớn, để chào thăm các tín hữu. Trong số các tín hữu tham dự thánh lễ với ĐTC Phanxicô chiều hôm qua, cũng có tổng thống Aquino III và nhiều vị lãnh đạo trong chính phủ. Mọi người đều mặc áo mưa, giống như buổi gặp gỡ ban sáng của ĐTC với các bạn trẻ.

Và cũng như nhiều buổi phụng vụ và gặp gỡ khác, thánh lễ ĐTC cử hành chiều hôm qua cũng có các bài đọc, kinh nguyện, bằng 7 ngôn ngữ của Philippines, không kể tiếng Anh và la tinh.

Thánh lễ có chủ đề là lễ kính Chúa Hài Đồng, với tượng Chúa Hài Nhi đặt cạnh bàn thờ, và rất được tôn kính tại Philippines. Đồng tế với ĐTC còn có hằng trăm Giám Mục và hàng ngàn linh mục. Phần thánh ca do một ca đoàn rất hùng hậu, với hàng ngàn ca viên ở bên phải của lễ đài.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng, ĐTC đã nhắc đến lễ kính Chúa Hài Đồng, và ngài làm nổi bật mối liên hệ giữa Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm thơ ấu thiêng liêng, Tin Mừng giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ, con đường hòa bình, ngay chính và công lý. Ngài nói:

“Ngày hôm nay thánh Phaolô nói với chúng ta rằng trong Chúa Kitô chúng ta trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa, là anh chị em với nhau trong Cháu Kitô. Đó là thực chất của chúng ta, đó là căn tính của chúng ta. Chúng ta thấy rõ điều này được biểu lộ một cách đẹp đẽ nhất qua sự liên đới của dân Philippines với các anh chị em bị cuồng phong.

”Philippines là quốc gia Công Giáo thứ I của Á châu; đây là một hồng ân đặc biệt của Thiên Chúa, một phúc lành. Nhưng đó cũng là một ơn gọi. Dân Philippines được mời gọi trở thành những thừa sai nổi bật tại Á Châu.

”Do tội lỗi, con người đã làm biến thái vẻ đẹp thiên nhiên; vì tội lỗi, con người cũng phá hủy sự hiệp nhất và vẻ đẹp của gia đình nhân loại chúng ta, tạo nên những cơ cấu xã hội làm cho nạn nghèo đói, dốt nát và tham nhũng tiếp tục kéo dài. Kinh Thánh nói với chúng ta rằng đe dọa lớn nhất đối với kế hoạch mà Thiên Chúa đề ra cho chúng ta đã và vẫn luôn luôn là sự dối trá. Ma quỷ là cha của sự dối trá. Nó thường che đậy những âm mưu dưới cái vẻ tối tân, sự quyến rũ của những gì là tân thời, của lập luận mình cũng phải như người khác. Nó làm cho chúng ta lạc hướng vì ảo ảnh khoái lạc nhất thời và những thú tiêu khiển hời hợt. Và thế là chúng ta phung phí những hồng ân đã nhận lãnh từ Thiên Chúa, vui chơi với những máy móc vô ích; chúng ta phí phạm tiền bạc trong cờ bạc và rượu chè; chúng ta co cụm vào mình. Chúng ta lơ là, không tập trung vào những điều thực sự đáng kể. Chúng ta không sống trong nội tâm như trẻ thơ. Thực vậy, như Chúa đã dạy, trẻ thơ có sự khôn ngoan riêng, không phải là thứ khôn ngoan của trần thế này. Chính vì thế sứ điệp của Chúa Hài Đồng rất là quan trọng. Chúa nói với mỗi người chúng ta một cách sâu xa, nhắc nhở cho chúng ta căn tính sâu xa nhất, đó là chúng ta được kêu gọi trở thành gia đình của Thiên Chúa.

ĐTC nói tiếp:

”Chúa Hài Đồng cũng nhắc nhở chúng ta rằng cần phải bảo tồn căn tính ấy. Chúa Hài Đồng là người bảo vệ đất nước này, Ngài nhắc nhở chúng ta cần phải bảo vệ cac gia đình của chúng ta và đại gia đình là Giáo Hội, gia đình của Thiên Chúa, và thế giới là gia đình nhân loại của chúng ta.

ĐTC nhận xét rằng ”Rất tiếc là ngày nay gia đình đang cần được bảo vệ chống lại những cuộc tấn công mưu mô và những chương trình trái ngược với tất cả những gì chúng ta coi là thánh thiêng và chân thật, tất cả những gì là cao thượng và đẹp đẽ trong nền văn hóa của chúng ta. Chúng ta có nghĩa vụ phải bảo vệ, hướng dẫn và khuyến khích người trẻ, giúp họ kiến tạo một xã hội xứng với gia sản lớn lao về tinh thần và văn hóa. Đặc biệt chúng ta cần coi mỗi trẻ em như một hồng ân cần đón nhận, yêu thương và bảo vệ. Và chúng ta phải chăm sóc ngừơi trẻ, không để họ bị cướp mất niềm hy vọng và phải sống trên các đường phố.

”Chính một hài nhi bé bỏng đã mang lại lòng từ nhân của Thiên Chúa, lòng từ bi và công chính vào trong thế giới. Hài Nhi ấy đã chống lại sự bất lương và tham nhũng, là gia sản của tội lỗi và Ngài chiến thắng trên những tàn tích ấy nhờ quyền năng của thập Giá.

Cuối thánh lễ, Đức TGM Villegas, Chủ tịch HĐGM Philippines và ĐHY TGM Manila sở tại, Antonio Tagle, đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC và hứa sẽ tháp tùng ngài tới các khu ngoại ô của cuộc sống.

Trước khi ban phép lành cuối lễ, ĐTC còn chủ sự nghi thức thắp nến, trao cho những người sẽ được gửi đi truyền giáo.

Thánh lễ kết thúc lúc 5 giờ chiều giờ địa phương. ĐTC còn đi xe mui trần để tiếp tục chào thăm các tín hữu tại khu vực hành lễ trong bầu không khí vất phấn khởi của các tín hữu.

Thứ hai hôm nay, 19-1, ĐTC Phanxicô sẽ kết thúc chuyến viếng thăm 3 ngày tại Philippines. Ban sáng ngài sẽ cử hành thánh lễ riêng tại nguyện đường tòa Sứ thần Tòa Thánh ở thủ đô Manila, trước khi đến căn cứ không quân Villamor cách đó 8 cây số để đáp máy bay Airbus 340 của hãng hàng không Philippines lúc 10 giờ sáng giờ địa phương, trở về Roma. Theo dự kiến, ngài sẽ về đến Roma lúc gần 6 giờ chiều cùng ngày hôm nay, giờ Roma, sau chuyến bay dài 14 giờ 40 phút từ thủ đô của Philippines, vượt qua quãng đường dài 10 ngàn 400 cây số.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp gỡ hơn 30 ngàn bạn trẻ Philippines

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp gỡ hơn 30 ngàn bạn trẻ Philippines

MANILA. Trong ngày cuối cùng viếng thăm Philippines, ĐTC Phanxicô đã gặp gỡ hơn 30 ngàn bạn trẻ sáng chúa nhật 18-1-2015 dưới trời mưa tại sân thể thao Đại học Giáo Hoàng thánh Tômaso ở Manila.

Ngài mời gọi giới trẻ hãy khóc cảm thông với người nghèo, học yêu thương, dấn thân bảo vệ môi sinh.

Lúc 9 giờ sáng 18-1-2015, tại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh, ĐTC đã chào thăm và cám ơn các cộng tác viên và các ân nhân đã giúp đỡ công cuộc chuẩn bị và tiến hành chuyến viếng thăm của ngài tại Philippines. Liền đó ngài đến Đại học Giáo Hoàng và Hoàng gia thánh Tomaso cách đó 6 cây số để gặp gỡ các vị lãnh đạo tôn giáo bạn.

Đại học thánh Tômasô

Đây là đại học Công Giáo lớn nhất và cổ kính nhất tại Á châu, do các cha dòng Đa Minh Tây Ban Nha, tỉnh dòng Rất Thánh Mân côi, thành lập cách đây hơn 400 năm, tức là ngày 28-4 năm 1611, ban đầu như một học viện của dòng, rồi được nâng lên hàng đại học 34 năm sau đó (1645). Năm 1785, vua Carlo III của Tây Ban Nha chính thức nhìn nhận Đại học thánh Tomaso là Đại học hoàng gia. Thánh Vinh Sơn Nguyễn Hữu Liêm, dòng Đa Minh, tử đạo năm 1773, từng là sinh viên học viện Juan Latran thuộc đại học này, nên ngày nay ở đây có một tượng của thánh nhân và bia kỷ niệm.

Năm 1902, đến lượt ĐGH Lêô 13 nhìn nhận Đại học thánh Tômaso là Đại học giáo hoàng. Đến năm 1947, Đức Giáo Hoàng Piô 12 nới rộng danh hiệu và gọi đây là Đại Hội Công Giáo Philippines.

Đại học này có 45 ngàn sinh viên thuộc nhiều khoa và có một nhà thương thuộc phân khoa y khoa nổi tiếng, cùng với một khu đại học xá rộng lớn. Hiện nay có khoảng 40 LM dòng Đa Minh Tây Ban Nha và Philippines đảm trách Đại học thánh Tômaso.

Khi đến đại học, ĐTC đã được vị đại chưởng ấn và giáo sư viện trưởng đón tiếp tại cổng chào ”gọi là khải hoàn môn các thế kỷ”. Rồi ngài lần lượt chào thăm các vị lãnh đạo các tôn giáo chính ở Philippines: Tin lành, Giáo Hội Philippines độc lập, Phật giáo, Do thái, Ấn giáo, Hồi giáo và Chính Thống.

Gặp gỡ giới trẻ

Trời Manila sáng hôm chúa nhật 18-1-2015 cũng bị mưa vì bão rớt, nên ĐTC và mọi người đều mặc áo mưa. Ngài dùng xe tiến sang khu Đại học xá để chào thăm 30 ngàn sinh viên và những người trẻ khác đứng dọc theo các lối đi và sân thể thao của Đại học. Họ nồng nhiệt reo hò, vẫy cờ Philippines và cờ Tòa Thánh. Nhiều người hô to: ”Đức Giáo Hoàng Phanxicô, chúng con yêu mến ngài”. Hàng ngàn người khác tham dự cuộc gặp gỡ ở bên ngoài khuôn viên đại học.

Cuộc gặp gỡ bắt đầu lúc quá 10 giờ rưỡi sáng dưới hình thức một buổi phụng vụ Lời Chúa, bằng 7 thổ ngữ của Philippines, không kể tiếng Anh.

 

Đức Cha Leopoldo Jancian, dòng Ngôi Lời, GM giáo phận Bangued trong tư cách là Chủ tịch Ủy ban GM Philippines về giới trẻ, và một gia đình đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC, trước khi Thánh Giá giới trẻ được rước lên lễ đài.

Cuộc gặp gỡ được tiếp tục với phần trình bày chứng từ của 3 bạn trẻ: một trẻ nữ 14 tuổi bụi đời, cô June, được Hội TKF cứu thoát. Cô đã bật khóc vào cuối chứng từ, tiếp đến là một sinh viên đại học, anh Leandro Santos II, thuộc phân khoa luật tại Đại học thánh Tômasô, sống giữa sự tràn ngập các thông tin đủ loại trên internet. Sau khi trình bày chứng từ, anh đã tặng ĐTC hộp lớn bằng thủy tinh trong đó chứa hằng trăm những miếng giấy mầu có ghi các tư tưởng của các sinh viên khác. Sau cùng là một thanh niên 29 tuổi, Ricky, vừa tốt nghiệp kỹ sư đã phát minh ra hệ thống đèn điện bằng chai plastic dùng năng lượng mặt trời để thắp sáng ban đêm giúp các nạn nhân cuồng phong Yolanda.

Bài huấn dụ ứng khẩu

Về phần ĐTC, mở đầu bài huấn dụ, ngài ”xin phép” nói bằng tiếng Mẹ Tây Ban Nha được Đức Ông Mark Gerard Miles, thuộc phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh dịch ra tiếng Anh. Mọi người đều vui cười đồng ý.

ĐTC cho biết tin buồn sáng thứ bẩy vừa qua (17-1), trước thánh lễ tại phi trường thành phố Tacloban, gió bão đã thổi sập một bảng gần lễ đài làm cho một thiếu nữ 27 tuổi, tên là Chrystel, thiện nguyện viên của cơ quan cứu trợ Công Giáo Hoa Kỳ và cộng tác vào việc tổ chức thánh lễ, bị tử thương. ĐTC mời gọi mọi người dành một phút im lặng để cầu nguyện cho cô Chrystel, rồi tất cả đều đọc một kinh Kính Mừng. Ngài cũng xin mọi người cầu nguyện cho cha mẹ của cô, cô là con gái duy nhất, mẹ cô đang đến từ Hong Kong và cha cô đến Manila để đợi bà”. Theo lời mời của ĐTC, mọi người đã đọc kinh Lạy Cha để cầu nguyện cho ông bà.

Rồi ĐTC tiếp tục ứng khẩu dựa vào bài Tin Mừng theo thánh Marcô trong đó Chúa Giêsu nói với chàng thanh niên giàu có: anh hãy về bán những gì anh có, phân phát cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời và đến đây theo tôi (Mc 10,17-22), đồng thời ngài cũng trả lời cho những câu hỏi được 3 bạn trẻ nêu lên trong phần trình bày chứng từ.

ĐTC nhận xét rằng nhiều người trẻ ngày nay tràn đầy các thông tin từ Internet và các mạng xã hội, nhưng không biết làm gì với những thông tin ấy. Ngài nhắn nhủ các bạn trẻ đừng có tâm lý của máy vi tính, đừng nghĩ mình biết hết mọi sự.

Và ĐTC cũng nói rằng: Giáo hội Công Giáo ngày nay đang cần những người trẻ thánh thiện. Nhưng để có thể thi hành điều này, người trẻ cần đáp ứng thách đố tình thương. ”Đây là đề tài quan trọng nhất mà các bạn cần học ở đại học, là bài học quan trọng nhất mà các bạn cần học trong đời.. Các bạn hãy cởi mở đón nhận sự ngạc nhiên từ Thiên Chúa, sẵn sàng yêu và được yêu, khiêm tốn học hỏi nơi những người mình giúp đỡ. Cho đi mà thôi thì vẫn chưa đủ, còn phải khiêm tốn học hỏi sự khôn ngoan nơi những người nghèo, người bé mọn mà mình giúp đỡ… Các bạn đừng trở thành ”bảo tàng viện” trước bao nhiêu phương tiện truyền thông mà chúng ta có”.

ĐTC khuyến khích các bạn trẻ học 3 ngôn ngữ: đó là suy tư, cảm thức và hành động và ngài không quên mời gọi các bạn trẻ quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi sinh, một đề tài rất quan trọng, nhất là đối với một nước thường gặp thiên tai như Philippines. Ngài cũng nhắn nhủ các bạn trẻ hãy học cách ”khóc cho người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội. Những người ấy đang khóc… Chúng ta cần tự hỏi: chúng ta đã học cách khóc cho những người bị gạt bỏ như thế chưa, khóc cho những người bị vấn đề ma túy chưa? Chúng ta có khóc khi thấy một trẻ em vô gia cư, đang chịu đau khổ, bị bỏ rơi, bị lạm dụng, bị xã hội dùng như nô lệ hay không? Nếu các bạn không học cách khóc, thì các bạn không thể là Kitô hữu tốt được. Đó thực là một thách đố!”.

ĐTC cũng nhận xét rằng thánh Phanxicô khi còn sống, túi áo cũng trống rỗng và khi chết túi cũng trống rỗng, nhưng con tim tràn đầy.

Ngài kết luận rằng: ”Thực tại các bạn vượt quá tất cả những ý tưởng mà tôi đã chuẩn bị.. Thành thật cám ơn các bạn!”

Nội dung bài huấn dụ dọn sẵn

Trong bài huấn dụ đã dọn sẵn và để lại cho các tín hữu Phippines đọc và suy gẫm sau đó, ĐTC nhắn nhủ các bạn trẻ, trong tư cách là công dân của đất nước Philippines hãy hăng say dấn thân trong tinh thần lương thiện canh tân xã hội. Ngài khai triển 3 lãnh vực chủ yếu trong đó người trẻ có thể đóng góp quan trọng cho đời sống đất nước và khẳng định rằng:

Hôm nay tôi muốn gợi lên 3 lãnh vực mà các bạn có thể đóng góp quan trọng cho đời sống đất nước của các bạn.

– Trước tiên là thách đố thanh liêm. Từ ”thách đố” có thể hiểu 2 cách. Trước hết nó có thể hiểu một cách tiêu cực là cám dỗ hành động ngược lại những xác tín luân lý của các bạn, ngược lại điều mà các bạn biết là chân thực, tốt lành và đúng đắn. Sự thanh liêm của chúng ta có thể bị thách thức vì những tư lợi ích kỷ, tham lam, bất lương, hoặc ý muốn sử dụng người khác.

Nhưng từ ”thách đố” cũng có thể hiểu một cách tích cực như một lời mời gọi hãy can đảm, làm chứng tá ngôn sứ về điều mình tin và coi là thánh thiêng. Theo nghĩa đó, thách đố sống thanh liêm là điều mà các bạn đang gặp phải trong cuộc sống của các bạn. Đó không phải là điều mà các bạn có thể hoãn lại cho đến khi các bạn lớn tuổi hơn hoặc có trách nhiệm lớn hơn. Ngay bây giờ các bạn bị thách thức hãy hành động lương thiện và đúng đắn khi đối xử với người khác, trẻ cũng như già. Không được trốn tránh đương đầu với thách đố này! Một trong những thách đố lớn nhất mà người trẻ đang phải đương đầu là học yêu thương. Yêu thương có nghĩa là chấp nhận rủi ro: nguy cơ bị loại bỏ, bị lợi dụng, hoặc tệ hơn nữa là lợi dụng người khác. Các bạn đừng sợ yêu thương! Nhưng trong yêu thương, các bạn cũng hãy bảo tồm sự liêm chính của mình! Hãy lương thiện và tử tế!.. Các bạn được kêu gọi hãy nêu gương về sự thanh liêm, dù các bạn gặp phải những chống đối và phê bình, nản chí hoặc bị nhạo cười.
ĐTC cũng xác quyết rằng với sức mạnh của kinh nguyện hằng ngày và tham dự Thánh Lễ, các bạn trẻ Công Giáo sẽ trở thành địa bàn chỉ đường cho những người đang tìm kiếm, những người bị cám dỗ đánh mất hy vọng, từ bỏ những lý tưởng cao thượng, bỏ học hoặc sống ngày qua ngày trên đường phố.

– Thách đố thứ hai là chăm sóc môi sinh. ĐTC nói: Cần hành động không những như những công dân có trách nhiệm, nhưng còn như những môn đệ của Chúa Kitô nữa! Chúng ta cần dùng con mắt đức tin để nhìn thấy vẻ đẹp trong kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa, mối liên hệ giữa môi sinh tự nhiên và phẩm giá con người. Người nam và người nữ được dựng nên theo hình ảnh giống Thiên Chúa và họ được ủy thác nhiệm vụ cai quản thiên nhiên (St 1,26-28). Trong tư cách là những người quản lý thiên nhiên, công trình sáng tạo, chúng ta được mời gọi làm cho trái đất trở thành một vườn đẹp nhất cho gia đình nhân loại. Khi chúng ta tàn phá rừng cây, phá hủy đất đai và làm ô nhiễm biển cả, thì chúng ta phản bội ơn gọi cao quí ấy.

ĐTC nhắc đến thư của các GM Philippines về chiều kích luân lý trong các hoạt động và các lối sống của chúng ta, sự tiêu thụ và sử dụng các tài nguyên của chúng ta. Tất cả là thành phần sự dấn thân xây dựng Nước Chúa Kitô. Ngài viết tiếp:

”Lãnh vực sau cùng các bạn có thể đóng góp là một điều thực quí giá đối với tất cả chúng ta. Đó là sự chăm sóc người nghèo. Cạnh chúng ta luôn luôn có người ở trong tình cảnh túng thiếu về vật chất, tâm lý và tinh thần. Món quà lớn nhất mà chúng ta có thể trao tặng là tình bạn, sự quan tâm, sự dịu dàng, tình yêu thương của chúng ta đối với Chúa Giêsu.

Sau cùng, ĐTC ngỏ lời với các bạn trẻ đã chọn cuộc sống thanh bần qua gọi linh mục và đời sống tu trì. Ngài nói: “Khi kín múc từ tinh thần thanh bần, các con sẽ làm cho người khác được phong phú. Các con hãy làm hơn nữa, hãy cho đi nhiều hơn. Khi các con trao tặng thời giờ, tài năng, ngăng khiếu của các con cho bao nhiêu người túng thiếu đang sống bên lề, tức là các con tạo nên được sự khác biệt. Đó là một sự khác biệt rất cần thiết ngày nay và qua đó các con sẽ được Chúa bù đắp dồi dào. Vì chính Chúa đã nói, ”các con sẽ được một kho tàng trên trời” (Mc 10,21)

ĐTC không quên nhắc lại kỷ niệm đúng 20 năm trước đây, cũng tại nơi này, thánh Gioan Phaolô 2 đã khẳng định rằng thế giới đang cần một ”lớp người trẻ mới!” – một lớp người trẻ dấn thân với những lý tưởng cao thượng nhất và muốn xây dựng nền văn minh tình thương”. ĐTC Phanxicô khuyến khích ngừơi trẻ hãy sống theo lời mời gọi ấy, đừng đánh mất các lý tưởng, trở thành chứng nhân vui tươi về tình thương của Thiên Chúa và kế hoạch rạng ngời mà Chúa dành cho chúng ta, cho đất nước này và cho thế giới chúng ta đang sống”.

Cuộc gặp gỡ được tiếp tục với 7 lời nguyện giáo dân bằng các ngôn ngữ của Philippines, kinh Truyền Tin và kinh Lạy Cha, trước khi ĐTC ban phép lành kết thúc cho mọi người. Bấy giờ là gần 12 giờ trưa, giờ địa phương. Ngài trở về Tòa Sứ Thần Tòa Thánh cách đó 6 cây số để dùng bữa và nghỉ trưa. Tại đây ĐTC đã gặp gỡ, trong 20 phút để chia buồn và an ủi thân phụ của cô Critel đã bị thiệt mạng tại Tacloban. Ông được người em họ tháp tùng. ĐHY Tagle TGM Manila đã làm thông ngôn. Trên bàn có hai bức ảnh rất đẹp của cô Critel, một hình của cô và một hình chụp với cha mẹ khi còn nhỏ. ĐTC cho biết ngài rất buồn vì tai nạn, nhưng cũng được an ủi vì cô đã có thể chuẩn bị cuộc gặp gỡ của dân chúng với ngài. ĐTC đã tìm cách điện thoại cho mẹ cô ở Hong Kong, nhưng không được. Bà mẹ sẽ đến Manila vào ngày hôm nay, 19-1.2-15.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Tường thuật ngày thứ hai ĐTC Phanxicô viếng thăm mục vụ Philippine

Tường thuật ngày thứ hai ĐTC Phanxicô viếng thăm mục vụ Philippine

** Thứ bẩy 17 tháng giêng hôm qua là ngày thứ hai trong chuyến ĐTC viếng thăm Philippines ba ngày. Đáng lẽ ĐTC đã có ba sinh hoạt chính: ban sáng ngài lấy máy bay tử Manila đi Tacloban trên đảo Leyte và lúc 10 giờ cử hành thánh lễ cho tín hữu tại phi trường quốc tế Tacloban Daniel Romualdez. Sau khi dùng bữa trưa với vài người sống sót sau trận bão Yolanda Haiyan và nghỉ ngơi chốc lát, vào ban chiều ĐTC làm phép khánh thành Trung tâm cho người nghèo Phanxicô, rồi gặp gỡ các Giám Mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, chủng sinh và các gia đình sống sót sau trận bão Yolanda Haiyan trong nhà thờ chính tòa giáo phận Palo.

Tuy nhiên vì lý do trời Philippines qúa xấu có mưa bão, nên các sinh hoạt ban chiều bị hủy bỏ. ĐTC đã phải rời đảo Leyte lúc 13 giờ.

Sau đây là chi tiết hoạt động của ĐTC.
Lúc 7 giờ 30 ĐTC rời Tòa Sứ Thần Tòa Thánh để ra phi trường Villamor cách đó 8 cây số lấy máy bay đi Tacloban nằm trên đảo Leyte cách xa Manila 650 cây số. Tuy gió lớn nhưng máy bay chở ĐTC đã có thể cất cánh, trong khi máy bay chở các giới chức chính quyền đi sau đó nửa tiếng bị gió thổi quá mạnh đẩy phi cơ ngoài phi đạo, khiến cho một người bị thương.

Thành phố Tacloban có hơn 217 ngàn dân cư cách xa Palo là thủ phủ đảo Leyte 10 cây số, và thuộc tổng giáo phận Palo. Ngày mùng 8 tháng 11 năm 2013 đảo Leyte và đặc biệt thành phố Tacloban đã bị bão Yolanda-Haiyan tàn phá khiến cho hơn 10.000 người chết, phá hủy mọi cơ cấu hạ tầng bao gồm cả phi trường thành phố và mọi cơ cấu truyền thông.

Tổng giáo phận Palo được thành lập năm 1937 có hơn 1,8 triệu dân cư trong đó có hơn 1,4 triệu là tín hữu công giáo, tức chiếm 77%. Giáo phận có 65 giáo xứ, 17 cứ điểm truyền giáo, 137 linh mục giáo phận, 26 linh mục dòng, 36 tu huynh, 162 nữ tu khấn, 84 đại chủng sinh, 1 thầy sáu vĩnh viễn. Giáo phận điều khiển 62 cơ cấu giáo dục và 5 trung tâm bác ái.

** Sau 1 giờ 15 phút bay máy bay chở ĐTC và đoàn tùy tùng đã đến phi trường Tacloban lúc 9 giờ 30. Chào đón ĐTC tại phi trường có ĐTGM Palo John Du, ông thống đốc đảo Leyte và hai thị trưởng thành phố Tacloban và Palo. Có một nhóm trẻ em trình diễn các vũ điệu cổ truyền chào mừng ĐTC.

 

Sau lễ nghi chào đón đơn sơ ĐTC đã lên xe bọc kính đến lễ đài nằm cách đó 600 mét để cử hành thánh lễ cho tín hữu. Khu vực này có thể chứa tới nửa triệu người. Thánh lễ đã được cử hành bằng tiếng Anh với các bài đọc bằng tiếng Binisaya là thổ ngữ của đảo Leyte-Samar.

Giảng buông trong thánh lễ ĐTC mời gọi mọi người cùng nhau chúc tụng Thiên Chúa vì tình yêu, lòng thương xót và cùng đau khổ của Người, được tỏ lộ ra trong tình liên đới với các nạn nhân của trận bão đã tàn phá vùng này một cách nặng nề cách đây 14 tháng.

Ngài nói: Trong bài đọc thứ nhất chúng ta đã nghe rằng chúng ta có một thượng tế cao cả có khả năng cảm thương các yếu hèn của chúng ta, bởi vì chính Người cũng đã bị thử thách trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi (x. Dt 4,15). Chúa Giêsu cũng giống như chúng ta. Chúa Giêsu đã sống như chúng ta. Người giống chúng ta trong mọi sự, trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi, bởi vì Người không phải là một tội nhân. Nhưng để giống chúng ta Người đã mặc lấy, Người đã mang lấy các tội lỗi của chúng ta. Người đã thành tội lỗi (x. 2 Cr 5,21). Thánh Phaolô là người đã biết Chúa rất rõ nói lên điều đó. Và Chúa Giêsu luôn luôn đi trước chúng ta, và khi chúng ta có thể đi qua vài thánh giá, thì Người đã đi qua trước rồi.

Tiếp tục bài giảng ĐTC giải thích lý do thánh lễ và cuộc gặp gỡ cộng đoàn tín hữu đảo Leyte như sau:

Và nếu hôm nay chúng ta tất cả tụ tập nhau nơi đây, 14 tháng sau trận bão Yolanda, là bởi vì chúng ta xác tín rằng chúng ta sẽ không thất vọng trong đức tin, bởi vì Chúa Giêsu đã trải qua trước. Trong cuộc khổ nạn của Người Người đã mang trên mình mọi khổ đau của chúng ta. Và khi – xin anh chị em cho phép tôi thổ lộ tâm tình với anh chị em – khi từ Roma tôi đã trông thấy tai ương này, tôi đã cảm thấy rằng tôi phải đến đây thăm anh chị em. Trong những ngày này, tôi đã quyết định làm cuộc du hành tới đây. Tôi đã muốn đến đây để ở với anh chị em – hơi trễ tràng anh chị em sẽ nói vậy – đúng thế, nhưng tôi ở đây.

** Tôi ở đây để nói với anh chị em rằng Đức Giêsu là Chúa, Người không gây thất vọng. “Thưa cha, một người trong anh chị em có thể nói với tôi, Chúa đã làm con thất vọng vì con đã mất nhà cửa, con đã mất những gì con có, con đau bệnh… “ Điều bạn nói với tôi đúng thật như vậy, và tôi tôn trọng các tâm tình của bạn: nhưng tôi thấy Chúa Giêsu bị đóng đanh ở đó, và từ đó Người không làm chúng ta thất vọng. Người đã được thánh hiến là Chúa trên ngai ấy, và ở đó Người đã trải qua tất cả các tai ương mà chúng ta có. Đức Giêsu là Chúa. Và là Chúa từ Thập Giá, ở đó Ngài thống trị! Vì thế Ngài có khả năng hiểu biết chúng ta, như chúng ta đã nghe trong bài đọc thứ nhất: Ngài đã trở nên giống chúng ta trong mọi sư, Vì thế chúng ta có một Chúa có khả năng khóc với chúng ta, có khả năng đồng hành với chúng ta trong những lúc khó khăn nhất của cuộc sống.

Nhiều người trong anh chị em đã mất tất cả. Tôi không biết phải nói gì với anh chị em. Nhưng Ngài biết, Ngài biết nói gì với anh chị em. Nhiều người trong anh chị em đã mất một phần gia đình. Tôi chỉ biết thinh lặng, tôi đồng hành với anh chị em với con tim thinh lặng… Nhiều người trong anh chị em đã tự hỏi khi nhìn lên Chúa Kitô: “Lậy Chúa, tại sao?” Và Chúa trả lời từng người từ trái tim của Ngài. Tôi không có lời nào khác để nói với anh chị em. Chúng ta hãy nhìn lên Chúa Kitô: Ngài là Chúa và Ngài hiểu biết chúng ta vì Ngài đã trải qua tất cả các thử thách đã đổ xuống trên chúng ta.

Và cùng với Ngài bị đóng đanh dã có Mẹ Ngài. Chúng ta giống như trẻ em ở dưới đó: trong những lúc đau khổ, buồn sầu, trong những lúc trong đó chúng ta không hiểu gì hết, trong những lúc chúng ta muốn nổi loạn, chúng ta chỉ giơ tay nắm lấy áo Mẹ và nói với Mẹ: “Má ơi”. Như một trẻ em khi lo sợ nó nói “Mẹ ơi”. Có lẽ đó là lời nói duy nhất có thể diễn tả điều mà chúng ta cảm thấy trong những lúc đen tối: “Mẹ! Mẹ ơi!”

Chúng ta hãy cùng nhau giữ một lúc thinh lặng. Chúng ta hãy nhìn lên Chúa: Ngài có thể hiểu biết chúng ta, bởi vì Ngài dã trải qua tất cả những điều đó. Và chúng ta hãy nhìn Mẹ chúng ta, và như một đứa bé dưới kia đang nắm chặt lấy áo mẹ nó và với con tim chúng ta hãy nói với Mẹ: “Mẹ ơi”. Trong thinh lặng chúng ta hãy cầu nguyện, mỗi người hãy nói lên điều mình cảm thấy.

Mọi người thinh lặng cầu nguyện.

ĐTC nói thêm trong bài giảng buông:

** Chúng ta không cô đơn, chúng ta có một người mẹ, chúng ta có Chúa Giêsu là Anh Cả. Chúng ta không đơn độc. Vì chúng ta cũng có nhiều anh chị em khác đã đến trợ giúp chúng ta trong lúc gặp tai ương. Và chúng ta cũng cảm thấy là anh chị em với nhau hơn, khi tương trợ nhau, bởi vì chúng ta đã giúp đỡ nhau.

Đó là tất cả những gì tôi có thể nói với anh chị em. Xin tha lỗi cho tôi, nếu tôi không có các lời khác. Nhưng xin anh chị em chắc chắn cho rằng Chúa Giêsu không gây thất vọng. Chúng ta chắc chắn rằng tình yêu và sự dịu hiền của Mẹ chúng ta không gây thất vọng. Và bám chặt vào Mẹ như con cái và với sức mạnh mà Chúa Giêsu Anh Cả của chúng ta trao ban cho, chúng ta tiến bước. Và chúng ta tiến bước như là anh chị em với nhau.

Sau thánh lễ xe bọc kích đã chở ĐTC đi một vòng để ngài chào tín hữu, rồi về Tòa Tổng Giám Mục cách đó 12 cây số. Tòa Tổng Giám Mục nằm trên một ngọn đồi trên đó có một khu vực gồm nhà dưỡng lão và trung tâm cho trẻ em mồ côi, do Hội Đồng Tòa Thánh Cor Unum Đồng Tâm tài trợ.

Tại đây ngài đã dùng bữa trưa với 30 thân nhân của các nạn nhân bão Yolanda-Haiyan, trong đó cũng có vài đại chủng sinh.

Như chúng tôi đã nói vì trời mưa bão ĐTC đã phải rút ngắn chương trình viếng thăm để có thể trở về Manila sớm, trước khi tình hình trở thành tồi tệ thêm. Ngài đã chỉ đứng từ xa làm phép Trung tâm người nghèo Phanxicô cách đó 100 mét. Trung tâm này vẫn còn đang trong giai đoạn xây cất, do cộng đoàn đặc sủng Nam Hàn “Khottongnae Brothers of Jesus” coi sóc. Đây là Hiệp hội được linh mục John Oh Woong Jin thành lập hồi thập niên 1970, được gợi hứng bởi lời Chúa nói: “Tất cả những gì các con làm cho một trong những anh em bé mọn nhất này của Thầy là các con đã làm cho Thầy” (Mt 25,40).

Tại trung tâm có khoảng 50 trẻ em mồ côi và người già, cùng với vài nữ tu và thiện nguyện viên của cộng đoàn đặc sủng Khottongnae, đã được ĐTC viếng thăm trong chuyến công du Nam Hàn ngày 16 tháng 8 năm 2014.

** ĐTC đã lên xe bọc kính đến nhà thờ chính tòa Palo cách đó 2 cây số để gặp gỡ các Giám Mục, linh mục, tu sĩ nam nữ, đại chủng sinh, và gia đình các nạn nhân bão Yolanda-Haiyan. Hiện diện trong nhà thờ chính tòa có khoảng 500 người.

Nhà thờ chính tòa Palo được dâng kính Chúa Hiển Dung, do hai linh mục đòng Tên Juan del Campo và Alonso Humanes rao truyền Tin Mừng trong vùng này xây cất năm 1596. Chỉ trong vài năm Palo đã trở thành một cứ điểm truyền giáo chính của đảo. Tiếp đến có các thừa sai dòng Agostino (1768) và Phanxicô (1843) đến làm việc tại đây. Hai tháp của nhà thờ được thêm vào hồi năm 1850 và thêm chiếc đồng hồ lớn ở mặt tiền năm 1896. Năm 1939 nhà thờ được tuyên bố là nhà thờ chính tòa. Trong thời Đệ Nhị Thế Chiến nhà thờ biến thành nhà thương quân đội và trung tâm tiếp đón thường dân chạy loạn. Bàn thờ dát vàng thuộc thế kỷ XVII là một thí dụ của kiểu kiến trúc gô tích. Các chặng đường Thánh Giá do các nghệ sĩ địa phương tạc. Trên tường nhà thờ thời Tây Ban Nha có huy hiệu của dòng Tên.

Cha sở nhà thờ chính tòa tiếp đón ĐTC và trao thánh giá cho ngài hôn kính theo truyền thống tại đây. Buổi gặp gỡ đã diễn ra trong hình thức rất ngắn gọn. ĐTC đã không dọc bài diễn văn viết sẵn. Ngỏ lời trong dịp này ngài nói: Xin chào anh chị em. Tôi xin cám ơn sự tiếp đón của anh chị em. Cả ĐHY Tagle đang vào và cả ĐHY Parolin Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Hôm nay là sinh nhật của ngài. Cần phải hát cái gì đi.

Ca đoàn đã hát bài “Happy Birthday to you” chúc mừng sinh nhật ĐHY.

ĐTC nỏi tiếp. Xin cám ơn. Tôi phải nói với anh chị em điều mà tôi không thích phải nói tí nào cả. Theo chương trình dự định thì năm giờ chiều máy bay mới trở về Manila. Nhưng có trận bão cấp 2 đang thổi nên các phi công đã nói với chúng tôi là phải đi lúc một giờ. Chúng tôi chỉ có đủ giờ đến phi trường thôi, vì các tiên đoán cho biết thời tiết sẽ xấu hơn vào ban chiều. Tôi xin lỗi anh chị em vì điều này… Tôi buồn lắm. Tôi rất tiếc, bởi vì tôi có bài diễn văn viết sẵn muốn đọc cho anh chị em nghe. Chúng ta hãy phó thác mọi sự trong tay Đức Mẹ, vì bây giờ tôi phải đi. Anh chị em biết vấn đề là gì không? Đó là vì máy bay không thể đáp xuống đây được. Vấn đề là ở đó.

Tiếp đến ĐTC mời mọi người cùng ngài đọc Kinh Kính Mừng rồi ngài ban phép lành tòa thánh cho tất cả trước sự nuối tiếc vì cuộc gặp gỡ quá ngắn ngủi.

Sau phép lành ĐTC còn nói thêm: Tôi xin anh chị em hai điều: thứ nhất cầu nguyện cho tôi và thứ hai xin bình thản.

** Vào cuối buổi gặp gỡ một số ân nhân tài trợ việc trùng tu mái nhà thờ chính tòa và vài nhà thờ bị hư hại đã được giới thiệu với ĐTC. Ngài đã đi ra phía cửa hông bên phải và dừng lại thắp nến và cầu nguyện tại đài tưởng niệm các nạn nhân trận bão Yoanda-Haiyan.

Sau đó ĐTC lên xe ra phi trường Tacloban lấy máy bay trở về Manila. Máy bay đã cất cánh lúc 13 giờ và về tới phi trường Villamor sau hơn một giờ bay. Từ phi trường ĐTC đã đi xe về Tòa Sứ Thần cách đó 7 cây số để dùng bữa tối và nghỉ ngơi, kết thúc sớm ngày thứ hai chuyến viếng thăm Philippines ba ngày.

Cha Lombari Phát ngôn viên Tòa Thánh cho biết ĐTC đã được báo tin về cái chết của một nữ thiện nguyện viên sau thánh lễ tại Tacloban và ngài đã cầu nguyện cho cô. Ngoài ra ĐTC cũng hỏi ông Alberto Gasbarri, nhân viên tổ chức chuyến viếng thăm liên quan tới tai nạn và xin ông tiếp xúc với gia đình của nạn nhân để bầy tỏ tình liên đới của ngài.

Linh Tiến Khải  – Vatican Radio

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp gỡ các gia đình Philippines

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp gỡ các gia đình Philippines

MANILA. Chiều 16-1-2015, ĐTC Phanxicô đã đến đến khu trung tâm thương mại Mall of Asia Arena ở thủ đô Manila, để gặp gỡ các gia đình tụ tập tại Hội trường thể thao tại đây.

Ở bên ngoài Hội trường có hàng chục ngàn tín hữu chờ đợi để chào đón, nên xe chở ĐTC đã đi vòng qua các lối đi để chào thăm mọi người. Bầu khí rất nồng nhiệt. Họ theo dõi cuộc gặp gỡ qua các màn hình từ bên ngoài.

Rồi ĐTC tiến vào Hội trường nơi có 20 ngàn người đã chờ sẵn. Ngài dừng lại chào thăm và chúc lành cho những người tàn tật ngồi trên ghế lăn, trước khi bước lên lễ đài.

 

Cuộc gặp gỡ diễn ra dưới hình thức một buổi phụng vụ lời Chúa, được mở đầu với lời chào mừng của Đức Cha Chủ tịch Ủy ban GM Phi về gia đình, của một gia đình đông con và phần trình bày của một gia đình về tình trạng nghèo đói, về những khó khăn vì vợ chồng con cái phải xa cách nhau vì phải xuất cư tìm công ăn việc làm, sau cùng của một đôi vợ chồng bị điếc trình bày bằng ngôn ngữ dấu hiệu.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng sau bài Tin Mừng thuật lại biến cố thánh Giuse, Mẹ Maria mang Chúa Hài Đồng tị nạn sang Ai Cập (Mt 2,13-15.19-23), ĐTC nhắc nhở các gia đình hãy ”nghỉ ngơi trong Chúa”, dành thời giờ cho việc cầu nguyện, dấn thân trong việc chuẩn bị thế giới đón chờ ngày trở lại của Chúa, chống lại trào lưu duy tương đối và nền văn hóa phù du, sau cùng là trở thành tiếng nói ngôn sứ trong cộng đoàn. Ngài kêu gọi củng cố các gia đình ở Philippines như một nguồn năng lực sự sống cho toàn thể xã hội.

Những ý tưởng trên đây ĐTC rút ra từ những suy niệm về bài Tin Mừng theo thánh Mathêu kể lại biến cố thiên thần hiện ra với thánh Giuse và dạy Người mang Hài Nhi và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập (Mt 2,13-15.19-23). Ngài nói:

”Trong đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe, chúng ta thấy thánh Giuse không những nghỉ ngơi một lần, nhưng là hai lần. Chiều hôm nay, tôi muốn nghỉ ngơi trong Chúa với tất cả anh chị em và cùng với anh chị em suy tư về hồng ân gia đình.

”Sự nghỉ ngơi của thánh Giuse tỏ lộ ý Chúa cho thánh nhân. Trong lúc nghỉ ngơi trong Chúa, chúng ta tạm ngưng nhiều nghĩa vụ và hoạt động thường nhật. Chúa cũng đang nói với chúng ta. Chúa nói với chúng ta trong bài đọc Tin Mừng chúng ta vừa nghe, trong kinh nguyện và chứng tá của chúng ta, trong sự yên tĩnh của tâm hồn. Chúng ta hãy suy tư về điều Chúa nói với chúng ta, nhất là trong Tin Mừng chiều hôm nay. Có 3 khía cạnh của đoạn Kinh Thánh này, tôi muốn xin anh chị em suy xét, đó là: nghỉ ngơi trong Chúa, trỗi dậy với Chúa Giêsu và Mẹ Maria, và trở thành tiếng nói ngôn sứ.

– Về điểm thứ nhất, nghỉ ngơi trong Chúa. ĐTC nhấn mạnh tầm quan trọng của hành động này, dành những giờ nghỉ ngơi, thinh lặng trong tâm hồn, dành thời giờ cho việc cầu nguyện… ”Nếu chúng ta không cầu nguyện thì chúng ta sẽ không biết điều quan trọng nhất, đó là thánh ý Chúa đối với chúng ta. Và nếu chỉ hoạt động mà không cầu nguyện thì chúng ta chỉ làm được rất ít việc.”
Nghỉ ngơi để cầu nguyện là điều đặc biệt quan trọng đối với gia đình. Chính trong gia đình mà chúng ta phải học trước tiên về cách thức cầu nguyện… Trong gia đình chúng ta học yêu thương, tha thứ, quảng đại, và cởi mở chứ không khép kín và ích kỷ. Chúng ta học cách đi xa hơn những nhu cầu của mình, gặp gỡ tha nhân và chia sẻ cuộc sống của chúng ta với họ.

– Thứ hai là trỗi dậy với Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Những lúc nghỉ ngơi quí giá, nghỉ với Chúa trong kinh nguyện, là những lúc chúng ta muốn kéo dài. Nhưng cũng như thánh Giuse, sau khi nghe tiếng Chúa, chúng ta phải trỗi dậy, đứng lên và hành động. Đức tin không kéo chúng ta ra khỏi trần thế, nhưng kéo chúng ta vào sâu hơn trong thế giới. Thực vậy, mỗi người chúng ta có một vai trò đặc thù trong việc chuẩn bị cho Nước Chúa đến trong trần thế của chúng ta.

Trong những sứ vụ các tín hữu cần thi hành, ĐTC đặc biệt nói đến sứ mạng bênh vực gia đình. Ngài nói: ”Có nhiều sức ép trên gia đình ngày nay. Tại Philippines này có vô số các gia đình con đang chịu đau khổ vì hậu quả của các thiên tai. Tình trạng kinh tế làm cho nhiều gia đình phải chia ly vì di cư để tìm công ăn việc làm và những vấn đề tài chánh làm cho nhiều gia đình bị căng thẳng. Trong khi quá nhiều người sống trong nghèo đói lầm than, thì những người khác lại bị thu hút vào trào lưu duy vật và những lối sống phá hủy gia đình và những đòi hỏi căn bản nhất của luân lý Kitô giáo. Gia đình cũng bị đe dọa vì những toan tính ngày càng gia tăng của một số người muốn định nghĩa lại chính định chế gia đình, hoặc vì trào lưu duy tương đối, nền văn hóa phù du, thiếu cởi mở đối với sự sống.” ĐTC nói tiếp:

”Thế giới chúng ta đang cần những gia đình tốt và vững mạnh để khắc phục những đe dọa ấy! Philippines đang cần những gia đình thánh thiện và yêu thương để bảo vệ vẻ đạp và chân lý về gia đình trong kế hoạch của Thiên Chúa và là một nâng đỡ, nêu gương cho các gia đình khác”.

– Sau cùng, Tin Mừng nhắc nhở chúng ta về nghĩa vụ của Kitô hữu phải là những tiếng nói ngôn sứ trong các cộng đoàn chúng ta. .. Khi gia đình sinh sản và giáo dục con cái trong đức tin và các giá trị tốt đẹp, dạy con cái góp phần xây dựng xã hội, thì họ trở thành một phúc lành trong thế giới chúng ta. Tình thương của Thiên Chúa trở nên hiện diện và hoạt động qua cách thức chúng ta yêu thương và nhờ công việc lành chúng ta làm. Chúng ta mở rộng Nước Chúa trong thế giới này. Và khi làm như thế chúng ta tỏ ra trung thành với sứ mạng ngôn sứ mà chúng ta nhận lãnh khi chịu phép rửa tội.

Và ĐTC kết luận rằng: ”trong năm nay, các GM của anh chị em đã ấn định Năm Người Nghèo. Tôi xin anh chị em, trong tư cách là gia đình, hãy đặc biệt để ý đến ơn gọi của chúng ta trở thành các môn đệ thừa sai của Chúa Giêsu. Điều này có nghĩa là sẵn sàng đi xa hơn gia đình của anh chị em, và săn sóc những anh chị em khác đang ở trong tình cảnh túng thiếu nhất. Tôi xin anh chị em đặc biệt chứng tỏ sự quan tâm đối với những người không có gia đình, nhất là nhưng người già và trẻ em không có cha mẹ. Đừng bao giờ để họ cảm thấy lẻ loi, cô độc và bị bỏ rơi, nhưng giúp họ biết rằng Chúa không quên họ.

Trong bài huấn dụ, ngoài phần dọn sẵn, ĐTC cũng ứng khẩu nhiều đoạn nói rằng tiếng Tây Ban Nha và một linh mục dịch sang tiếng Anh. Ngài khuyến khích các gia đình hãy mơ ước những điều tốt đẹp nhất cho vợ chồng, cái và những người thân yêu. ĐTC cũng tiết lộ ngài có lòng kính mến đặc biệt đối với thánh Giuse, người thường ít nói và im lặng nhiều. Mỗi khi gặp vấn đề đó khăn, ngài thường viết những điều ấy trên giấy và đặt dưới tượng thánh Giuse để trên bàn của ngài, để Thánh Giuse ”mơ” và giúp ngài giải quyết.

Cuộc gặp gỡ được tiếp nối với các lời nguyện giáo dân và bài thánh ca kính Đức Mẹ với phép lành của ĐTC.

Chương trình ngày thứ bẩy 17-1-2015

Sáng thứ bẩy 17-1, ĐTC sẽ đáp máy bay lúc quá 8 giờ sáng từ căn cứ không quên Villamor ở Manila để bay tới thành phố Tacloban trên đảo Leyte, cách Manila 650 cây số về hướng đông nam. Thành phố này có hơn 200 ngàn dân cư và thuộc vùng bị cuồng phong Hayan hay cũng gọi là bão Yolanda, tàn phá ngày 8 tháng 11 năm 2013 làm cho hơn 10 ngàn người chết và mất tích, các cơ cấu hạ tầng, kể cả sân bay của thành phố, cũng như các đường giao thông bị thiên tai phá hủy.

Đến nơi, ĐTC sẽ cử hành thánh lễ tại sân bay Tacloban cho các tín hữu vào lúc 10 giờ. Ban trưa tại tòa TGM Palo sở tại, ngài sẽ dùng bữa với 30 người sống sót trong đó có một vài chủng sinh.

Ban chiều lúc 3 giờ ngài sẽ làm phép ”Trung tâm Giáo hoàng Phanxicô cho người nghèo” do một Cộng đoàn Canh tân trong Thánh Linh ở Hàn Quốc thành lập và quản trị. Rồi ngài đến Nhà thờ chính tòa Palo để gặp gỡ 500 người gồm các GM, LM, tu sĩ nam nữ, các chủng sinh và gia đình những người sống sót, trước khi đáp máy bay trở về thủ đô Manila.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Đức Thánh Cha cử hành thánh lễ với các GM, LM tại Manila

Đức Thánh Cha cử hành thánh lễ với các GM, LM tại Manila

MANILA. Đức Thánh Cha kêu gọi hàng giáo sĩ, tu sĩ Philippines xa tránh chủ nghĩa duy vật, sống thanh bần, thanh liêm và quan tâm giúp đỡ người nghèo.

Đó là nội dung bài giảng trong thánh lễ ngài cử hành sáng ngày 16-1-2015 tại Nhà thờ chính tòa Manila, với 600 vị gồm các GM và LM Philippines trước sự hiện diện của 1400 nữ tu và chủng sinh toàn quốc. Các vị đến từ các giáo phận toàn quốc, mỗi giáo phận được gởi 10 đại diện.

Ngoài ra cũng có các vị GM đến từ các nước Á châu khác, đứng đầu là ĐHY Gracias, TGM giáo phận Bombay Ấn độ, Chủ tịch Liên HĐGM Á châu.

Nhà thờ chính tòa Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Manila, được coi là mẹ của tất cả các thánh đường ở Philippines. Thánh đường nguyên thủy tại đây được kiến thiết cách đây 434 năm, tức là vào năm 1581, bằng tre và lá dừa. Qua dòng lịch sử nhà thờ đã bị hủy hoại nhiều lần vì bão tố và hỏa hoạn, động đất và bom đạn trong thời thế chiến thứ II. Nhà thờ hiện nay có từ thập niên 1950 và được ĐGH Gioan Phaolô 2 nâng lên hàng tiểu vương cung thánh đường.
Cách đây 3 năm, tức là hồi tháng 2 năm 2012, Nhà thờ chính tòa bị đóng cửa để tu bổ, nhất là để củng cố, thiết lập hệ thống an ninh cần thiết chống động đất. Phí tổn 1 triệu rưỡi mỹ kim đã được các xí nghiệp lớn và các tín hữu tài trợ.

Bài giảng thánh lễ

Trong bài giảng thánh lễ, ĐTC nhắc đến cố gắng của các GM, LM và tu sĩ trong quá khứ không những để loan báo Tin Mừng và xây dựng Giáo Hội tại đất nước Philippines này, nhưng còn kiến tạo một xã hội theo tinh thần Phúc Âm, bác ái, tha thứ, và liên đới phục vụ công ích. ”Giống như họ, ngày nay anh chị em cũng đang thi hành các công tác tình thương. Giống như họ, anh chị em cưũng được kêu gọi kiến tạo những nhịp cầu để các dân tộc Á châu đón nhận lời Chúa. .. Chúng ta được kêu gọi trở thành những sứ giả tình thương của Chúa Kitô” (2 Cr 5,20). ĐTC nói:

”Là sứ giả của Chúa Kitô trước tiên có nghĩa là mời gọi mỗi người hãy canh tân cuộc gặp gỡ bản thân với Chúa Giêsu (Ev. Gaudium 3). Lời mời gọi này phải là trọng tâm chương trình kỷ niệm loan báo Tin Mừng tại Philippines. Nhưng Tin Mừng cũng là một lời mời gọi hoán cải, xét mình, trong tư cách cá nhân và cộng đoàn. Các GM Philippines đã có lý khi dạy rằng Giáo Hội tại nước này được mời gọi nhìn nhận và chiến đấu chống lại những nguyên nhân gây ra bất bình đẳng và bất công trong xã hội nước này, khiến cho nó mâu thuẫn với giáo huấn của Chúa Kitô. Tin Mừng kêu gọi mỗi Kitô hữu hãy sống một cuộc sống lương thiện, thanh liêm, dấn thân cho công ích. Nhưng Tin Mừng cũng kêu gọi các cộng đồng Kitô kiến tạo những nhóm người lương thiện, nhưng mạng liên đới có thể lan rộng trong xã hội để biến đổi xã hội bằng chứng tá ngôn sứ của mình”.

Trong mục đích ấy, ĐTC mời gọi các LM và tu sĩ nam nữ hãy tăng cường cuộc gặp gỡ hằng ngày với Chúa trong kinh nguyện và chống lại mọi cám dỗ duy vật. ”Chỉ khi nào chúng ta trở nên thanh bần, tước bỏ sự tự mãn, thì chúng ta mới có thể đồng hóa với những anh chị em hèn mọn nhất. Chúng ta sẽ nhìn sự việc dưới ánh sáng mới và chân thành và liêm chính đáp ứng thách đố loan báo sự quyết liệt của Tin Mừng trong một xã hội quá quen với sự loại trừ, những thái độ phe phái và bất bình đẳng tỏ tường.

ĐTC đặc biệt quan tâm đến các linh mục tu sĩ trẻ và chủng sinh hiện diện trong buổi lễ. Ngài nói: ”Anh chị em hãy ở giữa những người trẻ, họ có thể bị hoang mang và xuống tinh thần, nhưng họ tiếp tục coi Giáo Hội như bạn đồng hành và là nguồn hy vọng của họ. Anh chị em hãy gần gũi những người sống trong một xã hội bị nghèo đói và tham nhũng đè nặng, nhưng nản chí, muốn buông xuôi tất cả, rời bỏ trường học và sống bụi đời. Anh chị em hãy công bố vẻ đẹp và sự thật về hôn nhân Kitô cho một xã hội đang bị cám dỗ vì những quan niệm xáo trộnv ề tính dục, hôn nhân và gia đình. Các định chế này ngày càng bị tấn công do những thế lực mạnh mẽ đe dọa làm biến thái chương trình sáng tạo của Thiên Chúa và phản bội những giá trịđích thực đã soi sáng và hình thành những điều đẹp đẽ trong nền văn hóa của Philippines.

Cuối thánh lễ, ĐHY Antonio Luis Tagle, TGM Manila sở tại, đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC. ĐHY nói: ”Người Phippines chúng con bị mọi tai ương nhưng không bị đè bẹp, như thánh đường này bị hỏa hoạn và động đất tàn pha, nhưng rồi lại tái sinh, như dân tộc Philippines. Đức tin làm cho chúng con liên tục chống lại bao nhiêu những vụ hỏa hoạn hằng ngày, động đất, cuồng phong và chiến tranh. Và ngay nhiều người nghèo chúng con đang trỗi dậy từ thiên tại và những tai ương do con người gây ra, trong lúc chúng con đang chiến đấu thì ĐTC đến với chúng con. Ngài không mang lửa để hủy diệt, nhưng để thanh tẩy. Ngài mang động đất đến không phải để làm tan vỡ nhưng để thức tỉnh chúng con”.

Thánh lễ kết thúc lúc 1 giờ trưa giờ địa phương. Trước khi trở về tòa Sứ thần để dùng bữa và nghỉ ngơi, ĐTC đã ghé vào nhà một nhà gần Thánh đường, thuộc tổ chức TNK do cha Mathieu Dauchez, 40 tuổi, người Pháp sáng lập để đón nhận và săn sóc các trẻ em bụi đời. Ngoài 20 trẻ nữ sống tại đây còn có hàng trăm trẻ em khác dành cho ĐTC một cuộc tiếp đón thật đơn sơ nhưng rất cảm động. Các em ca hát và tặng ngài một bức tranh khảm làm bằng giấy mầu, một hình chụp Mình Thánh Chúa được đặt khu rác nhân dịp các em tổ chức chầu Thánh Thể tại đây..

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp chính quyền Philippines

Đức Thánh Cha Phanxicô gặp chính quyền Philippines

MANILA. ĐTC Phanxicô khuyến khích chính quyền Philippines cải tổ các cơ cấu xã hội gây ra bất công và bài trừ nạn tham ô hối lộ.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong cuộc gặp gỡ chính quyền Philippines sáng ngày 16-1-2015.

Thứ sáu, 16-1, là ngày thứ hai của ĐTC Phanxicô tại Philippines. Ngài đã từ Sri Lanka đến sân bay của căn cứ không quân Villamor ở Manila lúc gần 6 giờ chiều thứ năm vừa qua sau hơn 6 giờ bay. Vì biết ĐTC bay suốt ngày nên chắc là mệt, nên nghi thức đón tiếp chính thức với diễn văn được dời sang ngày hôm sau. Dầu vậy Tổng thống Benigno Aquino vẫn ra sân bay đón tiếp ĐTC cùng với hàng chục ngàn người, nhất là các em học sinh, ở trong khu vực phi trường, và dọc đường suốt 9 cây số về tòa Sứ Thần Tòa Thánh, đã có 2 triệu người, theo ban tổ chức, đã dành cho ngài một cuộc chào đón hết sức nồng nhiệt. Lúc đó là trời tối, nên xe chở ĐTC được bật đèn sáng để mọi người có thể thấy ngài.

ĐTC chính thức bắt đầu hoạt động tại Philippines từ sáng thứ sáu, 16-1, và ngài đã có 3 hoạt động chính: trước tiên là nghi thức đón tiếp chính thức tại Phủ Tổng Thống, gặp gỡ tổng thống, chính quyền và ngoại giao đoàn, rồi sau đó ngài cử hành thánh lễ với các GM, LM, tu sĩ nam nữ và chủng sinh tại Nhà thờ chính tòa Manila. Ban chiều vào lúc 5 giờ rưỡi, ngài gặp gỡ các gia đình tại Hội trường thể thao ở khu trung tâm thương mại Mall of Asia Arena. Sau đây là chi tiết các hoạt động của ĐTC.

Thăm tổng thống và gặp chính quyền

Lúc 9 giờ sáng, ĐTC đã từ Tòa Sứ Thần Tòa Thánh đến Phủ Tổng thống Philippines, cũng gọi là Dinh Malacanan, cách đó 5 cây số. Xưa kia đây là dinh của quan toàn quyền thời thuộc địa Tây Ban Nha, được xây cất năm 1802.
Lễ nghi đón tiếp ĐTC diễn ra lúc 9 giờ 15 phút với 21 phát đại bác chào mừng, duyệt qua đoàn quân danh dự, quốc thiều Vatican và Philipines, cũng như giới thiệu các thành phần của hai phái đoàn, trước khi ĐTC tiến vào trong dinh để hội kiến riêng với Tổng thống Benigno Cổ Hoàng Cơ Aquino III. Ông năm nay 54 tuổi (1960), là con của Thượng nghị sĩ Ninoy Aquino bị ám sát tại Phi trường Manila năm 1983 và của bà tổng thống Corazón Aquino Cổ Hoàng Cơ. Ông đắc cử tổng thống như ứng viên của Đảng Tự do trong buộc bầu cử hồi năm 2010 và kế nhiệm bà Gloria Arroyo.

Sau khi hội kiến riêng với Tổng thống Aquino III và gặp gỡ gia đình ông, ĐTC đã tiến sang phòng nghi lễ Rizal để gặp các giới chức chính quyền và ngoại giao đoàn, tổng cộng là 450 người.

Diễn văn ca ĐTC

Lên tiếng trong dịp này, ĐTC cho biết cuộc viếng thăm của ngài tại Philippines diễn ra trong khuôn khổ chuẩn bị kỷ niệm 500 năm bắt đầu công bố Lời Chúa Giêsu Kitô tại đất nước này, mừng vào năm 2021 tới đây. Tiếp đến cuộc viếng thăm cũng liên hệ mật thiết tới cuộc tàn phá do cuồng phong Yolanda gây ra. Ngài ngưỡng mộ nỗ lực liên đới của dân chúng, nhất là người trẻ, và đồng thời muốn bày tỏ sự gần gũi với những người bị tổn thương vì thiên tại này. Ngài không quên kêu gọi cải tổ những cơ cấu xã hội bất công, bài trừ nạn tham nhũng thường là tin chiếm hàng đầu tại nước này, và giải quyết nạn nghèo đói, khiến cho 25% dân Phi hiện nay đang phải sống với lợi tức 1 mỹ kim mỗi ngày. ĐTC nói:

”Tấm gương liên đới này cũng là một bài học rất quan trọng đối với tương lai. Cũng như một gia đình, mỗi xã hội kín múc năng lực từ những tài nguyên sâu rộng nhất của mình để đối phó với những thách đố mới. Philippines, cũng như các nước khác ở Á châu, đang đứng trước thách đố những thay đổi trong việc kiến tạo những nền tảng vững chắc cho một xã hội tân tiến, phản ánh những giá trị chân chính của con người, bảo vệ phẩm giá và các quyền của mỗi người vốn là hồng ân quí giá Thiên Chúa ban cho. Tất cả điều ấy đều rất quan trọng so với những bối cảnh chính trị và luân lý đạo đức mới mẻ và phức tạp.”

ĐTC nhắc đến vai trò và trách nhiệm của các nhà chính trị cần làm tất cả những gì có thể để xây dựng công ích, bảo tồn tài nguyên phong phú về nhân sự và thiên nhiên mà Chúa ban cho đất nước này. Vì thế cần kiến tạo những điều kiện cần thiết để các thể hệ trẻ kiến tạo một xã hội thực sự là công bằng, liên đới và hòa bình.
ĐTC gợi lại truyền thống Kinh Thánh qui định nghĩa vụ của mọi dân tộc phải lắng nghe tiếng nói của người nghèo và chống lại mọi hình thức chênh lệch xã hội như gương mù. Việc cải tổ những cơ cấu xã hội đang kéo dài tình trạng nghèo đói và loại trừ người nghèo, trước tiên đòi phải hoán cải tâm trí. Các GM Philippines đã ấn định năm nay là ”Năm của người nghèo”. Tiếng nói ngôn sứ này mời gọi tất cả mọi người suy tư, đổi mới trên mọi bình diện của đời sống xã hội, bài trừ nạn tham những và tát cả những gì gây ra tình trạng loại trừ và nghèo đói của bao nhiêu người trong xã hội.

Cũng trong diễn văn, ĐTC nhắc đến một hoạt động chính trong cuộc viếng thăm của ngài là gặp gỡ các gia đình, và người trẻ. Ngài nói:

”Gia đình có một sứ mạng đặc biệt trong xã hội. Thực vậy chính trong gia đình mà người trẻ học các giá trị và hấp thụ bầu không khí chân thực cho toàn thể đời sống. Vì thế, cần phải củng cố, thay vì phá hủy hoặc làm biến thái gia đình. Chúng ta biết có bao nhiêu khó khăn mà các nước dân chủ ngày nay đang gặp phải trong việc tôn trọng phẩm giá bất khả vi phạm của mỗi người, quyền của các trẻ em chưa sinh ra, cũng như quyền của người già và người bệnh. Trong bối cảnh này, các gia đình và các cộng đoàn địa phương phải chu toàn vai trò của mình trong việc kiến tạo một nền văn hòa toàn diện, tốt lành, liên đới, trung thành, như những nền tảng vững mạnh và là căn bản luân lý đạo đức vững chắc giúp xã hội sống chung.

Sau cùng, ĐTC nhắc đến sự đóng góp của Philippines cho sự cộng tác quốc tế giữa các nước Á châu và ngài cũng nhắc đến nhu cầu của những người dân nước này đang sống tại nhiều nước trên thế giới, góp phần vào sự sung túc của các nước đó. Vì thế, ngài khuyến khích Philippines tiếp tục cố gắng đảm bảo cho mọi công dân một sự phát triển nhân bản toàn diện.

ĐTC không quên ca ngợi những cố gắng thăng tiến đối thoại và cộng tác giữa tín đồ các tôn giáo khác nhau và ngài bày tỏ tin tưởng là những bước tiến đã được thực hiện nhắm mang lại hòa bình ở miền nam Philippines sẽ đạt được những giải pháp đúng đắn, phù hợp với các nguyên tắc nền tảng của quốc gia trong niềm tôn trọng các quyền bất khả nhượng của mọi ngừơi, kể cả các thổ dân bản xứ và các nhóm tôn giáo thiểu số.

Rời phủ Tổng thống sau cuộc gặp gỡ, ĐTC đã tiến về Nhà thờ chính tòa Manila cách đó 5 cây số để chủ sự thánh lễ với các GM, LM, tu sĩ nam nữ và chủng sinh.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Tường thuật ngày thứ ba chuyến ĐTC Phanxicô viếng thăm Sri Lanka (1/3)

Tường thuật ngày thứ ba chuyến ĐTC Phanxicô viếng thăm Sri Lanka (1/3)

** Hôm qua thứ năm 15 tháng giêng là ngày chót trong chuyến viếng thăm Sri Lanka ĐTC Phanxicô đã chỉ có một sinh Hoạt chính là thăm Học viện văn hóa Biển Đức XVI tại Bolawalana, cách Colombo 35 cây số, trước khi từ giã Sri Lanka để lên đường sang Philippines. Tuy nhiên ngài cũng đã có một sinh hoạt ngoài chương trình, đó là thăm một ngôi chùa Phật giáo và gặp nguyên tổng thống Mahinda Rajapaksa.

Lúc 6 giờ rưỡi sáng ĐTC đã dâng thánh lễ riêng trong nhà nguyện Tòa Sứ Thần. Sau đó lúc 7 giờ 45 ĐTC đi xe đến Bolawalana. ĐTC đã được Linh Mục Mahamalage Quintus Fernando viện trưởng Học Viện Biển Đức XVI tiếp đón và tháp tùng vào nhà nguyện Học viện. ĐTC đã qùy cầu nguyện trong thinh lặng. Bên trong nhà nguyện cũng có 10 linh mục dòng Tên thuộc cộng đoàn gần Học viện, một ca đoàn và vài dân chài của vùng này. Bên ngoài nhà nguyện có 250 công nhân đã cộng tác trong việc xây cất Học viện. Nhà nguyện được dâng kính “Đức Bà Lanka”. Đền thánh Đức Bà Lanka tại Colombo có từ năm 1911 ban đầu dược dâng kính Đức Mẹ Lộ Đức, năm 1917 có thêm một hang đá và là nơi thu hút tín hữu hành hương. Sau đó đền thánh được nới rộng và hồi Đệ nhị thế chiến bùng nổ ĐHY Jean Marie Masson thuộc dòng Hiến sinh vô nhiễm, TGM Colombo, khấn hứa dâng một đền thánh với tên “Đức Bà Lanka”, nếu Sri Lanka không bị chiến tranh tàn phá. Đền thánh được hoàn thành năm 1974 và được Đức Phaolô VI nâng lên hàng Tiểu vương cung thánh đường trong ngày thánh hiến cùng năm.

Học viện Biển Đức XVI thành hình năm 2011 do sáng kiến của ĐHY Malcom Ranjith, TGM Colombo. Học viện có mục đích cộng tác với các giới chức chính quyền và các tổ chức khác trong việc tái thiết quốc gia sau ba mươi năm nội chiến. Học viện bao gồm một ban đối thoại liên tôn và cộng tác, một ban ngữ học chuyên dậy các thứ tiếng ngoại quốc bắt đầu bằng tiếng Anh đang trở thành ngôn ngữ chung của Sri Lanka, và một ban nghiên cứu các môn học cao đẳng gồm các khoa nhân văn, triết học, thần học, kinh tế, thương mại, tin học vv…

Sau khi thăm Học viện Biển Đức XVI lúc 8 giờ rưỡi ĐTC đã đi ra phi trường cách đó 8 cấy số để từ biệt Sri Lanka lấy máy bay sang Philippines.

ĐTC đã được tổng thống tân cử Sirisena tiếp đón trong phòng khách. Cùng hiện diện có một số giới chức lãnh đạo đạo đời, tất cả các Giám Mục Sri Lanka và một nhóm tín hữu. ĐTC và tổng thống đã duyệt hàng chào danh dự. ĐTC đã bắt tay từ biệt các vị lãnh đạo đạo đời. Tổng thống đã tiễn ĐTC tới tận chân thang máy bay.

** Chiếc máy bay Airbus 340 của hãng hàng không Sri Lanka đã cất cánh rời phi trường Colombo lúc 9 giờ sáng và trực chỉ Manila. Máy bay chở ĐTC và đoàn tùy tùng bay ngang qua không phận các nước Ấn Độ, Myanmar, Thái Lan. Campuchia và Việt Nam, trước khi tới Philippines.

ĐTC đã gửi điện tín chào tổng thống Maithripala Sirisena và quốc dân Sri Lanka. Ngài bầy tỏ lòng biết ơn sự tiếp đón nồng hậu của tổng thống, chính quyền và toàn dân Sri Lanka và bảo đảm lời cầu nguyện của ngài cho hòa bình, hiệp nhất và thịnh vượng của Sri Lanka.

Khi máy bay bay trên không phận của Ấn Độ ĐTC gửi điện tín chào thăm và khẩn cầu phước lành tràn đầy của Thiên Chúa trên trên tổng thống Pranab Mukherjee và nhân dân Ấn.

Qua không phận Thái Lan ĐTC gửi lời chào thăm quốc vương Bhumibol Adulayadej và bảo đảm cầu nguyện cho nhà vua và toàn dân Thái được tràn đầy ơn hòa bình và thịnh vượng của Thiên Chúa.

Khi bay trên không phận Campuchia ĐTC gửi điện tín chào thăm và khẩn cầu phước lành tràn đầy của Thiên Chúa trên vua Norodom Sihamoni và quốc dân.

Khi máy bay ở trên bầu trời Việt Nam ĐTC đã gửi điện tín cho ông Trương Tấn Sang Chủ tịch nưóc Cộng hòa xã hội Việt Nam. Ngài bảo đảm các lời cầu nguyện cho ông và toàn dân Việt Nam và khẩn nài Thiên Chúa ban ơn hòa bình và thịnh vượng trên mọi người.

** Sau 6 giờ 15 phút bay vượt chặng đường dài 4.567 cây số, chiếc Airbus 340 đã tới phi trường Villamor Manila lúc 17 giờ 45 giờ địa phương.

Bầu khí chờ đợi ĐTC tại Philippines rất là hân hoan. HĐGM đã ra thông cáo mời gọi đánh chuông 60.000 nhà thờ và hằng trăm ngàn nhà nguyện trên toàn nước để chào mừng ĐTC, khi ngài đến phi trường Manila. Đây là lần thứ tư một vị Giáo Hoàng đến viếng thăm Philippines. Lần đầu tiên là Đức Phaolô VI hồi năm 1970 tức cách đây 45 năm, tiếp theo đó là Đức Gioan Phaolô II trong hai năm 1981 và 1995.

Đón tiếp ĐTC tại phi trường có ĐHY Luis Antonio Tagle TGM Manila, ĐC Socrates Villegas, TGM Lingayen-Dagupan, Chủ tịch HĐGM Philippines, ĐTGM Giuseppe Pinto, Sứ Thần Tòa Thánh tại Philippines, các Giám Mục thuộc ban Thường Vụ. Về phiá chính quyền có Tổng thống Benigno Simeon Aquino III, một số vị lãnh đạo dân sự. Cũng có mấy ngàn bạn trẻ vùa hát vừa múa chào mừng ĐTC. Bên canh đó là một ban vũ thiếu nhi mặc áo có cánh thiên thần và hàng chục ngàn tín hữu cầm cờ Toà Thánh và cờ Philippines vẫy chào ĐTC.

Đức Sứ Thần Tòa Thánh tại Philippines và bà đại sứ Philippines cạnh Tòa Thánh đã lên máy bay chào ĐTC.

Tổng thống Aquino đã đón ĐTC tại chân thang máy bay. Sau khi ĐTC và tổng thống bước lên bục, ban quân nhạc đã trổi quốc thiều Vaticăng và quốc thiều Phihlippines. Tiếp đến ĐTC và tổng thống duyệt hàng chào danh dự. Hai em bé một trai một gái đến tặng hoa cho ĐTC. Tổng thống giới thiệu với ĐTC một vài giới chức chính quyền. ĐTC đã chào các Giám Mục và ĐHY Tagle. Tiếp đó ĐTC đã lên xe díp trắng để vể Tòa Sứ Thần Tòa Thánh cách đó 9 cây số. Lễ nghi tiếp đón chính thức sẽ chỉ diễn ra sáng thứ sáu 16 tháng giêng, khi ĐTC đến viếng thăm xã giao tổng thống.

Hai bên đường từ phi trường về Toà Sứ Thần cách đó 9 cây số cũng đầy tín hữu đúng hai bên đường chào đón ĐTC. Xe đã tới Tòa Sứ Thần 45 phút sau đó. ĐTC đã dùng bữa tối và nghỉ ngơi lấy sức cho các sinh hoạt tiếp theo.

** Manila là thủ đô của Philippines từ năm 1591, nằm trên bờ biển phía đông đảo Luzon, là đảo lớn nhất của quần đảo Philippines gồm hơn 7,100 đảo. Cấu trúc thành phố có từ thời Tây Ban Nha đô hộ với các bức tường của thành cổ có pháo đài gọi là Intramuros. Manila hiện có 1,5 triệu dân cư và là trung tâm của một vùng thành phố khác là Metro Manila bao gồm 17 thành phố chung quanh có tổng cộng 12 triệu dân. Ở mạn nam Intramuros là công viên Rizal, nơi ĐTC sẽ cử hành thánh lễ cho tín hữu ngày 18 tháng hai. Manila có nhiều nơi phụng tự công giáo trong đó có nhà thờ chính toà nơi ĐTC sẽ cử hành thánh lễ cho hàng giáo sĩ và tiểu vương cung thánh đường Thánh Sebastian kiểu gô tích hoàn toàn bằng thép. Manila cũng có khoảng 30 đại học, học viện và viện cao học bách khoa, kỹ thuật, nổi tiếng nhất là Đại học giáo hoàng thánh Toma, nơi ĐTC sẽ gặp gỡ các vị lãnh đạo tôn giáo và giới trẻ Philippines.

Tổng giáo phận Manila có từ năm 1595, có 3 triệu 484 ngàn dân trong đó có 3 triệu 49 ngàn người công giáo, tức chiếm 88%. Giáo phận có 88 giáo xứ, 260 nhà thờ hay cứ điểm truyền giáo, 271 linh mục giáo phận, 369 linh mục dòng, 529 tu huynh, 899 nữ tu khấn trọn, 89 đại chủng sinh và 1 thầy sáu vĩnh viễn. Giáo Hội điều khiển 204 cơ sở giáo dục và 38 trung tâm bác ái.

Sáng thứ sáu hôm nay ĐTC được chính thức tiếp đón tại Dinh Tổng thống Malacanhăng, gặp gỡ chính quyền và ngoại giao đoàn, rồi lúc 11 giờ cử hành thánh lễ cho hàng giáo sĩ, tu sĩ nam nữ và chủng sinh trong nhà thờ chính tòa Manila. Vào ban chiều ngài gặp gỡ các gia đình tại tòa nhà thể thao “Mall of Asia Arena”.

Để kết thúc bài theo gót ĐTC sau đây là bài phỏng vấn ĐHY Luis Antonio Gokim Tagle, TGM Manila dành cho phái viên Sean Lovett của chương trình tiếng Anh đài Vaticăng, về bầu khí chờ đợi ĐTC, kỷ niệm chuyến viếng thăm của Đức Phaolô VI và bầu khí chờ đợi ĐTC Phanxicô.

Hỏi: Thưa ĐHY, tình hình Philippines hiện nay ra sao?

Đáp: Philippines vừa mới lấy lại sức sau trận bão vừa qua. Trong lúc này đây tôi vẫn còn nhớ như in các hình ảnh tàn phá: cây cối trụi hết không còn một lá nào, tuy nhiên các đường xá được quét dọn sạch sẽ và lề đường được lót lại để chuẩn bị tiếp đón ĐTC…

Hồi Đức Phaolô VI viếng thăm Philippines dân chúng đã rất hăng say tiếp đón ngài như là một ơn từ trời, Đức Phaolô VI đã muốn đến thăm các gia đình nghèo của quận Tondo ỏ Manila, nổi tiếng là một trong những vùng nghèo nhất của thành phố. Người dân tại đây vẫn còn nhớ chuyến viếng thăm ấy của Đức Phaolô VI. Khi tôi tới thăm giáo xứ nhân một dịp lễ cha sở và tín hữu tại đây đã chỉ cho tôi thấy căn nhà nơi Đức Phaolô VI đã thăm. Còn có các kỷ niệm các hình ảnh và các hiệu quả của chuyến viếng thăm cách đây 45 năm đó.

Hỏi: Có tương quan giữa hai chuyến viếng thăm của hai vị Giáo Hoàng không, vì có đề tài về lòng thương xót và đối thoại…

Đáp: Vâng, có tương quan giữa hai cuộc viếng thăm. Chúng ta phải nhớ tới các người mà Đức Phaolô VI đến gặp gỡ hồi năm 1970, là các Giám Mục Á châu tụ tập về để gặp ĐGH. Và chính trong dịp này tại Manila với sự khích lệ của Đức Phaolô VI Liên Hội Đồng Gám Mục Á châu đã chào đời. Đức Phaolô VI cũng đã khánh thành đài phát thanh Chân Lý Á châu để có thể loan báo Tin Mừng cho các dân tộc Á châu qua Radio. Trong một nghĩa nào đó, chuyến viếng thăm của Đức Phaolô VI đã như là tiếp nhận Công Đồng Chung Vaticăng II tại Á châu, với hình ảnh của ĐTC mời gọi chúng tôi đối thoại và tài liệu Giáo Hội Người. Thế rồi bốn năm sau tại Đài Loan năm 1974 đã có đại hội đầu tiên của Liên Hội Đồng Giám Mục Á châu về đề tài rao giảng Tin Mừng tại Á châu. Theo Đức Phaolô VI việc rao truyền Tin Mừng phải xảy ra qua đối thoại. Như thế các biến cố có liên hệ với nhau.

Hỏi: Không có nhiều người nối liền Đức Phaolô VI với Đức Phanxicô. ĐHY có làm điều này không?

Đáp: Ồ, có chứ. Tôi có làm điều đó. Khi có người nói một cách tích cực cũng như một cách tiêu cực rằng “ĐTC Phanxicô đang làm một cuộc cách mạng, đang đối thoại, đang ôm hôn người nghèo”, thì tôi nói là đã thấy nơi Đức Phaolô VI rồi trong lộ trình của ngài và trong con người của ngài. Trực giác này, quan niệm này mà ĐTC Phanxicô xem ra đang lấy lại và tái đề nghị, tôi đã sống như là chứng nhân trong các nghiên cứu và cuộc gặp gỡ của tôi với Đức Phaolô VI tại Philippines. Các cử chỉ biểu tượng của Đức Phaolô VI xem ra đã mở đường cho Đức Phanxicô.

Hỏi: ĐTC Phanxicô đã nói là ngài mang theo một sứ điệp cảm thương đến cho người nghèo, cho các nạn nhân của bão lụt và động đất, và xin đừng chi phí nhiều cho các việc chuẩn bị đón tiếp, có đúng thế không thưa ĐHY?

Dáp: Vâng, đây là dấu vết các chuyến viếng thăm của ngài. Bên Nam Hàn cũng thế ĐTC sẽ không hài lòng thấy các chuẩn bị lộ liễu. Cả bàn thờ dâng thánh lễ cũng phải đơn sơ, là dấu chỉ của vị Giáo Hoàng này, của sự đơn sơ của ngài.

Hỏi: Người dân Philippines rất quảng đại trong việc diễn tả lòng trìu mến của họ Có khó kìm hãm họ không thưa ĐHY?

Đáp: Trong một kiểu nào đó thì khó kìm hãm họ. Nhưng chúng tôi đã không chỉ làm cho dân chúng hiểu các ước muốn của ĐTC, mà cũng hiểu các dấu chỉ thời đại nữa. Chúng tôi không muốn dấy lên gương mù gương xấu. Tất cả mọi người đều có thể tìm một cớ để dành cho ngài một sự tiếp đón sang trọng, vì có gì đi nữa thì ngài cũng là Giáo Hoàng, Nhưng chúng tôi phải ý thức đối với biết bao nhiêu người mà chúng tôi phải tiếp đón hằng ngày giữa chúng tôi: những người nghèo và đói. Vì thế tất cả tiền tiết kiệm được cho chuyến viếng thăm của ĐTC sẽ được dùng để trợ giúp người nghèo. Và ĐTC đã rất rõ ràng trong việc này.

Hỏi: Thế giới đã chú ý rất nhiều đến Philippines sau trận bão Haiyan và Hagupit, nhưng ĐHY đã thường nói đến các trân bão thường ngày ập đổ trên Philipines…

Đáp: Vâng chúng tôi thường có các trận bão, trung bình khoảng 20 tới 22 trận bão mỗi năm. Chúng tôi cũng thường có động đất ở các mức độ khác nhau. Chúng khiến cho thế giới chú ý vì sức tàn phá rộng rãi của chúng. Nhưng, như tôi đã nói trong nhiều dịp, chúng ta không được quên các trận bão hằng ngày, các trận động đất hằng ngày do nghèo đói, gian tham hối lộ, các thoả hiệp thương mại sỗ sàng và các thực hành không liêm chính gây ra cho người dân. Cả khi mặt trời rạng rỡ, bóng tối lan tràn trong cuộc đời của biết bao nhiêu người. Cả trong Thượng Hội Đồng Giám Mục tôi đã nhắc tới những người trong các nhóm bé nhỏ, đối với chúng tôi bên Á châu, sự nghèo túng không phải là một cái gì ngoại tại đối với gia đình. Nó ghi đậm dấu trên cuộc sống, trên tế bào gia đình. Khi tôi thăm một nhà tiếp đón các trẻ em và người trẻ lang thang ngoài đường ban đêm, tôi mới nhận ra rằng cha mẹ các em khoan nhượng với tất cả những điều đó, bởi vì họ hy vọng rằng các nhân viên của chính quyền có thể tiếp đón con cái họ và nuôi dạy chúng trong các nhà tiếp đón. Họ không phải là các cha mẹ lơ là với con cái của họ, nhưng họ là các cha mẹ qúa nghèo không có gì cho con ăn cả, và họ nói với con cái họ: “Sao con không đi ra ngoài và khi cảnh sát đem con vào nhà tiếp đón, tại sao con không đi với họ? Con sẽ có được an ninh ban đêm. Cho đêm nay con có một mái nhà và thức ăn”.

Hỏi: ĐTC Phanxicô đã nói rằng ngài muốn chuyến viếng thăm không tập trung nơi ngài, nhưng tập trung nơi Chúa Giêsu và nơi gương mặt của những người nghèo. ĐTC có đưa ra các chỉ dẫn nào khác không thưa ĐHY?

Đáp: Ngài không muốn mất thởi giờ trong những chuyện có thể làm cho ngài chia trí đối với trọng tâm sứ mệnh của ngài là gặp gỡ người nghèo và lắng nghe họ. Trong chuyến viếng thăm của ĐTC có nhiều người hỏi: “Chúng con có thể gặp ĐGH một phút không? Có thể dâng tặng cho ngài cái này cái kia không?” Tất cả đều rất đẹp. Nhưng nếu chỉ có ba ngày thăm viếng, thì cần phải lựa chọn. Và cũng cần tiết kiệm sức lực cho ĐTC nữa. Các chuyến bay dài, việc thay đổi khí hậu, thay đổi múi giờ, thay đổi thực phẩm vv… có thể khiến cho một người 78 tuổi kiệt lực. Cần phải sử dụng các sức lực ấy cho sứ mệnh của ngài. Vì thế chúng tôi đang giúp ĐTC tập trung vào các cuộc gặp gỡ của ngài với các gia đình và với giới trẻ tại Manila. Trong các cuộc gặp gỡ này ngài cũng sẽ lắng nghe các chuyện của các gia đình gặp khó khăn, các gia đình đã là nạn nhân của nhiều trận bão lụt, cũng như lắng nghe các khó khăn của giới trẻ. Như tôi đã nói, có một loại bão xảy ra không phải chỉ tại một nơi, nhưng tại khắp nơi. ĐTC sẽ lắng nghe họ, và không phải chỉ có ngài sẽ ban lời an ủi cho họ, mà ngài cũng được củng cố bởi chính đức tin của các người đáng thương này nữa.

Hỏi: Như là TGM Manila, đâu là thách đố lớn nhất của ĐHY trong việc tổ chức một biến c phức tạp như chuyến viếng thăm này của ĐTC?

Đáp: Chúng tôi đã thành lập một nhóm hỗn hợp gồm các người của chính quyền, của lãnh vực kinh tế và của Giáo Hội. Và ủy ban này đã là một kết qủa chuyến viếng thăm của ĐGH rồi: vị chủ chăn hoàn vũ tạo ra ý thức về gia đình. Và tôi rất hạnh phúc. Tôi chắc chắn rằng cả sau chuyến viếng thăm này nữa ý thức của sự hiệp thông, của sự cộng tác tất cả cùng nhau sẽ tiếp tục. Tôi muốn duy trì sự hợp tác này.

Hỏi: ĐHY nghĩ chuyến viếng thăm này của ĐTC có đặc tính nào?

Đáp: Một cuộc gặp gỡ với nhiều đau khổ. Nhưng sứ điệp Kitô không kết thúc với khổ đau, vì luôn luôn có một sự Phục Sinh. Và tôi hy vọng rằng ĐTC sẽ trông thấy điều này giữa những người đã đau khổ và tiếp tục đau khổ.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

Tóm lược cuộc họp báo của Đức Thánh Cha trên máy bay ngày 15-1-2015

Tóm lược cuộc họp báo của Đức Thánh Cha trên máy bay ngày 15-1-2015

Ngày 15-1-2015, trên chuyến bay dài hơn 6 tiếng đồng hồ từ thủ đô Colombo của Sri Lanka đến Manila, Philippines, ĐTC Phanxicô đã dành 45 phút để trả lời các câu hỏi của một số đại diện trong số 76 ký giả tháp tùng ngài. Từ vấn đề tự do ngôn luận, báo chí, cho đến Thông điệp ngài sắp công bố về môi sinh, vấn đề hòa giải tại Sri Lanka, và nạn lạm dụng trẻ em..

Chống lạm dụng tự do ngôn luận để mạ lỵ tôn giáo

Trả lời câu hỏi của một ký giả Pháp xin ngài nhận định về những vụ khủng bố gần đây tại Paris, tự do tôn giáo và tự do ngôn luận, ĐTC nói:

”Cả hai tự do này đều là những quyền căn bản của con người. Kẻ nào chủ trương giết người nhân danh Thiên Chúa thì rơi vào lầm lạc, và cũng sai lầm như thế những kẻ nào xúc phạm tôn giáo nhân danh quyền được nói những gì mình muốn. Về tự do ngôn luận: mỗi người không những có tự do và có quyền, nhưng còn có nghĩa vụ nói điều mà mình nghĩa có thể giúp xây dựng công ích. Nếu một đại biểu không nói điều mà họ nghĩ là con đường chânthực phải theo, thì không cộng tác vào công ích”.

”Nhưng chắn chắn là không thể dùng bạo lực để phản ứng lại sự xúc phạm, nhưng cũng không thể khiêu khích.. ”Không thể mạ lỵ tín ngưỡng của người khác, không thể chế nhạo đức tin, vì tự do ngôn luận có một giới hạn, đó là phẩm giá của mỗi tôn giáo”.

ĐTC cũng nói rằng người ta có nguy cơ bị những phản ứng xấu khi lăng mạ điều thánh thiêng đối với người khác, tương tư như thế, người ta có nguy cơ trở thành nạn nhân của thiên nhiên khi khai thác thiên nhiên thái quá.

Thông điệp về môi sinh

Đó cũng là một đề tài được đề cập đến trong cuộc họp báo: thông điệp về môi sinh mà ĐTC loan báo sẽ công bố. Thông điệp này sẽ hoàn tất vào tháng 6 hoặc tháng 7 năm nay. Ngài cho biết cuối tháng 3 sắp tới, ngài sẽ dành một tuần để kết thúc dự thảo thông điệp. Sau dự thảo thứ I do ĐHY Turkson, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, đệ trình cho ngài, ngài đã duyệt lại dự thảo thứ II với sự cộng tác của các chuyên gia, và dự thảo thứ III được soạn với sự đóng góp của các nhà thần học và những đóng góp xây dựng khác từ Bộ giáo lý đức tin, Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh và LM thần học gia tại Phủ giáo hoàng. Thông điệp này sẽ là một đóng góp cho Hội nghị thượng định sắp tới ở Paris về việc bảo vệ môi sinh. Hội nghị thượng đỉnh lần trước tại Peru đã làm ngài thất vọng vì ”thiếu can đảm”.

Phong thánh theo thể thức tương đương

Được hỏi về việc phong thánh ở Sri Lanka, ĐTC giải thích tại sao gần đây ngài dành ưu tiên cho việc phong hiển thánh theo thể thức tương đương, trong trường hợp đó là những vị chân phước đã được tôn kính từ nhiều thế kỷ, như trường hợp Chân phước Joseph Vaz Tông đồ tại Sri Lanka. Còn trong trường hợp các chân phước Angela da Foligno, Pierre Favre SJ, Anchieta SJ và những vị khác, ngài quyết định phù hợp với quan điểm của ngài Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm (Evangelii gaudium): ngài muốn ”những nhà đại truyền giáo”. Cũng vậy trong cuộc viếng thăm vào tháng 9 tới đây tại Hoa Kỳ, ngài sẽ tôn phong hiển thánh cho chân phước Junipero Serra, dòng Phanxicô, là vị đã mang Tin Mừng vào miền tây nước Mỹ.

Chống lạm dụng trẻ em trong các vụ khủng bố tự sát

ĐTC mạnh mẽ chống lại việc lạm dụng ngày càng gia tăng đối với các trẻ em nam nữ trong các vụ khủng bố tự sát, một thảm trạng cũng đã từng xảy ra tại Sri Lanka trong thời nội chiến. Ngoài những vấn đề tâm lý, ĐTC coi đó là là một sự thiếu quân nơi những người tự sát để giết người. Một kẻ khủng bố tự sát là một người hiến mạng sống nhưng làm không đúng, trái ngược với tấm gương của bao nhiêu thừa sai, cũng hiến mạng sống, nhưng là để xây dựng. Vì thế, đối với ĐGH, đặt bom ở lưng một trẻ em không là gì khác hơn là một cách thức kinh khủng biến em ấy thành một nô lệ.

Vatican có thể bị khủng bố?

Trả lời câu hỏi về vấn đề: có thể có khủng bố chống bản thân ngài và Vatican hay không, ĐTC mỉm cười nói ngài chỉ sợ cho sự an toàn tính mạng của những ngừơi đến gặp ngài. Ngài cho biết là ngài đối đầu với nguy hiểm này bàng ”một liều 'vô thức'! Cách tốt nhất để đáp lại bạo lực là sự dịu dàng.

Viếng thăm chùa Phật giáo

Trả lời câu hỏi tại sao ngài bất ngờ đến viếng chùa Phật giáo chiều ngày thứ tư, 14-1-2015 ở Colombo, ĐTC cho biết đó là một cuộc viếng thăm đáp lễ đối với vị sư trụ trì chùa ấy. Vị sư đã ra phi trường chào đón ngài. Ngoài ra ngài cũng muốn nhìn nhận giá trị của sự liên tôn.. đặc tính này cũng được biểu lộ ở Đền thánh Đức Mẹ Madhu ở miền bắc Sri Lanka, đây không phải chỉ là nơi gặp gỡ và cầu nguyện của các tín hữu Công Giáo mà thôi.

Ủng hộ ủy ban sự thật và hòa giải

Được hỏi về việc ngài ủng hộ Ủy ban sự thật và hòa giải trên thế giới, như Ủy ban ở Sri Lanka, ĐTC cho biết ở Argentina, ngài cũng đã từng ủng hộ tất cả những cố gắng quân bình giúp mọi người đồng ý với nhau, và không tìm kiếm sự báo thù. ĐTC nhắc lại lời tân tổng thống Sirena của Sri Lanka và cho biết ngài ngưỡng mộ ý tưởng của Tổng thống muốn đi đến cùng công việc kiến tạo hòa bình và hòa giải, nhất là kiến tạo sự hòa hợp nơi dân chúng ở Sri Lanka.. Nhưng để đạt được mục tiêu này cần phải ”đi vào tâm hồn dân chúng” (SD 15-1-2015)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha viếng thăm Đền Thánh Đức Mẹ Madhu, bắc Sri Lanka

Đức Thánh Cha viếng thăm Đền Thánh Đức Mẹ Madhu, bắc Sri Lanka

MADHU. Chiều ngày 14-1-2015, ĐTC Phanxicô đã kính viếng Đền Thánh Đức Mẹ Mân Côi ở Madhu, bắc Sri Lanka, cầu nguyện với hơn 100 ngàn tín hữu và tái kêu gọi hòa giải giữa mọi người dân Sri Lanka.

Sau thánh lễ phong thánh với sự tham dự của hơn nửa triệu người tại thủ đô Colombo vào ban sáng, lúc 2 giờ chiều cùng ngày 14-1, ĐTC đã đáp trực thăng của không lực Sri Lanka từ thủ đô Colombo để bay đến Đền thánh Đức Mẹ Madhu, cách đó 250 cây số về hướng bắc và là miền có đại đa số dân thuộc sắc tộc Tamil.

Đền thánh Madhu thuộc giáo phận Mannar, hiện có 90 ngàn tín hữu Công Giáo trên tổng số 270 ngàn dân cư, với 34 giáo xứ do 55 LM giáo phận coi sóc và 330 LM dòng và 183 nữ tu.

Our-Lady-of-Madhu

Lịch sử Đền Thánh

Đền thánh Đức Mẹ Madhu đã có từ hơn 4 thế kỷ, tức là từ năm 1544 khi vua Sankili ở thành Jaffna tàn sát 600 tín hữu Công Giáo ở Mannar, vốn do các thừa sai Bồ đào nha hoán cải, vì nhà vua sợ người Bồ bành trướng ảnh hưởng. Có một số tín hữu tránh thoát được cuộc thảm sát và trong rằng họ thiết lập một nhà nguyện nhỏ bé và đặt trong đó tượng Đức Mẹ hiện nay ở trong Đền Thánh. 4 thập niên sau đó, một số tín hữu Công Giáo lại phải chạy khỏi Mannar và bắt đầu kiến thiết các thánh đường ở các vùng lân cận. Một trong các nhà thờ đó được thiết lập tại Mantai và là nơi đầu tiên được đặt tượng Đức Mẹ Madhu.
Năm 1656 người Hòa Lan theo Tin Lành Calvin đổ bộ lên đảo Tích Lan và bách hại các tín hữu Công Giáo. Có 30 gia đình Công Giáo chạy trốn từ làng này sang làng khác, họ mang theo pho tượng Đức Mẹ và 14 năm sau đó, họ định cư tại nơi ngày nay là Đền thánh Đức Mẹ Madhu. Một số tín hữu Công Giáo khác, trốn tránh cuộc bách hại của người Hòa Lan cũng chạy đến nơi này, trong số họ có một phụ nữ Bồ đào nha tên là Helena, và bà đã khởi công xây cất thánh đường nhỏ đầu tiên dâng kính Đức Mẹ Madhu.
Đức Mẹ tại đây được biết đến trên toàn đảo Tích Lan và được tôn kính như vị bảo vệ và chữa lành những người bị rắn cắn.

Khi cha Joseph Vaz từ Ấn độ đến hoạt động tại Tích Lan từ năm 1687, Công Giáo được phát triển và năm 1706, Đền thánh Đức Mẹ Madhu trở thành một trung tâm truyền giáo. Thánh đường hiện nay ở Madhu được khởi công xây cất hồi năm 1872 và năm 1824, vị Đặc Sứ của ĐGH Piô 11 đã chủ sự nghi thức đội triều tiên cho tượng Đức Mẹ.

Đền thành Đức Mẹ Mân Côi ở Madhu vẫn luôn là nơi hành hương và cầu nguyện của cac tín hữu Công Giáo và cả tín đồ các tôi giáo khác. Và mặc dù vùng này trong quá khứ đã xảy ra những cuộc giao tranh giữa phiến quân Tamil và quân đội chính phủ Sri Lanka, các GM nước này đã thành công trong việc yêu cầu cả hai phe lâm chiến chấp nhận Madhu là vùng phi quân sự, đảm bảo an ninh cho các tín hữu hành hương và nhiều người tị nạn chạy tới miền này để tránh các cuộc giao tranh. Thực vậy, từ năm 1990, khu vực 160 hécta quanh Đền thánh Đức Mẹ Madhu đã tiếp đón hàng ngàn người tị nạn chiến tranh. Sau chiến tranh, tháng 4 năm 2008, Đền Thánh Đức Mẹ được giao lại cho giáo phận Mannar va việc thờ phượng được mở lại từ tháng 12 năm 2010.

Viếng thăm

Đến Madhu lúc 3 giờ rưỡi chiều, sau 1 giờ 15 phút bay, ĐTC đã đi xe tiến qua các lối đi để chào thăm hàng trăm ngàn người tụ tập dọc theo hai bên đường và nhất tại khu vực trước Đền thánh. Tại cổng chào ngài được Đức GM địa phương, Joseph Rayyappu và chính quyền đón tiếp.

Buổi cầu nguyện tiếp đó được cử hành bằng 3 thứ tiếng: Anh, Singalais và Tamil. Vì nhà thờ nhỏ, nên lớn các tín hữu tham dự buổi cầu nguyện từ các khu vườn bên ngoài. Có một khu vực riêng dành cho các vị sư phật giáo đến tham dự buổi cầu nguyện.

Trong lời chào ĐTC, Đức GM sở tại đã gợi lại lịch sử đền thánh Đức Mẹ Madhi và cho biết Đền thánh này vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc khơi dậy và nuôi dưỡng ơn gọi linh mục và tu sĩ. Và mỗi năm vào dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời, hơn 600 ngàn tín hữu từ các nơi vẫn đề đây hành hương kính Đức Mẹ. Cũng vậy có đông đảo tín hữu đến kính viếng vào những dịp lễ khác và cuối tuần.

Tiếp đến mọi người đã nghe đọc bài Tin Mừng theo Thánh Mathêu về các mối phúc thật: Phúc cho những người sầu khổ vì họ sẽ được an ủi. Phúc cho những người xây dựng hòa bình vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những người bị bách hại vì lẽ công chính, vì nước trời là của họ (Mt 5,4.9-10).

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng tại buổi cầu nguyện, ĐTC ghi nhận sự kiện, tại Đền thánh này, mọi người Sri Lanka, dù là thuộc sắc tộc Tamil hay Singalais, đều cảm thấy như ở nhà mình, cảm thấy an ninh như một gia đình trong nhà của Mẹ. Nơi đây cũng có sự hiện diện của các gia đình từ nam chí bắc, những gia đình đã chịu nhiều đau khổ, gợi lại thời kỳ chiến tranh đẫm máu tại Sri Lanka.

Từ thời kỳ đầu của Kitô giáo ở đất nước này, các tín hữu đã cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ nh[o bé này và ngày nay vẫn con tiếp tục. Mẹ là mẹ của đông đảo các gia đình đang tìm kiếm một cuộc sống an bình. Mẹ Maria bảo vệ nhân dân Sri Lanka khỏi những nguy hiểm quá khứ và hiện tại. Mẹ luôn gần gũi Chúa Con chịu đóng đanh và gần các con cái Sri Lanka của mình.

ĐTC nói: ”Ngày hôm nay tại đây có những gia đình đã chịu đau khổ rất nhiều trong cuộc xung đột lâu dài, tạo ra vết thương lớn trong con tim Sri Lanka. Nhiều người, từ bắc chí nam, bị giết trong bạo lực kinh khủng và đẫm máu trong những năm ấy. Không người Sri Lanka nào có thể quên những biến cố bi thảm gắn liền với chính nơi này, hoặc ngày đau buồn khi tượng Đức Mẹ đáng kính, có từ thời các tín hữu Kitô đầu tiên đến Sri Lanka, bị đưa ra khỏi đền thánh Đức Mẹ.”

Dầu vậy, ĐTC mời gọi các tín hữu hãy cảm tạ Đức Mẹ vì Mẹ luôn mang Chúa Giêsu cho chúng ta và luôn ban cho chúng ta sức mạnh để tái lập an bình trong tâm hồn chúng ta. Sau bao nhiêu oán thù, bao nhiêu bạo lực và tàn phá, chúng ta hãy cảm tạ Mẹ, vì Mẹ tiếp tục mang Chúa Giêsu cho chúng ta, chỉ có Chúa mới có thể chữa lành những vết thương còn rộng mở và tái lập an bình cho những con tim bị tan vỡ.
ĐTC nhấn mạnh rằng: ”Chỉ khi nào, dưới ánh sáng của thập giá, chúng ta hiểu được sự ác mà chúng ta có khả năng thực hiện, và thậm chí còn tham gia vào đó nữa, thì chúng ta mới có thể cảm thấy hối hận và thống hối thực sự. Chỉ khi ấy chúng ta mới có thể lãnh nhận ơn đến gần nhau với tâm tình thống hối chân thành, trao ban và đón nhận tha thứ. Chúng ta hãy cầu xin ơn từ bi của Chúa, ơn đền bù các tội lỗi và bao nhiêu sự ác mà đất nước này đã từng trải qua.

Sau cùng, ĐTC mời gọi các tín hữu cầu xin Mẹ Maria tháp tùng tất cả mọi người, Tamil cũng như Singalais, trong công cuộc tái tạo hiệp nhất mà mọi người mong muốn. Ngài nhắc nhớ rằng trong tư cách là anh chị em với nhau, chúng ta luôn có thể đi về nhà Thiên Chúa trong một tinh thần đổi mới hòa giải và huynh đệ.

Buổi cầu nguyện kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành của ĐTC. Ngài cầm tượng Đức Mẹ Madhu và vẽ hình Thánh Giá trên các tín hữu. Ban quản đốc Đền thánh cũng tặng ĐTC pho tượng nhỏ bản sao tượng Đức Mẹ Madhu. Ngài cũng dâng tặng tượng Đức Mẹ xâu chuỗi quí giá và cúi đầu cung kính cầu nguyện.
Rồi ngài trở lại sân bay trực thăng gần đó để về thủ đô Colombo vào lúc 6 giờ chiều cùng ngày.

G. Trần Đức Anh OP Vatican Radio
 

Tường thuật ngày đầu tiên Đức Thánh Cha Phanxicô công du mục vụ Sri Lanka (1/3)

Tường thuật ngày đầu tiên Đức Thánh Cha Phanxicô công du mục vụ Sri Lanka (1/3)

** Chiều 12 tháng giêng Đức Thánh Cha Phanxicô đã lên đường công du Sri Lanka trong ba ngày, rồi sau đó viếng thăm Philippines cho tới 19 tháng giêng. Đây là chuyến công du thứ 7 ngoài Itallia. Chiếc Airbus 330 của hãng hàng không Alitalia chở Đức Thánh Cha và đoàn tùy tùng đã cất cánh rời phi trường quốc tế Fiumicino ỏ Roma lúc 18 giờ 50. Máy bay chở ĐTC đã bay qua không phận của các nước Italia, Albania, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, các Vương quốc A rập thống nhất. Oman và Ân Độ.

ĐTC đã gửi điện tín cho quốc trưởng và nhân dân các quốc gia này. Ngài gửi lời chào thăm và cầu chúc thịnh vượng, hiệp nhất, và thiện ích tinh thần cho dân nước Italia. Ngài còn nhớ các kỷ niệm đẹp trong các chuyến viếng thăm Albania, Thổ Nhĩ Kỳ và bảo đảm với các vị lãnh đạo và quốc dân hai nưóc lời cầu nguyện của ngài. ĐTC nhớ tổng thống và dân nước Hy Lạp trong lời cầu nguyện và khẩn cầu phước lành bình an và tươi vui của Thiên Chúa trên Hy Lạp. Ngài cầu xin phước lành binh an và thịnh vượng của Thiên Chúa cho tổng thống và dân nước Iran, cho quốc vương và các dân tộc của Vương quốc A rập thống nhất, cho quốc vương Oman và thần dân, cũng như cho tổng thống và nhân dân Ấn.

Trên chuyến bay ĐTC đã ra phía sau chào và bắt tay 76 nhà báo và phóng viên quốc tế tháp tùng chuyến viếng thăm của ngài. Đây là điều hoàn toàn mới mẻ đối với các nhà báo.

Sri Lanka là một quần đảo rộng 65.610 cây số vuông, gồm Ceylon là đảo lớn nhất và vài đảo nhỏ khác như Mannar, Velanai và Neduntivu… Srai Lanka có khoảng 21,2 triệu dân, 75% là người Singale, 15% người Tamil và 9% người Mori.

Colombo đã là thủ đô của Sri Lanka cho tới năm 1978, khi chính quyền di chuyền các bộ về Sri Jayawardenapura Kotte, cách đó 8 cây số. Tên Colombo do người Bồ Đào Nha du nhập năm 1505, có lẽ phát xuất từ tiếng Singale cổ điển “Kolon thota” có nghĩa là “cảng trên sông Kelani”. Cũng có người cho rằng nó bắt nguồn từ kiểu nói Singale “kola-amba-thota” có nghĩa là “cảng với các cây xoài rậm lá”. Colombo đã được các thương gia Roma, Tầu, và A rập biết tới từ hơn 2.000 năm trước. Vào thế kỷ thứ VIII nó bị người A rập chiếm đóng để kiểm soát giao thông giữa các vương quốc Singale và phần còn lại của thế giới. Vào thế kỷ XVI người Bồ Đào Nha đánh đuổi người A rập và xây một pháo đài để bảo vệ việc buôn bán gia vị. Năm 1656 người Hoà Lan đánh chiếm thành phố và biến Colombo trở thành thủ đô các tỉnh duyên hải của Công ty Hoà Lan Đông Ấn Độ cho tới năm 1796. Tiếp theo đó người Anh chiếm Colombo và biến nó trở thành thủ đô của đảo Ceylon thuộc địa của họ. Năm 1948 Sri Lanka được độc lập. Vì địa thế hải cảng của mình Colombo là nơi xuất cảng nhiều sản phẩm quốc gia như trà, cao su, dầu dừa, copra và nhất là đá qúy. Thành phố cũng có các kỹ nghệ chế biến thuốc lá, dầu, các nhà máy tơ sợi và da thuộc.

** Giáo phận Colombo có từ năm 1834 và năm 1886 trở thành Tổng giáo phận. Tổng giáo phận hiện có gần 7,3 triệu dân, trong đó có hơn 667 ngàn theo công giáo, tức chiếm 9,23%, với 127 giáo xứ, 298 linh mục giáo phận, 279 linh mục dòng, 380 tu huynh, 1.400 nữ tu và 284 đại chủng sinh. Tổng giáo phận có 196 cơ sở giáo dục và 560 cơ sở bác ái.

Sau 9 giờ 40 phút bay và vượt chặng đường dài 7.630 cây số máy bay đã đáp xuống phi trường quốc tế Colombo của Sri Lanka lúc 10 giờ sáng giờ địa phương, trễ một giờ so với chương trình dự định.

Tiếp đón ĐTC tại phi trường có ĐTGM Phêrô Nguyễn Văn Tốt, Sứ Thần Tòa Thánh tại Sri Lanka, ông Aryasinha Ravinatha Đại sứ ngoại thường toàn quyền của Cộng hòa dân chủ xã hội Sri Lanka cạnh Toà Thánh, ĐHY Malcolm Ranjith Patabendige Don, TGM Colombo, kiêm Chủ tịch HĐGM Sri Lanka, các Giám Mục, Tổng thống tân cử Maithripala Sirisena, một số các vị lãnh đạo, một số tín hữu, một ca đoàn và 2.000 trẻ em. Tổng thống đã đón ĐTC tại chân thang máy bay. Hai em bé một trai một gái tiến đến quàng vòng hoa mầu trắng và mầu vàng cho ĐTC.

Ban quân nhạc đã cử quốc thiều Vaticăng và quốc thiều Sri Lanka. ĐTC và tổng thống đã duyệt qua hàng chào danh dự trong khi đại bác bắn 21 phát chào mừng vị quốc khách.

Trong diễn văn chào mừng ĐTC tân tổng thống Maithripala Sirisena bầy tỏ niềm hân hoan vui sướng của dân nước Sri Lanka được ĐTC viếng thăm. Niềm hạnh phúc và hãnh diện này đặc biệt lớn đối với ông là người mới được bầu làm tổng thống cách đây mấy ngày và bắt đầu nhiệm vụ với chuyến viếng thăm này của ĐTC. Ông xin ngài chúc lành cho dân nước Sri Lanka.

Đáp từ tổng thống ĐTC bầy tỏ vui mừng được viếng thăm Sri Lanka, được gọi là ngọc trai của Ấn Độ dương vì vẻ đẹp thiên nhiên, sự nồng hậu của người dân và sự khác biệt phong phú của các truyền thống văn hóa và tôn giáo của nó.

ĐTC cầu chúc Tổng thống những điều tốt đẹp nhất cho các trách nhiệm mới, và ngài đặc biệt cám ơn sự hiện diện của các vị lãnh đạo dân sự và tôn giáo cũng như ca đoàn và tất cả những ai khiến cho cuộc viếng thăm này có thể xảy ra. Nhấn mạnh đến mục đích chuyến viếng thăm ĐTC nói:

** Chuyến viếng thăm Sri Lanka của tôi trước hết có tính cách mục vụ. Như là Chủ chăn hoàn vũ của Giáo Hội Công Giáo tôi phải gặp gỡ, củng cố và cầu nguyện với dân công giáo của quốc đảo này. Tột đỉnh của chuyến viếng thăm là việc phong hiển thánh cho chân phước Joseph Vaz, mà gương bác ái kitô và sự kính trọng đối với mọi người không phân biệt chủng tộc và tôn giáo, tiếp tục gợi hứng và dậy dỗ chúng ta ngày nay. Nhưng chuyến viếng thăm của tôi cũng muốn diễn tả tình yêu thương và sư lo lắng của Giáo Hội đối với mọi người dân Sri Lanka, và khẳng định ước mong của Giáo Hội tích cực tham gia vào đời sống của xã hội này.

Tiếp tục bài diễn văn ĐTC nhắc tới thảm cảnh nội chiến của Sri Lanka. Ngài nói thật là một thảm cảnh trong thế giới ngày nay, khi có nhiều cộng đoàn gây chiến với nhau như vậy. Việc không có khả năng hòa giải các khác biệt và bất đồng ý, cũ và mới, đã dấy lên các căng thẳng chủng tộc và tôn giáo, thường đi đôi với bạo lực bùng nổ. Trong nhiều năm trời Sri Lanka đã biết đến các kinh hoàng của cuộc nội chiến, giờ đây đang tìm củng cố hòa bình và chữa lành các vết thương của các năm đó. Thật không dễ thắng vượt được gia tài cay đắng của các bất công, thù nghịch và mất tin tưởng do xung khắc để lại. Chỉ có thể làm được bằng cách thắng sự dữ với sự thiện (x. Rm 12,21) và bằng cách vun trồng các nhân đức khuyến khích hòa giải, liên đới và hòa bình. Tiến trình chữa lành cũng cần bao gồm việc theo đuổi sự thật, không phải để mở ra các vết thương cũ, nhưng như là các phương tiện cần thiết nhằm thăng tiến công lý, việc chữa lành và sư hiệp nhất.

Các bạn thân mến, tôi xác tín rằng tín hữu của các truyền thống tôn giáo khác nhau có một vai trò nòng cốt trong tiến trình hòa giải và tái thiết hiên nay của đất nước. Và ĐTC nhấn mạnh như sau:

Để cho tiến trình đó được thành công mọi thành phần xã hội phải làm việc chung với nhau; mỗi người phải có tiếng nói. Tất cả phải được tự do diễn tả những gì liên quan tới các nhu cầu, các khát vọng và sợ hãi của mình. Điều quan trọng nhất là họ phải được chuẩn bị để chấp nhận nhau, tôn trọng các khác biệt hợp pháp, và học sống như một gia đình. Khi người dân biết lắng nghe nhau một cách khiêm tốn và cởi mở, thì việc chia sẻ các giá trị và các khát vọng trở thành rõ ràng hơn. Khác biệt không còn là sự đe dọa nữa, nhưng là suối nguồn của sự giầu có. Con đường dẫn tới công bằng, hòa giải và hòa hợp xã hội trở thành rõ ràng hơn. Trong nghĩa đó, công việc to lớn của sự hòa giải cũng đụng chạm tới các cơ cấu hạ tầng xã hội, và đáp ứng các nhu cầu vật chất và quan trọng hơn nữa là thăng tiến nhân phẩm, tôn trọng các quyền con người và việc tháp nhập tràn đầy mỗi thành phần xã hội. Tôi hy vọng các vị lãnh đạo chính trị tôn giáo và văn hóa Sri Lanka đo lường mọi lời nói và hành động bởi thiện ích và việc chữa lành mà chúng mang lại, góp phần lâu dài cho sự tiến bộ vật chất và tinh thần của nhân dân Sri Lanka.

Kính thưa tổng thống và các bạn, một lần nữa tôi xin cám ơn sự tiếp đón của qúy vị. Xin cho những ngày chúng ta sống với nhau là những ngày của tình bằng hữu, đối thoại và liên đới. Tôi khẩn cầu phép lành tràn đầy của Thiên Chúa trên Sri Lanka, viên ngọc trai của Ấn Độ dương, và tôi cầu xin cho vẻ đẹp của nó chiếu sang trong sự thịnh vượng và hòa bình cho dân tộc nó.

 

** Sau lễ nghi chào đón, ĐTC đã đi xe díp bọc kính về Tòa Sứ Thần nằm cách đó 28 cây số. Dọc hai bên đường có ít nhất 300.000 người đứng chào đón ĐTC trong bầu khí lễ hội, trong đó cũng có rất nhiều nhà sư Phật giáo và một đoàn 40 con voi trang hoàng rực rỡ như trong ngày lễ hội quốc gia.

Vể tới Tòa Sứ Thần ĐTC đã nghỉ ngơi chốc lát trước khi cử hành thánh lễ riêng. Vì chương trình bị trễ nhiều và trời Sri Lanka nóng tới 31 độ ĐTC đã không đến Tòa Tổng Giám Mục cách đó 4 cây số để gặp gỡ các Giám Mục Sri Lanka. Nhưng ĐHY Pietro Parolin Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã thay mặt ngài đến chào các Giám Mục cùng với các Hồng Y và Tổng Giám Mục thuộc đoàn tùy tùng. Các vị đã được một nhóm 180 đại chủng sinh và một nhóm vũ công tiếp đón và tặng vòng hoa trong vườn tòa Tổng Giám Mục.

** Vào ban chiều lúc 17 giờ ĐTC đã đến thăm xã giao tổng thống Sri Lanka. Tổng thống Maithripala Sirisena vừa thắng cử hôm mùng 8 tháng giêng vừa qua với 51,2% tổng số phiếu, trong khi tổng thống Rajapaksa chỉ đuợc 47,5%. Ông đã chấp nhận ý dân và dọn ra khỏi dinh tổng thống. Tổng thống tân cử đã làm lễ tuyên thệ ngay.

Ông Sirisena sinh năm 1951, bắt đầu tham gia chính trị năm 1989, trở thành dân biểu của đảng Sri Lanka tự do, và từ năm 1994 giữ nhiều chức vụ bộ trưởng. Cho tới tháng 11 năm 2014 vừa qua ông đã là Bộ trưởng Y tế Sri Lanka.

Tổng thống tân cử Sirisena đã đón ĐTC tại cửa chính. Sau khi ngài ký tên vào sổ vàng hai vị lên lầu một để hội kiến riêng. ĐTC viết:
“Tôi khẩn nài ơn can đảm, khôn ngoan và phân định trên những ai phục vụ nhân dân Sri Lanka yêu quý”.

ĐTC đã tặng tổng thống một bản sao Bản đồ hàng hải do ông Bartolomé Oliva vẽ năm 1562, gọi là bản Urbinate latino 283 của Thư Viện Vaticăng. Thủ bản này có các trang kích thước 33 trên 23 mm gồm 14 bản đồ hàng hải mầu vẽ trên các mảnh da thuộc có phẩm chất rất tốt. Tác giả là ông Bartolomé Oliva thuộc một gia đình chuyên nghề vẽ các bản đồ, hoạt động giữa các năm 1538-1588, nhất là trong tỉnh Messina. Bản đồ này được vẽ năm 1562 và cho thấy thế giới như được người Âu châu biết tới hồi thế kỷ XVI. Bộ sưu tập này đuợc Thư Viện Vaticăng mua năm 1657 với các thủ bản khác của thư viện Urbinate.

Lúc 18 giờ ĐTC từ biệt tổng thống để đến Trung Tâm Hội nghị quốc tế BMICH gặp gỡ giới lãnh đạo các tôn giáo toàn nước Sri Lanka. Trung tâm BMICH đã được xây cất giữa các năm 1970-1973 như qùa Trung Quốc tặng dân nước Sri Lanka. Ngoài đại thính đường, khu vực triển lãm, còn có một ngân hàng, một khách sạn, một thư viện và một học viện nghiên cứu. Năm 2013 hội nghị các nước trong Khối Thịnh Vượng Chung đã nhóm họp tại đây. Và năm 2014 tới phiên Đại hội giới trẻ quốc tế.

Tại Sri Lanka Phật giáo chiếm 70% dân số, Ấn giáo chiếm 12,6%, Hồi giáo chiếm 9,7% và Công giáo chiếm 7,16%.

Cho tới thế kỷ thứ III trước công nguyên, đa số dân theo Ấn giáo. Các tín hữu Ấn giáo hiện sống tại miền bắc và miền đông Sri Lanka đa số là người Tamil. Phật giáo nguyên thủy Theravada đã được truyền bá năm 246 trước công nguyên và vào năm 200 được tuyên bố là quốc giáo. Từ giữa thế kỷ XIX Phật giáo tái sinh nhờ các phong trào ái quốc. Hồi giáo được phổ biến cho tới thế kỷ XV nhờ các thương gia A rập kiểm soát các lộ giao thương trong vùng biển nam Ấn, cho tới khi các thừa sai Phanxicô và Bồ Đào Nha tới truyền bá Tin Mừng. Truyền thống kể rằng thánh Toma Tông Đồ đã tới Sri Lanka vào thế kỷ thứ I, sau khi đi ngang qua vùng Kerala và nam Ấn. Các tài liệu kitô đầu tiên có từ năm 1322, khi tu sĩ Phanxicô Odorico da Pordenone ghé Sri Lanka vào năm đó, rồi từ năm 1517 khi các tu sĩ Phanxicô tới truyền giáo tại đây.

** Trong đại thính đường của Trung tâm có các vị lãnh đạo của các tôn giáo và một ngàn tín hữu đại diện các công đoàn Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo và Kitô giáo tham dự. ĐTC đã được tiếp đón với các bản nhạc truyền thống do dàn hoà nhạc Hevisi trình tấu. Ngài đã ký tên vào sổ vàng. ĐTC viết “Với lòng biết ơn đối với cơ may gặp gỡ các vị đại diện các tôn giáo khác nhau hiện diện trên vùng đất này, tôi cầu xin Thiên Chúa Toàn Năng linh hứng cho sự cộng tác hài hòa cho thiện ích của nhân dân Sri Lanka.”

Tiếp đến Đức Cha Cletus Perera, đặc trách Ủy ban liên tôn của HĐGM Sri Lanka giới thiệu các vị lãnh đạo và phái đoàn của các tôn giáo. Tiếp theo là bài thánh ca Pirith của Phật giáo, rồi lời chúc lành Ấn giáo, Hồi giáo, lời cầu đại kết, và diễn văn chào mừng của Hòa Thượng Vigithasiri Niyangoda Thero, thủ lãnh Phật Giáo Sri Lanka.

Ngỏ lời với mọi người ĐTC nói:

Các bạn thân mến, Tôi biết ơn vì dịp may được tham dự cuộc họp này quy tụ giữa các tôn giáo, bốn cộng đoàn tôn giáo lớn tạo thành cuộc sống của Sri Lanka là: Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo và Kitô giáo. Tôi xin cám ơn sự hiện diện và tiếp đón nồng hậu của qúy vị. Tôi cũng xin cám ơn tất cả những ai đã dâng lời cầu nguyện và chúc lành, và một cách đặc biệt tôi bầy tỏ lòng biết ơn ĐC Cletus Chandrasiri Perera và Hòa thượng Vigithasiri Niyangoda Thero vì những lời chào nhãn nhặn của các vị.

Tiếp đến ĐTC nói ngài đến thăm Sri Lanka theo gót các vị tiền nhiệm Phaolô VI và Gioan Phaolô II để chứng minh cho tình yêu thương lớn lao và sự lo lắng của Giáo Hội công giáo đối với dân nước Sri Lanka. Và thật là một ơn có thể thăm viếng cộng đoàn công giáo địa phương, cũng cố nó trong niềm tin nơi Chúa Kitô, cầu nguyện và chia sẻ các niềm vui và các khổ đau của nó. Đồng thời cũng là một ơn được gặp gỡ tất cả anh chị em là những người của các truyền thống tôn giáo lớn cũng chia sẻ với chúng tôi một ước muốn của sự khôn ngoan, của chân lý và sự thánh thiện. ĐTC đã trích tài liệu của Công Đồng Chung Vaticăng II khẳng định rằng Giáo Hội công giáo tôn trọng sâu xa tất cả mọi tôn giáo, vì không phủ nhận những gì là chân thật và thánh thiện nơi các tôn giáo đó ( Nostra Aetate 2). Và ngài tái khẳng định sự tôn trọng chân thành của Giáo Hội công giáo đối với các truyền thống và niềm tin của các tôn giáo khác. ĐTC nói: chính trong tinh thần tôn trọng đó Giáo Hội công giáo muốn cộng tác với qúy vị và với tất cả những người thiện chí trong việc tìm kiếm sự thịnh vượng cho mọi người dân Sri Lanka. Tôi hy vọng chuyến viếng thăm của tôi sẽ giúp khích lệ và đào sâu các hình thức cộng tác liên tôn và đại kết, đã được làm trong các năm mới đây. Các sáng kiến này đã cống hiến cơ may đối thoại nòng cốt, nếu chúng ta muốn hiểu biết, thông cảm nhau và tôn trọng nhau. Nhưng kinh nghiệm dậy cho thấy rằng để cho cuộc đối thoại được hữu hiệu nó cần phải được xây dựng trên việc trình bầy trọn vẹn và ngay thẳng các xác tín của chúng ta. Chắc chắn cuộc đối thoại như thế sẽ làm nổi bật lên các khác biệt trong các niềm tin, truyền thống và thực hành của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta liêm chính trong việc trình bầy các xác tín của mình, chúng ta sẽ có thể trông thấy rõ ràng hơn những gì chúng ta có chung vói nhau. Các con đường mới sẽ mở ra cho sự qúy trọng, cộng tác với nhau và cả tình bằng hữu nữa.

** ĐTC nói tiếp trong bài diễn văn: Các phát triển tích cực trong quan hệ liên tôn và đại kết có một ý nghĩa đặc biệt và cấp bách tại Sri Lanka. Vì trong qúa nhiều năm người dân nước này đã là nạn nhân của nội chiến và bạo lực. Điều cần thiết hiện nay là việc chữa lành và sự hiệp nhất chứ không phải là các xung đột hay các chia rẽ mới. Chắc chắn việc thăng tiến chữa lành và hiệp nhất là một dấn thân cao quý, bổn phận của tất cả những ai quan tâm đến thiện ích của Quốc gia và toàn gia đình nhân loại. Tôi hy vọng rằng sư cộng tác liên tôn và đại kết sẽ chứng minh rằng để sống trong hòa hợp với các anh chị em mình người ta không được quên căn tính chủng tộc hay tôn giáo của mình.

Có biết bao nhiêu kiểu để tín đồ các tôn giáo khác nhau thực hiện việc phục vụ này! Có biết bao nhiêu nhu cầu cần đáp ứng với dầu thoa dịu của tình liên đới! Tôi đặc biệt nghĩ tới các nhu cầu vật chất và tinh thần của người nghèo, người bần cùng, của những ai âu lo chờ đợi một lời an ủi và trao ban hy vọng. Ở đây tôi nghĩ tới nhiều gia đình tiếp tục khóc than các người thân đã chết.

Nhất là trong lúc này của lịch sử quốc gia anh chị em, có biết bao nhiêu người thiện chí kiếm tìm tái thiết các nền tảng luân lý của toàn xã hội! Ước chi tinh thần cộng tác gia tăng giữa các vị lãnh đạo của các cộng đoàn tôn giáo khác nhau tìm ra sự diễn tả trong một dấn thân đặt để sự hòa giải giữa mọi ngươi dân Sri Lanka vào trong mọi cố gắng canh tân xã hội và các cơ cấu của nó. Vì thiện ích của hòa bình không thể cho phép các niềm tin tôn giáo bị lạm dụng cho lý do của bạo lực hay chiến tranh. Chúng ta phải rõ rang và không mập mờ trong việc mời gọi các cộng đoàn của chúng ta sống trọn vẹn các điều luật của hòa bình và tố cáo các hành động bạo lực khi chúng bị vi phạm.

Các bạn thân mến, tôi xin cám ơn sự tiếp đón nồng hậu và sự chú ý của các bạn. Ước chi cuộc gặp gỡ huynh đệ này củng cố chúng ta tất cả trong nỗ lực sống trong hòa hợp và phổ biến các phúc lành của hòa bình.

** ĐHY Ranjith đã cùng ĐC Perera dẫn ĐTC tới chào và bắt tay hai vị đại lão Hòa Thượng.
Sau khi chào tạm biệt mọi người lúc sau 19 giờ ĐTC đã lên xe trở về Tòa Sứ Thần cách đó 2 cây số để dùng bữa tối kết thúc ngày thứ nhất viếng thăm Sri Lanka.

Báo chí Sri Lanka dã hết lời ca ngợi ĐTC Phanxicô như là “vị lãnh đạo và là người hầu hạ” cúi xuống rửa chân cho người nghèo. Ngoài các bài tường thuật, thông tin tức và giải thích cho người dân Sri Lanka biết ĐTC là ai, nhiệm vụ của ngài là gì, ảnh hưởng của ngài ra sao, các báo còn in rất nhiều bích chương với hình của ĐTC và các lời chú thích.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp kiến ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh

Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp kiến ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh sáng ngày 12-1-2015, ĐTC Phanxicô đã trình bày lập trường của Tòa Thánh về các vấn đề thời sự quốc tế.

Buổi tiếp kiến diễn ra từ lúc 10 giờ rưỡi, trước sự hiện diện của các đại diện 180 quốc gia và tổ chức quốc tế có quan hệ trên cấp đại sứ, cùng với đại diện của chính quyền Palestine, đến chúc mừng ngài nhân dịp đầu năm mới.

Sau lời chào mở đầu của vị Niên trưởng ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, là Đại Sứ Jean-Claude Michel của Tiểu vương quốc Monaco, ĐTC đã lên tiếng chào thăm tất cả các vị đại sứ và cám ơn vị niên trưởng ngoại giao đoàn và lần lượt đề cập đến những vấn đề và những vùng nóng bỏng trên thế giới cũng như khích lệ những sáng kiến hòa bình và phát triển.

Diễn văn ca ĐTC

Ngài nói: ”Hôm nay tôi muốn mạnh mẽ tái gióng lên một từ rất quí giá đối với chúng ta, đó là hòa bình! Từ này đến với chúng ta từ tiếng nói của các thiên thần, loan báo trong đêm Giáng Sinh (Xc Lc 2,14), như hồng ân quí giá của Thiên Chúa và đồng thời tỏ cho chúng ta thấy đó là trách nhiệm bản thân và xã hội mà chúng ta cần phải ân cần và mau mắn thực hiện. Nhưng bên cạnh hòa bình, hang đá máng cỏ cũng kể lại cho chúng ta một thực tại bi thảm: đó là sự phủ nhận. Trong một số hình ảnh về giáng sinh, ở Tây phương cũng như Đông phương, tôi nghĩ đến bức ảnh rạng ngời vẽ trên gỗ của Andrej Rublev – Chúa Hài Đồng không nằm thoải mái trong nôi, nhưng được đặt trong một cái mộ. Hình ảnh ấy muốn liên kết hai lễ chính của Kitô giáo – Giáng Sinh và Phục Sinh, cho thấy bên cạnh sự đón tiếp vui mừng biến cố Chúa giáng sinh, có cả một thảm kịch trong đó Chúa Giêsu bị khinh rẻ và loại bỏ cho đến độ phải chết trên thập giá”.

Nguyên nhân nền văn hóa loại bỏ
ĐTC nhận định rằng các trình thuật về sự giáng sinh của Chúa Giêsu cũng nói về ”con tim chai cứng của nhân loại” khiến họ không đón nhận Chúa Hài Đồng. Ngài cảnh giảc rằng ”Ngày nay cũng có một thái độ phủ nhận nơi chúng ta, làm cho ta không nhìn tha nhân như người anh em cần đón nhận, nhưng để họ ở bên ngoài chân trời cuộc sống chúng ta, biến họ thành một người cạnh tranh, một nhân vật thấp kém cần thống trị. Đó là một não trạng tạo nên nền văn hóa gạt bỏ không tha điều gì và cũng chẳng nể nang ai: từ các thụ tạo, cho tới con người và thậm chí cả Thiên Chúa nữa. Từ đó nảy sinh một nhân loại bị thương tổn và tiếp tục bị xâu xé vì những căng thẳng và xung đột đủ loại”.

ĐTC nhận xét rằng chúng ta có một âm hưởng đau buồn về sự kiện đó trong rất nhiều tin tức thời sự hằng ngày, mới đây nhất là cuộc thảm sát xảy ra ở Paris. Ngài đặc biệt nói đến một nhân vật tàn ác là vua Hêrôđê, khi thấy mình bị Hài Nhi Giêsu đe dọa, liền ra lệnh giết tất cả các trẻ em ở Bethlehem. Từ đó, ĐTC cảm động nhắc đến vụ thảm sát tàn bạo chưa từng có: hơn 100 trẻ em bị tàn sát cách đây hơn 1 tháng tại Pakistan.

Những hình thức nô lệ tân thời
Trong bài diễn văn trước ngoại giao đoàn, ĐTC cũng đề cập đến những thứ nô lệ tân thời, như đã nói tới trong sứ điệp nhân ngày Hòa Bình thế giới 1-1 vừa qua, và ngài tái khẳng định rằng ngày nay, chúng ta thấy con người tự do trở thành nô lệ, khi thì nô lệ thời trang, khi thì nô lệ quyền lực, tiền tài, thậm chí nô lệ những hình thức sai trái về tôn giáo. Hiển nhiên đó là những thứ nô lệ tân thời, nảy sinh từ một con tim hư hỏng, không có khả năng nhìn thấy và làm điều thiện, không theo đuổi hòa bình. ĐTC cảnh giác trước những hậu quả của não trạng ấy và thứ văn hóa nô lệ hóa, đó là sự tiếp tục lan tràn các cuộc xung đột như một thứ thế chiến thực sự, đang diễn ra từng mảnh”.

Xung đột tại Ucraina
Cuộc chiến tranh đầu tiên được ĐTC nhắc đến là tại Ucraina và ngài nhận xét rằng đất nước này đã trở thành một diễn trường thê thảm cho các cuộc xung đột. Ngài cầu mong rằng nhờ đối thoại, người ta củng cố các nỗ lực đang tiến hành để chấm dứt các hành vi thù nghịch, và các phe liên hệ bắt đầu con đường chân thành, tín nhiệm nhau trong tinh thần tôn trọng công pháp quốc tế.

Trung Đông, Irak và Siria
Một phần quan trọng trong diễn văn của ĐTC được dành cho Trung Đông, quê hương của Chúa Giêsu mà ”chúng ta không bao giờ mệt mỏi trong việc khẩn cầu hòa bình cho miền này”. Ngài nhắc lại cuộc gặp gỡ cầu nguyện cho hòa bình tại Vatican hồi tháng 6 năm ngoái với sự tham dự của Tổng thống Israel bấy giờ là ông Shimon Peres và thổng thống Palestine Abbas và ngài tái kêu gọi chấm dứt bạo lực, đạt tới một giải pháp giúp người Palestine và Israel rốt cục được sống trong hòa bình, để cụ thể hóa giải pháp 2 quốc gia.

Tiếp đến, ĐTC Phanxicô nói đến Irak và Siria nơi vẫn còn những cuộc xung đột kéo dài, với những hậu quả thê thảm kể cả về khía cạnh làm cho nạn khủng bố cực đoan lan tràn.

Chủ nghĩa khủng bố phủ nhận con người và Thiên Chúa
Ngài trình này một suy tư về hiện tượng khủng bố bi thảm và khẳng định rằng đó là ”hậu quả của một nền văn hóa loại bỏ được áp dụng cho Thiên Chúa. Thực vậy, trào lưu tôn giáo cực đoan, trước khi nó là một sự loại bỏ con người qua những cuộc thảm sát kinh khủng, thì nó là sự phủ nhận chính Thiên Chúa, coi Chúa chỉ là một cái cớ ý thức hệ. Đứng trước sự gây hấn bất công chống lại cả các tín hữu Kitô và các nhóm chủng tộc và tôn giáo khác trong vùng, cần có một câu trả lời nhất chí, trong khuôn khổ công pháp quốc tế, ngăn chặn sự lan tràn bạo lực, tái lập sự hòa hợp và chữa lành những vết thương sâu đậm mà các cuộc xung đột nối tiếp nhau đã tạo ra.

ĐTC tái kêu gọi cộng đồng quốc tế cũng như mỗi chính phủ hãy có những sáng kiến cụ thể để kiến tạo hòa bình và bênh vực những người đau khổ vì chiến tranh và bách hại. Ngài nhắc lại lá thư đã gửi hồi trước giáng sinh cho các Cộng đồng Kitô ở Trung Đông và nhấn mạnh rằng: ”Một Trung Đông không còn Kitô hữu thì sẽ là một Trung Đông bị biến dạng và què quặt”. Ngoài ra, một lần nữa ngài cầu mong ”các vị lãnh đạo tôn giáo, chính trị, trí thức, đặc biệt là Hồi giáo, lên án bất kỳ sự giải thích tôn giáo một cách cực đoan và duy căn, nhắm biện minh cho những hành vi bạo lực như thế”, và ĐTC cũng lấy làm tiếc vì những hình thức tàn bạo như thế cũng không thiếu ở các nơi khác trên thế giới.

Xung đột tại các nước Phi châu
ĐTC đề cập đến các cuộc xung đột ở Phi châu, và nhận xét rằng nhiều nước Phi châu cũng bị đảo lộn vì chiến tranh, bắt đầu từ Nigeria, nơi vẫn chưa chấm dứt những bạo lực chống lại các thường dân một cách bừa bãi, trong khi hiện tượng bi thảm bắt cóc người tiếp tục gia tăng tại nước này. Ngài tố giác hiện tượng đáng kinh tởm là nạn buôn các trẻ nữ bị bắt cóc để cưỡng bách kết hôn.

ĐTC cũng nghĩ đến nước Libia đang bị sâu xé vị cuộc nội chiến dài dẵng, gây ra những đau khổ khôn tả cho dân chúng và có những hậu quả trầm trọng đối với sự quân bình mong manh trong vùng này. Ngài nghĩ đến Cộng hòa Trung Phi nơi mà người ta phải đau lòng nhận thấy thiện chí của những người đang cố gắng xây dựng hòa bình đang gặp phải sự kháng cự của những hình thức chống đối và những lợi lộc phe phái ích kỷ.
ĐTC bày tỏ lo âu về tình trạng ở Sudan, vùng Sừng ở Phi châu, Cộng hòa dân Chủ Congo nơi mà hàng ngàn người phải đi tị nạn bạo lực. Ngài không quên kêu gọi các vị hữu trách dấn thân hơn để bênh vực hòa giải, hòa bình và phẩm giá con người.

Tội ác hãm hiếp
ĐTC đặc biệt tố giác sự kiện chiến tranh cũng mang theo một tội ác đáng kinh tởm là sự hãm hiếp. Đây là một sự vi phạm rất trầm trọng chống lại phẩm giá của phụ nữ, không những họ bị vi phạm trong thân thể, nhưng cả trong tâm hồn, với chấn thương khó có thể xóa bỏ được. Rất tiếc là nơi nào có chiến tranh thì người ta cũng thấy có quá nhiều phụ nữ phải chịu đau khổ vì bạo hành, do tội ác này.

Bệnh dịch Ebola
Đề cập tới bệnh dịch Ebola, ĐTC nhận xét rằng trong nền văn hóa loại bỏ cũng có một cách người ta đối xử với các bệnh nhân, bị cô lập và gạt ra ngoài lề như những người cùi mà Phúc Âm nói tới. ĐTC định nghĩa các nạn nhân Ebola như những người cùi trong thời đại chúng ta ngày nay, nhất là tại Liberia, Sierra Leone và Guinea, với hơn 6 ngàn người chết. Ngài tái cám ơn các nhân viên y tế, các tu sĩ và những người thiện nguyện chăm sóc các bệnh nhân Ebola đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế đảm bảo một sự trợ giúp nhân đạo thích hợp cho các bệnh nhân và thăng tiến một sự dấn thân chung để loại trừ bệnh dịch.

Những người tị nạn và di dân
Sang đến những người tị nạn và di dân, ĐTC nói: ”trong số những hậu quả của các cuộc xung đột, thường có sự trốn chạy của hàng ngàn người rời bỏ nguyên quán của họ… bao nhiêu người đã bỏ mạng trong những hành trình không xứng đáng với con người, phải chịu đủ thứ hành hạ của những lý hình tham lan tiền bạc. Địa Trung Hải không thể trở thành một đại nghĩa trang”.

ĐTC tố giác sự kiện nhiều người di dân, nhất là tại Mỹ châu, là các trẻ em đi một mình, dễ trở thành mồi cho những nguy hiểm. Các em đang cần được quan tâm, săn sóc và bảo vệ nhiều hơn.

Ngài nhấn mạnh thảm trạng bị từ chối mà bao nhiêu người di dân phải chịu. Họ thường đến những miền đất lạ, không có giấy tờ, cũng chẳng biết ngôn ngữ tại nước ấy. Người di dân thật khó được chấp nhận và khó tìm được công ăn việc làm. ĐTC kêu gọi thay đổi thái độ đối với họ, để đi từ thái độ dửng dưng và sợ hãi sang thái độ chân thành đón nhận tha nhân. Ngài không quên kêu gọi thiết lập những luật lệ thích hợp và sự dấn thân của quốc tế để cứu giúp những người tị nạn và di dân. Ngoài ra, cần chữa trị tận căn hiện tượng này chứ không phải chỉ chữa trị hậu quả mà thôi.

Công ăn vic làm và gia đình
ĐTC đề cập đến vấn đề công ăn việc làm và gia đình. Ngài nói: ”những người lưu vong thầm kín” đang sống trong gia cư của chúng ta: những người già, người tàn tật và người trẻ không tìm được công ăn việc làm. Những người già bị gạt bỏ khi họ bị coi như gánh nặng và sự hiện diện của họ bị coi như một sự phiền phức, trong khi người trẻ bị gạt bỏ khi người ta không giúp họ có công ăn việc làm. ĐTC nói: không có sự nghèo đói nào tệ hơn là thứ nghèo đói không có việc làm và phẩm giá của lao công, hoặc biến lao công thành một hình thức nô lệ. Sự thất nghiệp của người trẻ, cũng như sự bóc lột sức lao động của trẻ vị thành niên là điều trái ngược với phẩm giá con người và xuất phát từ một não trang đặt tiền bạc ở trung tâm và gây hại cho chính con người.

ĐTC Phanxicô tố giác sự kiện nhiều khi gia đình trở thành đối tượng cho sự gạt bỏ vì thứ văn hóa cá nhân chủ nghĩa ngày càng lan tràn, tạo ra sự giảm bớt số sinh, và những luật lệ dành ưu tiên cho những hình thức sống chung khác, thay vì nâng đỡ gia đình một cách thích hợp để mưu cộng tác cho toàn thể xã hội.

Kêu gọi Italia thắng cám dỗ đng đ
ĐTC không quên nhắc đến quốc gia Italia yêu quí, đang phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế như bao nước khác, cuộc khủng hoảng này sinh ra sự thiếu tín nhiệm và tạo điều kiện cho những xung đột xã hội. Những hậu quả của tình trạng đó người ta thấy ở Roma và Italia khi gặp bao nhiêu người sống trong tình trạng cơ cực. ĐTC nhấn mạnh rằng Italia cần phải vượt thắng bầu không khí bất an kéo dài về mặt xã hội, chính trị và kinh tế. Nhân dân Italia đừng chiều theo sự buông xuôi và cám dỗ đụng độ nhau, nhưng tái khám phá những giá trị của sự chú ý đến nhau và liên đới là nền tảng của sự sống chung với nhau và là nguồn mạch sự tín nhiệm người khác và tin tưởng nơi tương lai, nhất là đối với người trẻ.

Viếng thăm Sri Lanka và Philippines
ĐTC cũng nói đến người trẻ khi nhắc lại cuộc viếng thăm của ngài tại Hàn Quốc nhân Ngày giới trẻ Á châu và ngài đề cập đến cuộc viếng thăm ngài sắp thực hiện tại Sri Lanka và Philippines. Biến cố này chứng tỏ sự quan tâm và ân cần về mục vụ của ngài khi theo dõi các thăng trầm của Á châu. Ngài cũng tái cầu mong hai nước Triều Tiên anh em mở lại các cuộc đối thoại với nhau.

Thành quả hòa bình
Vào đầu năm mới, ĐTC cho biết ngài không muốn cái nhìn của ngài có sắc thái bi quan và ngài cảm tạ Thiên Chúa về những hồng ân, các cuộc gặp gỡ, đối thoại và nhất là một số thành quả của hòa bình. Trong ý hướng đó, ĐTC nhắc đến cuộc viếng thăm của ngài tại Albani, mặc dù có những vết thương phải chịu trong lịch sử gần đây, nhưng nay là một nơi sống chung hòa bình và tôn trọng tín nhiệm lẫn nhau giữa các tín hữu Công giáo, Chính Thống và Hồi giáo. Ngài nhận định rằng niềm tin chân thành nơi Thiên Chúa làm ta cởi mở đối với tha nhân, tạo ra đối thoại và hoạt động cho công ích, trong khi bạo lực luôn nảy sinh từ sự huyền thoại hóa chính tôn giáo của mình, nhiều khi viện cớ những dự án ý thức hệ, nhắm mục tiêu duy nhất là người thống trị người. ĐTC nhắc đến cuộc đối thoại đại kết và liên tôn ở Thổ Nhĩ Kỳ và tinh thần đón tiếp ở Giordani. Ngài cầu mong Liban vượt thắng được những khó khăn hiện nay về chính trị.

Hoa Kỳ và Cuba xích lại gần nhau
Trong số những ví dụ về đối thoại có thể thực sự kiến tạo được những nhịp cầu, ĐTC Phanxicô nhắc đến quyết định mới đây của Hoa Kỳ và Cuba chấm dứt sự im lặng đối với nhau dài hơn một nửa thế kỷ và xích lại gần nhau để mưu ích cho các công dân cả hai nước. Ngoài ra ngài hài lòng chào mừng ý muốn của Hoa Kỳ đóng cửa vĩnh viễn nhà tù ở Guantanamo.

ĐTC nói đến nước Burkina Faso đang dấn thân trong một thời kỳ mới cộng tác và phát triển, và Philippines đã ký một hiệp định chấm dứt những năm căng thẳng tại nước này. Ngài cũng khích lệ cuộc hòa đảm tại Colombia, sự hòa hợp ở Venezuela, và thỏa hiệp chung kết giữa Iran và nhóm các nước gọi là ”5 cộng 1”, về việc sử dụng năng lượng hạt nhân vào những mục tiêu hòa bình.

70 năm thành lập LHQ và hiệp định về khí hậu
Trong phần kết của bài diễn văn, ĐTC nhắc lại rằng cách đây 70 năm LHQ đã được khai sinh từ đống tro tàn của thảm họa kinh khủng là Thế Chiến thứ 2. Ngài nhắc lại bài diễn văn lịch sử của Đức Chân Phước Giáo Hoàng Phaolô 6 trong cuộc viếng thăm LHQ hồi năm 1965, đó là lời kêu gọi tha thiết: ”Đừng chiến tranh nữa, đừng bao giờ gây chiến nữa”. ĐTC Phanxicô lập lại lời kêu gọi này khi đặc biệt nghĩ đến chương trình phát triển hậu 2015 với những mục tiêu phát triển dài hạn và soạn thảo một Hiệp định mới về khí hậu. Ngài xác tín rằng trong cả các tiến trình đó, một điều kiện không thể thiếu được chính là hòa bình, nảy sinh từ sự hoán cải tâm hồn”.

G. Trần Đức Anh O.P – Vatican Radio

 

Năng cầu khẩn Chúa Thánh Thần, và dưỡng nuôi con cái bằng Lời Chúa và gương sống đức tin

Năng cầu khẩn Chúa Thánh Thần, và dưỡng nuôi con cái bằng Lời Chúa và gương sống đức tin

Hãy thường xuyên cầu xin Chúa Thánh Thần, để Người trợ giúp chúng ta, ban cho chúng ta sức mạnh. linh hứng chúng ta và làm cho chúng ta tiến tới. Các cha mẹ hãy dưỡng nuôi con cái mình bằng Lời Chúa và gương sống đức tin.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã khích lệ như trên trong thánh lễ ban bí tích Tửa Tội cho 33 trẻ em nam nữ trong nhà nguyện Sistina và trong bài huấn dụ khi đọc Kinh Truyền Tin với tín hữu và du khách hanh hương tại công trường Thánh Phêrô.

Lúc 9 giờ sáng Chúa Nhật hôm qua lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự thánh lễ ban Bí Tích Rửa Tội cho 33 trẻ em nam nữ, con của các nhân viên làm việc trong Tòa Thánh.

Sau lời chào mở đầu, ĐTC đã đối thoại với các cha mẹ. Ngài nói: Mở đầu buổi cử hành này, tôi xin hỏi các cha mẹ và cha mẹ đỡ đầu: Anh chị em đặt tên cho con là gì? Anh chị em xin gì cho con cái anh chị em với Giáo Hội Chúa? Anh chị em thân mến khi xin Bí tích Rửa Tội cho con cái anh chị em, anh chị em dấn thân giáo dục chúng trong đức tin, để trong việc tuân giữ các giới răn chúng học yêu mến Thiên Chúa và tha nhân như Chúa Kitô đã dậy chúng ta. Anh chị em có ý thức được trách nhiệm này của anh chị em không? Các cha me thưa có. Và anh chị em là các cha mẹ đỡ đầu, anh chị em có sẵn sàng trợ giúp cha mẹ các em trong nhiệm vụ quan trọng như thế không? Các cha mẹ đỡ đầu thưa có.

Tiếp đến ĐTC nói: Các trẻ em thân mến, với niềm vui lớn Giáo Hội Chúa đón nhận các con. Nhân danh Người cha làm dấu thánh giá cho các con. Và sau tôi anh chị em là cha mẹ và cha mẹ đỡ đầu cũng làm dấu của Chúa Kitô Cứu Thế trên con của anh chị em.

Các cha mẹ và người đỡ đầu đã bế các em lên để ĐTC vẽ dấu thánh giá trên trán các em và họ cũng vẽ dấu thánh già trên trán chúng.

Giảng trong thánh lễ ĐTC nói Lời Chúa cho chúng ta thấy như một người cha và một bà mẹ giỏi Thiên Chúa muốn các sự tốt lành cho con cái Ngài. Và điều Thiên Chúa muốn trao ban là Lời ngài, làm cho chúng ta lớn lên và sinh hoa trái tốt lành trong cuộc sống, như mưa và tuyết rơi xuống khiến cho đất đai được phong phú (x. Is 55,10-11). Cũng thế anh chị em là cha me, cha mẹ đỡ đầu, là ông bà, cô chú hãy giúp các trẻ em này lớn lên, nếu anh chị em cho chúng Lời Chúa, Tin Mừng của Chúa Giêsu, và làm gương cho chúng bằng cách có thói quen đọc Lời Chúa mỗi ngày và mang Lời Chúa theo trong mình, trong túi trong xách tay, để đọc. Khi trông thấy anh chị em đọc Lời Chúa, các em sẽ noi theo. Các bà mẹ hãy cho con cái sữa, nếu chúng khóc vì đói, hãy bình tĩnh cho chúng bú ngay bây giờ đây. Cứ bình tĩnh (Lúc này có nhiều em khóc lớn trong nhà nguyện). Chúng ta cảm tạ Chúa vì ơn của sữa, và cầu nguyện cho các bà mẹ, biết bao nhiêu bà mẹ không có điều kiện cho con cái họ ăn. Chúng ta hãy cầu nguyện cho họ và trợ giúp họ. Điều mà sữa làm cho thân xác, thì Lời Chúa làm cho tinh thần: Lời Chúa lam cho đức tin lớn lên. Và nhờ đức tin chúng ta được Thiên Chúa sinh ra. Đó là điều xảy ra trong bí tích Rửa Tội. Chúng ta đã nghe lời thánh Gioan nói: “Ai tin rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, thì đã được Thiên Chúa sinh ra” (1 Ga 5,1). Hôm nay là đức in của anh chị em, là đức tin của Giáo Hội qua đó các em bé này nhận bí tích Rửa Tội, nhưng ngày mai, với ơn thánh Chúa sẽ là đức tin của các em, sẽ là tiếng “có” cá nhân thưa với Chúa Giêsu Kitô, Đấng trao ban cho chúng ta tình yêu của Chúa Cha. Bí tích Rửa Tội tháp nhập chúng ta vào dân thánh Chúa là Giáo Hội, trong đó đức tin được thông truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Đó là đức tin của Mẹ Maria, của các Tông Đồ, của các Thánh Tử Đạo. Ánh sáng đức tin được chuyền tay nhau, mà trong chốc lát nữa chúng ta sẽ đốt lên từ nến phục sinh biểu tượng cho Chúa Kitô sống lại. Anh chị em là các gia đình hãy lấy ánh sáng đức tin từ Ngài để truyền lại cho con cái. Hãy dậy cho con cái anh chị em biết rằng không thể là kitô hữu ngoài Giáo Hội, không thể theo Chúa Kitô mà không có Giáo Hội, bởi vì Giáo Hội là mẹ và làm cho chúng ta lớn lên trong tình yêu đối với Chúa Giêsu.

Trong bí tích Rửa Tội chúng ta đưọc thánh hiến bởi Chúa Thánh Thần. Từ “kitô” có nghĩa là được thánh hiến như Chúa Giêsu trong cùng Thánh Thần trong đó Chúa Giêsu được dìm mình trong suốt cuộc đời dương thế của Người. Người là Đấng được xức dầu, được thánh hiến. Các người được rửa tội là các kitô hữu nghĩa là những người được thánh hiến, được xức dầu. Các cha mẹ và cha mẹ đỡ đầu thân mến, nếu anh chị em muốn cho con cái anh chị em trở thành các kitô hữu, thì hãy giúp chúng lớn lên “chìm ngập” trong Chúa Thánh Thần, nghĩa là trong hơi ấm tình yêu của Thiên Chúa, trong ánh sáng Lời Ngài. Vì thế đừng quên cầu khẩn Chúa Thánh Thần thường xuyên. Chúng ta cầu xin Thiên Chúa Cha trong Kinh Lậy Cha, nhưng ít khi cầu xin Chúa Thánh Thần. Nhưng cầu khẩn Chúa Thánh Thần rất quan trọng, để Người dậy chúng ta đưa gia đình, con cái tiến tới, để cho con cái lớn lên trong bầu khí của Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh. Chẳng hạn hãy cầu khẩn với lời cầu đơn sơ này: “Lậy Chúa Thánh Thần, xin hãy đổ đầy trái tim của tín hữu Chúa và đốt lên trong chúng ngọn lửa tình yêu của Chúa”. Khi cầu nguyện như vậy, anh chị em cảm thấy sự hiện diện hiền mẫu của Đức Trinh Nữ Maria. Mẹ dậy chúng ta cầu xin Chúa Thánh Thần và sống theo Thần Khí như Chúa Giêsu. Xin Mẹ đồng hành với con cái và gia đình anh chị em.

Lúc 12 giờ trưa ĐTC đã đọc Kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương. Trong bài huấn dụ ngài đã đào sâu ý nghĩa lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa và nhấn mạnh rằng với biến cố này “thời gian của trời đóng kín đã kết thúc”, chúng ta đang sống trong thời gian của lòng thương xót. ĐTC nói:

Hôm nay chúng ta cử hành lễ Chúa chịu phép rửa kết thúc mùa Giáng Sinh. Phúc Âm miêu tả điều xảy ra trên bờ sông Giorđan. Trong khi Gioan Tây Giả ban phép rửa cho Chúa Giêsu, thì trời mở ra. Thánh sử Marcô nói: “Lập tức, khi ra khỏi nước Người thấy trời mở ra” (Mc 1,10). Trở lại trong trí chúng ta lời khẩn nài thê thảm của ngôn sứ Isaia: “Ôi phải chi Ngài xé trời mà ngự xuống” (Is 63,19). Lời khẩn cầu này đã được nhận lời với biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa. ĐTC giải thích như sau:

Như thế đã chấm dứt “thời gian “trời đóng” ám chỉ sự xa cách giữa Thiên Chúa và con người, hậu qủa của tội lỗi. Tội lỗi làm cho chúng ta xa cách Thiên Chúa và bẻ gẫy mối liên hệ giữa đất và trời, và như thế xác định sự bần cùng và thất bại của cuộc sống chúng ta. Trời mở ra ám chỉ rằng Thiên Chúa đã ban ơn thánh Người để trái đất cho hoa trái của nó “(x. Tv 85,13). Như thế trái đất trở thành nơi ở của Thiên Chúa giữa loài người, và từng người trong chúng ta có khả thể gặp gỡ Con Thiên Chúa, khi kinh nghiệm tất cả tình yêu và lòng thương xót vô biên của Người.

Chúng ta có thể gặp gỡ Chúa hiện diện thực sự trong các Bí Tích, một cách đặc biệt trong bí tích Thánh Thể. Chúng ta có thể gặp gỡ Người nơi gương mặt của các anh chị em chúng ta, cách riêng nơi người nghèo, người bệnh, người bị tù, người tỵ nạn: họ là thịt xác sống động của Chúa Kitô khổ đau và là hình ảnh hữu hình của Thiên Chúa vô hình.

ĐTC nói tiếp trong bài huấn dụ: Với biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa trời không chỉ xé ra, mà Thiên Chúa lại nói và làm vang lên tiếng nói của Người: “Con là Con yếu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con” (Mc 1,11). Tiếng của Thiên Chúa Cha loan báo mầu nhiệm dấu ẩn nơi Con Người được vị Tiên Hô làm phép rửa. Đức Giêsu Con Thiên Chúa nhập thể, cũng là Ngôi Lời vĩnh viễn, mà Thiên Chúa Cha đã muốn nói với thế giới. Chỉ khi lắng nghe, đi theo và làm chứng cho Lời đó, chúng ta mới có thể làm cho kinh nghiệm đức tin của chúng ta phong phú tràn đầy, mà mầm giống đã được đặt để trong chúng ta trong ngày lãnh bí tích Rửa Tội. Và rồi biến cố Chúa Thánh Thần ngự xuống dưới hình chim bồ câu: điều này cho phép Đức Kitô, Đấng Được Xức Dầu của Chúa, khai mào sứ mệnh của Người là cứu rỗi tất cả chúng ta. Chúa Thánh Thần, Đấng vĩ đại bị lãng quên trong lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta thường cầu xin Chúa Giêsu; chúng ta cầu xin Chúa Cha, đặc biệt trong “Kinh Lậy Cha”, nhưng không thường xuyên cầu xin Chúa Thánh Thần, có đúng thế không? Ngài là Đấng bị bỏ quên. Chúng ta cần xin sự trợ giúp của Người, sức mạnh của Người, linh hứng của Người. Chúa Thánh Thần là Đấng đã linh hoạt toàn cuộc sống và sứ vụ của Chúa Giêsu, cũng là Thần Khí hướng dẫn cuộc sống kitô, cuộc sống của con người nam nữ nói rằng họ là tín hữu kitô và muốn là tín hữu kitô. Đặt để dưới hoạt động của Chúa Thánh Thần cuộc sống kitô và sứ mệnh, mà tất cả chúng ta đã lãnh nhận được nhờ sức mạnh của bí tích Thánh Tẩy, có nghĩa là tìm lại lòng can đảm tông đồ cần thiết giúp thắng vượt các thích nghi trần tục dễ dãi. ĐTC khẳng định như sau:

Trái lại, một kitô hữu, một cộng đoàn “điếc” đối với tiếng nói của Chúa Thánh Thần. thúc đẩy đem Tin Mừng đến tận cùng bờ cõi trái đất và xã hội, cũng trở thành một kitô hữu và một cộng đoàn “câm” không nói và không rao giảng Tin Mừng. Nhưng xin anh chị em nhớ điều này: hãy thường xuyên cầu xin Chúa Thánh Thần, để Người trợ giúp chúng ta, ban cho chúng ta sức mạnh. linh hứng chúng ta và làm cho chúng ta tiến tới. Xin Đức Maria Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ Giáo Hội, đồng hành với tất cả chúng ta là những người đã được rửa tội; xin Mẹ giúp chúng ta lớn lên trong tình yêu đối với Thiên Chúa và trong niềm vui phục vụ Tin Mừng, để như thế trao ban ý nghĩa tràn đầy cho cuộc sống chúng ta.

Tiếp đến ĐTC đã cất Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin ĐTC đã chào tín hữu và các đoàn hành hương, đặc biệt là Hiệp hội giáo dân Lòng Chúa Thương Xót. Ngài nói ngày nay cần đến lòng thương xót biết bao, và thật là điều quan trọng anh chị em giáo dân đem nó đến với các môi trường xã hội khác nhau. Anh chị em cứ tiến lên. Chúng ta đang sống trong thời gian của lòng xót thương. Đây là thời gian của lòng thương xót.

Chiều ngài mai tôi sẽ lên đường tông du tại Sri Lanka và Philippines. Xin cám ơn lời cầu chúc của anh chị em như viết trên băng rôn kia, xin cám ơn rất nhiều! Tôi xin anh chị em vui lòng đồng hành với tôi bằng lời cầu nguyện, và tôi cũng xin các anh chị em người Sri Lanka và Philipines sống tại Roma đặc biệt cầu nguyện cho tôi trong chuyến viếng thăm này.

Xin chúc anh chị em một ngày Chúa Nhật an lành, cả khi trời hơi xấu một chút. Hôm nay cũng là ngày để tươi vui nhớ tới bí tích Rửa Tội của từng người. Xin anh chị em nhớ lời tôi xin là tìm ngày rửa tội của mình, để mỗi người có thể nói tôi đã được rửa tội ngày đó. Ước chi hôm nay là niềm vui của bí tích Rửa Tội. Xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho tôi. Chúc anh chị em ăn trưa ngon miệng và xin hẹn gặp lại.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Thánh Cha kêu gọi tiếp tục trợ giúp tái thiết Haiti

Đức Thánh Cha kêu gọi tiếp tục trợ giúp tái thiết Haiti

VATICAN. ĐTC cổ võ tiếp tục hỗ trợ công trình tái thiết Haiti 5 năm sau trận động đất và ngài kêu gọi thực thi công trình bác ái này trong tinh thần hiệp thông.

ĐTC đưa ra lời nhắn nhủ trên đây trong buổi tiếp kiến sáng ngày 10-1-2015 dành cho 100 tham dự viên Hội nghị do chính ngài triệu tập tại Vatican, để kiểm điểm và đẩy mạnh việc trợ giúp tái thiết Haiti 5 năm sau động đất ngày 12-1 năm 2010.

Thiên tai này tại vùng thủ đô Port-au-Prince đã làm cho khoảng 230 ngàn người thiệt mạng, 300 ngàn người bị thương và 1 triệu 200 ngàn người không còn gia cư. Hiện nay vẫn còn 40 ngàn người phải tạm trú trong các trại. Phần lớn các hạ tầng cơ sở và hàng chục ngàn gia cư cùng với tất cả cac nhà thương tại Haiti bị động đất phá hủy.

Qua Hội nghị này, ĐTC muốn dư luận quốc tế và Giáo Hội tiếp tục chú ý đến Haiti vẫn còn chịu đau khổ vì những hậu quả của trận động đất dữ dội, đồng thời tái khẳng định sự gần gũi của Giáo Hội với nhân dân Haiti trong giai đoạn tái thiết này.

Lên tiếng tại buổi tiếp kiến, ĐTC nhiệt liệt cám ơn các GM và mọi thành phần của Giáo Hội tại Haiti cũng như các tổ chức từ thiện đã tích cực góp phần cứu trợ và giúp tái thiết nước này. Ngài ghi nhận đã có nhiều công trình được thực hiện nhưng vẫn còn rất nhiều điều phải làm, đồng thời kêu gọi đặt con người ở trung tâm mọi quan tâm. ĐTC nói: ”Không có sự tái thiết thực sự cho một đất nước nếu không tái thiết con người toàn diện. Điều này có nghĩa là phải làm sao để mỗi người dân tại Haiti có những gì cần thiết về phương diện vật chất, nhưng đồng thời có thể sống tự do, trách nhiệm và cuộc sống tâm linh, tôn giáo của mình”.

ĐTC cũng nhấn mạnh khía cạnh cơ bản là tình hiệp thông Giáo Hội. Ngài ca ngợi sự cộng tác tích cực của nhiều tổ chức Giáo Hội, từ giáo phận tới các dòng tu và các cơ quan bác ái, cũng như cá nhân các tín hữu.. Đây là dấu chỉ sức sinh động của Giáo Hội và lòng quảng đại của bao nhiêu người.. Tình hiệp thông chứng tỏ bác ái không phải chỉ là giúp đỡ ngừơi khác, nhưng còn là một chiều kích thấm nhiễm cuộc sống và phá vỡ mọi hàng rào của chủ nghĩa cá nhân ngăn cản chúng ta gặp gỡ nhau.. thật là điều mâu thuẫn nếu ta sống đức bác ái chia cách nhau! Vì thế, ĐTC nói:

”Tôi mời gọi anh chỉ em hãy tăng cường tất cả các phương pháp giúp cộng tác với nhau. Tình hiệp thông Giáo Hội cũng phản ánh qua sự cộng tác với chính quyền và các tổ chức quốc tế, để tất cả đều tìm kiến sự tiến bộ thực sự của nhân dân Haiti trong tinh thần công ích”.

Sau cùng, ĐTC nhấn mạnh tầm quan trọng của Giáo Hội địa phương và nói rằng: ”Giáo Hội tại Haiti ngày càng trở nên sinh động và phong phú hơn, để làm chứng cho Chúa Kitô và góp phần vào sự phát triển đất nước. Về điểm này, tôi muốn khích lệ các GM Haiti, các LM và mọi nhân viên mục vụ, với lòng nhiệt thành và tình hiệp thông huynh đệ, hãy khơi dậy nơi các tín hữu một sự tái quyết tâm trong việc huấn luyện Kitô và việc loan báo Tin Mừng vui tươi và thành quả. Chứng tá bác ái Tin Mừng được hữu hiệu khi nó được nâng đỡ nhờ quanhệ bản thân với Chúa Kitô trong kinh nguyện, trong sự lắng nghe Lời Chúa và lãnh nhận các bí tích. Đây chính là ”sức mạnh” của Giáo Hội địa phương”.

Hội nghị

Hội nghị do ĐTC triệu tập diễn ra tại tòa nhà Thánh Piô 10 thuộc Vatican, với chủ đề ”Tình hiệp thông của Giáo Hội: tưởng niệm và hy vọng cho Haiti 5 năm sau trận động đất”.

Hội nghị do Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum (Đồng Tâm), và Ủy ban Tòa Thánh về Mỹ châu la tinh, tổ chức, với sự cộng tác của HĐGM Haiti. Tham dự Hội nghị có các đại diện của Tòa Thánh, của Giáo Hội tại Haiti và một số HĐGM khác (như Đức Cha Thomas Wenski, TGM Miami, Florida Hoa Kỳ), các tổ chức từ thiện Công Giáo, dòng tu và một số đại diện ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh.

Sau lời chào mừng của ĐHY Marc Ouellet, Tổng trưởng Bộ GM kiêm Chủ tịch Ủy ban Tòa Thánh về Mỹ châu la tinh, ĐHY Robert Sarah (Tổng trưởng Bộ Phụng tự và kỷ luật bí tích), nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum, đã trình bày công cuộc trợ giúp tái thiết Haiti. Nhiều diễn giả khác cũng lên tiếng. Lúc 11 giờ rưỡi, các tham dự viên sẽ được ĐTC tiếp kiến.

Ban chiều, có phần trình bày chứng từ của những người đang hoạt động để tái thiết Haiti. (SD 10-1-2015)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

ÂN SỦNG CỦA BÍ TÍCH RỬA TỘI

ÂN SỦNG CỦA BÍ TÍCH RỬA TỘI

Sự kiện Chúa Giêsu chịu Phép Rửa là gạch nối giữa giai đoạn quan trọng: sống ẩn dật và rao giảng công khai. Sau 30 năm sống âm thầm với gia đình tại Nadarét, Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng.

Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa cũng là gạch nối giữa hai mùa: Giáng sinh và Thường niên. Giáo Hội đã cùng sống với Chúa Giêsu qua các biến cố Giáng Sinh và Hiển Linh. Hôm nay Chúa nhật I thường niên, Giáo Hội sẽ cùng đồng hành với Người qua các biến cố của đời rao giảng.

1. Chúa Giêsu chịu Phép Rửa
 
Khởi đầu cuộc sống công khai, lúc đã 30 tuổi, tức là đã trưởng thành trọn vẹn như người Á Đông vẫn quan niệm “tam thập nhi lập”, Chúa Giêsu tìm đến sông Giođan để xin Gioan Tẩy Giả cử hành phép rửa cho mình. Thật lạ lùng, trong số những người đến “xưng thú tội lỗi” (Mc 1,5) và chịu “phép rửa sám hối để đước ơn tha tội” (Mc 1,4) lại có Chúa Giêsu. Người là Đấng Thánh, là Thiên Chúa, siêu việt tuyệt đối, tại sao lại đến xin Gioan làm phép rửa sám hối? Người là Đấng mà Gioan “không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài ” lại có thể đứng chung với đám đông người tội lỗi chờ đến lượt mình được chịu thanh tẩy? Đây là động thái gây kinh ngạc cho con người thời nay, vì khó hiểu: Đấng không có tội lại đi nhận phép rửa làm gì? Nhưng người ta cũng sớm hiểu ra rằng: phép rửa của Gioan Tẩy Giả chỉ là nghi thức mang tính tẩy trần, nếu có giá trị thì chỉ theo quy định của lề luật thôi, còn chưa có hiệu quả đích thực tôn giáo. Chính Gioan Tẩy Giả đã minh định: “Tôi rửa anh em trong nước, nhưng Đấng đến sau tôi sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và trong lửa”. Khi Chúa Giêsu nhận phép rửa này, ngoài việc “nhập thế đến cùng”, khiêm tốn xếp hàng đứng chung với các tội nhân đợi chờ đến phiên, Người còn hữu ý qua động thái có một không hai đó, công khai khởi đầu cuộc sống mới: cuộc rao giảng Tin Mừng cho mọi người.

Tất cả các tiên trưng trong Cựu Ước đều được thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Để “chu toàn thánh ý Thiên Chúa"(Mt 3,15), Chúa Giêsutự nguyện chịu phép rửa của thánh Gioan, dành cho những người tội lỗi. Cử chỉ này cho thấy Chúa Giêsuđã đi vào mầu nhiệm “tự hạ” (Pl 2,7). Chúa Thánh Thần xưa kia đã bay là là trên mặt nước trong cuộc sáng tạo thứ nhất, nay ngự xuống trên Đức Kitô như khúc nhạc dạo đầu của bản giao hưởng sáng tạo mới, và Chúa Cha giới thiệu Chúa Giêsulà “Con Chí Ái” của Ngài (Mt 3,16-17).

Trong cuộc Vượt Qua, Đức Kitô đã khơi nguồn Bí Tích Rửa Tội cho mọi người. Người nói về cuộc tử nạn sẽ phải chịu tại Giêrusalem như “một Phép Rửa” Người phải lãnh nhận (x. Mc 10,38; Lc 12,50). Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Người bị đâm thâu trên thập giá (Ga 19,34) tiên trưng cho Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thánh Thể là những bí tích ban sự sống mới (x.1Ga 5,6-8); từ giây phút ấy, chúng ta có thể “sinh ra nhờ nước và Thánh Thần” để được vào Nước Thiên Chúa (Ga 3,5).

Bí Tích Rửa Tội là cánh cửa phân chia tách bạch đời sống, một đàng là khép lại quá khứ của bóng tối, tội lỗi, chết chóc, và đàng khác là mở ra tương lai của ánh sáng, thánh ân, sự sống. Bí Tích Rửa Tội cần thiết cho ơn cứu rỗi, nên bí tích này cũng là khởi đầu cho một sự hiện diện mới: từ kẻ ngoại đạo trở thành người đã tòng giáo; từ một lương dân trở nên tín hữu; từ kẻ xa lạ trở thành người nhà của Thiên Chúa. Quả là một hồng ân vô cùng lớn lao cho những ai đón nhận trong lòng tin.

2. Ân Sủng của Bí Tích Rửa Tội

Khi ban Bí Tích Rửa Tội, Thừa tác viên Giáo Hội đổ nước trên đầu thụ nhân và đọc công thức “Cha rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Đơn giản trong cung cách cử hành, nhưng hiệu quả ơn thánh lại phong phú bội phần. Bằng những hình ảnh do Thánh Kinh gợi ý, người ta trở thành thành viên trong Dân Chúa Cha, chi thể trong Thân Mình Chúa Kitô và viên đá sống động kiến tạo Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Con người mới chính là con cái Thiên Chúa và được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa hằng sống.

Bí Tích Rửa Tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cửa ngõ dẫn vào đời sống thần linh và mọi bí tích khác. Nhờ bí tích này chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và tái sinh làm con cái Thiên Chúa, thành chi thể của Đức Kitô, được gia nhập và tham dự sứ mạng của Hội Thánh (GLCG 1213).

Bí Tích Rửa Tội tha thứ nguyên tội, mọi tội cá nhân và các hình phạt do tội. Bí Tích Rửa tội cho tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ ơn thánh hoá, nhờ ơn công chính hoá giúp tháp nhập vào Đức Kitô và Hội Thánh. Bí tích này cho tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô và tạo nền tảng cho sự hiệp thông với tất cả các Kitô hữu. Bí tích này trao ban các nhân đức đối thần và các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Người lãnh nhận bí tích Rửa tội thuộc về Đức Kitô luôn mãi: họ được đóng ấn không thể xóa được của Đức Kitô (GLCG 263).

Như vậy, có hai hiệu quả chính yếu của Bí Tích Rửa Tội là thanh luyện tội lỗi và tái sinh trong Chúa Thánh Thần (x. Cv 2,38; Gl 3,5).

a. Được tha thứ tội lỗi
 
Nhờ Bí Tích Rửa Tội, mọi tội lỗi đều được tha : nguyên tội, mọi tội riêng cũng như mọi hình phạt do tội (x. DS 1316). Những người đã được tái sinh sẽ được vào Nước Thiên Chúa và không còn gì ngăn cản họ, dù là tội Ađam, tội riêng của họ, những hậu quả của tội, kể cả hậu quả trầm trọng nhất là xa lìa Thiên Chúa.

Tuy nhiên, người đã được rửa tội còn phải chịu một số hậu quả tạm thời của tội như : đau khổ, bệnh tật, chết chóc hay những bất toàn trong cuộc sống như tính tình yếu đuối… và một sự hướng chiều về tội mà Truyền Thống quen gọi là vật dục hay nói bóng bẩy là “cái nôi của tội”. “Thiên Chúa để vật dục lại cho chúng ta chiến đấu. Vật dục không có khả năng làm hại những ai không đồng tình mà còn can đảm chống lại nó nhờ ân sủng của Đức Kitô. Hơn nữa, “không đoạt giải nếu không thi đấu theo luật lệ” (2 Tm 2,5) (x. CĐ Trentô: DS 1515).

b. “Trở nên thụ tạo mới”
 
Bí Tích Rửa Tội không chỉ rửa sạch mọi tội lỗi, mà còn làm cho người tân tòng trở nên “một thụ tạo mới” (2 Cr 5,17), thành nghĩa tử của Thiên Chúa (x. Gl 4,5-7), “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4), thành chi thể Đức Kitô (x.1Cr 6,15; 12,27) và đồng thừa tự với Người (Rm 8,17), thành đền thờ Chúa Thánh Thần (x.1Cr 6,19).

Chúa Ba Ngôi Chí Thánh ban cho người được rửa tội ơn thánh hóa, ơn công chính hóa để người đó:

– Có khả năng tin tưởng, trông cậy và yêu mến Người nhờ các nhân đức đối thần.
– Có thể sống và hành động dưới tác động của Chúa Thánh Thần nhờ các hồng ân.
– Ngày càng hoàn thiện hơn nhờ các nhân đức luân lý.

Toàn bộ đời sống siêu nhiên của người Kitô hữu đều bắt nguồn từ Bí Tích Rửa Tội.

Bí Tích Rửa Tội làm cho chúng ta thành chi thể trong Thân Thể Chúa Kitô, “bởi thế, chúng ta là phần thân thể của nhau” (Ep 4,25). Bí Tích Rửa Tội tháp nhập chúng ta vào Hội Thánh. Dân Thiên Chúa của Giao Ước Mới phát sinh từ giếng rửa tội. Dân này vượt trên mọi ranh giới tự nhiên hay nhân trần, quốc gia, văn hóa, chủng tộc và giới tính. “Tất cả chúng ta đều đã chịu Phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể” (1 Cr 12,13).

Những người đã được rửa tội trở nên “những viên đá sống động… để xây nên ngôi đền thờ của Thánh Thần, xây dựng hàng tư tế thánh” (1 Pr 2,5). Nhờ Bí Tích Rửa Tội ,họ tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô, vào sứ mạng ngôn sứ và vương đế của Người: “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo tế tự, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công vĩ đại của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối vào nơi đầy ánh sáng dịu huyền” (2 Pr 2,9).

Bí Tích Rửa Tội cho các tín hữu tham dự vào chức tư tế cộng đồng của Dân Chúa.Người đã được rửa tội trở thành phần tử của Hội Thánh, họ “không còn thuộc về mình, nhưng thuộc về Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta” (1Cr 6,19). Do đó, họ được mời gọi để phục tùng nhau (x.Ep 5,21;1Cr 16,15-16) và phục vụ nhau (x.Ga 13,12-15) trong tình hiệp thông của Hội Thánh. Họ được mời gọi vâng lời và phục tùng các vị lãnh đạo của Hội Thánh (x.Dt 13,17) với lòng kính trọng và quý mến (x.1Tx 5,12-13). Bí Tích Rửa Tội đã trao cho người lãnh nhận những trách nhiệm và bổn phận, đồng thời cũng cho họ được hưởng những quyền lợi trong lòng Hội Thánh :được lãnh nhận các bí tích, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và được Hội Thánh nâng đỡ bằng các trợ giúp thiêng liêng. (x.LG 37).

3. Bí Tích Rửa Tội, hồng ân cao đẹp và kỳ diệu

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Gioan là lúc Tân – Cựu ước giao duyên, là lễ bàn giao giữa hai niên đại cũ và mới mà Chúa Giêsu và Gioan là đại biểu. Gioan, ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước gặp gỡ trao đổi bàn giao với Đức Kitô,vị ngôn sứ của thời kỳ mới.Nơi cuộc gặp gỡ lịch sử này,Thiên Chúa đã xuất hiện và chứng nhận. Lúc ấy các tầng trời mở ra, Thánh Thần đáp xuống như chim bồ câu và có tiếng Chúa Cha tuyên phán: Con là Con Ta yêu dấu. Ba Ngôi Thiên Chúa tỏ hiện vào chính lúc lịch sử của hai niên đại mới và cũ chuyển giao.Từ nay Chúa Giêsu sẽ lên đường vào sứ vụ mới với cuộc sống công khai, chính thức rao giảng Tin Mừng và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân chúng. Lời Người nói là Lời chân lý khai quang tâm hồn, dẫn người người về đường ngay nẻo chính Nước Trời, và việc Người làm là việc giải thoát đem lại ơn cứu rỗi, đưa toàn thể nhân loại vào trong tình nghĩa thiết ngàn đời với Thiên Chúa tình thương. Chúa Giêsu khai mở kỷ nguyên cứu rỗi.

Thánh Phaolô gọi Bí Tích Rửa Tội là tắm trong Chúa Thánh Thần, để được tái sinh và đổi mới (x. Tt 3,5). Được tái sinh làm con Thiên Chúa, những người đã được rửa tội có bổn phận tuyên xưng trước mặt mọi người đức tin mà họ nhận lãnh từ Thiên Chúa qua Hội Thánh (x.LG 10), tham dự vào hoạt động tông đồ và truyền giáo của Dân Thiên Chúa (x.LG 17; AG 7,23).

Thánh Giúttinô gọi Bí Tích Rửa Tội là ơn soi sáng, vì những người được đạo lý giáo huấn thì tâm trí được soi sáng. Người chịu phép rửa, vì đón nhận Ngôi Lời là “ánh sáng đích thực chiếu soi mọi người” (Ga 1,9), nên sau khi “đã được soi sáng” (Dt 10,32), họ trở thành “con cái sự sáng” (1 Tx 5,5) và là “ánh sáng” (Ep 5,8).

“Bí Tích Rửa Tội là hồng ân cao đẹp nhất và kỳ diệu nhất trong các hồng ân của Thiên Chúa…Chúng ta gọi là hồng ân, ân sủng, xức dầu, soi sáng, mặc lấy sự bất tử, tắm để tái sinh, ấn tín và tất cả những gì quý giá nhất. Là hồng ân, vì được ban cho những người trắng tay. Là ân sủng, vì được ban cho cả những người có lỗi. Dìm xuống,vì tội lỗi bị nhận chìm trong nước. Xức dầu, vì có tính cách linh thiêng và vương giả (như những người được xức dầu). Soi sáng, vì đó là ánh sáng chói lọi. Mặc, vì che đi nỗi tủi nhục của chúng ta. Tắm, vì làm cho chúng ta sạch. Ấn tín, vì gìn giữ chúng ta và là dấu chỉ về quyền tối cao của Thiên Chúa” (Thánh Grêriô Nadien, Bài giảng 40,3-4).

Nhờ Bí Tích Rửa Tội, trong tư cách là “Kitô hữu thuộc về Chúa Kitô”, chúng ta được nhắc nhớ về sứ mạng phải làm triển nở sự sống của Chúa Kitô nơi mình và nơi những người lân cận bằng lòng tin và bằng tình yêu chân thành và trung tín.

Trong tư cách “Kitô hữu hướng về Chúa Kitô”, chúng ta cũng được hun đúc để luôn biết sống bằng niềm hy vọng và bằng lời kinh phó thác, nhất là trong lúc gặp thử thách gian truân.

Trong tư cách “Kitô hữu tìm về Chúa Kitô”, chúng ta còn biết sẵn sàng thanh tẩy đời sống qua việc sám hối hòa giải để đón nhận lòng thương xót của Chúa một cách dồi dào hơn.

Trong phép lần hạt Năm Sự Sáng, gẫm thứ nhất, chúng ta vẫn đọc: “Thứ nhất thì ngắm, Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa”. Theo gương Mẹ Maria, chúng ta xin được sống gắn bó với Chúa Giêsu mật thiết hơn, để xứng đáng là những người con yêu dấu của Thiên Chúa.
 
Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

PHÉP RỬA KHIÊM NHƯỜNG

PHÉP RỬA KHIÊM NHƯỜNG

Trong đêm trường Cựu Ước, dân Do-thái trông đợi Đức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa tới cứu độ, giải thoát khỏi xiềng xích của tội lỗi và sự chết đời đời. Ai cũng cho rằng Đấng ấy phải oai phong lẫm liệt như Lời Đức Chúa hứa cùng ngôn sứ Isaia: “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ, là người Ta tuyển chọn và quý mến hết lòng, Ta cho thần khí Ta ngự trên nó; nó sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân… Nó không yếu hèn, không chịu phục, cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu. Dân các hải đảo xa xăm đều mong được nó chỉ bảo.” – Is 42, 1-4). Tới khi lời hứa ấy được thực hiện cụ thể thì chỉ thấy một Hài Nhi sinh ra nơi một hang bò lừa, rồi sống ẩn dật 30 năm trường tại một vùng quê hẻo lánh.

 Lần đầu tiên xuất hiện công khai thì chàng thanh niên Giê-su Na-da-ret lại cùng với đám đông xếp hàng xin ông Gio-an Tẩy Giả rửa tội. Thật là lạ lùng. Chính Đấng đến để chuộc tội loài người giờ đây lại xin người khác rửa tội cho mình. Như vậy thì phải chăng đến cả Thiên Chúa cũng có tội và cần được rửa tội hay sao? Một nghịch lý không thể chấp nhận. Vấn đề chỉ được khai thông khi đọc và suy niệm kỹ cuộc đối thoại giữa người làm phép rửa và Người đến xin được rửa tội: “Bấy giờ, Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng ông một mực can Người và nói: "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi!" Nhưng Đức Giê-su trả lời: "Bây giờ cứ thế đã. Vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính." (Mt 3, 13-15).

Cũng bởi vì Đức Giê-su là Thiên-Chúa-làm-người, “Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người.” (Tđ  “Gaudium et Spes”, số 22); nên cần phải “làm như vậy để giữ trọn đức công chính”. Nói khác hơn, Đức Ki-tô muốn cho mọi người thấy chàng thanh niên Giê-su Na-da-ret “Sinh bởi trinh nữ Maria, Người đã thực sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta mọi sự, ngoại trừ tội lỗi.” (ibid). Người đến xin ông Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa, không phải vì Người có tội mà chính là vì Người muốn nêu tấm gương sáng cho mọi người noi theo về đức khiêm nhường tuyệt đối vô song của Người. Thật thế, “Đức Giê-su Ki-tô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” (Pl 2, 6-8).

 Kể từ khi Nguyên tổ nghe lời rắn xúi giục "ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác." (St 3, 5), vi phạm giới răn “ăn trái cấm” phải xa lìa Thiên Chúa. Không những chỉ truyền tử lưu tôn đời đời kiếp kiếp tội phản nghịch cùng Đấng đã dựng nên minh, Nguyên tổ còn truyền cho con cháu ngàn đời cái gien “kiêu ngạo” muốn ngang bằng Thiên Chúa. Trong khi loài người tội lỗi luôn kiêu ngạo tìm cách nâng mình lên, thì Thiên Chúa thánh thiện lại hạ mình xuống. Trong khi loài người chỉ tìm cách che giấu hoặc chối bay chối biến tội lỗi của mình, thì Thiên Chúa vô tội lại công khai nhận mình tội lỗi. Trong khi loài người tội lỗi tìm tránh hình phạt do tội lỗi họ gây nên thì Thiên chúa lại ghé vai gánh lấy hết tội lỗi và mọi hình phạt mà loài người đáng phải chịu. Sự khiêm nhường ấy phát xuất từ lòng Thiên Chúa yêu thương con người, muốn cứu chuộc nhân loại thoát khỏi ách thống trị của tội lỗi và sự chết đời đời.

Trước đó, Thánh Gio-an Tẩy Giả đã tự nhận “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ I-sai-a đã nói.” (Ga 1, 23), không những thế, thánh nhân còn nhấn mạnh: "Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa.” (Lc 3, 16). Hôm nay, “Đức Giê-su từ miền Ga-li-lê đến sông Gio-đan, gặp ông Gio-an để xin ông làm phép rửa cho mình. Nhưng ông một mực can Người và nói: "Chính tôi mới cần được Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi! " (Mt 3, 13-14). Ai cũng nhận thấy Thánh Gio-an Tẩy Giả là người rất khiêm nhường; nhưng thật không ngờ Đức Giê-su Ki-tô còn khiêm nhường gấp bội.

Thật thế, Thánh Gio-an là người trần gian tất nhiên không thể tránh khỏi tội lỗi, nhất là tội Nguyên tổ, và vì thế thánh nhân mới sống trong hoang địa “mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, ăn châu chấu và mật ong rừng” để sám hối trước khi ra mắt dân It-ra-en kêu gọi người ta sám hối và làm phép rửa cho họ tại sông Gio-đan. Nhưng đến như Đức Giê-su Thiên Chúa nhân lành vô tội mà cũng vào trong hoang địa suốt 40 ngày ăn chay, hãm mình, chịu để ma quỷ cám dỗ (Lc 4, 1-13), nay lại đến xin Thánh Gio-an làm phép rửa, thì đức khiêm nhường của Chúa còn sâu xa đến nhường nào. Sự  tỏ mình của Đức Giê-su ngày càng rõ bao nhiêu thì đức tính khiêm nhường của Chúa càng nổi bật hơn bấy nhiêu. Đó chính là bản chất của Thiên Chúa “nên giống anh em mình mọi đàng ngoại trừ tội lỗi” (GS 22).

Sự khiêm nhường của Đức Giê-su lên tới đỉnh điểm là Phép Rửa Người phải chịu trên Gôn-gô-tha. Người đã tiên báo “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” (Lc 12, 50). Cũng vì Người đã “hạ mình, vâng lời cho đễn nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự.” Chính vì thế, nên “Thiên Chúa đã siêu tôn Người” (Pl 2, 7-9). Đó là lý do giải thích tại sao sau khi Thánh Gio-an Tẩy Giả làm phép rửa cho Đức Giê-su, “Vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí như chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: "Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con." (Mc 1, 10-11). Cả Ba Ngôi Thiên chúa cùng xuất hiện: Ba Ngôi liên kết trong một tình yêu hiệp thông. Chúa Giê-su hoạt động dưới tác động của Chúa Thánh Thần để thi hành thánh ý Chúa Cha. Có thể nói cả Ba Ngôi đều hoạt động trong Chúa Giê-su Ki-tô . Cả Ba Ngôi đều tham gia vào công trình cứu chuộc loài người.

Đức Giê-su đã thể hiện bằng hành động đúng như lời Người hằng dạy dỗ các môn đệ: Hãy ngồi chỗ cuối để được mời lên hang đầu, chờ đừng bao giờ bắt chước "những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được chào hỏi ở những nơi công cộng, ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc." (Lc 20, 46). Ấy cũng bởi vì “Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên." (Lc 14, 11). Ngoài ra, Người còn khen ngợi về đức tính khiêm nhường của Thánh Gio-an Tẩy Giả như thế này: "Tôi nói cho anh em biết: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, không có ai cao trọng hơn ông Gio-an; tuy nhiên kẻ nhỏ nhất trong Nước Thiên Chúa còn cao trọng hơn ông.” (Lc 7, 28).

Từ người được sai đi làm phép rửa (Thánh Gio-an Tẩy Giả) tới Người đến xin làm phép rửa (Đức Giê-su Thiên Chúa) đều bộc lộ chân thành đức tính khiêm nhường tuyệt đối, nên có thể nói khiêm nhướng là một phép rửa. Vì khiêm nhường là sự quên mình, là chết đi cho cái tội đứng hàng đầu trong 7 mối tội đầu của bản thân (tội kiêu ngạo). Dìm mình vào dòng sông là chấp nhận đau khổ và chết đi. Cái chết chính là phép rửa như Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ: “Thầy còn phải chịu một phép rửa, và Thầy những bồn chồn chờ đến lúc hoàn tất” (Lc 12, 50). Người còn hỏi hai ông Gio-an và Gia-cô-bê khi hai ông này đến xin được ngồi bên tả, bên hữu trong nước Người: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10, 38). Khi nói thế Chúa Giê-su có ý nói đến cái chết Người sẽ phải chịu. Chúa Giê-su vì khiêm nhường cho đến nỗi bằng lòng chịu chết vì tội lỗi loài người. Vậy thì tại sao người Ki-tô hữu không sẵn sàng chết đi vì tội lỗi của bản thân mình?

Vâng, “Trong Phép Rửa, ta tiếp nhận cả lời giảng cần được công bố lẫn cách sống đặc biệt đòi phải vận dụng toàn bộ con người và đặt ta vào nẻo đường sự thiện. Ai chịu Phép Rửa đều được đặt vào một bối cảnh mới, được trao phó cho một môi trường mới, một cách hành động mới, chung chia trong Giáo Hội.Như thế, Phép Rửa khiến ta thấy rằng đức tin không phải là thành tựu của các cá nhân cô lập; nó không phải là một hành vi mà ai đó có thể tự mình diễn xuất, mà đúng hơn, nó là một điều cần được tiếp nhận bằng cách đi vào hiệp thông Giáo Hội, một hiệp thông chuyển giao ơn phúc Thiên Chúa.” (Tđ Ánh Sáng Đức Tin “Lumen Fidei”, số 41). Người Ki-tô hữu sống thân phận con người phải chết do hậu quả cuả tội nguyên tổ, nay đã được chịu phép rửa tội là có một mối liên hệ hiệp thông sâu xa với Đức Ki-tô và Giáo Hội. Bởi vậy chúng ta không đứng ngoài sự liên đới với người khác mà phải đồng hành cùng với nhân loại trong dòng chảy của những tập tục, truyền thống, lễ nghi, văn hoá… để thánh hoá, biến đổi, thăng hoa và làm hoàn hảo những giá trị này theo tinh thần của Đức Chúa.

Ôi! Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, xin dạy con biết sống ơn Bí tích Rửa tội như Chúa, để con xứng đáng được làm con yêu dấu của Đức Chúa Cha. Ôi! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, khi Ðức Kitô chịu phép rửa tại sông Gio-đan và Thánh Thần ngự xuống trên Người, Chúa đã long trọng tuyên bố Người là Con chí ái. Xin cho chúng con là đoàn nghĩa tử được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, hằng bền vững thi hành ý Chúa. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Chúa Giê-su chịu Phép Rửa).

JM. Lam Thy ĐVD

SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI ĐÃ CHỊU PHÉP RỬA TỘI

SỨ MỆNH CỦA NGƯỜI ĐÃ CHỊU PHÉP RỬA TỘI

1) Hình ảnh về một Đấng Cứu Thế khiêm nhường tự hạ

Trong khi dân Do Thái mong chờ một Đấng Cứu Thế oai phong lẫm liệt, thì Đức Giêsu xuất hiện công khai lần đầu tiên trong sự khiêm nhường thống hối. Lúc ấy, Gioan rao giảng sự ăn năn sám hối. Đoàn lũ dân chúng đông đảo kéo đến với ông để xin chịu phép rửa thống hối. Hòa mình vào đoàn lũ những con người tự nhận mình tội lỗi ấy, Đức Giêsu âm thầm khiêm tốn xếp hàng chờ được rửa tội. Thật là lạ lùng. Chính Đấng đã thánh hóa Gioan khi ông còn trong bụng mẹ giờ đây lại đến xin ông làm phép rửa cho. Chính Đấng đến để chuộc tội loài người giờ đây lại xin người khác rửa tội cho mình. Thật là khiêm nhường thẳm sâu. Trong khi loài người tội lỗi luôn kiêu ngạo tìm nâng mình lên thì Thiên Chúa thánh thiện lại tìm hạ mình xuống. Trong khi loài người tội lỗi luôn che dấu, không nhận tội thì Thiên Chúa vô tội lại công khai nhận mình tội lỗi. Trong khi loài người tội lỗi tìm tránh hình phạt do tội lỗi họ gây nên thì Thiên Chúa lại ghé vai gánh lấy hết tội lỗi và mọi hình phạt mà loài người đáng phải chịu. Sự khiêm nhường ấy phát xuất từ lòng Thiên Chúa yêu thương con người, muốn chia sẻ kiếp người, muốn cứu chuộc tội đời, muốn thăng tiến nhân loại.

2) Hình ảnh về cuộc giao hòa đất trời

Chính lúc Đức Giêsu tự nguyện gánh lấy tội lỗi nhân loại, tầng trời bị xé ra. Khi loài người phạm tội, cửa trời đóng lại, đất trời phân ly, ân phúc thôi tuôn đổ. Khi phạm tội, loài người tự giam mình trong bóng tối. Bóng tối tội lỗi giam kín con người trong thân phận bụi đất, không còn hy vọng vươn lên. Hôm nay, tầng trời xé ra có nghĩa là từ nay con người đã có lối thoát. Thân phận con người thay đổi, địa vị con người được nâng lên, vì có ơn Thiên Chúa đổ xuống, có Thiên Chúa đến gieo mầm trường sinh vào kiếp người phàm hèn. Trời đất giao hòa. Thiên giới cúi xuống hạ giới. Thiên Chúa đến ở với con người. Ân phúc tuôn đổ xuống cõi đời nhơ uế.

3) Hình ảnh về sự kết hiệp mật thiết giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.

Trong giây phút cảm động ấy, cả Ba Ngôi Thiên Chúa cùng xuất hiện. Chúa Thánh Thần như chim bồ câu đáp xuống. Chúa Thánh Thần là tình yêu. Chúa Thánh Thần ngự xuống trên ai là dấu chỉ Thiên Chúa ưu ái người ấy. Đức Chúa Cha công khai xác nhận sự ưu ái ấy với Đức Giêsu khi lên tiếng: “Đây là Con Ta yêu dấu”. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Đây không phải là một danh xưng, một tước vị, nhưng là một liên hệ sâu xa mật thiết: Ba Ngôi liên kết trong một tình yêu hiệp thông. Đức Giêsu hoạt động dưới tác động của Chúa Thánh Thần để thi hành thánh ý Chúa Cha. Có thể nói cả Ba Ngôi đều hoạt động trong Đức Giêsu Kitô. Cả Ba Ngôi đều tham gia vào công trình cứu chuộc con người.

4) Hình ảnh về sứ mệnh người được sai đi.

Từ xưa trong Cựu Ước, Chúa Thánh Thần ngự xuống là để trao ban một sứ mệnh. Hôm nay, Đức Giêsu cũng đã nhận lãnh một sứ mệnh, đó là cứu nhân độ thế. Là “mở mắt cho người mù”, là “đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ”, là “dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong bóng tối tăm”. Người không đến trong thái độ phô trương quyền lực, nhưng đến trong sự hiền lành khiêm nhường. Người đến không phải để lên án nhưng để tha thứ. Người đến không phải để giết chết nhưng để cứu sống như lời tiên tri Isaia: “Cây lau bị dập, Người không bẻ gẫy. Tim đèn leo lét, Người chẳng nỡ tắt đi”.

Phép rửa của Đức Giêsu mời gọi ta nhớ lại ơn phép rửa tội của mình. Ngày ta được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, màn đêm tội lỗi vây phủ ta bị xé ra, Ba Ngôi Thiên Chúa đã đến với ta, ban cho ta cuộc sống thần linh, cho ta được vinh dự làm con Thiên Chúa, cho ta được kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Ngày ta được lãnh nhận bí tích Rửa Tội, Chúa Thánh Thần cũng đã trao cho ta một sứ mệnh, đó là sống xứng đáng một người con hiếu thảo của Chúa, là tiếp tục công việc của Đức Giêsu trong công cuộc cứu nhân độ thế. Đức Giêsu là gương mẫu một người con hiếu thảo, vì Người luôn sống thân mật với Chúa Cha, luôn kết hiệp với Chúa Cha trong kinh nguyện hằng ngày, và nhất là Người luôn tìm thi hành thánh ý Chúa Cha, Người đã vâng lời Chúa Cha cho đến chết và chết trên thập giá. Ta hãy noi gương Đức Giêsu, luôn kết hiệp với Thiên Chúa Ba Ngôi, luôn tìm thi hành thánh ý Thiên Chúa, luôn sống một cuộc sống tốt đẹp, luôn tích cực góp phần xây dựng xã hội, tạo hạnh phúc cho những anh em sống chung quanh ta.

Lạy Đức Giêsu Kitô, xin dạy con biết sống ơn bí tích Rửa Tội như Chúa, để con xứng đáng được làm con yêu dấu của Đức Chúa Cha.

CÂU HỎI GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ

1) Bạn có dễ dàng nhận lỗi không?

2) Bạn đã thực sự sống như một người con hiếu thảo đối với Chúa chưa?

3) Ơn phép Rửa Tội là gì? Bạn đã sống ơn phép Rửa Tội chưa?

4) Bạn đã thực sự là Tin Mừng cho những người chung quanh chưa?

5) Chúa Giêsu chịu phép rửa trình bày cho ta những hình ảnh nào về Chúa?

ĐTGM Ngô Quang Kiệt