Món quà

Món quà

Nhìn vào các hang đá, ngoài những nhân vật quen thuộc như Chúa Giêsu Hài đồng, Đức Maria, thánh Giuse, mấy mục đồng… Chúng ta còn thấy ba người mặc phẩm phục như những ông vua, tay mang lễ vật, đang khúm núm rất trịnh trọng trước hài nhi mới sinh. Họ là ai? Họ từ đâu đến? Họ thuộc nước nào? Tại sao họ có mặt ở đây?

Theo mẫu đối thoại thánh Matthêu kể lại trong Tin Mừng, người ta truyền tụng nhau và gọi họ là ba vua. Nhưng thực sự Tin Mừng không nói thế mà chỉ gọi họ là các nhà chiêm tinh, tức là các ông lớn, những nhà thông thái, chuyên nghiên cứu thiên văn, nghiên cứu các ngôi sao để cố vấn cho nhà vua trong vấn đề chính trị.

Có nhiều người lại đặt ra vấn đề: các ông này có thật không hay chỉ là một huyền thoại? Cho đến nay, ngoài phạm vi tôn giáo, chưa có một nguồn tài liệu nào khẳng định rõ ràng dứt khoát. Ở vùng Trung Đông có rất nhiều nước kể chuyện này và được coi như một chuyện cổ tích. Nhưng đối với chúng ta, dựa vào Tin Mừng, thì sự hiện diện của ba vị này ở hang đá Bêlem là chuyện có thực. Nhưng các ông từ đâu đến thì chúng ta không thể căn cứ vào đâu mà xác quyết. Có một điều chắc chắn là cũng chỉ ở trong vùng Trung Đông thôi. Tuy nhiên, những chi tiết đó không quan trọng, điều quan trọng nhất là bài học mà các vị này để lại cho chúng ta.

Trước hết, cuộc hành trình của các nhà chiêm tinh được xem là hình ảnh cuộc hành trình đức tin của chúng ta. Với một dấu hiệu không chắc chắn, không rõ rệt là một ngôi sao, các ông đã lên đường tìm kiếm sự thật. Với tấm lòng yêu chuộng sự thật, các ông đã miệt mài tìm kiếm cho đến khi biết được sự thật và gặp được Chúa Giêsu. Cuộc đời của chúng ta cũng phải luôn đi tìm Chúa. Dù chúng ta đã có đức tin, nhưng lòng tin của chúng ta có những lúc bị chao đảo, bị thử thách vì những khó khăn, đau khổ của cuộc sống. Nhưng dù hoàn cảnh thế nào, chúng ta vẫn kiên quyết giữ đức tin và sống đức tin.

Chúng ta phải sống bằng đức tin chứ không thể sống bằng tình cảm. Trong tình cảm có vui có buồn. Nhưng vui buồn lúc có lúc không. Nếu chúng ta chỉ dựa vào niềm vui và khi vui mới khiến chúng ta tin. Vậy khi hết niềm vui thì sao? Lòng tin của chúng ta sẽ bị suy giảm. Hay khi gặp những chuyện buồn thì sao? Chúng ta còn tin không? Vì thế, chúng ta phải sống bằng niềm tin vững chắc, không lệ thuộc vào ai, cũng không lệ thuộc vào hoàn cảnh.

Hơn nữa, đức tin của chúng ta phải được thể hiện bằng những việc làm cụ thể. Thánh Giacôbê đã nói: “Đức tin không có việc làm là một đức tin chết”. Chúng ta tin vào tình yêu Chúa Kitô. Niềm tin ấy không chỉ là một hạt giống gieo trong lòng chúng ta rồi nằm yên đấy. Một niềm tin như thế có lẽ chẳng ích lợi gì cho chính mình hay cho bất cứ ai. Đức tin của chúng ta cần phải trổ sinh hoa trái bằng việc làm để mọi người có thể hiểu được thế nào là tình yêu mà chúng ta tin và có thể nhận ra khuôn mặt của Đấng mà chúng ta suy phục, tôn thờ.

Thứ hai, các vị này đã dâng cho Chúa Hài đồng vàng, nhũ hương và mộc dược. Đó là ba loại lễ vật đặc biệt và quí giá nhất của Đông phương. Nhưng những lễ vật vô tri kia chỉ là dấu hiệu biểu lộ tâm hồn của họ, chứng tỏ lòng ngưỡng mộ, tôn kính và yêu mến của họ đối với Chúa Hài đồng.

Văn sĩ Dô-ơ-den-sen (Joergensen), người Đan Mạch đã nghĩ ra một câu chuyện minh họa cho chúng ta thấy rõ điều đó. Ông đã tưởng tượng ra một vị chiêm tinh thứ tư. Vị này đến gặp Chúa Giêsu hài đồng sau ba vị kia. Gặp Chúa, nhưng ông rất buồn vì không còn gì để dâng tặng cho Ngài. Trước khi lên đường, ông đem theo ba viên ngọc quí giá. Dọc đường, ông gặp một cụ già đói nghèo, ông tặng viên ngọc thứ nhất. Đi thêm một đoạn đường, ông gặp một toán lính đang làm nhục một cô gái. Ông lấy viên ngọc thứ hai thương lượng với chúng để chuộc cô gái. Cuối cùng, khi đến Bêlem, ông gặp một người lính do vua Hêrôđê sai đi để tàn sát các hài nhi, ông lấy viên ngọc thứ ba cho anh ta và thuyết phục anh ta từ bỏ hành động gian ác. Đến khi gặp được Chúa Hài đồng, ông chỉ còn hai bàn tay trắng. Ông bối rối kể lại cuộc hành trình của mình. Nhưng thật lạ lùng, Chúa Giêsu đưa hai tay ra và mỉm cười nói với ông: “Con đã dâng cho Ta món quà quí giá nhất. Nó không phải là vàng bạc châu báu, nhưng được dệt bằng những nghĩa cử đối với tha nhân”.

Chúa Giêsu đã nói: “Bất cứ điều gì các con làm cho người khác là làm cho chính Ta”. Chúng ta vẫn luôn gặp Chúa trong cuộc sống hằng ngày qua những anh chị em sống với chúng ta, và tất cả những gì chúng ta làm cho họ là chúng ta làm cho chính Chúa. Như vậy, lễ vật làm hài lòng Chúa nhất chính là những gì chúng ta trao tặng cho tha nhân.

Sưu tầm

Ra đi

Ra đi

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

Thiên Chúa không chỉ tỏ mình cho dân Israel. Ngài còn tỏ mình cho các dân tộc khác, vì Ngài muốn cứu độ mọi người chẳng trừ ai.

Các nhà chiêm tinh vùng Babylon là đại diện cho dân ngoại.

Đối với họ, bầu trời là một cuốn sách, các vì sao nói về những biến cố trên địa cầu. Có thể Thiên Chúa đã muốn dùng sự xuất hiện của một vì sao để báo hiệu Con Ngài chào đời.

Thiên Chúa chấp nhận dùng thứ ngôn ngữ đầy khiếm khuyết đó để mời họ lên đường đi gặp Đấng Cứu Độ.

Hôm nay, Ngài vẫn ngỏ lời với những ai chưa biết Ngài bằng muôn vàn cách thức khác nhau, khiến họ hiểu được.

Thiên Chúa vẫn làm sáng lên muôn ánh sao, không ở trên trời cao, nhưng ở trong lòng người.

Ánh sao có thể là một lý tưởng, một khát vọng mãnh liệt: khát vọng sự thật, tự do, ấm no, hạnh phúc?

Ánh sao đưa con người lên đường tìm kiếm, và Ngài không ngừng ban niềm vui trong suốt cuộc hành trình.

Các nhà chiêm tinh đã phải ra khỏi nhà, ra khỏi mình, ra khỏi những định kiến, để đón tiếp cái bất ngờ.

Họ chỉ mong được bái lạy vị Vua mới sinh. Nhưng vị Vua này chẳng ở Giêrusalem cao sang, mà lại ở vùng Bêlem bé nhỏ.

Vị lãnh tụ dân Israel chỉ là một hài nhi bình thường, sống trong một căn nhà bình thường.

Hêrôđê bối rối lo sợ khi nghe tin sinh hạ Vua Do thái.

Các thượng tế và kinh sư tuy biết rõ nơi Ngài sinh, nhưng họ không muốn lên đường tìm kiếm.

Các nhà chiêm tinh chỉ có một cái biết mơ hồ, nhưng họ đã can đảm ra đi, tích cực tìm kiếm, tin tưởng sấp mình bái lạy và cung kính dâng lễ vật.

Vẫn có đám đông những người không phải là Kitô hữu đang miệt mài nghiên cứu trong mọi lãnh vực, khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, tư tưởng…, đang gắng công tu tập trong các tôn giáo, hay đang tận tụy làm cho trái đất được tốt đẹp hơn. Có ánh sáng nào soi chiếu nẻo đường họ đi. Họ đã chấp nhận bao hy sinh từ bỏ, để nhẹ nhàng, thanh tịnh mà tiến bước.

Các nhà chiêm tinh ngày xưa đã gặp được Đấng họ tìm.

Hôm nay, còn bao người vẫn trên đường dong ruổi. Thiên Chúa đồng hành với họ mà họ chẳng hay. Họ đã ở gần Chúa ngay khi chưa gặp Ngài.

Lễ Chúa Hiển Linh mời ta nhận ra và trân trọng hoạt động của Thiên Chúa nơi anh chị em ngoài Kitô giáo.

Có khi chúng ta giống các thượng tế và kinh sư tự mãn với cái biết lý thuyết của mình về Thiên Chúa, nên chẳng muốn lên đường gặp mặt Ngài.

Ước gì chúng ta không coi mình như người đã tìm thấy, nhưng khiêm tốn học hỏi nơi những người đang tìm kiếm.

Gợi Ý Chia Sẻ

Bạn có nhìn thấy Thiên Chúa đang hoạt động nơi những anh chị em ngoài Kitô giáo không? Bạn có quen ai làm bạn cảm phục không?

Thiên Chúa đến với bạn qua những đại lộ (là Thánh Lễ, các Bí Tích…) Nhưng Ngài cũng đến với bạn qua các ngõ hẻm (một biến cố, một bài báo, một câu nói bâng quơ…). Đâu là những ngõ hẻm Chúa thường đến với bạn?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ, nhờ đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói, dễ thấy Chúa hiện diện và hoạt động trong đời con.

Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa, xin cho con đừng trở nên cứng cỏi, khép kín và nghi ngờ. Xin dạy con sự hiền hậu để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân. Xin dạy con sự khiêm nhu để con dám buông đời con cho Chúa. Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm, vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài, hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen.

 

 

Gặp được Chúa Cứu Thế

Gặp được Chúa Cứu Thế

(Trích trong ‘Suy Niệm Phúc Âm Hằng Ngày’)

Hôm nay chúng ta mừng lễ ba Vua, tức lễ Hiển Linh. Dựa vào Thánh Kinh và Thánh Truyền kể lại việc tìm kiếm Chúa của Ba Vua từ Phương Đông miền đất Palestina, theo sự hướng dẫn của một vì sao lạ. Các ngài đã khám phá ra dấu lạ, rủ nhau lần mò dò dẫm tìm đến Bethlem, và cuối cùng sau cuộc lộ trình đường xa nhiều gian khổ và nguy nan, các ngài đã gặp được Chúa Cứu Thế.

Như ngày lễ Giáng Sinh, lễ Hiển Linh biểu lộ một niềm vui, đó là những hình ảnh, những gói quà, lạc đà, Ba Vua, ngôi sao, nhưng còn vui hơn vì ý nghĩa quan trọng chứa đựng trong ngày lễ này, đó là việc Chúa tỏ mình ra cho các dân, các nước. Ngài là Vua các vua và mọi dân tộc khắp bờ cõi trái đất đều phải tôn thờ Ngài.

Nơi bài đọc I, Giáo hội dùng bài ca trở về của dân Do Thái nơi sách tiên tri Isaia để diễn tả niềm vui của người được cứu thoát khi vinh quang của Chúa bừng dậy. Một số những người nô lệ ở Babylon thuộc dân Do Thái nghĩ mình đang sống trong đêm tối, họ mất hết niềm vui, không còn hứng thú gì để đàn ca xướng hát. Họ đặt những nhạc khí, họ treo những cây đàn nơi gốc cây, nơi cành cây dọc bên bờ sông Babylon, và nơi bờ sông họ ngồi khóc nhớ Sion, nhớ về Thành Thánh Jérusalem.

Nhưng vui mừng biết bao ngày cứu thoát đến, ngày trở về quê hương, ngày được gặp lại Jérusalem, được lên đền thờ dâng lễ tạ ơn Chúa. Và điều đặc biệt là ánh sáng bừng lên ở Jérusalem. Đây không phải là ánh sáng của trần gian mà là ánh sáng của chính Thiên Chúa. Thiên Chúa là ánh sáng và khi Chúa là ánh sáng thì Ngài không phải chỉ là ánh sáng của Israel mà thôi nhưng Ngài còn là ánh sáng của muôn dân, muôn nước. Từ đó những kho tàng bể khơi tuốn đến Jérusalem, nguồn phú túc của chư dân sẽ tới Jérusalem. Tất cả muôn người lũ lượt từ các nơi tuôn đến Jérusalem. miệng cao rao những lời ngợi khen Thiên Chúa.

Nếu bài đọc I trình bày một hình ảnh vui tươi của Jérusalem ngày đại lễ, ngày muôn dân tiến đến trong huy hoàng rực rỡ sang trọng, thì nơi bài đọc II thánh Phaolô đưa hình ảnh ấy lên hàng siêu nhiên. Nơi bài I sự giàu sang phú quí từ các nơi được đưa về để tung hô Chúa, thì nơi bài đọc II đáp lại ân sủng Chúa ban phát dư tràn cho mọi người qua các tông đồ, các tiên tri, nhờ Chúa Thánh Thần thánh hóa. Nhờ lòng thương xót bao la ấy của Thiên Chúa, tất cả dân tộc trên mặt đất đều trở nên người thừa tự, trở nên người cùng một thân thể và thông phần với lời hứa của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô.

Nhìn chung cả hai bài đọc đều diễn tả tình yêu thương hài hòa giữa Thiên Chúa và con người với nhau. Con người một lòng một dạ nhìn nhận Thiên Chúa là Vua. Chúa ban ơn cho con người, nhất là ơn được làm nghĩa tử trong Đức Giêsu Kitô, không phân biệt ai cả.

Bài Phúc Âm diễn tả rõ ràng hơn, cụ thể hơn và sinh động hơn trước mắt ta cuộc tìm kiếm Chúa, rồi được Chúa giúp đỡ ban ơn hướng dẫn. Con người không ngại gian lao cực nhọc và cuối cùng gặp được Chúa. Con người quì gối sụp lạy và dâng lễ vật cho Ngài. Xong trở nên con người mới, đi con đường khác, trở nên với đời sống hằng ngày của mình.

Dựa vào đoạn Phúc Âm duy nhất của thánh Matthêu diễn tả cuộc viếng thăm kỳ diệu này, người ta hay trưng bày vao hang đá trong ngày lễ Hiển Linh ba vị vua. Thật ra, không có chỗ nào nói đó là các vị vua, cũng không có chỗ nào cho biết con số của họ là bao nhiêu. Nhưng truyền thống gọi là ba, vì dựa vào ba lễ vật thánh Matthêu kể ra: vàng, nhũ hương và mộc dược.

Về tên của ba vua là: Kalbar, Manthior và Bankasa, nhưng đến thế kỷ IX người ta mới đề cập đến. Thật ra, tất cả những chi tiết nhỏ này không có nền tảng trong Kinh Thánh và ngôi sao lạ hiện vẫn còn là đối tượng của những giải thích khác nhau. Dầu vậy những điểm chính đã dễ cho chúng ta suy niệm đó là những con người đến từ những xứ xa xôi để tìm vị Vua Do Thái mới sinh ra và khi gặp được Ngài, họ quì gối xuống sụp lạy Ngài.

Hình ảnh ấy cho chúng ta thấy mãi mãi bao lâu Phúc Âm còn rao giảng đều luôn luôn có những đạo sĩ, đó là những người tìm kiếm Chúa bằng cách này hay bằng cách khác. Và khi đã gặp được Chúa, thì thành tâm thực lòng thờ lạy Chúa, nhìn nhận Người là Vua, là Chúa của mình, của đời sống mình, của gia đình mình và cuối cùng là của toàn thể nhân loại.

Cùng với Ba Vua bên máng cỏ, chúng ta hãy tôn thờ uy quyền tối cao của Hài Nhi Giêsu và xin cho chúng ta luôn nhạy cảm đối với những cảm hứng khích lệ của quyền năng Chúa trong tâm hồn mình.

Để có việc làm cụ thể, trong tuần này tôi hình dung ra những tác động của Ba Vua trên con đường tìm Chúa. Đó là để tâm, để ý tìm hiểu sự kiện. Dám chấp nhận dấn thân quyết chí tìm gặp cho được Chúa. Khi gặp được Người thì phủ phục tôn thờ và dâng lễ vật. Rồi sau cùng, từ bỏ con đường cũ, đi theo con đường mới, con đường của tin yêu và hy vọng, con đường của sự sống bất diệt trên thiên quốc.

Veritas Radio

Ánh sao đạo đức

 Ánh sao đạo đức

Hôm nay, Ba Vua trên đường tìm đến thờ lạy Chúa Cứu Thế Giáng Sinh. Ba Vua là những người phương xa, không có đạo. Các Ngài tìm đến Chúa theo ánh sáng của ngôi sao lạ. Theo ngôi sao, các Ngài đến được Giêrusalem và được nghe giải nghĩa Thánh Kinh. Theo ngôi sao đưa đường dẫn lối các Ngài đã gặp được Chúa. Ánh sao đã chiếu sáng bầu trời đen tối, giúp các Ngài nhận định được hướng đi. Lời Thánh Kinh là một ánh sao chiếu soi tâm hồn giúp họ sáng lên niềm tin. Nhưng chính Đức Giêsu mới là ngôi sao mai dẫn họ đi vào một con đường mới, con đường chói ngời ngọn lửa đức mến.

Ngày nay có nhiều người đang tìm kiếm Chúa. Nhiều người muốn biết Chúa để theo Chúa. Nhưng họ không biết đường biết hướng. Cũng như Ba Vua, họ cần có những ánh sao soi đường dẫn lối.

Tìm đâu ra ngôi sao xưa đã soi đường cho Ba Vua? Ngày nay, Chúa không dùng ngôi sao xuất hiện trên trời, nhưng muốn mỗi người chúng ta trở thành một vì sao soi dẫn mọi người đến với Chúa.

Là ngôi sao có nghĩa là phải có ánh sáng. Ngôi sao chỉ chiếu sáng khi chính bản thân nó có ánh sáng. Người Kitô hữu chỉ chiếu sáng khi chính cuộc sống của họ mang ánh sáng, phản chiếu ánh sáng nhận tự nơi Thiên Chúa.

Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng hy vọng. Niềm hy vọng vào ơn cứu độ của Chúa giúp ta vừng bước trên đường lý tưởng. Niềm hy vọng vào một trời mới đất mới cho ta thêm sức mạnh góp phần xây dựng xã hội tốt đẹp. Niềm hy vọng vào hạnh phúc thiên đàng giúp ta đánh gía đúng mức của cải vật chất đời này. Hy vọng là ánh sáng làm tươi đẹp con người và cuộc đời.

Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng tin yêu. Tin yêu Chúa và tin yêu người. Tin yêu để xây dựng một cuộc sống chan hoà tình người. Tin yêu đẻ tha thứ hoà giải. Tin yêu để vượt qua mọi bóng tối thù hận, chia rẽ, bất hoà. Tin yêu là làn ánh sáng ấm áp làm cho thế giới trở nên gần gũi, con người trở nên thân thiện, cuộc đời trở thành đáng yêu đáng mến.

Người Kitô hữu phải chiếu lên làn ánh sáng công bình, bác ái. Niềm hy vọng, niềm tin yêu được chứng minh bằng đời sống công bình, bác ái. Tin Chúa được biểu lộ qua sự công bình trong đời sống. Yêu Chúa được thể hiện qua tình bác ái với tha nhân.

Tất cả những làn ánh sáng nói trên góp lại thành ánh sáng đạo đức. Đắm chìm vào vật chất sẽ khiến con người rơi vào bóng tối tuyệt vọng, không lối thoát. Nghi ngờ con người sẽ khiến cuộc đời chìm vào bóng tối cô đơn. Thiếu công bình bác ái sẽ phủ lên thế giới mới một bóng tối phi nhân, tàn nhẫn. Chỉ có ánh sáng đạo đức mới đủ sức phá tan những bóng tối ấy. Chỉ có ánh sáng đạo đức mới làm cho thế giới thành vui tươi hạnh phúc.

Thế giới đang mong chờ ánh sao dẫn đường. Chúa đang mời gọi chúng ta trở thành một ngôi sao chiếu lên làn ánh sáng đạo đức. Chính qua làn ánh sáng ấy, mọi người sẽ nhận biết và yêu mến Chúa.

Lạy Chúa, xin giúp con sống xứng đáng là người con của Chúa sự sáng. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Bạn nghĩ gì về cuộc tìm kiếm của Ba Vua? Bạn có kiên trì tìm Chúa như Ba Vua không?

2. Bạn nghĩ gì về bổn phận làm chứng cho Chúa? Bạn có mong ước trở thành ngôi sao dẫn đưa mọi người đến với Chúa không?

3. Đâu là những ánh sáng người Kitô hữu phải có để dẫn người khác tới Chúa? Trong năm mới này, bạn sẽ làm gì để làm chứng cho Chúa?

ĐTGM Ngô Quang Kiệt
 

Lễ Hiển Linh

Lễ Hiển Linh

Khi ngôi sao chiếu sáng trên bầu trời Bêlem, là lúc tình trạng dân Israel như thầy tư tế già Dacaria phát biểu “ngồi trong nơi tối tăm và trong bóng tử thần” (Lc 1,79). Tuyển dân của Chúa mà còn như thế huống nữa là dân ngoại. Thánh Phaolô phác hoạ tình trạng thuộc linh của dân ngoại: “Thuở ấy anh em không có Đức Kitô, không được hưởng đặc quyền của Israel, xa lạ với các Giao Ước dựa trên lời hứa của Thiên Chúa, không có niềm hy vọng, không có Thiên Chúa ở trần gian này” (Ep 2,12). Tóm lại, lúc Đấng Kitô giáng thế là lúc thế gian suy đồi cùng cực, đang đứng trên bờ vực thẳm, thì ngay khi ấy ngôi sao xuất hiện ở Đông Phuơng đem theo lời hứa vĩ đại Tin Mừng.

1. Ngôi sao của hy vọng.

Trong quan niệm của người Đông Phương, sự xuất hiện của một vì sao trên trời có quan hệ tới một nhân vật dưới trần, nhất là các vị đế vương, người ta vẫn gọi đó là ngôi sao chiếu mạng. Các nhà chiêm tinh Đông Phương đều tin như vậy, vì thế nảy sinh hẳn một môn học chiêm tinh với các khoa tử vi. Lịch sử Trung quốc ghi lại truyện hoàng đế Quang Vũ đời Đông Hán rất kính trọng ông Nghiêm Tử Lăng, sai sứ đi nhiều lần mới mời được ông vào triều, nhà vua tiếp đón ông rất mực kính trọng và thân thiết, giữ ông lại trong cung đến đêm và nằm chung một giường. Nửa đêm, Tử Lăng gác một chân lên bụng nhà vua, nhà vua không nỡ làm ông thức giấc, cứ để yên cho ông làm như vậy. Sáng hôm sau liền có quan thái sử tâu lên vua rằng hồi hôm xem điềm trời, thấy sao của khách xâm phạm sao nhà vua rất gấp, xin hoàng thượng nên để ý. Vua Quang Vũ cả cười nói rằng: “Ta biết rồi, việc này xảy ra chỉ vì ta và Tử Lăng cùng nằm chung một giường, và chân của Tử Lăng gác lên bụng ta mà thôi, các khanh chớ lo!”. Đối với các nhà bác học Đông Phương, sự xuất hiện của một ngôi sao như thế là thực hiện một mong ước từ lâu, vì khi nghiên cứu các tinh tú, họ nhận thức rằng ngôi sao là đại biểu cho “ý muốn vĩnh cửu”. Quan niệm của họ cũng tương hợp với lời tiên tri của Kinh Thánh: “Một vì sao hiện ra từ Giacóp, một vương trượng trỗi dậy từ Israel” (Ds 24,17). Vì vậy khi họ thấy ngôi sao xuất hiện, liền biết thời giờ đã đến, nên chẳng ngần ngại lặn lội đường xa rủ nhau đi tìm cho thấy “vì sao xuất hiện từ Gia cóp” hầu tìm ra con đường sáng cho mình trong một thế giới u minh.

2. Ngôi sao thần bí

Khi nghe được tin này Hêrôđê hết hồn, với tầm óc hiểm độc và quỷ quyệt nhà vua coi đây là một điều rất dữ. Sự xuất hiện của ngôi sao cũng như sự xuất hiện những chữ viết trên bức tường của cung điện vua Benxatxa ngày xưa, dự báo sự diệt vong của nhà vua. Điều đó có nghĩa là sẽ có một vua Giuđa thay cho mình ngồi trên ngai vàng. Do đó nhà vua phải sử dụng đến mọi thủ đoạn ác độc để diệt trừ hậu hoạ khi còn trong trứng nước. Nhưng mưu độc của loài người làm sao phá hỏng được kế hoạch của Thiên Chúa. Con Trẻ mà Hêrôđê tìm giết lại là Con Trẻ thoát khỏi tai hoạ.

Một điều lạ kỳ ấy là ngôi sao một đàng là hy vọng, là niềm vui lớn cho mọi người thiện tâm, lại nên điềm dữ báo nguy cho hạng người tàn ác. Ý nghĩa cao đẹp của nó được những tấm lòng ích kỷ tham lam nhận ra. Sự xuất hiện của ngôi sao báo hiệu ngày tàn của họ đã tới!

3. Ngôi sao dẫn đường.

Ngôi sao trên bầu trời Bêlem đã dẫn các đạo sĩ Đông Phương trải qua cuộc lữ hành xa lạ, đầy khó khăn nguy hiểm đã đem các ông tới nơi Con Trẻ mà các ông muốn kiếm tìm. Chính ngôi sao đã bảo tồn cho họ niềm hy vọng, ước nguyện, đức tin mà Thiên Chúa đã mặc khải cho. Cũng chính ngôi sao đã cho họ thấy Con Trẻ cũng là vua của họ để họ chuẩn bị lễ vật triều kính Ngài.

Ngôi sao trên bầu trời Bêlem vẫn luôn là ngọn đuốc soi đường cho tất cả những ai cần tìm chân lý, muốn được cứu rỗi linh hồn, và mong nhận được lòng yêu thương vĩ đại của Thiên Chúa.

4. Ngôi sao của vui mừng.

“Khi thấy ngôi sao dừng lại chỗ Con Trẻ, các hiền sĩ hết sức vui mừng”. Vì đối tượng mà họ khổ công tìm kiếm nay đã thấy rồi, lòng khao khát chân lý với nếp sống quang minh chính trực nay đã được hoàn toàn thoả mãn. Niềm vui của họ là điềm báo ân phúc lớn lao sau này Chúa dành cho các môn đệ: “Thầy nói điều đó với anh em để niềm vui của Thầy ở cùng anh em và niềm vui của anh em nên trọn vẹn” (Ga 15,11).

Trong những năm sau khi Chúa Giêsu giáng thế, sự vui mừng mà các hiền sĩ Đông Phương đã được hưởng, thì bao nhiêu người khác cũng được huởng nhờ ngôi sao chỉ đường dẫn lối. Lòng khao khát chân lý của họ cũng được đền đáp vì họ nhận được lòng yêu thương vĩ đại của Thiên Chúa dành cho mọi người thiện tâm.

Và nếu ngôi sao trên bầu trời Bêlem này như ngọn đuốc soi đường dẫn các hiền sĩ tới mục tiêu, thì cái thế giới mà chúng ta đang sống đây mới tìm ra được ý nghĩa mới, vui mừng và hy vọng mới thay vì tuyệt vọng và sầu thảm của những ngày cũ.

 

Đức Thánh Cha chủ sự lễ kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa

Đức Thánh Cha chủ sự lễ kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa

VATICAN. Sáng ngày 1-1-2015, ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ trọng thể tại Đền thờ Thánh Phêrô, kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, cũng là Ngày Hòa bình thế giới lần thứ 48.

Đồng tế với ĐTC có khoảng 30 Hồng Y và hơn 40 GM thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh và hàng trăm linh mục, trước sự hiện diện của 9 ngàn tín hữu, trong đó có nhiều vị đại sứ các nước.

Tháp tùng ĐTC trên bàn thờ có ĐHY Quốc vụ khanh Tòa Thánh Pietro Parolin, và vị Phụ tá là Đức TGM Angelo Becciu, Đức TGM Dominique Mamberti, ngoại trưởng Tòa Thánh tân chủ tịch Tối cao pháp viện, ĐHY Peter Turkson, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý hòa bình, và vị Tổng thư ký là Đức Cha Mario Toso, dòng Don Bosco.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng thánh lễ, ĐTC quảng diễn mối liên hệ đặc biệt giữa Chúa Giêsu và Mẹ Maria, và từ đó nói đến quan hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội cũng là Mẹ chúng ta. Ngài nói:

”Khi cử hành lễ trọng kính Đức Maria cực thánh là Mẹ Thiên Chúa, Giáo Hội nhắc nhớ chúng ta rằng Mẹ Maria là người đầu tiên nhận lãnh phúc lành như được nói đến trong bài đọc thứ I trích từ sách Dân Số (Ds 6,24-26). Nơi Mẹ, lời chúc lành được viên mãn: thực vậy, không có thụ tạo nào đã thấy tôn nhan Chúa chiếu tỏa trên mình như Mẹ Maria, Mẹ đã mang khuôn mặt nhân trần cho Ngôi Lời Vĩnh Cửu, để tất cả chúng ta có thể chiêm ngưỡng.

”Ngoài việc chiêm ngưỡng tôn nhan Chúa, chúng ta cũng có thể chúc tụng và tôn vinh Ngài, giống như những người chăn chiên, từ Bêlem trở về, ca hát cảm tạ sau khi đã được thấy Hài Nhi và người Mẹ trẻ của Ngài (Xc Lc 2,16). Hai Đấng ở cùng nhau, như trên Đồi Canvê sau này, vì Chúa Kitô và Mẹ Ngài không thể tách rời nhau: giữa hai vị có một quan hệ rất mật thiết, cũng như giữa mỗi người con và người mẹ. Thân mình Chúa Kitô – là nguyên lý nền tảng ơn cứu độ chúng ta (Tertulliano) – đã được hình thành trong cung lòng Mẹ Maria (Xc Tv 139,13). Sự bất khả phân ly cũng được biểu lộ qua sự kiện Mẹ Maria được tuyển chọn trước để làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ đã chia sẻ trọn vẹn toàn thể sứ mạng của Chúa, ở cạnh Chúa Con cho đến lúc cuối cùng trên đồi Canvê.

Mẹ Maria được liên kết với Chúa Giêsu đến độ nhận được từ nơi Chúa tri thức tâm hồn, tri thức đức tin, được nuôi dưỡng bằng kinh nghiệm hiền mẫu và nhờ mối liên hệ thân mật mới Chúa Con. Đức Thánh Trinh Nữ, là phụ nữ đức tin, đã dành chỗ cho Thiên Chúa trong tâm hồn và trong các dự phóng của Mẹ; Mẹ là người tín hữu có khả năng đón nhận nơi hồng ân Chúa Con biến cố thời gian sung mãn (Gl 4,4), trong đó Thiên Chúa, khi chọn con đường khiêm hạ là cuộc cuộc sống nhân trần, đã đích thân đi vào lịch sử cứu độ. Vì thế ta không thể hiểu được Chúa Giêsu mà không để ý đến Mẹ Ngài.

ĐTC giải thích rằng:
”Chúa Kitô và Giáo Hội cũng không thể tách rời nhau, và ta không thể hiểu ơn cứu độ do Chúa Giêsu mang lại nếu không để ý đến tình mẫu tử của Giáo Hội. Tách rời Chúa Giêsu ra khỏi Giáo Hội là muốn du nhập một sự chia cách vô lý, như chân phước Phaolô 6 đã viết (Xc Evang. nunt. 16). Không thể yêu mến Chúa Kitô mà không yêu mến Giáo Hội, không thể nghe Chúa Kitô mà không nghe Giáo Hội, không thể thuộc về Chúa Kitô mà lại ở ngoài Giáo Hội” (Ib.). Thực vậy chính Giáo Hội, là đại gia đình của Thiên Chúa, đưa Chúa Kitô đến cho chúng ta. Đức tin của chúng ta không phải là một đạo lý trừu tượng hay một triết lý, nhưng là quan hệ sinh động và trọn vẹn với một nhân vật là Chúa Giêsu Kitô, Con duy nhất của Thiên Chúa làm người, chịu chết và sống lại để cứu độ chúng ta và sống giữa chúng ta. Vậy chúng ta có thể gặp Ngài ở đâu? Thưa chúng ta gặp ngài trong Giáo Hội. Chính Giáo Hội nói với chúng ta ngày nay: ”Đây là Chiên Thiên Chúa”, Giáo Hội loan báo Chúa, và chính trong Giáo Hội mà Chúa Giêsu tiếp tục thực hiện những cử chỉ ơn thánh là các bí tích.

”Hoạt động và sứ mạng này của Giáo Hội biểu lộ tình mẫu tử của Giáo Hội. Thực vậy Giáo Hội như một người mẹ dịu dàng gìn giữ Chúa Giêsu và trao Chúa cho tất cả mọi người trong niềm hân hoan và quảng đại. Không có sự biểu lộ nào của Chúa Giêsu, dù là huyền bí nhất, có thể tách rời khỏi mình và máu của Giáo Hội, khỏi đặc tính cụ thể lịch sử của Mình Chúa Kitô. Không có Giáo Hội, thì Chúa Giêsu Kitô rốt cục bị thu hẹp thành một ý tưởng, một nền luân lý, một tình cảm. Không có Giáo Hội, thì tương quan của chúng ta với Chúa Kitô tùy thuộc sự tưởng tượng, những giải thích và tính khí nhất thời của chúng ta.

Và ĐTC kết luận rằng:

”Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu Kitô là phúc lành cho mỗi người và toàn thể nhân loại. Giáo Hội, khi ban Chúa Giêsu cho chúng ta, thì cũng trao tặng cho chúng ta phúc lành viên mãn của Chúa. Đây chính là sứ mạng của dân Chúa: sứ mạng chiếu tỏa phúc lành của Thiên Chúa nhập thể trong Chúa Giêsu Kitô trên mọi dân tộc. Và Mẹ Maria, nữ môn đệ đầu tiên và hoàn hảo của Chúa Giêsu, là mẫu gương cho Giáo Hội lữ hành, chính Mẹ mở con đường tình mẫu tử của Giáo Hội và luôn nâng đỡ sứ mạng làm mẹ của Giáo Hội cho tất cả mọi người. Chứng tá âm thầm và từ mẫu của Mẹ đồng hành với Giáo Hội ngay từ đầu. Người là Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ Giáo Hội, và nhờ Giáo Hội, là Mẹ của tất cả mọi người và mọi dân tộc.

Xin Mẹ dịu dàng và ân cần giúp chúng ta được phúc lành của Chúa cho toàn thể gia đình nhân loại. Đặc biệt ngày hôm nay, Ngày Hòa Bình thế giới, chúng ta hãy cầu xin sự chuyển cầu của Mẹ, xin Chúa ban hòa bình cho thời đại chúng ta: hòa bình trong các tâm hồn, trong các gia đình, hòa bình giữa các dân nước. Đặc biệt năm nay, Sứ điệp Ngày Hòa bình là ”không còn là nô lệ, nhưng là anh chị em”. Tất cả chúng ta được kêu gọi sống tự do, tất cả được kêu gọi trở thành con cái và mỗi người theo trách nhiệm của mình, chiến đấu chống lại những hình thức mới của nạn nô lệ. Từ mọi dân tộc, văn hóa và tôn giáo, chúng ta hãy hiệp lực. Xin Đấng để làm cho tất cả chúng ta thành anh em, đã trở nên tôi tớ của chúng ta, hướng dẫn và nâng đỡ chúng ta”.

ĐTC cũng mời gọi chiêm ngắm Mẹ Maria và đề nghị mọi người cùng nhau kính chào Mẹ như dân thành Ephêsô can đảm đã hô lên trước các vị mục tự khi các vị vào nhà thờ: ”Mẹ thánh của Thiên Chúa!”. Thật là một lời chào thật đẹp đối với Mẹ chúng ta…

Lời nguyện giáo dân

Trong phần lời nguyện giáo dân, Cộng đoàn đã lần lượt cầu nguyện cho ĐTC và các GM, xin Chúa nâng đỡ các vị trong sứ vụ tông đồ và để với lòng dịu dàng cương quyết, các vị hướng dẫn mọi anh chị em đến gặp gỡ và hiệp thông với Chúa Giêsu; cầu cho các nhà lập pháp và chính quyền, xin Chúa làm cho lòng quí chuộng và tôn trọng sự sống cũng như phẩm giá của mỗi người được tái triển nở, và để không một ai phải chịu tủi nhục, áp bức và bạo lực. Cộng đoàn cũng đặc biệt cầu nguyện cho những người bị bách hại vì đức tin, cho hòa bình trong các gia đình, xin Chúa thánh hóa hôn nhân, chúc lành cho các cha mẹ Công Giáo, soi sáng và tháp tùng hành trình của con cái.

Trong phần dâng lễ, 3 em bé người Đức mặc y phục Ba Vua thuộc chiến dịch Lễ Ba Vua, dâng bánh rượu lên ĐTC.

Kinh Truyền Tin
Thánh lễ kéo dài gần một tiếng rưỡi đồng hồ. Sau đó lúc 12 giờ trưa, ĐTC đã xuất hiện tại cửa sổ ở lầu 3 của dinh Tông Tòa để chủ sự kinh Truyền Tin với 50 ngàn tín hữu tụ tập tại Quảng trường Thánh Phêrô dưới bầu trời nắng đẹp nhưng gió lạnh.

Trong số những người hiện diện đặc biệt có hằng trăm người thuộc đoàn tuần hành hòa bình do Cộng đồng thánh Egidio tổ chức, năm nay có chủ đề là ”Hòa bình trên toàn trái đất”. Đây là lần thứ 13 cuộc tuần hành hòa bình này được tổ chức và năm nay cũng diễn ra tại hơn 800 thành phố tại 82 nước trên thế giới.

Trong cuộc tuần hành từ đầu đường Hòa Giải đến Quảng trường thánh Phêrô, có nhắc đến 27 cuộc xung đột vẫn còn diễn ra tại nhiều miền trên thế giới, như Siria, Trung Phi, Nam Sudan, Trung Đông, Nigeria, Irak, Afganistan, Pakistan..

Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, ĐTC cũng nhắc đến sự liên kết mật thiết giữa Chúa Kitô và Mẹ Ngài. ”Không thể tách rời sự chiêm ngắm Chúa Giêsu, Ngôi Lời Sự Sống trở nên hữu hình và có thể đụng chạm đến được (Xc 1 Ga 1,1), ra khỏi sự chiêm ngắm Mẹ Maria Đấng đã trao ban cho Người tình thương và xác thể nhân trần của Mẹ”.

Nhân ngày đầu năm mới, ĐTC cũng nhắc nhở các tín hữu nhớ đến ngày mình chịu phép rửa tội, tái khám phá món quà nhận được trong bí tích này, tái sinh chúng ta vào đời sống mới, sự sống thần linh. Việc tái sinh này qua Mẹ Giáo Hội, có mẫu gương là Mẹ Maria. Nhờ phép rửa, chúng ta được dẫn vào sự hiệp thông với Thiên Chúa và chúng ta không còn tùy thuộc sự ác và tội lỗi nữa. Trái lại chúng ta nhận được tình thương, sự dịu hiền và lòng từ bi của Chúa Cha trên trời.

Nhắc đến Ngày Hòa bình thế giới, ĐTC nhấn mạnh rằng kinh nguyện là cội rễ của hòa bình và hòa bình luôn luôn là điều có thể. Kinh nguyện làm cho hòa bình nẩy mầm. Ngày Hòa bình năm nay có chủ đề là ”không còn là nô lệ nữa, nhưng là anh chị em”. Sứ điệp này có liên hệ tới tất cả chúng ta. Tất cả đều được mời gọi bài trừ mọi hình thức nô lệ và xây dựng tình huynh đệ.

Trong phần chào thăm các tín hữu sau phép lành, ĐTC đến sự kiện Buổi đọc kinh Truyền Tin nhân ngày Hòa Bình thế giới 2015 cũng được nối với đồi Miravalle ở Rovereto thuộc tỉnh Trento, bắc Italia, nơi có quả chuông khổng lồ cao 3 mét 36, đường kính 3 mét 21 và nặng 256 tạ, mang tên là Maria Dolens, Đức Mẹ đau thương, đúc cách đây 90 năm và được ĐGH Phaolô 6 làm phép cách đây 50 năm (1965). Chuông thường được đánh lên để tưởng niệm tất cả các những binh sĩ tử trận trong mọi cuộc chiến, đặc biệt là thế chiến thứ I.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Đức Thánh Cha chủ sự Kinh Chiều I lễ Mẹ Thiên Chúa

Đức Thánh Cha chủ sự Kinh Chiều I lễ Mẹ Thiên Chúa

VATICAN. Chiều 31-12-2014, ĐTC Phanxicô đã chủ sự kinh chiều I lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và hát kinh Te Deum, Tạ Ơn Thiên Chúa, nhân dịp cuối năm dương lịch. Ngài mời gọi dân thành Roma xét mình và loại bỏ mọi sự nô lệ còn đè nặng trong tâm hồn.

Hiện diện tại Đền thờ Thánh Phêrô trong buổi hát kinh bắt đầu lúc 5 giờ chiều còn có 30 HY, và 30 GM khác, và khoảng 8 ngàn tín hữu.

Trong bài giảng sau bài đọc ngắn, ĐTC mời gọi các tín hữu cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa vì những hồng ân đã nhận lãnh trong năm kết thúc, đồng thời xét mình xin Chúa tha thứ mọi lỗi lầm. Ngài nói:

”Chúng ta chúc tụng Chúa vì hồng ân cao cả chúng ta đã nhận lãnh: Chúa đã làm cho chúng ta được trở nên con cái của Người. Nhưng vì tội nguyên tổ, quan hệ này bị thương tổn sâu đậm. Dầu vậy Chúa Giêsu đã cứu thoát chúng ta khỏi ách nô lệ. Vì thế, hồng ân chúng ta đã lãnh nhận thúc đẩy chúng ta tự hỏi xem mình đang sống như con cái hay như nô lệ. Trong hành trình cuộc sống của chúng ta luôn có xu hướng chống lại sự giải thoát; chúng ta sợ tự do và điều nghịch lý là chúng ta vô tình thích sự nô lệ hơn. Tự do làm cho chúng ta kinh hãi vì nó đặt chúng ta trước thời gian và trước trách nhiệm của chúng ta phải sống thời gian một cách tốt đẹp..

”Nô lệ thu hẹp thời gian thành lúc nhất thời này và làm cho chúng ta tách rời khỏi quá khứ và tương lai, và vì thế nó cũng ngăn cản chúng ta sống trọn vẹn' hiện tại.

ĐTC nhắc đến một đại nghệ sĩ Italia (Roberto Begnini) cách đây vài ngày đã nói rằng đưa dân Israel ra khỏi Ai Cập thì dễ hơn là đưa Ai cập ra khỏi tâm hồn họ: ”Trong tâm hồn chúng ta có sự nhớ nhung sự nô lệ, vì nó có vẻ trấn an hơn là tự do, tự do là điều có nhiều rủi ro. Chúng ta thích ở trong lồng với bao nhiêu pháo bông, bề ngoài có vẻ đẹp, nhưng trong thực tế chúng chỉ kéo dài trong chốc lát. Đó là thứ vương quốc, là sự quyến rũ của lúc này!”.

ĐTC mời gọi những người sống ở Roma hãy xét mình và nhắc đến những vụ tham ô trầm trọng mới đây, ngài kêu gọi hoán cải tâm hồn và tái sinh tinh thần và luân lý, cũng như tái dấn thân xây dựng một thành thị công bằng và liên đới hơn với những người nghèo, đặt họ ở trung tâm những quan tâm và hành động hằng ngày của chúng ta. Ngài nói:

”Cần có một thái độ thường nhật trong tinh thần tự do Kitô để có can đảm tuyên bố trong thành thị của chúng ta rằng cần bảo vệ người nghèo, chứ không phải tự vệ đối với người nghèo, cần phục vụ người yếu, chứ không lợi dụng người yếu… Khi một xã hội làm ngơ không biết đến người nghèo, bách hại họ, lên án họ, buộc họ phải trở thành những người mafia, thì xã hội đó lầm than, mất tự do, thích củ hành củ tỏi của thời nô lệ, nô lệ sự ích kỷ, nô lệ sự ngát đảm của mình, và lúc đó xã hội ấy không còn tinh thần Kitô nữa”.

Cuối kinh chiều, có nghi thức đặt Mình Thánh Chúa và hát kinh Te Deum tạ ơn Thiên Chúa. Sau đó, ĐTC đã tiến ra quảng trường thánh Phêrô viếng thăm và cầu nguyện hang đá lớn tại đây. Hang đá máng cỏ với các pho tượng bằng đất nung, với kích thước như người thật, do Hội Arena thành Verona, bắc Italia tặng cho Tòa Thánh.

Sau khi viếng hang đá, ĐTC còn bắt tay chào thăm đông đảo tín hữu đứng chờ ngài tại đó, mặc dù trời giá lạnh.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi liên đới trợ giúp và cầu nguyện cho các gia đình gặp khó khăn

Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi liên đới trợ giúp và cầu nguyện cho các gia đình gặp khó khăn

Ánh sáng đến từ Thánh Gia khích lệ chúng ta cống hiến hơi ấm tình người cho các gia đình thiếu an bình, hòa hợp và tha thứ. Chúng ta cũng đừng thiếu tình liên đới cụ thể đối với các gia đình gặp khó khăn vì bệnh tật, thiếu công ăn việc làm, bị kỳ thị, phải di cư.

Kính thưa qúy vị thính giả, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với mấy chục ngàn tìn hữu và du khách hành hương tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin tại quảng trường Thánh Phêrô trưa Chúa Nhật lễ Thánh Gia hôm qua.

Mở đầu bài huấn dụ ngài nói: Trong ngày Chúa Nhật đầu tiên sau lễ Giáng Sinh, trong khi chúng ta còn đang chìm ngập trong bầu khi tươi vui của ngày lễ, Giáo Hội mời gọi chúng ta chiêm ngưỡng Thánh Gia Nagiarét. Phúc Âm hôm nay giới thiệu với chúng ta Đức Mẹ và Thánh Giuse trong lúc các Ngài đến Đền Thờ Giêrusalem, bốn mươi ngày sau khi Chúa Giêsu sinh ra. Các Ngài làm điều này vì vâng lời Luật Môshê, dậy phải dâng con đầu lòng cho Chúa (x. Lc 2,22-24).

Chúng ta có thể tưởng tượng ra gia đình bé nhỏ ấy, giữa biết bao nhiêu người, trong các sân rộng lớn của đền thờ. Nó không hiện lên trước mắt, người ta không phân biệt được nó… Thế nhưng nó không đi qua mà không được quan sát! Có hai cụ già, ông Simeon và bà Anna, được Thánh Thần thúc đẩy, đến gần và bắt đầu chúc tụng Thiên Chúa vì Con Trẻ mà họ nhận ra là Đấng Messia, là ánh sáng muôn dân và là ơn cứu độ của Israel (x. Lc 2,22-38). Đó là một lúc đơn sơ nhưng giầu ý nghĩa ngôn sứ: cuộc gặp gỡ giữa hai vợ chồng trẻ tràn đầy niềm vui và đức tin vì các ơn của Chúa, và hai cụ già cũng tràn ngập niềm vui và đức tin vì hoạt động của Thần Khí. Ai đã làm cho họ gặp gỡ nhau? Và Đức Thánh Cha trả lời câu hỏi này:

Chúa Giêsu, Chúa Giêsu làm cho họ gặp nhau: các ngưởi trẻ và các người già. Đó là suối nguồn của tình yêu kết hiệp các gia đình và con người, bằng cách chiến thắng mọi nghi ngờ dè dặt, mọi cô lập, mọi xa cách. Điều này khiến chúng ta cũng nghĩ tới các bậc ông bà: sự hiện diện của các ngài, sự hiện diện của các ông bà quan trọng biết bao! Vai trò của các ngài trong gia đình và trong xã hội quý báu biết bao! Tương quan tốt giữa các người trẻ và các người già định đoạt đối với con đường của cộng đoàn dân sự và cộng đoàn giáo hội. Và khi nhìn hai cụ già này, hai ông bà nội ngoại – Simeon và Anna – này, từ quảng trường này chúng ta chào tất cả các ông bà nội ngoại trên thế giới với một tràng pháo tay. Mọi ngưòi hiện diện đã vỗ tay vang dội.

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Sứ điệp đến từ Thánh Gia trước hết là một sứ điệp của đức tin. Trong cuộc sống gia đình của Mẹ Maria và thánh Giuse Thiên Chúa thực sự ở trung tâm, và Ngài ở đó trong Con Người của Đức Giêsu. Vì thế gia đình Nagiarét thánh thiện. Tại sao vậy? Bởi vì nó tập trung nơi Chúa Giêsu. Đức Thánh Cha quảng diễn thêm điểm này như sau:

Khi cha mẹ và con cái cùng hít thở bầu khí đức tin, họ có một năng lực cho phép đương đầu với cả các thử thách khó khăn, như kinh nghiệm của Thánh Gia cho thấy, chẳng hạn trong biến cố thê thảm của cuộc trốn chạy sang Ai Cập: một thử thách cam go.

Con Trẻ Giêsu cùng với Mẹ Người là Maria và thánh Giuse là một hình ảnh gia đình đơn sơ nhưng ngời sáng biết bao. Ánh sáng mà nó dãi tỏa ra là ánh sáng của lòng thương xót và ơn cứu độ cho toàn thế giới, ánh sáng của chân lý cho mọi người, cho gia đình nhân loại và cho các gia đình riêng rẽ. Ánh sáng đến từ Thánh Gia đó khích lệ chúng ta cống hiến hơi ấm tình người trong các tình trạng gia đình, trong đó, vì các lý do khác nhau, thiếu bình an, thiếu hòa hợp, thiếu tha thứ. Ước chi tình liên đới cụ thể của chúng ta đừng suy giảm đối với các gia đình đang sống trong những tình cảnh khó khăn nhất, vì bệnh tật, thiếu công việc làm, vì các kỳ thị, vì nhu cầu phải di cư…Và ở đây chúng ta hãy dừng lại một chút và cầu nguyện trong thinh lặng cho tất cả các gia đình gặp khó khăn, khó khăn vì bệnh tật, thiếu việc làm, bị kỳ thị, cần di cư, khó khăn để hiểu nhau và cả chia rẽ nữa. Trong thinh lặng chúng ta cầu nguyện cho tất cả các gia đình này. Đức Thánh Cha và mọi người đã đọc một Kinh Kính Mừng cầu cho các gia đình gặp khó khăn. Rồi ngài kết thúc bài huấn từ như sau:

Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ Maria, Nữ Vương và là mẹ gia đình, tất cả các gia đình trên thế giới, để các gia đình có thể sống trong đức tin, trong sự hòa hợp, trợ giúp lẫn nhau, và vì thế tôi khẩn nài trên các gia đình sự bầu cử hiền mẫu của Đấng là mẹ và là nữ tử của Con Ngài.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc Kinh Truyền Tin và ban Phép lành Tòa Thánh cho mọi người. Xin qúy vị cùng hiệp ý cầu nguyện với Đức Thánh Cha.

Sau kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha nói:
Anh chị em thân mến, trong lúc này đây tôi nghĩ tới các hành khách chuyến bay của hãng hàng không Malaysia bị mất tích trong khi bay từ Indonesia sang Singapore, cũng như các hành khách các con tầu trong các giờ qua di chuyển trên biển Adriatico bị tai nạn. Trong sự trìu mến và lời câu nguyện tôi gần gũi với gia đình các nạn nhân và những ai đau khổ vì các tình trạng khó khăn này, cũng như những người dấn thân trong công tác cứu trợ.

Hôm nay lời chào đầu tiên xin gửi tới tất cả các gia đình hiện diện. Xin Thánh Gia chúc lành cho anh chị em và hướng dẫn anh chị em trên con đường đời sống. Đức Thánh Cha đã đặc biệt chào nhiều bạn trẻ các giáo phận Bergamo và Vicenza đã hay đang chuẩn bị lãnh bí tích Thêm Sức, các hướng đạo sinh Villamassargia và các trẻ em giúp lễ Sambrusco Venezzia. Ngài cám ơn mọi ngưởi về các lòi chúc mừng lễ cũng như lời cầu nguyện cho ngài. Đức Thánh Cha xin tất cả mọi người tiếp tục cầu nguyện cho ngài, rồi ngài chúc tất cả một bữa trưa ngon miệng và một ngày Chúa Nhật an bình.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Bầu khí mừng Giáng Sinh đó đây trên thế giới

Bầu khí mừng Giáng Sinh đó đây trên thế giới

** Trong ngày lễ Giáng Sinh xin kính mời qúy vị cùng chúng tôi theo dõi bầu khí mừng lễ tại một vài nơi trên thế giới.

Bắt đầu từ Bếtlêhem bên Thánh Địa là nơi Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa đã giáng sinh cách đây hơn 2,000 năm. Các chương trình lễ Giáng Sinh vẫn được tổ chức như mọi năm, với sự tham dự của nhiều đoàn hành hương quốc tế, trong đó có nhóm các linh mục tu sĩ nam nữ đang tu học tại Roma, do cha Bùi Công Trác Phó giám đốc trường thánh Phaolô hướng dẫn. Tuy nhiên, bầu khí Giáng Sinh kém vui hẳn vì các căng thẳng mới đây giữa các nhóm Do thái qúa khích và người Palestin trên khu vực Đền Thờ xưa kia, nơi đã biến thành đền thờ hồi giáo từ đầu thế kỷ thứ VII, và nhất là các hậu qủa chết chóc tàn phá của cuộc chiến 50 ngày giữa lực lượng Hamas và quân đội Israel trong dải Gaza mùa hè năm nay, khiến cho 2,200 người chết đa số là người Palestin, 3,000 người bị thương và 54,000 người phải tản cư lánh nạn.

Trong sứ điệp giáng sinh Đức Thưọng Phụ Giêrusalem Fouad Twal ghi nhận rằng trong năm 2014 mọi người phải chứng kiến cảnh gia tăng bạo lực và các phản ứng thù nghịch sau đó. Ngài viết “cuộc chiến tàn phá và việc đổ máu đi kèm tại Gaza, được kể là tàn hại hơn hết… Chúng ta lên án cuộc chiến Gaza và kết án các hậu quả thảm hại của nó: giết chóc và tàn phá; nhưng đồng thời, chúng ta cũng lên án bất cứ loại bạo lực và trả đũa nào chống lại người vô tội như các cuộc sát hại những người đang cầu nguyện tại nguyện đường Do Thái và các cuộc tấn công vào đền thờ Hồi Giáo”.

Đức Thượng phụ cũng đề cập tới số phận người tị nạn Syria và Iraq và tỏ ý lo ngại đối với hai cộng đoàn Dòng Salêgiêng và 58 gia đình Kitô hữu có đất đai tại Thung Lũng Cremisan bị trưng thu để mở rộng bức tường phân cách ở Cisgiordania.

Ngài kết luận “Trong mọi khó khăn và đau khổ, chúng ta biết ơn tình liên đới của nhiều người, nhiều tổ chức, định chế và chính phủ, đã tới giúp chúng ta nhiều cách và bằng nhiều phương tiện. Việc cử hành ngày sinh của Chúa Giêsu hứa hẹn từ bi, yêu thương, bình an cho rất nhiều người đang sống trong buồn sầu và đau đớn; nhiều người đang thấy cuộc đời họ bị tan nát, các cố gắng của họ bị chặn đứng trong tranh chấp và hận thù hỗn loạn”.

** Chúa Nhật 21-12 vừa qua Đức Thượng Phụ đã viếng thăm giáo xứ Thánh Gia là giáo xứ latinh duy nhất tại Gaza có 170 tín hữu. Ngài là Chủ chăn của 160,000 tín hữu công giáo latinh tại Israel, Palestina, Giordania và đảo Chypre. Trong vùng Gaza có 1,300 kitô hữu đa số theo chính thống. Trong sứ điệp Giáng Sinh công bố ngày 18-12 Đức Thượng Phụ đã lên án chiến tranh tại Thánh Địa, đặc biệt ở Gaza với các hậu quả gây chết chóc tàn phá bi thảm của nó, và ngài kêu gọi các giới chức chính trị hãy lãnh nhận trách nhiệm của mình. Sáng 20-12 không quân Israel đã lại oanh kích miền Gaza để trả thù nhóm Hamas bắn hỏa tiễn vào lãnh thổ Israel. Đây là hoạt động quân sự đầu tiên từ hai phía sau tuyên ngôn đình chiến hồi tháng 8 năm nay.

Đức Thượng Phụ cho biết ngài đã tìm thầy một cộng đoàn hiệp nhất sống tình hiệp thông với các anh em chính thống. Tại Gaza người ta không tìm thấy sự vĩ đại của thế giới và quyền lực mau qua của thị trường. Nhưng có một nhóm nhỏ các tín hữu đang phải sống trong những tình trạng khó khăn và đau khổ, nhưng tin tưởng nơi Chúa Giêsu. Đó là hình ảnh thật của lễ Giáng Sinh. Chúng ta đã luôn xúc động khi đọc thấy trong Phúc Âm rằng Mẹ Maria và Thánh Giuse không tỉm ra chỗ trong nhà trọ nên Chúa Giêsu đã phải sinh ra trong một hang đá. Ngày nay trong vùng Trung Đông có hàng triệu người tỵ nạn và biết bao nhiêu trẻ em ước mong có thể ngủ trong một hang đá như hang đá trong đó Chúa Cứu Thế đã giáng sinh, mà không được. Đối với họ sẽ là một sự xa xỉ.

Năm nay chính quyền Israel đã cho phép 700 kitô hữu vùng Gaza được tới Bếtlehem để dự lễ.

Trong sứ điệp gửi tín hữu ngày 19-12 cha Pierbattista Pizzaballa, Bề trên tỉnh dòng Phanxicô Quản thủ Thánh Địa, mời gọi mọi người hãy mở toang cánh cửa lòng cho niềm hy vọng, công lý và hòa bình. Sứ điệp có đoạn viết: Cả năm nay nữa, trong cơn xoáy của các thảm cảnh bao quanh chúng ta, hãy để cho mình kinh ngạc và tìm lại Thiên Chúa ở với chúng ta, Đấng chờ đợi chúng ta nơi ngưỡng của con tim của chúng ta. Đừng để cho mình bị lấy mất phẩm giá. Nhưng chúng ta hãy thực tế. Chúng ta sẽ không thay đổi được các số phận của thế giới. Chúng ta sẽ không giải quyết được các vấn đề của các dân tộc chúng ta bị xâu xé và chia rẽ. Nhưng không có ai có thể ngăn cản chúng ta yêu thương các dân tộc ấy và sống công bằng trong môi trường bé nhỏ của chúng ta. Không ai có thể cướp mất đi phẩm giá đã được ban cho chúng ta. Không ai có thể lấy mất đi tình yêu thương và niềm hy vọng không gây thất vọng đã được đổ đầy tràn tâm lòng chúng ta. Chúa Kitô cũng để cho mình được tìm thấy trong vùng Trung Đông khát khao công lý và phẩm giá, sự thật và tình yêu. Vì thế đừng nhìn các kiếm tìm sai lạc của các vua Hêrốt thời nay, nhưng hãy nhìn sự tìm kiếm phong phú của các Đạo sĩ, và nỗi kinh ngạc có khả năng tiếp nhận của các mục đồng Bếtlêhem. Chúng ta đừng lắng nghe các sợ hãi của thế giới, nhưng hãy lắng nghe ca đoàn các thiên thần loan báo ơn cứu độ, hãy để cho thời gian chờ đợi hoán cải chúng ta, rũ bỏ mọi mệt mỏi, và hy vọng chống lại mọi hy vọng.

** Từ Thánh Địa chúng ta bước sang Libăng. Năm nay kitô hữu Libăng đón mừng Chúa giáng sinh trong tâm tình liên đới với 1,5 triệu người tỵ nạn Siri, thêm vào đó là hàng ngàn người Irak. Đức Cha Michel Kassarji. Giám Mục Canđê Beirut đã ra thông cáo mời gọi tín hữu liên đới trợ giúp 800 gia đình kitô Iraq đã chạy trốn khỏi Mosul và vùng đồng bằng Ninive và hiện đang trú ngụ trong vùng ngoại ô thủ đô Beirut. Họ là nạn nhân của guồng máy bao lực mù quáng của phong trào tôn giáo quá khích đã bắt buộc họ phải bỏ nhà cửa làng mạc trốn chạy thoát thân. Họ không có quy chế tỵ nạn và chờ để được đi định cư tại các nước tây âu. Họ không có công ăn việc làm và bị lạm dụng, vì những ngươi cho thuê nhà lên giá, và cũng không nhận được sự trợ giúp nào của các tổ chức dân sự hay nhân đạo quốc tế. Cha Paul Karam giám đốc Caritas Libăng cho biết toàn hệ thống trợ giúp nhân đạo quốc tế cho người tỵ nạn Syri và Iraq cũng sắp cạn kiệt vì thiếu nguồn tại trợ và không còn khả năng đương đầu với các trường hợp cấp bách ngày càng gia tăng.

Bước sang Irak và Siria, là hai quốc gia đang có chiến tranh khốc liệt khiến cho mấy trăm ngàn người chết, hàng chục ngàn người bị thương, mấy triệu người phải tản cư trốn tránh bom đạn và các vụ tán sát đẫm máu của các lực lượng hồi cuồng tín. Tại hai nước này kitô hữu cử hành lễ Giáng Sinh trong âu lo, thiếu thốn, đói lạnh và hoang mang trước tương lại vô định. Kể từ tháng 8 năm 2014 khi các lực lượng của Nhà nước Hồi đánh chiếm thành phố Mossul cũng như các thành phố và làng mạc trong vùng bình nguyên Ninive bên Irak đã có 120.000 kitô hữu phải bỏ gia tài sản nghiệp chạy thoát thân để khỏi phải theo Hồi giáo hay bị chặt đầu. Họ chạy trốn về thành phố Erbil bên Kurdistan, là vùng đất an toàn, chưa rơi vào tay quân hồi cuồng tín.

Trong khi bên Siria bốn năm nội chiến giữa quân của tổng thống Bashar al Assad và các lực lượng đối lập đã khiến cho đất nước xinh đẹp và phồn thịnh bậc nhất Trung Đông này bị tan hoang, tệ hại hơn Libăng hồi thập niên 1970.

Trong sứ điệp Giáng Sinh Đức Cha Jean-Clement Jeanbart, Tổng Giám Mục Melkít Aleppo đã khích lệ tín hữu cử hành ngày lễ trong hân hoan bất chấp mọi đau khổ.
Ngài viết “các khổ cực lớn lao nhất, cũng như chiến tranh và độc ác của những người không biết Thiên Chúa không thể cản trở lượng nhân từ và thương xót mà Chúa Chúa Giêsu tuôn đổ trên các tín hữu của Người”. Ngài hy vọng lễ Giáng Sinh đem “niềm vui và an ủi tới giữa cuộc chiến đáng xấu hổ này”.

”Nhiều gia đình mất hết mọi sự, đang túng thiếu và chịu đói chịu lạnh, chịu bom đạn tiêu hủy nhà cửa, triệt hạ việc làm ăn buôn bán, khiến họ không có một đồng xu dính túi. Đúng là chúng ta đang chịu đau khổ lớn lao vì những gì đang xẩy ra cho chúng ta, nhưng cùng với những người thấp hèn và nghèo nàn nhất, chúng ta lo lắng nhưng kiên nhẫn và đầy hy vọng mong chờ Chúa đem hòa bình tới cho chúng ta trong năm nay.

Đức Cha cho biết đang có nhiều dấu hiệu hy vọng cho thấy các quốc gia Tây Phương đang cố gắng vận động chấm dứt chiến cuộc tại Syria. Ngài cám ơn sự quảng đại của các Kitô hữu đã hỗ trợ Giáo Hội trong việc làm nhẹ các đau khổ của người tị nạn, nhờ đó Giáo Hội đã có thể hỗ trợ được nhiều gia đình hơn trước và tiếp tục trả học phí cho con cái họ, cũng như cung cấp nhiều giỏ thực phẩm đầy đủ mỗi tháng, chăm sóc các nhu cầu y tế và nơi ăn chốn ở cho họ. Ngài nhắn nhủ tín hữu rằng Giáng Sinh là “ngày lễ của chào đón và hy vọng. Lễ này không thể mừng mà thiếu niềm vui trong tâm hồn, thiếu nụ cười trên môi.”

** Trong khi đó, Thượng Phụ Công Giáo, Canđê Louis Raphael I Sako, lên tiếng kêu gọi “mọi Kitô hữu đừng tổ chức bất cứ thứ cử hành có tính thế gian nào nhân dịp Giáng Sinh hay Năm Mới, vì hoàn cảnh cay đắng hiện nay của quốc gia, để tỏ dấu hiệu liên đới với các anh chị em đang chịu nhiều đau khổ không thể nào diễn tả được”.

Ngài kêu gọi mọi người nên ăn chay vào ngày vọng giáng sinh để cầu xin cho người tỵ nạn trở về Mosul và đồng bằng Ninivê. Nhắc tới các cuộc viếng thăm mới đây tại các trại tỵ nạn ở Ankawa và Alqosh, Thượng Phụ cho biết thánh giá của người tỵ nạn hết sức nặng nề. Các nơi này thuộc vùng Kurdistan, nơi hơn 120,000 Kitô hữu đang tạm trú sau khi trốn thoát khỏi Mosul và bình nguyên Ninivê, để tránh sự săn đuổi của binh sĩ Nhà nước Hồi giáo. Trong thông điệp, ngài chúc lễ Giáng Sinh mọi người, và khuyên họ sống Mùa Vọng “bằng ăn chay, cầu nguyện, suy niệm và làm việc bác ái”. Ngài đề nghị họ ăn chay từ thứ Hai, 22 tháng 12 tới đêm 24 tháng 12, đừng đụng tới thực phẩm hay thức uống cho tới trưa, “như trong những ngày Ba'utha", tức lễ kỷ niệm tiên tri Giôna tới Ninivê rao giảng sứ điệp thống hối.

Ngài cho hay "chúng ta ăn chay cho việc giải phóng Mosul và các làng mạc thuộc bình nguyên Ninivê, để hòa bình và an ninh trở lại các vùng này, và mọi người được trở lại nhà cửa, việc làm và trường học của họ”.

Bước sang Ai Cập, năm nay các kitô hữu cử hành lễ Giáng Sịnh trong âu lo, vì các lực lượng quá khích Hồi Giáo lại đã đăng tải nhiều lời kêu gọi tấn công các nhà thờ Kitô Giáo, nhất là tại các vùng chịu ảnh hưởng Kitô Giáo mạnh nhất. Các lời nhắn trên liên mạng cũng thề sẽ trả thù bất cứ người Hồi Giáo nào giúp các Kitô hữu cử hành Mùa Giáng Sinh.

Tại Ai Cập trong những ngày gần tới Lễ Giáng Sinh, internet thường được sử dụng để đe doạ tấn công các cộng đồng Kitô Giáo địa phương, nhất là tại Minya, Alexandria và Fayyum, nơi các nhóm Hồi liên hệ với hệ phái Salafít và Huynh Đệ Hồi Giáo được coi là mạnh nhất.

Các đe doạ lần này có tính nghiêm trọng đến nỗi các học giả có thế giá phải lên tiếng tố cáo. Amna Nosseir, một giáo sư tôn giáo và triết học và là khoa trưởng Phân Khoa Hồi Giáo Học tại đại học Al-Azhar cho rằng những khẩu hiệu bài Kitô Giáo và những đe dọa chống lại họ nhân dịp Lễ Giáng Sinh là phản bội Hồi Giáo chính tông, và ông kêu gọi “người Kitô Giáo và người Hồi Giáo” bảo vệ các nhà thờ để các Kitô hữu Ai Cập cử hành phụng vụ của họ trong hòa bình. Ngay Fawzi al-Zafzaf, nguyên chủ tịch Ủy Ban Thường Trực Đối Thoại với Tòa Thánh, cũng cho rằng việc khích động hận thù tôn giáo chỉ có thể phát xuất từ “các kẻ thù của Quê Hương” vốn bác bỏ Hồi Giáo chân chính. Ông cũng yêu cầu phải có biện pháp bảo vệ thích đáng và mở các cuộc điều tra nghiêm chỉnh để tìm ra thủ phạm của những lời đe dọa này.

Những động thái quá khích của các nhóm hồi cực đoan khiến cho Đức TGM Hilarion, đặc tránh đối ngoại của Tòa Thượng Phụ Matscơva, cho rằng cái gọi là Mùa Xuân Ả Rập đã dẫn tới việc vi phạm các thế cân bằng liên tôn và liên sắc tộc, từng là đặc điểm của Trung Đông trong nhiều thế kỷ qua.

“Ngày nay, các lực lượng cực đoan và quá khích đã thò đầu ra và, khoác danh nghĩa tôn giáo, họ đã phạm nhiều tội ác trầm trọng: giết người, chặt đầu, xúc phạm đến các nơi thánh, triệt hạ các nhà thờ”.

"Kitô hữu ngày nay là nhóm tôn giáo bị bách hại hơn hết tại Trung Đông, họ bị đặt vào thế bị diệt chủng trên thực tế”.

** Từ vùng Trung Đông chúng ta sang một vài nưóc Á châu. Trước hết là Pakistan. Giáng Sinh năm nay là ngày lễ cầu nguyện và liên đới với các nạn nhân vụ khủng bố tại trung tâm huấn luyện thiếu sinh quân Peshawar, do các lực lượng cuồng tín hồi Taliban chủ mưu, khiến cho 141 người chết, trong đó có 132 thiếu sinh quân.

Các Giám Mục đã ra thông cáo mời gọi tín hữu cầu nguyện cho quốc thái dân an, đặc biệt cho các nạn nhân vụ khủng bố tại Peshawar, cũng như cho hai vợ chồng kitô Shahzad e Shama Masih, bị thiêu sống bởi một nhóm người hồi tại Punjab. Các Giám Mục khẳng định rằng mọi tín hữu kitô có bổn phận thăng tiến hòa bình, hòa giải, hòa hợp và hiệp nhất với mọi công dân Pakistan thuộc mọi tôn giáo để chiến thắng bạo lực và khủng bố. Các vị cũng kêu gọi tín hữu cử hành lễ Giáng Sinh trong thanh đạm, như dấu chỉ tôn trọng nỗi khổ đau của các gia đình nạn nhân và toàn quốc. Các vị cũng mời gọi chính quyền các đảng phái chính trị và giới lãnh đạo các tôn giáo hiệp nhất với nhau trước tai ương này. Các Giám Mục Pakistan cũng yêu cầu chính quyền bảo vệ an ninh cho mọi trường học trên toàn nước. Các lực lượng an ninh cần phải củng cố việc kiểm soát, vì chúng ta đang đứng trước các kẻ thù hận mù quáng và vô lương tâm. Các Giám Mục Pakistan mạnh mẽ lên án bạo lực xấu xa tàn ác và liên đới với gia đình các nạn nhân. Các vị yêu cầu chính quyền theo đuổi trận chiến này và có các biện pháp trừng phạt thích đáng các người chủ mưu.

Trong nhiều nhà thờ tín hữu trưng bầy hình của các em và thắp nến tưởng niệm. Đức Tổng Giám Mục Joseph Coutts, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Pakistan đã mời gọi cộng đoàn kitô phản ánh sứ điệp hy vọng và hòa bình mà lễ Giáng Sinh đem đến cho mọi người. Linh Mục Peter Jacob, chuyên hoạt động bảo vệ các quyền con người, cho biết trong 11 giáo xứ và nhiều nhà thờ tại Lahore tín hữu đã hủy bỏ hay rời một số chương trình sinh hoạt như biểu diễn văn nghệ và thánh ca giáng sinh, hay các cuộc vui chơi cho tới sau ngày mùng 1 tháng giêng. Phó tế Shahid Mehraj thuộc nhà thờ chính tòa Lahore cho biết tín hữu cộng đoàn, rất đau buồn và lo lắng đối với vụ khủng bố chống lại tương lai của dân nước Pakistan. Sẽ có lễ nghi thắp nến tưởng niệm các nạn nhân của vụ khủng bố. Biến cố Chúa Kitô giáng sinh cũng đã bị ghi dấu bởi cuộc tàn sát các trẻ em vô tội Bếtlêhem do vua Hêrốt. Trong bối cảnh vụ đổ máu này Chúa Kitô đã sinh ra như biểu tượng của niềm hy vọng. Vì thế đây là lúc phổ biến sứ điệp tình yêu thương huynh đệ tại Pakistan. 25 tháng 12 cũng là ngày ông Muhammad Ali Jinnah, người thành lập Pakistan chào đời. Ông đã mơ tưởng một quốc gia hiệp nhất, rộng mở, khoan nhượng, hòa bình, không hận thù và bạo lực.

** Tại Ấn Độ, lễ Giáng Sinh đã được cử hành trong bầu khí nặng nề vì các vụ khủng bố chống lại các nhà thờ Kitô. Các Giám Mục công giáo, chính thống, tin lành và nhiều giới lãnh đạo xã hội dân sự khác đã công bố một thống cáo chung, trong đó có viết: “Đứng trước lễ Giáng Sinh chúng tôi có con tim nặng trĩu vì các vụ bạo lực chống lại các nhà thờ tại nhiều nơi trong nước đặc biệt tại Chattisgarth, Madhya Pradesh, Odisha, Uttar Pradesh và New Dehli. Nhà thờ thánh Sebastiano ở New Dehli bị hư hại cũng như các vụ khủng bố khác vén mở cho thấy sự khinh rẻ đối với các tâm tình tôn giáo của cộng đoàn chúng tôi cũng như đối với các bảo đảm của Hiến pháp Ấn Độ. Các hành động bạo lực đó không phải là các biến cố lẻ loi nhưng liên quan với nhau. Nhiều giới chức chính trị đã yêu cầu đưa ra các luật lệ chống lại việc theo Kitô giáo và Hồi giáo. Ngoài ra chiến dịch do các thành viên cao cấp của Quốc hội và các đảng phái tổ chức liên quan tới căn tính và gia tài của các nhóm tôn giáo thiểu số, nhằm hạ uy tín của họ và khiến cho họ gặp nhiều bạo lực hơn là một đe dọa đối với nền hòa bình và hòa hợp quốc gia. Các luật lệ tôn giáo trong vài tiểu bang hạn chế việc hành đạo của tín hữu các nhóm này và cho phép cảnh sát quyền sách nhiễu, bắt giữ và trừng phạt các linh mục tu sĩ nam nữ và các nhân viên kitô. Các Giám Mục cũng liệt kê một danh sách các vụ bạo lực và kỳ thị chống lại các kitô hữu và tín hữu thiểu số khác, đặc biệt là việc phá hủy các nhà thờ và nơi phụng tự.

Từ Ấn Độ chúng ta sang Sri Lanka. Tại đây trong bầu khí tươi vui của lễ Giáng Sinh tín hữu cũng ráo riết chuẩn bị tinh thần tiếp đón chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Thánh Cha Phanxicô vào trung tuần tháng giêng tới đây. Mọi giáo xứ đều có các chương trình văn nghệ và hát thánh ca giáng sinh và hang đá hiện diện trong mọi nhà thờ.

Tiếp đến là Philippines. Năm nay bầu khí giáng sinh tại Philippines cũng kém vui vì sự tàn phá của bão Hagupit đã khiến cho hàng chục người chết và 1 triệu người phải di tản lánh nạn. Trên đảo Samar, đã có rất nhiều nhà bị tàn phá. Đây cũng là vùng bão Haiyan thổi qua hồi năm ngoái, và người dân chưa hoàn toàn phục hồi các thiệt hại phải chịu. Tuy nhiên đáp lời mòi gọi của các Giám Mục, tín hữu toàn nước đã tham gia các cuộc lạc quyên tiền bạc và vật dụng để liên đới với các nạn nhân.

Trong các thành phố lớn tại các nươc Á châu khác như Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan Singapore, Indonesia bầu khi Giáng Sinh đương nhiên tưng bừng, nhưng vẫn mang ít nhiều tính cách tiêu thụ hưởng thụ và mua sắm quà cáp nhiều hơn là tôn giáo. Chỉ tại các tỉnh lẻ và vùng quê lễ Giáng Sinh vẫn giữ được bầu khí thiêng liêng.

** Bây giờ chúng ta sang Phi châu. Tại các nuớc như Nam Sudan, Somalia, Trung Phi và Nigeria nhiều cộng đoàn kitô đã cử hành lễ Giáng Sinh trong nghèo khó và lo âu. Đặc biệt tại miền bắc Nigeria nơi các phiến quân hồi cuồng tín Boko Haram đã liên tục tấn công, tàn sát tín hữu, đốt phá các nhà thờ và cơ sở kitô, khiến cho dân chúng phải tản cư lánh nạn. Vài nhà thờ tỉnh Maiduguri đầy người tỵ nạn. Và lễ Giáng Sinh đã được cử hành trong bầu khí chạy loạn ấy. Bên Somalia và Trung Phi tình hình cũng đã không lạc quan hơn.

Sau đây là bầu khí Giáng Sinh tại vài nước châu Mỹ Latinh.

Tại Argentina các Giám Mục mời gọi tín hữu canh tân xác tín được Thiên Chúa yêu thương và cử hành việc loan báo hoà bình mà Chúa Giêsu đã đem đến cho nhân loại. Giáng Sinh là tiếng “có” Thiên Chúa nói với loài người để đồng hành với con người trong việc xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn, để canh tân giớí răn yêu thương và ban cho chúng ta sự tự do là con cái Ngài, để yêu thương hết mọi người không loại trừ ai, nhất là yêu thương những người nghèo túng và cần được trợ giúp nhất. Điều phá hủy hòa bình là trái tim con ngươì bị tội lỗi gây thương tích. Hậu qủa là các mất quân bình xã hội và kinh tế đòi hỏi một trật tự công bằng hơn trên thế giới; hậu qủa là sự khinh rẻ mạng sống và quyên căn bản của con người, là tội phạm buôn bán ma túy, buôn bán người, là các khuynh hướng cuồng tín sử dụng danh Thiên Chúa để biện minh cho cái chết, thù hận khép kín với con đường hòa giải, gian tham hối lộ và không nêu gương tốt khiến cho luân lý xã hội nghèo nàn đi; hậu qủa là nền văn hóa cá nhân chủ nghĩa gây thiệt hại cho các tương quan cá nhân và cộng đoàn; nơi kiểu suy tư đề cao thành công và chiếm hữu, thay vì ưa thích sự phong phú của bản vị và các giá trị của nó. Các Giám Mục Argentina khích lệ tín hữu xin Chúa ban cho ơn khôn ngoan đối thoại và niềm vui của sự hy vọng không gây thất vọng.

Bên Colombia là quốc gia có nội chiến lâu nhất thế giới vì đã kéo dài hơn 50 năm qua, tín hữu cũng nô nức mừng lễ mà không sợ bị khủng bố như mọi năm, vì phiến quân FARC tuyên bố ngưng chiến vô thời hạn. Đức Cha Luis Augusto Castro Quiroga, Tổng Giám Mục Tunja, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục, đã công bố thông cáo liệt kê một danh sách dài chứng tá của các nạn nhân để mọi người đừng quên nỗi khổ đau triền miên sâu xa của dân chúng. Trong buổi găp gỡ các nhân viên mục vụ của giáo phận và giới truyền thông, Đức Cha khẳng định rằng tiến trình đối thoại hoà bình tại La Habana giữa chính quyền và lực lượng phiến quân FARC đã chỉ cho biết 10% nỗi khổ đau của các nạn nhân. Nhưng nhờ các chứng từ này người ta đã biết được trách nhiệm của các kẻ tội phạm. Đề cập tới việc ngưng chiến không thời hạn của lực lượng phiến quân, Đức Cha nói nó là một dấu chỉ hòa bình, và sự tiến bộ của các cuộc thương thảo.

** Sang đến Peru, trong sứ điệp Giáng Sinh các Giám Mục nước này đã khích lệ tín hữu chiến thắng ích kỷ, tham lam, và biết nghĩ tới tha nhân.

Sứ điệp có đoạn viết: Giáng Sinh là thời gian đặc ân để chia sẻ với lòng hiền dịu và quảng đại, một thời gian để gieo vãi hoà bình và tha thứ. Để được như vậy cần chiến thắng cái đen tối của ích kỷ và thèm khát để nghĩ tới các nhu cầu của tha nhân và công ích trên các lợi lộc cá nhân.

Trong sứ điệp Đức Cha Salvador Pignero, TGM Ayacucho, Chủ tịch HĐGM Peru cũng đề cập tới cuộc khủng hoảng của gia đình, khiến cho ĐTC Phanxicô và các chủ chăn lo lắng. Bởi vì vấn đề nghiêm trọng nhất là sự thiếu vắng tinh yêu tỏ lộ nơi mọi thành phần gia đình từ người già cho tới trẻ em và người trẻ. Chúng ta phải đau đớn ghi nhận rằng có các trẻ em không thể chào đời vì bị khước từ quyền sống. Cái chết của các trẻ em mình ghim đầy vết đạn bắn của thù hận và báo oán xé rách con tim của chúng ta. Chúng ta buồn sầu vì nỗi khổ đau của các trẻ em sống trong các gia đình bị đốn ngã bởi nạn ly dị. Chúng ta lên tiếng thay cho các trẻ em nạn nhân của việc buôn người, của các hành động bất xứng và vô nhân, các nạn nhân vô tội phản ánh gương mặt của Chúa Giêsu Hài Đồng, mà chúng ta phải trợ giúp, giữ gìn bảo vệ và yêu thương. Các Giám Mục cũng không quên các gia đình Peru sống tại hải ngoại vì kiếm tìm công ăn việc làm để cải tiến cuộc sống của người thân, các công nhân, các sinh viên, giới chức chính trị và mọi người thiện chí. Các vị mời gọi toàn dân chung xây một quốc gia hòa bình, biết chú ý tới nhu cầu của những người yếu đuối nhất, để đừng có ai bị loại bỏ khỏi ơn cứu độ mà Chúa Giêsu đem đến cho chúng ta.

Bên châu Mỹ Latinh có lẽ tín hữu Cuba mừng lễ Giáng Sinh vui nhất trong năm nay. Tin Hoa Kỳ và Cuba tái lập liên lạc ngoại giao được tông thống Barck Obama và Chủ tịch Raul Castro tuyên bố song song hôm 17 tháng 12 đã khiến cho người dân Cuba vui mừng đổ xô ra đường nhảy múa. Mọi người đều hy vọng rằng sau 53 năm cấm vận tình hình Cuba từ nay sẽ sáng sủa và cuộc sống sẽ thịnh vượng hơn. Kết qủa này có được là nhờ các cuộc đàm phán bí mật cấp cao giữa hai nước và sư thúc đẩy khich lệ của Canada và Toà Thánh Vatican.

Người dân Cuba, từ các gia đình, công sở hay trường học, dường như đều dừng mọi công việc, cùng quây quanh chiếc tivi để theo dõi tuyên bố chính thức của Chủ tịch Raul Castro, được truyền hình trực tiếp. Chuông đại học Geronimo trong thủ đô La Habana đã đánh lên rộn rã chào mừng biến cố này.

Việc Mỹ và Cuba bình thường hóa quan hệ có khả năng mở ra nhiều triển vọng phát triển kinh tế – xã hội với Cuba, hứa hẹn mang lại nhiều thay đổi tích cực cho đời sống của người dân ở quốc đảo này. Thánh lễ Giáng Sinh trở thành dịp tạ ơn vì các viễn tượng sáng sủa này.

** Quành về âu châu có lẽ Italia,Tây Ban Nha Bồ Đào Nha, Đức và một số nước Đông Âu còn giữ được nhiều truyền thống Giáng Sinh nhất, trong đó có các hang đá được trưng bầy hầu như khắp nơi, ngay tại các quảng trường thành phố, nhà ga xe lửa và dĩ nhiên trong các nhà thờ và tư gia.

Tại Roma ngoài hang đá khổng lồ ỏ quảng trường thánh Phêrô, tại quảng trương Nhân dân có cuộc triển lãm 212 hang đá nghệ thuật Italia và quốc tế.

Tuy nhiên năm nay bầu khí giáng sinh tại thủ đô Roma cũng kém vui vì các vụ gian tham của các giới chức chính trị hành chánh nhận tiền hối lộ của các tổ chức tội phạm mafia đã gây gương mù gương xấu khiến cho ĐHY Giám Quản phải tổ chức buổi canh thức cầu nguyện 22-12 tại đền thờ Đức Bà Cả. Nỗi khổ trong tim của biết bao nhiêu công dân tin vào sự hợp pháp và liêm chính, giờ đây gia tăng bầu khí mất tin tường và bi quan cộng thêm với các hậu quả nặng nề của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chánh vẫn kéo dài. ĐHY xin Đức Mẹ giúp mọi người hoán cải con tim và tái dấn thân chung xây một thành phố có gương mặt nhân bản hơn, nơi phẩm giá bất khả xâm phạm của con người, công lý và tình liên đới được chia sẻ.

Tại Napoli là thành phố có truyền thống mùng lễ Giáng Sinh tươi vui nhất với hàng ngàn hang đá đủ kiểu đủ loại. Năm nay có cuộc triển lãm hang đá và các buổi hòa nhạc tựa đề “Bartolo Longo Thành Phố Napoli.” Ban nhạc trẻ Bartolo Longo đã khai mào truyền thống mừng lễ tại đền thờ Đức Bà Pompei ngày 20-12 với buổi hòa nhạc Giáng Sinh với các bài hòa tấu và thánh ca cổ truyền. Năm nay ban nhạc cũng mừng 120 năm thành lập. Mục đích các buổi hòa nhạc là thông truyến sứ điệp yêu thương và hòa bình của lễ Giáng Sinh. Để chuẩn bị tinh thần cho tín hữu giáo xứ nhà thờ chính tòa và nhiều giáo xứ đã tổ chức tuần cửu nhật.

Tín hữu Italia vẫn còn có thói quen tham dự thánh lễ nửa đêm Giáng Sinh rất đông và sốt sắng.

Bên Đức, đặc biệt trong vùng Baviere nam Đức là vùng đông công giáo nhất, lễ Giáng Sinh được cử hành long trọng với các truyền thống phong phú. Năm nay 500.000 trẻ em tham gia chiến dịch hát thánh ca giáng sinh để làm việc thiện quyết định dành số tiền quyên được cho các trẻ em Philippines và trẻ em trên thế giới. Khẩu hiệu của chiến dịch năm nay là “Đem phước lành và là phước lành. Dinh dưỡng lành mạnh cho các trẻ em Philipines và trên thế giới” Các em hát thánh ca trên các đường phố và tại tư gia cho tới lễ Ba Vua.

Hiện nay có 842 triệu người trên thế giới phải đói hay không đủ lương thực, Mỗi năm có 2.6 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chết vì thiếu dinh dưỡng. Và có 162 triệu trẻ em qúa nhỏ so với tuổi của các em vì thiếu dinh dưỡng. Bên cạnh đó còn có các trẻ em bị bệnh liệt kháng, hay quá nghèo không thể cắp sách đến trường.

Số tiền quyên được trong chiến dịch hát thánh ca dành để cải tiến cuộc sống của các em.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

 

Đức Thánh Cha chủ sự kinh Truyền Tin lễ thánh Stephano

Đức Thánh Cha chủ sự kinh Truyền Tin lễ thánh Stephano

VATICAN. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin lễ thánh Stephano tử đạo trưa ngày 26-12-2014, ĐTC mời gọi các tín hữu cầu nguyện cho tự do tôn giáo được củng cố ở mọi nơi trên thế giới nhờ sự hy sinh của các vị tử đạo ngày nay.

Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, với sự tham dự của 20 ngàn người, ĐTC nhận xét rằng qua sự tử đạo, thánh Stephano tôn vinh cuộc giáng lâm của Vua các vua trong trần thế, dâng hiến Chúa chính mạng sống của mình, và chỉ cho chúng ta cách sống trọn vẹn mầu nhiệm Giáng Sinh.

ĐTC nhắc đến sự kiện trong bài Phúc Âm ngày lễ hôm nay có câu Chúa nói: ”Các con sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy. Nhưng ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát” (Mt 10,22). Những lời này của Chúa không làm xáo trộn việc cử hành lễ Giáng Sinh, nhưng thanh tẩy việc cử hành lễ này khỏi những lớp bọc đường giả tạo không thuộc về ngày lễ. Lời Chúa giúp chúng ta hiểu rằng trong những thử thách chấp nhận vì đức tin, bạo lực bị tình yêu đánh bại, sự sống chiến thắng sự chết.”

ĐTC giải thích rằng ”Để thực sự đón nhận Chúa Giêsu trong cuộc sống của mình và kéo dài niềm vui đêm Giáng Sinh, con đường phải theo chính là con đường mà Phúc Âm hôm nay chỉ dẫn, đó là làm chứng cho Chúa Giêsu trong sự khiêm tốn, trong việc phục vụ âm thần, không sợ đi ngược dòng và trả giá bằng chính mạng sống mình. Tuy không phải mọi người đều được kêu gọi đổ máu như thánh Stephano, nhưng mỗi Kitô hữu đều được kêu gọi sống phù hợp với đức tin mình tuyên xưng trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Theo Tin Mừng chắc chắn là con đường khó khăn, nhưng ai trung thành và can đảm bước theo con đường ấy, thì được hồng ân Chúa đã hứa cho những người nam nữ thiện chí”.

ĐTC mời gọi các tín hữu đặc biệt cầu nguyện cho những người đang bị kỳ thị, bị bách hại và bị giết vì làm chứng cho Chúa Kitô: ”Tôi muốn nói với mỗi người trong số họ: nếu anh chị em vác thập giá này với lòng yêu mến, thì anh chị em sẽ được bước vào mầu nhiệm Giáng Sinh, anh chị em ở trong con tim của Chúa Kitô và Giáo Hội.. Ngoài ra chúng ta cũng hãy cầu nguyện để nhờ sự hy sinh của các vị tử đạo ngày nay, các vị rất đông đảo, khắp nơi trên thế giới có sự gia tăng nỗ lực nhìn nhận và bảo đảm tự do tôn giáo một cách cụ thể, đây là một quyền bất khả nhượng của mỗi người”.

Sau phép lành, ĐTC đã chào thăm và cầu chúc an bình cho các gia đình, các cộng đoàn giáo xứ và dòng tu, các phong trào và hội đoàn. Ngài cũng nói:

”Trong những tuần qua, tôi đã nhận được rầt nhiều thư chúc mừng từ Roma, Italia, va các nơi khác trên thế giới. Vì không thể trả lời cho mỗi người, hôm nay tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành với tất cả, nhất là vì những lời cầu nguyện cho tôi. Tôi thành tâm cám ơn và xin Chúa quảng đại trả công cho anh chị em”. (SD 26-12-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Buổi đọc sứ điệp Giáng Sinh và ban Phép lành toàn xá cho thành Roma và toàn thế giới

Buổi đọc sứ điệp Giáng Sinh và ban Phép lành toàn xá cho thành Roma và toàn thế giới

Lúc 12 giờ trưa hôm qua Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự buổi đọc sứ điệp Giáng Sinh và ban Phép lành toàn xá Urbi et Orbi cho thành Roma và toàn thế giới. Đã có khoảng 100,000 tín hữu và du khách hành hương hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô và quảng trường Pio XII.

Lúc 11 giờ 30 ban quân nhạc và đại diện các binh chủng Italia cũng như đội cận vệ Thụy Sĩ đã tiến vào quảng trường và dàn hàng chào danh dự trên thềm Đền Thờ Thánh Phêrô. Đúng 12 giở trưa Đức Thánh Cha Phanxicô xuất hiện trên bao lơn chính giữa Đền Thờ. Ngài giơ tay chào mọi người, trong khi ban quân nhạc cử hành quốc thiều Vaticăng và quốc thiều Italia.

Mở đầu sứ điệp, Đức Thánh Cha nói: “Anh chị em thân mến, xin chúc anh chị em lễ Giáng Sinh tốt lành. Chúa Giêsu Con Thiên Chúa Đấng Cứu Thế đã được sinh ra cho chúng ta. Người đã sinh ra tại Bếtlêhem bởi một trinh nữ, và thực hiện các lời tiên tri xưa kia. Trinh nữ ấy tên là Maria, chồng bà là Giuse.

Các vị là những người khiêm tốn, tràn đầy niềm hy vọng nơi lòng lành của Thiên Chúa, tiếp đón Chúa Giêsu và nhận ra Người. Như thế, Chúa Thánh Thần đã soi sáng cho các mục đồng làng Bếtlêhem, họ chạy đến hang đá và thờ lậy Con Trẻ. Thế rồi Thần Khí đã hướng dẫn hai cụ già Simeon và Anna trong Đền Thờ Giêrusalem và các vị đã nhận ra nơi Đức Giêsu Đấng Cứu Thế : Ông Simeon kêu lên ; « Mắt con đã trông thấy ơn cứu dộ của Chúa, ơn cứu độ đã được dọn sẵn trước mọi dân tộc » (Lc 2,30). Đức Thánh Cha khẳng định như sau :

Phải, thưa anh chị em, Chúa Giêsu là ơn cứu rỗi cho từng người và từng dân tộc! Với Người là Đấng Cứu Thế, tôi xin Người nhìn các anh chị em Irak và Siria từ quá lâu đang đau khổ vì hậu qủa của cuộc xung đột vẫn tiếp diễn, và cùng với các thành phần khác và các nhóm chủng tộc và tôn giáo khác họ phải chịu một cuộc bách hại tàn bạo. Ước gì lễ Giáng Sinh đem lại cho họ niềm hy vọng cũng như cho nhiều người tản cư, tỵ nạn, các trẻ em, người lớn, người già của Vùng này và trên toàn thế giới ; biến đổi sự thờ ơ thành sự gần gũi và sự khước từ thành tiếp đón, để cho những người đang ở trong thử thách có thể nhận được các trợ giúp nhân đạo cần thiết hầu sống qua mùa đông giá lạnh này, trở về quê hương của họ và sống xứng đáng. Ước chi Chúa mở các con tim ra cho sự tin tưởng và trao ban hòa bình của Người cho toàn vùng Trung Đông, bắt đầu từ Vùng Đất được chúc phúc bởi sự sinh ra của Người, bằng cách nâng đỡ các cố gắng của những người thực sự dấn thân cho cuộc đối thoại giữa người Israel và người Palestin.

Lậy Chúa Giêsu Cứu Thế, xin nhìn đến những người dau khổ bên Ucraina và cho vùng đất thân yêu này thắng vượt được các căng thẳng, chiến thắng thù hận, bạo lực và bắt đầu một con đường mới của tình huynh đệ và hòa giải.

Lậy Chúa Kitô Cứu Thế, xin hãy ban hòa bình cho Nigeria, nơi lại có máu khác bị đổ ra và có qúa nhiều người bị giật mất các yêu thương và bị giữ làm con tin hay bị tàn sát.

Tôi cũng khẩn nài hòa bình cho Libia, Nam Sudan, Cộng hòa Trung phi và nhiều vùng khác của Cộng hòa dân chủ Congo. Và tôi cũng xin các giới chức có trách nhiệm chinh trị dấn thân qua dối thoai để thắng vượt các xung khắc và xây dựng một cuộc sống chung huynh đệ lâu bền.

Nghĩ tới các trẻ em Đức Thánh Cha nói:
Xin Chúa Giêsu cứu quá nhiều trẻ em nạn nhân của bạo lực, bị biến thành đối tượng của thương mại và nạn buôn người, hay bị bó buộc trở thành chiến binh. Xin Người an ủi các gia đình các trẻ em bị giết bên Pakistan tuần vừa qua. Xin Người gần gũi những kẻ khổ đau vì bệnh tật, đặc biệt các nạn nhân của nạn dịch Ebola, nhất là bên Liberia, Sierra Leone và Guinea. Trong khi tôi chân thành cám ơn tất cả những ai đang can đảm trợ giúp các bệnh nhân và gia đình họ, tôi xin tái mời gọi bảo đảm sự trợ giúp và các liệu pháp cần thiết.

Chúa Giêsu Hài Đồng. Tôi nghĩ đến tất cả các trẻ em ngày nay bị giết và bị đối xử tàn tệ, các trẻ em trước khi chào đời, bị thiếu vắng tình yêu thương quảng đại của cha mẹ và bị chôn vừi trong ích kỷ của một nền văn hóa không yêu thương sự sống ; cũng như các trẻ em di tản vì chiến tranh và bách hại, bị lam dụng khai thác bóc lột trước mắt chúng ta và sự thinh lặng đồng lõa của chúng ta ; các trẻ em bị tàn sát dưới các trận bỏ bom, cả nơi Con Thiên Chúa đã sinh ra. Cả ngày nay nữa sự thinh lặng bất lực của các em kêu than dưới lưỡi gươm của biết bao nhiêu Hêrốt. Trên máu của các em ngày nay đóng trại bóng dáng của các Hêrốt thời đại. Thật thế, có biết bao nhiều nước mắt trong lễ Giáng Sinh này cùng với nước mắt của Chúa Giêsu Hài Đồng !

Anh chị em thân mến, hôm nay xin Chúa Thánh Thần soi sáng con tim chúng ta, để chúng ta có thể nhận biết nơi Hài Nhi Giêsu, sinh ra tại Bếtlehem bởi Đức Trinh Nữ Maria, ơn cứu độ Thiên Chúa ban cho từng người trong chúng ta, cho mọi người và tất cả mọi dân tộc trên trái đất. Xin quyền năng của Chúa Kitô, là sự giải thoát và phục vu, được cảm thấy trong các con tim đau khổ vì chiến tranh, bách hại và nô lệ. Ước chi sự hiền dịu của Người, quyền năng thiên linh của Ngưòi lấy đi sự cứng cỏi nơi con tim của biết bao nhiêu người nam nữ đắm chìm trong tinh thần thế tục và sự thờ ơ, trong sự toàn cầu hóa của thờ ơ. Ước chi sức mạnh cứu rrỗi của Người biến đổi khí giới thành cầy quốc, sự tàn phá thành óc sáng tạo, thù hận thành tình yêu và sự dịu hiền. Như vậy chúng ta sẽ có thể vui mừng nói rằng : « Mắt chúng con đã trông thấy ơn cứu độ của Chúa ». Với các tư tưỏng này xin chúc tất cả mọi nguời lễ Giáng Sinh tốt lành.

Hai vị Hồng Y đứng hai bên Đức Thánh Cha là Đức Hồng Y Franc Rodé Nguyên Tổng trưởng Bộ các Dòng tu và Hiệp hội tông đồ, và Đức Hồng Y Ludwig Mueller, Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin.

Đức Hồng Y Franc Rodé Phó đẳng Phó Tế thay thế Đức Hồng trưởng đẳng Phó Tế Renato Martino vắng mặt, tuyên bố chủ ý Đức Thánh Cha ban Phép lành toàn xá cho tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô cũng như các anh chị em tín hữu trên toàn thế giới theo dõi qua các đài phát thanh truyền hình, miễn là họ giữ các quy tắc và hội đủ các điều kiện luật định, nghĩa là xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha và từ bỏ mọi quyến luyến đối với tội lỗi.

Đức Thánh Cha đã đọc lời kinh xá giải và công thức ban phép lành toàn xá cho thành Roma và toàn thế giới.

– Xin các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô là những vị mà chúng tội dựa vào quyền bính và uy thế cầu khẩn cho chúng ta trước Thiên Chúa. Amen.

– Nhờ lời cầu nguyện và công nghiệp của Đức Trinh Nữ Maria, của Tổng lãnh thiên thần Micae, của thánh Gioan Baotixita, của các thánh tông đồ Phêrô Phaolô cùng toàn thể các Thánh, xin Thiên Chúa toàn năng thương xót anh chị em và xin Chúa Kitô tha tội cho anh chị em cùng dẫn đưa anh chị em về cõi trường sinh. Amen.

– Xin Thiên Chúa toàn năng lân tuất ban ân xá, tha thứ tất cả mọi tội lỗi của anh chị em, cho anh chị em được hưởng thời gian để làm việc đền tội thành tâm và có công hiệu, một tấm lòng thống hối và hoán cải đời sống, được ơn thánh và sự an ủi của Chúa Thánh Thần, cùng được sự kiên trì làm việc thiện cho đến cùng. Amen.

Và tiếp theo là Phép lành của Đức Thánh Cha.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

Đức Thánh Cha chủ sự Thánh Lễ Vọng Giáng Sinh

Đức Thánh Cha chủ sự Thánh Lễ Vọng Giáng Sinh

VATICAN. Lúc 9 giờ rưỡi tối ngày 24-12-2014, ĐTC Phanxicô đã cử hành thánh lễ vọng Giáng Sinh. Ngài mời gọi các tín hữu đón nhận sự dịu dàng của Thiên Chúa và biểu lộ đức tính này trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Đồng tế với ĐTC có các HY, GM và đông đảo các linh mục, trước sự hiện diện của 9 ngàn tín hữu tại Đền thờ Thánh Phêrô.

Đầu thánh lễ, ĐTC đã đặt tượng ảnh Chúa Hài Đồng Giêsu vào trong máng cỏ, ở trên ngai nhỏ trước bàn thờ chính. Gần bàn thờ có đặt một tượng bằng gỗ nhiều mầu hình Đức Mẹ đang ẵm Chúa Hài Nhi. 10 em bé trong y phục cổ truyền đã đặt các bó hoa cạnh ảnh tượng Chúa Hài Đồng. Các em được chọn từ những nước vừa được hoặc sắp được ĐTC viếng thăm như Italia, Âu Châu, Hàn quốc và Philippines.

Cạnh máng cỏ ở trước Bàn thờ Tuyên Xưng đức tin, có một ngai nhỏ trên đó có đặt một giá sách Tin Mừng đã được dùng trong Công Đồng chung Vatican I và Vatican II.

Khi bài ca Vinh Danh được xướng lên, tất cả các chuông của Đại Vương cung Thánh đường được đánh lên cùng với đàn phong cầm.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng thánh lễ, ĐTC đã quảng diễn mầu nhiệm Thiên Chúa giáng sinh như ánh sáng đến phá tan bóng đêm bao phủ trần thế, bóng tối được biểu lộ qua các tội ác, bạo lực chiến tranh, oán thù, đàn áp thống trị. Ngài nói:

”Qua dòng lịch sử, ánh sáng phá tan bóng đen tỏ cho chúng ta thấy Thiên Chúa là Cha và lòng trung tín kiên nhẫn của Chúa mạnh mẽ hơn đen tối và hư hỏng. Sứ điệp của đêm giáng sinh này là Thiên Chúa không có những cơn thịnh nộ và thiếu kiên nhẫn, trái lại Chúa luôn ở đó như người cha trong dụ ngôn người con trai hoang đàng, chờ đợi được thấy bóng người con hư hỏng từ xa xa trở về”.

Trong bối cảnh trên đây ĐTC mời gọi các tín hữu, khi ngắm nhìn Chúa Hài Đồng sinh ra trong máng cỏ, hãy suy tư, tự xét xem mình đón nhận sự dịu hiền của Thiên Chúa như thế nào? Ta có để cho Chúa ôm lấy hay là ngăn cản Chúa đến gần? Chúng ta có thể vặn lại ”Nhưng tôi đang tìm Chúa đấy chứ”. Tuy nhiên, điều quan trọng nhất không phải là tìm kiếm Chúa, đứng hơn, là để cho Chúa tìm ta và âu yếm vuốt ve chúng ta. Đây là câu hỏi mà Hài Nhi đặt ra cho chúng ta nguyên bằng sự hiện diện của Ngài: Tôi có thể cho Thiên Chúa yêu thương tôi hay không?”

Và ”chúng ta có can đảm dịu dàng đón nhận những hoàn cảnh khó khăn và những vấn đề của những người bên cạnh, hay chúng ta thích những giải pháp lạnh lùng, tuy hữu hiệu nhưng thiếu hơi ấm của Tin Mừng? Thế giới ngày nay đang cần sự dịu dàng dường nào!”

Và ĐTC kết luận rằng ”Câu trả lời của Kitô hữu không thể khác câu trả lời của Thiên Chúa dành cho sự bé mọn của chúng ta. Cần đương đầu với cuộc sống với lòng từ nhân và dịu dàng. Khi chúng ta ý thức rằng Thiên Chúa yêu mến sự bé nhỏ của ta, chính Chúa trở nên bé nhỏ để dễ gặp gỡ chúng ta hơn, thì chúng ta không thể không mở rộng tâm hồn chúng ta và cầu khẩn Người: ”Lạy Chúa, xin giúp con được nên giống Chúa, xin ban cho con ơn dịu dàng trong những hoàn cảnh cam go nhất của cuộc sống, xin ban cho con ơn gần gũi tha nhân trước mọi nhu cầu khó khăn, ơn dịu dàng trong bất kỳ cuộc xung đột nào”.

Trong phần lời nguyện giáo dân bằng các thứ tiếng Bồ đào nha, Arập, Pháp, Trung Hoa, và Đức, cộng đoàn đã lần lượt cầu cho Giáo Hội, cho việc truyền bá Tin Mừng, nâng đỡ các thừa sai, những người bị tội lỗi và lo âu đè nén, cho những người đau khổ và mọi dân tộc trên thế giới.

Trong phần dâng lễ vật, để nhắc nhớ đề tài Thượng HĐGM về gia đình và Đại hội các gia đình thế giới vào tháng 9 năm tới tại Philedelphia, Hoa Kỳ, hai gia đình với con cái đã được chọn để dâng bánh rượu lên ĐTC.

Sau khi ban phép lành cuối thánh lễ, ĐTC đã bồng tượng Chúa Hài Đồng Giêsu đi rước tới hang đá tại nhà nguyện có giếng rửa tội. (SD 24-12-2014)

G. Trần Đức Anh OP  – Vatican Radio

Đức Thánh Cha nhắn nhủ các nhân viên Tòa Thánh và Vatican

Đức Thánh Cha nhắn nhủ các nhân viên Tòa Thánh và Vatican

VATICAN. ĐTC Phanxicô kêu gọi các nhân viên Tòa Thánh và Vatican chăm sóc đời sống thiêng liêng, gia đình, tương quan với tha nhân, công việc làm và các anh chị em yếu đuối.

Đây là những lời nhắn nhủ ngài đưa ra trong buổi tiếp kiến khoảng 2 ngàn nhân viên cấp thừa hành của Tòa Thánh và Quốc gia thành Vatican trưa ngày 22-12-2014, sau buổi tiếp kiến các vị lãnh đạo của các cơ quan trung ương Tòa Thánh.

Hiện diện tại Đại thính đường Phaolo 6 trong buổi cũng có con cái và gia đình của các nhân viên. ĐTC nói: ”Trước tiên anh chị em cần chăm sóc đời sống thiêng liêng, quan hệ với Thiên Chúa, vì ”đây là cột sống của tất cả những gì chúng ta làm, và toàn thể cuộc sống của chúng ta. Một Kitô hữu không nuôi dưỡng mình bằng kinh nguyện, các bí tích và Lời Chúa, thì chắc chắn sẽ suy nhược và khô cằn”.

Tiếp đến cần chăm sóc đời sống gia đình, không phải chỉ dành tiền bạc cho con cái và những người thân yêu, nhưng nhất là dành thời gian, sự quan tâm và tình yêu thương. ĐTC nhấn mạnh rằng ”gia đình là một kho tàng quí giá, con cái là kho tàng. Một câu hỏi mà các cha mẹ trẻ có thể đặt ra cho mình: ”Tôi có thời giờ để chơi với con cái tôi hay không, hay là tôi luôn bận rộn, không có giờ cho con cái của tôi?”.

Thứ ba là chăm sóc quan hệ với người khác, ”biến đức tin trong cuộc sống và lời nói thành những việc lành, nhất là đối với những người túng thiếu nhất”. Cần chăm sóc lời nói, ”thanh tẩy miệng lưỡi mình khỏi những lời xúc phạm, những lời phàm tục, sa đọa”. ”Chữa trị những vết thương tâm hồn bằng dầu tha thứ, tha thứ cho những người đã xúc phạm đến chúng ta và chữa lành những vết thương chúng ta đã gây ra cho người khác”.

Cũng trong bài huấn dụ, ĐTC nhắn nhủ các nhân viên Tòa Thánh và Quốc gia thành Vatican hãy chăm sóc công việc làm, chu toàn với tất cả sự hăng say, lòng khiêm và khả năng chuyên môn, với tâm hồn biết ơn Thiên Chúa. Tiếp đến cần chữa trị tính ghen tương, tham lam, ghen ghét, những tâm tình tiêu cực hủy hoại an bình nội tâm khiến chúng ta thành những người bị hủy hoại và tạo nên sự hủy hoại cho người khác”.

ĐTC kêu gọi các nhân viên hãy chữa trị sự oán hận đưa chúng ta đến sự trả thù, sự lười biếng khiến chúng ta làm cho cuộc sống tàn lụi, thái độ chỉ tay chỉ trích đưa chúng ta đến sự kiêu hãnh, thái lộ luôn than phiền đưa chúng ta đến tuyệt vọng. ĐTC nói:

”Tôi biết nhiều khi để bảo vệ công ăn việc làm, người ta nói xấu người khác, để tự vệ. Tôi hiểu những tình trạng ấy, nhưng con đường này không đưa tới điều tốt lành, rốt cuộc tất cả chúng ta đều bị tổn hại”.

ĐTC nhắn nhủ mọi người hãy chăm sóc những anh chị em yếu đui. Ngài nói: ”Tôi đã thấy bao nhiêu gương tốt lành nơi anh chị em. Tôi khen ngợi và cám ơn anh chị em. Nghĩa là chăm sóc ngừơi già, người bệnh, người đói, những người vô gia cư và những người ngoại kiều, vì vào cuối đời chúng ta sẽ bị xét xử về đức bác ái”.

Sau cùng, ĐTC nhắn nhủ các nhân viên Tòa Thánh chăm sóc l Giáng Sinh, để lễ này không bao giờ trở thành dịp để tiêu thụ thương mại, chỉ có vẻ bề ngoài, hoặc là dịp mua sắm những món quà vô ích, dịp để phung phí, nhưng là lễ an vui, đón nhận Chúa trong máng cỏ và trong tâm hồn” (RG 22-12-2014).

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Thư Đức Thánh Cha gửi các tín hữu Kitô Trung Đông

Thư Đức Thánh Cha gửi các tín hữu Kitô Trung Đông

VATICAN. ĐTC Phanxicô tái bày tỏ sự gần gũi, tình liên đới và khích lệ các tín hữu Kitô tại Trung Đông, trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay.

Trong thư công bố hôm 23-12-2014, gửi các tín hữu Kitô Trung Đông, nhân dịp lễ Giáng Sinh, ĐTC nhắc đến những đau khổ các tín hữu Kitô ở miền này phải chịu trong quá khứ gần đây, đặc biệt là những nạn nhân của tổ chức khủng bố ở mức độ không thể tưởng tượng được, với những lạm dụng đủ loại và những hành động không xứng đáng với con người. ĐTC không quên nhiều nhóm tôn giáo và chủng tộc thiểu số khác cũng chịu bách hại và những hậu quả tương tự của các cuộc xung đột. Ngài viết:

”Đau khổ này kêu thấu tới Thiên Chúa và kêu gọi mọi người hãy dấn thân, trong kinh nguyện và mọi sáng kiến khác.. Anh chị em thân mến, tôi khuyến khích anh chị em hãy tiếp tục gắn bó với Chúa Giêsu, như ngành gắn liền với thân cây nho, với xác tín mạnh mẽ rằng dù sầu muộn, lo âu hay bách hại cũng không thể tách rời anh chị em ra khỏi Chúa” (Xc Rm 8,35). Ước gì thử thách anh chị em đang trải qua củng cố niềm tin và lòng trung thành của tất cả anh chị em!”.

ĐTC cũng cầu xin Chúa cho các tín hữu Kitô Trung Đông có thể sống tình hiệp thông huynh đệ theo gương cộng động Kitô đầu tiên ở Jerusalem. ”Sự hiệp nhất như Chúa chúng ta mong muốn là điều cần thiết hơn bao giờ hết trong những lúc khó khăn này; đó là một hồng ân của Thiên Chúa, đang gọi hỏi tự do và chờ đợi câu trả lời của chúng ta. Ước gì Lời Chúa, các bí tích, kinh nguyện, tình huynh đệ, nuôi dưỡng và liên tục đổi mới các cộng đoàn của anh chị em”.

ĐTC cũng nhận định rằng ”Tình trạng anh chị em đang sống là một lời kêu gọi mạnh mẽ hãy sống thánh thiện, như các thánh và các vị tử đạo thuộc mọi hệ phái Giáo Hội làm chứng”. Trong bối cảnh này, ĐTC nhắc đến một số GM Chính Thống và LM thuộc các nghi lễ khác nhau đã bị bắt cóc và cầu mong các vị sớm được trở về nhà và cộng đoàn của mình bình an vô sự”.

Trong thư, ĐTC tiếp tục kêu gọi cộng đồng quốc tế cứu giúp và đáp ứng nhu cầu của các tín hữu Kitô và các cộng đồng thiểu số khác đang chịu đau khổ. Ngài viết: ”Trước tiên cần cổ võ hòa bình nhờ thương thuyết và hoạt động ngoại giao, tìm cách ngăn chặn bạo lực càng sớm càng tốt đang gây ra quá nhiều thiệt hại. Tôi tái lên án nạn buôn bán võ khí. Đúng hơn, chúng ta đang cần những dự án và sáng kiến hòa bình để thăng tiến một giải pháp toàn diện cho các vấn đề của vùng Trung Đông. Cho đến bao giờ Trung Đông còn phải chịu đau khổ vì thiếu hòa bình? Chúng ta không thể cam chịu những cuộc xung đột như thể đó là điều không thể thay đổi được!.. Ước gì việc cứu trợ nhân đạo được gia tăng, đặt thiện ích của con người và mỗi quốc gia ở vị thế trung tâm, trong niềm tôn trọng căn tính của họ, không đặt những lợi lộc khác lên trên. Ước gì toàn thể Giáo Hội và Cộng đồng quốc trể ngày càng ý thức về tầm quan trọng của anh chị em Kitô ở vùng Trung Đông!” (SD 23-12-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Đức hồng y Tauran được bổ nhiệm làm Hồng y Nhiếp chính

Đức hồng y Tauran được bổ nhiệm làm Hồng y Nhiếp chính

Cardinal Tauran

Hôm qua thứ Bảy 20-12-2014, Đức hồng y Jean-Louis Tauran đã được Đức Thánh Cha Phanxicô bổ nhiệm làm “Hồng y Nhiếp chính của Giáo hội Rôma”.

Chức vụ thuộc lĩnh vực quản trị này rất quan trọng trong thời gian Tòa Thánh “trống toà”, khi vị giáo hoàng đương nhiệm qua đời hay từ chức.
 
Khi ấy vị Hồng y Nhiếp chính có nhiệm vụ quản trị tài sản của Toà Thánh, với sự giúp đỡ của các vị Hồng y cho đến khi bầu được vị tân Giáo hoàng.
 
Chính vị Hồng y Nhiếp chính xác nhận và thông báo cái chết của Đức giáo hoàng, ấn định ngày cử hành tang lễ và triệu tập Công nghị Hồng y.
 
Vị Hồng y Nhiếp chính tiền nhiệm (từ năm 2007) là Đức hồng y Tarcisio Bertone. Đức hồng y Bertone, cựu Quốc vụ khanh Toà Thánh, vừa mừng sinh nhật lần thứ 80 của mình vào ngày 2-12 vừa qua và không còn trong danh sách hồng y cử tri nữa.
 
Đức hồng y Jean-Louis Tauran năm nay 71 tuổi, đã từng là “Bộ trưởng Ngoại giao” vào thời Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II từ năm 1990 đến 2003. Từ năm 2007, ngài là Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Đối thoại Liên tôn.
 
Đức hồng y Tauran cũng là Hồng y trưởng đẳng phó tế, và do đó, ngày 13-03-2013 ngài đã công bố danh tính Đức tân Giáo hoàng (Đức giáo hoàng Phanxicô) sau khi có kết quả bầu giáo hoàng, với công thức Habemus Papam. Đức hồng y Tauran được Đức giáo hoàng bổ nhiệm vào đẳng “hồng y linh mục” ngày 12-06 vừa qua. Và Đức hồng y Renato Raffaele Martino trở thành Hồng y trưởng đẳng phó tế.
 
Cùng ngày 20-12, Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm một Phó Nhiếp chính là Đức Tổng giám mục Giampiero Gloder, 55 tuổi, người gốc Padua. Từ tháng 9 năm 2013, Đức Tổng giám mục Gloder đã được bổ nhiệm làm Giám đốc Trường Ngoại giao Toà Thánh, trường dành riêng để đào tạo các linh mục sẽ phục vụ trong ngành ngoại giao của Toà Thánh.
 
Minh Đức

14 căn bệnh của giáo triều Roma cần chữa trị

14 căn bệnh của giáo triều Roma cần chữa trị

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng ngày 22-12-2014 dành cho các vị lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh, ĐTC Phanxicô liệt kê 14 thứ bệnh cần bài trừ khỏi những người phục vụ tại giáo triều Roma.

Khoảng 60 Hồng Y và 50 GM cùng với nhiều giám chức, linh mục và giáo dân lãnh đạo các cơ quan trung ương Tòa Thánh đến chúc mừng ngài nhân dịp lễ Giáng Sinh và năm mới.

Mở đầu, ĐHY Angelo Sodano, 87 tuổi, niên trưởng Hồng Y đoàn, đại diện mọi người chúc mừng ĐTC và cho biết toàn thể các cộng tác viên thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh hứa hỗ trợ và cộng tác hoàn toàn với ĐTC trong việc phục vụ tình hiệp nhất của Giái Hội và hòa bình giữa các dân tộc. ĐHY cũng nói rằng tại Vatican mọi người, trong các nhiệm vụ khác nhau, hiệp nhất và dấn thân phục vụ ĐTC và Giáo Hội.

Diễn từ của ĐTC

Lên tiếng trong dịp này, sau khi gửi lời chúc mừng và cám ơn sự cộng tác của mọi người trong giáo triều Roma, ĐTC nhấn mạnh sự kiện các cơ quan trung ương Tòa Thánh họp thành một cơ thể duy nhất, và cũng như mọi cơ thể, có thể có những bệnh tật cần được chữa lành. Trong ý hướng chuẩn bị tâm hồn, xưng tội, để đón mừng Chúa Giáng Sinh, ĐTC đã liệt kê một loạt những căn bệnh mà những vị làm việc trong giáo triều Roma có thể mắc phải và cần phải thanh tẩy. Ngài nói:

”Giáo triều được kêu gọi cải tiến, luôn cải tiến và tăng trưởng trong tình hiệp thông, thánh thiện và khôn ngoan để chu toàn sứ mạng. Nhưng giáo triều, cũng như mỗi thân thể con người, cũng có thể bị bệnh, hoạt động không tốt, bị yếu liệt. Và ở đây tôi muốn liệt kê vài căn bệnh có thể, những bệnh của giáo triều. Đó là những bệnh thường xảy ra trong đời sống của giáo triều chúng ta. Đó là những bệnh tật và cám dỗ làm suy yếu việc phục vụ của chúng ta đối với Chúa. Tôi nghĩ rằng ”danh sách” các bệnh này sẽ giúp chúng ta, như các Đấng Tu Hành trong sa mạc vẫn thường làm danh sách mà chúng ta nói đến hôm nay: danh sách này giúp chúng ta chuẩn bị lãnh nhận bí tích Hòa giải, là một bước tiến tốt cho tất cả chúng ta để chuẩn bị lễ Giáng Sinh.

1. Trước tiên là bệnh tưởng mình là bất tử, miễn nhiễm, hoặc thậm chí là không thể thiếu được, và lơ là những kiểm điểm cần thiết và thông thường. Một giáo triều không tự phê bình, không canh tân, không tìm cách cải tiến, thì đó là một cơ thể đau yếu. Một cuộc viếng thăm bình thường tại các nghĩa trang có thể giúp chúng ta nhìn thấy tên của bao nhiêu người, của vài người mà chúng ta nghĩ họ là bất tử, miễn nhiễm, và không thể thay thế được! Đó là bệnh của người giàu có trong Phúc Âm nghĩ rằng mình sống vĩnh viễn (Xc Lc 12,13-21) và cả những người trở thành chủ nhân ông, cảm thấy mình cao trọng hơn mọi người, chứ không phải là người phục vụ tất cả mọi người. Bệnh này thường xuất phát từ bệnh quyền bính, từ mặc cảm là những người ưu tuyển, từ thái độ tự yêu mình, say mê nhìn hình ảnh của mình mà không nhìn thấy hình ảnh của Thiên Chúa in nơi khuôn mặt của những người khác, đặc biệt là những người yếu đuối và túng thiếu nhất. Thuốc chữa bệnh dịch này là ơn thánh, ơn cảm thấy mình là người tội lỗi và thành tâm nói rằng: ”Chúng ta chỉ là những đầy tớ vô dụng. Chúng ta đã làm những gì chúng ta phải làm” (Lc 17,10).

2. Một bệnh khác là bệnh Marta, đến từ tên Marta, làm việc thái quá: tức là những người chìm đắm trong công việc, và lơ là với phần tốt hơn, là ngồi bên chân Chúa Giêsu (Xc Lc 10,38). Vì thế Chúa Giêsu đã kêu gọi các môn đệ của Ngài ”hãy nghỉ ngơi một chút” (Xc Mc 6,31), vì lơ là việc nghỉ ngơi cần thiết sẽ đi tới tình trạng căng thẳng và giao động. Thời gian nghỉ ngơi, đối với những người đã chấm dứt sứ mạng của mình, là điều cần thiết, cần phải làm, và cần phải sống thanh thản: khi trải qua một chút thời gian với những người thân trong gia đình và tôn trọng các kỳ nghỉ như những lúc bồi dưỡng tính thần và thể lý; cần học điều mà sách Qohelet đã dạy: ”Có thời gian cho mỗi điều” )3,1-15).

3. Cũng có thứ bệnh ”chai cứng” tâm trí và tinh thần: nghĩa là bệnh của những người có tâm hồn chai đá, ”cứng cổ” (Cv 7,51-6); bệnh của những người đang đi trên đường, đánh mất sự thanh thản nội tâm, mất sức sinh động và táo bạo, và ẩn nấp sau các giấy tờ, trở thành ”chiếc máy hồ sơ” chứ không còn là ”những người của Thiên Chúa” nữa (Xc Dt 3,12). Họ có nguy cơ đánh mất sự nhạy cảm nhân bản cần thiết để khóc với những người khóc và vui với những người vui! Đó là bệnh của những người mất ”tâm tình của Chúa Giêsu” (Xc Pl 2,5-11), vì con tim của họ, qua dòng thời gian, đã trở nên chai đá và không có khả năng yêu mến Chúa Cha và tha nhân vô điều kiện (Xc Mt 22,34-40). Thực vậy, là Kitô hữu có nghĩa là ”có cùng những tâm tình như Chúa Giêsu Kitô” (Pl 2,5), những tâm tình khiêm tốn, và hiến thân, không dính bén và quảng đại.

4. Bệnh kế hoạch hóa thái quá và duy hiệu năng. Khi tông đồ kế hoạch mọi sự một cách tỷ mỉ và tưởng rằng khi thực hiện việc kế hoạch hóa hoàn toàn thì mọi sự sẽ thực sự tiến triển, như thế họ trở thành một kế toán viên hay một nhà tư vấn kinh doanh. Chuẩn bị mọi sự là điều tốt và cần thiết, nhưng không bao giờ được rơi vào cám dỗ muốn đóng kín và lèo lái tự do của Chúa Thánh Linh, Đấng luôn luôn lớn hơn, quảng đại hơn mọi kế hoạch của con người (Xc Ga 3,8). Người ta lâm vào căn bệnh này vì ”ở lại thoải mái trong các lập trường tĩnh và bất biến của mình thì vẫn là điều dễ dàng và ung dung hơn. Trong thực tế, Giáo Hội tỏ ra trung thành với Chúa Thánh Linh theo mức độ Giáo Hội không chủ trương điều hành và thuần hóa Thánh Linh. Thánh Linh là sự tươi mát, sáng tạo và mới mẻ!”

5. Bệnh phối hợp kém. Khi các chi thể mất sự hiệp thông với nhau thì thân thể đánh mất hoạt động hài hòa và chừng mực của mình, trở thành một ban nhạc chỉ tạo ra những tiếng ồn ào, vì các thành phần của ban không cộng tác với nhau, không sống tinh thần hiệp thông và đồng đội. Khi chân nói với tay: ”Tôi không cần anh”, hoặc tay nói với đầu: ”Tôi điều khiển”, thì tạo nên sự khó chịu và gương mù.

6. Cũng có thứ bệnh ”suy thoái não bộ tinh thần”, hay là quên đi ”lịch sử cứu độ”, lịch sử quan hệ bản thân với Chúa, quên đi mối tình đầu (Kh 2,4). Đó là sự suy thoái dần dần các khả năng tinh thần trong một khoảng thời gian dài ngắn hơn kém, tạo nên tình trạng tật nguyền trầm trong cho con người, làm cho nó không còn khả năng thi hành một số hoạt động tự lập, sống trong tình trạng hoàn toàn tùy thuộc những quan niệm thường là tưởng tượng. Chúng ta thấy điều đó nơi những người không còn nhớ cuộc gặp gỡ của họ với Chúa, nơi những người hoàn toàn tùy thuộc hiện tại của họ, đam mê, tính thay đổi nhất thời, và những thứ kỳ quặc khác; ta thấy nơi những người kiến tạo quanh mình những bức tường và những tập quán, ngày càng trở thành nô lệ cho các thần tượng mà họ tay họ tạo nên.
7. Bệnh cạnh tranh và háo danh. Khi cái vẻ bề ngoài, những mầu áo và huy chương trở thành đối tượng ưu tiên của cuộc sống, quên đi lời thánh Phaolô: ”Anh em đừng làm gì vì cạnh tranh hoặc háo danh, nhưng mỗi người với tất cả sự khiêm tốn, hãy coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm tư lợi, nhưng hãy tìm lợi ích của người khác nữa” (Pl 2,1-4). Đó là căn bệnh đưa chúng ta trở thành những con người giả dối và sống một thứ thần bí giả hiệu, một chủ thuyết yên tĩnh giả tạo, Chính thánh Phaolô đã định nghĩa họ là ”những kẻ thù của Thập Giá Chúa Kitô” vì họ ”kiêu hãnh về những điều mà lẽ ra họ phải hổ thẹn và chỉ nghĩ đến những điều thuộc về trần thế này” (Pl 3,19)

8. Bệnh tâm thần phân liệt trong cuộc sống. Đó là bệnh của những người sống hai mặt, hậu quả của sự giả hình về sự tầm thường và dần dần trở nên trống rỗng về tinh thần mà các văn bằng tiến sĩ hoặc các bằng cấp khác không thể lấp đầy được. Một thứ bệnh thường xảy ra nơi những người bỏ việc mục vụ, và chỉ giới hạn vào những công việc bàn giấy, đánh mất sự tiếp xúc với thực tại, với những con người cụ thể. Như thế họ tạo cho mình một thế giới song song, trong đó họ gạt sang một bên tất cả những gì họ nghiêm khắc dạy người khác, và bắt đầu sống một cuộc sống kín đáo và thường là tháo thứ. Sự hoán cải là điều rất cần thiết và không thể thiếu được đối với thứ bệnh rất nặng này (Xc Lc 15,11-32).

9. Bệnh 'ngồi lê đôi mách', lẫm bẩm và nói hành. Tôi đã nói nhiều về bệnh này và không bao giờ cho đủ. Đó là một bệnh nặng, thường bắt đầu bằng những cuộc chuyện trò, và nó làm cho con người thành người gieo rắc cỏ lùng cỏ dại như Satan, và trong nhiều trường hợp họ trở thành người ”điềm nhiên giết người”, giết hại danh thơm tiếng tốt của đồng nghiệp và anh em cùng dòng. Đó là bệnh của những người hèn nhát không có can đảm nói thẳng, mà chỉ nói sau lưng. Thánh Phaolô đã cảnh giác: ”Anh em hãy làm mọi sự mà đừng lẩm bẩm, không do dự, để không có gì đáng trách và tinh tuyền” (Pl 2,14-18). Hỡi anh em, chứng ta hãy giữ mình khỏi những nạn khủng bố nói hành nói xấu!

10. Bệnh thần thánh hóa giới lãnh đạo. Đó là bệnh của những kẻ dua nịnh cấp trên, hy vọng được ân huệ của họ. Họ là nạn nhân của công danh sự nghiệp và của thái độ xu thời, tôn kính con người chứ không tôn kính Thiên Chúa (Xc Mt 23,8-12). Đó là những người khi phục vụ chỉ nghĩ đến điều mà họ phải đạt được chứ không tới điều mà họ phải làm. Những người bủn xỉn nhỏ nhặt, bất hạnh, và chỉ hành động vì ích kỷ (Xc Gl 5,16-25). Bệnh này có thể xảy ra cho cả các cấp trên khi họ chiêu dụ vài cộng tác viên để được sự tuân phục, trung thành và tùy thuộc về tâm lý, nhưng kết quả cuối cùng là một sự đồng lõa thực sự.

11. Bệnh dửng dưng đối với người khác. Khi mỗi người chỉ nghĩa đến mình và đánh mất sự thành thực và quan hệ nồng nhiệt với nhau. Khi người giỏi nhất không đặt kiến thức của mình để phục vụ đồng nghiệp yếu kém hơn. Khi người ta biết được điều gì và giữ riêng cho mình thay vì chia sẻ tích cực với những người khác, Khi vì ghen tương và tinh ranh, họ cảm thấy vui mừng khi thấy người khác ngã xuống, thay vì nâng người ấy dậy và khích lệ họ!

12. Bệnh có bộ mặt đưa đám. Tức là những người cộc cằn và hung tợn, cho rằng để tỏ ra là nghiêm minh, cần có bộ mặt âu sầu, nghiêm khắc và đối xử với những người khác, nhất là những người cấp dưới, một cách cứng nhắc, cứng cỏi và kiêu hãnh. Trong thực tế, sự nghiêm khắc đóng kịch và thái độ bi quan vô ích thường là triệu chứng của sự sợ hãi và bất an về mình. Tông đồ phải cố gắng là một người nhã nhặn, thanh thản, nhiệt thành và vui tươi, thông truyền niềm vui tại bất kỳ nơi nào. Một con tim đầy Thiên Chúa là một con tim hạnh phúc, chiếu tỏa và làm lan rộng niềm vui cho tất cả những người quanh mình, người ta nhận thấy ngay điều đó.. Chúng ta đừng đánh mất tinh thần vui tươi, tinh thần hài hước, thậm chí tự cười mình, làm cho chúng ta trở thành những người dễ mến, cả trong những hoàn cảnh khó khăn”. Một chút tinh thần hài hước thật là điều tốt cho chúng ta dường nào. Thật là điều tốt nếu chúng ta thường đọc kinh của Thánh Thomas More: tôi vẫn đọc kinh đó hằng ngày và điều này mang nhiều ích lợi cho tôi.

12. Bệnh tích trữ. Khi tông đồ tìm cách lấp đầy khoảng trống trong con tim của mình bằng cách tích trữ của cải vật chất, không phải vì cần thiết nhưng chỉ vì để cảm thấy an ninh. Trong thực tế không có gì vật chất có thể mang theo mình vì ”khăn liệm không có túi” và mọi kho tàng vật chất của chúng ta, dù có thực đi nữa, không bao giờ có thể lấp đầy khoảng trống, trái lại càng làm cho nó khẩn trương và sâu đậm hơn. Chúa lập lại với những người ấy: ”Ngươi bảo: nay tôi giầu có, đã đầy đủ của cải rồi, tôi chẳng cần gì nữa. Nhưng ngươi không biết mình là kẻ bất hạnh, khốn nạn, một kẻ nghèo, mù lòa và trần trụi.. Vậy ngươi hãy nhiệt thành và hoán cải” (Kh 3,17-19). Sự tích trữ của cải chỉ làm cho nặng nề và làm cho hành trình trở nên chậm hơn! Và tôi nghĩ đến một giai thoại: trước kia các tu sĩ dòng Tên Tây Ban Nha mô tả dòng như một đoàn ”kỵ binh nhẹ nhàng của Giáo Hội”. Tôi nhớ cuộc dọn nhà của một tu sĩ dòng Tên trẻ, trong khi chất lên xa vận tải bao nhiêu đồ đạc: hành lý, sách vở, vật dụng, quà tặng, thì một tu sĩ dòng Tên cao niên quan sát và mỏỉm cười nói: đây có phải là kỵ binh nhẹ của Giáo Hội không?”. Những cuộc dọn nhà của chúng ta là một dấu hiệu về bệnh ấy.

13. Bệnh những nhóm khép kín, trong đó sự thuộc về một nhóm nhỏ trở nên mạnh hơn thuộc về cả thân mình và trong một số trường hợp, mạnh hơn thuộc về chính Chúa Kitô. Cả căn bệnh này cũng luôn bắt đầu bằng những ý hướng tốt là tiêu khiển với các bạn bè, nhưng với thời gian nó trở nên xấu, thành bệnh ung thư đe dọa sự hài hòa của thân thể và tạo nên bao nhiêu điều ác, gương mù, nhất cho cho những anh em bé nhỏ hơn của chúng ta. Sự tự hủy diệt, hay là ”những viên đạn của bạn đồng ngũ” chính là nguy hiểm tinh tế nhất. Đó là sự ác đánh từ bên trong, và như Chúa Kitô đã nói, ”nước nào chia rẽ bên trong thì sẽ bị tàn lụi” (Lc 11,17).

14. Sau cùng là bệnh tìm kiếm lợi lộc trần tục và phô trương. Khi tông đồ biến việc phục vụ của mình thành quyền lực, và biến quyền lực của mình thành hàng hóa để kiếm được những lợi lộc phàm tục và được nhiều quyền thế hơn. Đó là bệnh của những người tìm cách gia tăng vô độ quyền lực và để đạt được mục tiêu đó, họ vu khống, mạ lỵ và làm mất thanh danh của người khác, thậm chí trên cả các nhật báo và tạp chí, dĩ nhiên để biểu dương và chứng tỏ mình có khả năng hơn người khác. Cả thứ bệnh này cũng gây hại rất nhiều cho thân mình, vì nó làm cho con người đi tới độ biện minh việc sử dụng bất kỳ phương thế nào để đạt tới mục tiêu ấy, thường là nhân danh công lý và sự minh bạch. Và ở đây tôi nhớ đến một linh mục đã gọi các ký giả đến để kể cho họ – một điều mà LM này bịa đặt – về những chuyện riêng tư của những linh mục khác và của giáo dân. LM ấy chỉ muốn được xuất hiện trên những trang nhất của báo chí, và như thế cảm thấy mình quyền năng và chiến thắng, nhưng tạo ra bao nhiêu đau khổ cho những người khác và cho Giáo Hội! Thật là kẻ đáng thương!

ĐTC nhận xét rằng những căn bệnh và cám dỗ ấy cũng là nguy cơ của mỗi Kitô hữu, mỗi giáo xứ, cộng đoàn, dòng tu, các phong trào Giáo Hội, trên bình diện cá nhân và cộng đoàn.

Ngài mời gọi tất cả mọi người hãy sống theo chân lý trong sự thật, nhất là trong mùa Giáng Sinh này, hãy chuẩn bị xưng tội và xin Mẹ Maria, Mẹ Giáo Hội, chữa lành mọi vết thương tội lỗi mà mỗi người chúng ta mang trong tâm hồn, và xin Mẹ nâng đỡ Giáo Hội và giáo triều để tất cả được lành mạnh, thánh thiện và thánh hóa, hầu tôn vinh Con của Mẹ và để cứu độ chúng ta và toàn thế giới.

Sau bài diễn văn, ĐTC đã đích thân đến bắt tay chúc mừng các Hồng Y đứng thành hình vòng cung ở sảnh đường Clemente trong dinh Tông Tòa, và tiếp đến, các GM cũng như các giám chức, các LM khác và các giáo dân ở vị trí lãnh đạo, đến trước ĐTC để chúc mừng và bắt tay ngài.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha: Chúa nhật 21-12-2014

Kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha: Chúa nhật 21-12-2014

VATICAN. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa chúa nhật 21-12-2014 với 30 ngàn tín hữu tại Quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC Phanxicô mời gọi các tín hữu noi gương Mẹ Maria mau lẹ ”xin vâng” đối với thánh ý Chúa.

Bài huấn dụ của ĐTC trước khi đọc kinh

Anh chị em thân mến, chào anh chị em,

Hôm nay, chúa nhật thứ tư và là chúa nhật cuối cùng của Mùa Vọng, phụng vụ muốn chuẩn bị chúng ta mừng lễ Giáng Sinh nay đã đến ngưỡng cửa, bằng cách mời gọi chúng ta suy tư về trình thuật cuộc truyền tin của Sứ Thần cho Mẹ Maria. Thiên Thần Gabriel – có nghĩa là ”Sức mạnh của Thiên Chúa” – tỏ lộ cho Đức Trinh Nữ ý Chúa muốn Người trở thành Mẹ của Con duy nhất của Ngài: ”Trinh Nữ sẽ thụ thai, sinh một con trai và đặt tên là Giêsu. Hài Nhi sẽ nên cao trọng và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao” (Lc 1,31-32). Chúng ta hãy ngắm nhìn thiếu nữ đơn sơ này ở thành Nazareth, trong lúc Người bày tỏ sự sẵn sàng đối với sứ điệp của Chúa; chúng ta hãy đón nhận 2 khía cạnh thiết yếu trong thái độ của Mẹ Maria, là mẫu mực cho chúng ta trong lúc chuẩn bị lễ Giáng Sinh.

– Trước tiên là đức tin của Mẹ Maria, hệ tại lắng nghe Lời Chúa để phó thác cho Lời của Chúa trong thái độ hoàn toàn sẵn sàng trong tâm trí. Đáp lại Sứ Thần, Mẹ Maria nói: ”Này tôi là tôi tớ Chúa: xin xảy đến cho tôi theo Lời Ngài” (v.38). Qua lời thưa ”Này tôi đây” tràn đầy niềm tin, Mẹ Maria không biết mình sẽ phiêu lưu qua những con đường nào, đâu là những đau khổ sẽ phải chịu, đâu là những rủi ro sẽ phải đương đầu. Nhưng Mẹ ý thức rằng chính Chúa yêu cầu và Mẹ hoàn toàn tín thác nơi Chúa và phó thác cho tình yêu Chúa.

– Một khía cạnh khác là khả năng của Mẹ Chúa Kitô nhìn nhận thời điểm của Thiên Chúa. Mẹ Maria là người đã làm cho sự nhập thể của Con Thiên Chúa có thể tiến hành được, ”sự mạc khải mầu nhiệm được giữ trong im lặng của bao thế kỷ” (Rm 16,25), như thánh Phaolô đã viết. Mẹ đã làm cho sự nhập thể của Ngôi Lời nhà lời thưa ”xin vâng” khiêm tốn và can đảm. Mẹ Maria dạy chúng ta đón nhận thời điểm thuận tiện, trong đó Chúa Giêsu đi vào đời sống chúng ta và yêu cầu trả lời sẵn sàng và quảng đại. Thực vậy, mầu nhiệm giáng sinh của Chúa Giêsu tại Bethlehem, diễn ra trong lịch sử cách đây hơn kém 2 ngàn năm, được diễn ra như một biến cố tinh thần, trong ”ngày hôm nay” của Phụng Vụ. Ngôi Lời, tìm được nơi ở trong cung lòng Đức Trinh Nữ Maria, trong lễ Giáng Sinh, Người đến tái gõ cửa tâm hồn mỗi người. Như Mẹ Maria, mỗi người chúng ta cũng được kêu gọi thưa “xin vâng” với trọn bản thân và tất cả lòng chân thành, hoàn toàn sẵn sàng đối với thánh ý Chúa và lượng từ bi của Ngài.

”Bao nhiêu lần Chúa Giêsu đi qua trong cuộc đời chúng ta và bao nhiêu lần Chúa gửi một thiên thần đến với chúng ta: bao nhiêu lần chúng ta không ý thức điều đó, vì chúng ta quá bận rộn và chìm đắm trong những công việc của mình. Thậm chí cả trong việc chuẩn bị lễ Giáng Sinh, chúng ta không thấy Chúa đi qua và gõ cửa lòng chúng ta, xin sự đón tiếp của chúng ta. Một vị thánh đã nói: ”Tôi sợ Chúa đi qua mất”. Anh chị em có biết tại sao vị thánh ấy sợ hãi hay không? Người sợ không nhận thấy và để Chúa đi qua luôn. Chúng ta cảm thấy trong tâm hồn mình ước muốn trở nên tốt lành hơn: Chúa gõ cửa và làm cho chúng ta cảm thấy muốn trở nên tốt lành, gần gũi Thiên Cháu hơn. Nếu bạn cảm thấy điều ấy, thì hãy dừng lại, đó chính là Chúa. Và hãy đi cầu nguyện, đi xưng tội. Đó là điều làm cho bạn được tốt lành. Vậy nếu bạn cảm thấy muốn trở nên thiện hảo, thì đó chính là Chúa đi qua. Đừng để Ngài đi mất!

Và ĐTC kết luận rằng:

”Trong mầu nhiệm giáng sinh, cạnh Mẹ Maria, có sự hiện diện âm thầm của thánh Giuse, như vẫn được diễn tả trong mỗi hang đá máng cỏ – như anh chị em có thể chiêm ngắm tại Quảng trường thánh Phêrô này. Gương của Mẹ Maria và thánh Giuse là một lời mời gọi mọi người chúng ta hãy đón nhận Chúa Giêsu với tất cả tâm hồn cởi mở, vì yêu thương, Ngài đã trở nên người anh của chúng ta. Chúa đến mang cho thế giới này hồng ân hòa bình ”Bình an dưới thế cho những người Chúa thương” (Lc 2,14), như đoàn thiên thần loan báo cho những người chăn chiên. Hồng ân quí giá của lễ Giáng Sinh là an bình, và Chúa Kitô chính là an bình đích thực của chúng ta.

”Chúng ta hãy phó thác cho lời chuyển cầu của Mẹ chúng ta và của thánh Giuse, để sống một lễ giáng sinh thực sự theo tinh thần Kitô, khỏi mọi thứ trần tục, sẵn sàng đón nhận Chúa Cứu Thế, Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Sau phép lành ĐTC còn chào thăm các tín hữu và nói rằng:

”Anh chị em thân mến, tôi chào thăm tất cả anh chị em, các tín hữu Roma và những tín hữu hành hương đến từ nhiều nước khác nhau; các gia đình, các nhóm giáo xứ, các hội đoàn. Đặc biệt tôi chào thăm các bạn trẻ thuộc phong trào Focolari (Tổ Ấm), cộng đoàn ĐGH Gioan 23, các hướng đạo sinh Công Giáo ở khu vực Tor Sapienza, Roma.

Tôi cầu chúc tất cả anh chị em một chúa nhật tốt đẹp, một lễ giáng sinh hy vọng, đầu vui tươi và huynh đệ. Chúc anh chị em bữa trưa ngon lành và xin cầu nguyện cho tôi nữa.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

Đức Thánh Cha tiếp kiến 7,500 thành viên Cộng đoàn Thánh Gioan 23

Đức Thánh Cha tiếp kiến 7,500 thành viên Cộng đoàn Thánh Gioan 23

VATICAN. Sáng 20-12-2014, ĐTC đã tiếp kiến 7,500 người thuộc Cộng đoàn thánh Gioan 23. Ngài khích lệ các thành viên cộng đoàn tiếp tục chăm sóc việc huấn luyện tinh thần và siêng năng lãnh nhận các bí tích.

Cộng đoàn thánh Gioan 23 do vị Tôi Tớ Chúa Linh mục Oreste Benzi người Italia sáng lập cách đây 46 năm (1968), chuyên giúp cai nghiện ma túy, phục hồi các phụ nữ phải hành nghề mại dâm và trợ giúp những người ở trong hoàn cảnh khó khăn. Hiện nay cộng đoàn này hiện diện và hoạt động tại 34 quốc gia với các căn nhà gia đình, các hợp tác xã xã hội và giáo dục, các nhà cầu nguyện, các dịch vụ tháp tùng các phụ nữ mang thai gặp vấn đề, và các sáng kiến khác. 6 nước Á châu có các cộng đoàn Gioan 23 là Bangladesh, Trung Quốc, Ấn độ, Israel Palestine, Népal và Sri Lanka.

Hiện diện tại buổi tiếp kiến của ĐTC tại thính đường Phaolô 6 sáng 20-12-2014, cũng có 18 Hồng y và GM, 1,800 trẻ vị thành niên từ 10 đến 18 tuổi, 200 trẻ em và người lớn ngồi trên ghế lăn và nhiều người già.

Trước khi ĐTC đến, các tham dự viên đã sinh hoạt, ca hát, văn nghệ và nghe trình bày chứng từ. Khi ngài đến lúc quá 12 giờ trưa, sau lời chào mừng vị của vị tổng phụ trách, một cựu nữ mại dâm người Nigeria được cộng đồng thánh Gioan 23 giải thoát đã kể lại chứng từ. Khi còn là một thiếu nữ 18 tuổi, cô bị thân phụ bán sang Italia cho bọn ma-cô. Trong khi hành nghề mại dâm, cô có thai và sinh con. Sau đó cô được một thành viên cộng đồng Gioan 23 giúp tìm lại được tự do.

Tiếp đến một gia đình người du mục Rom được tiếp đón trong cộng đoàn này đã trình bày chứng từ với ĐTC và mọi người.

Trong bài huấn dụ, ĐTC nhận xét rằng ”những chuyện kể của anh chị em kể lại nói về sự nô lệ và giải thoát, về sự ích kỷ của những người muốn xây dựng cuộc sống của mình bằng cách bóc lột người khác, và về lòng quảng đại của những người giúp đỡ tha nhân trỗi dậy tình trạng lầm than vật chất và luân lý của họ”.

”Những kinh nghiệm đó cho thấy bao nhiêu hình thức nghèo đói làm cho thế giới chúng ta bị thương tổn; chúng cũng tỏ lộ tình trạng lầm than nguy hiểm nhất, nguyên nhân của tất cả những lầm thang khác chính là sự xa lìa Thiên Chúa, tưởng mình có bất cần Thiên Chúa. Thật là một sự lầm than mù quáng khi coi mục đích đời mình là sự giàu sang vật chất, tìm kiếm quyền lực và lạc thù, nô lệ hóa cuộc sống tha nhân để đạt tới mục tiêu của mình”.

ĐTC mời gọi các tín hữu hãy để cho sự hiện diện của Chúa mở rộng chân trời, chữa lành tư tưởng và cảm xúc của mình. Sự hiện diện ấy mang lại cho chúng ta sức mạnh cần thiết để vượt thắng những khó khăn và thử thách. Nơi nào có Chúa Giêsu, thì có sự sống lại, có sự sống, vì chính Chúa là sự phục sinh và là sự sống”. (SD 20-12-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Khiêm nhường đón nhận.

Khiêm nhường đón nhận

Đọc Tam Quốc Chí, ai cũng mến mộ Trương Lương, một trong những vị tướng tài ba của Lưu Bang. Thuở nhỏ, Trương Lương đi dạo chơi ngoài bờ sông. Thấy một ông lão ăn mặc rách rưới nằm ngủ trên cầu. Ông lão ngủ say làm rơi một chiếc dép xuống sông. Thấy Trương Lương, ông sai bảo: Thằng bé, nhặt chiếc dép cho ta. Trương Lương vui vẻ xuống sông nhặt chiếc dép kính cẩn đưa lại cho cụ già. Cụ cầm lấy. không một lời cám ơn. Loay hoay xỏ mãi không vào, cụ đánh rơi chiếc dép một lần nữa. Cụ lại quát bảo Trương Lương: Thằng bé, xuống nhặt dép cho ta. Trương Lương vẫn vui vẻ giúp cụ. Lần thứ ba cũng thế. Thấy vậy, ông lão khen: Thằng bé này dạy được đây. Thì ra cụ là một cao nhân lỗi lạc. Và cụ nhận Trương Lương làm học trò, truyền dạy binh pháp cho ông. Nhờ thế, Trương Lương trở nên một danh tướng văn võ song toàn, đã giúp cho Lưu Bang dựng nên nghiệp đế vương.

Trương Lương gặp được thầy giỏi một phần nhờ cơ may. Nhưng phần lớn là nhờ sự khiêm nhường phục vụ của ông. Đọc truyện Trương Lương, tôi lại nhớ đến Đức Mẹ. Thời Đức Mẹ, ai cũng mong chờ Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ mình Đức Mẹ được diễm phúc đón nhận. Chúa chọn Đức Mẹ, đó là do ơn lành nhưng không của Chúa, nhưng cũng vì Đức Mẹ có tâm hồn khiêm nhường đón nhận.

Đức Mẹ khiêm nhường trong đời sống bình dị. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo. Sống trong một thôn xóm nghèo hèn vô danh. Ngày ngày chu toàn những công việc tầm thường như nấu nướng, may vá, dọn dẹp nhà cửa.

Đức Mẹ khiêm nhường trong thái độ ứng xử. Trước mặt thiên sứ Gabriel, Đức Mẹ xưng mình là nữ tỳ của Thiên Chúa, dù thiên sứ đã loan báo Mẹ sẽ là Mẹ Thiên Chúa. Sau đó, Đức Mẹ đến thăm bà chị họ Elidabet. Vừa nghe Đức Mẹ chào, bà Elidabet đã ngợi khen Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. Đáp lại, Đức Mẹ chỉ nhận mình là phận hèn bé nhỏ. Nếu có được ơn gì là do Thiên Chúa thương ban.

Vì khiêm nhường nên Đức Mẹ hoàn toàn vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Đức Mẹ đã có chương trình riêng. Chương trình đó là sống độc thân trinh khiết. Đó là một chương trình tốt đẹp. Nhưng khi Thiên Chúa ngỏ ý muốn Đức Mẹ theo chương trình của Chúa, Đức Mẹ đã mau mắn từ bỏ chương trình riêng tư để đi vào chương trình của Thiên Chúa. Đức Mẹ nhận biết rằng, chương trình của Chúa là vô cùng tốt đẹp, còn chương trình riêng chỉ là bất toàn. Thánh ý Thiên chúa là tuyệt đối, còn ý riêng chỉ là khiếm khuyết.

Vì khiêm nhường nên Đức Mẹ phó thác trọn vẹn vận mạng trong tay Chúa. Khi thưa Xin vâng, Đức Mẹ đã mạnh dạn vượt qua những toan tính dè dặt của người đời để nép mình vào bàn tay quan phòng của Thiên chúa. Nếu ta hiểu luật lệ khắc nghiệt của người Do thái đối với phụ nữ không chồng mà có con, ta sẽ thấy Đức Mẹ liều lĩnh biết bao, và sự phó thác của Mẹ vào Thiên chúa mãnh liệt đến thế nào.

Vì đã thưa Xin vâng, nên Đức Mẹ chấp nhận tất cả, dù chưa hiểu hết Thánh ý Thiên Chúa. Tại sao Con Thiên Chúa phải sinh ra trong cảnh thiếu thốn nghèo nàn? Tại sao Vua trời đất lại phải chạy trốn như một kẻ yếu hèn? Tại sao Đấng Cứu thế làm nhiều phép lạ đến thế để cứu nhân độ thế lại bị người ta chống đối, hành hạ, giết chết nhục nhã như một tội nhân? Hoàn toàn không hiểu, nhưng Đức Mẹ vẫn khiêm nhường chấp nhận và tin tưởng phó thác. Vì thế Đức Mẹ vẫn kiên trì theo Chúa Giê su trên khắp mọi nẻo đường, cho đến dưới chân thánh giá.

Thái độ khiêm tốn chấp nhận của Đức Mẹ đã được Thiên Chúa yêu thương. Nước chảy xuống chỗ trũng. Ân huệ Thiên chúa đổ xuống tâm hồn khiêm nhường. Càng khiêm nhường càng nhận được nhiều ân phúc. Đức Mẹ có một tâm hồn khiêm nhường thẳm sâu, nên Đức Mẹ đã nhận được đầy tràn ân phúc của Thiên chúa, nhận được chính Ngôi Hai Thiên Chúa, là nguồn mạch mọi ân phúc.

Mùa Vọng là mùa chờ đón Chúa đến. Ta mong được đón rước Chúa vào tâm hồn. Ta mong được ân huệ dư đầy của Thiên Chúa. Ta hãy noi gương Đức Mẹ, biết khiêm nhường nhận mình tội lỗi yếu hèn, biết khiêm nhường từ bỏ ý riêng để thi hành ý Chúa, biết khiêm nhường vâng theo ý Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời, biết khiêm nhường phó thác vân mệnh trong tay Chúa dù không hiểu hết những ý định mầu nhiệm của Người. Chỉ khi khiêm nhường tan biến thành hư không, ta mới được Chúa thương đổ đầy tràn ân phúc vào tâm hồn.

Lạy Đức Mẹ Maria, xin dạy con biết sống khiêm nhường để con đi vào chương trình của Thiên Chúa.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Bạn có nhận thấy sự khiêm nhường của Đức Mẹ không?

2) Từ bỏ ý riêng có dễ không?

3) Có khi nào bạn cảm thấy hoàn toàn bất lực để phó thác trọn vẹn trong tay Chúa chưa?

4) Khi đã hiểu rõ gương khiêm nhường của Đức Mẹ, bạn có muốn bắt chước Đức Mẹ không?

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

YÊU CUỘC ĐỜI, YÊU CON NGƯỜI

YÊU CUỘC ĐỜI, YÊU CON NGƯỜI

Jacques Duquesne là một văn hào hiện đại của nước Pháp có kể rằng: Trong một cuộc tranh luận ở thư viện ngoại ô Paris, với thành phần tham dự đủ mọi loại người, thuộc nhiều tầng lớp xã hội và tuổi tác khác nhau, đề tài được bàn đến là Đức Giêsu. Đang khi mọi người tranh luận, một thiếu niên Ả-rập giơ tay nói với Duquesne: thưa ông, một con người không thể là Thiên Chúa, một Thiên Chúa không thể là người.

Quả thật đây là vấn đề được đặt ra từ lâu. Không chỉ người thiếu niên Hồi Giáo đặt ra mà suốt 20 thế kỷ qua nhân loại vẫn luôn thao thức. Tin vào một Thiên Chúa thần linh thì hầu hết các tôn giáo đều làm như vậy. Nhưng tin vào một Thiên Chúa làm người, chấp nhận thân phận con người, không loại trừ bất cứ điều gì chỉ trừ tội lỗi là một điều vượt quá lý trí nhân loại. Làm sao một Thiên Chúa lại có thể làm những chuyện quá tầm thường, thậm chí không xứng đáng với bản tính thần linh của Ngài như là được cưu mang, được sinh hạ, phải ăn uống ngũ nghỉ, mệt mỏi, vui buồn?

Vậy mà Giáo Hội Kitô Giáo hơn 20 thế kỷ qua vẫn kiên trì bảo vệ niềm tin vững chắc của mình vào một Đức Giêsu vừa là Thiên Chúa thật vừa là người thật. Trong Phụng Vụ Lễ Giáng Sinh khi đọc đến câu Tin Mừng Ga 1, 14: "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" thì mọi người đều quì gối. Trong Lễ Truyền Tin, lúc đọc Kinh Tin Kính, mọi người đều quì gối khi đọc câu "Người đã nhập thể trong lòng Trinh nữ Maria và đã làm người"

Đức Giêsu, Thiên Chúa thật, người thật, là một mầu nhiệm thâm sâu. Đức Hồng Y Henri De Lubac bảo rằng: Mầu nhiệm Nhập thể là nghịch lý của mọi nghịch lý. Văn hào Tertuliano đã xác tín: Tôi tin vì nó phi lý. Thiên Chúa làm người, điều phi lý đối với lý trí nhưng ông đã tin vì Thiên Chúa là tình yêu. Thiên Chúa làm người là một nghịch lý, một điều không thể tin được, bởi lẽ, đã là Thiên Chúa thì phải là Đấng cao cả, tuyệt đối, hằng hữu, bất tử. Đối với triết lý Hy-lạp, các thần linh thuộc về một thế giới siêu phàm hoàn toàn khác biệt với thế giới phàm nhân. Các thần linh đều bất di bất dịch, bất động vô cảm đối với thế giới vật chất. Còn vật chất là một thực tại xấu xa. Thân xác con người là tù ngục nhốt kín linh hồn và linh hồn tìm cách thoát khỏi tù ngục thân xác để trở về thượng giới. Do đó họ không thể tin nổi một Thiên Chúa yêu thương con người tới mức làm người, sống với con người cách đơn sơ bé nhỏ. Vậy mà niềm tin Kitô Giáo lại khẳng định: Điều mà người Do-thái coi là ô nhục không thể chấp nhận được, dân ngoại cho là điên rồ (1 Cr 1, 23) thì lại là Niềm Tin căn bản nhất trong giáo lý Giáo Hội: Thiên Chúa làm người và ở cùng chúng ta.

Chúa Nhật 4 Mùa Vọng hướng về Lễ Giáng Sinh. Giáo Hội chọn đọc đoạn Tin Mừng Lc 1, 26 – 38: Truyền tin cho Đức Maria để nói cho chúng ta về việc nhập thể lạ lùng của Con Thiên Chúa trong cung lòng một trinh nữ. Một trinh nữ thụ thai, sinh con, đồng trinh trọn đời, một giáo lý độc đáo nhất chỉ có trong Kitô Giáo. Đoạn Tin Mừng này được đọc trong các Lễ Đức Maria, nói lên sự thánh hiến tuyển chọn của Thiên Chúa đối với một thụ tạo được đặc ân vĩ đại nhất. Trang Tin Mừng được công bố trong Chúa Nhật này muốn hướng chúng ta đến Mầu Nhiệm Nhập Thể Làm Người của Con Thiên Chúa.

Trong cuộc đối thoại giữa sứ thần Gabriel và Đức Maria, chính sứ thần đã nói: "Quyền năng Đấng Tối Cao sẽ bao trùm lên bà, vì thế con bà sinh ra sẽ là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa". Từ ngữ quan trọng ở đây là "bao trùm lên". Trong Cựu Ước, sách Xuất Hành kể lại: Một đám mây mầu nhiệm bao trùm lên Lều Tạm, nơi dân Do-thái để Hòm Bia Giao Ước; Một giao ước được Thiên Chúa ký kết với Mô-sê trên núi Xinai. Hòm Bia, nơi chứa đựng Thập Giới; Xh 40, 34 nói rằng: Bao lâu đám mây còn bao phủ Lều Tạm thì Lều Tạm có Thiên Chúa hiện diện.

Thánh Luca dùng từ "bao trùm lên" không phải là ngẫu nhiên mà là có ý nghĩa thâm sâu. Lu-ca so sánh thân thể Đức Maria với Lều Tạm, nơi đặt Hòm Bia Giao Ước của Thiên Chúa. Cung lòng Đức Maria, nơi Đức Giêsu cư ngụ; Hòm Bia Giao Ước, nơi đặt hai phiến đá ghi 10 Giới Răn của Thiên Chúa, trung tâm Cựu Ước. Vậy khi quyền năng của Thiên Chúa bao trùm lên Đức Maria thì có Thiên Chúa hiện diện trong Ngài. Nhưng sự hiện diện của Thiên Chúa trong cung lòng Đức Maria thì vô cùng phong phú hơn làsự hiện của Thiên Chúa trong Nhà Tạm, vì nơi đó Đức Giêsu bằng xương bằng thịt hiện diện. Quyền năng Chúa Thánh Thần bao phủ và máu thịt Đức Maria tạo nên hình hài Đức Giêsu. Đức Giêsu mặc lấy thân xác con người nhờ máu thịt Đức Maria và Người vẫn là Thiên Chúa được Chúa Cha sinh ra từ muôn thuở. Cả hai bài đọc giúp chúng ta hiểu thêm về mầu nhiệm ấy.

Bài đọc 1 trong sách 2 Sm 7, 1-16: Thiên Chúa từ chối ngôi đền vật chất mà Đavít muốn xây cho Ngài; nhưng traí lại, Thiên Chúa hứa cho Đavít một ngôi nhà thiên thu là dòng dõi Đavít. Lời hứa này được thực hiện nơi Đức Maria, Đấng trở nên Hòm Bia Thiên Chúa, nơi đây Con Thiên Chúa đến với loài người. Đó cũng là mạc khải của mầu nhiệm được giữ kín từ muôn thuở nay được bày tỏ ra mà Thánh Phaolô đề cập đến trong bài đọc 2, Thư Rm 16, 25 – 27.

Qua lời "Xin Vâng" của Đức Maria, Thiên Chúa đã nhập thể làm người. Nói như Thư Do thái, Ngài đã muốn nên giống anh em mình về mọi phương diện, phải trải qua thử thách và đau khổ, phải nếm sự chết. Đau thương, thử thách, gian khổ, chết, đó làthân phận con người. Hữu sinh hữu tử. Đức Giêsu đã chấp nhận sinh làm con một người phụ nữ và sống dưới lề luật như Lời Thánh Phaolô trong Thư Gl 4, 4 thì Người cũng chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây thập giá và táng xác như chúng ta đã tuyên xưng trong kinh tin kính. Đó là niềm tin vững chắc của người Kitô hữu hơn 20 thế kỷ qua.

Đức Giêsu đã sinh ra và đã đi vào lịch sử. Thiên Chúa của chúng ta không phải là vị Chúa Tể xa cách uy nghi ngự chín tầng mây, mà qua, Đức Giêsu, Người đã trở thành Em-ma-nu-en, Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Người đến không phải để được kẻ hầu người hạ mà là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn dân. Chính Người đã quì xuống rửa chân cho các môn đệ và tuyên bố với các học trò mình "Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ vì tôi tớ không biết việc chủ làm, nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu vì tất cả những gì Thầy nghe biết nơi Cha Thầy thì Thầy sẽ cho anh em biết" (Ga 15, 15).

Con Thiên Chúa làm người cũng lớn lên như hàng tỉ con người khác, cũng cần chín tháng mười ngày trong lòng mẹ để khóc chào đời mong manh yếu đuối. Người cũng đã đi hết hành trình cuộc đời với tất cả buốn vui, âu lo trăn trở. Như thế, Con Thiên Chúa làm người dạy cho mỗi người chúng ta yêu mến cuộc đời, yêu mảnh đời bé nhỏ âm thầm đơn sơ của mình. Cuộc đời Đức Giêsu không chỉ toàn màu hồng. Ngài đã phải long đong với phận nghèo, cũng ê chề vì thất bại chống đối khinh khi, bị tước đoạt đến tột cùng trên thập giá. Nhưng Ngài vững tin đến cùng vào tình yêu Chúa Cha ngay giữa lúc tối tăm nhất.

Con Thiên Chúa làm người dạy chúng ta yêu mến mọi người. Từ khi Đức Giêsu mang lấy khuôn mặt con người thì mọi người đều mang khuôn mặt Thiên Chúa. Mọi người đều là anh em trong Đức Giêsu. Yêu cuộc đời và yêu mọi người là thắp lên ngọn lửa Đức Tin để sưởi ấm cho xã hội đang mất dần niềm tin vào Thiên Chúa vào con người. Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 trong Thông Điệp Đấng Cứu Chuộc Con Người đã mạnh mẽ nói rằng: Con người là con đường của Giáo Hội. con người là đối tượng phục vụ của Giáo Hội.

Xin Đấng Emmanuel giúp chúng con yêu mến con người và yêu mến cuộc đời.

LM Giuse Nguyễn Hữu An