Ý nghĩa Giáng Sinh trong Năm Thánh Lòng Thương Xót

Ý nghĩa Giáng Sinh trong Năm Thánh Lòng Thương Xót

Phỏng vấn ĐGM Sanchez Sorondo, Chưỏng ấn các Hàn lâm viện Khoa Học và Khoa Học Xã Hội, về ý nghĩa Giáng Sinh trong Năm Thánh Lòng Thương Xót

Lễ Giáng Sinh năm vừa qua có mầu sắc đặc biệt vì được cử hành trong bầu khí Năm Thánh ngoại thương Lòng Thương Xót. Trong tư tưởng phóng lên mạng Tweeter hôm trước ngày Giáng Sinh, ĐTC Phanxicô lại đề cập đến biến cố Thiên Chúa tự “trở thành bé nhỏ” như một hài nhi để biểu lộ cho chúng ta thấy tất cả tình yêu thương Ngài dành cho nhân loại và từng ngưởi trong chúng ta.

Trong sứ điệp Giáng Sinh ĐTC đã duyệt qua một số vùng không có hoà bình trên thế giới và tha thiết mời gọi mọi người sống thương xót như Thiên  Chúa, để cho Chúa Giêsu Kitô Cứu Thế sinh ra trong tâm lòng và cuộc sống hầu có sự bình an, niềm hy vọng  và lòng thương xót, loại bỏ mọi thù hận, chiến tranh xung khắc, bất công, và tìm lại được phẩm giá là người và là con cái Chúa của mình.

Ngài nói: “Chúng ta hãy mở rộng con tim để nhận lấy ơn thánh của ngày này, là chính Ngài: Chúa Giêsu là “ngày” sáng đã mọc lên ở chân trời của nhân loại. Ngày của lòng thương xót, trong đó Thiên Chúa Cha đã vén mở cho nhân loại sự dịu hiền mênh mông của Ngài. Ngày của ánh sáng đánh tan đêm tối của sợ hãi và âu lo. Ngày của hoà bình, trong đó có thể gặp gỡ nhau, đối thoại, hoà giải với nhau. Ngày của niềm vui: một “niềm vui lớn lao” cho người bé nhỏ và khiêm tốn và cho toàn dân (x. Lc 2,10).

Trong ngày này Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế đã được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria. Hang đá cho chúng ta thấy “dấu chỉ” mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta: “một trẻ sơ cuốn trong tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12). Giống như các mục đồng của Bếtlêhem chúng ta cũng đi xem dấu chỉ này, biến cố này canh tân hằng năm trong Giáo Hội. Giáng Sinh là một biến cố được canh tân hằng năm trong mỗi gia đình, trong mỗi giáo xứ, trong mỗi cộng đoàn tiếp nhận tình yêu của Thiên Chúa nhập thể nơi Đức Giêsu Kitô. Như Mẹ Maria, Giáo Hội chỉ cho tất cả mọi người “dấu chỉ” của Thiên Chúa: Trẻ Thơ mà Mẹ đã mang trong lòng và đã cho chào đời, nhưng là Con Đấng Tối Cao, bởi vì Ngài “đến từ Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20). Vì thế Ngài là Đấng Cứu Thế, bởi vì Ngài là Chiên Con của Thiên Chúa gánh lấy tội trần gian (x. Ga 1,29). Cùng với các mục đồng chúng ta hãy phủ phục trước Chiên Con, chúng ta hãy thờ lậy Lòng Lành của Thiên Chúa nhập thể và chúng ta hãy để cho nước mắt sám hối trần đầy đôi mắt và rửa sạch con tim chúng ta. Tất cả chúng ta đều cần điều đó.

Chỉ có Ngài, chỉ có Ngài có thể cứu chúng ta. Chỉ có Lòng Thương Xót của Thiên Chúa có thể giải thoát nhân loại khỏi biết bao hình thức sự dữ, đôi khi quái gở, mà tính ích kỷ gây ra nơi nó. Ơn thánh của Thiên Chúa có thể hoán cải các con tim và mở ra các con đường ra khỏi các tình trạng không thể giải quyết được trên bình diện nhân loại. “

Sau đây chúng tôi xin gửi tới quý vị một số suy tư của ĐGM Sanchez Sorondo, Chưởng ấn các Hàn lâm viện khoa học và khoa xã hội học của Toà Thánh, về đề tài này.

Hỏi: Thưa ĐC Sorondo, Giáng Sinh là lễ cử hành biến cố Con Thiên Chúa nhập thể làm người, mặc lấy hình hài của một trẻ thơ bé nhỏ, yếu đuối, không được bệnh đỡ như bất cử trẻ thơ nào khác trên trần gian này. ĐC có cảm nghĩ nào?

Đáp: Thật rõ ràng “trở nên bé nhỏ” có nghĩa là Giáng Sinh, bởi vì Thiên Chúa tự trở thành một Hài Nhi: Ngài không chỉ nhập thể mà thôi! Ngôi Lời Thiên  Chúa làm điều đó một cách tự nhiên với tất cả mọi điều kiện của bản tính nhân loại, và như thế với việc sinh ra. Tất cả mọi người đã khâm phục khi ĐTC nói: “Ngài trở nên bé nhỏ”: Ngài là một trẻ thơ, hoàn toàn yếu đuối… Lập tức nó làm nảy sinh ra nơi chúng ta tâm tình của sự săn sóc, của trách nhiệm, của việc làm cái gì đó cho Chúa.

Hỏi: Thưa ĐC, cuộc cách mạng của Chúa Giêsu là “cuộc cách mạng của sự dịu hiền”, chúng ta trông thấy điều đó đặc biệt trong lễ Giáng Sinh, và nó là một cái gì mà ĐTC Phanxicô lập đi lập lại biết bao nhiêu lần. Chúng ta biết đây là một sứ điệp không dễ thực thi và không dễ hiểu trong xã hội của chúng ta ngày nay. Phải khởi hành từ đâu, ngày tại Vaticăng này, cả trong công việc phục vụ Người Kế Vị Thánh Phêrô?

Đáp: Tư tưởng này của ĐTC rất là mạnh mẽ và tự nó là tư tưởng của Thánh Kinh và của chính Chúa Kitô. Ta có thể làm gì? Điều đầu tiên là tìm đi theo ĐTC và không có sự lưỡng lự nào, bởi vì ta đang cho thấy một cách thực thụ tính cách triệt để của Tinh Mừng. Ngài không phải là của cánh tả cũng không phải của cánh hữu, ngài không ở trên cũng không ở dưới: một cách đơn sơ ngài chỉ muốn áp dụng các Mối Phúc Thật! Và Chúa hứa gì với những người công chính và với những người hiền dịu, với những người yêu công lý và hoạt động cho hoà bình và có con tim trong sạch? Chúa hứa: “Họ sẽ được gọi là con cái của Thiên Chúa và sẽ trông thấy Thiên Chúa”. Đó là các lời hứa mà Chúa làm cho những người sống phù hợp với các Mối Phúc Thật. Và quý vị hãy coi, đó là chương trình của Chúa, chương trình của Tin Mừng đấy! Không có một chương trình khác! Như vậy ĐTC không làm gì khác hơn là thực hiện chương trình này. Vì thế điều đầu tiên đối với chúng tôi là đi theo ĐTC, hiểu chương trình ấy một cách rõ ràng, tìm cách hiểu nó trong ý nghĩa sâu xa của điều ĐTC muốn thực hiện, nhất là trong sự rộng mở này của nó để ám chỉ bản chất của chính Thiên Chúa, là Lòng Thương Xót, trong Năm Thánh. Như vậy có nghĩa là cộng tác với ĐTC.

Hỏi: Việc mở Cửa Thánh tại thủ đô Bangui của Cộng hòa Trung Phi  và Cửa Lòng Bác Ái của Trung tâm Caritas Roma là những cử chỉ nói lên và đã nói lên với kitô hữu rất nhiều điều, và không phải chỉ với các tín hữu mà thôi. Làm sao để tiếp tục các cử chỉ ấy trong cuộc sống thường ngày thưa ĐC?

Đáp: Nó là một chỉ dẫn: cần bắt đầu từ đó, cần bắt đầu từ nơi có các loại trừ, từ nơi có việc gạt bỏ bên lề, từ nơi có đói khát. ĐTC đã nói biết bao lần rằng chương trình của ngài là thực hành các Mối Phúc Thật của Chúa. Một trong các mối phúc thật là: “Phúc cho những ai đói khát sự công chính”. Và ĐTC muốn tập trung vào điều này.

Hỏi: Trong năm 2015 chúng ta đã trông thấy một dấn thân lớn của ĐTC không phải chỉ cho các thụ tạo, mà cả việc bảo vệ thụ tạo nữa. Với Thông điệp Laudato si’, và cả việc trực tiếp rõ ràng ủng hộ một hiệp định tại Hội nghị về khí hậu triệu tập ở Paris nữa. Có người ngạc nhiên cho rằng một Giáo Hoàng không nên lo lắng cho các vấn đề này, cho môi sinh… Riêng ĐC thì ĐC nghĩ sao?

Đáp: Tôi tin rằng những người ngạc nhiên – và chúng ta biết họ là những ai – họ đã ngạc nhiên, bởi vì họ bênh vực các lợi lộc riêng tư của họ. ĐTC tên là Phanxicô và thánh Phanxicô thành Assisi có nghĩa là việc thực hiện cụ thể sự kiện tất cả mọi sự vật là do Thiên Chúa tạo ra và có một trật tự quy về Thiên Chúa. Trong đại chủng viện chúng tôi học Khảo luận Tạo Dựng và Thánh Toma đưa việc Tạo Dựng vào đề tài Thiên Chúa: tất cả mọi vật đều có một tương quan với Thiên Chúa trong nghĩa chúng được Thiên Chúa tạo thành và hướng về Thiên Chúa. Joseph Ratzinger đã nói rằng một trong các khảo luận cần phải tuy tư lại chính là Khảo Luận về việc Tạo Dựng. Thật là điều tuyệt diệu, khi ĐTC trong Thông điệp Laudato si’ đã nói tới việc “hoán cải môi sinh”. Nói cho cùng, Thông điệp của ngài cũng có một ý nghĩa của công lý: điều rõ ràng đó là việc đối xử tàn tệ với Thụ tạo, việc không tôn trọng các luật lệ sản xuất ra một khí giới boomerang sẽ quật trở lại chống con người. Điều này gây ra nhiều nghèo đói hơn, gây ra nạn di cư, tạo ra các hình thái gạt bỏ ngoài lề triệt để hơn nữa. Đó là tất cả những điều đang xảy ra trong cái mà ĐTC gọi là “việc toàn cầu hóa sự dửng dưng”. ĐTC muốn rằng tất cả mọi người  được thừa nhận phẩm giá và sự tự do. Và ngài đặc biệt lo lắng trước các hình thức nô lệ mới ngày nay.

(SD 24-12-2015)

Linh Tiến Khải

Đức Thánh Cha tiếp kiến ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh

Đức Thánh Cha tiếp kiến ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh

Đức Thánh Cha tiếp kiến ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh sáng ngày 11-1-2016, ĐTC đặc biệt lưu ý cộng đồng quốc tế quan tâm và giải quyết hợp lý vấn đề làn sóng người di dân.

ĐTC Phanxicô đã tiếp kiến đoàn ngoại giao cạnh Tòa Thánh, gồm đại diện của 180 quốc gia và tổ chức quốc tế có quan hệ trên cấp đại sứ, cùng với đại diện của chính quyền Palestine, đến chúc mừng ngài nhân dịp đầu năm mới.

Buổi tiếp kiến ngoại giao đoàn cũng là dịp để ĐTC kiểm điểm tình hình thế giới đồng thời bày tỏ lập trường của Tòa Thánh đối với các vấn đề thời sự.

Sau lời chào mở đầu của vị Niên trưởng ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, là Đại Sứ của Angola, Ông Armindo Fernandes do Espírito Santo Vieira, ĐTC đã lên tiếng chào thăm tất cả các vị đại sứ và cám ơn vị niên trưởng ngoại giao đoàn, và hài lòng ghi nhận trong năm qua, con số các vị đại sứ cạnh Tòa Thánh thường trú ở Roma gia tăng (từ 80 lên 86), điều này chứng tỏ sự quan tâm của cộng đồng quốc tế đối với hoạt động ngoại giao của Tòa Thánh. ĐTC cũng nhắc đến việc ký kết và phê chuẩn các hiệp định giữa Tòa Thánh và các nước trong năm qua, kể cả hiệp định với Palestine, hiệp định về thuế khóa với Italia và Hoa Kỳ. Ngài cũng nói đến những nét nổi bật trong các cuộc viếng thăm ngài thực hiện trong năm qua tại Philippines, Sri Lanka, Sarajevo, 3 nước Nam Mỹ, Cuba, Hoa Kỳ, LHQ, và 3 nước Phi châu: Kenya, Uganda, và Cộng hòa Trung Phi. Sau cùng ĐTC nói đến việc mở Năm Thánh lòng thương xót. Trong phần kế tiếp, ĐTC đặc biệt nói đến vấn đề di dân trong thế giới ngày nay, nhất là tại Âu Châu, với những vấn đề đi kèm. Ngài nói:

Vấn đề di dân

Quí vị Đại sứ thân mến, một tinh thần cá nhân chủ nghĩa là mảnh đất phì nhiêu làm bành trướng cảm thức dửng dưng lãnh đạm đối với tha nhân, đưa tới thái độ đối xử với họ như một món hàng mua bán, đẩy đưa tới sự không quan tâm gì tới nhân tính của người khác và rốt cục làm cho con người yếu nhược và có tâm trạng ”sống chết mặc bay”. Phải chăng đó chẳng phải là những tâm tình mà nhiều khi chúng ta có đứng trước những người nghèo, người ở ngoài lề, những người rốt cùng trong xã hội sao? Và bao nhiêu người rốt cùng trong các xã hội chúng ta! Trong số những người ấy, tôi nghĩ trước tiên tới những người di dân, với những khó khăn và đau khổ của họ, mà họ phải đương đầu hằng ngày trong việc tìm kiếm một nơi để sống an bình và xứng đáng, nhiều khi cuộc tìm kiếm của họ thật là tuyệt vọng.

Vì thế, hôm nay, tôi muốn dừng lại để cùng với quí vị suy tư về sự cấp thiết trầm trọng của làn sóng di cư mà chúng ta đang gặp, để phân định những nguyên do của nó, hướng đến những giải pháp, chiến thắng thái độ sợ hãi không thể tránh né đi kèm một hiện tượng ồ ạt và rộng lớn như vậy, liên hệ đặc biệt tới Âu Châu trong năm 2015, và cả một số miền ở Á châu và Trung Mỹ.

”Đừng sợ và kinh hãi, vì Chúa là Thiên Chúa của ngươi ở với ngươi, dù ngươi đi đâu” (Gs 1,9). Đó là lời mà Thiên Chúa hứa với Ông Giôsuê và cho thấy Chúa tháp tùng mỗi người dường nào, nhất là người ở trong tình cảnh mong manh như người đang tìm nơi tị nạn ở nước ngoài. Thực vậy, toàn thể Kinh Thánh kể lại cho chúng ta lịch sử nhân loại lữ hành, vì tình trạng di động là điều gắn liền với bản tính con người. Lịch sử loài người được hình thành với bao nhiêu cuộc di dân, nhiều khi diễn ra như một ý thức về quyền tự do chọn lựa, nhưng đôi khi do những hoàn cảnh bên ngoài đòi hỏi. Từ cuộc lưu vong khỏi địa đàng cho đến Abraham tiến về đất hứa; từ trình thuật cuộc Xuất Hành khỏi Ai Cập đến cuộc lưu đày ở Babilon, Kinh Thánh kể lại những cơ cực và đau khổ, ước muốn và hy vọng, giống như tình trạng hàng trăm ngàn người lữ hành ngay nay, với cùng quyết tậm của Môisê đạt tới một miền đất ”chảy sữa và mật” (Xc Xh 3,17), nơi họ có thể sống tự do và an bình.

Vì thế, ngày nay cũng như xưa kia, chúng ta nghe thấy tiếng kêu của Rachele khóc thương con bà không còn nữa (Xc Gr 31,15; Mt 2,18). Đó là tiếng của hàng ngàn người khóc lóc trốn chạy những cuộc chiến tranh khủng khiếp, những cuộc bách hại và vi phạm các quyền con người, hoặc tình trạng bấp bênh về chính trị hay xã hội, nhiều khi làm cho cuộc sống của họ ở quê hương trở nên không thể sống nổi. Đó là tiếng kêu của những người buộc lòng phải trốn chạy để tránh những hành động dã man khôn tả đối với những người vô phương thế tự vệ, như các trẻ em và người khuyết tật, hoặc cuộc tử đạo chỉ vì thuộc về một tôn giáo.

Cũng như hồi đó, nay chúng ta nghe tiếng của Giacop nói với các con ông: ”Hãy đi xuống đó và mua thóc về cho chúng ta để chúng ta có thể sống và không phải chết” (St 42,2). Đó là tiếng của những người trốn chạy lầm than cùng cực, vì không thể nuôi sống gia đình hoặc không được săn sóc sức khỏe, giáo dục, hoặc vì tình trạng sa sút, không có hy vọng cải tiến, hoặc cũng vì những thay đổi khí hậu và điều kiện khí hậu cùng cực. Rất tiếc là, chúng ta biết nạn đói vẫn còn là một trong những tai ương trầm trọng nhất của thế giới chúng ta với hàng triệu trẻ em mỗi năm chết vì đói. Nhưng điều đau buồn là nhận thấy rằng nhiều khi chính những người di dân ấy không được thuộc vào các hệ thống bảo vệ dựa trên căn bản các hiệp định quốc tế.

Chống nền văn hóa gạt bỏ

Làm sao không nhận thấy trong tất cả những điều đó là kết quả của ”nền văn hóa gạt bỏ” gây nguy hiểm cho con người, hy sinh con người cho các thần tượng lợi lộc và tiêu thụ? Điều trầm trọng là chúng ta trở nên quá quen thuộc với những tình trạng nghèo đói và túng thiếu ấy, những thảm trạng của bao nhiêu người và coi chúng là ”những điều bình thường”. Con người không còn được cảm thấy như một giá trị hàng đầu phải tôn trọng và bảo vệ, nhất là nếu họ là người nghèo hoặc khuyết tật, hay nếu họ chưa hữu ích – như những trẻ em chưa sinh ra – hoặc không còn hữu ích nữa, như người già. Chúng ta trở nên vô cảm đối với mọi hình thức phung phí, bắt đầu từ sự phung phí lương thực, là điều thuộc vào số đáng trách nhất, trong khi có nhiều cá nhân và gia đình đang chịu đói và thiếu dinh dưỡng.

Cầu mong Hội nghị về nhân đạo thành công

Tòa Thánh cầu mong Hội nghị Thượng Đỉnh thế giới đầu tiên về nhân đạo, được LHQ triệu tập vào tháng 5 tới đây , có thể thành công trong khung cảnh đau buồn ngày nay với các cuộc xung đột và tai ương, với ý hướng đặt con người và nhân phẩm ở trọng tâm mọi câu trả lời về nhân đạo. Cần có một sự dấn thân chung để quyết liệt lật ngược nền văn hóa gạt bỏ và xúc phạm đến sự sống con người, để không một ai cảm thấy bị lơ là hoặc quên lãng, và những sinh mạng khác không bị hy sinh vì thiếu tài nguyên, và nhất là vì ý chí chính trị.

Tiếc thay, ngày nay cũng như xưa kia, chúng ta nghe thấy tiếng của Giuda đề nghị bán em mình (Xc St 37,26-27). Đó là sự kiêu hãnh của những kẻ cường quyền lạm dụng người yếu, biến họ thành những đồ vật để phục vụ cho những mục tiêu ích kỷ hoặc những tính toán chiến lược và chính trị. Nơi nào không thể có một sự di trú hợp pháp, thì những người di dân thường buộc lòng phải chọn giải pháp nhờ những kẻ buôn người hoặc buôn lậu, tuy phần lớn đều biết rõ những nguy cơ trong cuộc lữ hành sẽ bị mất của cải, phẩm giá và cả mạng sống nữa. Trong viễn tượng đó, một lần nữa tôi tái kêu gọi chấm dứt nạn buôn người, nạn biến con người thành món hàng, nhất là những người yếu thế nhất và vô phương tự vệ. Trong tâm trí chúng ta vẫn luôn ghi đậm hình ảnh những trẻ em bị chết trên biển cả, nạn nhân của sự vô lương tâm của con người và sự độc địa của thiên nhiên. Rồi những người sống sót và đến một quốc gia đón nhận, họ mang những chấn thương sâu đậm về kinh nghiệm ấy, không kể những kinh nghiệm về những kinh hoàng vẫn xảy ra trong chiến tranh và bạo lực.

Như xưa kia, ngày nay người ta cũng nghe Thiên Thần lập lại: ”Hãy trỗi dậy, mang hài nhi và mẹ Người, trốn sang Ai Cập và hãy ở đó cho đến khi Ta sẽ báo lại cho ông” (Mt 2,13). Đó là tiếng nói mà nhiều người di dân nghe thấy, họ là những người sẽ không rời bỏ quê hương nếu không bị bó buộc. Trong số những người ấy có nhiều tín hữu Kitô, ngày càng ồ ạt rời bỏ quê hương trong những năm gần đây, quê hương mà họ đã cư ngụ từ thời đầu của Kitô giáo.

Sau cùng, ngày nay chúng ta cũng nghe tiếng của tác giả thánh vịnh lập lại: ”Trên bờ sông Babilone, ta ngồi ta khóc tưởng nhớ Sion” (Tv 136 [137], 1). Đó là tiếng khóc của những người sẵn sàng trở về quê hương họ nếu có những điều kiện thuận lợi về an ninh và sinh tồn. Nơi đây tôi cũng nghĩ đến các tín hữu Kitô ở Trung Đông, họ mong muốn góp phần như những công dân với đầy đủ danh nghĩa vào thiện ích tinh thần và vật chất của các quốc gia liên hệ.

 Giải quyết nguyên nhân thúc đẩy di cư

Phần lớn những nguyên nhân tạo nên di cư người ta có thể giải quyết từ lâu. Và nhờ đó có thể phòng ngừa bao nhiêu tai ương, hoặc ít là làm dịu bớt những hậu quả tàn ác của chúng. Cả ngày nay, trước khi quá trễ, người ta có thể làm được nhiều điều để chặn đứng những thảm họa và kiến tạo hòa bình. Nhưng điều này có nghĩa là đặt lại vấn đề những thói quen và đường lối thực hành đã có từ lâu, bắt đầu từ những vấn đề liên quan tới việc buôn bán võ khí cho tới vấn đề cung cấp các nguyên liệu và năng lượng, vấn đề đầu tư, các chính sách tài chánh và sự hỗ trợ phát triển, cho tới tệ nạn trầm trọng là tham nhũng. Chúng ta ý thức rằng về vấn đề di cư, cần thiết lập những dự án trung và dài hạn, đi xa hơn những câu trả lời cấp thiết. Các dự án đó một đàng phải thực sự giúp những người nhập cư hội nhập vào những quốc gia tiếp đón, và đồng thời tạo điều kiện dễ dàng cho sự phát triển các nước xuất cư, với những chính sách liên đới, nhưng không đòi các nước này phải theo những chiến lược và chính sách ý thức hệ xa lạ hoặc trái ngược với các nền văn hóa của những dân tộc mà sự viện trợ nhắm tới.

Không quên những tình cảnh thê thảm khác, trong đó tôi đặc biệt nghĩ đến biên giới giữa Mêhicô và Hoa Kỳ, mà tôi sẽ đến gần khi viến gthăm thành phố Ciudad Juárez vào tháng tới đây, tôi muốn đặc biệt nghĩ đến Âu Châu. Thưc vậy, trong năm qua, Âu Châu đã có một làn sóng tị nạn rất lớn – nhiều người tị nạn bị thiệt mạng khi toan tính đi tới Âu Châu – làn sóng ồ ạt này chưa từng có trong lịch sử đại lục này, ít là từ sau thế chiến thứ hai. Nhiều người di dân đến từ Á, Phi, xem Âu Châu là một điểm tham chiếu cho các nguyên tắc như bình đẳng trước pháp luật, và các giá trị được ghi khắc trong chính bản tính của mỗi người, như phẩm giá bất khả xâm phạm và sự bình đẳng của mỗi người, lòng yêu mến tha nhân không phân biệt nguồn gốc hoặc là thành viên của tổ chức nào, tự do lương tâm và tình liên đới với người đồng loại.

Thách đố đối với Âu Châu

“Tuy nhiên những cuộc đổ bộ ồ ạt tới các bờ biển của Âu Châu dường như làm lung lay hệ thống đón tiếp, được kiến tạo với bao vất vả trên những tro tàn của thế chiến thứ hai và vẫn còn là ngọn đèn pha về tình người mà người ta tham chiếu. Đứng trước làn sóng ồ ạt và những vấn đề đi kèm không thể tránh được, đã nảy sinh nhiều vấn nạn về khả năng đón tiếp thực sự và sự thích ứng của những người ấy, đề sự thay đổi sự tháp tùng văn hóa và xã hội của những nước tiếp cư, cũng như sự hoạch định lại một số quân bình về chính trị địa lý của các miền. Một điều không kém phần quan trọng là những lo sợ về an ninh, lo sợ càng được gia tăng trước những đe dọa lan rộng do nạn khủng bố quốc tế. Làn sóng di dân hiện nay dường như đe dọa chính nền tảng của tinh thần nhân bản mà Âu Châu vẫn luôn yêu mến và bảo vệ.

Tuy nhiên, chúng ta không thể đánh mất các giá trị và các nguyên tắc nhân đạo, sự tôn trọng phẩm giá mỗi người, nguyên tắc phụ đới và tình liên đới hỗ tương, dù chúng có thể tạo nên gánh nặng lớn lao khó gánh vác trong một số thời điểm lịch sử. Vì thế, tôi muốn tái khẳng định xác tín theo đó Âu Châu, với sự trợ giúp của gia sản văn hóa và tôn giáo rộng lớn của mình, có những phương thế để bảo vệ vị trí trung tâm của con người và tìm ra sự quân bình đúng đắn giữa hai nghĩa vụ luân lý là bảo vệ các quyền của các công dân và bảo đảm sự trợ giúp cũng như tiếp đón người di dân.

Đồng thời tôi cũng thấy cần phải bày tỏ lòng biết ơn đối với tất cả những sáng kiến tạo điều kiện cho sự tiếp đón xứng đáng dành cho con người, trong đó có Quỹ Di dân và Tị nạn thuộc Ngân hàng phát triển của Hội đồng Âu Châu cũng như sự dấn thân của những nước đã chứng tỏ thái độ chia sẻ quảng đại. Trước tiên tôi nghĩ đến các nước láng giềng của Siria, đã tức khắc giúp đỡ và đón nhận, nhất là Liban, nơi mà người tị nạn chiếm tới 1 phần 4 dân số, và nước Giordani đã không khép kín biên giới mặc dù đã đón tiếp hàng trăm ngàn người tị nạn rồi. Cũng vậy không nên quên những cố gắng của các nước đi hàng đầu, đặc biệt là Thổ nhĩ kỳ và Hy Lạp.

Tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đặc biệt đối với Italia, với quyết tâm cứu vớt nhiều sinh mạng trong Địa Trung Hải, và vẫn còn mang gánh nặng đón tiếp đông đảo người tị nạn trên lãnh thổ của mình. Tôi cầu mong rằng lòng hiếu khách truyền thống và tình liên đới trổi vượt của nhân dân Italia không bị giảm bớt vì những khó khăn không thể tránh được hiện nay, nhưng dưới ánh sáng truyền thống ngàn đời, có thể đón nhận và hội nhập sự đóng góp về mặt xã hội, kinh tế và văn hóa mà người di dân có thể mang lại.

ĐTC cũng nói rằng: ”Điều quan trọng là các nước đi hàng đầu trong việc đương đầu với tình trạng cấp thiết hiện nay không bị bỏ mặc một mình, và điều quan trọng không kém là khởi sự một cuộc đối thoại thẳng thắn và tôn trọng giữa tất cả các nước liên quan đến vấn đề di dân – các nước nguyên quán, nước chuyển tiếp hoặc nước tiếp đón – để tìm ra những giải pháp mới mẻ và lâu dài với óc sáng tạo táo bạo. ..

Khía cạnh văn hóa và tôn giáo của hiện tượng di dân

Trong việc giải quyết vấn đề di dân, chúng ta cũng không thể bỏ qua các khía cạnh văn hóa đi kèm, bắt đầu từ những khía cạnh tôn giáo. Trào lưu cực đoan và thủ cựu tìm được một môi trường dễ dàng không những không việc lợi dụng tôn giáo để chiếm quyền bính, nhưng cả trong sự trống rỗng các lý tưởng và sự đánh mất căn tính – kể cả căn tính tôn giáo – mà người ta thấy ở Tây Phương. Từ sự trống rỗng ấy nảy sinh sự sợ hãi khiến người ta coi tha nhân như một nguy hiểm và một kẻ thù, co cụm vào mình, bám chặt những lập trường thiên kiến của mình. Vì thế hiện tượng di cư cũng đặt một câu hỏi nghiêm trọng về văn hóa mà ta không thể không trả lời. Vì thế, sự tiếp đón có thể là một cơ hội thích hợp để có sự cảm thông và cởi mở chân trời, cho người được đón tiếp, họ có nhiệm vụ tôn trọng các giá trị, truyền thống và luật lệ của các cộng đồng đón nhận họ, và cho cả những cộng đồng tiếp cư, được kêu gọi đề cao giá trị những gì mà người di dân có thể cống hiến để mưu ích cho toàn thể cộng đoàn. Trong lãnh vực này Tòa Thánh tái quyết tâm dấn thân trong lãnh vực đại kết và liên tôn để thiết lập một cuộc đối thoại chân thành và liên chính, đề cao giá trị của những đặc thù và căn tính của mỗi người, tạo điều kiện cho sự sống chung hòa hợp giữa mọi thành phần xã hội.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

Hơn 1 triệu người hành hương Roma trong 1 tháng Năm Thánh

Hơn 1 triệu người hành hương Roma trong 1 tháng Năm Thánh

Hành hương Vatican

ROMA. 1 triệu 25 ngàn tín hữu đã đến hành hương tại Roma trong vòng một tháng từ khi Năm Thánh Lòng thương xót được khai mạc ngày 8-12 vừa qua.

Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng, là cơ quan điều hành tổ chức Năm Thánh, cho biết như trên trong một bài đăng trên báo Quan sát viên Roma của Tòa Thánh, số ra ngày 9-1-2015. Đức TGM nhắc lại ý nghĩa việc hành hương và bước qua Cửa Năm Thánh: trong bài giảng hôm lễ khai mạc và mở cửa Năm Thánh, ĐTC Phanxicô nói: ”Bước qua cửa này có nghĩa là khám phá chiều sâu Lòng Thương Xót của Chúa Cha, Đấng mà mọi người đón nhận và Chúa đích thân gặp gỡ mỗi người. Chính Chúa tìm kiếm chúng ta! Chính Chúa đến gặp chúng ta! Đây sẽ là một năm trong đó chúng ta gia tăng xác tín về lòng thương xót.. Tiếc qua cửa Năm Thánh làm cho chúng ta cảm thấy mình được tham dự vào mầu nhiệm tình thương và dịu dàng này. Chúng ta từ bỏ mọi hình thức sợ hãi và kinh khiếp, vì thái độ đó không hợp với người được yêu thương; đúng hơn, chúng ta sống niềm vui được gặp ân thánh biến đổi mọi sự”.

Đức TGM Fisichella cũng giải thích rằng: ”ĐGH Phanxicô mong muốn Năm Thánh trước tiên là một biến cố của Giáo Hội được sống trong mỗi giáo phận, để tái khám phá sức mạnh của lòng thương xót trong đời sống thường nhật của các tín hữu. Một dấn thân cụ thể để làm cho mỗi phương thế của lòng thương xót đối với mỗi người trở nên hữu hình. Từ các nơi trên thế giới chúng tôi nhận được những chứng từ cảm động về sự tham gia đông đảo của các tín hữu nhân dịp mở Cửa Năm Thánh trong các Giáo hội địa phương. Các Nhà thờ chính tòa và các Đền thánh không đủ để đón tiếp hết làn sóng tín hữu. Họ đứng đầy quảng trường trong khi chờ đợi đến lượt tiến qua Cửa Năm Thánh… Sự hiện diện đông đảo ấy của dânchúng chứng tỏ rằng sứ điệp về cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô và cơ hội cảm nghiệm sự dịu dàng và tha thứ của Thiên Chúa được cảm thấy như một nhu cầu của mỗi người để mang lại ý nghĩa cho cac biến cố bi thảm của lịch sử những năm gần đây”.

Các vị hữu trách tại thành phố Roma dự kiến sẽ có khoảng 33 triệu người đến hành hương tại đây cho đến cuối Năm Thánh, vào ngày 20-11 năm nay.

Theo Đức TGM Fisichella, những con số không phải là quan trọng trong chiều kích thiêng liêng, nhưng nó cũng là dấu chỉ một sự tham gia khẩn trương. Ngoài ra, sự kiện những đoàn tín hữu cầm thánh giá bước đi trên con đường Hòa Giải để tiến về Cửa Năm Thánh ở Đền thờ Thánh Phêrô là một chứng tá đức tin gây cảm động và không để cho người ta cảm thấy dửng dưng”.

Đức TGM Fisichella ca ngợi các biện pháp an ninh tại Roma và các vị hữu trách vẫn quan tâm làm sao để các buổi lễ được tiến hành trong yên hàn. (Oss.Rom. 9-1-2016)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha ban phép rửa tội cho 26 hài nhi

Đức Thánh Cha ban phép rửa tội cho 26 hài nhi

ĐTC rửa tội cho 26 hài nhi

VATICAN. Sáng chúa nhật 11-1-2016, lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ tại nhà nguyện Sistina ở dinh tông tòa và ban phép rửa tội cho 26 em bé, 13 nam và 13 nữ, ít hơn 7 em so với năm ngoái, 2015. Hầu hết các em là người Italia và là con của các nhân viên giáo dân ở Vatican.

Nhà nguyện Sistina nổi tiếng với các bức bích họa kiệt tác của họa sư Michelangelo và đặc biệt là nơi diễn ra các cuộc bầu Giáo Hoàng trong những thế kỷ gần đây.

Tham dự thánh lễ có khoảng 300 người, gồm các em được rửa tội, cùng với song thân và cha mẹ đỡ đầu, và một số thân nhân. Đồng tế và phụ giúp ĐTC trong việc rửa tội có 4 vị Giám Mục, đứng đầu là Đức TGM Gaenswein người Đức, Chủ tịch Phủ Giáo Hoàng, Đức TGM Krajewski, người Ba Lan, Chánh sở từ thiện của ĐTC, Đức TGM Gloder, giám đốc trường ngoại giao TT và Đức Cha Vérgez, Tổng thư ký Phủ thống đốc thành Vatican.

Thánh lễ rửa tội bắt đầu với cuộc đối thoại giữa ĐTC, các cha mẹ và những người đỡ đầu. Đáp câu hỏi của ngài, các cha mẹ đã xướng tên của con cái. Và các cha mẹ xin đức tin Giáo Hội của Thiên Chúa cho con cái mình. Rồi ĐTC nói:

”Các cha mẹ thân mến, khi xin phép rửa tội cho con cái anh chị em, anh chị em cam kết giáo dục con cái trong đức tin, để khi tuân giữ các giới răn, các em học yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, như Chúa Kitô đã dạy chúng ta. Anh chị em có ý thức trách nhiệm ấy không?”. Sau lời khẳng định của các cha mẹ, ĐTC cũng hỏi những người đỡ đầu xem họ có sẵn sàng giúp các cha mẹ trong nghĩa vụ quan trọng như thế không? Mọi người đều thưa có.

Tiếp đến, theo lời mời gọi của ĐTC, các cha mẹ và những người đỡ đầu ghi dấu thánh giá trên mỗi hài nhi liên hệ.

Bài giảng ứng khẩu

Trong bài giảng ứng khẩu sau bài Phúc Âm, ĐTC đi từ lời xin của các cha mẹ thỉnh cầu Giáo Hội ban đức tin cho các con cái mình, để đưa ra những lời nhắn nhủ cụ thể cho các cha mẹ. Ngài nói:

40 ngày sau khi sinh ra, Chúa Giêsu được Mẹ Maria và thánh Giuse đưa vào Đền thờ để dâng cho Thiên Chúa. Hôm nay, lễ Chúa chịu phép rửa, anh chị em là các bậc cha mẹ đưa con cái đến đây để lãnh nhận phép rửa tội, để nhận điều mà anh chị em đã xin đầu buổi lễ này, khi tôi đặt câu hỏi cho anh chị em, anh chị em thưa: đức tin! ”con muốn đức tin cho con của con!”. Và như thế đức tin được truyền từ đời này sang đời khác, như một dây xích kéo dài qua các thời đợi.

Các hài nhi nam nữ này, sau nhiều năm, sẽ nhận chỗ của anh chị em với một người con khác, các cháu nội ngoại của anh chị em, và chúng cũng sẽ xin cùng một điều, đó là đức tin; đức tin mà phép rửa mang lại cho chúng ta; đức tin mà Chúa Thánh Linh, ngày hôm nay, mang vào trong con tim, trong linh hồn, trong đời sống của những người con này. Anh chị em đã xin đức tin. Giáo Hội, khi trao cho anh chị em cây nên sáng, sẽ dặn anh chị em hãy gìn giữ đức tin nơi các trẻ em này. Vào sau cùng, anh chị em đừng quên rằng gia sản lớn nhất mà anh chị em có thể cho con cái chính là đức tin; anh chị em hãy cố gắng để đức tin ấy không bị mất đi, hãy làm cho đức tin được tăng trưởng và truyền lại như một gia sản. ĐTC nói thêm rằng: Đó là điều tôi cầu chúc anh chị em hôm nay, là một ngày vui mừng cho anh chị em: tôi cầu chúc anh chị em có khả năng làm các trẻ em này được lớn lên trong đức tin và gia tài lớn nhất mà các em sẽ nhận từ anh chị em chính là đức tin.

Tôi xin dặn điều này: khi một em bé khóc, là vì các em đói. Tôi nói với các bà mẹ rằng: Nếu con của bà đói, thì cứ tự do cho con ăn ở đây nhé”.

Anh chị em thân mến, chúng ta hãy dâng lên Chúa Cha, là nguồn mạch sự sống, lời khẩn nguyện của chúng ta cho các trẻ em này, được kêu gọi trở thành dưỡng tử trong Chúa Giêsu Kitô, cầu cho các cha mẹ, những người đỡ đầu và tất cả những người được chịu phép rửa.

 Đó cũng là ý nguyện được mọi người cầu trong phần lời nguyện giáo dân. Cộng đoàn không quên cầu nguyện cho ĐTC và tất cả các mục tử của dân Chúa, xin Chúa làm cho việc loan báo Tin Mừng được hiệu quả nơi tâm hồn những người chưa biết Chúa Giêsu Kitô, cầu cho các gia đình là những Giáo hội tại gia: xin Chúa làm cho ơn bí tích hôn phối được sinh động và ban cho các gia đình được khả năng giáo dục con cái sống đức tin. Đặc biệt mọi người cũng cầu nguyện cho các trẻ em đang bị ngược đãi, chịu đói và bệnh tật: xin Chúa soi sáng cho nhiều người nam nữ biết cúi mình trên các em với lòng bác ái không biết mệt mỏi và niềm hy vọng kiên trì.

Buổi lễ được tiếp tục với kinh cầu các thánh, nghi thức trừ tà và xức dầu dự tòng do các vị GM giúp ĐTC thực hiện trên ngực của mỗi em bé. Rồi ngài làm phép nước, và đón nhận lời tuyên thệ từ bỏ Satan, tuyên xưng đức tin, sau đó ĐTC lần lượt đổ nước trên đầu rửa tội cho mỗi em bé, xức dầu thánh, sau cùng là nghi thức trao áo trắng và nến sáng.   Trong lời dẫn nhập trước khi đọc kinh Lạy Cha, ĐTC nhắn nhủ mọi người rằng ”các em bé này được tái sinh trong phép Rửa Tội, được gọi và thực sự là con Chúa. Trong bí tích Thêm Sức, các em sẽ lãnh nhận sung mãn Thánh Linh; khi đến bàn thờ Chúa, các em sẽ tham dự bàn tiệc hy tế của Chúa, và trong cộng đồng anh chị em, các em có thể ngỏ lời với Thiên Chúa và gọi Người là Cha. Giờ đây nhân danh các em, trong tinh thần con cái Thiên Chúa, mà tất cả chúng ta đã nhận lãnh, chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện như Chúa đã dạy chúng ta”.

Kinh truyền tin

Thánh lễ dài 1 giờ 40 phút và kết thúc lúc 11 giờ 15. Sau đó lúc 12 giờ trưa, ĐTC đã xuất hiện tại cửa sổ phòng làm việc ở căn hộ Giáo Hoàng trong dinh tông tòa để chủ sự buổi đọc kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu tụ tập tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Trong bài huấn dụ ngắn, ĐTC nói:

Anh chị em thân mến, Chúa nhật này sau lễ Hiển Linh chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa và chúng ta kỷ niệm với lòng biết ơn phép rửa chúng ta  đã lãnh nhận. Trong bối cảnh đó, sáng hôm nay tôi đã ban phép rửa tội cho một nhóm đông các hài nhi mới sinh: chúng ta hãy cầu nguyện cho các em.

Bài Tin Mừng trình bày cho chúng ta Chúa Giêsu ở trong dòng sông Giordan, ở trung tâm một mặc khải tuyệt vời của Chúa. Thánh Luca viết: ”Trong lúc Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa, Ngài cầu nguyện, tầng trời mở ra và Thánh Linh ngự xuống trên Ngài dưới hình cụ thể như một chim bồ câu và có một tiếng nói từ trời: ”Con là con yêu dấu của Cha, đẹp lòng Cha mọi đàng” (Lc 3,21-22). Qua cách thức đó Chúa Giêsu được Chúa Cha thánh hiến và bày tỏ như một Đấng Messia cứu độ và giải thoát”.

Trong biến cố này, được tất cả 4 sách Tin Mừng chứng thực, đã xảy ra sự chuyển tiếp tục phép rửa của Gioan Tẩy Giả, dựa trên biểu tượng nước, tới phép rửa của Chúa Giêsu ”trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3,16). Thực vậy, Chúa Thánh Linh trong phép rửa của Kitô giáo chính là tác nhân chính yếu: chính Ngài đốt cháy và phá hủy tội nguyên tổ, trả lại cho người chịu phép rửa vẻ đẹp của ơn thánh Chúa; chính Ngài giải thoát chúng ta khỏi sự thống trị của tăm tối, nghĩa là tội lỗi, và đưa chúng ta vào vương quốc ánh sáng, nghĩa là tình thương, sự thật và an bình. Chúng ta hãy nghĩ đến phẩm giá mà bí tích rửa tội nâng chúng ta lên! ”Chúa Cha đã yêu thương chúng ta dường nào đến độ chúng ta được gọi là con Thiên Chúa và chúng ta thực sự được như vậy!” (1 Ga 3,1), đó là điều thánh Gioan Tông Đồ đã thốt lên! Thực tại tuyệt vời được làm con Thiên Chúa bao hàm trách nhiệm theo Chúa Giêsu, Người Tôi Tớ Vâng phúc, và tái diễn nơi chúng ta những đường nét của Chúa: hiền từ, khiêm tốn, dịu dàng. Và đây không phải là diều dễ dàng, nhất là quanh chúng ta có bao nhiêu bất bao dung, kiêu hãnh, cứng cỏi. Nhưng với sức mạnh được Thánh Linh ban cho chúng ta, đó là điều có thể!

Chúa Thánh Linh chúng ta lãnh nhận lần đầu tiên trong ngày chịu phép rửa, mở tâm hồn chúng ta đón nhận Chân Lý, tất cả Chân Lý. Chúa Thánh Linh thúc đẩy cuộc sống chúng ta trên con đường cam go nhưng vui tươi, con đường bác ái và liên đới với các anh chị em chúng ta. Chúa Thánh Linh ban cho chúng ta sự dịu dàng từ ơn tha thứ của CHúa và làm cho chúng ta được tràn ngập sức mạnh vô địch của lòng từ bi Chúa Cha. Chúng ta đừng quên rằng Thánh Linh là sự hiện diện sinh động và ban sức sống nơi người đón nhận Ngài, Ngài cầu nguyện trong chúng ta và làm cho chúng ta được tràn đầu niềm vui tinh thần.

ĐTC nói thêm rằng: Hôm nay lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, chúng ta hãy nghĩ đến ngày chúng ta được rửa tội: chúng ta cám ơn Chúa vì hồng ân này, và tái khẳng định lòng gắn bó với Cha Giêsu, với quyết tâm sống như những Kitô hữu, thành phần của Giáo Hội và của một nhân loại mới, trong đó tất cả đều là anh chị em với nhau. Phép rửa chúng ta chỉ lãnh nhận một lần, nhưng cần phải được làm chứng mọi ngày, vì đó là cuộc sống mới cần chia xẻ và là ánh sáng cần thông truyền, nhất là cho những người đang sống trong những tình cảnh không xứng với con người và đang bước đi trên những con đường tối tăm.

Xin Mẹ Maria là nữ môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu, Con của Mẹ, giúp chúng ta sống bí tích rửa tội với niềm vui và lòng nhiệt thành tông đồ, hằng ngày đón nhận hồng ơn Chúa Thánh Linh, đấng làm cho chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Báo La Croix phê bình báo châm biếm Charlie Hebdo

Báo La Croix phê bình báo châm biếm Charlie Hebdo

Báo La Croix phê bình báo châm biếm Charlie Hebdo

PARIS. Nhật báo Công Giáo La Croix (Thánh Giá), ở Pháp, phê báo báo châm biếm Charlie Hebdo vì cho rằng ”Thiên Chúa là kẻ sát nhân”.

Hôm 7-1-2015, là kỷ niệm đúng 1 năm 12 ký giả tuần báo châm biếm Charlie Hebdo bị một nhóm khủng bố Hồi giáo tấn công và giết hại vì đã nhiều lầm đăng những hí họa châm biếm ngôn sứ Mohamed của Hồi giáo. Nhân kỷ niệm biến cố này báo Charlie Hebdo đã ấn hành số đặc biệt với 1 triệu bản, trang bìa có vẽ hình Thiên Chúa, theo kiểu Kitô giáo, lưng đeo súng AK và có tựa đề ”Kẻ sát nhân vẫn còn đào tẩu”.

Trong bài xã luận tựa đề ”Charlie Hebdo, một thiên chúa sát nhân?”, Ông Guillame Goubert, chủ nhiệm báo La Croix viết: ”Không phải Thiên Chúa sát nhân, nhưng chính con người. Vả lại những kẻ sát nhân không cần Thiên Chúa để làm điều đó ở mức độ rộng lớn. Các ý thức hệ giết người nhiều nhất trong thế kỷ 20, Đức quốc xã và Staline, chẳng liên hệ gì đến tôn giáo, thậm chí chúng còn chống tôn giáo.. Không phải Thiên Chúa giết người, mà là con người. Nhưng Thiên Chúa cần con người để làm điều tốt lành. Và nhiều người đang làm. Những anh hùng lớn nhất của sự bất bạo động là những người nam nữ có đức tin: Gandhi, Martin Luther Kinh, Dorothy Day, Lech Walesa.. Nhiều người, ngày qua ngày, đang tìm được nơi niềm tin của họ không phải chất liệu oán thù, nhưng là năng lực yêu thương và can đảm tha thứ. Thiên Chúa biết thế giới đang cần những người ấy”.

Trước đó, trong số đề ngày 6-1-2015, báo ”Quan sát viên Roma” của Tòa Thánh, đã mạnh mẽ phê bình trang bìa của báo Charlie Hebdo và tố giác sự mâu thuẫn đau buồn trong thế giới ngày nay: một đàng người ta hết sức cổ võ thái độ gọi là ”đúng đắn về chính trị”, coi mọi tôn giáo như nhau, nhưng đồng thời người ta từ chối không tôn trọng những người tin nơi Thiên Chúa… Tuần báo này một lần nữa quên điều mà các vị lãnh đạo của mỗi tín ngưỡng đang lập lại từ lâu: loại trừ bạo lực nhân danh tôn giáo, chống lại chủ trương lạm dụng danh Thiên Chúa để biện minh cho oán thù, đó thực là một tội phạm thượng như ĐGH Phanxicô đã nhiều lần nói”.

Hội đồng GM Pháp cũng như Hội đồng Hồi giáo ở Pháp cũng phê bình hí họa của báo Charlie Hebdo.

Cách đây gần 1 năm, ngày 19-1 năm ngoái, trên chuyến bay đi Philippines, ĐTC Phanxicô cũng phê bình sự lạm dụng tự do ngôn luận để xúc phạm đến tín ngưỡng và các tín hữu. Ngài nói: ”Không thể liên tục lăng mạ, xúc phạm và khiêu khích người khác, vì làm như vậy có nguy cơ làm cho họ nổi giận, và bị những phản ứng bất công” (Tổng hợp 7-1-2016)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha: các công việc bác ái là trọng tâm đức tin

Đức Thánh Cha: các công việc bác ái là trọng tâm đức tin

Đức Thánh Cha nhắc nhở  các công việc bác ái là trọng tâm đức tin

VATICAN. ĐTC Phanxicô nhắc nhở các tín hữu rằng các công việc từ bi bác ái là trọng tâm đức tin, là tiêu chuẩn phân biệt chân giả trong hành trình đức tin của chúng ta.

Trên đây là nội dung bài giảng thánh lễ sáng thứ năm, 7-1-2016, ĐTC cử hành tại nguyện đường Nhà Trọ Thánh Marta ở Nội thành Vatican. Việc cử hành thánh lễ tại đây được ĐTC mở lại, sau một thời gian tạm nhưng trong dịp lễ giáng sinh. Ngài diễn giải bài đọc thứ I trích từ thư thứ I của thánh Gioan Tông Đồ, trong đó thánh nhân nhắn nhủ các tín hữu ”hãy ở lại trong Chúa.. Người ở lại trong Chúa là người có Chúa Thánh Linh và để cho mình được Chúa hướng dẫn”. Thánh Gioan cũng cảnh giác các tín hữu đừng nghe theo bất kỳ tinh thần nào, hãy kiểm chứng chúng để xem chúng có từ Thiên Chúa hay không.

Từ giáo huấn trên đây của Thánh Gioan, ĐTC nhắc nhở mọi người hãy tập phân định những gì xảy ra trong tâm hồn mình, loại từ tinh thần thế tục làm cho chúng ta xa Chúa. Cần thực thi sự phân định ấy theo tiêu chuẩn mà thánh Gioan nêu lên: ”Tinh thần nào nhìn nhận Chúa Giêsu Kitô đã đến trong xác thể thì bởi Thiên Chúa, và tinh thần nào không nhìn nhận Chúa Giêsu thì không phải bởi Thiên Chúa”.

ĐTC nói: “Nếu chúng ta cảm thấy bao nhiêu ý tưởng, tâm tình tốt trong tâm hồn, nhưng nếu những thứ đó không đưa ta đến cùng Chúa là Đấng đã nhập thể làm người, nếu chúng không đưa ta đến gần tha nhân, đến người anh em, thì chúng không phải bởi Thiên Chúa. Vì thế thánh Gioan bắt đầu đoạn thư này bằng câu: ”Đây là giới răn của Thiên Chúa: chúng ta hãy tin nơi danh của Con Ngài là Đức Giêsu Kitô và chúng ta hãy yêu thương nhau… Chúng ta có thể để ra bao niêu kế hoạch mục vụ, sáng chế ra các phương pháp mới để đến gần dân, nhưng nếu chúng ta không theo con đường của Thiên Chúa nhập thể để đồng hành với chúng ta, thì chúng ta không đi đúng đường, đó là thái độ chống Kitô, là tinh thần thế gian.. Cụ thể là: những công việc từ bi bác ái chính là sự tuyên xưng cụ thể của chúng ta nơi Con Thiên Chúa nhập thể làm người: những công việc đó là viếng thăm người bệnh, cho kẻ đói ăn, săn sóc những người bị gạt bỏ.. Tại sao vậy? Thưa vì mỗi người anh em mà chúng ta phải yêu mến chính là thân thể của Chúa Kitô. Thiên Chúa đã nhập thể để đồng hóa với chúng ta. Người đau khổ chính là Chúa Kitô chịu khổ đau”. (SD 7-1-2016)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Tương thuật thánh lễ và Kinh Truyền Tin của ĐTC ngày lễ Hiển Linh

Tương thuật thánh lễ và Kinh Truyền Tin của ĐTC ngày lễ Hiển Linh

Tín hữu tham dự buổi đọc Kinh Truyên Tin với ĐTC trưa 6-1-2016

Tường thuật thánh lễ và Kinh Truyền Tin của ĐTC ngày lễ Hiển Linh 6-1-2016

Lúc 10 giờ sáng hôm qua mùng 6 tháng giêng lễ Hiển Linh hay lễ Chúa tỏ mình  cũng thường được gọi Là lễ Ba Vua, ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ trong đền thờ thánh Phêrô và lúc 12 giờ trưa ngài đọc kinh Truyền Tin với tín hữu và du khách hành hương.

Cùng đồng tế thánh lễ với ĐTC có mấy chục Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục và hơn 100 linh mục. Tham dự thánh lễ ngoài ngoại giao đoàn cạnh Toà Thánh còn có nhiều tu sĩ nam nữ và 8,000 giáo dân.

Bài đọc một bằng tiếng Anh trích chương 60 sách ngôn sứ Isaia kêu gọi Giêrusalem bừng sáng lên vì vinh quang của Thiên Chúa như bình minh xuất hiện và chiếu toả trên nó. Chư dân và vua chúa sẽ đi về ánh sáng của nó, mọi nguồn giầu sang và của cải muôn dân nước sẽ tràn đến nó… Thánh vịnh 71 được hát bằng tiếng Ý: Mọi dân tộc trên trái đất sẽ tôn thờ Chúa. Bài đọc hai bằng tiếng Tây Ban Nha trích thư thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêxô, trong đó thánh nhân đề cập đến kế hoạch Thiên Chúa đã uỷ thác cho thánh nhân và mầu nhiệm Đức Kitô mà Thiên Chúa đã mạc khải cho thánh nhân cũng như cho các Tông Đồ và ngôn sứ: đó là trong Đức Kitô và nhờ Tin Mừng các dân ngoại cũng cùng được thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa. Phúc Âm được hát bằng tiếng Latinh kể lại biến cố ba nhà Đạo Sĩ theo ánh sao tìm đến Bếtlêhem thờ lậy Chúa Hài Nhi. Tiếp đến Phó tế loan báo ngày lễ Phục Sinh và nói: “Anh chị em rất thân mến, xin hãy biết cho rằng như chúng ta đã vui mừng vì Chúa Giêsu Kitô sinh ra, thì nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa, chúng tôi cũng loan báo cho anh chị em  niềm vui sự sống lại của Chúa Cứu Thế chúng ta. Ngày mùng 10 tháng 2 sẽ là lễ Tro, bắt đầu việc chay tịnh của mùa Chay thánh. Ngày 27 tháng 3 anh chị em sẽ tươi vui cử hành lễ Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Ngày mùng 5 tháng 5 lễ Chúa lên Trời. Ngày 15 tháng 5 lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Ngày 26 tháng 5 lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Ngày 27 tháng 11 sẽ là Chúa Nhật thứ I mùa Vọng của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Xin dâng Ngài danh dự và vinh quang đến muôn đời Amen.”

Các Đạo Sĩ đại diện con người thuộc mọi phần trên trái đất được tiếp nhận vào nhà của Thiên Chúa. Trước Chúa Giêsu không còn có chia rẽ chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa nào nữa

Giảng trong thánh lễ ĐTC nói:

Các lời của ngôn sứ Isaia – hướng tới thành thánh Giêrusalem – mời gọi chúng ta đi ra, ra khỏi các đóng kín của mình, ra khỏi chính mình và nhận biết ánh sáng rạng ngời chiếu soi cuộc sống chúng ta. “Hãy đứng lên, hãy mặc lấy ánh sáng, vì ánh sáng ngươi tới, vinh quang Chúa chiếu sáng trên ngươi” (Is 60,1). Ánh sáng của ngươi là vinh quang của Chúa. Giáo Hội không thể ảo tưởng chiếu sáng với ánh sáng của riêng mình. Thánh Ambrogio nhắc nhớ điều đó với một kiểu diễn tả đẹp bằng cách dùng mặt trăng như phép ẩn dụ để nói về Giáo Hội: “Giáo Hội thật như là mặt trăng rạng ngời không phải với ánh sáng riêng của mình, nhưng với ánh sáng của Chúa Kitô. Từ Mặt Trời của sự công chính Giáo Hội kéo ra sự rạng ngời của mình, và như vậy có thể nói rằng: “Không còn phải là tôi sống nữa, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi” (Exameron, IV,8,32). Chúa Kitô là ánh sáng thật chiếu sáng; và Giáo Hội thành công trong việc soi sáng cuộc đời của con người và các dân tộc trong mức độ Giáo Hội cắm neo nơi Chúa, trong mức độ Giáo Hội để cho Ngài soi sáng. Vì thế các Giáo Phụ  đã nhận ra nơi Giáo Hội “mầu nhiệm ánh sáng”.

Chúng ta cần ánh sáng đến từ trên cao này để tương ứng một cách trung thực với ơn gọi chúng ta đã nhận lãnh.  Loan báo Tin Mừng  của Chúa Kitô không phải là một lựa chọn giữa biết bao lựa chọn chúng ta có thể làm, nó cũng không phải là một nghề nghiệp. Đối với Giáo Hội, truyền giáo không có nghĩa là chiêu dụ tín đồ; đối với Giáo Hội truyền giáo tương đương với diễn tả chính bản chất của mình: được Thiên Chúa chiếu sáng và phản ảnh ánh sáng của Chúa. Không có một con đường khác. Truyền giáo là sứ mệnh của Giáo Hội. Có biết bao nhiêu người chờ đợi nơi chúng ta sự dấn thân truyền giáo này, bởi vì họ cần Chúa Kitô, họ cần biết gương mặt của Thiên Chúa Cha.

Tiếp tục bài giảng ĐTC nói các Đạo Sĩ mà Phúc Âm thánh Mátthêu nói tới, là chứng tá sống động của sự kiện các hạt giống chân lý hiện diện khắp nơi, bởi vì chúng là ơn của Đấng Tạo Hóa, mời gọi tất cả mọi người nhận biết Ngài như là Cha tốt lành và trung tín. ĐTC định nghĩa các đạo sĩ như sau:

Các Đạo Sĩ đại diện con người thuộc mọi phần trên trái đất được tiếp nhận vào nhà của Thiên Chúa. Trước Chúa Giêsu không còn có chia rẽ chủng tộc, ngôn ngữ và văn hóa nào nữa: nơi Hài Nhi đó toàn thể nhân loại tìm thấy sự hiệp nhất. Và Giáo Hội có bổn phận nhận biết và làm nổi bật lên một cách rõ ràng hơn ước muốn của Thiên Chúa, mà mỗi người mang trong chính mình. Cũng giống như các Đạo Sĩ, cả ngày nay nữa, có biết bao nhiêu người sống với “con tim bất an”, tiếp tục hỏi mà không tìm ra các câu trả lời chắc chắn. Họ cũng kiếm tìm ngôi sao chỉ đường tới Bếtlêhem.

ĐTC nói thêm trong bài giảng: Trên trời có biết bao nhiêu ngôi sao! Thế nhưng các Đạo Sĩ đã theo dõi một ngôi sao mới khác, đối với họ chiếu sáng rất nhiều hơn. Họ đã thăm dò lâu cuốn sách lớn của trời để tìm ra một câu trả lời cho các vấn nạn của mình, và sau cùng ánh sáng đã xuất hiện. Ngôi sao ấy biến đổi họ. Nó khiến cho họ quên đi các lợi lộc thường ngày và họ lập tức lên đường. Họ lắng nghe một tiếng nói trong nội tâm thúc đẩy họ đi theo ánh sáng đó, và nó đã hướng dẫn họ cho tới khi họ tìm thấy vua người Do thái trong một căn nhà nghèo nàn tại Bếtlêhem.

Tất cả những điều này là một giáo huấn cho chúng ta. Thật là điều tốt, nếu hôm nay chúng ta lập lại câu hỏi của các Đạo Sĩ: “Vua dân Do thái đã sinh ra ở đâu? Chúng tôi đã trông thấy ngôi sao của người và chúng tôi đến thờ lậy người” (Mt 2,2). Chúng ta được thôi thúc, nhất là trong một thời đại như thời đại chúng ta, đi kiếm tìm các dấu chỉ mà Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta, vì biết rằng chúng đòi hỏi dấn thân của chúng ta để đọc chúng và hiểu biết ý muốn của Chúa. Chúng ta được mời gọi đi đến Bếtlêhem để tìm Hài Nhi và Mẹ Người. Chúng ta hãy đi theo ánh sáng Thiên Chúa cống hiến cho chúng ta! Ánh sáng toả lan từ gương mặt của Chúa Kitô, tràn đầy thương xót và trung thành. Và một khi đã đến trước mặt Chúa, chúng ta hãy thờ lậy Người với tất cả con tim và hãy dâng cho Ngài các món quà của chúng ta là sự tự do, trí thông minh và tình yêu thương. Chúng ta hãy nhận ra rằng sư khôn ngoan thật dấu ẩn trong gương mặt của Hài Nhi này. Chính tại đây, trong sự đơn sơ của Bếtlêhem mà cuộc sống của Giáo Hội tìm ra tổng hợp của nó. Chính tại đây, suối nguồn của ánh sáng lôi cuốn mọi người đến với mình và hướng dẫn bước đi của các dân tộc trên con đường hòa bình.

Các lời nguyện giáo dân đã được đọc bằng tiếng Pháp cầu cho ĐTC và các Giám Mục, xin Chúa là Đấng đã dặt các vị làm chủ chăn dân Người làm cho các vị trở thành những người loan báo Tin Mừng cứu độ mạnh mẽ và dịu hiền. Lời cầu tiếng Tầu xin Chúa hướng dẫn lịch sử tới chỗ thành toàn thực sự và hướng dẫn nó kiếm tìm thiện ích đích thật của các dân tộc và mọi người. Lời cầu tiếng Swahili xin Chúa săn sóc mọi người cho thiên thần của Ngài canh giữ bước chân của họ và khơi dậy các cử chỉ tiếp đón và tình huynh đệ. Lời cầu tiếng A Rập xin Chúa là Đấng tự tỏ hiện ra với người chân thành tìm kiếm Ngài, lôi cuốn và gợi hứng cho họ với vẻ đẹp và chân lý của Chúa. Lời cầu tiếng Singale xin Chúa là Đấng đã sinh ra các tín hữu như con cái trong Người Con của Chúa, làm cho họ trở thành những người thờ phượng danh Chúa đích thực và các chứng nhân đáng tin cậy của tình yêu Người.

Hàng chục linh mục đã giúp ĐTC cho tín hữu rước Mình Thánh Chúa.

Cần phải biết ngước mắt nhìn trời và có con tâm trí rộng mở để có thể gặp gỡ Chúa Giêsu

Lúc 12 giờ trưa ĐTC đã đọc Kinh Truyền Tin với tín hữu tụ tập tại quảng trường thánh Phêrô. Cũng như mọi năm, đoàn rước Ba Vua cỡi lạc đà, với nhiều ban nhạc đã khởi hành từ Lâu đài thiên thần cuối đại lộ Hòa Giải để tiến về quảng trường với các nhóm người thuộc nhiều thành phố khác nhau tham dự trong sắc phục thời Trung Cổ rất đẹp

Trong bài huấn dụ ĐTC nói: trình thuật tin mừng liên quan tới ba Đạo Sĩ từ Phương Đông đến Bếtlêhem để thờ lậy Đấng Cứu Thế trao ban cho lễ Hiển Linh một hơi thở đại đồng. Đó là hơi thở của Giáo Hội, ước mong cho tất cả mọi dân tộc trên trái đất có thể gặp gỡ Chúa Giêsu và sống kinh nghiệm tình yêu thương xót của Ngài.

Chúa Kitô mới sinh ra chưa biết nói, nhưng tất cả mọi người, được đại diện bởi ba Đạo Sĩ, đã có thể gặp gỡ, nhận biết và thờ lậy Người. Vừa khi tới Giêrusalem các vị nói với vua Hêrôđê: “Chúng tôi đã trông thấy ngôi sao của Người mọc lên và chúng tôi đến thờ lậy Người” (Mt 2,2). Họ là những người uy thế, thuộc nhiều miền khác nhau và có các văn hóa khác nhau, họ đã đi tới đất Israel để thờ lậy vị vua đã giáng sinh. Giáo Hội đã luôn luôn nhìn thấy nơi các vị hình ảnh của toàn nhân loại, và với việc cử hành lễ Hiển Linh, Giáo Hội, với sự kính trọng, như muốn hướng dẫn mọi người nam nữ của thế giới này đến với Hài Nhi đã sinh ra để cứu chuộc tất cả mọi người.

ĐTC nói tiếp trong bài huấn dụ: Trong đêm Giáng Sinh Chúa Giêsu đã tự tỏ hiện cho các mục đồng, là những người khiêm tốn và bị khinh bỉ; họ đã là những người đầu tiên đem một chút hơi ấm vào trong hang đá Bếtlêhem lạnh lẽo. Giờ đây có ba Đạo Sĩ từ các vùng đất xa tới, cả họ nữa cũng đã được lôi kéo tới Bếtlêhem môt cách huyền bí. Các mục đồng và các Đạo Sĩ rất khác nhau, nhưng có một điều làm họ giống nhau: đó là trời. Các mục đồng Bếtlêhem chạy tới ngay lập tức để trông thấy Chúa Giêsu, không phải vì họ đặc biệt tốt lành, nhưng vì họ canh giữ đoàn vật ban đêm và khi ngước mắt nhìn trời, họ đã trông thấy một dấu chỉ, họ lắng nghe sứ điệp của nó và đi theo nó. Các Đạo Sĩ cũng vậy: họ đã dò xét bầu trời, họ đã trông thấy một ngôi sao mới, họ giải thích dấu chỉ và lên đường. ĐTC nói thêm trong bài huấn dụ:

Các mục đồng và các Đạo Sĩ dậy cho chúng ta biết rằng để gặp gỡ Chúa Giêsu cần phải biết ngước mắt nhìn trời, không khép kín trong chính mình, nhưng có con tâm trí rộng mở cho chân trời của Thiên Chúa, là Đấng luôn luôn khiến cho chúng ta ngạc nhiên, biết tiếp đón các sứ giả của Người và trả lời với sự mau mắn và quảng đại.

“Khi trông thấy ngôi sao, các Đạo Sĩ đã cảm thấy niềm vui rất lớn” (Mt 2,10). Cả chúng ta nữa cũng được an ủi lớn, khi trông thấy ngôi sao, hay khi cảm thấy mình được hướng dẫn, chứ không bị bỏ rơi cho số phận. Và ngôi sao đó là Tin Mừng, là Lời Chúa, như thánh vịnh nói: “Lời Chúa là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi” (Tv 119,105). Ánh sáng này hướng dẫn chúng ta tới với Chúa Kitô. Không lắng nghe Tin Mừng thì không thể gặp gỡ Người! Thật thế, các Đạo Sĩ khi theo ngôi sao đã tới nơi có Chúa Giêsu. Và ở đây “họ trông thấy Hài Nhi với Đức Maria, Mẹ Người, họ phủ phục và thờ lậy Người” (Mt 2,11). Kinh nghiệm của các Đạo Sĩ khích lệ chúng ta đừng bằng lòng với sự tầm thường xoàng xĩnh, đừng “sống vật vờ”, nhưng tìm kiếm ý nghĩa các sự vật, đam mê dò xét mầu nhiệm cao cả của cuộc sống. Và nó cũng dậy chúng ta đừng lấy làm gương mù gương xấu vì sự bé nhỏ và nghèo nàn, nhưng nhận ra sự uy nghiêm trong cái khiêm tốn, và biết quỳ gối xuống trước sự khiêm tốn ấy.

Xin Đức Trinh Nữ là Đấng đã tiếp đón các Đạo Sĩ tại Bếtlêhem giúp chúng ta ngước mắt nhìn vào chính chúng ta, để cho mình được hướng dẫn bởi ngôi sao của Tin Mừng để gặp gỡ Chúa Giêsu, và biết hạ mình xuống thờ lậy Người. Như thế chúng ta sẽ đem tới cho người khác một tia ánh sáng của Người  và chia sẻ với họ niềm vui của con đường cuộc sống.

Tiếp đến ĐTC đã đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành toà thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin ĐTC đã bầy tỏ sự gần gũi tinh thần với các anh chị em Kitô Đông Phương mừng lễ Giáng Sinh vào thứ năm hôm nay, và gửi tới mọi người lời chúc mừng bình an và hạnh phúc.

Lễ Hiển Linh cũng là Ngày Nhi Đồng Truyền Giáo Quốc Tế. Đây là lễ của trẻ em, với lời cầu nguyện  và các hy sinh, các em trợ giúp các bạn đồng trang lứa cần được giúp đỡ, bằng cách trở thành thừa sai và chứng nhân của tình huynh đệ và chia sẻ.

ĐTC cũng chào nhiều nhóm khác nhau hiện diện tại quảng trường, đặc biệt là đoàn rước lịch sử dân gian, năm nay dành cho vùng Valle dell’Amaseno. ĐTC cũng nhắc cho mọi người biết cũng có các đoàn diễn hành trong nhiều thành phố bên Ba Lan với sự tham dự rộng rãi của các gia đình và các hiệp hội, cũng như hang đá sống tại Toà Thị Sảnh Roma, do Hiệp hội chuyên chở các bệnh nhân hành hương Lộ Đức và các Tu sĩ Hèn Mọn Phanxicô, thực hiện với sự tham dự của các người tàn tật.

Sau cùng ngài chúc mọi người lễ Hiển Linh tươi vui an bình.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Di hài Thánh Piô và Leopoldo Mandic sẽ được đưa về Roma

Di hài Thánh Piô và Leopoldo Mandic sẽ được đưa về Roma

Di hài thánh Piô và Leopoldo Mandic sẽ được đưa về Roma

ROMA. Di hài hai vị thánh nổi bật về sứ vụ giải tội sẽ được đưa về Roma cho các tín hữu kính viếng nhân dịp Năm Thánh Lòng Thương Xót.

Đó là Cha Thánh Piô (1877-1968) và thánh Leopoldo Mandic (1866-1942) gốc Croát, cả hai đều thuộc dòng Phanxicô Capuchino. Theo ý muốn của ĐTC, di hài hai vị thánh sẽ được đưa về Đền thờ Thánh Phêrô, trong dịp ngài cử hành thánh lễ đồng tế trọng thể vào ngày thứ tư lễ tro, 10-2 tới đây, với các thừa sai Lòng Thương Xót.

Di hài hai thánh sẽ được di chuyển khoảng 400 cây số từ thành Padova bắc Italia và từ San Giovanni Rotondo nam Italia về Vương cung thánh đường thánh Lorenzo chiều ngày 3 tháng 2 tới đây. Thánh đường này được giao cho các cha dòng Capuchino coi sóc. Chiều ngày 5-2, di hài hai thánh sẽ được rước về Đền thờ Thánh Phêrô

Sáng thứ bẩy, 6-2, tại Quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC sẽ tiếp kiến chung các tín hữu thuộc gần 2,500 nhóm cầu nguyện của Cha Piô, các nhân viên Bệnh viện “Nhà Thoa dịu đau khổ” do Cha Thánh Piô thành lập, cùng với các tín hữu thuộc tổng giáo phận Manfredonia – Veste – San Giovanni Rotondo, nơi thánh nhân đã sinh sống và hoạt động.

Sáng thứ ba 9-2, ĐTC sẽ chủ sự thánh lễ đồng tế với các tu sĩ Capuchino toàn thế giới, một dòng hiện có hơn 10,600 tu sĩ.

Thứ tư lễ tro 10-2, trong thánh lễ đồng tế trọng thể tại Đền thờ thánh Phêrô, ĐTC sẽ ủy thác cho khoảng 1 ngàn vị Thừa sai lòng Thương Xót sứ mạng trở thành ”dấu chỉ lòng thương yêu từ mẫu của Giáo Hội đối với Dân Chúa.. Các thừa sai này sẽ được các GM sai đi các nơi trong các giáo phận thuộc quyền để linh hoạt dân Chúa và thi hành các sáng kiến liên quan đến Lòng Thương Xót, giải tội, giải vạ.

Sáng thứ năm 11-2, sau thánh lễ do Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng, chủ sự, di hài hai vị thánh sẽ được đưa về nơi an nghỉ của các ngài. (SD 4-1-2016)

G. Trần Đức Anh OP, Vatican Radio

Đức Thánh Cha thăm nơi Thánh Phanxicô làm hang đá đầu tiên

Đức Thánh Cha thăm nơi Thánh Phanxicô làm hang đá đầu tiên

Đức Thánh Cha viếng thăm nơi Thánh Phanxicô làm hang đá đầu tiên

RIETI. Chiều thứ hai, 4-1-2015, ĐTC đã viếng thăm Đền thánh Greccio nơi thánh Phanxicô đã khởi sự truyền thống làm hang đá máng cỏ đầu tiên.

Greccio cách Roma khoảng 100 cây số, ở cao độ 665 mét và nay là một làng thuộc tỉnh Rieti, miền Lazio, có 1.570 dân cư. Trước khi đến đây, ĐTC đã ghé thăm và dùng bữa trưa với Đức Cha Domenico Pompili, GM giáo phận Rieti sở tại. Tiếp đến lúc 14 giờ 20, cùng với Đức cha Pompili đến thăm đền thánh cách đó 15 cây số.

Tại đây, ngài được cộng đoàn Phanxicô và 70 bạn trẻ tiếp đón. Họ đang tham dự cuộc gặp gỡ ”Các bạn trẻ Greccio 2016” từ ngày 2-1 vừa qua do cha Luigi Ciotti, sáng lập hiệp hội Libera, hướng dẫn. ĐTC cầu nguyện tại nhà nguyện trước bích họa diễn tả hang đá đầu tiên tại đây và ngỏ lời với mọi người hiện diện: ”Tôi cám ơn Chúa vì niềm vui này và xin Chúa chúc lành cho thánh đường này, Đức GM giáo phận Rieti, các tu sĩ Phanxicô, các tín hữu. Xin Chúa giúp chúng ta khám phá ra ngôi sao và tìm được Chúa Hài Đồng”.

Cuộc viếng thăm chớp nhoáng của ĐTC kéo dài tới lúc 3 giờ rưỡi chiều, và ngài lên đường trở về Roma.

David, một bạn trẻ hiện diện, kể lại rằng: ”Thật là một ngạc nhiên lớn và nhiều người trong chúng tôi cảm động đến rơi lệ. ĐGH đã chỉ cho chúng tôi qua những dấu hiệu của lễ Giáng Sinh một hành trình thường nhật cho người trẻ và nhắc nhở chúng tôi đừng quên: Thiên Chúa đã trở nên bé nhỏ trong biến cố giáng sinh, vì thế, từ những điều bé nhỏ, ta có thể làm những điều to lớn. Khi từ biệt những người trẻ, ĐTC cũng xin họ cầu nguyện cho ngài” (RG 4-1-2016)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha chủ sự buổi đọc Kinh Truyền Tin Chúa Nhật thứ hai sau Lễ Giáng Sinh

Đức Thánh Cha chủ sự buổi đọc Kinh Truyền Tin Chúa Nhật thứ hai sau Lễ Giáng Sinh

ĐTC Phanxicô chào tín hữu trong buổi đọc Kinh Truyên Tin trưa Chúa Nhật lễ Thánh Gia Thất 27-12-2015

VATICAN. Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật ngày 03.01.2016 với vài chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi mọi người hãy biết mở lòng ra để đón nhận Ngôi Hai Thiên Chúa đã nhập thể làm người.

Mở đầu bài huấn dụ, Đức Thánh Cha nói:

“Các bài đọc phụng vụ ngày hôm nay, Chúa Nhật thứ hai sau lễ Giáng Sinh, trình bày cho chúng ta Lời Tựa mở đầu Phúc Âm theo thánh Gioan. Đoạn Lời Tựa ấy đã tuyên bố rằng: ‘Ngôi Lời – hay Ngôi Lời Thiên Chúa tạo dựng – đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta’ (Ga 1, 14). Ngôi Lời, Đấng ngự trên trời, đã đến trần gian để chúng ta được lắng nghe, được nhận biết và có thể tiếp chạm vào tình yêu của Thiên Chúa là Cha. Ngôi Lời Thiên Chúa cũng chính là người Con Một, Đấng đã nhập thể làm người, luôn tràn đầy ân sủng và sự thật (Ga 1, 14). Đó chính là Đức Giêsu.

Thánh Sử Gioan đã không hề che dấu tính bi kịch trong mầu nhiệm nhập thể của Con Thiên Chúa khi cho thấy rằng con người đã khước từ, không chấp nhận quà tặng tình yêu của Thiên Chúa. Ngôi Lời chính là ánh sáng, nhưng con người lại ưa thích bóng tối; Ngôi Lời đã ở giữa thế gian, nhưng thế gian lại không nhận biết Người (Ga 9-10). Thế gian đã khép cửa chối từ Con Thiên Chúa. Sự dữ đang đe dọa cuộc sống của chúng ta và đòi hỏi chúng ta phải thận trọng vì nó đang diễn ra lan tràn khắp nơi. Sách Sáng Thế đề cập đến một câu rất hay giúp chúng ta hiểu được điều này: Tội lỗi đang ‘nằm phục ở cửa’ (St 4,7). Thật khốn cho chúng ta nếu chúng ta để cho tội lỗi đi vào nhà mình. Bởi vì, một khi tội lỗi đã đi vào, nó sẽ đóng kín cánh cửa tâm hồn chúng ta lại và không hề mở ra cho bất kỳ ai nữa. Nhưng chúng ta lại được mời gọi phải mở cửa tâm hồn trước Lời Chúa, chính là Đức Giêsu, để nhờ đó mà ta được trở nên con cái của Thiên Chúa.

Trong ngày lễ Giáng Sinh, Lời Tựa mở đầu trong Tin Mừng thánh Gioan cũng đã được lọng trọng công bố. Ngày hôm nay, chúng ta lại được lắng nghe thêm một lần nữa. Qua đó, Mẹ Giáo Hội mời gọi chúng ta hãy đón nhận Ngôi Lời cứu độ, mầu nhiệm của ánh sáng. Nếu chúng ta đón nhận Ngôi Lời, đón nhận Đức Giêsu, chúng ta sẽ được triển nở trong sự hiểu biết và trong tình yêu mến Thiên Chúa, chúng ta sẽ học biết để có được lòng thương xót như Ngài. Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này, chúng ta được mời gọi làm cho Tin Mừng trở thành một phần trong đời sống chúng ta. Chúng ta hãy lắng nghe Tin Mừng, suy niệm Tin Mừng, và nội tâm hóa Tin Mừng trong cuộc sống thường ngày. Đó sẽ là cách thức tốt đẹp để chúng ta hiểu biết hơn về Đức Giêsu và có thể đem Giêsu đến cho người khác. Ơn gọi và niềm vui của bất kỳ ai đã lãnh nhận Bí Tích Rửa Tội là giới thiệu và trao tặng cho người khác chính Đức Giêsu. Nhưng để làm được điều này, chúng ta phải biết Đức Giêsu và để cho Ngài đi vào trong tâm hồn chúng ta, và trở thành Thiên Chúa của cuộc sống chúng ta. Thiên Chúa sẽ bảo vệ chúng ta khỏi sự dữ, khỏi ác thần, là những kẻ luôn rình rập trước cánh cửa tâm hồn chúng ta và chực chờ để bước vào.

Bằng tấm lòng của người con thảo hiếu, một lần nữa chúng ta hãy tín thác nơi Mẹ Maria: Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và cũng là mẹ chúng ta. Chúng ta đã có dịp chiêm ngắm Mẹ nơi hang đá, trong suốt những ngày này.

Lời kêu gọi

Sau Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha đã gởi lời chào thân ái đến tất cả các tín hữu ở Roma và khách hành hương đến từ Italia cũng như các quốc gia khác. Đức Thánh Cha cũng chào mừng các gia đình, các tổ chức, các nhóm trong xứ đạo.

“Trong Chúa Nhật thứ nhất của năm mới này, tôi cầu chúc tất cả anh chị em những điều tốt đẹp nhất, mà trên hết là sự bình an và tốt lành của Thiên Chúa. Tôi ước mong rằng, trong những lúc hạnh phúc cũng như buồn đau, anh chị em hãy biết tín thác vào Chúa, vì Ngài giầu lòng xót thương và là niềm hy vọng của chúng ta. Tôi cũng muốn nhắc lại cam kết dấn thân trong ngày lễ đầu năm mới, ngày cầu nguyện cho hòa bình. Đó chính là ‘Chiến thắng sự dửng dưng và thăng tiến hòa bình’. Với ân sủng của Thiên Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ làm được điều này. Tôi cũng nhắc lại điều mà tôi thường hay nói với anh chị em: Mỗi ngày hãy đọc một đoạn Tin Mừng để nhờ đó mà hiểu biết Đức Giêsu hơn, để mở rộng cánh cửa tâm hồn với Giêsu, và vì thế chúng ta có thể giúp người khác biết Đức Giêsu hơn. Hãy để trong túi anh chị em một quyển Tin Mừng nhỏ, để có thể đọc mọi nơi. Đừng quên mỗi ngày hãy đọc một đoạn Tin Mừng, anh chị em nhé!”

Vũ Đức Anh Phương – Vatican Radio

Thánh lễ đầu năm dương lịch tại đền thở thánh Phêrô và mở Cửa Năm Thánh tại đền thờ Đức Bà Cả

Thánh lễ đầu năm dương lịch tại đền thở thánh Phêrô và mở Cửa Năm Thánh tại đền thờ Đức Bà Cả

Cửa Thánh Đức Bà Cả

Tường thuật thánh lễ đầu năm Dương lịch tại Đền thờ thánh Phêrô và thánh lễ mở Cửa Năm Thánh tại Đền thờ Đức Bà Cả

Sáng mùng 1 tháng giêng, ngày đầu năm mới dương lịch, lễ kính Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa, ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ trong Đền Thờ Thánh Phêrô và vào ban chiều ngài đã chủ sự thánh lễ mở Cửa Năm Thánh tại Đền Thờ Đức Bà Cả.

Đồng tế thánh lễ có mấy chục Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục và linh mục. Tham dự thánh lễ có một số tu sĩ nam nữ, ngoại giao đoàn cạnh Toà Thánh và khoảng gần 10,000 giáo dân. Đảm trách phần thánh ca trong thánh lễ ngoài ca đoàn Sistina của Toà Thánh còn có ca đoàn tổng hợp của các ca đoàn thiếu nhi tham dự đại hội quốc tế các ca đoàn thiếu nhi lần thứ 40 tại Roma.

Bài đọc một bằng tiếng Pháp kể lại lời chúc lành mà Thiên Chúa truyền cho thầy cả Aharon và dòng dõi tư tế chúc lành cho dân Israel: “Chúa phán với ông Mô-sê: "Hãy nói với A-ha-ron và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ít-ra-en, anh em hãy nói thế này: "Nguyện Chúa chúc lành và gìn giữ anh (em)!Nguyện Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh (em) và dủ lòng thương anh (em)!Nguyện Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh (em)! Chúc như thế là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của Danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng” (Ds 6,22-27) Thánh vịnh 66 được hát bằng tiếng Ý. Bài đọc hai bằng tiếng Anh trích thư thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Galát: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật, để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử. Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: "Áp-ba, Cha ơi! " Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa.” (Gl 4,4-7). Phúc Âm được hát bằng tiếng Latinh kể lại biến cố các mục đồng đến thờ lậy Chúa Hài Nhi, rồi ra về chúc tụng Thiên Chúa về những điều đã nghe và đã thấy. Họ kể lại cho mọi người những điều đã được nói về Hài Nhi. Thân Mẫu Người thì gìn giữ mọi sự trong lòng và suy đi nghĩ lại. Sau tám ngày thì Con Trẻ được cắt bì theo luật dậy và được đặt tên là Giêsu như thiên thần đã nói trước khi Người được thụ thai trong lòng mẹ. (Lc 2,16-21).

Dòng sông tràn bờ của tội lỗi không thể làm gì để chống lại đại dương thương xót tràn ngập thế giới

Giảng trong thánh lễ ĐTC nói: “Chúng ta đã nghe các lời của tông đồ Phaolô: “Khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà” (Gl 4,4). Chúa Giêsu đã sinh ra trong “thời gian viên mãn” có nghĩa là gì? Nếu chúng ta nhìn vào thời điểm lịch sử hồi đó, chúng ta có thể bị thất vọng ngay lập tức. Roma thống trị một phần lớn thế giới được biết tới thời đó với quyền lực quân đội của nó. Hoàng đế Augusto lên nắm quyền sau năm cuộc nội chiến. Cả Israel cũng đã bị đế quốc Roma chinh phục và dân được tuyển chọn bị mất tự do. Như thế, đối với các người đồng thời với Chúa Giêsu chắc chắn đó đã không phải là thời tốt đẹp nhất. Vì vậy không được nhìn vào khung cảnh địa lý chính trị để định nghĩa điểm tột đỉnh của thời gian.

Cần có một giải thích khác, hiểu thời viên mãn từ Thiên Chúa. Trong lúc Thiên Chúa thiết định rằng đã tới lúc thành toàn lời đã hứa, thì đối với nhân loại thời viên mãn được thực hiện. Vì thế, không phải lịch sử quyết định biến cố Chúa Kitô sinh ra; nhưng đúng hơn chính biến cố Ngài đến thế gian cho phép lịch sử đạt sự viên mãn của nó. Chính vì vậy mà từ biến cố Con Thiên Chúa sinh ra bắt đầu sự thành toàn của một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên trông thấy sự thành tựu của lời hứa xưa. Như tác giả thư gửi tín hữu do thái viết: “Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy chúng ta qua Thánh Tử. Thiên Chúa đã nhờ Người mà dựng nên vũ trụ, đã đặt Người làm Đấng thừa hưởng muôn vật muôn loài. Người là phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh trung thực của bản thể Thiên Chúa. Người là Đấng dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật.” Dt 1,1-3). Như vậy, thời viên mãn là sự hiện diện của chính Thiên Chúa trong dòng lịch sử chúng ta. Giờ đây chúng ta có thể trông thấy vinh quang của Ngài rạng ngời trong sự nghèo nàn của một chuồng bò, và được khích lệ nâng đỡ bởi Ngôi Lời tự trở thành “bé nhỏ” nơi một trẻ thơ. Nhờ Người thời gian của chúng ta có thể tìm thấy sự viên mãn  của nó.

Áp dụng sự viên mãn này vào tình hình thế giới loài người hiện nay ĐTC đau buồn ghi nhận như sau:

Tuy nhiên, mầu nhiệm này luôn luôn đối nghịch với kinh nghiệm lịch sử thê thảm. Hàng ngày, trong khi chúng ta muốn được nâng đỡ bởi các dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, thì chúng ta lại gặp các dấu chỉ trái nghịch, tiêu cực, khiến cho chúng ta cảm thấy như Ngài vắng mặt. Thời viên mãn xem ra đổ vỡ tan tành  trước nhiều hình thức của bất công và bạo lực hàng ngày gây thương tích cho nhân loại. Nhiều khi chúng ta tự hỏi: làm sao sự áp bức của con người trên con người lại có thể kéo dài như vậy? Sự kiêu căng ngạo mạn của kẻ mạnh hơn lại tiếp tục hạ nhục người yếu đuối hơn, gạt bỏ họ ra bên lề bần cùng nhất của thế giới như thế? Cho tới khi nào sự tàn ác của con người còn gieo rắc trên trái đất bạo lực và thù hận, gây ra biết bao nhiêu nạn nhân vô tội? Làm sao thời viên mãn lại có thể để trước mắt chúng ta các đám đông nam nữ và trẻ em trốn chạy chiến tranh, đói khát, bách hại, đến liều mạng sống, miễn là được thấy các quyền nền tảng của được tôn trọng? Một dòng sông của bần cùng được dưỡng nuôi bởi tội lỗi, xem ra chống lại thời viên mãn đã được Chúa Kitô thực hiện.

Tiếp tục bài giảng ĐTC khẳng định: Thế nhưng dòng sông tràn bờ ấy không thể làm gì chống lại đại dương lòng thương xót tràn ngập thế giới chúng ta. Chúng ta tất cả đuợc mời gọi dìm mình trong đại dương ấy, để cho mình được tái sinh, để chiến thắng sự dửng dưng ngăn cản tình liên đới, và ra khỏi sự trung lập giả dối gây chướng ngại cho sự chia sẻ. Ơn thánh của Chúa Kitô, Đấng đã thành toàn sự chờ đợi ơn cứu độ, thôi thúc chúng ta trở thành các cộng sự viên của Ngài trong việc xây dựng một thế giới công bằng và huynh đệ hơn, nơi mọi người và mọi thụ tạo có thể sống trong bình an, hoà hợp của thời tạo dựng nguyên thuỷ của Thiên Chúa.

Vào đầu năm mới, Giáo Hội làm cho chúng ta chiêm ngưỡng Chức Làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria, hình ảnh của hoà bình. Lời hứa xưa được thành toàn nơi con người của Mẹ. Mẹ đã tin vào các lời của sứ thần, đã thụ thai Con và trở thành Mẹ của Chúa. Qua Mẹ, qua lời “xin vâng” của Mẹ, thời viên mãn đã tới. Tin Mừng mà chúng ta đã nghe nói rằng Đức Trinh Nữ “giữ gìn các điều ấy và suy gẫm trong lòng” (Lc 2,19) Mẹ được giới thiệu với chúng ta như là chiếc bình luôn luôn tràn đầy ký ức về Chúa Giêsu, Ngai Toà Khôn Ngoan, từ đó kín múc dể có thể giải thích trung thực giáo huấn của Ngài. Hôm nay Mẹ cống hiến cho chúng ta khả thể tiếp nhận ý nghĩa các biến cố liên quan tới cá nhân chúng ta, tới các gia đình, đất nước của chúng ta và toàn thế giới. Nơi đâu lý trí của các triết gia, cũng như sự thương thuyết chính trị không thể tới được, nơi đó sức mạnh của đức tin có thể tới, sức mạnh đem lại ân sủng Tin Mừng của Chúa Kitô và có thể luôn luôn mở rộng các con đường mới cho lý trí và sự thương thảo.

Lậy Mẹ Maria, mẹ diễm phúc, bởi vì Mẹ đã trao ban Con Thiên Chúa cho thế giới; nhưng Mẹ còn diễm phúc hơn nữa vì đã tin nơi Chúa. Tràn đầy đức tin Mẹ đã thụ thai Chúa Giêsu trong tim trước, rồi trong cung lòng, để trở thành Mẹ của mọi tín hữu (x. Agostino , Sermo 215,4). Xin Mẹ trải dài phúc lành của Mẹ trên chúng con trong ngày dâng kính Mẹ đây, xin chỉ cho chúng con thấy gương mặt của Chúa Giêsu Con Mẹ, là Đấng ban lòng thương xót và bình an cho toàn thế giới.

Các lời nguyện giáo dân được đọc bằng tiếng Tầu, cầu cho Hội Thánh, xin Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể trong lòng Đức Maria gìn giữ Giáo Hội trong đức tin chân thật, xây dựng Giáo Hội trong tình bác ái và làm cho Giáo Hội trở thành dụng cụ hữu hiệu của sự thánh thiện và ơn thánh. Lời nguyện tiếng Đức cầu cho hoà bình giữa các dân tộc: xin Hoàng Tử Hoà Bình chấm dứt chiến tranh, bẻ gẫy xích xiềng của thù hận, chúc lành cho các cố gắng của mọi người thiện chí. Lời nguyện tiếng Ba Lan cầu cho các kitô hữu bị bách hại: xin Đấng chứng nhân tình yêu của Thiên Chúa Cha canh tân đức tin của họ, nâng đỡ họ trong giờ thử thách và hoán cải con tim của những người bách hại họ. Lời nguyện tiếng Tây Ban Nha cầu cho ơn gọi linh mục: xin vị Thượng Tế vĩnh cửu của các điều thiện hảo rộng mở trái tim của người trẻ cho cuộc sống hy sinh cho ơn cứu rỗi của các anh chị em khác. Lời nguyện tiếng Tagalog Philippines cầu cho các tín hữu hành hương: xin cho Hài Nhi Bếtlehem đã đến viếng thăm  chúng ta hướng dẫn họ trong việc kiếm tìm nhan thánh Chúa và biến đổi cuộc sống của họ với ơn tha thứ.

Mấy chục linh mục đã giúp ĐTC cho tín hữu rước lễ.

Mở rộng con tim và chú ý tới tha nhân, đó là con đường chinh phục hoà bình

Lúc 12 giờ trưa ĐTC đã đọc Kinh Truyền Tin với dân chúng.

Trong bài huấn dụ ngài đã khích lệ mọi người noi gương Mẹ Maria biến tất cả mọi sự trong đời thành lời cầu nguyện, mở rộng con tim và chú ý tới tha nhân, vì đó là con đường giúp chinh phục hoà bình. Ngài nói: “Bắt đầu năm mới thật là đẹp trao đổi với nhau các lời cầu chúc. Như thế chúng ta canh tân ước mong cho nhau rằng điều chờ đợi chúng ta tốt đẹp hơn một chút. Nói cho cùng, đó là một dấu chỉ của hy vọng linh hoạt chúng ta và mời gọi chúng ta tin vào sự sống. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng năm mới sẽ không thay đổi tất cả, biết bao nhiêu vấn đề của ngày hôm qua sẽ vẫn là những vấn đề của ngày mai. Vì thế tôi muốn gửi tới anh chị em một lời cầu chúc được một niềm hy vọng cụ thể nâng đỡ, mà tôi rút tiả ra từ phụng vụ hôm nay.

Đó là những lời mà chính Chúa đã xin để chúc lành cho dân Ngài: “Nguyện Chúa làm cho gương mặt Ngài rạng ngời trên anh em… Nguyện Chúa ghé mắt nhìn anh em” (Ds 6,25-26). ĐTC đã cầu chúc mọi người như sau:

Tôi cũng xin cầu chúc anh chị em điều này: xin Chúa ghé mắt nhìn anh chị em để anh chị em có thể vui mừng, biết rằng mỗi ngày gương mặt thương xót của Ngài rạng rỡ hơn mặt trời ngời sáng trên anh chị em,  và không bao giờ lặn! Khám phá ra guơng mặt của Thiên Chúa canh tân cuộc sống. Vì Ngài là một Người Cha si mê con người, không bao giờ mệt mỏi bắt đầu trở lại với chúng ta để canh tân chúng ta. Tuy nhiên, Thiên Chúa không hứa các thay đổi ảo thuật. Ngài không dùng cây đũa thần. Ngài thích thay đổi thực tại từ bên trong, với lòng kiên nhẫn và tình yêu thương; Ngài xin được vào trong cuộc sống chúng ta với sự tế nhị, như mưa rơi trên đất để làm cho nó sinh hoa kết trái. Và Ngài luôn luôn chờ đợi chúng ta với sự dịu hiền. Mỗi sáng, khi thức dậy, chúng ta có thể nói: “Hôm nay Chúa làm cho gương mặt Ngài rạng ngời trên tôi”.

ĐTC nói tiếp trong bài huấn dụ: “Lời chúc lành của Thánh Kinh tiếp tục như sau: “Xin Chúa ban bình an cho ngươi” (c. 26). Hôm nay chúng ta cử hành Ngày Hoà Bình Thế Giới, với đề tài: “Chiến thắng thờ ơ và chinh phục hoà bình”. Hoà bình mà Thiên Chúa Cha ước mong gieo vãi trong thế giới, phải được chúng ta vun trồng.  Không chỉ có thế, nó cũng phải được chinh phục. Điều này bao gồm một cuộc chiến đấu đích thật, một cuộc chiến tinh thần xảy ra trong con tim chúng ta. Vì kẻ thù của hoà bình không chỉ là chiến tranh, mà cả sự dửng dưng nữa, khiến cho người ta chỉ nghĩ tới mình và tạo ra các hàng rào, nghi ngờ, sợ hãi và khép kín. Cám ơn Chúa, chúng ta có biết bao tin tức; nhưng đôi khi chúng ta bị chìm ngập trong tin tức đến độ lo ra không để ý tới các thực tại, tới người anh chị em cần chúng ta giúp đỡ. Chúng ta hãy bắt đầu mở rộng con tim, bằng cách chú ý đến tha nhân. Đó là con đường để chinh phục hoà bình.

Xin Đức Nữ Vương Hoà Bình, Mẹ Thiên Chúa, mà chúng ta mừng lễ trọng hôm nay, giúp chúng ta. Phúc Âm hôm nay khẳng định rằng Mẹ “giữ gìn mọi điều ấy và suy gẫm trong lòng” Lc 2,19). Đó là những điều gì vậy? Chắc chắn đó là niềm vui vì Chúa Giêsu sinh ra, nhưng cũng là các khó khăn Mẹ đã gặp: Mẹ đã phải đặt Con Mẹ trong một máng cỏ, vì đã “không có chỗ cho họ trong quán trọ” (c. 7) và tương lai rất vô định. Các niềm hy vọng và các lo lắng, lòng biết ơn và các vấn đề, tất cả những điều đã xảy ra trong đời, trong tim Mẹ Maria, đã trở thành lời cầu nguyện, đối thoại với Thiên Chúa. Đó là bí quyết của Mẹ Thiên Chúa. Và Mẹ cũng làm như thế cho chúng ta: giữ gìn các niềm vui và tháo gỡ các nút thắt của cuộc sống chúng ta, bằng cách đem chúng đến với Chúa.

Chiều hôm nay tôi sẽ đến Đền Thờ Đức Bà Cả để mở Cửa Thánh. Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ năm mới, để cho hoà bình và lòng thương xót lớn lên.

Tiếp đến ĐTC đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành toà thánh đầu năm cho mọi người.

Sau kinh Truyền Tin ĐTC đã cám ơn tổng thống Italia về những lời chúc mừng trong sứ điệp cuối năm tổng thống gửi nhân dân toàn nước. Ngài cũng gửi tới tổng thống các lời chúc nồng nhiệt nhất. ĐTC đã cám ơn nhiều sáng kiến cầu nguyện và hoạt động cho hoà bình được tổ chức tại nhiều nơi nhân Ngày Hoà Bình Thế Giới. Chẳng hạn cuộc tuần hành cho hòa bình tại Molfeta chiều tất niên, do HĐGM Italia, Caritas, Hoà Bình Chúa Kitô và Công Giáo Tiến Hành tổ chức. Thật là đẹp khi biết có nhiều người, nhất là giới trẻ, đã chọn sống ngày đầu năm kiểu này. Ngài cũng chào các tham dự viên cuộc biểu tình “Hoà bình trong mọi phần đất” được Cộng đồng thánh Egidio tổ chức tại Roma và tại nhiều nước trên thế giới. Ngài khích lệ họ tiếp tục dấn thân này cho sự hoà giải và hoà hợp. ĐTC cũng chào các gia đình của phong trào Tình Yêu Gia Đình đã tham dự buổi canh thức đêm giao thừa tại công trường thánh Phêrô, để cầu nguyện cho hoà bình và sự hiệp nhất của mọi gia đình trên toàn thế giới. Ngài cám ơn các sáng kiến này và các lời cầu nguyện dành cho ngài. ĐTC cũng chào các “Ca viên Ngôi sao Sternsinger tức các trẻ em và người trẻ tại Đức và Áo  đem phúc lành của Chúa Giêsu đến từng gia đình và quyên góp để giúp các trẻ em nghèo trên thế giới. Sau cùng, ngài cầu chúc mọi người một năm hoà bình trong ân sủng của Chúa giàu lòng thương xót, với sự chở che hiền mẫu của Mẹ Maria, Thánh Mẫu của Thiên Chúa. Ngài chúc mọi người một năm mới an lành.

Vào lúc 5 giờ chiều ĐTC đã đến nhà thờ Đức Bà Cả chủ sự thánh lễ và nghi thức mở Cửa Năm Thánh. Tham dự thánh lễ đặc biệt có 350 người nghèo, ăn xin và vô gia cư ở Roma.

Sau lễ nghi sám hối ĐTC đã đọc lời nguyện sau đây: “Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng  và thương xót, Chúa ban cho Giáo Hội Chúa một thời gian của ơn thánh, sám hối, và tha thứ, để Giáo Hội được vui mừng canh tân nội tâm nhờ công trình của Chúa Thánh Thần, và luôn luôn trung thành hơn bước đi trong các đường lối Chúa, loan báo cho thế giới Tin Mừng cứu độ. Một lần nữa xin hãy mở cửa lòng thương xót Chúa và một ngày kia đón nhận chúng con vào trong nhà Chúa trên trời, nơi Đức Giêsu Con Chúa, đã đi trước chúng con, Người là Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen.”

Tiếp đến cộng đoàn hát kinh xin Chúa Thánh Thần đến. Khi kết thúc, ĐTC lặng lẽ bước lên bậc  mở Cửa Thánh, dừng lại cầu nguyện trên ngưỡng cửa, rồi bước vào bên trong, theo sau là các vị đồng tế và đại diện giới tu sĩ nam nữ và giáo dân. Trong khi ĐTC và đoàn đồng tế tiến tới bàn thờ ca đoàn hát bài thánh ca Năm Thánh Lòng Thương Xót.

Tất cả các bài sách thánh cũng giống như trong thánh lễ ban sáng và  đều được đọc hay hát bằng tiếng Ý.

Cùng Mẹ Maria bước qua Cửa Năm Thánh và để cho Mẹ đồng hành với chúng ta trong cuộc sống

Giảng trong thánh lễ ĐTC đã quảng diễn ý nghĩa bài thánh ca “Kính chào Mẹ của lòng thương xót, Mẹ của Thiên Chúa và Mẹ của sự tha thứ, Mẹ của hy vọng và Mẹ của ơn thánh, Mẹ tràn đầy niềm vui thánh thiện”. Ngài nói: “Trong ít lời này gói ghém tổng hợp đức tin của các thế hệ tín hữu, dán mắt nhìn hình ảnh của Đức Trinh Nữ và xin Mẹ bầu cử và ủi an. Cửa Thánh vừa mở là một Cửa của Lòng Thương Xót. Bất cứ ai bước qua ngưỡng cửa này đều được mời gọi dìm mình trong tình yêu thương xót của Thiên  Chúa Cha, với sự tin tưởng tràn đầy không chút sợ hãi, và từ Vưong cung thánh đường này cơ thể ra đi với xác tín Mẹ Maria đồng hành bên cạnh. Mẹ là Mẹ của lòng xót thương, bởi vì Mẹ đã sinh ra trong cung lòng Mẹ chính Gương mặt lòng xót thương của Thiên Chúa là Đức Giêsu, Emmanuel Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Đấng được mọi dân tộc trông đợi, “Hoàng Tử Hoà Bình” (Is 9,5). Con Thiên  Chúa nhập thể làm người để cứu rỗi chúng ta đã ban cho chúng ta Mẹ Người, Đấng cùng chúng ta hành hương để không bao giờ chúng ta cô đơn trên con đường cuộc sống, nhất là trong những lúc không chắc chắn và khổ đau.

Đức Maria là Mẹ Thiên  Chúa thứ tha, vì thế chúng ta có thể nói rằng Mẹ là Mẹ của tha thứ. Từ tha thứ bị tâm thức trần tục hiều lầm biết bao, trái lại ám nó chỉ hoa trái tinh tuyền nguyên thuỷ của đức tin kitô. Ai không biết tha thứ, thì đã không biết sự tràn đầy của tình yêu. Và chỉ có ai yêu thương thật sự, mới có thể đạt sự tha thứ, bằng cách quên đi sự xúc phạm đã nhận lãnh. Dưới chân thập giá Mẹ Maria trông thấy Con mình dâng hiến tất cả chính Ngài, và như vậy Mẹ chứng kiến việc yêu thương như Thiên Chúa yêu thương có nghĩa là gì. Trong lúc đó Mẹ nghe Chúa Giêsu nói lên các lời mà chắc hẳn dấu ẩn điều Mẹ đã dậy Ngài ngay từ nhỏ: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,24). Trong lúc đó Mẹ Maria đã trở thành  Mẹ của sự tha thứ đối với tất cả chúng ta. Noi gương Chúa Giêsu và với ơn thánh Ngài ban, chính Mẹ đã có khả năng tha thứ cho những người đang giết Người Con vô tội của Mẹ.

ĐTC nói tiếp trong bài giảng: Đối với chúng ta, Mẹ Maria trở thành hình ảnh Giáo Hội phải trải dài sự tha thứ cho những ai kêu cầu ơn ấy làm sao. Mẹ của sự tha thứ dậy Giáo Hội  rằng sự tha thứ đã được cống hiến trên đồi Golgotha không có giới hạn. Luật lệ với các lý luận chi li của nó cũng như sự khôn ngoan của thế giới này với các phân biệt của nó không thể ngăn chặn được sự tha thứ. Sự tha thứ của Giáo Hội cũnv phải trải dài ra như sự tha thứ của Chúa Giêsu trên thập giá và của Mẹ Maria đứng dưới chân Người. Không có lựa chọn nào khác. Chính vì thế Chúa Thánh Thần đã khiến cho các Tông Đồ trở thành các dụng cụ hữu hiệu của sự tha thứ, bởi vì những gì đã có được do cái chết của Chúa Giêsu có thể tới với mọi người, tại khắp nơi và trong mọi thời (x. Ga 20,19-23).

Sau cùng, bài thánh thi của Mẹ Maria tiếp tục nói: “Mẹ của niềm hy vọng và Mẹ của ơn thánh, Mẹ tràn đầy niềm vui thánh thiện”. Hy vọng, ơn thánh và niềm vui thánh thiện là chị em với nhau: tất cả là ơn của Chúa Kitô, còn hơn thế nữa, chúng là tên gọi của Ngài được viết trên thịt xác của Ngài. Món quà mà Mẹ Maria ban cho chúng ta khi cho chúng ta Chúa Giêsu Kitô  là ơn tha thứ canh tân cuộc sống, cho phép nó lại thực thi ý muốn của Thiên Chúa, và làm cho nó tràn đầy hạnh phúc đích thật. Ơn ấy mở rộng trái tim để nhìn tương lai với niềm vui của người hy vọng… Sức mạnh của ơn tha thứ là liều thuốc chống lại sự buồn phiền do hận thù và báo oán gây ra. Sự tha thứ mở ra cho niềm vui và sự thanh thản, bởi vì nó giải thoát linh hồn khỏi các tư tưởng của sự chết, trong khi hận thù và báo oán xúi bẩy tâm trí và xé nát con tim, bằng cách lấy mất đi sự nghỉ ngơi và an bình.

Chúng ta hãy đi qua Cửa Thánh Lòng Thương Xót với xác tín về sự đồng hành của Đức Trinh Nữ, Thánh Mẫu của Thiên Chúa, bầu cử cho chúng ta. Hãy để cho Mẹ đồng hành với chúng ta để tái khám phá ra vẻ đẹp của cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Con Mẹ. Hãy mở toang cánh cửa con tim chúng ta ra cho niềm vui của sự tha thứ, ý thức về niềm hy vọng tin tưởng được trả lại cho chúng ta, để biến đổi cuộc sống thường ngày của chúng ta trở thành một dụng cụ khiêm tốn của tình yêu Thiên  Chúa.

Các lời nguyện giáo dân được hát bằng tiếng Ý xin Chúa thánh hoá Giáo Hội trong chân lý và sự thật, ban cho các nhà lãnh đạo sự khôn ngoan và trí phân định, giải thoát các tù nhân của thù hận và tội lỗi, làm nảy sinh ra các thừa sai mới của Tin Mừng và ơn tha thứ, làm sống dậy  trong gia đình tình yêu thương và lòng trung thành, hướng dẫn người trẻ tới ơn trao ban chính mình và sống thánh thiện, cúi xuống trên người nghèo với sự hiền dịu và quan phòng, đón nhận các anh chị em đã qua đời vào nước của ánh sáng và niềm vui.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Hồng Y Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Đức sắp thăm Việt Nam

Đức Hồng Y Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Đức sắp thăm Việt Nam

ĐHY Reinhard Marx, TGM Munich, Chủ tịch HĐGM Đức, sẽ viếng thăm Việt Nam từ ngày 8 đến 17-1-201

MUNICH. ĐHY Reinhard Marx, TGM Munich, Chủ tịch HĐGM Đức, sẽ viếng thăm Việt Nam từ ngày 8 đến 17-1-2016.

Thông cáo của HĐGM Đức công bố ngày 29-12-2015 cho biết, trong cuộc viếng thăm tại ”CHXHCN Việt Nam ở Đông Nam Á, ĐHY Marx muốn tìm hiểu về một Giáo hội đang lớn mạnh trong một tình trạng khó khăn”. ĐHY sẽ dừng lại tại thủ đô Hà Nội, giáo phận Vinh ở miền Trung, và SàiGòn, thủ đô kinh tế của Việt Nam.

Trong 10 ngày viếng thăm, ĐHY Marx sẽ gặp gỡ ĐHY Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, TGM Hà Nội, Đức TGM Phaolô Bùi Văn Đọc, TGM giáo phận Sàigòn, và Đức Cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp của giáo phận Vinh, cũng là Chủ tịch Ủy ban GM Việt Nam về Công lý và Hòa bình. Ngoài ra, ĐHY cũng có cuộc gặp gỡ và trao đổi tại Đại sứ quán Đức.

ĐHY Reinhard Marx năm nay 62 tuổi, sinh ngày 21-9-1953, nguyên là GM Trier, giáo phận cổ kính nhất của Đức, trước khi được ĐTC Biển Đức 16 thuyên chuyển về Munich ngày 30-11-2007 và thăng Hồng Y ngày 20-11-2010, lúc ấy ngài là vị trẻ nhất trong Hồng y đoàn. ĐHY được coi là người được ĐTC Phanxicô đặc biệt tín nhiệm. Ngài là thành viên Hội đồng 9 Hồng Y cố vấn của ĐTC về việc cải tổ giáo triều Roma và cũng là Chủ tịch Hội đồng kinh tế của Tòa thánh, gồm 8 HY và 7 giáo dân, có nhiệm vụ giám sát các hoạt động kinh tế và tài chánh của Tòa Thánh. Ngoài ra, ĐHY cũng là chủ tịch Ủy ban GM Liên hiệu Âu Châu gọi tắt là Comece.

Trong số khoảng 90 triệu dân tại Việt Nam, có từ 6 đến 7% là tín hữu Công Giáo thuộc 26 giáo phận, tương đương với 7% dân số toàn quốc và là Giáo Hội Kitô lớn nhất tại Việt Nam.

Trong hai khóa họp hồi trung tuần tháng 4 và tháng 9 năm nay, HĐGM Việt Nam đã bàn tới việc mời và chuẩn bị đón ĐHY Marx đến viếng thăm (KNA 29-12-2105)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha chủ sự Kinh Chiều I lễ Mẹ Thiên Chúa

Đức Thánh Cha chủ sự Kinh Chiều I lễ Mẹ Thiên Chúa

Đức Thánh Cha chủ sự Kinh Chiều I lễ Mẹ Thiên Chúa

VATICAN. Chiều 31-12-2015, ĐTC Phanxicô đã chủ sự kinh chiều I lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và hát kinh Te Deum, Tạ Ơn Thiên Chúa, nhân dịp cuối năm dương lịch. Ngài mời gọi dân thành Roma dấn thân phục hồi các giá trị căn bản.

Hiện diện tại Đền thờ Thánh Phêrô trong buổi hát kinh bắt đầu lúc 5 giờ chiều còn có 36 HY, và 80 vị khác gồm các GM và giám chức, và khoảng 8 ngàn tín hữu.

Trong bài giảng sau bài đọc ngắn, ĐTC mời gọi các tín hữu cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa vì những hồng ân đã nhận lãnh trong năm kết thúc, đồng thời xét mình và kiểm điểm những gì xảy ra trong năm 2015. Ngài nói:

”Chúng ta được kêu gọi kiểm điểm xem những thế sự có được thực hiện theo ý Thiên Chúa hay là chúng ta chỉ ưu tiên lắng nghe những dự án của con người, nhiều khi đầy những tư lợi, lòng khao khát quyền lực vô độ và bạo lực vô cớ.

”Nhưng ngày hôm nay, chúng ta cần đặc biệt tập trung vào những dấu chỉ Thiên Chúa đã ban cho chúng ta, để cảm nghiệm cụ thể sức mạnh tình yêu thương xót của Chúa. Chúng ta không thể quên bao nhiêu ngày ghi đậm bạo lực, chết chóc, đau thương khôn tả của bao nhiêu người vô tội, những người tị nạn buộc lòng phải rời bỏ quê hương, những con người nam nữ và trẻ em không còn gia cư nhất định, thiếu lương thực và kế sinh nhai. Dầu vậy cũng có bao nhiêu cử chỉ tốt lành, yêu thương và liên đới diễn ra trong những ngày tháng của năm nay, cho dù chúng không được các bản tin tức nói tới! Không thể để cho quyền lực sự ác che khuất những dấu chỉ tình thương ấy. Sự thiện luôn chiến thắng, cho dù có lúc sự thiện xem ra yếu ớt và âm thầm”.

Trong bài giảng, ĐTC cũng chân thành mời gọi mọi người dân ở Roma ”hãy vượt qua những khó khăn hiện tại”. Ngài nói: ”Ước gì quyết tâm phục hồi các giá trị căn bản phục vụ, liêm chính và liên đới giúp vượt qua những tình trạng bấp bênh trầm trọng đè nặng trong năm nay và chúng là dấu chỉ cho thấy có sự thiếu lòng tận tụy đối với công ích. Ước gì không bao giờ thiếu sự đóng góp tích cực của chứng tá Kitô để giúp Roma trở thành người ưu tiên diễn tả đức tin, lòng hiếu khách, tình huynh đệ và hòa bình, theo lịch sử của mình, và với sự phù hộ của Mẹ Maria là Phần Rỗi của dân Roma”.

Cuối kinh chiều, có nghi thức đặt Mình Thánh Chúa và hát kinh Te Deum tạ ơn Thiên Chúa. Sau đó, ĐTC đã tiến ra quảng trường thánh Phêrô viếng thăm và cầu nguyện hang đá lớn tại đây.

Ngày 1 tháng giêng 2016, ĐTC sẽ chủ sự hai thánh lễ:

– Ban sáng lúc 10 giờ tại Đền thờ Thánh Phêrô: lễ Kính Đức Mẹ Thiên Chúa và cũng là Ngày Thế Giới hòa bình lần thứ 49 với chủ đề: ”Chiến thắng sự dửng dưng, và chinh phục hòa bình”.

– Ban chiều là thánh lễ lúc 5 giờ tại Đền thờ Đức Bà Cả với nghi thức mở Cửa Năm Thánh. Đây là Cửa cuối cùng được mở ra trong 4 Đại Vương cung Thánh Đường ở Roma.

Được mời tham dự thánh lễ này, đặc biệt có 350 người vô gia cư ở Roma (SD 1-1-2015)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha gặp gỡ 6 ngàn thành viên các ca đoàn trẻ

Đức Thánh Cha gặp gỡ 6 ngàn thành viên các ca đoàn trẻ

Đức Thánh Cha gặp gỡ 6 ngàn thành viên các ca đoàn trẻ

VATICAN. Sáng ngày 31-12-2015, ĐTC đã tiếp kiến 6 ngàn thành viên các ca đoàn trẻ về Roma tham dự Đại hội quốc tế lần thứ 40.

6 ngàn người trẻ từ 5 đến 28 tuổi, thuộc các ca đoàn đến từ 18 quốc gia, trong đó có Italia, Đức, Áo, Tây Ban Nha, Bồ đào nha, Brazil, Ba Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Ai Len và một số nước khác trong đó có Hàn Quốc và Nhật Bản. Họ dự Đại hội từ ngày 28-12-2015 đến 1-1-2016 với chủ đề ”Các em hãy hát lên niềm hy vọng của mình”.

 Đối thoại với các em

Trong cuộc gặp gỡ, ĐTC đã trả lời một số câu hỏi do 3 em nêu lên.

1. ĐGH nghĩ gì về các bài ca của chúng con? Ngài có thích hát không?

ĐTC cho biết ngài thích nghe hát, nhưng không biết hát, ”tôi như con lừa, vì không biết hát. Tôi cũng không nói hay vì tôi có một khuyết tật về phát âm khi nói”… Tôi có một người ông làm nghề thợ mộc, vẫn luôn hát trong lúc làm việc. Bài ca có tác dụng giáo dục tâm hồn, mang lại ích lợi cho tâm hồn. Ví dụ một bà mẹ muốn cho đứa con nhỏ của mình ngủ, bà không nói với con: một, hai, ba, bốn.. nhưng bà hát ru con.. Đứa bé cảm thấy yên hàn và thiếp ngủ. Thánh Augustino nói một câu rất hay khi bàn về đời sống Kitô: ”Hãy hát và tiến bước”. Đời sống Kitô là một con đường, nhưng không phải con đường buồn sầu, trái lại là con đường vui tươi. Vì thế mà ta hát. Hát và tiến bước!

2. Làm sao mà ĐGH tốt lành như vậy, không bao giờ nổi giận? Đâu là những điều dốc lòng tốt của ĐGH cho năm mới?

ĐTC nhắc lại câu trả lời của Chúa Giêsu cho chàng thanh niên trong Phúc Âm gọi Ngài là ”Thầy nhân lành”: Chỉ có Thiên Chúa là Đấng nhân lành! Như vậy chúng ta là kẻ xấu hay sao? Không phải vậy, nửa này nửa kia.. Chúng ta vẫn luôn có vết thương của tội nguyên tổ khiến chúng ta không luôn luôn tốt lành..

”Cũng có những lúc cha nổi giận, nhưng không cắn! Đôi khi cha cũng nổi giận khi có người làm điều không tốt.. Nhưng cha dừng lại và suy nghĩ về những lần cha đã làm cho người khác nổi giận. Và cha nghĩ: ”Mình cũng đã làm cho người khác nổi giận, đúng vậy, bao nhiêu lần, vì thế mình không có quyền nổi giận.. Giận dữ là điều làm cho tâm hồn bị nhiễm độc. Bao nhiêu lần cha thấy các trẻ em kinh hãi vì cha mẹ chúng hoặc ở trường người ta trách mắng chúng. Khi một người giận dữ và trách mắng thì họ làm hại, gây tổn thương: Trách mắng người khác cũng như đâm một con dao vào tâm hồn, và đó không phải là điều tốt..

”Có những người mà các con chắc chắn là biết, họ có một tâm hồn cay đắng, luôn cay đắng, họ sống trong giận dữ. Dường như mỗi buổi sáng họ đánh răng bằng dấm, nên mới nổi giận như vậy. Người như thế là người bệnh hoạn..

Về sự dốc lòng trong năm mới, ĐTC cho biết ngài đã đưa ra những điều dốc lòng khi tĩnh tâm, đó là cầu nguyện nhiều hơn. Vì các GM, LM, phải hướng dẫn Dân Chúa trước tiên bằng lời cầu nguyện, đó là việc phục vụ đầu tiên..

3. Khi còn nhỏ, ĐGH mơ ước trở thành gì? Ban tối khi xem Tivi với gia đình, con thấy bao nhiêu là điều đau buồn, thê thảm. Thế giới cứ luôn như vậy sao, cả khi con lớn lên?

– Về câu hỏi thứ nhất, cha kể ra, chắc các con thế nào cũng cười. Khi còn nhỏ, cha thường đi với bà nội, có khi theo mẹ đi chợ để mua đồ. Chợ dọc theo con đường ấy có người bán rau, người bán trái cây, thịt, cá.. Một hôm, ở nhà, cha được hỏi: lớn lên con muốn làm gì? Cha trả lời: con muốn làm ông hàng thịt! Tại sao? Tại vì ở chợ ấy, ông hàng thịt có 3, 4 chỗ để bán thịt, ông cầm dao và cắt thịt rất là nghệ thuật, và tôi thích nhìn ông làm như thế. Bây giờ thì ý tưởng thay đổi rồi.

Về câu thứ hai, nghiêm chỉnh hơn, những tin tức đau buồn ở Tivi. Đúng vậy có bao nhiêu người đau khổ trên thế giới ngày nay, bao nhiêu chiến tranh. Chỉ cần nghĩ đến Trung Đông nơi Chúa Giêsu sinh ra, vẫn còn chiến tranh; chiến tranh ở Ucraina, và nhiều nơi ở Mỹ châu la tinh. Chiến tranh gây ra nghèo đói, đau khổ, bất hạnh. Các con là những thiếu nhi, thiếu niên được ơn Chúa, có thể ca hát. Nhưng có bao nhiêu trẻ em không có gì để ăn, không được cắp sách đến trường, vì chiến tranh, nghèo đói, hoặc vì không có trường học.. có những trẻ em bị bệnh và không được đến nhà thương. Các con hãy cầu nguyện cho các trẻ em ấy. Thế giới có thể cải tiến. Trong thế giới có cuộc chiến giữa sự thiện và sự ác, có cuộc tranh đấu giữa ma quỉ và Thiên Chúa. Điều này vẫn còn. Một mỗi người trong chúng ta muốn làm một điều xấu, điều xấu ấy là do ma quỉ xúi giục.. Đó là cuộc chiến tranh chống lại sự thật của Thiên Chúa, chống lại sự thật về cuộc sống, chống lại niềm vui.. Cuộc tranh đấu giữa ma quỉ và Thiên Chúa sẽ kéo dài đến tận thế, như Kinh Thánh đã dạy.. Tất cả chúng ta ở trong một chiến trường..

ĐTC kể ra bao nhiêu những hội đoàn hoặc những người âm thầm làm việc thiện, mà báo chí truyền hình không nói tới. Có bao nhiêu gia đình thánh thiện, bao nhiêu cha mẹ giáo dục con cái tốt đẹp. Ma quỉ làm bao nhiêu điều xấu xa, đúng vậy, nhưng Thiên Chúa cũng có bao nhiêu người thánh thiện trên thế giới, những việc làm của họ người ta không thấy trên truyền hình. Tại sao, vì những điều đó không làm tăng số khán thính giả của đài.. Tại sao người ta không thấy trên truyền hình những nữ tu dòng kín dành cuộc đời cầu nguyện cho moi người? Vì điều này chẳng mấy người quan tâm.. Có lẽ người ta quan tâm hơn đến những nữ trang của một hãng quan trọng, những thứ phù vân hào nhoáng. Nhưng chúng ta đừng để mình bị lường gạt.

ĐTC ban phép lành kết thúc cho các em và hẹn gặp lại các em trong thánh lễ sáng ngày Tết Dương Lịch, các em sẽ hát trong thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô (SD 31-12-2015)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Noi gương khiêm nhường của Thiên Chúa trở thành trẻ thơ

Noi gương khiêm nhường của Thiên Chúa trở thành trẻ thơ

ĐTC Phanxicô chào tín hữu trong buổi tiếp kiến chung ngày 30-12-2015

 

Noi gương khiêm nhường của Thiên Chúa trở thành trẻ thơ để cứu rỗi loài người

Sáng thứ tư hôm qua là buổi tiếp kiến chung cuối cùng trong năm 2015. Tuy trời mùa đông Roma khá lạnh, nhưng buổi tiếp kiến vẫn diễn ra tại công trường thánh Phêrô vì có hơn 20.000 người tham dự, trong đó có 6.000 trẻ em thuộc hàng trăm ca đoàn về Roma hành hương Năm Thánh và tham dự đại hội quốc tế các ca đoàn thiếu nhi lần thứ 40.

Trong bài huấn dụ ĐTC đã khích lệ mọi người học hỏi nơi Chúa Giêsu cung cách sống bằng cách nhìn cuộc sống của các trẻ em, từ bỏ yêu sách tự lập và tiếp nhận sự tự do đích thực là hiểu biết Đấng chúng ta có trước mặt và phục vụ Ngài, là Con Thiên Chúa đến cứu độ chúng ta.

Mở đầu bài huấn dụ ĐTC nói:

Trong các ngày lễ Giáng Sinh này Chúa Giêsu Hài Đồng được đặt trước chúng ta. Tôi chắc chắn là trong các nhà của chúng ta vẫn còn có biết bao gia đình đã làm hang đá máng cỏ, tiếp tục truyền thống tốt đẹp này đã bắt đầu với thánh Phanxicô thành Assisi, và duy trì sống động trong con tim chúng ta mầu nhiệm của Thiên Chúa làm người. Đề cập tới lòng tôn sùng Chúa Hài Đồng ĐTC nói:

Lòng tôn sùng Chúa Hài Đồng rất phổ biến. Biết bao nhiêu vị thánh nam nữ đã vun trồng lòng tôn sùng ấy trong lời cầu nguyện thường ngày của các vị, và đã ước mong nhào nặn cuộc sống của mình theo cuộc sống của Chúa Giêsu Hài Đồng. Tôi đặc biệt nghĩ tới thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu và của Nhan Thánh. Chị cũng là tiến sĩ Giáo Hội đã biết sống và làm chứng cho “con đường thơ ấu thiêng liêng”, mà chị thấm nhuần bằng cách theo học trường của Mẹ Maria suy gẫm về sự khiêm nhường của Thiên Chúa đã trở nên bé nhỏ vì chúng ta. Đây là một mầu nhiệm cao cả, Thiên Chúa khiêm nhường! Chúng ta là những người kiêu căng, tràn đầy khoe khoang, và tin  mình  là cái gì vĩ đại, nhưng chúng ta không là gì cả. Chúa là Đấng cao cả, khiêm tốn và trở thành trẻ thơ. Đây quả là một mầu nhiệm đích thật! Thiên Chúa khiêm nhường. Điều này thật đẹp!

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC nói: Đã có một thời, trong đó nơi Bản Vị Thiên Chúa – Con Người của Chúa Kitô, Thiên Chúa đã là một trẻ thơ, và điều này phải có một ý nghĩa đặc biệt đối với đức tin của chúng ta. Có đúng thật là cái chết trên thập giá và sự sống lại của Ngài diễn tả tột đỉnh tình yêu cứu độ của Ngài, nhưng chúng ta không được quên rằng tất cả cuộc đời dương thế của Ngài là mạc khải và giáo huấn. Trong mùa giáng sinh chúng ta nhớ tới cuộc sống thơ ấu của Ngài. Để lớn lên trong đức tin chúng ta cần chiêm ngưỡng Chúa Giêsu Hài Đồng thường xuyên hơn. Chắc chắn là chúng ta không biết gì về giai đoạn thơ ấu này của Ngài. Các chỉ dẫn hiếm hoi mà chúng ta có nói tới việc đặt tên cho Ngài tám ngày sau khi sinh ra, và việc dâng Ngài vào Đền Thánh (x. Lc 2l,21-28); ngoài ra còn có cuộc viếng thăm của ba Đạo Sĩ với hậu quả là việc chạy trốn sang Ai Cập (c. Mt 2,1-23). Thế rồi, có một bước nhảy vọt cho tới năm lên 12 tuổi, khi Chúa Giêsu cùng Mẹ Maria và cha thánh Giuse đi hành hương lên Giêrusalem dịp lễ Vượt Qua, và thay vì trở về nhà với cha mẹ, thì Ngài ở lại trong Đền Thờ đàm đạo với các tiến sĩ luật.

Từ đó ĐTC rút tiả ra kết luận sau đây:

Như thấy đó, chúng ta biết ít về Chúa Giêsu Hài Đồng, nhưng chúng ta có thể học hiểu nhiều từ Ngài, nếu chúng ta nhìn cuộc sống của các trẻ em. Đây là một thói quen đẹp mà  các cha mẹ, các ông bà có, đó là nhìn trẻ em, nhìn những điều chúng làm.

Trước hết, chúng ta khám phá ra rằng các trẻ em muốn sự chú ý của chúng ta. Chúng phải là trung tâm, tại sao? Tại vì chúng kiêu căng? Không, tại vì chúng cần cảm thấy được che chở. Chúng ta cũng cần để Chúa Giêsu vào trung tâm cuộc sống chúng ta và biết rằng chúng ta có trách nhiệm che chở Ngài, cả khi xem ra có thể là mâu thuẫn. Ngài muốn ở trên cánh tay chúng ta, Ngài ước mong được nâng niu và gắn chặt cái nhìn của Ngài trên cái nhìn của chúng ta.

ĐTC nói thêm trong bài huấn dụ: Ngoài ra, đó là để làm cho Chúa Hài Nhi mỉm cười hầu chứng tỏ với ngài tình yêu và niềm vui của chúng ta, bởi vì Ngài sống giữa chúng ta. Nụ cười của Ngài là dấu chỉ của tình yêu trao ban cho chúng ta sự chắc chắn biết mình được yêu.

Sau cùng, các trẻ em thích chơi giỡn. Tuy nhiên làm cho một trẻ em chơi giỡn có nghĩa là từ bỏ cái luận lý của chúng ta để bước vào cái luận lý của nó. Nếu chúng ta muốn rằng các trẻ em vui đùa, cần phải hiểu chúng thích cái gì và không ích kỷ khiến cho chúng làm những gì chúng ta ưa thích. Đây là một giáo huấn cho chúng ta. Trước Chúa Giêsu chúng ta được mời gọi từ bỏ yêu sách tự lập của chúng ta – đây là cốt lõi của vấn đề: yêu sách tự lập –  để tiếp nhận hình thức đích thực của sự tự do, hệ tại việc hiểu biết chúng ta có ai trước mặt và phục vụ Ngài. Ngài, trẻ thơ là Con Thiên Chúa đến để cứu rỗi chúng ta. Ngài đã đến giữa chúng ta để cho chúng ta thấy gương mặt của Thiên Chúa Cha giầu tình yêu và lòng thương xót. Vì thế, chúng ta hãy ôm chặt Hài Nhi Giêsu trong vòng tay, và phục vụ Ngài: Ngài là suối nguồn tình yêu và sự thanh thản. Và sẽ là một điều tốt đẹp hôm nay, khi chúng ta trở về nhà, đến gần hang đá, hôn Chúa Hài Đồng Giêsu và nói: “Lậy Chúa Giêsu con muốn khiêm nhường như Chúa, khiêm nhường như Thiên Chúa”, và xin Chúa ơn này.

ĐTC đã chào nhiều nhóm khác nhau đến từ các nước bắc Mỹ và Âu châu như Pháp, Đức, Bỉ, Hoà Lan, Thụy Sĩ, Áo, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Na Uy, Ba Lan và Philippines.

Ngài cám ơn các ca đoàn thiếu nhi đã hát mừng ngài. Chào các nhóm hành hương Ba Lan, ĐTC cám ơn họ đã gần gữi ngài trong tinh thần, gửi lởi chúc mừng Giáng Sinh và Năm Mới. Ngài cầu chúc mọi người, đặc biệt những người cô đơn, cảm nhận được sự gần gũi của Con Thiên Chúa trong cuộc sống và nếm hưởng được tình yêu, niềm an binh và niềm vui  của  Con Thiên Chúa.

Trong các nhóm nói tiếng Ý ĐTC chào tín hữu nhiều giáo phận, các nữ tu dòng các Bà Mẹ đạo đức,  các bạn trẻ phong trào Tổ Ấm, các bạn trẻ mới chịu phép Thêm Sức vùng Valle Brembana, các nam nữ nghệ sĩ của đoàn Golden Circus Liana Orfei. Ngài khích lệ các nam nữ nghệ sĩ luôn là các sứ giả của tình liên đới giữa các quốc gia và là các chứng nhân của niềm vui và niềm hy vọng. ĐTC cầu chúc tât cả mọi người phổ biến trong cuộc sống thường ngày ánh sáng của Chúa Kitô đã chiếu soi nhân loại trong đêm Giáng Sinh.

Chào các bạn trẻ, người đau yếu và các đôi tân hôn ngài khích lệ người trẻ noi gương Thánh Gia Thất sống yêu thương thực sự. Ngài xin các anh chị em đau yếu kết hiệp các khổ đau của họ với các khổ đau của Chúa Giêsu cho ơn cứu độ của thế giới. ĐTC nhắn chủ các cặp vợ chồng mới cưới nỗ lực xây dựng gia đình trên đá tảng Lời Chúa và noi gương Thánh Gia Nagiarét biến gia đình trở thành nơi tiếp đón, tràn đầy tình yêu, sự cảm thông và tha thứ.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành toà thánh ĐTC ban cho mọi người

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Thánh Cha khích lệ giới trẻ Kitô Âu Châu từ bi thương xót

Đức Thánh Cha khích lệ giới trẻ Kitô Âu Châu từ bi thương xót

Đức Thánh Cha khích lệ giới trẻ Kitô Âu Châu thực thi thương xót

VATICAN. ĐTC khích lệ các bạn trẻ Kitô Âu Châu làm cho lòng từ bi thương xót được biểu lộ trong mọi chiều kích, kể cả các chiều kích xã hội.

ĐHY Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, cho biết như trên trong sứ điệp nhân danh ĐTC gửi đến hàng chục ngàn bạn trẻ Kitô, thuộc mọi hệ phái, đang tham dự cuộc gặp gỡ giới trẻ Kitô Âu Châu lần thứ 38 do tu viện đại kết Taizé tổ chức tại thành phố Valencia Tây Ban Nha, từ ngày 28-12 đến 1-1 tới đây.

ĐHY Parolin viết: ”ĐGH khuyến khích các bạn theo đuổi con đường từ bi thương xót, nghĩa là có can đảm thương xót, dẫn đưa các bạn không những đón nhận lòng thương xót cho bản thân, trong đời sống cá nhân, nhưng còn xích lại gần những người đang ở trong tình cảnh khốn cùng.. Điều này được áp dụng đặc biệt cho nhiều người di dân đang cần được sự tiếp đón của các bạn.”

ĐHY Parolin nhắc lại điều ĐTC đã viết cho thầy Alois, tu viện trưởng Taizé, nhân dịp sinh nhật thứ 100 của vị sáng lập cộng đoàn này: ”Thầy Roger yêu mến người nghèo, những người bất hạnh, những người có vẻ không có gì đáng kể. Qua cuộc sống của Thầy và của các tu huynh Taizé, Thầy đã chứng tỏ rằng kinh nguyện đi song song với tình liên đới với con người”. Nhờ thực hành tình liên đới và lòng thương xót,các bạn có thể sống hạnh phúc ấy, một hạnh phúc có nhiều đòi hỏi và phong phú về ý nghĩa mà Tin Mừng kêu gọi các bạn”.

ĐHY Quốc vụ khanh viết thêm rằng: ”ĐTC cầu mong trong những ngày thật đẹp, tập hợp các bạn ở Valencia, cầu nguyện và chia sẻ với nhau, các bạn càng khám phá Chúa Kitô hơn, Người là khuôn mặt từ bi thương xót của Chúa Cha”.

Theo ban tổ chức, có khoảng 25 ngàn bạn trẻ Kitô từ 52 quốc gia đang tham dự cuộc gặp gỡ tại Valencia. Đức Thượng Phụ Chính Thống Constantinople, Chính Thống Nga, Đức TGM giáo chủ Liên hiệp Anh giáo và cả ông Tổng thư ký LHQ đều gửi sứ điệp khích lệ các bạn trẻ.

Trong những ngày này, ban sáng các bạn trẻ sinh hoạt trong các giáo xứ nơi họ được tiếp đón: cầu nguyện tại nhà thờ, rồi hội thảo chia sẻ trong các nhóm và gặp gỡ dân chúng. Ban chiều họ họp mặt tại trung tâm thành phố về những đề tài: dấn thân xã hội, đức tin và đời sống nội tâm, và có cả các mục văn nghệ. (SD 28-12-2015)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Sứ điệp ĐTC Phanxicô gửi Ngày Hoà Bình Quốc Tế 2016

Sứ điệp ĐTC Phanxicô gửi Ngày Hoà Bình Quốc Tế 2016

ĐTC Phanxicô chào tín hữu tụ tập tại công trường thánh Phêrô

Sứ điệp ĐTC gửi Ngày Hoà Bình Thế Giới 2016

Ngày 15 tháng 12 vừa qua Phòng Báo Chí Toà Thánh đã tổ chức cuộc họp báo giới thiệu Sứ điệp ĐTC Phanxicô gửi Ngày Hoà Bình Thế Giới 2016 về đề tài “Hãy chiến thắng dửng dưng và chinh phục hoà bình”. Sứ điệp đề ngày mùng 8 tháng 12 gồm 8 đoạn. Sau đây chúng tôi xin gửi tới quý vị nội dung  sứ điệp. Mở đầu sứ điệp ĐTC viết:

1. “Thiên Chúa không dửng dưng! Đối với Thiên Chúa Nhân loại quan trọng, Thiên Chúa không bỏ rơi nó! Bắt đầu năm mới với xác tín sâu thẳm này của mình  tôi muốn kèm theo các lời cầu chúc phước lành và hoà bình tràn đầy, trong dấu chỉ của niềm hy vọng, cho tương lai của từng người nam nữ, của từng gia đình, dân tộc và quốc gia trên thế giới, cũng như cho các Quốc Trưởng và Chính Quyền và Giới Lãnh Đạo tôn giáo. Thật thế, chúng ta không mất hy vọng rằng năm 2016 trông thấy chúng ta tất cả dấn thân một cách cương quyết và mạnh mẽ, trên mọi bình diện, để thực hiện công lý và hoạt động cho hoà bình. Phải, hoà bình là món quà của Thiên Chúa và là công trình của con người. Hoà bình là ơn của Thiên Chúa, nhưng được ủy thác cho tất cả mọi người nam nữ được mời gọi hiện thực nó.

Duy trì các lý do của niềm hy vọng

2. Các chiến tranh và hành động khủng bố, với các hậu quả thê thảm của chúng, các vụ bắt cóc người, các bách hại vì các lý do chủng tộc hay tôn giáo, các lạm dụng đã ghi dấu từ đầu tới cuối năm vừa qua gia tăng một cách đau đớn tại nhiều vùng trên thế giới, đến độ có các hình thể có thể gọi là “một đệ tam thế chiến từng mảnh”. Nhưng cũng có vài biến cố của các năm qua và của năm vừa qua  mời gọi tôi, trong viễn tượng của năm mới, canh tân lời khích lệ đừng mất hy vọng nơi khả năng của con người, với ơn của Thiên Chúa, vượt thắng sự dữ và không buông xuôi cho thái độ chịu trận và thờ ơ. Các biến cố mà tôi muốn nhắc đến diễn tả khả năng của nhân loại hoạt động trong tình liên đới, vượt ngoài các lợi lộc cá nhân, sự vô cảm và dửng dưng trước các tình trạng nguy kịch.

Trong số các biến cố ấy tôi muốn nhắc tới nỗ lực tạo thuận tiện cho cuộc gặp gỡ của giới lãnh đạo thế giới trong bối cảnh của hội nghị COP 21, nhằm tìm ra các con đường mới giúp đương đầu với các thay đổi khí hậu và cứu vãn sức khỏe của Trái Đất, căn nhà chung của chúng ta. Và điều này quy chiếu về hai biến cố trước đó trên bình diện toàn cầu: đó là Hội nghị thượng đỉnh tại Addis Abeba nhằm quyên góp ngân qũy cho việc phát triển có thể chịu đựng nổi của thế giới; và việc Liên Hiệp Quốc chấp nhận Lịch trình 2030 cho việc phát triển có thể chịu đựng nổi, nhằm bảo đảm cho mọi người dân, nhất là cho các dân tộc nghèo của hành tinh, từ nay cho tới đó có một cuộc sống xứng đáng hơn.

Năm 2015 đã là một năm đặc biệt  đối với Giáo Hội, cũng bởi vì Giáo Hội kỷ niệm 50 năm công bố hai tài liệu của Công Đồng Chung Vaticăng II  diễn tả một cách rất hùng hồn ý thức liên đới của Giáo Hội đối với thế giới. Khi khai mạc Công Đồng ĐGH Gioan XXIII muốn mở toang các cửa sổ của Giáo Hội để giữa Giáo Hội và thế giới có sự truyền thông rộng mở hơn. Hai tài liệu: Nostra aetate và Gaudium et Spes, là các diễn tả biểu hiệu cho tương quan mới của sự đối thoại, tình liên đới và đồng hành mà Giáo Hội cố ý đưa vào bên trong nhân loại. Trong Tuyên ngôn Nostra aetate Giáo Hội được mời gọi rộng mở cho việc đối thoại với các tôn giáo không kitô. Trong Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, từ lúc “các niềm vui, các hy vọng, buồn sầu và lo lắng của con người ngày nay, của người nghèo và nhất là của tất cả những người đau khổ, cũng là các niềm vui và các hy vọng, các buồn sầu và các âu lo của các môn đệ Chúa Kitô” (GS, 1), thì Giáo Hội đã ước mong thiết lập một cuộc đối thoại với gia đình nhân loại liên quan tới các vấn đề của thế giới, như dấu chỉ của tình liên đới và sự trìu mến tôn trọng (GS, 3).

Cũng trong viễn tượng này với Năm Thánh Lòng Thương Xót tôi muốn mời gọi Giáo Hội cầu nguyện và hoạt động để mọi tín hữu kitô có thể có một con tim chín mùi khiêm nhường và từ bi, có khả năng loan báo và làm chứng cho lòng thương xót, “tha thứ và cho đi”, rộng mở “cho những ai sống trong các vùng ngoại biên rải rác nhất của cuộc sống, mà thế giới tân tiến thường tạo ra một cách thê thảm”, không “rơi vào sự dửng dưng hạ nhục, không rơi vào thái độ quen nhờn làm tê liệt tâm trí và ngăn cản khám phá ra  sự mới mẻ, không rơi vào thái độ vô liêm sỉ tàn phá.” (Misericordiae vultus, 14-15)

ĐTC viết tiếp trong sứ điệp: Có nhiều lý do giúp tin vào khả năng của nhân loại cùng nhau hành động trong tình liên đới, trong việc nhận ra sự nối kết giữa nhau và tuỳ thuộc nhau, bằng cách lo lắng cho các thành phần yếu đuối nhất, và cứu vãn thiện ích chung. Thái độ liên đới đồng trách nhiệm này là gốc rễ ơn gọi nền tảng cho tình huynh đệ và cho cuộc sống chung. Phẩm giá và các tương quan liên bản vị khiến cho chúng ta là người, được Thiên Chúa muốn là hình ảnh của Ngài và giống Ngài. Như là các thụ tạo được phú bẩm phẩm giá bất khả nhượng, chúng ta hiện hữu trong tương quan với các anh chị em khác, mà chúng ta có trách nhiệm đối với họ và chúng ta hành động trong tình liên đới với họ. Bên ngoài tương quan này, chúng ta sẽ ít là người hơn. Chính vì thế sự dửng dưng là một đe dọa đối với gia đình nhân loại. Trong khi chúng ta bước tới một năm mới, tôi muốn kêu mời tất cả mọi người thừa nhận sự kiện này, để chiến thắng dửng dưng và chinh phục hoà bình.

Vài hình thức dửng dưng

3. Chắc chắn rằng thái độ dửng dưng, của người đóng kín con tim để không chú ý tới tha nhân, của người nhắm mắt để không trông thấy điều chung quanh, hay tránh né để không bị dụng chạm bởi các vấn đề của người khác, định tính một loại người khá phổ biến và hiện diện trong mọi thời đại của lịch sử. Tuy nhiên, ngày nay  nó đã vĩnh viễn vượt quá lãnh vực cá nhân để mang chiều kích toàn cầu, và tạo ra hiện tượng của “việc toàn cầu hóa sự dửng dưng”.

Hình thái thứ nhất của sự thờ ơ trong xã hội con người là sự dửng dưng đối với Thiên Chúa, từ đó cũng nảy sinh ra sự dửng dưng đối với tha nhân và với thụ tạo. Đây là một trong các hậu quả trầm trọng nhất của một chủ thuyết nhân bản giả dối, và của chủ thuyết duy vật thực tiễn, trộn lẫn với một tư tưởng duy tương đối và duy hư vô. Con người nghĩ rằng nó là tác giả của chính mình, của cuộc sống mình và của xã hội; nó cảm thấy tự đủ và không chỉ nhắm lấy mình thay thế Thiên Chúa, mà còn sống không cần tới Thiên Chúa nữa; hậu quả, nó nghĩ mình không nợ ai gì cả, ngoại trừ chính nó, và nó yêu sách chỉ có các quyền lợi mà thôi (Caritas in veritate. 43). Chống lại sự tự hiểu biết sai lầm này của con người, ĐGH Biển Đức XVI nhắc nhở rằng: không phải con người  cũng không phải sự phát triển của nó có khả năng tự ban cho nó ý nghĩa cuối cùng của nó (Caritas in veritate, 16) ; và trước ngài Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cũng đã khẳng định rằng “không có chủ thuyết nhân bản đích thật nào cống hiến ý tưởng đích thật của cuộc sống con người, nếu không rộng mở cho  Đấng Tuyệt Đối” (Populorum progresio, 42).

Sự dửng dưng đối với tha nhân mang nhiều bộ mặt khác nhau. Có người được thông tin rõ ràng, lắng nghe radio, đọc báo chí hay coi các chương trình truyền hình, nhưng làm một cách hâm hẩm, hầu như trong một điều kiện quen thuộc: những người này biết một cách mù mờ các thảm cảnh khiến cho nhân loại khổ đau, nhưng họ không cảm thấy bị lôi cuốn, họ không sống sự cảm thương. Đây là thái độ của người biết, nhưng có cái nhìn, tư tưởng và hành động hướng tới chính mình. Rất tiếc chúng ta phải ghi nhận rằng việc gia tăng các tin tức, chính trong thời đại chúng ta, tự nó không có nghĩa là gia tăng sự chú ý tới các vấn đề, nếu nó không được đi kèm bởi một sự rộng mở lương tâm trong nghĩa liên đới (Caritas in veritate, 19). Trái lại, nó có thể bao gồm một sự bão hoà làm tê liệt, và trong một mức độ nào đó, tương đối hoá tầm nghiêm trọng của các vấn đề. “Có vài người, một cách đơn sơ, lại vui mừng đổ lỗi cho người nghèo và các nước nghèo  về các sự dữ của họ, với các tổng quát hoá không xóa bỏ được, và họ yêu sách tìm ra giải pháp trong một việc “giáo dục” trấn an và biến họ trở thành những người bị thuần hoá và vô hại. Điều này lại càng trở nên nhức nhối hơn, nếu các người bị loại trừ trông thấy bênh ung thư xã hội gia tăng là sự thối nát đâm rễ sâu trong nhiều nuớc – nơi các chính quyền, trong giới doanh thương và trong các cơ cấu – bất cứ ý thức hệ chính trị nào của giới lãnh đạo” (Evangelii gaudium, 60).

Trong các trường hợp khác, sự dửng dưng biểu lộ ra như là việc thiếu chú ý đối với thực tại chung quanh, đặc biệt đối với thực tại ở xa. Có vài người ưa thích không tìm kiếm, không hỏi thăm tin tức, và sống sự phong phú và thoải mái của họ, điếc trước tiếng kêu than của nhân loại khổ đau. Hầu như không nhận ra điều đó, chúng ta đã trở nên không có khả năng cảm thương những người khác, đối với các thảm cảnh của họ, chúng ta không chú ý lo lắng cho họ, làm như thể điều xảy ra cho họ là một trách nhiệm xa lạ đối với chúng ta, không thuộc bổn phận của chúng ta (Ibid. 54). “Khi chúng ta khỏe mạnh và cảm thấy thoải mái, chắc chắn chúng ta quên những người khác (đó là điều mà Thiên Chúa Cha không bao giờ làm), chúng ta không chú ý tới các vấn đề của họ, các khổ đau, và các bất công họ phải chịu… Khi đó con tim của chúng ta rơi vào sự dửng dưng: trong khi tôi tương đối khoẻ mạnh và thoải mái, tôi quên những người không khỏe mạnh” (Sứ điệp mùa chay 2015).

Khi sống trong một căn nhà chung, chúng ta không thể không tự hỏi về tình trạng sức khỏe của nó, như tôi đã làm trong Thông điệp Laudato si’. Sự ô nhiễm các nguồn nước  và không khí, việc khai thác rừng già không phân biệt, việc tàn phá môi sinh thường là hậu quả của sự dửng dưng của con người đối với những người khác, bởi vì tất cả có tương quan với nhau. Cũng như thái độ hành xử của con người đối với thú vật ảnh hưởng trên các tương quan của nó với người khác (Laudato si’, 92), để không nói đến việc ai cho phép mình làm tại nơi khác điều họ không dám làm trong nhà họ (Ibid. 51).

Trong các trường hợp này và các trường hợp khác nữa, sự dửng dưng tạo ra thái độ khép kín và không dấn thân, và như thế nó kết thúc bằng việc góp phần vào sự vắng bóng hoà bình với Thiên Chúa, vói tha nhân và với thụ tạo.

Hoà bình bị đe dọa bởi sự dửng dưng toàn cầu hóa

4.  Sự thờ ơ với Thiên Chúa vượt quá phạm vi nội tâm và tinh thần của bản vị riêng rẽ, và xâm lấn phạm vi công cộng xã hội. Như ĐTC Biển Đức XVI đã khẳng định, “có một nối kết mật thiết  giữa việc vinh danh Thiên Chúa và hoà bình của con người trên trái đất” (Diễn văn trrước ngoại giao đoàn cạnh Toà Thánh 7-1-2013). Thật thế, “không có sự rộng mở siêu việt, con người dễ dàng trở thành mồi cho chủ thuyết duy tương đối và rồi sẽ khó mà hành động theo công lý và dấn thân cho hòa bình” (Ibidem.). Việc lãng quên và khước từ Thiên Chúa dẫn đưa con người tới chỗ không thừa nhận luật lệ cao hơn mình nữa, và chỉ lấy mình làm quy tắc, và chúng đã   tạo ra sự tàn ác và bạo lực vô chừng mực (Biển Đức XVI, Phát biểu ngày liên tôn cầu nguyện cho công lý và hoà bình tại Assisi 27-10-2011).

Trên bình diện ca nhân và cộng đoàn sự thờ ơ đối với tha nhân, con đẻ của sự dửng dưng đối với Thiên Chúa, mang dáng vẻ của sự bất động và không dấn thân, chúng dưỡng nuôi việc kéo dài các tình trạng bất công và mất quân bình xã hội trầm trọng. Tới lượt mình chúng có thể dẫn đưa tới các xung đột,  hay trong mọi trường hợp, làm nảy sinh ra một bầu không khí bất mãn có nguy cơ, mau hay chậm, bùng nổ thành bạo lực và bất an.

Trong nghĩa này sự dửng dưng và không dấn thân như hậu quả tạo thành một thiếu sót trầm trọng đối với bổn phận mà mỗi người phải đóng góp trong mức độ các khả năng của mình và của vai trò mình có trong xã hội, cho công ích, đặc biệt là cho nền hoà bình, là một trong các thiện ích  quý báu nhất của nhân loại (Evangelii gaudium, 217-237).

Thế rồi, khi nó đụng chạm tới lãnh vực cơ cấu, thì sự dửng dưng đối với tha nhân, phẩm giá, các quyền nền tảng và sự tự do của họ, cộng với một nền văn hóa ghi đậm dấu lợi nhuận và chủ trương hưởng thụ, tạo thuận tiện và đôi khi biện minh cho các hành động và chính sách rốt cuộc tạo ra các đe dọa đối với hoà bình. Thái độ thờ ơ như thế cũng có thể đi đến chỗ biện minh cho vài chính sách kinh tế đáng phiền trách, làm sinh sôi nay nở các bất công, chia rẽ và bạo lực, nhằm đạt sự phong phú riêng tử hay của quốc gia. Thật vậy, không hiếm các dự án kinh tế và chính trị của con người nhắm mục đích chinh  phục hay duy trì quyền bính và giầu sang, cả khi có chà đạp các quyền lợi và các đòi buộc nền tảng của người khác đi nữa. Khi các dân tộc thấy các quyền lợi sơ đẳng của họ như quyền có thực phẩm, nước uống, được săn sóc sức khỏe, hay có công ăn việc làm, bị khước từ, thì họ bị cám dỗ chiến hữu chúng bằng bạo lực (GS 59).

Ngoài ra, sự thờ ơ đối với môi sinh thiên nhiên, bằng cách tạo thuận tiện cho việc tàn phá rừng già, gây ô nhiễm và tạo ra các tai ương thiên nhiên, khiến cho toàn các cộng đoàn bị nhổ khỏi gốc rễ môi sinh của họ,  cách cuỡng bách họ sống cảnh tạm bợ và bất ổn, tạo ra các nghèo túng mới, các tình trạng bất công mới bởi các hậu qủa tàn hại liên quan tới an ninh và hoà bình xã hội. Có biết bao nhiêu chiến tranh đã xảy ra và sẽ có biết bao nhiêu chiến cuộc khác sẽ bùng nổ vì thiếu các tài nguyên hay để đáp ứng đòi hỏi tài nguyên thiên nhiên vô độ?

Từ sự dửng dưng tới lòng thương xót: việc hoán cải con tim

5. Cách đây một năm trong sứ điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới “Không còn là nô lệ nữa nhưng là anh em”, tôi đã nhắc tới hình ảnh kinh thánh đầu tiên của tình huynh đệ nhân loại, đó là hình ảnh của Cain và Abel (x. St 4,1-6) để lôi kéo sự chú ý trên sự kiện tình huynh đệ đầu tiên đã bị phản bội như thế nào. Cain và Abel là anh em. Cả hai đều phát xuất từ cùng một cung lòng, bình đẳng trong phẩm giá và được tạo dựng nên theo hình ảnh và giống Thiên Chúa; nhưng tình anh em của họ bị bẻ gẫy. “Cain không những không chịu được em mình là Abel, mà còn giết em vì  ghen tương nữa” (Sứ điệp Ngày Hoà Bình Thế Giới 2015, 2). Khi đó việc giết em trở thành hình thức của sự phản bội, và việc khưóc từ tình huynh đệ của Abel từ phiá Cain là sự đổ bể đầu tiên trong các tương quan gia đình của tình huynh đệ, liên đới và tôn trọng lẫn nhau.

Khi đó, Thiên Chúa can thiệp để mời gọi tinh thần trách nhiệm của con người đối với người đồng loại, y như Ngài đã làm khi Ađam và Evà, ông bà nguyên tổ. đã bẻ gẫy sự hiệp thông với Đấng Tạo Hóa. “Khi đó Chúa nói với Cain: “Abel em ngươi đâu rồi?”. Cain thưa: “Con không biết. Con là người canh giữ em con hay sao?”. Chúa phán: “Ngươi đã làm gì vậy? Từ dưới đất tiếng máu của em ngươi đang kêu tới Ta” (St 4,9-10).

Cain nói rằng mình không biết điều gì đã xảy ra cho em mình, rằng mình không phải là người canh giữ em. Anh ta không cảm thấy có trách nhiệm đối với sự sống của em, đối với số phận của em. Anh không cảm thấy bị liên lụy. Anh dửng dưng đối vói em mình, mặc dù họ được nối kết với nhau bởi nguồn gốc chung. Thật buồn biết bao! Thật là thảm cảnh huynh đệ, gia đình và nhân loại! Đó đã là biểu lộ đầu tiên của sự thờ ơ giữa anh em với nhau. Thiên Chúa, trái lại, không thờ ơ: máu của Abel có gia trị lớn dưới mắt Ngài và Ngài đòi Cain phải trả lẽ. Như thế Thiên Chúa tự vén mở ngay từ đầu như là Đấng chú ý tới số phận của con người. Sau này khi con cái Israel sống kiếp nô lệ bên Ai Cập, Thiên Chúa can thiệp và Ngài đã nghe tiếng họ kêu than vì các giám thị; “Thật thế, Ta biết các đau khổ của ngươi. Ta đã xuống để giải phóng ngươi khỏi bàn tay của Ai Cập và làm cho ngươi ra khỏi xứ sở ấy để đi về một xứ sở xinh đẹp và rộng rãi, về một xứ sở nơi chảy sữa và mật ong” (Xh 3,7-8). Thật là quan trọng ghi nhận các động từ miêu tả sự can thiệp của Thiên Chúa: Ngài quan sát, lắng nghe, hiểu biết, xuống, giải thoát. Thiên Chúa không dửng dưng. Ngài chú ý và hành động.

Cũng thế, trong Đức Giêsu Con Ngài, Thiên Chúa đã xuống giữa loài người, đã nhập thể và tỏ ra liên đới với nhân loại: “trưởng tử giữa nhiều em” (Rm 8,29). Ngài đã không hài lòng dậy dỗ dân chúng, mà cũng lo lắng cho họ nữa, đặc biệt khi trông thấy họ đói (x. Mc 6,34-44) hay không có công ăn việc làm (x. Mt 20,3). Cái nhìn của Ngài không chỉ hướng tới con người, mà cũng hướng tới cá biển, chim trời, cây cối lớn nhỏ; Ngài ôm trọn toàn thụ tạo trong vòng tay. Ngài trông thấy, chắc chắn rồi, nhưng không chỉ hạn chế vào việc này, bởi vì Ngài đụng chạm tới con người, nói chuyện với họ, hoạt động cho họ và làm ích cho người túng thiếu. Nhưng không chỉ như thế, Ngài còn để cho mình xúc động và khóc nữa (x. Ga 11,33-44). Và ngài hành động để chấm dứt sự khổ đau, buồn sầu, bần cùng và cái chết.

Chúa Giêsu dậy chúng ta thương xót như Thiên Chúa Cha (x. Lc 6,36). Trong dụ ngôn người Samaritano nhân hậu (x. Lc 10,29-37) Ngài tố cáo việc bỏ sót cứu giúp trước sự cấp thiết của tha nhân: “ông thấy và đi qua” (x. Lc 10,31.32). Đồng thời, qua thí dụ này, Chúa mời gọi các thính giả của Ngài, đặc biệt là các môn đệ của Ngài, học dừng lại trước các khổ đau của thế giới này để làm vơi nhẹ chúng, dừng lại trước các vết thương của người khác để chữa trị chúng, với các phương tiện họ có, bắt đầu từ thời gian, mặc dù có biết bao bận rộn. Thật vậy, sự dửng dưng thường tìm cớ: trong việc tuân giữ các điều luật nghi lễ, trong hàng đống việc phải làm, trong các đối kháng khiến cho chúng ta xa nhau, trong các thành kiến đủ loại ngăn cản chúng ta đến gần nhau.

Lòng thương xót là con tim của Thiên Chúa. Vì thế nó cũng phải là con tim của tất cả những ai tự nhận mình là chi thể của đại gia đình duy nhất của các con cái Ngài; một con tim dấn thân mạnh mẽ đập nhịp phẩm giá con người tại khắp mọi nơi phản ánh gương mặt của Thiên Chúa nơi các thụ tạo của Ngài.  Chúa Giêsu cảnh báo chúng ta: tình yêu đối với tha nhân – khách ngoại kiều, người đau yếu, các tù nhân, người không nhà, cho tới cả kẻ thù, là thước đo Thiên Chúa dùng để phán xử  các hành động của chúng ta. Số phận đời đời của chúng ta tuỳ thuộc vào đó. Thật không đáng ngạc nhiên, khi thánh Phaolô tông đồ mời gọi các kitô hữu Roma vui với người vui, khóc với người khóc (x. Rm 12,15) hay khuyên tín hữu Côrintô tổ chức các cuộc lạc quyên như dấu chỉ tình liên đới với các chi thể khổ đau của Giáo Hội (x. 1 Cr 16,2-3). Còn thánh Gioan thì viết: “Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được?”(1 Ga 3,17; x. Gc 2,15-16).

Đo đó tại sao lại là điều “định đoạt đối với Giáo Hội và tính cách đáng tin cậy của lời loan báo, việc Giáo Hội sống và đích thân làm chứng cho lòng thương xót. Ngôn ngữ và các cử chỉ của Giáo Hội phải thông truyền lòng thương xót để vào thấu trái tim con người và  khiêu khích họ tìm ra con đường trở về với Thiên Chúa Cha. Sự thật đầu tiên của Giáo Hội là tình yêu của Chúa Kitô. Giáo Hội là tôi tớ và trung gian của tình yêu ấy nơi con người, tình yêu đi tới chỗ tha thứ và trao ban chính mình. Vì thế, nơi đâu có Giáo Hội hiện diện, thì ở đó lòng thương xót của Thiên Chúa Cha phải hiển nhiên. Nghĩa là trong các giáo xứ, cộng đoàn, hiệp hội và phong trào của chúng ta, bất cứ nơi nào có các kitô hữu, thì bất cứ ai cũng phải tìm được một ốc đảo của lòng thương xót (Misericordiae vulnus, 12).

Như vậy, cả chúng ta nữa cũng được mời gọi biến tình yêu, lòng trắc ẩn, thương xót và tình liên đới trở thành chương trình sống, trở thành một kiểu hành xử  trong các tương quan với nhau (Ibid., 13). Điều này đòi hỏi việc hoán cải con tim: nghĩa là ơn của Thiên Chúa biến đổi con tim bằng đá của chúng ta thành con tim bằng thịt (x. Ed 36,26), có khả năng rộng mở cho tha nhân với tình liên đới đích thật. Thật thế, tình liên đới là điều nhiều hơn một “tình cảm của lòng trắc ẩn mơ hồ hay một mềm yếu  hời hợt đối với các khổ đau của biết bao người gần xa (Sollecitudo rei socialis, 38). Tình liên đới là “sự  quyết tâm vững vàng và kiên trì dấn thần cho công ích: hay cho hạnh phúc của tất cả mọi người và từng người, bởi vì tất cả chúng ta đều thực sự có trách nhiệm đối với mọi người” (Ibid.,), bởi vì sự trắc ẩn nảy sinh từ tình huynh đệ.

Được hiểu như thế, tình liên đới là thái độ luân lý đạo đức và xã hội, đáp trả lại một cách tốt nhất ý thức của lương tâm về các vết thương của thời đại chúng ta và về sự tuỳ thuộc lẫn nhau luôn luôn hiện hữu, đặc biệt trong một thế giới  toàn cầu hóa, giữa cuộc sống của từng người và của cộng đoàn trong một nơi xác định và cuộc sống của các người nam nữ khác trên thế giới (Ibid.,).

Thăng tiến một nền văn hóa liên đới và thuơng xót để chiến thắng sự dửng dưng

6. Tình liên đới như nhân đức luân lý và thái độ xã hội, hoa trái của sự hoán cải cá nhân, đòi buộc một dấn thân từ phía đông đảo các chủ thể có trách nhiệm trong lãnh vực giáo dục và đào tạo.

Tư tưởng đầu tiên của tôi hướng tới các gia đình được mời gọi cho một sứ mệnh giáo dục đầu tiên và không thể khước từ được. Các gia đình là nơi chốn đầu tiên, trong đó người ta sống các giá trị của tình yêu thương, tình huynh đệ, việc chung sống, chia sẻ, sự chú ý và săn sóc người khác. Các gia đình cũng là môi trường đặc tuyển cho việc thông truyền đức tin, bắt đầu từ các cử chỉ đạo đức đơn sơ nhất, mà các bà mẹ dậy cho con cái (Ibid.,).

Liên quan tới các nhà giáo dục và đào tạo, trong trường học hay các trung tâm quy tụ khác của trẻ em và người trẻ, có bổn phận giáo dục chúng, họ được mời gọi ý thức rằng trách nhiệm của họ liên quan tới các chiều kích luân lý, tinh thần và xã hội của con người. Các giá trị của sự tự do, lòng tôn trọng lẫn nhau và tình liên đới có thể được thông truyền ngay từ tuổi còn thơ. Khi hướng tới các vị hữu trách của các cơ cấu có nhiệm vụ giáo dục, Đức Biển Đức XVI đã khẳng định rằng: “Mỗi một môi trường giáo dục có thể là nơi của sự rộng mở cho siêu việt và tha nhân: nơi của đối thoại, của sức mạnh nối kết và lắng nghe, trong đó người trẻ cảm thấy được đánh giá trong các tiềm năng và phong phú nội tâm, và học qúy chuộng các anh chị em khác. Ước chi nó có thể dậy cho biết nếm hưởng niềm vui nảy sinh từ việc từng ngày sống tình bác ái và trắc ẩn đối với người lân cận, và từ việc tham dự tích cực vào việc xây dựng một xã hội nhân bản và huynh đệ hơn” (Sứ điệp cho Ngày Hoà Bình Thế Giới 2012, 2).

Cả các người hoạt động văn hóa và truyền thông xã hội cũng có trách nhiệm trong lãnh vực giáo dục và đào tạo, đặc biệt trong các xã hội ngày nay, trong đó việc sử dụng các phương tiện thông tin và truyền thông ngày càng phổ biến. Trước hết họ có nhiệm vụ phục vụ sự thật chứ không phải phục vụ các lợi lộc riêng tư. Thật thế, các phương tiện truyền thông “không chỉ thông tin, mà cũng đào tạo tinh thần các đối tượng của chúng nữa, và vì vậy có thể góp phần đáng kể vào việc giáo dục người trẻ. Thật là quan trọng chú ý tới tương quan rất chặt chẽ giữa giáo dục và truyền thông: thật thế, giáo dục đến qua truyền thông, nó ảnh hưởng một cách tích cực hay tiêu cực trên việc đào tạo con người” (Ibid.,). Các nhân viên văn hóa và truyền thông cũng phải canh chừng để kiểu tiếp nhận và phổ biến các tin tức của họ luôn được hợp pháp trên bình diện pháp lý và luân lý.

Hoà bình: hoa trái của một nền văn hoá liên đới, thương xót và trắc ẩn

7. Ý thức được sự đe dọa của một việc toàn cầu hóa sự dửng dưng, chúng ta không thể không thừa nhận rằng, trong bối cảnh như miêu tả trên đây, cũng có nhiều sáng kiến và hoạt động tích cực làm chứng cho sự trắc ẩn, lòng thương xót và tình liên đới mà con người có khả năng làm được. Tôi muốn nhắc tới vài thí dụ dấn thân đáng ca ngợi chứng minh cho thấy làm sao mỗi người có thể chiến thắng sự thờ ơ, khi lựa chọn không rời cái nhìn khỏi người lân cận của mình, và chúng có thể trở thành các thực hành tốt trên con đường tiến tới một xã hội nhân bản hơn.

Có biết bao nhiêu tổ chức phi chính quyền và các nhóm bác ái, bên trong cũng như bên ngoài Giáo Hội, mà các thành viên, trong các dịp dịch tễ, thiên tai hay xung khắc vũ trang, đương đầu với các mệt nhọc và nguy hiểm để săn sóc những người bị thương và các bệnh nhân, và để chôn cất các người đã chết. Bên cạnh họ tôi muối nhắc đến những người và những hiệp hội cứu giúp các người di cư băng qua các sa mạc và biển cả để đi tìm các điều kiện sống tốt đẹp hơn. Các hoạt động này là các công tác của lòng thương xót thể lý và tinh thần, dựa trên đó chúng ta sẽ bị phán xử vào cuối cuộc sống của mình.

Tôi cũng nghĩ tới các nhà báo và các chuyên viên chụp hình thông tin tức cho dư luận công cộng liên quan tới các tình hình khó khăn gọi hỏi lương tâm, và tất cả những người dấn thân bảo vệ các quyền con người, bảo vệ các phụ nữ và trẻ em, và tất cả những ai sống trong các điều kiện dễ bị tổn thương hơn. Giữa những người đó cũng có các linh mục và thừa sai, như là các mục tử nhân lành, các vị ở lại bên cạnh tín hữu và nâng đỡ họ mặc cho các hiểm nguy và khó khăn, đặc biệt trong các cuộc xung đột vũ trang.

Thế rồi còn có biết bao nhiêu gia đình dấn thân một cách cụ thể để giáo dục con cái họ “đi ngược dòng”, sống các giá trị của tình liên đới, sự cảm thương và tình huynh đệ, với giá của biết bao nhiêu hy sinh, tuy phải sống giữa biết bao khó khăn về công ăn việc làm và xã hội. Biết bao nhiêu gia đình rộng mở con tim và cửa nhà cho nhũng ai sống trong cảnh thiếu thốn, như các người tỵ nạn và di cư! Tôi muốn cám ơn một cách đặc biệt tất cả các người, các gia đình, các giáo xứ, các cộng đoàn dòng tu, các đan viện và các trung tâm hành hương đã mau mắn đáp trả lời tôi kêu gọi tiếp đón một gia đình tỵ nạn (Kinh Truyền Tin 6-9-2015).

Sau cùng, tôi muốn nhắc tới các người trẻ hiệp nhất với nhau để thực hiện các dự án liên đới, và tất cả những người mở rộng đôi tay trợ giúp người bên cạnh thiếu thốn: trong các thành phố, trong quê hương mình hay trong các vùng miền khác trên thế giới. Tôi muốn cám ơn và khích lệ tất cả những ai dấn thân trong các hành động loại này, cả khi họ không được quảng cáo: sự đói khát công lý của họ sẽ được no thoả, lòng thương xót của họ sẽ khiến cho họ tìm được xót thương và như là các tác nhân hoà bình, họ sẽ được gọi là con cái của Thiên Chúa (x. Mt 5,6-9).

Hoà bình trong dấu chỉ của Năm Thánh Lòng Thương Xót

8. Trong tinh thần của Năm Thánh  Lòng Thương Xót, mỗi người được mời gọi nhận ra sự thờ ơ được biểu lộ trong cuộc sống của mình như thế nào, và lựa chọn một dấn thân cụ thể để góp phần cải tiến thực tại trong đó mình đang sống, bắt đầu từ gia đình mình, từ xóm giềng của mình hay từ môi trường làm việc.

Cả các Quốc gia cũng được mời gọi có các cử chỉ cụ thể, có các hành động can đảm đối với các người giòn mỏng nhất của xã hội, như các tù nhân, người di cư, người thất nghiệp và người đau yếu.

Liên quan tới các tù nhân, trong nhiều trường hợp xem ra cấp thiết áp dụng các biện pháp cụ thể giúp cải tiến các điều kiện sống của họ trong các nhà tù, bằng cách cho phép chú ý đặc biệt tới những người bị mất tự do trong khi chờ đợi được xét xử, lưu tâm tới mục đích tái giáo dục của hình phạt, và lượng định khả thể đưa vào trong luật pháp quốc gia các hình phạt thay thế cho việc giam giữ trong nhà tù. Trong bối cảnh ấy tôi ước ao canh tân lời kêu gọi các giới chức chính quyền quốc gia huỷ bỏ án tử hình, tại nơi đâu nó còn hữu hiệu và duyệt xét lại khả thể của một cuộc ân xá.

Liên quan tới các người di cư, tôi muốn đưa ra một lời mời gọi suy tư trở lại các luật lệ về di cư, để chúng được linh hoạt bởi ý chí tiếp đón, trong sự tôn trọng hỗ tương các nhiệm vụ và  trách nhiệm, và có thể tạo dễ dàng cho việc hội nhập của các người di cư. Trong viễn tượng này phải có một sự chú ý đặc biệt đối với các điều kiện di trú của người di cư, bằng cách nhớ rằng sự lén lút có nguy cơ lôi kéo họ tới tội phạm.

Ngoài ra tôi cũng ước mong trong Năm Thánh này đưa ra một lời kêu gọi cấp bách giới hữu trách các quốc gia có các cử chỉ cụ thể đối với các anh chị em khổ đau vì thiếu công ăn việc làm, đất đai và nhà ở. Tôi nghĩ tới việc tạo ra các chỗ làm việc xứng đáng để chống lại tệ nạn xã hội của sự thất nghiệp, đả thương  nhiều gia đình và người trẻ và có các hậu quả rất nghiêm trọng liên quan tới điều kiện sống của toàn xã hội. Sự thiếu công ăn việc làm tấn kích một cách nặng nề ý thức về phẩm giá và niềm hy vọng, và chỉ có thể  được bù trừ phần nào bởi các liên đới cần thiết dành cho nhũng người thất nghiệp và gia đình họ. Một sự chú ý đặc biệt cần phải dành cho phụ nữ – rất tiếc còn bị kỳ thị trong lãnh vực công ăn việc làm – và cho vài tầng lớp công nhân, có các điều kiện bấp bênh hay nguy hiểm và có đồng lương không tương xứng với tầm quan trọng sứ mệnh xã hội của họ.

Sau cùng tôi muốn mời gọi có các hoạt động hữu hiệu giúp cải tiến các điều kiện sống của các bệnh nhân, bằng cách bảo đảm cho tất cả được săn sóc y khoa và có thuốc men cần thiết cho sự sống, bao gồm cả việc được săn sóc tại gia.

Khi hướng cái nhìn vượt ngoài các ranh giới của mình, giới hữu trách các quốc gia cũng được mời gọi canh tân các tương quan  với các dân tộc khác, bằng cách cho phép tất cả mọi người thực sự tham gia và bao gồm vào cuộc sống của cộng đồng quốc tế, hầu thể hiện tình huynh đệ cả bên trong gia đình quốc gia nữa.

Trong viễn tượng này, tôi ước mong đưa ra một lời kêu gọi gồm ba điều: đừng lôi cuốn các dân tộc khác vào các cuộc xung đột hay các chiến tranh không chỉ tàn phá các giầu có vật chất, văn hóa và xã hội của họ, mà cũng – trong thời gian lâu dài – tàn phá sự toàn vẹn luân lý và tinh thần của họ nữa; xóa bỏ hay điề hành có thể chịu đựng nổi nợ nần quốc tế của các nước nghèo hơn; áp dụng các đường lối chính trị cộng tác, tôn trọng các giá trị của các dân tộc địa phương thay vì gập mình trước sự độc tài của vài ý thức hệ, và trong mọi trường hợp các đường lối chính trị ấy không được gây tổn thương cho quyền nền tảng và bất khả nhượng của các trẻ em sắp sinh vào cuộc sống.

Tôi xin phó thác các suy tư này cùng với các lời chúc mừng năm mới tốt đẹp cho năm mới cho lời bầu cử của Mẹ Maria Rất Thánh Mẹ mau mắn lo cho các  nhu cầu của nhân loại, để Mẹ xin được từ Chúa Giêsu Con Mẹ, Hoàng Tử Hoà Bình, việc khấng nhận các lời khẩn nài của chúng ta và phước lành của sự dấn thân thường ngày của chúng ta cho một thế giới huynh đệ và liên đới hơn.

Từ Vatican mùng 8 tháng 12 năm 2015 Lễ trọng Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Maria. Mở Năm Thánh Ngoại Thường Lòng Thương Xót.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Thánh Cha kêu gọi cầu nguyện cho các nạn nhân thiên tai

Đức Thánh Cha kêu gọi cầu nguyện cho các nạn nhân thiên tai

Đức Thánh Cha kêu gọi cầu nguyện cho các nạn nhân thiên tai

VATICAN. ĐTC kêu gọi cầu nguyện cho các nạn nhân bị thiên tai tại Hoa Kỳ, Anh, Nam Mỹ và đặc biệt tại Paraguay.

Lên tiếng trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 30-12-2015, ĐTC nói: ”Tôi mời gọi cầu nguyện cho các nạn nhân thiên tại xảy ra trong những ngày qua tại Hoa Kỳ, Anh quốc, Nam Mỹ, nhất là tại Paraguay, gây ra nhiều nạn nhân, nhiều người phải di tản và thiệt hại nặng nề. Xin Chúa ban ơn an ủi cho các dân tộc bị nạn và tình liên đới huynh đệ trợ giúp họ trong tình cảnh khó khăn”.

Lốc xoáy ở vùng Dallas và lụt tại tiểu bang Mississippi và vài bang khác, đã làm cho 26 người bị thiệt mạng trong vòng 1 tuần lễ. Mưa lũ và lụt lội tại miền bắc và đông bắc Anh Quốc gây thiệt hại hàng trăm triệu Euro. Tại Nam Mỹ, cụ thể tại Uruguay, miền bắc Argentina và nam Brazil, gần 170 ngàn người phải di tản vì lụt, riêng tại Paraguay, con sông cùng tên bị tràn nước khiến cho 130 ngàn người phải tản cư. 4 người chết vì cây đổ đè. (Tổng hợp 30-12-2015)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đại hội quốc tế thứ 40 các ca đoàn thiếu nhi nhóm tại Roma

Đại hội quốc tế thứ 40 các ca đoàn thiếu nhi nhóm tại Roma

Đại hội quốc tế lần 40

ROMA. Trong những ngày này, từ 28-12 đến 1-1, Đại hội quốc tế lần thứ 40 của các ca đoàn thiếu nhi đang tiến hành ở Roma với chủ đề: ”Các em hãy hát lên niềm hy vọng của mình”.

Đại hội tiến hành 3 năm một lần. 6 ngàn thiếu nhi thuộc các ca đoàn đến từ 18 quốc gia, trong đó có Italia, Đức, Áo, Tây Ban Nha, Bồ đào nha, Brazil, Ba Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Hoa Kỳ, Ai Len và một số nước khác trong đó có Hàn Quốc và Nhật Bản.

Lúc 3 giờ rưỡi chiều thứ hai 28-12-2015, các ca viên thiếu nhi đã bắt đầu cuộc rước từ Lâu đài Thiên Thần, tiến qua đường Hòa giải, và Quảng trường Thánh Phêrô, trước khi vào Đại thính đường Phaolô 6 để tham dự lễ nghi khai mạc đại hội do Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng, chủ sự từ lúc 6 giờ chiều.

Lúc 10 giờ sáng thứ ba 29-12-2015, các ca đoàn thiếu nhi đã tham dự thánh lễ tại nhiều thánh đường ở Roma và sinh hoạt. Ban tối lúc 8 giờ rưỡi, các em trình diễn thánh ca tại nhiều thánh đường.

Thứ tư 30-12, các em tham dự các buổi cầu nguyện cho hòa bình và ban tối tiếp tục trình diễn thánh ca tại các nhà thờ,

Sáng thứ năm 31-12-2015, các ca đoàn sẽ tập dợt thánh lễ bế mạc tại Đại thính đường Phaolô 6 trước khi được ĐTC tiếp kiến lúc 11 giờ tại đây.

Sau cùng, lúc 10 giờ sáng ngày Tết Dương Lịch, các ca đoàn sẽ tham dự thánh lễ bế mạc Đại hội tại Đền thờ Thánh Phêrô do ĐTC Phanxicô cử hành, nhân dịp Ngày Hòa Bình Thế giới. (SD 28-12-2015)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Ngày Năm Thánh cùa các gia đình và Kinh Truyền Tin Chúa Nhật lễ Thánh Gia Thất

Ngày Năm Thánh cùa các gia đình và Kinh Truyền Tin Chúa Nhật lễ Thánh Gia Thất

ĐTC Phanxicô chào tín hữu trong buổi đọc Kinh Truyên Tin trưa Chúa Nhật lễ Thánh Gia Thất 27-12-2015

Lúc 10 giờ sáng Chúa Nhật 27-12-2015 lễ Thánh Gia Thất cũng là Ngày Năm Thánh của các gia đình, ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ trong đền thờ thánh Phêrô. Tham dự thánh lễ đã có một số Hồng Y, các Tổng Giám Mục, Giám Mục, linh mục tu sĩ nam nữ và khoảng 8,000 tín hữu và du khách hành hương. Ca đoàn Sistina của Toà Thánh đã hát thánh thi Năm Thánh Lòng Thương Xót: “Chúng ta hãy thương xót như Thiên Chúa Cha”, trong khi ĐTC và đoàn đồng tế gồm bốn Hồng Y và hàng chục linh mục thuộc Hội Đồng Toà Thánh về Gia Đình hay đặc trách việc mục vụ cho các gia đình  tiến lên bàn thờ Tuyên Xưng Đức Tin.

Bài đọc một bằng tiếng Anh kể lại chuyện hai ông bà Elkana và Anna đem con là bé Samuel lên trung tâm thờ tự Shilo dâng cho Chúa. Bài đọc hai trích từ thư thứ nhất của thánh Gioan, khẳng định rằng Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta biết bao vì cho chúng ta được gọi là con cái Ngài, và chúng ta thực sự là con cái Thiên Chúa. Thánh vịnh và Phúc Âm đã được hát bằng tiếng Ý.

Giảng trong thánh lễ ĐTC nói: “Các bài đọc kinh thánh đã giới thiệu với chúng ta hai gia đình đi hành hương về Nhà Chúa. Ông Elkana và bà Anna đem con là Samuel lên trung tâm thờ tự Shilo và thánh hiến con cho Chúa (x. 1 Sm 1,20-22.24-28). Cũng thế thánh Giuse và Mẹ Maria cùng với Chúa Giêsu hành hương lên Giêrusalem dịp lễ Vượt Qua (x. Lc 2,41-52).

Trong các ngày này cũng có biết bao người hành hương về các Cửa Thánh đã được mở trong tất cả mọi nhà thờ chính toà trên thế giới và tại biết bao nhiêu đền thánh. Nhưng điều đẹp nhất đuợc Lời Chúa nêu bật hôm nay đó là cả gia đình đi hành hương. Cha, mẹ, con cái cùng nhau đi đến nhà Chúa để thánh hoá ngày lễ với lời cầu nguyện. Đây là một giáo huấn quan trọng được cống hiến cho cả các gia đình của chúng ta nữa.

Thật tốt cho chúng ta biết bao, khi nghĩ tới việc Mẹ Maria và cha thánh Giuse đã dậy Chúa Giêsu đọc các lời cầu nguyện! Và biết rằng trong ngày các ngài cùng nhau cầu nguyện, và vào ngày sabát các ngài cùng nhau đến hội đường để lắng nghe Sách Luật và các Ngôn sứ, và cùng toàn dân chúc tụng Chúa. Và chắc chắn khi hành hương lên Giêrusalem, các ngài đã hát các lời của thánh vịnh: “Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Ta cùng trẩy lên Đền Thánh Chúa!”. Hỡi Giêrusalem, chân ta đã dừng trên các cửa của ngươi!” (Tv 122,1-2).

Thật quan trọng biết bao cho các gia đình của chúng ta cùng nhau bước đi và cùng nhau có chung một mục đích phải tới! Chúng ta biết rằng mình có một lộ trình chung phải đi, một con đường nơi chúng ta gặp phải các khó khăn, nhưng cũng có những lúc của niềm vui và sự an ủi. Trong cuộc hành hương này của cuộc sống chúng ta cũng chia sẻ lúc cầu nguyện. Áp dụng vào cuộc sống gia đình ĐTC nói:

Có điều gì đẹp hơn đối với một người cha và một người mẹ là chúc lành cho con cái mình khi bắt đầu và kết thúc một ngày sống! Vẽ hình thánh giá trên trán chúng như trong ngày Rửa Tội. Đó lại chẳng phải là lời cầu nguyện đơn sơ nhất của các cha mẹ đối với con cái mình hay sao? Chúc lành cho chúng có nghĩa là phó thác chúng cho Chúa, để Chúa che chở và nâng đỡ chúng trong những lúc khác nhau của ngày sống. Thật quan trọng biết bao cho gia đình cùng nhau cầu nguyện trước các bữa ăn, để cảm tạ Chúa về các ơn và để học chia sẻ những gì đã nhận lãnh với người thiếu thốn hơn. Tất cả đều là các cử chỉ nhỏ nhặt, nhưng chúng diễn tả vài trò giáo dục lớn mà gia đình có được.

Sau khi cuộc hành hương kết thúc, Chúa Giêsu đã trở về Nagiarét và vâng phục cha mẹ Người (x. Lc 2,51). Cả hình ảnh này nữa cũng chứa đựng một giáo huấn đẹp đối với gia đình. Thật thế, cuộc hành hương không kết thúc với việc đạt mục tiêu của đền thánh, nhưng khi trở về nhà và lấy lại cuộc sống thường ngày, thực thi các hoa trái thiêng liêng của kinh nghiệm đã sống. Chúng ta biết Chúa Giêsu đã làm gì trong lần đó. Thay vì trở về nhà với cha mẹ, Người dã ở lại trong Đền Thờ Giêrusalem, gây ra cho Mẹ Maria và thánh Giuse một nỗi  đau đớn lớn, vì đã không tìm thấy Người. Chắc chắn Chúa Giêsu cũng đã phải xin lỗi cha mẹ về “vụ trốn đi ấy”. Phúc Âm không nói đến, nhưng tôi tin là chúng ta có thể giả thiết như vậy. Câu Mẹ Maria hỏi biểu lộ một trách móc nào đó, minh nhiên cho thấy nỗi âu lo của Mẹ và thánh Giuse, Nhưng khi trở về nhà Chúa Giêsu đã ôm chặt các vị để chứng minh cho thấy tất cả lòng trìu mến và vâng lời của Người.

Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, ước chi mỗi gia đình có thể trở thành nơi ưu tiên trong đó chúng ta sống kinh nghiệm niềm vui của sự tha thứ. Sự tha thứ là nòng cốt của tình yêu biết hiểu lỗi lầm và sửa đổi. Chính bên trong gia đình mà người ta giáo dục tha thứ, bởi vì người ta xác chắc chắn được hiểu biết và nâng đỡ, mặc dù có các lỗi lầm đã phạm.

Chúng ta đừng mất tin tưởng nơi gia đình! Thật là đẹp luôn luôn rộng mở con tim cho nhau mà không giấu diếm gì cả. Nơi đâu có tình yêu, nơi đó cũng có sự thông cảm và tha thứ. Các gia đình thân mến, tôi xin phó thác tất cả anh chị em, phó thác cho cuộc hành hương gia đình sứ mệnh quan trọng này, mà thế giới và Giáo Hội cần đến hơn bao giờ hết.

Các lời nguyện giáo dân đã được  đọc bằng các thứ tiếng: Pháp, Tầu, Bồ Đào Nha, Nga, và Đức: cầu cho Hội Thánh, xin cho ơn thánh đến từ các bí tích xây dựng Giáo Hội trong chân lý và tình bác ái và khiến cho nó trở thành ngôi nhà tiếp đón mọi con cái mình; cầu cho hàng lãnh đạo và các nhà làm luật, được sự khôn ngoan đến từ trên hướng dẫn phục vụ thiện ích của mọi người, bảo vệ sự ổn định và an lành của các gia đình; xin cho các gia đình kitô được niềm vui nâng đỡ trong các lao nhọc thường ngày và rộng mở cho một niềm hy vọng không gây thất vọng; cầu cho sự sống sinh ra, xin cho lòng trung thành của Thiên Chúa đối với các lời hứa làm sống dậy ước muốn sinh con cái và tiếp nhận các sự sống mới và thắng vượt các tâm tình ích kỷ và khép kín; cầu cho các người nghèo và cô đơn, xin cho sự ủi an đến từ lễ Chúa Giêsu giáng sinh và lòng bác ái cụ thể của các kitô hữu bao bọc họ với hơi ấm của sự hiệp thông và tình huynh đệ.

Mấy chục linh mục đã giúp ĐTC cho tín hữu rước lễ.

Lúc 12 giờ trưa ĐTC đã ra cửa sổ Dinh Tông Toà đọc Kinh Truyền Tin với tín hữu và du khách hành hương.

Trong bài huấn dụ ĐTC khích lệ các gia đình noi gương sống của Thánh Gia Nagiarét là trường học của Phúc Âm để là một “giáo hội tại gia”, một cộng đoàn đặc biệt của tình yêu. ĐTC nói: trong bầu khí tươi vui là lễ Giáng Sinh trong Chúa Nhật này chúng ta cử hành lễ Thánh Gia Thất. Tôi nghĩ tới cuộc gặp gỡ lớn ở Philadelphia hồi tháng 9 năm nay, tôi nghĩ tới biết bao gia đình đã gặp trong các chuyến tông du, và tôi nghĩ tới các gia đình trên toàn thế giới. Tôi muốn chào thăm tất cả các gia đình với lòng trìu mến và biết ơn, đặc biệt trong thời đại này của chúng ta, trong đó gia đình phải gánh chịu các hiểu lầm và khó khăn đủ loại làm cho nó suy yếu đi.

Phúc Âm hôm nay mời gọi các gia đình tiếp nhận ánh sáng của niềm hy vọng đến từ căn nhà Nagiarét, trong đó tuổi thơ của Chúa Giêsu đã phát triển trong tươi vui, và thánh sử Luca nói rằng Ngài “lớn lên trong khôn ngoan, tuổi tác và ơn thánh trước mặt Thiên Chúa và loài người” (Lc 2,52). Đối với mọi tín hữu và đặc biệt là các gia đình, tổ ấm gia đình của Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse là một trường học Phúc Âm đích thực. ĐTC khai triển tư tưởng này như sau:

Ở đây chúng ta khâm phục việc thành toàn chương trình của Thiên Chúa làm cho gia đình trở thành một cộng đoàn đặc biệt của sự sống và tình yêu thương. Ở đây chúng ta học biết rằng mỗi nhân tố gia đình kitô được mời gọi là “giáo hội tại gia”, để rạng ngời lên các nhân đức tin mừng và trở thành men sự thiện trong xã hội. Các nét dặc thù của Thánh Gia Thất là: tiếp đón và cầu nguyện, hiểu biết và tôn trọng nhau, tinh thần hy sinh, lao động và liên đới.

ĐTC nói tiếp trong bài huấn dụ: Từ gương sáng và chứng tá của Thánh Gia Thất, mọi gia đình có thể rút tỉa ra các chỉ dẫn quý báu cho kiểu sống và các lựa chọn trong cuộc sống, và có thể kín múc sức mạnh và sự khôn ngoan cho con đường cuộc sống mọi ngày. Đức Mẹ và thánh Giuse dậy tiếp nhận con cái như món quà của Thiên  Chúa, sinh ra chúng, giáo dục chúng, cộng tác một cách tuyệt vời với công trình sáng tạo của Đấng Tạo Hoá, và trao ban cho thê giới một nụ cuời qua mỗi trẻ em. Chính trong gia đình hiệp nhất mà con cái làm cho cuộc sống của chúng trưởng thành, bằng cách sống kinh nghiệm ý nghĩa và hữu hiệu của tình yêu thương nhưng không, của lòng hiền dịu, của sự tôn trọng lẫn nhau, hiểu biết nhau, của sự tha thứ và niềm vui.

Tôi muốn dừng lại nhất là trên niềm vui. Niềm vui đích thật, mà người ta kinh nghiệm trong gia đình, không phải là một cái gì tình cờ. Nhưng nó là một niềm vui kết quả của sự hoà hợp sâu thẳm giữa các con người với nhau, làm cho người ta nếm hưởng được vẻ đẹp của việc sống chung với nhau, nâng đỡ nhau trên con đường cuộc sống. Nhưng ở nền tảng của niềm vui luôn luôn có sự hiện diện của Thiên Chúa, tình yêu tiếp đón thương xót và kiên nhẫn của Ngài đối với tất cả mọi người. Nếu không mở rộng cửa gia đình cho sự hiện diện của Thiên Chúa và tình yêu của Ngài, gia đình mất đi sự hoà hợp, các khuynh hướng duy cá nhân thắng thế và niềm vui bị dập tắt. Trái lại gia đình sống niềm vui, niềm vui của sự sống, niềm vui của đức tin,  thông truyền nó một cách tự phát, thì là muối đất và ánh sáng thế gian, là men cho toàn xã hội.

Xin Chúa Giêsu, Mẹ Maria và cha thánh Giuse chúc lành và che chở tất cả mọi gia đình trên thế giới, để trong đó ngự trị sự thanh thản và niềm vui, công lý và hoà bình, mà Chúa Kitô đã đem tới như món quà cho nhân loại khi Ngài sinh ra.

Tiếp đến ĐTC đã đọc kinh truyền tin và ban phép lành toà thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin ĐTC nói ngài nhớ tới nhiều người di cư Cuba đang gặp khó khăn tại Trung Mỹ, nhiều người trở thành nạn nhân của nạn buôn người. Ngài kêu gọi các chính quyền vùng này quảng đại canh tân mọi nỗ lực cần thiết để mau chóng tim ra giải pháp cho thảm cảnh nhân đạo này.

ĐTC cũng chào các tín hữu hành hương đến từ nhiều nơi trên thế giới, cách riêng các bạn trẻ giáo phận Bergamo đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức. Ngài cám ơn các trẻ em và người trẻ đã hát thánh ca Giáng Sinh mừng ngài và mừng các gia đình trong ngày lễ Thánh Gia Thất. Sau cùng ngài chúc mọi người ngày Chúa Nhật tươi vui cũng như cám ơn mọi người về các lời chúc mừng lễ và các lời cầu nguyện dành cho ngài. ĐTC xin mọi người tiếp tục cầu nguyện cho ngài.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio