CHÌA KHÓA NƯỚC TRỜI

 CHÌA KHÓA NƯỚC TRỜI

Peter and heaven's key

Tin mừng hôm nay thuật lại biến cố thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa Hằng Sống; và với lời tuyên xưng này, thánh Phêrô đã được Chúa Giêsu trao “Chìa Khóa Nước Trời", tức là quyền lãnh đạo Dân Chúa. Trong Kinh Thánh, chìa khóa tượng trưng cho quyền cai quản và điều hành, như Thiên Chúa ban cho Êliakim quyền điều hành nhà Ðavít (Is 22,20-22), hay quyền hành của Chúa Giêsu trên sự chết (Kh 1,17-18).

Chìa khóa, theo Thánh Kinh, là biểu tượng của sự tin tưởng, uy quyền và trách nhiệm. Chúa Giêsu đã trao chìa khóa cho thánh Phêrô. Chúa tin tưởng thánh Phêrô, trao cho ngài quyền hành và trách nhiệm để hướng dẫn Giáo hội trên trần gian: “Thầy sẽ trao cho con chìa khóa nước Trời; sự gì con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc; và sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”. Quyền “cầm buộc và tháo cởi” có nghĩa là quyền tha tội, quyền đưa ra những phán quyết về giáo lý và những quyết định về kỷ luật trong Hội Thánh (GLHTCG, số 553). Đây là một quyền hành thật cả thể. Vì bản chất của quyền hành ở đây theo từ ngữ chuyên biệt trong tiếng Do thái có thể chỉ đến việc cầm buộc ma quỉ trong khi trừ quỉ, trong việc hành luật liên quan đến vạ tuyệt thông và trong những vấn đề phán quyết nghiêm trọng (NJBC,659).

Ngoài ra, theo một số nhà chú giải Thánh Kinh như Kevin O’Sullivan, OFM và Paul J Achtemeier, “Chìa khóa Nước Trời” ám chỉ đến hình ảnh một người đầy tớ với chìa khóa trong tay để mở cửa các phòng trong nhà. Người có chìa khóa trong tay không chỉ có quyền xác định ai được vào và ai không được vào, mà còn có trách nhiệm toàn quyền trông coi để ý mọi sự trong nhà của chủ mình (Harper’s Dict 524-525).

Nếu trách nhiệm được trao không chu toàn, nếu quyền hành được ban bị lạm dụng, và bị mất tin tưởng, thì chắc chắn chìa khóa sẽ bị lấy lại. Tiên tri Isaia trong bài đọc 1 đã minh chứng điều đó. Sobna, quan cai đền thờ đã bị cách chức và trục xuất khỏi địa vị cũng chỉ vì đã lạm dụng quyền hành. Ông đã lạm dụng quyền hành bắt ép vua Hezekiah (716-687) nổi dậy chống lại Assyria và chạy đến Ai cập cầu cứu. Tiên tri Isaia đã hoàn toàn phản đối việc này. Ngài kêu gọi Giuđa phải nên tin tưởng vào Thiên Chúa của mình, chứ không phải nơi sự trợ giúp của dân ngoại. Nhưng Giuđa đã không tin tưởng nơi Thiên Chúa, và cuối cùng vào những thế kỷ sau đó, Giuđa và Giêrusalem đã bị tiêu diệt hoàn toàn. Và như chúng ta được biết, chìa khóa của Sobna đã bị lấy lại và trao cho Êliaqim, con trai Helcia (Kevin O’Sullivan, OFM, The Sunday Readings (A) 309-314).

Trước lễ cung hiến Nhà thờ mới, có nghi thức trao chìa khóa mở cửa Nhà thờ. Đức Giám mục trao chìa khóa cho Linh mục Quản xứ để ngài mở cửa Nhà thờ. Nghi thức này muốn nói lên rằng: việc quản trị Nhà thờ trên toàn giáo phận là thuộc Đức Giám mục giáo phận, còn Linh mục Quản xứ chỉ là người nhận quyền từ Đức Giám mục, thay mặt Đức Giám mục trông coi, cũng như cử hành và ban phát các bí tích cho cộng đoàn Dân Chúa tại Nhà thờ này.

Nếu hiểu chìa khóa là biểu tượng nói lên sự tin tưởng, quyền hành và trách nhiệm thì không chỉ riêng thánh Phêrô đã lãnh nhận chìa khóa Chúa trao; mà qua ngài, qua Giáo hội, hết thảy mọi tín hữu cũng đều được lãnh nhận chìa khóa ấy khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Chìa khóa ấy không gì khác hơn là tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và đồng thời tin tưởng chúng ta cũng là con Thiên Chúa.

Đức tin dạy rằng, Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa theo bản tính. Còn chúng ta cũng là con Thiên Chúa theo ân sủng. Quyền làm con Thiên Chúa và trách nhiệm đi kèm là một ơn rất trọng đại và cũng chính là “chìa khóa Nước Trời” cho mỗi người và cho những người có trách nhiệm liên hệ. Chìa khóa chính là hạt giống đức tin từ ngày lãnh nhận làn nước Bí tích Rửa tội giúp họ mở cửa bước vào kho tàng ân đức của Chúa nơi các Bí tích. “Với Chúa, mọi sự đều có thể”; “ơn được làm con Thiên Chúa”, đó là chìa khóa Nước Trời mà Thiên Chúa trao cho mỗi người tín hữu.

Chìa khóa mở lối vào Thiên Quốc Vĩnh Hằng có độ rắn của lòng trung thành, liên lỉ trong cầu nguyện; có độ bền của sự hiền hậu, khiêm nhường; có cấu trúc đẹp của lòng bao dung, tha thứ. Nó không làm bằng kim loại vật chất của trần gian, mà được đúc kết bằng hợp kim của niềm tin tâm linh và tính thánh thiêng. Nó có thể mở được tất cả các cánh cổng của những vấn nạn nghiêm trọng trong cuộc sống, và của mỗi thân phận con người.

Thánh Phêrô đã trải qua nhiều đau khổ, chịu bách hại và đã đổ máu vì danh Đức Kitô. Chúa đã đặt Ngài là: “Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy và quyền lực tử thần sẽ không thắng được”. Thánh Phêrô đã tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” và đã tuyên xưng tình yêu “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy”. Vì niềm tin yêu vào Chúa Giêsu Kitô, thánh Phêrô đã chia sẻ sứ mạng của Thầy Chí Thánh và hiến dâng mạng sống cho đoàn chiên. Thánh Phêrô đã sống theo chân lý: ‘Nếu Thiên Chúa ở cùng chúng ta, ai có thể đánh bại chúng ta?’. Chúa là sức mạnh của thánh nhân, không gì có thể tách Ngài ra khỏi lòng mến của Chúa Kitô. Thánh Phêrô xứng đáng để nắm giữ “Chìa khóa Nước Trời”.

Có câu chuyện “Chìa khóa và ổ khóa Thiên Đàng” thật ý nghĩa
 
Một hôm nọ,
khóa cửa Thiên Đàng bị hư, thánh Phêrô đích thân mang cả chìa lẫn khóa xuống trần gian để tìm người sửa chữa. Ngài tới nhà anh thợ khoá đầu tiên.

– Chào anh, tôi có cái ổ khóa bị hư, anh làm ơn sửa giùm.

– Cụ làm nghề gì mà cửa nhà cụ lại có cái ổ khóa to và quý thế này?

– Tôi làm nghề đánh cá, sau đổi sang nghề chăn chiên anh ạ.
 
– Ừ! Nhìn quần áo và chân tay của cụ, tôi tin. Nhưng cụ nói thật đi, cụ “chôm” cái vật qúy bằng vàng ròng này ở đâu vậy?

Thánh Phêrô tần ngần trả lời:

– Của tôi đó, vì đây là khoá cửa của Thiên Đàng, còn tôi là Phêrô.

Anh thợ vồn vã:

– À! Thế thì lại khác, chỉ 1 giờ là tôi sửa xong cho cụ thôi, cụ cho xin 100.000 đồng.

Thánh Phêrô giật mình:

– Đắt thế à? Tôi chỉ có 1.000 thôi.

– Không được đâu cụ ơi. Tôi nghe ngày xưa cụ đứng đầu Hội Thánh, hẳn là cụ giàu có lắm?

– Anh hiểu lầm rồi! Trong Hội Thánh chúng tôi, ai càng đứng đầu thì lại càng là người tôi tớ phục vụ, sống khiêm hạ khó nghèo như Đức Giêsu làng Nadarét. Thôi anh cố sửa nó đi, có thể vì công khó của anh mà tôi sẽ xin Chúa cho anh vào Thiên Đàng.

Anh thợ mỉm cười lắc đầu.

– Tôi cần cái thực tế. Tiền thôi cụ ạ, còn Thiên Đàng thì xa lạ quá. Vả lại ở Thiên Đàng mà nghèo như cụ thì tôi chẳng ham. Thôi cụ đi xoay xở đâu đó thêm đi, rồi quay lại đây.

Thánh Phêrô bước đi, buồn bã nghĩ thầm : Anh thợ này sửa được nhiều thứ khóa, chỉ trừ khóa của Thiên Đàng. Đồng tiền quý đến thế kia ư?

Ngài lại tìm đến nhà một anh thợ khác, nổi tiếng khéo tay và giàu có nhất vùng, hy vọng gặp được người yêu mến Thiên Đàng hơn chuyện tiền bạc.

Anh thợ đon đả chạy ra đón mừng.

– Tôi nhận ra ngài rồi. Tay cầm chìa khóa vàng, khuôn mặt và thân hình lại giống hệt bức tượng trong nhà thờ xứ tôi. Vào đây, gia đình tôi hân hạnh tiếp đón Thánh Cả.

Thánh Phêrô vui mừng, nhưng cũng ngần ngại dò hỏi:

– Tôi có cái khóa cửa Thiên Đàng bị hỏng, tôi chỉ có 1.000 đồng, nhờ anh sửa giúp.
 
– Xin cất đi, tôi còn phải biếu ngài thêm lộ phí nữa kìa. Còn cái
khóa thì không thành vấn đề, chỉ độ nửa tiếng là xong thôi. Có điều là, xin ngài hứa cho tôi một việc.

– Tốt lắm, anh cứ nói.

– Xin ngài đưa tôi vào Thiên Đàng và cho tôi làm trùm phường khóa ở trên đấy. Ngồi trên Các Thánh hay Các Thiên Thần thì tôi không dám, nhưng làm sếp đám thợ khóa thì tôi dư sức. Ngài sẽ thấy tay nghề của tôi khi sửa khóa cho ngài, xem tôi có đáng ngồi chỗ tốt hay không.

Bỗng có tiếng ầm ầm từ đầu ngõ, hàng trăm dân làng ùa chạy tới nhà anh thợ khóa  khi nghe nói thánh Phêrô đang ở nhà anh. Tiếng hò hét vang lừng từ ở cổng ra vào.

– Lạy thánh Phêrô, ngài cho vợ chồng con vào Thiên Đàng với.

– Đứa nào xô tao vậy, đây là cổng nhà anh thợ khóa chứ đã phải là cửa Thiên Đàng đâu mà chen dữ thế? Phải có hàng lối chứ.

– Gặp thánh Phêrô chứ có phải đi mua vé xi-nê hoặc đi mua thịt, mua cá đâu mà phải xếp hàng cha nội.

– Chúng mày biết gì? Ông Trùm nói có lý đấy. Thế chúng mày không nghe cha giảng là ở trên Trời có ”Đám rước mặc quần áo trắng tinh tay cầm cành thiên tuế” à? Phải trật tự chứ!

– Chúa ơi ! Chết con rồi.
 


 

Thánh Phêrô lắc đầu ngán ngẩm. Cần phải “gửi” đi đâu nữa, họ đang ở hỏa ngục rồi còn gì! Họ cãi nhau chí chóe, chửi thề, dẫm đạp lên nhau để “tranh” Thiên Đàng. Có kẻ đã dúi được vào túi thánh Phêrô phong bì, hoa, nến. Rồi hí hửng vì đã “hối lộ” được người giữ cửa đầy quyền uy.

Bỗng có một cơn gió mù mịt cuốn lấy thánh Phêrô. Thiên Thần đã đưa ngài đi trong gió. Để lại đám dân làng khóc la tiếc nuối, và anh thợ khoá tiu nghỉu vì tan giấc mộng vàng.

Thiên Thần đưa Phêrô tới bên một bờ suối rồi chào tạm biệt ra đi. Thánh nhân nhẹ gật đầu từ tạ. Ngài vẫn còn bực bội vì chuyện xảy ra vừa rồi. Tại sao con người lại coi nhẹ Thiên Đàng để kiếm tìm tiền tài danh vọng nhỉ ? Ngay cả đám dân muốn “xấn xổ” vào Thiên Đàng, họ có nghĩ gì tới Chúa và anh em mình đâu, lợi lộc riêng tư đã che mắt họ. Người ta có thể nhân danh một Thiên Đàng tốt đẹp để giành giật, đấu đá nhau đến vậy hay sao? Ôi! Nếu có Gioan và Giacôbê ở đây, "những người con của sấm sét” chắc cũng sẽ như xưa, muốn xin lửa Trời xuống đốt tiệt cái đám dân nông cạn này.

– Hãy uống bát nước này cho mát đi, cụ đang có lửa trong lòng đó.

Thánh Phêrô giật mình quay lại. Một cậu bé thật xinh trai, tay cầm ly nước, đã đứng sau lưng mình từ lúc nào. Ngài cầm lấy ly nước, uống một hơi thật sảng khoái.

– Cảm ơn cậu bé, cậu thật tốt bụng.

Cậu bé lém lỉnh nhìn cái ổ khóa trên tay thánh Phêrô.

– Ổ khóa này đẹp quá, cụ cho tôi xem tí nào.

– Khóa cửa Thiên Đàng đó mà. Cậu có muốn lên đấy không, tôi dẫn cậu đi?

– Chả cần cụ dẫn đâu, tôi thừa biết nó ở đâu rồi.

– Thật không?

– Thật chứ! Thiên Đàng thuộc về những người bé nhỏ như tôi mà, cụ quên rồi à?
 
Ngạc nhiên trước câu trả lời ngộ nghĩnh, thánh Phêrô cảm thấy mến cậu bé thông minh này. Ngài đưa cả ổ
khóa lẫn chìa cho cậu bé.

– Cẩn thận kẻo rơi nhé.

Cậu bé cầm cả hai ngắm nghía, rồi cậu tinh nghịch trả lại chìa khóa cho Phêrô.
 
– Cụ giữ lấy chìa
khóa này như một kỷ niệm hay một biểu tượng cho bổn phận và quyền uy. Còn cái này thì… Chưa dứt lời, cậu đã ném ổ khóa đánh “tõm” xuống giữa lòng suối sâu.

Thánh Phêrô giật mình lớn tiếng:

– Ôi Chúa ơi! Cậu làm gì vậy?

Cậu bé mỉm cười trả lời:

– Thật ra cửa Thiên Đàng đâu cần ổ khoá. Điều quan trọng không phải là nó đóng hay mở, mà là sự “đóng hay mở” của lòng người. Phải giải quyết chuyện này ở dưới đất chứ không phải trên trời cụ ạ. "Điều gì con cầm buộc dưới đất, trên Trời cũng cầm buộc. Điều gì con tháo mở dưới đất, trên Trời cũng tháo mở ". Có người đã nói với cụ câu đó, cụ không nhớ sao?

Thánh Phêrô ngẩn ngơ hỏi lại:

– Nhưng làm sao để họ mở hay đóng để tôi cầm buộc hay tháo gỡ? Vì họ cứ khép kín trước vẻ đẹp của Thiên Đàng, nhưng lại sẵn sàng mở lòng ra với tiền tài, danh vọng. Làm sao để họ làm ngược lại đây, cậu bé?

– Cụ đừng chỉ trỏ lên trời và nói những chuyện cao xa của Thiên Đàng với họ nữa. Ngược lại, phải dẫn họ tới một nơi để họ học biết khó nghèo, khiêm hạ, hy sinh. Cụ có muốn tôi đưa cụ tới đó, để rồi sau cụ có thể dẫn họ đi không?

Thánh Phêrô sốt sắng:

– Được rồi, tôi theo cậu. Nhưng đi đâu mới được chứ?

Cậu bé mỉm cười, nheo mắt nhìn Phêrô:

– Đi Bê-lem, rồi lên Núi Sọ.

Nói xong, cậu quay lưng, lững thững bước đi về phía có ánh nắng chói chang, phía của Mặt Trời.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Đức Thánh Cha giúp 1 triệu mỹ kim cho người tị nạn Iraq

Đức Thánh Cha giúp 1 triệu mỹ kim cho người tị nạn Iraq

VATICAN. ĐTC Phanxicô đã giúp 1 triệu Mỹ kim để góp phần cứu trợ các tín hữu Kitô và những người tị nạn khác ở Iraq.

Số tiền này được chính ĐHY Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ truyền giáo, đặc sứ của ĐTC, mang tới cho dân tị nạn trong cuộc viếng thăm của ngài tại thành phố Erbil ở miền bắc Irak từ ngày 12 đến 20-8 vừa qua.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng tin Công Giáo Hoa Kỳ, ĐHY Filoni cho biết 75% ngân khoản được trao cho các tín hữu Công Giáo và 25% dành cho cộng đoàn người Yézidi theo một tôn giáo hỗn hợp gồm Hồi giáo và các yếu tố tôn giáo truyền thống địa phương. ĐHY cũng nói: ”ĐTC sai tôi đi thực hiện một sứ vụ nhân đạo chứ không phải sứ vụ ngoại giao. Đó cũng là điều tôi nhấn mạnh với các vị lãnh đạo chính quyền”.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho 3 tờ báo ở Italia (Corriere della sera, Avvenire và La Repubblica), ĐHY đề nghị LHQ tổ chức một đội quân mũ xanh để bảo vệ các tín hữu Kitô bị quân Hồi giáo ISIS trục xuất khỏi gia cư vì không chịu trở lại Hồi giáo. ĐHY cũng nói đến các nhóm khủng bố Hồi giáo: ”Các nhóm này hoạt động mạnh, với võ khí đầy đủ và tối tân, và nhiều tiền bạc. Người ta đặt câu hỏi: làm sao việc chuyển những số tiền và các võ khí như thế có thể chuyển giao mà những người có nhiệm vụ kiểm soát lại không làm gì?” (Ansa 23-8-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Phêrô tuyên tín

Phêrô tuyên tín

(Trích trong ‘Sống Tin Mừng’)

Câu hỏi của Chúa Giêsu đặt ra cho các môn đệ vẫn còn vang dội tới ngày hôm nay, và trong giây phút này dường như Chúa Giêsu hiện diện giữa chúng ta, Ngài cũng đặt câu hỏi với từng người, trước hết là câu: “Người ta và những kẻ khác, theo quan niệm trần tục của con người thì họ nghĩ Thầy là ai?”.

Chúa Giêsu Kitô là một thực tại, một con người lịch sử đã sống thật trên mặt đất này tại vùng Palestina cách đây hơn 2,000 năm. Đây là một thực tại đầy mầu nhiệm, những kẻ sống đồng thời với Ngài, họ cũng nhìn thấy những việc lạ Chúa đã thực hiện, trước đó là phép lạ Chúa hóa bánh ra nhiều, nhưng họ không thể nhìn nhận ra thực tại Thần Linh của Chúa là Con Thiên Chúa Hằng Sống. Họ nhìn vào Chúa Giêsu như một tiên tri, một E?lia, một Gioan Tẩy Giả, một người chuẩn bị nhân loại cho Thiên Chúa, nhưng chưa phải là Thiên Chúa. Những kẻ khác thời Chúa Giêsu, trên quan điểm trần tục không được Thiên Chúa soi sáng, như Phêrô đã không nhận ra Chúa Giêsu Kitô là ai? Và các Tông Đồ đã kể lại cho Chúa nghe về các nhận xét của dân chúng xung quanh. Nhưng những kẻ khác, những kẻ ngoại chưa tin Chúa, không nhận ra Chúa, điều đó cũng chưa quan trọng đối với Ngài cho bằng chính những người mang tên là người đồ đệ của Chúa, là người Kitô mà lại không nhận ra Ngài.

Câu hỏi thứ nhất: “Người ta nghĩ Thầy là ai?”, chỉ là một câu hỏi phụ, câu hỏi nhập đề để gợi ý thức nơi các đồ đệ. Câu hỏi thứ hai quan trọng hơn: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?”. Mỗi người phải trực tiếp trả lời câu hỏi này bằng đức tin của mình đối với Chúa. Điều Chúa muốn không phải là một câu trả lời suông, ngoài môi miệng như một học trò trả bài giáo lý cho thầy giáo trong lớp: “Chúa Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế muôn dân”. Câu trả lời suông ngoài môi miệng như câu trả lời thuộc lòng bài giáo lý thì tương đối dễ, nhưng điều Chúa nhắm đến là lòng xác tín bên trong. Đức tin chân thật như là hồng ân từ Thiên Chúa Cha trao ban cho, ví như câu trả lời được ơn Thiên Chúa soi sáng hướng dẫn Phêrô đã mạnh mẽ trả lời với sự linh ứng của Thiên Chúa Cha: “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống”.

Chúa Giêsu xác nhận không phải xác thịt nhưng là Cha trên trời đã ban cho con, đã soi sáng cho con. Chính thái độ xác tín đức tin này là điều Chúa muốn nơi mỗi người chúng ta. Thái độ xác tín đức tin đó là hồng ân của Chúa Cha ban cho: “Không ai đến được với Thầy, nếu không được ơn Thiên Chúa Cha soi sáng và lôi kéo họ đến” (Jn 6,43.45). Chính thái độ xác tín đức tin này là khởi đầu và nền tảng của mọi sứ mạng Kitô. Thánh Phêrô đã nhận được sứ mạng: “Thầy trao cho con chìa khóa Nước Trời, con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy”. Phêrô đã nhận được sứ mạng đó sau khi đã tuân phục ơn soi sáng của Thiên Chúa Cha và mạnh mẽ tuyên xưng: “Thầy là Con Thiên Chúa”.

Mỗi người chúng ta đều cần có niềm xác tín này để có thể chu toàn sứ mệnh mà Thiên Chúa trao phó cho, là làm chứng cho Chúa trên trần gian này giữa anh chị em xung quanh. Sứ mạng đã khó nhưng niềm tin xác tín nơi mỗi người lại khó hơn hết, vì nơi mỗi người cũng có thể nói là có hai con người, một con người trần tục và một con người mới. Con người mới này được ân sủng thánh hóa, soi sáng hướng dẫn. Con người cũ có những thói hư tật xấu, suy tưởng theo những lý luận trần tục, xa rời chương trình của Thiên Chúa, khó mà tuyên xưng đức tin vào Thiên Chúa, khó mà trung thành với đức tin tuyên xưng này.

Thánh Phaolô đã cảm nghiệm được kinh nghiệm đức tin này nơi chính bản thân, nên đã thốt lên: “Tôi không làm điều tốt mà tôi ưa thích, nhưng lại làm điều xấu mà tôi không muốn”. Cuộc giằng co giữa ân sủng và tội lỗi, giữa tin và không tin đã làm cho ngài đôi khi mệt mỏi và xin Chúa hãy can thiệp cất đi điều ngài không muốn. Nhưng Chúa Giêsu đã nâng đỡ Phaolô: “Ơn Ta đủ cho ngươi, đừng lo”. Chính vì thế hơn ai hết, thánh Phaolô Tông Đồ đã trình bày cuộc sống trong ơn nghĩa Chúa như là một chiến đấu, một cuộc chạy đua, một cố gắng không ngừng cộng tác với ân sủng Chúa để mặc lấy con người mới, từ bỏ con người cũ để tuyên xưng đức tin, để trung thành với đức tin.

Trở lại với bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta nhận thấy thêm một điều nữa là, mặc dầu Phaolô đã có đôi lần sống theo con người cũ, con người trần tục, nhưng Chúa Giêsu không thay đổi chương trình, Ngài đã chọn Phaolô: “Ơn Ta đủ cho ngươi”. Ơn Chúa luôn luôn ban xuống tràn đầy, Chúa không hủy bỏ chương trình Ngài muốn thực hiện nhờ qua mỗi người, mặc dù đôi khi chúng ta không đáp lại hết lòng ân sủng của Chúa. Chúa muốn nhắn nhủ Phêrô, nhắn nhủ mỗi người “khi nào con trở lại hãy nâng đỡ củng cố anh em con”. Lời nhắn nhủ của Chúa cho Phêrô hãy biết thông cảm nâng đỡ cho anh em, vì chính ông cũng đã được Chúa thương tha thứ và nâng đỡ.

Thêm một bài học nữa cho mỗi người chúng ta là hãy cố gắng sống thánh thiện nơi chính bản thân mình và nâng đỡ những bất toàn, những sa ngã, những tội lỗi của anh em, xin Chúa gìn giữ chúng con trong đức tin và trung thành với Tin Mừng: “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống”.

Veritas Radio

“Con Thiên Chúa hằng sống”

“Con Thiên Chúa hằng sống”

Trong những giờ chầu Thánh Thể, ta vẫn hát: “Này con là Đá…”, để cầu nguyện cho Đức Thánh Cha. Lời hát như vang vọng tiếp nối một truyền thống thật xa lên đến giờ phút ở Xêđarê Philipphê khi Chúa Giêsu lập Giáo Hội với một nhóm nhỏ còn lang thang dong ruổi hành trình rao giảng Nước Trời, chưa hình thành một cơ cấu chặt chẽ và ổn định.

Không biết mỗi lần hát chúng ta có đủ lắng sâu để chiêm ngấm biến cố lạ lùng khi Chúa Giêsu quyết định đặt một con người mỏng manh đến thế để làm đầu Giáo Hội và làm đá tảng để Ngài xây dựng Giáo Hội của Ngài trên đó. Ngay chính khi vào giờ đó Phêrô cũng chưa mường tượng ra được Giáo Hội mà ông được trao phó cho trách nhiệm thánh thiêng và cao quý ngần ấy sẽ như thế nào và sẽ thành hình ra sao?

1. Một quyết định dựa trên mạc khải

Ở một địa điểm xa với những sinh hoạt chính trị và tôn giáo, Đức Giêsu đã muốn cho các môn đệ của mình có dịp đào sâu mối tương quan thân tình và sâu đậm với Ngài để rồi đến một lúc nào đó khi ân sủng đã đầy tràn, đã tác động nơi những con người mỏng dòn và nhỏ bé này thì Ngài đặt ra cho họ một câu hỏi trở nên căn bản cho mọi thời: “Còn các con, các con bảo Thầy là ai?”

Đức Giêsu là ai đối với các môn đệ quả thật là hệ trọng vì nó xác định mối tương quan thật sự giữa họ và Thầy mình. Điều nầy đã trở nên cốt thiết đến nỗi nó sẽ chi phối toàn thể cung cách sống và hoạt động của họ.

Nếu người ta không gặp và biết Đức Giêsu là ai. Thực sự là ai thì mọi nỗ lực xây dựng đều không có nền móng vững chắc. Chỉ cần một khủng hoảng, một biến động nào đó của hoàn cảnh đủ làm sụp đổ toàn bộ những kiến tạo vừa mới được thiết lập. Người ta có thể theo Chúa Giêsu một khoảng thời gian nào dó để rồi sẽ hối tiếc vì mình đã lầm tưởng và không thể đáp trả trước một đòi hỏi cho là quá lớn của một Đấng, mà mình chưa coi là số một của đời mình. Chúng ta thường thấy Chúa Giêsu nói câu này: “Lòng tin của con đã cứu chữa con” Ngài luôn muốn nối một cây cầu gặp gỡ với những ai lãnh nhận ơn lành của Ngài. Như vậy Ngài không chỉ bằng lòng với việc họ đã nhận được điều nầy điều nọ mà Ngài phải là ai đối với họ.

“Đức Giêsu thực sự là ai? “

Câu trả lời chính xác vẫn không nằm trong tầm tay của ta mà chỉ có ân sủng mới cho ta lời giải đáp trọn vẹn. Lời tuyên tín của Phêrô không phải là thành quả của việc tổng kết các lời nói việc làm của Đức Giêsu dẫn Phêrô đến chỗ khám phá ra chân tính của Đức Giêsu mà là một tác động thần linh đã soi tỏ cho Phêrô biết.

“Anh thật có phúc vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy mà là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời (Mt 16,17)

Bởi vì những gì thuộc về máu thịt, trí tuệ cùng lắm chỉ là một tiên tri hay tệ hơn chỉ là một vĩ nhân dù đó là vĩ nhãn số một của nhân loại. Nhưng hơn thế nữa: “Ngài là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống”. Để nghiệm được điều đó, đón nhận được mầu nhiệm ấy, không chỉ cần khiêm tốn của trí tuệ mà cần nhận được mặc khải từ nơi Thiên Chúa.

Lời tuyên tín của Phêrô tỏ cho thấy ông được Chúa Cha mặc khải cho mầu nhiệm cơ bản của Nước Trời và là dấu sự chọn lựa của Thiên Chúa. Đức Giêsu biết rằng đã đến lúc Ngài có thể khởi đầu việc đặt nền móng xây dựng một tòa nhà kiên cố liên quan đến toàn bộ chiều dài của lịch sử? “Trên táng đá nàyThầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” Một quyết định thật bất ngờ nhưng lai dựa trên ý định của Cha nơi mặc khải cua Ngài.

2. Hội thánh trên tảng đá sống

Khi thoáng nhìn một con thuyền nhỏ bé lênh đênh trên biển cả bao la, ta chợt có ý tưởng nghi ngại: một con thuyền như vậy liệu có thể vượt đại dương đầy sóng gió hãi hùng, đầy bão tố hiểm nguy để về đến bến bình yên không.

Cũng như vậy, tự nhiên ta sẽ nghĩ về Phêrô: ông cũng chỉ là một con người với vô vàn khuyết điểm, yếu đuối mà ta đã thấu rõ chất người của ông lúc ông sợ hãi can ngăn Chúa Giêsu lên Giêrusalem, khi ông nhát đảm chối bỏ Thầy trong dinh thượng tế. Thế mà ông lại được chọn để làm nền cho Giáo Hội và mọi quyền lực âm phủ không lay chuyển nổi.

Sự an toàn không ở nơi tảng đá sống đó mà ở nơi lời tác tạo của Đức Giêsu, lời bảo đảm cho công trình của Ngài. Chỉ có lời của Đức Giêsu làm nền tảng thực sự cho Giáo Hội vừa được chính thức thiết lập.

Phêrô – người và những đấng kế vị mãi là những viên đá sống động nên không thiếu những yếu hèn và khuyết điểm. Nhưng Thiên Chúa thì mạnh mẽ và trung tín với lời hứa của Ngài. Nhờ đó chúng ta sẽ không nao núng, hay thất vọng trước những yếu kém nào đó của những con người trong Giáo Hội. Chính Chúa sẽ thi thố quyền năng, giữ gìn và bảo vệ công trình tay Ngài dựng nên.

3. Cộng tác với ân sủng và khiêm tốn đón nhận

Chúa Giêsu đã không khen Phêrô có công trong lời tuyên tín chuẩn mực của ông. Tất cả đều là ơn nhưng không của Thiên Chúa, nhưng Phêrô diễm phúc vì đã để cho mặc khải của Thiên Chúa được tự do hành động trong con người của mình. Mặc khải đã đến trong tâm hồn, trí tuệ và lời nói của Phêrô đã bật ra thành lời tuyên xưng. Ông đã không cản trở tác động của ơn thánh mà cộng tác để làm lộ ra mặc khải Thiên Chúa ông đã nhận được nơi bản thân. Điều nầy có vẻ là một thái độ thụ động, nhưng thật ra đây cũng là một thái độ cần thiết đòi hỏi nỗ lực đón nhận và tự do ưng thuận. Thiên Chúa luôn để cho ta được tự do đáp trả điều Ngài muốn làm nơi ta, vì thế sẵn sàng mở cửa cho ơn thánh cũng là một thái độ cộng tác với ơn của Thiên Chúa. Ngài muốn dùng ta như trung gian ân huệ Thiên Chúa.

4. Câu hỏi dành cho mỗi người: “Đức Giêsu là ai đối với bạn?”

Câu hỏi ấy vẫn mãi vang lên trong Hội Thánh và giữa nhân loại. Không biết Đức Giêsu và không biết Ngài là ai đối với mình thì mọi chức vụ đều vô nghĩa. Người ta không thể phục vụ mà lại không biết rõ người sai gởi mình. Chính trong mối tương quan với đức Giêsu mà sau ngày Phục Sinh Đức Giêsu lại tiếp tục hỏi Phêrô về lòng yêu mến. Có biết đức Giêsu và yêu mến Ngài người ta mới có thể sống tận cùng sự phục vụ và yêu mến tha nhân.

Để biết Đức Giêsu, người ta sẽ phải tìm kiếm Ngài, hiểu biết Ngài và nhất là gặp gỡ Ngài. Nhờ những giờ phút gần gũi, những khoảnh khắc lắng nghe Lời Ngài, những thời gian sống cho Ngài, người ta sẽ có được một kinh nghiệm, một tương quan cá vị, và điều này sẽ giúp tăng tiến mối quan hệ với đức Giêsu.

“Đức Giêsu ai đối với tôi? “

Câu hỏi ấy dành cho chính tôi – Tôi sẽ trả lời thế nào? Không thể lấy lại những gì tôi đã nghe người khác nói về Ngài. Còn bản thân thì chưa biết Ngài như một em bé học giáo lý đã phải khóc thốt nên rằng “Sao ai cũng nói về một người tên là Giêsu, nhưng con chẳng biết ông là ai? Con chưa bao giờ gặp ông ấy!”

Tệ hơn nữa có khi ta vẫn cứ tuyên xưng: Đức Giêsu Kitô Con Thiên Chúa Hằng Sống mà thực sự ta chẳng hề tin, chẳng hề hiểu và chẳng hề sống lòng tin của mình.

Có lẽ chính chúng ta sẽ phải đi tại hành trình khám phá Đức Giêsu: nhìn lại những sợi dây nối kết chúng ta với đức Giêsu hơn là bằng lòng với những gì người khác nói cho ta về Ngài.

Lời Chúc phúc cho Phêrô hôm nay cũng sẽ là Lời chúc phúc cho tất cả những ai nhận thực Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, để rồi thể hiện rõ nét trong đời sống mình tuyên xưng mà chúng ta vẫn đọc trong Kinh Tin Kính: “Tôi tin kính Đức Giêsu Kitô Con một Thiên Chúa…”

 

Hội Thánh của Chúa

Hội Thánh của Chúa

“Con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”. Với lời này, Chúa Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh. Lời Chúa cho ta thấy những đặc tính của Hội Thánh.

Đó là một Hội Thánh cho con người.

Chúa Giêsu xây dựng Hội Thánh trên nền đá Phêrô. Phêrô vốn là một người yếu đuối. Đời ông nhiều thất bại hơn thành công, nhiều yếu đuối hơn mạnh mẽ. Đã từng ra khơi suốt đêm để sáng sớm trở về tay trắng. Đã từng chìm xuống khi muốn đi trên mặt nước. Đã từng ngủ mê khi phải canh thức với Thầy trước giờ tử nạn. Và tệ hại nhất là đã từng chối Thầy ba lần khi Thầy chịu khổ nạn. Nền tảng tượng trưng cho cả toà nhà. Nền tảng Phêrô là một con người yếu đuối cũng như cả Hội Thánh gồm những con người mỏng giòn. Những thất bại của Phêrô thường diễn ra trong bóng đêm. Đánh cả suốt đêm không được gì. Chìm xuống mặt nước lúc ban đêm. Ngủ gật trong vườn Cây Dầu khi trời tối. Chối Thầy trong bóng đêm. Đó là hình ảnh Hội Thánh còn phải lần mò đi trong đêm tối thử thách của thế giới với những yếu đuối của con người. Chúa dùng người yếu đuối để qui tụ những con người yếu đuối. Chúa sử dụng những phương tiện của con người để nâng đỡ con người.

Đó là một Hội Thánh của Thiên Chúa.

Tuy Hội Thánh dành cho con người, gồm những con người yếu đuối, nhưng đó lại là Hội Thánh của Thiên Chúa. Hội Thánh của Thiên Chúa vì chính Thiên Chúa thiết lập. Chúa Giêsu xác định đây là “Hội Thánh của Thầy”. Hội Thánh của Thiên Chúa nên sống bằng sức sống của Thiên Chúa chứ không bằng sức sống của con người. Thật vậy, Hội Thánh rất yếu đuối. Có những yếu đuối khi phải đương đầu với những khó khăn thử thách bên ngoài. Biết bao vua chúa đã muốn triệt hạ Hội Thánh khi Hội Thánh chỉ là một nhóm những người bé nhỏ nghèo hèn. Có những yếu đuối từ trong nội bộ. Biết bao lần chia rẽ, phân ly. Biết bao lỗi lầm tai hại tưởng như khiến Hội Thánh đổ nát tan tành. Nhưng Hội Thánh vẫn đứng vững với thời gian. Vì đó là Hội Thánh của Thiên Chúa.

Hiểu biết như thế, ta phải có thái độ thích hợp.

Vì Hội Thánh là chính chúng ta, những con người mỏng giòn, nên ta cần khiêm nhường. Khiêm nhường nhận biết mình yếu đuối. Khiêm nhường nhận biết Hội Thánh còn chưa thánh thiện. Khiêm nhường như thánh Phêrô suốt đời cầu xin lòng thương xót của Chúa. Khiêm nhường như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II công khai lên tiếng xin lỗi về những sai sót của Hội Thánh. Ta không chỉ khiêm nhường khi đấm ngực chuẩn bị dâng thánh lễ, mà còn phải khiêm nhường trong đời sống hằng ngày.

Vì Hội Thánh là cho con người nên ta cần có thái độ cảm thông. Biết mình yếu đuối, tôi sẽ dễ cảm thông với những yếu đuối của anh em. Cảm thông không phải để mặc anh em chìm xuống, những để giúp anh em vượt lên. Như lời Chúa dạy Phêrô: “Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh” (Lc 22, 32)

Vì Hội Thánh là của Chúa nên ta phải hoàn toàn tin tưởng vào Chúa. Biết mình u mê, ta sẽ phó thác cho Chúa hướng dẫn cuộc đời. Biết mình yếu đuối, ta sẽ không còn cậy dựa vào sức riêng, nhưng hoàn toàn tin tưởng vào Chúa, làm việc bằng sức mạnh của Chúa. Như thánh Phêrô giảng đạo trong ngày lễ Ngũ Tuần nhờ ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn.

Chính Chúa là sức mạnh của Hội Thánh. Phêrô là Đá Tảng nhưng chính Chúa làm cho Đá Tảng vững bền. Phêrô giữ chìa khóa nhưng chính Chúa gìn giữ tòa nhà.

Lạy Chúa, xin thánh hoá Hội Thánh Chúa. Amen.

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Đối với bạn, Đức Giêsu Kitô là ai?

Đối với bạn, Đức Giêsu Kitô là ai?

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Đức Giêsu, một nhân vật lịch sử đã chết và sống lại gần 2000 năm rồi. Thế mà nhân loại ngày nay, trước ngưỡng cửa của thiên niên kỷ thứ ba, vẫn còn đặt lại câu hỏi đã được đặt từ lúc Đức Giêsu giáng sinh: “Đức Giêsu Kitô là ai?”

Ngài đã trở thành “siêu sao” (Jesus, Super Star) trong các tác phẩm văn chương, âm nhạc cũng như trên màn ảnh, cả đối với các tác giả không chia sẻ niềm tin vào Đức Giêsu nữa. Nhà văn Aimatov trong tác phẩm “Đoạn đầu đài” đã nói lên những cảm nghĩ và trăn trở của mình về Đức Giêsu và về cây thập tự của Ngài. Dumbatze trong tác phẩm “Quy luật muôn đời” hay Abuladze trong phim “Sám hối”và Nikos Kazantzakis trong tác phẩm “Chúa lại bị đóng đinh”hay trong “Cám dỗ cuối cùng của Chúa”, cuốn tiểu thuyết được dựng thành phim đã gây nhiều phẫn nộ trong giới Kitô giáo. Tất cả đều đặt vấn đề về Đức Giêsu.

Tuy nhiên, những Đức Giêsu mang tính thời sự đó, dẫu có hay và lôi cuốn, vẫn chưa phải là Đức Giêsu đích thực của lịch sử, cũng không phải là đức Giêsu của lòng tin, Đức Giêsu của Tin Mừng. Chẳng qua các tác giả đó chỉ mượn dung mạo của Đức Giêsu để ký thác một điều gì trong thâm tâm mình. Cùng lắm, đối với họ, Đức Giêsu cũng chỉ là một bậc thầy rất có thế giá của quá khứ, hay một con người đáng nguyền rủa, nhục mạ của hiện tại.

Đối với các môn đệ của Chúa Giêsu cũng thế. Khi Chúa Giêsu hỏi các ông: “Người ta bảo Thầy là ai?” các ông cho biết: có những người đánh giá rất cao, họ coi Ngài như một Ngôn sứ có tầm cỡ, như Êlia hay Giêrêmia là những ngôn sứ nổi danh bậc nhất trong lịch sử Do Thái. Trái lại, có những đối thủ lại coi Ngài như một người Samari lạc đạo, như một người bị quỷ nhập, như một tên phỉnh gạt hay một tay xách động dân chúng… Riêng đối với các môn đệ thân tín bên Chúa Giêsu, chắc hẳn các ông đã biết rõ Ngài hơn. Chúa Giêsu đã muốn các môn đệ xác định nhận thức của họ về Ngài. Dân chúng thì nghĩ về Thầy như thế, “còn anh em, anh em nghĩ Thầy là ai?” Simon Phêrô đã nói lên nhận xét của các môn đệ: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Lời tuyên xưng đức tin này chúng ta đã gặp trong giai thoại của Chúa Giêsu cứu Phêrô khỏi chết chìm và khiến sóng gió im lặng. Khi Ngài bước lên thuyền, những người ở trong thuyền, tức là các môn đệ, sấp mình dưới chân Ngài mà nói: “Thật, Thầy là Con Thiên Chúa”. Ở đây, Chúa Giêsu khẳng định lời tuyên xưng này là hiệu quả của ơn mạc khải “do Thiên Chúa Cha của Ngài trên trời”, càng cho chúng ta có quyền nghĩ rằng Phêrô đã thấy được một số nét đặc biệt siêu phàm trong con người của Thầy mình. Chúa Giêsu còn mạc khải thêm cho Phêrô một điều khác cũng quan trọng đặc biệt không kém đối với bản thân ông: “Này, anh tên là Đá, trên Tảng Đá này Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy, và các quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi”. Chúa Giêsu còn trao cho Phêrô trách nhiệm giữ “chìa khóa Nước Trời”, trách nhiệm “cầm buộc hay tháo gỡ”được cả trên trời dưới đất đều chấp hành.

Trao chìa khóa nhà mình cho ai, có nghĩa là tín nhiệm và nhờ cậy người ấy coi sóc nhà mình. Người được trao chìa khóa có quyền đóng mở, ra vào, mà không bị coi là kẻ trộm, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm nặng nề canh chừng kẻ xấu, người gian. Chọn lựa, trao gởi trách nhiệm vẫn làđường lối của Chúa đối với Giáo Hội, đối với chúng ta. Tiêu chuẩn để được chọn lựa, tín nhiệm trao gởi trách nhiệm không phải là sự trổi trang về tài năng hay đức độ, mà là lòng tin. Không phải là một Phêrô yếu đuối tầm thường nữa, nhưng là một Phêrô Đá Tảng, người có lòng tin, có sức nâng đỡ cả Giáo Hội của Chúa Kitô. Phêrô đã tuyên xưng lòng tin vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, không chỉ một lần bằng lời tuyên xưng ấy mà thôi, mà bằng cả một cuộc đời không ngừng tuyên xưng lòng tin cho đến lúc tuyên xưng quyết liệt cuối cùng bằng cái chết đóng đinh thập giá như Thầy mình.

“Còn anh em, anh em nghĩ Thầy là ai?”. Câu hỏi Chúa Giêsu đặt cho các môn đệ không ngừng vang dội suốt 20 thế kỷ nay đến chúng ta. Nó chất vấn mỗi người chúng ta hôm nay hơn bao giờ hết. Phải, đối với tôi, Đức Giêsu Kitô là ai? Phản ứng đầu tiên là im lặng, suy nghĩ, có khi với niềm vui, có khi có một sự ngại ngùng vì câu hỏi mang nặng hậu quả. Câu hỏi chạm đến tận cõi thâm sâu của cuộc đời tôi. Nó buộc tôi phải chọn, một chọn lựa kéo theo nhiều việc khác nữa. Nhưng vì là câu hỏi hệ trọng nhất, nên tôi không thể lẫn tránh được. Chúng ta không thể chỉ tuyên xưng bằng hành động, bằng việc làm cụ thể. Lắm khi sự tuyên xưng chân chính còn đòi buộc chúng ta phải trả giá bằng chính mạng sống của mình. Phải, một khi chúng ta đã thực sự tin Đức Giêsu rồi, thì đời ta sẽ phải gắn chặt vào Ngài cho đến chết thôi. Và chết cũng chưa hết, còn cả cuộc sống đời đời nữa.

Ngày nay, chúng ta đang sống trong một thế giới thực nghiệm và duy vật chất. Lời nói trên lý thuyết có hay ho cao siêu đến mấy, nếu không được chứng minh bằng đời sống cụ thể, thì thiên hạ sẽ chẳng ai tin chúng ta. Đức Giêsu Kitô là ai? Chúng ta có giảng giải cặn kẽ về nguồn gốc và thân thế của Ngài, người ta có lắng nghe, có theo dõi, nhưng điều người ta theo dõi nhất là coi những người tin theo Đức Giêsu sống ra sao, ăn ở như thế nào, có thái độ thế nào với những công việc mưu cầu lợi ích chung, hạnh phúc chung của mọi người. Và từ đó, người ta sẽ suy nghĩ coi Chúa Giêsu của chúng ta là ai. Việc sống đạo của chúng ta, những người tin Chúa Giêsu, là phải chứng tỏ rằng, Chúa Giêsu thật là Chúa cuộc đời chúng ta, ngay trong chính cách chúng ta sống Tin Mừng yêu thương, phục vụ của Chúa Giêsu.

Đức Giêsu Kitô là ai?

Thưa anh chị em, Ước gì cuộc đời mỗi người chúng ta trở thành một câu trả lời sống động cho Chúa Giêsu, cho anh chị em và cùng với anh chị em, trả lời cho cả xã hội ngày nay rằng: Đức Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa làm người đang sống ở giữa chúng ta.

Công bố chủ đề Ngày Hòa Bình Thế Giới 2015

Công bố chủ đề Ngày Hòa Bình Thế Giới 2015

VATICAN. ĐTC đã chọn chủ đề cho Ngày Hòa Bình thế giới lần thứ 48 cử hành ngày 1-1 năm 2015 là ”Không còn là nô lệ, nhưng là anh chị em”.

Trong thông cáo hôm 21-8-2014 để công bố chủ đề do ĐTC chọn, Hội đồng Tòa Thánh công lý và hòa bình giải thích rằng người ta thường nghĩ nạn nô lệ là một điều thuộc về quá khứ, trong thực tế tệ đoan này vẫn nhan nhản trong xã hội ngày này.

Sứ điệp Ngày Hòa Bình thế giới 1-1 năm 2014 đã bàn về ”Tình huynh đệ, nền tảng và là con đường dẫn đến hòa bình”. Sự kiện tất cả là con cái Thiên Chúa làm cho mọi người trở thành anh chị em với nhau, có phẩm giá bình đẳng. Nạn nô lệ giết chết tình huynh đệ đại đồng ấy, và do đó nó cũng giết chết hòa bình. Thực vậy, chỉ có hòa bình khi con người nhìn nhận tha nhân là anh chị em có cùng phẩm giá.

Trên thế giới, nạn nô lệ có nhiều bộ mặt kinh tởm khác nhau, như nạn buôn người, buôn bán những người di dân, nạn mại dâm, bó buộc lao động như nô lệ, người bóc lột người, não trạng đối xử với phụ nữ và trẻ em như nô lệ.
Hội đồng Công lý và hòa bình cũng tố giác rằng có nhiều cá nhân và nhóm đầu cơ nô lệ một cách ô nhục, họ lợi dụng bao nhiêu cuộc xung đột hiện nay trên thế giới, bối cảnh khủng hoảng kinh tế và tham ô hối lộ. Nạn nô lệ thực là một vết thương kinh khủng trong xã hội hiện nay và là một vết thương rất trầm trọng trong thân mình của Chúa Kitô!”

Để ngăn chặn hữu hiệu nạn nô lệ, trước tiên cần nhìn nhận phẩm giá bất khả xâm phạm của mỗi người, và kiên trì tham chiếu tình huynh đệ, vượt thắng sự chênh lệch có thể làm cho người này trở thành nô lệ cho người khác.
Đối tượng cần nhắm tới là xây dựng một nền văn minh dựa trên phẩm giá bình đẳng của mọi người, không phân biệt ai. Để được vậy cần dấn thân thông tin, huấn luyện, xây dựng một nền văn hóa cổ võ một xã hội được đổi mới và thấm đượm tinh thần tự do, công lý và hòa bình.

Ngày Hòa bình thế giới do Đức Phaolô 6 thiết lập và cử hành vào ngày 1 tháng giêng mỗi năm. Sứ điệp của của các vị Giáo Hoàng nhân ngày này được gửi đến các chính phủ trên thế giới và cũng cho thấy hướng đi ngoại giao của Tòa Thánh trong năm mới bắt đầu (SD 21-8-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Chúa Kitô không loại bỏ các nền văn hóa nhưng đưa chúng tới chỗ thành toàn

Chúa Kitô không loại bỏ các nền văn hóa nhưng đưa chúng tới chỗ thành toàn

Trong lịch sử đức tin tại Đại Hàn người ta thấy Chúa Kitô không hủy bỏ các nền văn hóa, không xóa bỏ con đường của các dân tộc, qua các thế kỷ và các kỷ nguyên tìm kiếm sự thật và thực thi tình yêu thương đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Chúa Kitô không loại bỏ điều tốt lành, nhưng làm cho nó tiến tới và đưa nó tới chỗ thành toàn.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với các tín hữu và du khách hành hương tham dự buoi tiếp kiến sáng thứ tư 20-8-2014 trong đại thính đường Phaolô VI ở nội thành Vaticăng.

Như qúy vị và các bạn biết, Đức Thánh Cha vừa mới công du Nam Hàn về, vì thế trong bài huấn dụ ngài đã chia sẻ với tín hữu kinh nghiệm và một số cảm tưởng của ngài. Đức Thánh Cha nói: Trong những ngày vừa qua tôi đã hoàn thành chuyến tông du bên Đại Hàn, và hôm nay cùng anh chị em tôi cảm tạ Thiên Chúa vì ơn trọng đại này. Tôi đã có thể viếng thăm một Giáo Hội trẻ trung và năng động, được xây dựng trên chứng tá của các vị tử đạo và được linh hoạt bởi tinh thần truyền giáo, trong một đất nước, nơi các nền văn hóa á châu và sự mới mẻ trường tồn của Tin Mừng gặp gỡ nhau.

Tôi muốn một lần nữa bầy tỏ lòng biết ơn của tôi đối với các anh em Giám Mục thân mến của Đại Hàn, với bà tổng thống Cộng hòa, các giới chức lãnh đạo và tất cả những ai đã cộng tác vào chuyến viếng thăm này.

Ý nghĩa của chuyến tông du có thể được cô đọng trong ba từ: ký ức, hy vọng và chứng tá. Cộng Hòa Đại Hàn là một quốc gia đã có một sự phát triển kinh tế đáng kể và nhanh chóng. Dân chúng là những người làm việc chăm chỉ, có kỷ luật, trật tự và phải duy trì sức mạnh đã thừa hưởng của cha ông.

Trong tình trạng này Giáo Hội là người giữ gìn ký ức và niềm hy vọng: đó là một gia đình thiêng liêng trong đó người lớn thông truyền cho giới trẻ ngọn đuốc đức tin đã nhận được từ người già; ký ức của các chứng nhân trong hiện tại và niềm hy vọng trong tương lai. Trong viễn tượng này có thể đọc hai biến cố chính của chuyến viếng thăm: việc phong chân phước cho 124 vị Tử Đạo Đại Hàn, thêm vào số các vị đã được phong hiển Thánh cách đậy 30 năm bởi Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II; và cuộc gặp gỡ với giới trẻ nhân Ngày giới trẻ công giáo Á châu kỳ 6.

Người trẻ luôn luôn là một con người tìm kiếm cái gì đáng để sống, và vị Tử đạo làm chứng tá cho cái gì đó, còn hơn thế nữa cho Một Ai Đó, đáng để hiến mạng sống mình cho Vị ấy. Thực tại này là Tình Yêu của Thiên Chúa, đã nhập thể nơi Đức Giêsu, Chứng Nhân của Thiên Chúa Cha. Trong hai thời điểm của chuyến viếng thăm dành cho giới trẻ Thần Khí của Đấng Phục Sinh đã làm cho chúng tôi tràn ngập niềm vui và niềm hy vọng, mà các người trẻ sẽ đem theo về trong các quốc gia khác nhau, và nó sẽ sinh biết bao thiện ích!

Giáo Hội tại Đại Hàn cũng giữ gìn ký ức và vai trò ưu tiên, mà các giáo dân đã có ngay từ thời bắt đầu của đức tin, cũng như trong công tác rao truyền Tin Mừng. Thật thế, trên phần đất này cộng đoàn kitô đã không được thành lập bởi các thừa sai, nhưng bởi một nhóm người trẻ đại hàn thuộc hậu bán thế kỷ 18. Họ bị hấp dẫn bởi vài văn bản kitô, họ học hiểu chúng và chọn chúng làm luật sống. Một người trong nhóm họ đã được gửi sang Bắc Kinh để lãnh nhận bí tích Rửa Tội, và rồi, tới lượt mình, giáo dân đó đã rửa tội cho các bạn. Từ hạt nhân đầu tiên đó đã phát triển một cộng đoàn lớn, ngay từ ban đầu và trong khoảng một thế kỷ đã chịu các bắt bớ tàn bạo, với hàng ngàn vị tử đạo. Như vậy Giáo Hội tại Đại Hàn đã được xây dựng trên đức tin, trên dấn thân truyền giáo và sự tử đạo của các giáo dân trung thành.

Các kitô hữu đại hàn đầu tiên lấy cộng đoàn kitô tiên khởi Giêrusalem thời các tông đồ làm mô thức, bằng cách thực thi tình yêu thương huynh đệ vượt mọi khác biệt xã hội. Vì thế tôi đã khích lê các kitô hữu ngày nay quảng đại trong việc chia sẻ với các anh chị em nghèo túng và các người bị gạt bỏ, theo Tin Mừng thánh Mátthêu chương 25: ”Tất cả những gì các ngươi đã làm cho một trong những người anh em bé mọn nhất của Ta, là đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40).

Anh chị em thân mến, trong lịch sử đức tin tại Đại Hàn người ta thấy Chúa Kitô không hủy bỏ các nền văn hóa, không xóa bỏ con đường của các dân tộc, qua các thế kỷ và các kỷ nguyên tìm kiếm sự thật và thực thi tình yêu thương đối với Thiên Chúa và đối với tha nhân. Chúa Kitô không loại bỏ điều tốt lành, nhưng làm cho nó tiến tới và đưa nó tới chỗ thành toàn.

Trái lại, điều mà Chúa chiến đấu và đánh bại là kẽ dữ, kẻ gieo cỏ lùng giữa con người với nhau, giữa các dân tộc với nhau. Nó gieo thuốc độc của hư vô trong trái tim người trẻ. Điều này thì Chúa Giêsu Kitô đã chiến đấu và đã thắng với Hy tế tình yêu của Người. Và nếu chúng ta ở trong Người, trong tình yêu của Người, thì cả chúng ta nữa, như các vị Tử Đạo, chúng ta có thể sống và làm chứng cho chiến thắng của Người. Với niềm tin này chúng tôi đã cầu nguyện và giờ đây chúng tôi cũng cầu nguyện để mọi con cái của đất nước Đại Hàn, đang chịu đau khổ vì các hậu qủa của chiến tranh và chia rẽ, có thể hoàn thành con đường của tình huynh đệ và sự hòa giải.

Chuyến công du này đã được soi sáng bởi lễ Đức Maria hồn xác lên trời. Từ trên cao, nơi Mẹ hiển trị với Chúa Kitô, Mẹ Giáo Hội đồng hành với lộ trình của dân Chúa, nâng đỡ các bước chân mệt mỏi nhất, an ủi những người đang sống trong thử thách, và giữ gìn cho chân trời của niềm hy vọng được rộng mở. Nhờ lời bầu cử hiền mẫu của Mẹ, xin Chúa luôn chúc lành cho dân tôc Đại Hàn, ban cho họ bòa bình và thịnh vượng, và xin Chúa chúc lành cho Giáo Hôi sống trên vùng đất này, để Giáo Hội luôn luôn phong phú và tràn đầy niềm vui của Phúc Âm.

Đức Thánh Cha đã chào nhiều nhóm tín hữu hiện diện. Chào các nhóm nói tiếng Pháp ngài mời gọi mọi người cầu nguyện cho toàn Giáo Hôi và các cộng đoàn Á châu, cũng như cho tất cả các kitô hữu bị bách hại trên thế giới, cách riêng các kitô hữu tại Irak, cũng như cho các nhóm tôn giáo thiểu số không kitô nhưng cũng bi bách hại. Ngài chào một gia đình Pháp về Roma hành hương với 6 người con và hai con lừa.

Đức Thánh Cha cũng chào các trẻ em giúp lễ đảo Malta và cám ơn các em đã giúp lễ tại đền thờ Thánh Phêrô trong tháng vừa qua. Ngỏ lời với các đoàn hành hương nói tiếng Đức ngài chào các anh chị em Đại Hàn sống tại Đức, Áo và Thụy Sĩ về hành hương Roma. Ước chi chúng ta có thể học từ nhau và nâng đỡ nhau trong đức tin. Chúng ta hãy tin tưởng cầu xin Thiên Chúa để nhân dân Đại Hàn khổ đau vì các hậu qủa của chiến tranh và chia rẽ có thể hoàn thành con đường hòa giải trọn vẹn.

Chào các tín hữu Ba Lan Đức Thánh Cha nói ngài hướng tới Ngày quốc tế giới trẻ tại Cracovia, và cầu xin cho các chuẩn bị là dịp cho tất cả mọi người đào sâu đức tin, đức cậy và đức mến. Ngài đặc biệt cám ơn các bạn trẻ đã tham dự các buổi tĩnh tâm hay hành hương trong mùa hè để bầy tỏ lòng yêu mến và cầu nguyện theo các ý chỉ của ngài.

Chào các tín hữu Italia Đức Thánh Cha ca ngợi lòng can đảm của các tham dự viên hành hương bằng canô từ Loreto về Roma, cũng như đoàn hành hương Pháp đi lừa về Roma. Bên cạnh đó là các tham dự viên cuộc hành hương Phanxicô cho hóa bình đi bộ từ đảo Siclila về Assisi. Ngài cầu chúc các sáng kiến này thúc đẩy mọi người dấn thân cho hòa bình trên thế giời.

Ngài cũng cám ơn tín hữu về các lời chia buồn vì tai nạn xe hơi xảy ra cho gia đình ngài bên Argentina, khiến cho vợ và hai con của môt người cháu ruột tử nạn. Ngài nói: Đức Giáo Hoàng cũng có một gia đình. Chúng tôi gồm 5 anh em, tôi có 16 đứa cháu, và một trong các người cháu này đã bị tai nạn xe hơi. Vợ và hai con nhỏ một tuổi và mấy tháng bị chết, còn anh ta đang trong tình trạng nguy kịch ở nhà thương. Tôi xin cám ơn anh chị em rất nhiều về các lời chia buồn và cầu nguyện.

Chào các bạn trẻ Đức Thánh Cha mời gọi họ luôn học nhìn lên Mẹ Maria và khẩn cầu Mẹ để đừng bị tội lỗi chiến thắng, và có thể sống các hoa trái của ơn thánh mà Chúa Giêsu Con Mẹ đem đến cho chúng ta.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

Đức Thánh Cha Phanxicô công du mục vụ Philippines

Đức Thánh Cha Phanxicô công du mục vụ Philippines

Phỏng vấn Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Tổng Giám Mục Manila

Ngày 29-7-2014 Phòng Báo Chí Tòa Thánh đã loan báo Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ viếng thăm mục vụ Sri Lanka trong các ngày 12-15 tháng giêng năm 2015, và tại Philippines trong các ngày 15-19 tháng giêng năm 2015.

Philippines rộng 300,000 cây số vuông, bao gồm 7,107 đảo lớn nhỏ, có 100 triệu dân thuộc nhiều chủng tộc khác nhau, trong đó 10 nhóm chính sau đây: Bisayaa hơn 20 triệu người, Tagalog hơn 13 triệu, Ilocani hơn 9 triệu, Hiliganon hơn 8 triệu, Bicolani hơn 3 triệu, Waray-Waray hơn 3 triệu, Kapampangan hơn 2.5 triệu, Hispanofilippini hơn 2.5 triệu, Albay Bicolani hơn 2.1 triệu, và Panggasinan hơn 1.6 triệu. Ngoài ra còn có 11 triệu người Philippines sống tại các nước ngoài, đa số là các công nhân có hợp đồng làm việc.

Nếu chia theo vùng địa lý, Philippines gồm ba miền Luzon, Visayas và Mindanao. Trong nhiều thập niên qua các cải cách kinh tế đã khiến cho lãnh vực thứ ba vượt nông nghiệp là nguồn lợi kinh tế chính, và hiện nay lãnh vực này đem lại hơn phân nửa lợi tức quốc gia. Tuy nhiên Philippines vẫn còn phải đương đầu với nhiều thách đố trong các lãnh vực cơ cấu hạ tầng, y tế và phát triển nhân bản.

Vào thời tiền sử, cách đây 30,000 năm người da đen Philippines đã là các nhóm dân đầu tiên của quần đảo này. Tiếp theo đó có các làn sóng di cư của các dân tộc khác như Malaysia, Ấn độ và người Hồi. Trong khi nền thương mại đã đem theo các ảnh hưởng văn hóa Tàu.

Năm 1521 nhà thám hiểm người Tây Ban Nha là Ferdinando Magellano đến đảo Homonhon, nằm ở mạn đông nam đảo Samar ngày mùng 6 tháng 3 năm 1521, bắt đầu một kỷ nguyên ảnh hưởng của Tây Ban Nha, rồi sau đó là ách thống trị của người Tây Ban Nha trên người dân bản địa. Manila trở thành trung tâm kinh tế của đế quốc Tây Ban Nha tại Á châu. Tên gọi Philippines bắt nguồn từ tên của vua Filippo của Tây Ban Nha. Trong các cuộc thám hiểm của mình ông Ruy López de Villalobos gọi vùng này là các Islas filippinas, các Đảo Philippines, nhằm vinh danh ông Hoàng của vùng Asturie, ban đầu chỉ có ý ám chỉ hai đảo Leyte và Samar. Sau đó từ Filippinas được dùng để chỉ toàn vùng quần đảo này.

Chế độ thực dân của Tây Ban Nha bắt đầu với đoàn quân viễn chinh của Miguel López de Legazpi trấn đóng trên đảo Cebu. Sau đó nhiều căn cứ khác được thành lập tại mạn bắc và trong vịnh Manila trên đảo Luzon. Người Tây Ban Nha xây một thành phố mới tại đây và chế độ thực dân kéo dài hơn ba thế kỷ.

Người Tây Ban Nha đem lại sự thống nhất chính trị của quần đảo trước đó bao gồm các đảo độc lập, và làm nảy sinh ra cộng đoàn sau này là nước Philippines. Chính quyền Tây Ban Nha du nhập các yếu tố của nền văn minh Tây âu như ấn loát và lịch.

Philippines bị độ hộ như là vùng đất của nước Tây Ban Nha Mới từ năm 1565 cho tới năm 1821, và do triều đình Madrid trực tiếp quản nhiệm. Trong thời thực dân Tây Ban Nha có nhiều thành phố được thành lập, các cơ sở hạ tầng được xây cất, việc canh tác và chăn nuôi súc vật mới được đẩy mạnh, và sinh hoạt thương mại trở nên phồn thịnh. Các thừa sai rao giảng Tin Mừng cho người dân bản địa và đa số theo Kitô giáo. Giáo Hội xây cất các nhà thờ, thành lập các giáo xứ, xây các trường tiểu, trung và đại học, cũng như các nhà thương, bệnh xá rải rác trên toàn nước.

Trong hai thế kỷ XIX và XX đã xảy ra một loạt các cuộc xung đột như cuộc cách mạng Philippines chống lại Tây Ban Nha năm 1896, chiến tranh Tây Ban Nha – Hoa Kỳ và chiến tranh Philippines Hoa Kỳ. Năm 1898 Philippines tuyên bố độc lập, trở thành Cộng Hóa Philippines. Tuy nhiên, với Thỏa hiệp Paris năm 1898 kềt thúc cuộc chiến giữa Hoa Kỳ và Tây Ban Nha, việc kiểm soát Philippines được chuyển giao cho Hoa Kỳ. Nhưng chính quyền Philippines không chấp nhận thỏa hiệp này và tháng 6 năm 1899 Philippines tuyên chiến với Hoa Kỳ.

Chiến tranh đã gây ra rất nhiều thiệt hại vật chất và nhân mạng cho Philippines. Tổng thống Emilio Aguinaldo bị bắt năm 1901. Đa số các vị lãnh đạo Philippines chấp nhận chiến thắng của Hoa Kỳ, nhưng sự thù nghịch giữa hai bên kéo dài cho tới năm 1913. Chế độ thực dân Hoa Kỳ chính thức bắt đầu năm 1905. Năm 1935 Philippines được phần nào tự trị để chuẩn bị cho ngày độc lập dự kiến vào năm 1946. Nhưng Philippines bị Nhật chiếm đóng trong Đệ Nhị Thế Chiến.

Vào cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 có các cuộc biểu tình của sinh viên học sinh chống chính sách cai trị độc tài và gian tham hối lộ của chính quyền khiến tổng thống Ferdinand Marcos ra lệnh thiết quân luật năm 1972. Nhưng cuộc cách mạng của nhân dân năm 1986 đã lật đổ chế độ Marcos và đưa Philippines vào chế độ đân chủ. Tuy nhiên, bất ổn chính trị đã ngăn cản sự tăng trưởng kinh tế của nước này.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn một số nhận định của Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle, Tổng Giám Mục Manila, về chuyến công du này của Đức Thánh Cha.

Hỏi: Thưa Đức Hồng Y, Giáo Hội và nhân dân Philippines phản ứng ra sao khi Tòa Thánh chính thức loan tin Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ viếng thăm mục vụ Philippines vào tháng giêng năm tới 2015?

Đáp: Nhân dân Philippines yêu mến Đức Thánh Cha và việc loan báo chuyến viếng thăm Á châu, đặc biệt là tại Philippines, vào năm tới đã khiến cho người dân rất vui sướng. Đây thật là một điều tuyệt vời. Các tín hữu không công giáo, các phương tiện tryền thông xã hội, các đài phát thanh truyền hình, tất cả mọi người dân Philippines đều luôn luôn nói tới chuyến viếng thăm sắp tới của Đức Thánh Cha vào tháng giêng năm tới như là một tháng ơn phúc. Và cũng còn có một lý do khác nữa: ngày 14 tháng giêng năm 1995 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viếng thăm Philippines nhân Ngày Quốc Tế Giới Trẻ. Năm tới đây Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ đến Philippines ngày 15 tháng giêng, tức 20 năm sau. Nhân dân Philippines sẽ lại trông thấy một vị Đại Diện Chúa Kitô thăm mình, nơi con người của Đức Giáo Hoàng Phanxicô.

Hỏi: Đức Thánh Cha nói rằng ngài đến Philippines nhất là để cầu nguyện và gần gũi các nạn nhân của trận bão đổ ập trên Philipines hồi năm ngoái, khiến cho nhiều người chết và gây ra các thiệt hại to lớn. Đức Thánh Cha đến để bầy tỏ sự gần gũi với người dân đau khổ…

Đáp: Vâng đúng thế, một dân tộc đau khổ, đang ở trong tiến trình tái thiết cuộc sống: không phải chỉ tái thiết nhà cửa, các trường học, nhưng đặc biệt là tái thiết cuộc sống. Nỗi khổ đau tiếp tục, nhưng sự gần gũi của tất cả mọi dân tộc thiện chí thật là ngoại thường và là một lý do giúp cho người dân có niềm hy vọng và sức mạnh tiến tới. Tuy nhiên, sự gần gũi của Đức Thánh Cha xảy ra trong một cách thế đặc biệt, bởi vì cách đây một năm Đức Thánh Cha đã làm phép bức chân dung khảm đá mầu của Thánh Pedro Calungsod, trong Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, sau trận bão, và ngài đã nhắn gửi người dân đau khổ Philippines: ”Anh chị em không mệt mỏi hỏi: Tại sao? Tại sao?” để lôi kéo sự chú ý và đôi mắt của Thiên Chúa Cha”. Đó là sứ điệp đánh động người dân Philippines.

Hỏi: Thưa Đức Hồng Y, vào trung tuần tháng 8 Đức Thánh Cha Phanxicô thực hiện chuyến viếng thăm đầu tiên tại Á châu. Ngài đến Nam Hàn để tham dự Ngày Giới Trẻ Á châu và chủ sự lễ phong chân phước cho 124 vị tử đạo Đại Hàn. Giáo phận cũ của Đức Hồng Y đã là nơi tổ chức Ngày Giới Trẻ Á châu lần thứ V. Đức Hồng Y có thể chia sẻ một chút về thực tại này và cho biết sự chờ đợi Đức Thánh Cha tại Á châu ra sao không?

Đáp: Vâng, cách đây 4-5 năm giáo phận trước của tôi đã được chọn như là nơi diễn ra Ngày Giới Trẻ công giáo Á châu. Đó đã là một đại hội bé của người trẻ Á châu, nếu so sánh với Ngày Quốc Tế Giới Trẻ. Tuy nhiên, những ngày ấy đã là là những ngày có nhiều sinh hoạt đào tạo, cầu nguyện, hiệp thông và truyền giáo. Và tôi nghĩ rằng nó cũng xảy ra như thế tại Seoul bên Nam Hàn, với một chi tiết rất đặc biệt đó là sự hiện diện của Đức Thánh Cha Phanxicô. Đây là một yểm trợ cho một Giáo Hội đau khổ nhưng sinh động tại Đại Hàn.

(RG 1-8-2014)

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Thánh Cha họp báo trên máy bay

Đức Thánh Cha họp báo trên máy bay

Pope Francis visit to South Korea

VATICAN. ĐTC xác nhận sự hợp pháp của việc dùng võ lực để chặn kẻ gây hấn bất chính, ngài cũng nhìn nhận cần phải làm cho công việc của ngài nhẹ bớt để giữ sức khỏe, nhưng sẵn sàng từ nhiệm theo gương vị tiền nhiệm Biển Đức 16 khi không còn làm việc được nữa.

Trên đây là một trong nhiều điểm được ĐTC đề cập đến trong cuộc họp báo dài một tiếng đồng hồ trên máy bay từ Hàn quốc trở về Roma hôm 18-8-2014.

Trả lời câu hỏi của một ký giả người Mỹ về việc không quân Hoa Kỳ oanh kích những kẻ khủng bố Hồi giáo để ngăn chặn cuộc diệt chủng, ĐTC nói: ”Trong những trường hợp này, khi có một sự gây hấn bất công, tôi chỉ có thể nói là được phép ngăn chặn kẻ gây hấn bất chính. Tôi nhấn mạnh động từ ”ngăn chặn” (fermare), tôi không nói là bỏ bom, gây chiến. Cần phải thẩm định các phương thế để ngăn chặn. Nhưng chúng ta cũng phải nhớ: bao nhiêu lần viện cớ ngăn chặn kẻ gây hấn bất công, các cường quốc đã chiếm đóng và thống trị các dân tộc và biến thành một cuộc chiến tranh chinh phục! Một quốc gia một mình không thể thẩm định phải ngăn chặn kẻ gây hấn bất công cách nào. Sau thế chiến thứ II, đã có LHQ, và chính tại đó người ta phải thảo luận”…

ĐTC cho biết ngài sẵn sàng đến các vùng có chiến tranh, như Kurdistan, nếu cần và nếu có thể thực hiện được, để ngăn chặn bạo lực.

Đáp một câu hỏi khác, ngài ca ngợi dân tộc Trung Hoa, một dân tộc khôn ngoan, và cho biết sẵn sàng đến Trung Quốc. ĐTC nói: ”Chúng tôi tôn trọng nhân dân Trung Quốc, Giáo Hội chỉ yêu cầu được được tự do để thi hành sứ mạng của mình, không có điều kiện nào khác.” Ngài cũng nhắc đến lá thư cơ bản của ĐGH Biển Đức 16 gửi các tín hữu Công Giáo Trung Hoa hồi năm 2007, một lá thư vẫn giữ nguyên tính chất thời sự. Ngài nói: “Tòa Thánh vẫn luôn cởi mở đối với các tiếp tục, luôn luộn, vì Tòa Thánh chân thành quí chuộng nhân dân Trung Quốc”.

Quan hệ với Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16

Một ký giả người Đức hỏi ĐTC về quan hệ giữa ngài với Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16, ngài đáp:

”Trước khi đi Hàn quốc, tôi đã đến gặp Người. Cách đây hai tuần Người đã gửi tôi một bài viết thật hay và hỏi ý kiến tôi… Chúng tôi có một quan hệ bình thường, vì tôi có ý tưởng này, có lẽ ý tưởng này không làm cho vài thần học gia hài lòng lắm. Tôi nghĩ việc Giáo Hoàng về hưu không phải là một điều ngoại lệ. Sau bao thế kỷ, Đức Biển Đức 16 là vị đầu tiên về hưu, như Người đã nói: ”Tôi già yếu rồi, tôi không còn sức nữa”.

Việc từ chức của Người là một cử chỉ cao thượng, khiêm tốn và can đảm.. Tôi nghĩ cách đây 70 năm, việc GM về hưu là một ngoại lệ, không có. Ngày nay GM về hưu là một định chế. Tôi nghĩ Giáo Hoàng về hưu đã là một định chế rồi! Tại sao? Vì đời sống chúng ta kéo dài và tới một tuổi nào đó không còn khả năng cai quản tốt nữa, vì cơ thể mệt mỏi.. sức khỏe có thể là còn tốt, nhưng không còn khả năng giải quyết tất cả các vấn đề của một việc cai quản như cai quản Giáo Hội… Một ngày kia, nếu không còn sức để cai quản Giáo Hội nữa, tôi cũng sẽ làm như vậy. Tôi sẽ cầu nguyện rất nhiều, nhưng tôi sẽ làm như thế. Đức Biển Đức 16 đã mở ra một cánh cửa, đó là một định chế chứ không phải là một điều ngoại lệ. Quan hệ giữa chúng tôi là quan hệ huynh đệ, nhưng tôi cũng nói rằng tôi cảm thấy Người như có một ông nội ở trong nhà vì sự khôn ngoan của Người.. Tôi thích nghe Người, và Người cũng khích lệ tôi nhiều. Đó là quan hệ của tôi với Người!”

Soạn thảo Thông điệp về môi sinh

Trả lời câu hỏi của một ký giả truyền hình Đức về Thông điệp về môi sinh đang được soạn thảo, ĐTC nói: Tôi đã nói chuyện rất nhiều với ĐHY Peter Turkson, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh công lý và hòa bình, về thông điệp này, và đã yêu cầu ĐHY thu thập tất cả những đóng góp được gửi tới. 4 ngày trước cuộc công du này, ĐHY đã giao cho tôi bản dự thảo đầu tiên thật là dầy, dầy hơn 1 phần 3 so Tông Huấn ”Niềm Vui Phúc Âm”. Đó là một vấn đề không dễ dàng, bảo tồn thiên nhiên, và cả về môi sinh con người, người ta chỉ có thể nói chắc chắn tới một mức độ nào thôi. Rồi có những giả thuyết khoa học, một số khá chắc chắn, một số khác thì không. Một thông điệp phải có đặc tính huấn quyền, chỉ nói những điều chắc chắn.. Vấn đề bây giờ là đi tới những điều thiết yếu, nhưng gì chúng ta có thể khẳng định chắc chắn. Tuy nhiên, ta có thể nói trong phần chú thích những giả thuyết này, giả thuyết kia, như một thông tin, chứ không phải như thành phần một thông điệp, một văn kiện phải có tính chắc chắn, vì là một văn kiện đạo lý” (SD 19-8-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

Full Text Of Pope Francis' Press Conference On Plane Returning From Korea

By Gerard O’Connell (Vatican correspondent)

Pope Francis said “the unjust aggressor” against the minorities in Iraq “must be stopped” but, he added, no one state can decide to intervene by itself.  The crime of aggression has to be taken to the UN to decide which are the best means to stop the aggressor. He made clear “I do not say bomb.”

He revealed that he had contemplated going to Kurdistan at the time he sent Cardinal Filoni, and said he does not yet exclude that possibility if it is necessary.

He made clear his ardent desire to go to China, even “tomorrow,” and said he wishes to establish good relations with that noble people.

He rejected the suggestion that the Prayer for Peace in the Holy Land on June 8 was a failure, and emphasized that “it has opened a door” that still remains open.

He made these and other significant statements in an hour long interview on the flight back from Korea when he responded to a variety of questions from the international media.

America provides below the full transcript of the pope’s press conference. The translation was made by Gerard O’Connell, its Vatican correspondent, who travelled on the plane with the pope. This is not an official translation.

Q. During the visit to Korea, you reached out to the families of the Sewol ferry disaster and consoled them. Two questions: What did you feel when you met them? And were you not concerned that your action could be misinterpreted politically?

A. When you find yourself in front of human suffering, you have to do what your heart brings you to do. Then later they might say, he did this because he had a political intention, or something else. They can say everything. But when you think of these men, these women, fathers and mothers who have lost their children, brothers and sisters who have lost brothers and sisters, and the very great pain of such a catastrophe…my heart. I am a priest, I feel that I have to come close to them, I feel that way. That’s first. I know that the consolation that I can give, my words, are not a remedy. I cannot give new life to those that are dead. But human closeness in these moments gives us strength, solidarity.

I remember when I was archbishop of Buenos Aires, I experienced two catastrophes of this kind. One was a fire in a dance hall, a pop-music concert, and 194 people died in it. That was in 1993. And then there was another catastrophe with trains, and I think 120 died in that. At those times I felt the same thing, to draw close to them. Human pain is strong and if we draw close in those sad moments we help a lot.

And I want to say something more. I took this ribbon (from relatives of the Sewold ferry disaster, which I am wearing) out of solidarity with them, and after half a day someone came close to me and said, “It is better remove it, you should be neutral." But listen, one cannot be neutral about human pain. I responded in that way. That’s how I felt.

Q. You know that recently the U.S. forces have started bombing the terrorists in Iraq, to prevent a genocide, to protect minorities, including Catholics who are under your guidance. My question is this: do you approve the American bombing?

A. Thanks for such a clear question. In these cases where there is an unjust aggression, I can only say this: it is licit to stop the unjust aggressor. I underline the verb: stop. I do not say bomb, make war, I say stop by some means. With what means can they be stopped? These have to be evaluated. To stop the unjust aggressor is licit.

But we must also have memory. How many times under this excuse of stopping an unjust aggressor the powers [that intervened] have taken control of peoples, and have made a true war of conquest.

One nation alone cannot judge how to stop an unjust aggressor. After the Second World War there was the idea of the United Nations. It is there that this should be discussed. Is there an unjust aggressor? It would seem there is. How do we stop him? Only that, nothing more.

Secondly, you mentioned the minorities. Thanks for that word because they talk to me about the Christians, the poor Christians. It’s true, they suffer. The martyrs, there are many martyrs. But here there are men and women, religious minorities, not all of them Christian, and they are all equal before God.

To stop the unjust aggressor is a right that humanity has, but it is also a right that the aggressor has to be stopped so that he does not do evil.

Q.  To return to Iraq. Like Cardinal Filoni and the head of the Dominicans, would you be ready to support a military intervention in Iraq to stop the Jihadists? And I have another question: do you think of going one day to Iraq, perhaps to Kurdistan to sustain the Christian refugees who wait for you, and to pray with them in this land where they have lived for 2,000 years?

A.  Not long ago I was with the Governor of Kurdistan, Minister Nechirvan Barzani. He had very clear ideas about the situation and how to find solutions, but that was before this unjust aggression.

I have responded to the first question. I am only in the agreement in the fact that when there is an unjust aggressor he is to be stopped.

Yes, I am willing [to go there]. But I think I can say this, when we heard with my collaborators about the killings of the religious minorities, the problem at that moment in Kurdistan was that they could not receive so many people. It’s a problem that one can understand. What can be done? We thought about many things. First  of all a communique was issued by Fr. Lombardi in my name.  Afterwards that communique was sent to all the nunciatures so that it be communicated to governments. Then we wrote a letter to the Secretary General of the United Nations. Many things …. And at the end we decided to send our personal envoy—Cardinal Filoni,  and I said if it were necessary when we return from Korea we can go there. It was one of the possibilities. This is my answer. I am willing [to go there]. At the moment it is not the best thing to do, but I am ready for this.

Q. My question is about China. China allowed you to fly over its airspace. The telegram that you sent [en route to Korea] was received without negative comments.  Do you think these are step forward towards a possible dialogue? And have you a desire to go to China?

Father Lombardi intervenes: I can inform you that we are now flying in the airspace over China at this moment. So the question is pertinent.

A. When we were about to enter into the Chinese airspace [en route to Korea], I was in the cockpit with the pilots, and one of them showed me a register and said, "We’re only ten minutes away from entering the Chinese airspace, we must ask authorization." One always asks for this. It’s a normal thing, one asks for it from each country. And I heard how they asked for the authorization, how they responded. I was a witness to this. The pilot then said, "We sent a telegram," but I don’t know how they did it.

Then I left them and I returned to my place and I prayed a lot for that beautiful and noble Chinese people, a wise people. I think of the great wise men of China, I think of the history of science and wisdom. And we Jesuits have a history there with Father Ricci. All these things came into my mind.

If I want to go to China? For sure! Tomorrow!

We respect the Chinese people. The church only asks for liberty for its task, for its work. There’s no other condition.

Then we should not forget that fundamental letter for the Chinese problems which was the one sent to the Chinese by Pope Benedict XVI. This letter is actual [relevant] today. It is actual. It’s good to re-read it.

The Holy See is always open to contacts. Always. Because it has a true esteem for the Chinese people.

Q. Your next journey will be to Albania and perhaps Iraq. After the Philippines and Sri Lanka, where will you go in 2015? And can I say that in Avila, there is great hope (that you will come),  can they still hope?

A. Yes! The president of Korea said to me—in perfect Spanish!—hope is the last thing one loses. She said that to me referring to the unification of Korea. One can always hope, but is not decided. Let me explain.

This year Albania is envisaged. Some have begun to say that the pope is starting everything from the periphery. But I am going to Albania for two important motives. First, because they have been able to form a government—just think of the Balkans, they have been able to form a government of national unity with Muslims, Orthodox and Catholics, with an interreligious council that helps a lot and is balanced. This is good, and harmonious. The presence of the pope wishes to say to all the peoples [of the world] that it’s possible to work together. I felt it as a real help to that noble people.

And there’s another thing, if we think about the history of Albania, in terms of religion is was the only country in the communist world to have in its constitution practical atheism. So if you went to mass it was against the constitution. And then, one of the ministers told me that 1820 churches were destroyed, both Orthodox and Catholic, at that time. Then other churches were transformed into theatres, cinemas, dancehalls. So I just felt that I had to go. It’s close, just one day.

Next year I would like to go to Philadelphia, for the meeting of the families. Then, I have been invited by the President of the United States to the American Congress. And also the Secretary General of the United Nations has also invited me to the Secretariat of the UN in New York. So maybe the three cities together.

Then there’s Mexico. The Mexicans want me to go to the Shrine of Our Lady of Guadalupe, so we could take advantage of that too (during the U.S. visit), but it’s not certain.

And lastly Spain. The Spanish Royals have invited me. The bishops have invited me, but there is a shower of invitations to go to Spain, and maybe it is possible, but there is nothing sure, so I’ll just say that maybe to go to Avila in the morning and return in the afternoon if it were possible, but nothing is decided. So one can still hope.

Q. What kind of relationship is there between you and Benedict XVI? Do you have a regular exchange of opinions? Is there a common project after the encyclical ("Light of Faith")?

A. We see each other. Before I departed [for Korea] I went to visit him. Two weeks earlier he sent me an interesting written text and he asked my opinion on it. We have a normal relationship. 

I return to this idea, which may not be liked by some theologian. I am not a theologian, but I think that the emeritus-pope is not an exception. But after many centuries he is the first emeritus. Let us think about what he said, I have got old, I do not have the strength. It was a beautiful gesture of nobility, of humility and courage.

But if one thinks that 70 years ago emeritus bishops also were an exception. They did not exist, but today emeritus bishops are an institution.

I think that the emeritus pope is already an institution because our life gets longer and at a certain age there isn’t the capacity to govern well because the body gets tired, and maybe one’s health is good but there isn’t the capacity to carry forward all the problems of  a government like that of the church. I think that Pope Benedict made this gesture of emeritus popes. May, as I said before, some theologian may say this is not right, but I think this way. The centuries will tell us if this so or not. Let’s see.

But you could say to me, if you at some time felt you could not go forward, I would do the same! I would do the same. I would pray, but I would do the same. He [Benedict] opened a door that is institutional, not exceptional.

Our relationship is truly that of brothers. But I also said that I felt as if I have a grandfather at home because of his wisdom. He is a man of wisdom, of nuance that is good for me to hear him. And he encourages me sufficiently too. That’s the relationship I have with him.

Q. You have met the people who suffered. What did you feel when you greeted the comfort women at Mass this morning? And as regards the suffering of people in Korea there were also Christians hidden in Japan, and next year will the 150th anniversary of their "era of Nero" [in which Christians were persecuted]. Would it be possible to pray for them together with you at Nagasaki?

A. It would be most beautiful. I have been invited both by the government and by the bishops. I have been invited.

As for the suffering, you return to one of the first questions. The Korean people are a people who did not lose their dignity. It was a people that was invaded, humiliated. It suffered wars and now it is divided. Yesterday, when I went to the meeting with young people [at Haemi], I visited the museum of the martyrs there. It was terrible the sufferings of these people, just for not standing on a cross. It’s a historical suffering. This people has the capacity to suffer, and it is part of their dignity.

Also today, when those elderly women were in front of me at Mass, I thought that in that invasion there were young girls taken away to the barracks for to use them but they did not lose their dignity then. They were there today showing their faces, elderly, the last ones remaining. It’s a people strong in its dignity.

But returning to the question about the martyrs, the suffering and also these women, these are the fruits of war! Today we are in a world at war, everywhere. Someone said to me, "Father do you know that we are in the Third World War, but bit by bit." He understood! It’s a world at war in which these cruelties are done.

I’d like to focus on two words. First, cruelty. Today children do not count. Once they spoke about a conventional war, today that does not count. I’m not saying that conventional wars were good things, but today a bomb is sent and it kills the innocent, the guilty, children, women they kill everybody. No! We must stop and think a little about the level of cruelty at which we have arrived. This should frighten us, and this is not to create fear. An empirical study could be done on the level of cruelty of humanity at this moment should frighten us a little.

The other word on which I would like to say something is torture. Today torture is one of the means, I would say, almost ordinary in the behavior of the forces of intelligence, in judicial processes and so on. Torture is a sin against humanity, is a crime against humanity. And I tell Catholics that to torture a person is a mortal sin, it’s a grave sin. But it’s more, it’s a sin against humanity.

Cruelty and torture! I would like very much if you, in your media, make a reflection: How do you see these things today? How do you see the cruelty of humanity, and what do you think of torture. I think it would do us all good to reflect on this.

Q.  You have a very demanding rhythm, full of commitments and take little rest, and no holidays, and you do these trips that are exhausting. And in these last months we see that you have also had to cancel some of these engagements, even at the last moment  Is there something to be concerned about in the life you lead?

A.  Yes, some people told me this. I have just taken holidays, at home, as I usually do.

Once I read a book. It was quite interesting, it’s title was: Rejoice that you are neurotic. I too have some neuroses. But one should treat the neuroses well. Give them some mate [herbal drink] every day. One of the neurosis is that I am too attached to life.   

The last time I took a holiday outside Buenos Aires was with the Jesuit community in 1975. But I always take holidays. It’s true. I change rhythm. I sleep more. I read the things I like. I listen to music. That way I rest. In July and part of August I did that.

The other question. Yes, it is true, I had to cancel [engagements]. The day I should have gone to the Gemelli [hospital], up to 10 minutes before I was there, but I could not do it. It is true, they were seven very demanding days then, full of engagements. Now I have to be a little more prudent.

Q.  In Rio when the crowds chanted Francesco, Francesco, you told them to shout Christ, Christ. How do you cope with this immense popularity? How do you live it?

A.  I don’t know how to respond. I live it thanking the Lord that his people are happy. Truly, I do this. And I wish the People of God the best. I live it as generosity on the part of the people. Interiorly,  I try to think of my sins, my mistakes, so as not to think that I am somebody. Because I know this will last a short time, two or three years, and then to the house of the Father. And then it’s not wise to believe in this. I live it as the presence of the Lord in his people who use the bishop, the pastor of the people, to show many things. I live it a little more naturally than before, at the beginning I was a little frightened. But I do these thing, it comes into my mind that I must not make a mistake so as not to do wrong to the people in these things. A little that way.

Q. The pope has come from the end of the world and lives in the Vatican. Beyond Santa Marta about which you have talked to us, about your life and your choices. How does the Pope live in the Vatican? They’re always asking us: “What does he do?  How does he move about? Does he go for a walk? They have seen that you went to the canteen and surprise us.  What kind of life do you lead in Santa Marta, besides work?

A. I try to be free. There are work and office appointments, but then life for me, the most normal life I can do. Really, I’d like to go out but it’s not possible, it’s not possible, because if you go out people will come to you. That’s the reality. Inside Santa Marta I lead the normal life of work, of rest, chatting and so on.

Q. Don’t you feel like a prisoner?

A. At the beginning yes, but now some walls have fallen. For example, before it was said but the pope can’t do this or this. I’ll give you an example to make you laugh. When I would go into the lift, someone would come in there suddenly because the pope cannot go in the lift alone. So I said, you go to your place and I’ll go in the lift by myself. It’s normality.

Q. I’m sorry, Father, but I have to ask you this question as a member of the Spanish language group of which Argentina is a part. Your team, San Lorenzo, won the championship of America for the first time this week. I want to know how you are living this, how you are celebrating. I hear that a delegation are bringing the cup to the public audience on Wednesday, and that you will receive them in the public audience.

A. It's good news after getting second place in Brazil. I learned about it here. They told me in Seoul. And they told me, they’re coming on Wednesday. It’s a public audience and they will be there. For me San Lorenzo is the team, all my family were supporters of it. My Dad played basketball at San Lorenzo; he was a player in the basketball team. And as children we went with him, and Mama also came with us to the Gazometer. Today the team of ’46 was a great team and won the championship. I live it with joy. Not a miracle, no!

Q. There’s been talk for a long time about an encyclical on ecology. Could you tell us when it will be published, and what are the key points?

A. I have talked a lot about this encyclical with Cardinal Turkson, and also with other people. And I asked Cardinal Turkson to gather all the input that have arrived, and four days before the trip, Cardinal Turkson brought me the first draft. It’s as thick as this. I’d say it’s about a third longer than "Evangelii Gaudium." It’s the first draft.  It’s not an easy question because on the custody of creation, and ecology, also human ecology, one can talk with a certain security up to a certain point, but then the scientific hypotheses come, some sufficiently secure, others not. And in an encyclical like this, which has to be magisterial, one can only go forward on the things that are sure, the things that are secure. If the pope says the center of the universe is the earth and not the sun, he’s wrong because he says a thing that is scientifically not right. That’s what happens now. So we have to do the study now, number by number, and I believe it will become smaller. But going to the essentials, to that which one can affirm with security. One can say, in footnotes, that on this there is this and that hypothesis, to say it as information but not in the body of an encyclical that is doctrinal. It has to be secure.

Q. Thank you so much for your visit to South Korea. I’m going to ask you two questions. The first one is this: just before the final Mass at the cathedral you consoled some comfort women there, what thought occurred to you? And my second question, Pyongyang sees Christianity as a direct threat to its regime and its leadership and we know that some terrible thing happened to North Korean Christianity but we don’t know exactly what happened. Is there any special approach in your mind to change North Korea’s approach to North Korea’s Christianity?

A . On the first question I repeat this. Today, the women were there and despite all they suffered they have dignity, they showed their face. I think, as I said a short time ago, of the suffering of the war, of the cruelty of the one who wages war. These women were exploited, the were enslaved, all this is cruelty. I thought of all this, and of the dignity that they have and also how much they suffered. And suffering is an inheritance. The early fathers of the church said the blood of the martyrs if the seed of Christians. You Koreans have sown much, much, and out of coherence one now sees the fruit of that seed of the martyrs.

About North Korea, I know it is a suffering, and one I know for sure, there are many relatives that cannot come together, that’s a suffering, but it a suffering of that division of the country.   Today in the cathedral when I put on the vestments for mass there was a gift that they gave me, it was a crown of the thorns of Christ made from the iron wire that divides the two parts of the one Korea. We are now taking it with us on the plane, it’s a gift that I take, the suffering of division, of a divided family, but as I said yesterday, I can’t remember exactly, but talking to the bishops, I said we have  a hope: the two Koreas are brothers, and they speak the same language. They speak the same language because they have the same mother, and that gives us hope. The suffering of the division is great, I understand that and I pray that it ends.

Q. As an Italo-American I want to compliment you for your English, you should have no fear, and if you wish to do some practice before you go to America, my second homeland, I am willing to help. My question is this: You have spoken about martyrdom. At what stage is the process for the cause of Archbishop Romero. And what would you like to come out of this process?

A. The process was blocked in the Congregation for the Doctrine of the Faith “for prudence,” it was said. Now it is unblocked and it is in the Congregation for Saints and follows the normal path of a process. It depends on how the postulators move, it’s very important to move in haste.

What I would like is to have clarified when there is martyrdom in "odium fidei" [out of hate for the faith], whether it is for confessing the credo or for performing the works that Jesus commands us to do  for our neighbor. This is a work of theologians that is being studied. Because behind him [Romero], there is Rutilio Grande and there are others. There are other that were also killed but are not at the same height as Romero. This has to be distinguished theologically. For me, Romero is a man of God. He was a man of God but there has to be the process, and the Lord will have to give his sign [of approval]. But if He wishes, He will do so! The postulators must move now because there are no impediments.

Q. Given what has happened in Gaza, was the Prayer for Peace held in the Vatican on June 8 a failure?

A. That prayer for peace was absolutely not a failure. First of all, the initiative did not come from me. The initiative to pray together came from two presidents: the president of the State of Israel and the president of the State of Palestine. They make known to me this unease, then we wanted to hold it there [in the Holy Land],  but we couldn’t find the right place because the political cost for each one was very high if they went to the other side. The nunciature was a neutral place, but to arrive at the nunciature the President of Palestine would have had to enter in Israel, so the thing was not easy. Then they said to me, let us do it in the Vatican, we will come. These two men are men of peace, they are men who believe in God, and they have lived through many ugly things, they are convinced that they only way to resolve the situation there is through dialogue, negotiation and peace.

You ask me, was it a failure? No, the door remains open. All four, the two presidents and Bartholomew I, I wanted him here as the ecumenical patriarch of Orthodoxy, it was good that he was with us, the door of prayer was opened. And it was said we must pray, peace is a gift of God,. It is a gift but we merit it with our work. And to say to humanity that the path of dialogue is important, negotiation is important, but there is also that of prayer. Then after that, we saw what happened. But it was just a matter of coincidence. That encounter for prayer was not conjuncture. It is a fundamental step of the human attitude, now the smoke of the bombs and the war do not let one see the door, but the door was left open from that moment. And as I believe in God, I look at that door and the many who pray and who ask that He helps us. I liked that question. Thank you!

Kết thúc cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm Hàn Quốc

Kết thúc cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm Hàn Quốc

ROMA. Chiều ngày 18-8-2014, ĐTC Phanxicô đã về đến Roma bằng an, kết thúc tốt đẹp cuộc viếng thăm 5 ngày của ngài tại Hàn quốc nhân dịp Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu kỳ 6 và tôn phong 124 vị tử đạo lên bậc chân phước.

Dưới đây là một số hoạt động cuối cùng của ĐTC tại Hán Thành.

Gặp gỡ các vị lãnh đạo tôn giáo

Lúc gần 9 giờ, ngài giã từ tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở Hán thành để đến Nhà Thờ chính tòa Minh Đổng cách đó 3 cây số rưỡi. Thánh đường này được dựng lên tại nơi cầu nguyện của các cộng đồng Công Giáo đầu tiên ở Hàn Quốc từ năm 1784, tức là đã 230 năm nay, và được thánh hiến vào năm 1898, dâng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội. Ở tầng hầm của thánh đường có hài cốt của nhiều vị tử đạo Hàn quốc trong thế kỷ 19.

Đến tòa GM cũ cạnh thánh đường, ĐTC đã được cha sở Nhà thờ Chính Tòa đón tiếp và hướng dẫn vào phòng khách để gặp gỡ các vị lãnh đạo tôn giáo bạn. Đứng trước bức họa các vị tử đạo Hàn Quốc, cũng là chủ đề của cuộc viếng thăm này, ĐTC lần lượt bắt tay chào thăm 12 vị lãnh đạo tôn giáo, bắt đầu là Đức TGM Anh giáo của giáo phận Hán Thành, rồi các vị chủ tịch Giáo Hội Tin Lành Luther, Tin Lành Trưởng Lão ở Hàn Quốc, tiếp đến là các vị lãnh đạo Phật giáo và đại diện của các cộng đồng Kitô khác. Đặc biệt Đức TGM Chính Thống đã tặng ĐTC thánh giá Bizantine, ngài đặc biệt hài lòng về món quà này và cho biết sẽ dùng để ban phép lành cuối lễ.

ĐTC cũng ứng khẩu nói bằng tiếng Tây Ban Nha và được Cha John Chong Che Chon, giám tỉnh dòng Tên phiên dịch, qua đó ngài cám ơn các vị đã có lòng quí mến đến gặp ngài, và ngài nói thêm rằng:

”Cuộc đời là một hành trình dài, và cũng là một hành trình mà ta không thể đi một mình. Cần đồng hành với anh chị em trước nhan Chúa. Vì thế tôi cám ơn anh em vì cử chỉ đồng hành này trước mặt Chúa. Đó là điều mà Chúa đã yêu cầu tổ phụ Abraham. Chúng ta là anh em, chúng ta hãy nhìn nhận nhau như anh em và đồng hành với nhau. Xin Chúa chúc lành cho chúng ta và xin anh em cũng vui lòng cầu nguyện cho tôi nữa!”

Theo các quan sát viên về tôn giáo, quan hệ giữa các tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau tại Hàn Quốc được coi là thân hữu, ít là bề mặt như vậy, và ít khi xảy ra những căng thẳng như một số nơi khác trên thế giới. Điều mà họ không nói, đó là nếu sự thân thiện ấy là kết quả của tinh thần bao dung tôn giáo đáng ca ngợi, thì cũng có tình trạng dửng dưng đối với tôn giáo đang gia tăng. Một cuộc thăm dò dư luận mới đây cho thấy gần một nửa dân Hàn quốc không tuyên xưng tín ngưỡng nào. Tình trạng này giúp ta hiểu được nhiều lời kêu gọi ĐTC đưa ra trong cuộc viếng thăm, ngài là một khuôn mặt mới trong sự trống rỗng về tín ngưỡng nơi nhiều người ở Hàn quốc.

Thánh lễ cầu cho hòa bình và hòa giải

Sau cuộc gặp gỡ với các vị lãnh đạo tôn giáo, ĐTC đã tiến vào Nhà thờ chính tòa để cử hành thánh lễ lúc gần 10 giờ để cầu nguyện cho hòa bình và hòa giải ở bán đảo Triều Tiên. Đây là một chủ đề rất nhạy cảm đối với dân tộc Hàn quốc: từ hơn 60 năm nay, bán đảo này vẫn còn bị chia cách với vùng phi quân sự rộng 4 cây số với những tháp canh, hàng rào kẽm gai và các binh sĩ võ trang.

Như một biểu tượng sự chia rẽ đau thương này, người ta đã đặt một mão gai làm bằng những đoạn thép gai và đặt dưới chân tượng Đức Mẹ Fatima trong Nhà thờ chính tòa Minh Đổng, bên dưới có hàng chữ bằng tiếng la tinh ”Ut unum sint, Ước gì chúng được hiệp nhất”.

Trước thánh lễ, khi tiến tới gần bàn thờ, ĐTC đã dừng lại chào một nhóm 7 phụ nữ cao niên, ngồi trên ghế lăn ở hàng đầu trước bàn thờ. Họ thuộc vào số 54 phụ nữ sống sót trong số hàng trăm ngàn phụ nữ Hàn quốc bị quân Nhật Bản bắt làm hộ lý, những nô lệ tình dục cho các binh sĩ Nhật, trong thời thế chiến thứ II. Cho đến nay các phụ nữ này đã nhiều lần đòi chính phủ Nhật xin lỗi và bồi thường, nhưng không kết quả. ĐTC đã cầm tay các bà cụ và chú ý lắng nghe họ kể lại thân phận đau thương của họ và an ủi họ.

Trong số những người hiện diện tại Thánh lễ, đặc biệt có bà Tổng thống Phác Cận Huệ và một số quan chức chính quyền.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng, ĐTC đã đề ra những đường hướng cụ thể cần phải thi hành trong nỗ lực kiến tạo hòa bình và hòa giải tại Bán đảo Triều Tiên, loại bỏ não trạng nghi kỵ, đối nghịch và cạnh tranh, nhất là xác tín rằng điều không thể dưới nhãn giới con người, vẫn là điều có thể đối với Thiên Chúa. Ngài nói:

”Cuộc viếng thăm của tôi đạt tới cao điểm trong việc cử hành Thánh Lễ này, trong đó chúng ta cầu xin Chúa ơn hòa bình và hòa giải. Kinh nguyện này có âm hưởng đặc biệt trong bán đảo Triều Tiên. Thánh Lễ hôm nay chủ yếu là cầu nguyện cho sự hòa giải trong gia đình Triều Tiên. Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói với chúng ta về sức mạnh lời cầu nguyện của chúng ta khi hai hoặc ba người họp nhau nhân danh Chúa để xin điều gì (Xc Mt 18,19-20). Toàn thể một dân tộc dâng lời khẩn nguyện thống thiết lên trời cao thì càng mạnh mẽ thế nào!

Bài đọc thứ I trong Thánh Lễ này trình bày lời Chúa hứa tái lập trong sự hiệp nhất và thịnh vượng một dân tộc bị phân tán vì tai ương và chia rẽ. Đối với chúng ta, giống như đối với dân tộc Israel, đây là một lời hứa đầy hy vọng: lời hứa ấy chỉ cho chúng ta một tương lai mà Chúa đang chuẩn bị cho chúng ta ngay từ bây giờ. Nhưng lời hứa ấy gắn liền mật thiết với một mệnh lệnh: mệnh lệnh hãy trở về cùng Thiên Chúa và thành tâm tuân phục luật Chúa (Xc Dnl 30,2-3). Hồng ân hòa giải, hiệp nhất và hòa bình của Chúa gắn liền với ơn hoán cải; đây là một sự biến đổi tâm hồn, có thể thay đổi cuộc sống và lịch sử của chúng ta, trong tư cách là cá nhân cũng như dân tộc.

”Trong Thánh Lễ này, dĩ nhiên chúng ta lắng nghe lời hứa ấy trong kinh nghiệm lịch sử của dân tộc Triều Tiên, một kinh nghiệm chia rẽ và xung đột kéo dài đã hơn 60 năm nay. Nhưng lời Thiên Chúa tha thiết mời gọi hoán cải cũng được gởi đến các môn đệ Chúa Kitô ở Hàn quốc hãy cứu xét chất lượng sự đóng góp của mình cho việc xây dựng một xã hội công chính và nhân bản hơn. Chúa mời gọi mỗi người chúng ta hãy suy nghĩ xem anh chị em đang làm chứng tá, trong tư cách là cá nhân cũng như cộng đoàn về sự dấn thân theo tinh thần Tin Mừng, cho những người nghèo khổ, những người ở ngoài lề xã hội, những người không có công ăn việc làm, hoặc bị gạt ra ngoài sự thịnh vượng của nhiều người. Chúa cũng kêu gọi chúng ta, trong tư cách là Kitô hữu, cũng như là người dân Hàn quốc, hãy quyết liệt loại trừ một não trạng dựa trên ngờ vực, đối nghịch và cạnh tranh, và tốt hơn hãy tạo điều kiện cho một nền văn hóa được nhào nặn bằng giáo huấn của tin Mừng và nhờ những giá trị truyền thống cao quí nhất của dân tộc Triều Tiên.

”Trong Tin Mừng ngày lễ hôm nay, Thánh Phêrô hỏi Chúa: nếu người anh em của con phạm lỗi chống lại con, thì con phải tha thứ cho họ bao nhiêu lần? Có đến 7 lần không? Chúa đáp: ”Thầy không nói con phải tha thứ đến 7 lần, nhưng là 77 lần 7” (Mt 18,21-22). Những lời này đi thẳng vào trọng tâm sứ điệp hòa giải và hòa bình mà Chúa Giêsu đề ra. Khi tuân theo mệnh lệnh của Chúa, hằng ngày chúng ta xin Cha trên trời tha thứ tội lỗi chúng ta, ”như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Nếu chúng ta không sẵn sàng làm như thế, thì làm sao chúng ta có thể thành thực cầu xin ơn hòa bình và hòa giải?

”Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta hãy tin rằng tha thứ là cánh cửa dẫn đến hòa giải. Khi dạy chúng ta hãy tha thứ cho anh em chúng ta không chút dè dặt, Chúa yêu cầu chúng ta thực hiện một điều hoàn toàn quyết liệt, nhưng Ngài cũng ban cho chúng ta ơn thánh để làm điều ấy. Xét theo nhãn giới con người, điều ấy dường như không thể thực hiện được, không thể theo đuổi và thậm chí hoàn toàn làm cho chúng ta kinh tởm, nhưng Chúa làm cho điều ấy có thể thực hiện được và có thành quả nhờ quyền năng vô biên thập giá của Ngài. Thập giá Chúa Kitô tỏ lộ quyền năng của Thiên Chúa có thể lấp đầy mọi chia rẽ, hàn gắn mọi vết thương va tái lập những liên hệ nguyên thủy của tình huynh đệ.

Vì thế, đây là sứ điệp mà tôi để lại cho anh chị em vào cuối cuộc viếng thăm của tôi tại Hàn quốc này. Anh chị em hãy tín thác nơi quyền năng của thập giá Chúa Kitô! Hãy đón nhận ân hòa giải của Chúa trong tâm hồn anh chị em và chia sẻ ơn ấy với người khác! Tôi xin anh chị em hãy làm chứng tá một cách đầy thuyết phục về sứ điệp hòa giải của Chúa Kitô trong gia đình, cộng đoàn và trong mỗi lãnh vực của đời sống quốc gia. Tôi tín thác rằng trong tinh thần thân hữu và cộng tác với các tín hữu Kitô khác, với tín đồ các tôn giáo khác, với tất cả những người nam nữ thiện chí vốn quan tâm đến tương lai của xã hội Hàn quốc, anh chị em sẽ là men của Nước Chúa ở trần thế này. Khi ấy kinh nguyện của chúng ta cho hòa bình và hòa giải sẽ bay lên cùng Thiên Chúa từ các tâm hồn thanh khiết hơn, để nhờ ơn Chúa, đạt được thiện ích quí giá mà tất cả chúng ta đều khao khát.

”Vì vậy, chúng ta hãy cầu nguyện để nảy sinh những cơ hội mới đối thoại, gặp gỡ và khắc phục những khác biệt, để có một sự quảng đại liên tục trong việc cung cấp trợ giúp nhân đạo cho những người túng thiếu, và để có sự nhìn nhận ngày càng rộng lớn hơn đối với những thực tại này: mọi người dân Triều tiên đều là anh chị em với nhau, là thành phần của một gia đình duy nhất, một dân tộc duy nhất.

Trong phần kết luận bài giảng, ĐTC nồng nhiệt cám ơn Bà Tổng Thống, chính quyền Hàn quốc cũng như tất cả những người, dưới bất kỳ hình thức nào, đã làm cho cuộc viếng thăm của ngài được thực hiện. Ngài nói:

”Đặc biệt tôi muốn ngỏ lời đích thân cám ơn các linh mục Hàn quốc, hằng ngày hoạt động phục vụ Tin Mừng và xây dựng Dân Chúa trong niềm tin, cậy, mến. Tôi xin anh em, trong tư cách là Sứ giả của Chúa Kitô và là người phục vụ tình thương hòa giải của Chúa (Xc 2 Cr 5,18-20) tiếp tục kiến tạo những mối giây tôn trọng, tín nhiệm và cộng tác hòa hợp trong các giáo xứ chúng ta, giữa anh em và với các GM của anh em. Tấm gương yêu thương không chút dè dặt của anh em đối với Chúa, lòng trung thành và tận tụy của anh em đối với sứ vụ, cũng như sự dấn thân bác ái của anh em đối với những người túng thiếu, góp phần rất lớn vào công cuộc hòa giải và hòa bình tại đất nước này”.

Cuối thánh lễ, ĐTC đã nhắc đến ĐHY Fernando Filoni Tổng trưởng Bộ truyền giáo, đặc sứ của ngài tại Irak. Ngài nói: ”Lẽ ra ĐHY cũng có mặt tại đây, nhưng ĐHY được gửi sang Irak để bày tỏ sự gần gũi của tôi và của Giáo Hội đối với các tín hữu Kitô và dân chúng Irak bị bách hại..

ĐHY Anrê Liêm Chu Chánh (Yeom Soo-jung), TGM giáo phận Hán Thành, đã đại diện mọi người cám ơn ĐTC vì cuộc viếng thăm tại Hàn Quốc trong 5 ngày qua và nhận xét rằng đặc biệt đối với các bạn trẻ Á châu, ĐTC đã tỏ ra một vị Mục Tử nhân lành tháp tùng và đồng hành với họ. Và tại Hán Thành ĐTC đã tôn phong chân phước cho các vị tử đạo của chúng con, Phaolô Duẫn Trì Trung và 123 bạn. Với biến cố này, Giáo Hội tại Hàn Quốc có thêm 124 vị chân phước tử đạo ngoài 103 vị hiển thánh. Vì thế, con cảm thấy càng có trách nhiệm nặng nề hơn đới với công cuộc loan báo Tin Mừng. Xin ĐTC cầu cho chúng con để chúng con dấn thân thực hiện hòa bình trọn vẹn tại bán đảo của chúng con và trên thế giới.

Sau lễ, tại nhà thánh của Nhà thờ chính tòa, ĐTC đã chào từ biệt tất cả 35 GM Hàn quốc và ngài làm phép bảng hiệu sẽ được gắn vào tòa GM mới xây tại đây, và xuống tầng hầm nhà thờ chính tòa Minh Đổng để cầu nguyện trước di hài của các vị tử đạo được an táng tại đây.

Giã từ

Liền đó ĐTC đi tới căn cứ không quân Hán Thành cách đó 20 cây số để đáp máy bay trở về Roma. Tại sân bay, Tổng thống Phác Cận Huệ cùng với các quan chức chính quyền, giáo quyền và một nhóm tín hữu đã tiễn biệt ĐTC trong nghi thức đơn sơ, nhưng cũng có hàng quân danh dự.

Chiếc máy bay Boeing 777 của hãng hàng không Hàn Quốc, cất cánh lúc 1 giờ trưa giờ địa phương về bay về Roma.

Cũng như chuyến đi, khi máy bay vào không phận 11 nước, ĐTC đều cho gửi điện văn chào mừng vị quốc trưởng và nhân dân liên hệ. Đặc biệt điện văn gửi Chủ tịch Tập Cận Bình của Trung Quốc, ĐTC viết:

”Trên đường trở về Roma sau chuyến viếng thăm của tôi tại Hàn Quốc, tôi muốn lập lại với Ông chủ tịch và đồng bào của ông những lời cầu chúc tốt đẹp nhất của tôi, đồng thời tôi khẩn cầu phúc lành của Thiên Chúa trên đất nước của Ông”.

Sau 12 giờ bay, vượt qua quãng đường dài 8,970 cây số, máy bay chở ĐTC, 30 người thuộc đoàn tùy tùng và 72 ký giả thuộc 11 nước, đã đáp xuống phi trường Ciampino của Roma lúc gần 6 giờ chiều. Liền đó ngài đã đáp trực thăng về Vatican, kết thúc chuyến viếng thăm thứ 3 tại nước ngoài.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha gặp gỡ các Giám Mục Á châu và bế mạc Đại hội giới trẻ Á châu

Đức Thánh Cha gặp gỡ các Giám Mục Á châu và bế mạc Đại hội giới trẻ Á châu

ĐẠI ĐIỀN. Chúa nhật 17-8-2014, ĐTC Phanxicô đã gặp gỡ Liên HĐGM Á châu và chủ sự thánh lễ bế mạc Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu kỳ 6 tại khu vực Đền Thánh Hải My (Haemi) thuộc giáo phận Đại Điền (Deajeon), Hàn Quốc.

Hải My cách thủ đô Hán Thành hơn 100 cây số về hướng nam. Đây là nơi kính nhớ các vị tử đạo vô danh của Giáo Hội Hàn quốc vì phần lớn trong số 132 vị tử đạo bị tra tấn và hành quyết tại đây không có tên tuổi được ghi lại.

Gặp gỡ các Giám Mục Á châu

ĐTC đã đáp trực thăng đến Đền thánh Hải My lúc gần 11 giờ và tại nguyện đường của thánh điện, ngài đã cùng với các GM cử hành kinh trưa bằng tiếng Anh. Có 68 GM đến từ 35 nước Á châu hiện diện.

Sau khi ĐTC ban phép lành kết thúc kinh nguyện, ĐHY Oswald Gracias, TGM giáo phận Mumbai, Ấn độ, trong tư cách là Chủ tịch Liên HĐGM Á châu, đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC. Ngài nhắc lại biến cố lịch sử cách đây 44 năm, khi các GM Á châu nhóm họp tại Manila nhân cuộc viếng thăm lịch sử của ĐGH Phaolô 6 tại Philippines hồi tháng 12 năm 1970. Đó là lần đầu tiên có đông đảo các GM Á châu như thế, 180 vị, nhóm họp để trao đổi kinh nghiệm và thảo luận về những vấn đề mục vụ tại đại lục to lớn và có nhiều khác biệt như Á châu. Do lòng hăng say từ kinh nghiệm ấy thúc đẩy, các GM đã thiết lập Liên HĐGM Á châu với sự chúc lành của ĐGH Phaolô 6. Ngày nay, tổ chức này có 19 HĐGM thành viên, bao gồm 27 nước và 9 thành viên kết nạp, vì các giáo phận ấy không thuộc HĐGM nào.

ĐHY Gracias cũng nhận xét rằng Á châu là một đại lục đang cảm nghiệm những hy vọng và vui mừng về sự liên tục tái sinh trong Thánh Linh. 60% dân số thế giới sinh sống ở Á châu. Đây là một đại lục trẻ trung, đa số dân là người trẻ.. Dân Á châu bản chất là người có tôn giáo, nhưng tinh thần tục hóa và duy vật đang lẻn vào đại lục này. Cơ cấu gia đình, xưa kia được coi là quan trọng và ăn rễ sâu nơi xã hội Á châu, nay đang dần dần bị tan rã. Và tuy tâm hồn Á châu coi sự sống là thánh thiêng, nhưng những đe dọa sự sống đang gia tăng và thật đáng lo ngại dưới nhiều khía cạnh.

Huấn dụ của ĐTC

Trong bài huấn dụ trước các GM Á châu, ĐTC đặc biệt nói đến vai trò của Giáo Hội tại Đại lục bao la này, trong đó có rất nhiều nền văn hóa khác nhau:

”Giáo Hội được mời gọi làm chứng cho Tin Mừng, qua cuộc đối thoại và cởi mở đối với mọi người. Điểm khởi hành và điểm tham chiếu cơ bản chính là căn tính của chúng ta, căn tính Kitô hữu. Chúng ta không thể dấn thân đối thoại đích thực nếu chúng ta không ý thức về căn tính của mình. Nếu chúng ta muốn trao đổi một cách tự do, cởi mở và phúc lợi với tha nhân, chúng ta phải biết rõ mình là ai, điều mà Thiên Chúa đã làm cho chúng ta và điều Ngài yêu cầu chúng ta. Và nếu sự trao đổi của chúng ta không muốn là một cuộc độc thoại, thì phải có tâm trí mở rộng để chấp nhận những con người và các nền văn hóa.

Cũng trong lãnh vực làm chứng và đối thoại, cần có căn tính Kitô vững mạnh như điểm tham chiếu, ĐTC nhắc đến 3 khó khăn cần phải nghĩ đến và cố tránh chúng:

– Thứ I là thái độ duy tương đối, thúc đẩy chúng ta vào những vùng cát lún của sự hỗn độn và tuyệt vọng. Đó là cám dỗ trên thế giới ngày nay, mà cả các cộng đồng Kitô cũng gặp phải, khiến cho ta quên rằng ”bên kia những điều thay đổi có những thực tại bất biến; những thực tại ấy có nền tảng tối hậu nơi Chúa Kitô, Đấng vẫn luôn luôn bất biến, hôm qua, hôm nay và mãi mãi (GS 10; Xc Dt 13,8).

Thái độ duy tương đối cần tránh ở đây không phải chỉ là một hệ thống tư tưởng, nhưng còn là thái độ duy tương đối thực hành, trong đời sống thường nhật, nó làm suy yếu bất kỳ căn tính nào và hầu như người ta không cảm thấy tình trạng đó.

– Cách thức thứ II mà thế gian đe dọa căn tính Kitô vững chắc của chúng ta, đó là sự hời hợt; những điều thịnh hành theo thời, tránh né và trốn chạy. Đây là một vấn đề trầm trọng về mục vụ. Đối với các thừa tác viên của Giáo Hội, thái độ hời hợt này cũng có thể biểu lộ qua sự kiện họ bị thu hút vì những chương trình mục vụ và lý thuyết gây thương tổn cho cuộc gặp gỡ trực tiếp và phúc lợi với các tín hữu, nhất là những người trẻ, là những người trong thực tế đang cần một nền huấn giáo vững chắc, một sự linh hướng chắc chắn. Nếu không ăn rễ sâu nơi Chúa Kitô, thì những chân lý mà chúng ta sống rốt cuộc sẽ suy yếu, việc thực hành nhân đức chỉ có là vụ hình thức và cuộc đối thoại chỉ là một hình thức thương lượng hoặc đồng ý về sự bất đồng với nhau.

Cám dỗ thứ III là cái vẻ tự tin chắc chắn nấp đằng sau những câu trả lời dễ dàng, những câu làm sẵn, những luật lệ và qui tắc. Tự bản chất, đức tin không qui trọng tâm vào mình, đức tin có khuynh hướng ”đi ra ngoài”, tìm cách làm cho mình được hiểu rõ, làm nảy sinh chứng ta, tạo nên sứ mạng truyền giáo. Căn tính Kitô của chúng ta, xét cho cùng, hệ tại dấn thân tôn thờ một mình Thiên Chúa và yêu thương nhau, phục vụ nhau, không những chứng tỏ điều mà chúng ta tin, nhưng còn cho thấy điều mà chúng ta hy vọng và ai là Đấng mà chúng ta đặt trọn niềm tín thác (Xc 2 Tm 1,12).

ĐTC nói thêm rằng chính niềm tin sinh động nơi Chúa Kitô tạo nên căn tính sâu xa và phong phú nhất của chúng ta. Nó nảy sinh và được nuôi dưỡng nhờ ơn thánh do cuộc đối thoại của chúng ta với Chúa và sự thúc đẩy của Thánh Linh. Niềm tin ấy mang lại thành quả công lý, sự tốt lành và an bình.

ĐTC nói các GM Á châu: Anh em hãy làm sao để căn tính Kitô của các Giáo Hội địa phương được xuất hiện rõ ràng trong các chương trình huấn giáo và mục vụ giới trẻ của anh em, trong việc phục vụ người nghèo và những người mòn mỏi sống bên lề các xã hội sung túc của chúng ta và qua những cố gắng của anh em nuôi dưỡng các ơn gọi linh mục và tu sĩ.

Sau cùng, ĐTC nói: ”Cùng với một ý thức rõ ràng về căn tính Kitô, cuộc đối thoại chân chính cũng đòi một khả năng cảm thông. Không phải chúng ta chỉ nghe những lời người khác nói, nhưng còn đón nhận cả những thông tin không được nói ra về kinh nghiệm, hy vọng và khát mong, những khó khăn của họ và những điều mà họ đặc biệt quan tâm. Sự cảm thông ấy phải là kết quả cái nhìn thiêng liêng của chúng ta và kinh nghiệm bản thân, khiến chúng ta nhìn tha nhân như anh chị em, lắng nghe qua những lời nói và hành động của họ, điều mà con tim họ muốn thông truyền. Trong tinh thần cởi mở như thế đối với tha nhân, các nước Á châu mà Tòa Thánh chưa có quan hệ ngoại giao trọn vẹn sẽ không do dự thăng tiến một cuộc đối thoại có lợi cho tất cả mọi người”.

ĐTC giải thích rằng ”Ở đây tôi không phải chỉ nói về đối thoại chính trị, nhưng cũng nói về đối thoại giữa con người với nhau, đối thoại huynh đệ nữa”.

Sau bài huấn dụ, ĐTC đã bắt tay chào thăm từng vị GM và lúc 1 giờ, ngài đã dùng bữa với các GM. Lúc gần 4 giờ chiều, ngài đến cánh đồng trước lâu đài Hải My cách đó hơn 1 cây số rưỡi để cử hành thánh lễ bế mạc Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu kỳ 6.

Lâu đài này được xây cất cách đây 593 năm (1421) như một thành trì chống lại quân cướp, nhưng 70 năm sau đó đã được biến thành một trung tâm quân sự với các doanh trại và cả nhà giam. Vì thế trong thời cách hại hồi thế kỷ 19, đã có gần 3 ngàn tín hữu Công Giáo bị giam giữ tại đây và nhiều người bị tra tấn và hành quyết.

Thánh Lễ bế mạc

Hiện diện trong cánh đồng trước lâu đài Hải My chiều chúa nhật 17-8-2014, có hàng chục ngàn tín hữu tụ tập để tham dự thánh lễ do ĐTC cử hành, trong đó có hơn 2 ngàn bạn trẻ Á châu, và 4 ngàn bạn trẻ tham dự Ngày Giới trẻ Công Giáo Hàn Quốc, trong áo choàng mầu xanh lá cây và áo T-shirt màu vàng chanh, được chỗ ở khu vực trước lễ đài. Đồng tế với ĐTC có đông đảo các GM Á châu và Hàn quốc cùng với 70 LM từ các nước Á châu.

Trong bài giảng thánh lễ, ĐTC đã phân tích từng phần của chủ đề Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu kỳ 6: ”Hỡi giới trẻ Á châu, hãy trỗi dậy! Vinh quang của các vị tử đạo chiếu sáng trên các bạn!”.

Ngài nhận định rằng Á châu là một đại lục phong phú về các truyền thống triết học và tôn giáo, đại lục này vẫn là một biên cương lớn đối với việc làm chứng cho Chúa Kitô, ”là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). ”Không những các bạn sống tại Á châu, nhưng các bạn còn là những người con của đại lục rộng lớn này, các bạn có quyền và nghĩa vụ tham gia trọn vẹn vào đời sống xã hội của các bạn. Các bạn đừng sợ mang sự khôn ngoan của đức tin vào trong mọi lãnh vực của đời sống xã hội.

ĐTC nói thêm rằng trong tư cách là những người trẻ Á châu, các bạn nhìn thấy và yêu mến từ bên trong tất cả những gì là đẹp đẽ, cao quí và chân thực trong các nền văn hóa và truyền thống của các bạn. Đồng thời, trong tư cách là Kitô hữu, các bạn cũng biết rằng Tin Mừng có sức mạnh thanh tây, nâng cao và kiện toàn gia sản ấy. Ngoài ra, các bạn có khả năng phân định điều gì là không thể dung hợp với đức tin Công Giáo, điều gì trái ngược với đời sống ơn thánh được phú vào các bạn nhờ bí tích rửa tội, và đâu là những khía cạnh trong nền văn hóa hiện đại là tội lỗi, hư hỏng và dẫn tới sự chết.

Đề cập đến phần thứ 3 trong đề tài của Ngày Giới trẻ Á châu là ”Hãy trỗi dậy!”, ĐTC nói: câu này nói về trách nhiệm mà Chúa ủy thác cho các bạn. Đó là nghĩa vụ phải tỉnh thức để không để cho những áp lực, cám dỗ và tội lỗi của chúng ta hay của người khác làm cho chúng ta không còn nhạy cảm đối với vẻ đẹp của sự thánh thiện, với niềm vui của Tin Mừng nữa.

Thánh lễ ĐTC cử hành bằng tiếng latinh, nhưng bài giảng của ngài bằng tiếng Anh, với phần thông dịch ra tiếng Hàn quốc, và các bài đọc bằng tiếng Philippines, Bahasa Malaysia, Hàn quốc, còn các ý nguyện trong lời nguyện giáo dân bằng tiếng Nhật, Anh, Lào và Hàn quốc.

Diễn từ của đại diện GM Hàn quốc và ĐHY Gracias

Sau phép lành của ĐTC vào cuối thánh lễ, Đức Cha Phêrô Khương Vũ Nhất (Kang U Il), GM giáo phận Tể Châu (Cheju), Chủ tịch HĐGM Hàn Quốc, đã đại diện mọi người chào ĐTC và nhắc đến sự kiện các bạn trẻ có cùng một niềm tin, từ các môi trường khác nhau, tụ họp lại, vượt lên trên những bức tường khác biệt: quốc tịch và ngôn ngữ, để củng cố tình huynh đệ của họ trong Chúa Kitô, để mừng lễ và cùng nhau chúc tụng Thiên Chúa. Vì lần này ĐGH dành nhiều thời giờ cho họ, người trẻ Á châu đã cảm nghiệm được những giờ phút hồng ân không thể tái diễn, một hạt giống hy vọng cho tương lai.

Tiếp lời Đức Cha Khương Vũ Nhất, ĐHY Oswald Gracias, TGM Mumbai, Chủ tịch Liên HĐGM Á châu, bày tỏ tâm tình của hàng chục ngàn bạn trẻ sau 5 ngày gặp gỡ, quyết tâm của họ bước theo Tin Mừng và sức mạnh của Bí tích rửa tội trong hành trình Kitô, cũng như trong đời sống dân sự. Cụ thể là không chấp nhận nền kinh tế loại trừ, không chiều theo một nền kinh tế ích kỷ, không có luân lý đạo đức, không chấp nhận tinh thần duy vật. Trái lại, chấp nhận một cuộc gặp gỡ bản thân với Chúa Giêsu, Đấng mà chúng ta muốn mang theo mình; lắng nghe tiếng kêu than của người nghèo, người túng thiếu và cô đơn, chấp nhận một thế giới đang nóng lòng mong đợi chúng ta.

Sau cùng, ĐHY Gracias loan báo Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu kỳ 7 sẽ diễn ra tại Indonesia vào năm 2017. Một Video ngắn về Giáo hội Công Giáo tại Indonesia đã được trình chiếu nhân dịp này.

Sau thánh lễ, vì trời xấu, nên ĐTC đã đi xe lửa trở về thủ đô Hán Thành thay vì dùng trực thăng như chương trình dự định. Ngài dùng xe lửa đặc biệt do phủ tổng thống đề nghị.

Vài chi tiết bên lề

1. Rửa tội tại tòa Sứ Thần Tòa Thánh

Lúc 7 giờ sáng chúa nhật 17-8-2014, tại nhà nguyện tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở thủ đô Hán Thành, ĐTC đã ban phép rửa tội cho Ông Lee Ho Jin, thân phụ của một trong những người trẻ bị thiệt mạng trong vụ đắm tàu Sewol ngày 16-4 năm nay. Hôm thứ sáu 15-8, trong thánh lễ tại Sân bóng đá thế giới ở thành phố Đại Điền, Ông đã xin ngài rửa tội cho trong dịp ngài gặp một nhóm thân nhân các nạn nhân bị đắm tàu và ngài đã nhận lời. Ông đã mang thánh giá đi hành hương 900 cây số từ nơi con ông sinh ra tới hải cảng nơi con tàu Sewol khởi hành. Trong hai năm trước đó, ông đã theo học giáo lý tại một xứ đạo Công Giáo.

Tháp tùng Ông Lee Ho Jin trong lễ nghi rửa tội có con trai và con gái của ông, cùng với 1 linh mục đã giới thiệu ông với ĐTC khi ở Đại Điền. Phần lớn lễ nghi rửa tội đơn sơ do Cha John Chong Che Chon, giám tỉnh dòng Tên Hàn quốc, thông dịch viên của ĐTC cử hành, và chính ĐTC đổ nước rửa tội và xức dầu ban phép thêm sức cho tân tòng. Ông đã nhận tên thánh là Phanxicô để ghi ơn ĐTC và người đỡ đầu là một nhân viên tòa Sứ Thần Tòa Thánh.

2. Tông đồ sự sống không có tay chân

Trong cuộc viếng thăm của ĐTC dành cho những người khuyết tật hôm thứ bẩy, 16-8-2014 tại trung tâm Kkottongnae, cũng gọi là ”Hoa Chi Thôn”, thuộc giáo phận Kim Châu (Cheonju), đặc biệt có cuộc gặp gỡ giữa ngài với Thày Lý Cố Văn (Lee Gu Won), một người không tay không chân đã trở thành tông đồ sự sống, thuộc tu hội Hội Thánh Luca Hoàng ở Hàn Quốc.

Tuy bị bỏ rơi ngay từ lúc mới sinh ra vì khuyết tật trầm trọng như vây, Lý Cố Văn đã sống sót và đã quyết tâm tận hiến đời mình cho Thiên Chúa và loan báo Tin Mừng hy vọng cho những người tàn tật ở Hàn Quốc.

Thầy Lý Cố Văn sinh ngày 9-5-1990 không tay chân và không hề có tiếp xúc nào với cha mẹ và cũng chẳng biết mình sinh ra ở đâu. Điều chắc chắn là hài nhi bị bỏ rơi tại trung tâm nhận con nuôi Thánh Giá ở Hán Thánh. Ngày 12 tháng 7 cùng năm 1990, Cha Gioan Bosco Kim Đông Nhật (Kim Dong-il) đến thăm cô nhi viện và thấy bé Lý. Cha biết chắc chắn sẽ không ai nhận cậu bé này làm con nuôi, nên đã xin Đức GM bản quyền cho phép nhận bé làm con nuôi và được GM đồng ý. Thế là cha mang hài nhi về Hội Thừa Sai Luca Hoàng ở giáo phận Kim Châu (Cheonju) và nuôi dưỡng trong cộng đoàn.

Cha nói: ”Giả sử tôi không nhận và mang bé theo tôi, thì cũng như là giết cậu bé. Tôi nhận thấy rằng nhận nuôi một đứa trẻ với những vấn đề như thế có nghĩa là phải hy sinh rất lớn về tài chánh và thời giờ, nhưng chúng ta không thể đo lương mọi sự trên căn bàn tiền bạc. Xã hội Hàn quốc cần hiểu rằng mỗi sự sống đều là quí giá, cho dù đó là một sự sống có vẻ phức tạp hơn.”

Được các ân nhân và thừa sai trợ giúp, hồi tháng 3 năm 2008, anh Lý Cố Văn, 18 tuổi, được nhận vào Đại học Công Giáo ở thành phố Đại Điền (Daejeon). Anh và cha nuôi đều ý thức rằng những kết quả này không phải là điều tự nhiên mà được, nhưng là kết quả của một sự học hành và làm việc chăm chỉ. Trong khi đó thì ơn gọi thừa sai bắt đầu chín mùi nơi anh Lý Cố Văn và ngày 31-1-2011, với phép của Đức GM, thầy đã được khấn lần đầu tiên sau tập viện. Thầy kể ”Những ngừơi anh em của tôi nói với tôi về ”Trung tâm phụng sự sự sống” thuộc Tu hội của chúng tôi nên tôi quyết định hiến đời tôi cho lý tưởng đó. Mong ước của tôi là công bố Tin Mừng sự sống và tình yêu thương con người”.

Tháng 3 năm 2013 thầy Lý Cố Văn tốt nghiệp đại học sau 5 năm theo học và giấc mơ của thầy thành tựu. Nay thầy làm việc tại trung tâm, an ủi các bệnh nhân và những người bị bỏ rơi, và hàng tháng viết bản tin, mang lại cho nhiều độc giả niềm phấn khởi và hy vọng.

Thày Lý Cố Văn cũng kể rằng: Cha Bosco Kim xin tôi công bố Tin Mừng cho những ngừơi khuyết tật. Tôi cầu xin Chúa và cám ơn Chúa vì phúc lành của Ngài, kể cả khả năng làm việc bênh vực sự sống trong lãnh vực truyền giáo. Tôi muốn thông truyền cho thế giới và Hàn quốc,là nước có tỷ lệ người trẻ tự tử cao nhất thế giới, sứ điệp hy vọng nơi Chúa chúng ta”.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Tâm hồn khiêm tốn

Tâm hồn khiêm tốn

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Biến cố chúng ta vừa đọc lại trên đây cho thấy Chúa Giêsu đã vượt qua một biên giới, và đến gần vùng đất của dân ngoại. Và tại đây Ngài đã gặp một người đàn bà được hưởng lấy lợi ích từ tác vụ của Chúa Giêsu, tự lãnh nhận những hồng ân Thiên Chúa như những người con Do Thái đồng hương. Vừa bước vào vùng đất mới, Chúa Giêsu nghe được lời kêu van của một người đàn bà đang gặp thử thách: “Lạy Ngài, con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi. Đức con gái tôi bị quỉ ám khổ sở lắm”. Nhưng Chúa Giêsu không đáp lại một lời. Trước lời kêu xin tha thiết như vậy, tại sao Chúa không đáp lại? Chúa là Đấng nhân từ, đầy cảm thông trước cảnh cùng khổ của những ai đến với Chúa và đã dạy các tông đồ: “Hãy cầu nguyện thì sẽ được. Hãy gõ cửa thì sẽ mở cho”. Thế mà tại sao Chúa lại làm thinh, không trả lời cho người đàn bà đang thành tâm kêu xin? Hẳn có lý do.

Các tông đồ không hiểu được thái độ của Chúa và cũng không muốn bị quấy rầy nên đã nói với Chúa như sau: “Xin Thầy bảo bà ấy đi đi, kẻo bà ấy cứ theo chúng ta mà kêu mãi”. Các tông đồ hiểu lầm thái độ im lặng của Chúa như một sự từ chối và các ngài cũng muốn phủi tay: “Xin Chúa đuổi bà ấy đi cho, đừng để bà ấy quấy rầy nữa”. Chúa Giêsu không chỉ im lặng mà Ngài còn lên tiếng nói lời chối từ như sau: “Ta chỉ được sai đến để cứu những con chiên lạc của nhà Israel mà thôi”.

Chúng ta nên học hỏi thái độ khiêm tốn và kiên trì của người đàn bà: “Lạy Thầy, xin cứu giúp tôi”. Bà không bực tức, không nổi giận, không trách móc Chúa tại sao thế này, tại sao thế nọ. Chúa càng im lặng thì bà càng khiêm tốn hơn nữa. Không những bà chỉ nói mà còn van xin bằng cả con người của mình. Bà sụp lạy Chúa Giêsu và nói: “Xin Ngài thương xót con”. Sự im lặng của Chúa là một thử thách, thử thách trong đức tin, thử thách trong việc cầu nguyện Chúa Giêsu thử thách nhiều hơn nữa: “Không được lấy bánh dành cho con cái mà đem ném cho chó”. Đây là thử thách ở mức độ cuối cùng, ai có thể vượt qua được. Người đàn bà xa lạ và thuộc dân ngoại khiêm tốn thưa cùng Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, đúng thế, nhưng mà những con chó con cũng được ăn những mảnh vụn từ trên bàn chủa rơi xuống”. Có thể nói tâm hồn khiêm tốn đã giúp người đàn bà vượt qua được thử thách và trưởng thành trong đức tin. Chúa Giêsu trấn an bà như sau: “Này bà, lòng tin của bà thật mạnh. Bà muốn sao thì sẽ được như vậy”. Người đàn bà chỉ xin Chúa cho lợi lộc thông thường cho con bà khỏi bị quỉ ám và bà được nhận lời.

Chúng ta có thể tượng tưởng người đàn bà sẽ vui mừng biết bao hơn nữa khi lãnh nhận được ơn Chúa. Cuối đoạn đường gian nan nhìn lại, chúng ta sẽ thấy rõ những giây phút Chúa xem ra im lặng là những giây phút quí trọng vô cùng vì những im lặng và từ chối này của Chúa giúp đức tin của chúng ta được trưởng thành. Khi đi qua đoạn đường gian nan, chúng ta có thể hiểu được chương trình của Chúa dành cho cuộc đời mình. Thử hỏi, chúng ta còn đủ nghị lực để đi qua đoạn đường nhiều gian nan thử thách hay không. 

Lạy Chúa,

Xin thương ban cho tất cả những ai chọn theo Chúa có được tâm hồn khiêm tốn để lãnh nhận những mầu nhiệm ân sủng của cuộc đời. 

Lạy Chúa, Xin thương nâng đỡ chúng con và củng cố đức tin cho chúng con.

Veritas Radio

Lòng tin

Lòng tin

Người ta kể về một người đàn bà ở bãi biển. Bà ấy vừa già, lại dơ bẩn và ăn mặc dị hợm. Bà đi bộ lang thang dọc theo bờ biển, thỉnh thoảng ngừng lại cúi xuống nhặt một cái gì đó bỏ vào trong túi sách. Khi bà đi ngang qua đám trẻ con đang đùa vui trên cát biển, cha mẹ của những em bé này liền gọi các em lại để khỏi gần gũi với bà. Họ lo lắng và sợ hãi vì không biết bà có thể làm điều gì gây nguy hại cho các em. Họ căn dặn con cái: “Không có việc gì phải liên hệ với bà ta cả”. Sau này, họ khám phá thấy rằng bà lão đi dọc theo bờ biển và nhặt những miếng kính vỡ bỏ vào trong túi xách để trẻ em không bị đứt chân chảy máu khi chạy vui đùa trên bãi biển.

Nếu chúng ta bước theo Chúa Giêsu, chúng ta phải sẵn sàng dẹp bỏ những hàng rào ngăn cách. Điều này được thể hiện bằng thái độ nhìn tất cả mọi người bình đẳng như nhau, không còn phân biệt kỳ thị nam nữ, giàu nghèo, sắc tộc, màu da, hay tôn giáo. Và trong ánh sáng đức tin, phải nhìn mọi người là anh chị em của mình, là con cái của Chúa Cha trên trời. Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta điều này trong thư gửi tín hữu Galát: “Không còn chuyện phân biệt Do Thái hay Hy Lạp, nô lệ hay tự do, đàn ông hay đàn bà; nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Kitô”. Đối với những người ngoài Kitô giáo, trong tuyên ngôn về liên lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, Nostra Aetate, đoạn 5, Công Đồng Vatican II đã nói: “Chúng ta không thể kêu cầu Thiên Chúa là Cha mọi người nếu chúng ta không muốn xử sự như anh em đối với một số người, cũng được tạo dựng giống hình ảnh Chúa. Liên lạc giữa con người với Thiên Chúa là Cha và giữa con người với anh em mình, có liên quan mật thiết với nhau như lời Thánh Kinh: “Ai không yêu thì không nhận biết Thiên Chúa”. Do đó, mọi lý thuyết hay hành động đưa đến kỳ thị về phẩm giá con người và những quyền lợi do phẩm giá đó mà ra, kỳ thị giữa con người với nhau, giữa dân này với dân khác, sẽ không có nền tảng. Vì thế, Giáo Hội bác bỏ mọi sự kỳ thị hoặc đàn áp chủng tộc hay màu da, giai cấp hay tôn giáo, vì thái độ ấy xa lạ với tinh thần Chúa Kitô. Do đó, thánh Công đồng theo chân thánh Phêrô và Phaolô, khẩn thiết kêu mời các Kitô hữu: “Hãy sống ngay lành giữa người lương dân”, nếu có thể được, tuỳ khả năng mà sống hoà thuận với hết mọi người như những người con một Cha trên trời”. Đối với những người Kitô hữu, trong tinh thần hiệp nhất, Công đồng nói: “Thánh công đồng này khuyến khích tất cả mọi người Công giáo hãy nhận ra các dấu chỉ thời đại để khéo léo tham gia vào công cuộc hiệp nhất”.

Đối với những anh chị em ly khai, Công đồng Vatican II nói: “Người Công giáo cần phải vui mừng nhìn nhận tôn trọng những giá trị thật sự Kitô giáo, xuất phát từ cùng một gia sản chung được tìm thấy nơi các anh em ly khai. Nhìn nhận những kho tàng phong phú của Chúa Kitô và những hoạt động của quyền lực Người trong đời sống của những kẻ đang làm chứng về Người – và có khi phải đổ máu mới nói lên được chứng tá ấy – quả là chính đáng và có giá trị cứu rỗi: vì Thiên Chúa luôn đáng khâm phục và việc Người làm bao giờ cũng kỳ diệu”. Nhìn vào tấm gương của người đàn bà Canaan, chúng ta cũng rút ra được bài học quý giá trong đời sống đức tin. Với tình yêu lớn lao của một người mẹ đối với con gái đang đau nặng, người đàn bà Canaan đã vượt qua mọi ranh giới kỳ thị của xã hội – đàn bà và dân ngoại – để kiên trì tin tưởng vào lòng nhân lành của Chúa Giêsu. Tình yêu là động lực dẫn đến đức tin. 

Trong cuốn truyện “Anh em nhà Karamazốp”, Dostoevski kể về câu chuyện của một bà lão đang bị khủng hoảng về tinh thần và thể lý. Ngày nọ bà đến bàn luận vấn đề này với linh mục Zossima. Bà tâm sự về sự yếu kém của đức tin, cùng nỗi nghi ngờ về sự hiện hữu của Thiên Chúa và đời sống mai sau. Linh mục Zossima thông cảm lắng nghe, rồi khuyên bà rằng chẳng có cách nào minh chứng rõ ràng về những điều này, nhưng vẫn có thể làm cho đức tin của bà chắc chắn hơn bằng tình yêu thương tha nhân. Hãy cố gắng yêu người láng giềng cho thật tình. Càng yêu thương, bà sẽ càng tin tưởng chắc chắn hơn về sự hiện hữu của Thiên Chúa và về đời sống sau khi chết. Càng yêu mến, đức tin của bà càng trở nên mạnh mẽ, và làm tiêu tan hết những nỗi nghi ngờ. Bà đã thử nghiệm và thấy có kết quả.

Linh mục Mark Link S.J., trong bài giảng Chúa nhật XX hôm nay, đã ví tình yêu và đức tin đi đôi với nhau không khác gì như hai đường rầy xe lửa. Tìm được cái này sẽ thấy cái kia. Đức tin và tình yêu liên kết với nhau như xác với hồn. Cha cũng dùng lời của bác sĩ truyền giáo Albert Schweitzer, trong cuốn sách có nhan đề “Reverence for Life” – “Kính trọng Cuộc Sống” như sau: “Bạn có muốn tin vào Chúa Giêsu không? Bạn có thực sự muốn tin Ngài không? Như thế bạn phải làm một điều gì đó cho Ngài. Trong thời buổi đầy ngờ vực này thì không có cách nào khác đâu. Nếu vì Ngài mà các bạn cho kẻ khác đồ ăn, nước uống hoặc áo mặc, những nghĩa cử này Chúa Giêsu đã hứa chúc phúc như là làm cho chính Ngài, thì lúc đó bạn sẽ thấy rằng mình đã thực sự làm điều ấy cho Ngài. Chúa Giêsu sẽ mặc khải chính Ngài cho bạn như thể Ngài là một người vẫn còn sống”.

Các bậc cha mẹ cần củng cố đức tin hãy bắt chước người đàn bà Canaan, đến với Chúa Giêsu với lòng yêu thương con cái tha thiết. Và tất cả mọi người, muốn cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời, hãy mở rộng tâm hồn để chấp nhận những người anh chị em không cùng tôn giáo, lập trường chính trị, văn hoá, sắc tộc hay ngôn ngữ. Bởi “Ai không yêu thì không nhận biết Thiên Chúa”.

Sưu tầm

TIN YÊU SỐNG BÍ TÍCH THÁNH THỂ THEO GƯƠNG ĐỨC MẸ

TIN YÊU SỐNG BÍ TÍCH THÁNH THỂ THEO GƯƠNG ĐỨC MẸ

Đoạn Tin Mừng hôm nay thật lôi cuốn. Lôi cuốn trước hết ở diễn tiến bất ngờ của phép lạ. Bất ngờ đầu tiên: người phụ nữ ngoại đạo dám đến xin phép lạ cho con mình. Người ngoại với người Do Thái không bao giờ liên hệ với nhau. Với người phụ nữ ngoại giáo, khoảng cách càng xa diệu vợi. Thế mà người phụ nữ này dám vượt qua hết những rào cản để đến với Chúa. Bất ngờ thứ hai: Chúa đã có thái độ từ chối quyết liệt. Từ chối bằng im lặng không trả lời. Từ chối thẳng thừng bằng lời nói quyết liệt: “Thầy chỉ được sai đến với những con chiên lạc của nhà Israel thôi”. Và căng thẳng đến tàn nhẫn: “Không được lấy bánh của con cái mà ném cho lũ chó con”. Bất ngờ thứ ba: người phụ nữ chấp nhận tất cả những thử thách, và đã có câu trả lời thông minh: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”. Thật là khiêm tốn, nhưng cũng đầy tin tưởng. Thật bất ngờ mà cũng thật đẹp đẽ.

Lôi cuốn ở nét đẹp tâm hồn người phụ nữ. Ẩn sâu trong vẻ đẹp của thái độ người phụ nữ ngoại đạo, ta thấy nổi bật hai phẩm chất cao quí đó là: Tin và Yêu. Yêu con tha thiết nên bà không thể nhẫn tâm ngồi nhìn ma quỷ hành hạ đứa con yêu quí. Yêu con tha thiết nên bà không ngần ngại đi tìm thầy tìm thuốc ở khắp mọi nơi, kể cả những nơi bị coi là cấm kỵ. Yêu con tha thiết nên bà chấp nhận tất cả, không chỉ sự mệt nhọc tìm kiếm mà cả sự dửng dưng lạnh nhạt và nhất là sự khinh khi nhục mạ. Yêu con nên bà tin Chúa. Tin Chúa có quyền năng thống trị ma quỷ. Tin Chúa có lòng thương xót sẽ ra tay cứu chữa. Tin Chúa có trái tim rộng mở sẽ không phân biệt người ngoại kẻ đạo. Tin và Yêu giống như đôi cánh đã giúp người phụ nữ bay lên rất cao và bay đi rất xa. Cao lên tới Thiên Chúa. Xa khỏi những ngăn cách trắc trở. Tin và Yêu giống như giòng thác nước. Càng gặp đập ngăn cản càng dâng lên cao. Càng dâng lên cao sức mạnh càng tăng. Và khi đổ ào xuống sẽ phát sinh công hiệu quả lớn. Tin và Yêu giống như chiếc chìa khoá vạn năng có thể mở được mọi cánh cửa. Mở được cánh cửa Nước Trời. Mở được cả tâm hồn Thiên Chúa.

Trong bối cảnh của Năm Thánh Thể, thái độ người phụ nữ ngoại đạo khiến ta liên tưởng đến Đức Mẹ, người phụ nữ Thánh Thể. Người phụ nữ ngoại đạo này là một bà mẹ hiền. Vì thương con đói khổ nên bà đã lặn lội đi tìm tấm bánh về nuôi con. Vì thương con nên bà chấp nhận tất cả mọi vất vả, khổ cực, nhục nhã. Và Chúa đã thưởng công bà. Bà chỉ mong tìm được những mẩu bánh vụn dư thừa từ bàn chủ rơi xuống. Nhưng Chúa đã ban cho bà trọn vẹn tấm bánh thơm ngon của những đứa con. Bà chỉ mong được như lũ chó con chực chờ thức ăn dư thừa từ bàn chủ rơi xuống. Nhưng Chúa đã cho bà và con gái bà được đồng bàn với con cái Chúa. Chúa đã ban cho bà tấm bánh hạnh phúc. Đó là tấm bánh cứu độ. Cho bà được gia nhập gia đình Chúa, trở nên con cái Chúa. Bà đã mở được đường lên Nước Trời, đã làm cho Chúa thay đổi chương trình, thu nhận dân ngoại vào Nước Chúa.

Cũng thế, Đức Mẹ là người mẹ rất hiền từ. Vì thương yêu chúng ta nên Mẹ cũng lặn lội đi tìm cho ta tấm bánh hạnh phúc. Mẹ đã trao ban cho ta tấm bánh cứu độ. Đó chính là Chúa Giêsu Kitô. Nếu hiểu rằng Thịt Máu Chúa Giêsu Thánh Thể cũng chính là thịt máu Mẹ đã cưu mang trong lòng, ta mới rõ Đức Mẹ là người Mẹ hiền đã tìm cho con cái tấm bánh cứu độ thơm ngon hạnh phúc. Và để có được tấm bánh đó, Đức Mẹ đã phải chịu rất nhiều vất vả, đau đớn, khổ nhục như lời tiên tri Simêon tiên báo: “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà”. Chính nhờ Mẹ, ta được ăn bánh các thiên thần, được đồng bàn với thần thánh, được nên con Thiên Chúa.

Không những ban cho ta tấm bánh cứu độ, Đức Mẹ còn dạy ta sống bí tích Thánh Thể trong đức tin và tình yêu.

Đức Mẹ dạy ta hãy tin thật Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể, noi gương Mẹ khi xưa nghe lời thiên thần truyền tin đã hoàn toàn tin rằng bào thai trong lòng Mẹ là Con Thiên Chúa. 

Đức Mẹ dạy ta hãy tin vào quyền năng của Chúa. Như xưa tại tiệc cưới Cana, Mẹ đã bảo các gia nhân: “Người bảo gì thì hãy cứ làm theo”. Hôm nay, trong Năm Thánh Thể, Đức Mẹ cũng muốn nói với ta: Nếu Chúa đã dạy: “ Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”, thì hãy sốt sắng tin tưởng cử hành bí tích Thánh Thể. Hãy vững tin vì Đấng đã có thể biến nước lã hoá thành rượu ngon cũng có thể làm cho bánh và rượu trở nên Thịt Máu Người. 

Đức Mẹ dạy ta hãy luôn hướng về bí tích Thánh Thể như xưa Mẹ đã theo Chúa Giêsu trên mọi bước đường, dù gian nan khổ cực.

Đức Mẹ dạy ta dâng mình làm hy lễ. Như xưa Mẹ đã đứng dưới chân Thánh giá, cùng Chúa Giêsu dâng hiến những đau khổ làm hy lễ dâng Thiên Chúa Cha. Và cũng như xưa Đức Mẹ đã đem Chúa Giêsu đến với bà Elisabet, đem lại niềm vui lớn lao cho bà, vì đã cho Thánh Gioan Baotixita được khỏi tổ tông truyền khi còn trong lòng mẹ, Đức Mẹ cũng dạy ta khi sống bí tích Thánh Thể, hãy trở nên những nhà tạm sống động đem Chúa Giêsu Thánh Thể đến khắp mọi nơi, đem ơn cứu độ đến cho mọi người.

Hôm nay khi cho người phụ nữ ngoại đạo được tấm bánh của con cái, được đồng bàn với con cái Chúa, Chúa cho bà được gia nhập dân riêng Chúa. Điều đó nhắc nhở ta khi sống bí tích Thánh Thể cũng hãy chăm lo việc truyền giáo, đi quy tụ nhiều người về bàn tiệc Thánh Thể, vào dự tiệc Nước Trời. Đức Mẹ La Vang luôn quan tâm đến việc truyền giáo, nên Mẹ không ngừng yêu thương và ban ơn lành cho những lương dân chạy đến với Mẹ. Trong những buổi cử hành sắp tới, ta sẽ được nghe những chứng từ rất sống động về tình thương của Mẹ. 

Đức Mẹ là thầy dạy về bí tích Thánh Thể một cách tuyệt hảo. Chính vì thế, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô đệ nhị khuyên mời ta hãy đến nơi trường của Đức Mẹ. Hôm nay, họp nhau đông đảo về đây, ta hãy tạ ơn Mẹ La Vang đã ban cho ta Chúa Giêsu là tấm bánh cứu độ hạnh phúc. Ta hãy xin Mẹ dạy ta biết sống bí tích Thánh Thể trong cuộc đời. Hãy noi gương Mẹ đem Thánh Thể đến khắp các nẻo đường, quy tụ một dân đông đảo về dự tiệc Thánh Thể, dự tiệc Nước Chúa. Lạy Mẹ La Vang xin nhận lời chúng con. Amen. 

GỢI Ý CHIA SẺ

  1. Bí quyết nào khiến bà mẹ ngoại đạo đạt được ước nguyện?
  2. Người phụ nữ ngoại đạo nêu gương cầu nguyện cho ta thế nào?
  3. Đức Mẹ đã sống đức tin vào tình yêu thế nào trong cuộc đời?

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Sức mạnh của lòng tin

Sức mạnh của lòng tin

(Trích trong ‘Cùng Đọc Tin Mừng’)

Norman Vincent Peale (1898-1993) là một mục sư danh tiếng trong Giáo Hội Tin Lành Methodist, đồng thời cũng là nhà tâm lý trị liệu danh tiếng ở Mỹ, đã xuất bản nhiều tác phẩm thuộc hạng ăn khách nhất (best-selling books), trong đó có cuốn “sức mạnh của tư tưởng tích cực” (The Power of positive thinking) xuất bản năm 1952, được dịch ra đến 41 thứ tiếng, bán ra hơn 20 triệu cuốn và còn được thu vào băng dĩa để phát hành.

Cuốn sách nầy lôi cuốn được nhiều độc giả đến thế nó vì giúp cho người ta tìm thấy bí quyết tránh thất bại và đạt tới thành công. Bằng cách nào? Tác giả cuốn sách viết: người ta thất bại vì người ta thiếu lòng tin, thiếu lòng tin nơi Thiên Chúa và thiếu tin tưởng vào khả năng của mình. Vậy muốn thành công, hãy gầy dựng cho mình một niềm tin mạnh mẽ.

Tác giả dùng một câu lời Chúa, trích trong Tin Mừng Mat-thêu làm nên bí quyết để thành công trong cuộc đời, để giành lấy thắng lợi. Câu đó là: “nếu bạn có lòng tin thì chẳng có việc gì mà bạn không làm được.” (Mt 17,20)

Chân lý đó được chứng tỏ qua sự kiện sau đây:

Khi Chúa Giêsu vượt qua biên giới Do-thái qua miền Tia và Xi-đôn, có một người đàn bà xứ Canaan, là người ngoại bang đến gặp Chúa Giêsu và thống thiết nài xin Người: “Lạy Ngài là con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi! Con gái tôi bị quỷ ám khổ sở lắm!”

Chúa Giêsu lặng thinh không đáp.

Nếu ở trong hoàn cảnh người đàn bà nầy, chắc chúng ta tức tối bỏ đi, thầm oán trách Chúa vô tâm. Đó là bức tường thứ nhất người đàn bà Canaan đụng phải, nhưng bà không thối lui. Bà cứ liên lỉ nài van, còn Chúa Giêsu thì cứ tiếp tục lặng thinh. Bà kêu xin bền bĩ đến độ các tông đồ đi theo chịu hết nổi, nên mới xin Chúa Giêsu đáp lại ước vọng của bà: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo sau chúng ta mà kêu mãi!”

Chúa Giêsu lại từ chối: “Thầy chỉ được sai đến với chiên lạc nhà Israel”. Sứ mạng của Chúa Giêsu vào thời điểm đó chỉ dành cho dân Israel mà thôi. Chưa đến lúc, chưa đến giờ đem ơn cứu độ cho mọi dân tộc.

Bị từ chối thẳng thừng, bị dụng vào bức tường thứ hai, nhưng bà không nhụt chí. Bà vẫn tiếp tục van xin. Bà bái lạy Người cách thành khẩn: “Lạy Ngài xin cứu giúp tôi”. Lần nầy, Chúa Giêsu trả lời cách cứng cỏi và quyết liệt: “Không nên lấy bánh của con cái mà cho chó con”. Thế là bà lại đụng phải bức tường thứ ba, tưởng như còn cao hơn, dày hơn hai bức tường trước. Vẫn không thoái chí, bà khiêm nhường chấp nhận thân phận thấp hèn của mình và khiêm tốn cầu xin: “Thưa Ngài, đúng thế, nhưng mà lũ chó con cũng được ăn những mảnh vụn trên bàn chủ rơi xuống”.

Đến đây thì Chúa Giêsu không thể chối từ được nữa và nguyện vọng của người phụ nữ Canaan đã được đáp ứng hoàn toàn. Con gái bà đã được cứu chữa. Chúa Giêsu xác nhận rằng bà được như ý bà muốn là nhờ lòng tin: “Này bà, lòng tin của bà mạnh thật. Bà muốn sao thì sẽ được vậy.”

Vì muốn cho chúng ta biết rằng lòng tin có sức cứu chữa và làm nên phép lạ, nên sau mỗi lần cứu bệnh nhân lành bệnh, Chúa Giêsu không nói: “Ta đã chữa lành con, hãy về bình an”, nhưng Ngài lại nói: “Đức tin của con đã cứu chữa con”. Tin Mừng Mátthêu cũng nhấn mạnh rằng nếu không có lòng tin, thì người ta chẳng đạt được gì cả, bằng chứng là khi Chúa Giêsu về thăm quê hương Ngài là Nadarét, người đồng hương không tin vào Ngài, nên không có phép lạ nào xảy ra. “Người không làm nhiều phép lạ tại đó, vì họ không tin” (Mt 13,58) hay như tường thuật của thánh Máccô: “Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó… Người lấy làm lạ vì họ không tin” (Mc 6, 5-6)

Chúa Giêsu khẳng định rằng ai có lòng tin thì có thể làm được bất cứ việc gì. “Nếu anh em có lòng tin bằng hạt cải thôi, thì dù anh em có bảo núi nầy: “rời khỏi đây, qua bên kia!” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được.” (Mt 17,20)

Một sự kiện điển hình chứng tỏ niềm tin làm nên phép lại là khi Phê-rô thấy Chúa Giêsu đi trên mặt nước, ông cũng muốn được như Thầy và đã xin Chúa Giêsu cho ông thực hiện điều đó. Chúa Giêsu chấp thuận. Tin vào quyền năng Chúa Giêsu, Phêrô làm nên được điều kỳ diệu: ông đi được trên mặt nước để đến với Thầy. Thế nhưng khi thấy gió thổi mạnh, ông đâm ra lo sợ và nghi ngờ. Chính vì mất niềm tin nên ông bị chìm đắm. Ông hốt hoảng la lên. Chúa Giêsu nắm lấy tay Phêrô kéo lên và trách ông: “Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi!” (Mt 14, 22 – 33).

Lòng tin là bí quyết của thành công, đó là bài học quan trọng mà Chúa Giêsu muốn gửi đến chúng ta hôm nay, tiếc thay chúng ta không biết tận dụng bài học đó để thu hoạch những thành quả tốt đẹp trong cuộc đời. 

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đề cao lòng tin, khen ngợi những người mạnh tin và chê trách các môn đệ yếu lòng tin. Xin ban thêm Đức tin cho chúng con để nhờ đó, chúng con vững vàng thắng vượt gian nan thử thách và giành lấy những thành tựu tốt đẹp trong cuộc đời.

Lm Ignatiô Trần Ngà

Ngày thứ 3 chuyến viếng thăm Nam Hàn của Đức Thánh Cha Phanxicô

Ngày thứ 3 chuyến viếng thăm Nam Hàn của Đức Thánh Cha Phanxicô

Thứ bẩy 16-8-2014 chuyến viếng thăm Nam Hàn của Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiến hành được một nửa. Đức Thánh Cha đã có bốn sinh hoạt chính, ban sáng sau khi đến kính viếng các vị tử đạo Đại Hàn tại Đền thánh Seo-So-Mun, lúc 10 giờ Đức Thánh Cha chủ sự thánh lễ đồng tế phong chân phước cho linh mục Phaolô Yun-Ji-Chung và 123 bạn tử đạo.

Lễ Phong Chân Phước cho LM Phaolô Yun Ji-Chung và 123 Bạn tử đạo

Ban chiều ngài đã thăm trung tâm phục hồi người tàn tật Kkottongnae, rồi chủ sự buổi hát kinh chiều gần Trường Tình Thương với 5,000 tu sĩ nam nữ, và gặp gỡ các giáo dân lãnh đạo tổ chức tông đồ giáo dân Nam Hàn tại trung tam tu đức Kkottongnae.

Sau đây là chi tiết các sinh hoạt của Đức Thánh Cha. Lúc 8 giờ 45 Đức Thánh Cha rời tòa Sứ Thần đi xe tới viếng đền các vị tử dạo Seo-So-Mun nằm cách đó 4 cây số. Đậy là nơi 103 tín hữu công giáo đã bị hành quyết và đã được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh ngày mùng 6 tháng 5 năm 1984. Con đường đi từ quảng trường Gwanghwamun tới Seo-So-Mun được mệnh danh là ”tử lộ”, con đường của sự chết hay ”tử đạo”, và gắn liền hai lễ tôn phong với nhau.

Đền thánh các vị đạo là nơi chôn cất 44 vị tử đạo, gồm ba cây cột bằng nham thạch, cột chính giữa cao 15 thước, hai cột hai bên cao 13 thước. Đền kỷ niệm tọa lạc gần nhà thờ Yakhyeon, là ngôi nhà thờ công giáo đầu tiên của Đại Hàn xây năm 1892.

Có hai bạn trẻ đã giúp Đức Thánh Cha đặt vòng hoa tôn kính các Thánh Tử Đạo và ngài đã thinh lặng cầu nguyện một lúc.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã lên Papamobil để tới quảng trường Gwanghwamun cách đó 2 cây số. Đây là quảng trường rộng nối liền cửa Hoàng Cung với quảng trường Tòa Thị Sảnh, biểu tượng cho lịch sử Hàn quốc, và là nơi diễn ra các lễ nghi quan trọng.

Cửa GwangHwaMun được xây năm 1395 như là cửa chính của hoàng cung Gyeongbokgung, là Dinh vua trong triều đại Joseon. Năm 1592 trong cuộc xâm lăng của Nhật Bản nó đã bị tàn phá bởi một trận hỏa hoạn và để hoang tàn trong hơn 250 năm cho tới khi được tái thiết năm 1867 cùng với hoàng cung dưới triều đại hoàng đế Gojong. Chiến tranh Triều Tiên đã phá hủy hoàn toàn cấu trúc bằng gỗ, chỉ còn trơ đế bằng đá bị bỏ hoang. Cấu trúc bằng gỗ được xây lại bằng xi măng cho tới năm 2006.

Xe đã chở Đức Thánh Cha đi một vòng để ngài chào 1 triệu tín hữu đến tham dự thánh lễ, vượt ngoài mọi chờ mong của ban tổ chức. Thánh lễ tôn phong chân phước cho 124 vị tử đạo Hàn quốc đã được cừ hành bằng tiếng Latinh và tiếng Đại Hàn. Đức Thánh Cha đã giảng bằng tiếng Ý được dịch sang tiếng Đại Hàn.

Đây là lần thứ ba Giáo Hội Đại Hàn cử hành lễ phong chân phước cho một số các con cái chết vì đạo Chúa. Lần thứ nhất ngày mùng 5 tháng 7 năm 1925 đã có 79 vị tử đạo, bị giết trong các năm 1839-1846 được phong chân phước. Lần thứ hai ngày 29 tháng 2 năm 1968, đã có 24 vị chết trong cuộc bách hại năm 1866 được phong chân phước. Ngoài ra, cũng đang có án phong chân phước và phong thánh cho cho một số vị tử đạo khác nữa, trong đó có vị linh mục thứ hai của Đại Hàn là cha Tôma Choe Yang-Cop và Đức Cha Phanxicô Borgia Hong Yong-Ho.

Đức Cha Phanxicô Xaviê Ahn Myong-Ok Chủ tịch Ủy ban xin phong chân phước và vị thỉnh nguyện viên đã tới trước mặt Đức Thánh Cha xin ngài phong chân phước cho các vị tử đạo, rồi vị thỉnh nguyên viên đọc tiểu sử của các vị Tôi Tớ Chúa. Tiếp đến Đức Thánh Cha đọc công thức tuyên phong Chân Phước cho các vị. Đức Hồng Y Yeum Soo-Jung, Tổng Giám Mục Seoul đã cám ơn Đức Thánh Cha và nêu bật vai trò của các vị tử đạo đối với Giáo Hội Hàn quốc: 103 Thánh và 124 Chân Phước.

Quảng trường này đã là nơi các vị chết vì đức tin. Nhưng chính cái chết đó đã khiến cho Giáo Hội Đại Hàn lớn lên. Và Giáo Hội đã chứng minh cho xã hội thấy gương sáng của Giáo Hội bằng việc thăng tiến công lý và các quyền con người. Thánh lễ phong Chân phước hôm nay là một dịp để Giáo Hội tiếp tục theo đuổi sự hài hòa và hiệp nhất, không chỉ giữa các tín hữu công giáo mà cả toàn dân Đại Hàn và mọi dân tộc Á châu nữa, qua tình huynh đệ đại đồng. Nó cũng là dịp thăng tiến truyền giáo và theo đuổi lý tưởng là một Giáo Hội phục vụ người nghèo, người bị áp bức và gạt bỏ ngoài lề xã hội, bằng cách loan báo Tin Mừng cho họ.

Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha đã nêu bật sự kiện các vị tử đạo Hàn quốc đã sống và chết vì Chúa Kitô, nên giờ đây được cùng hiển trị với Người trong niềm vui và vinh quang, bởi vì trong cái chết và sự sống lại của Con của Ngài, Thiên Chúa đã ban cho chúng ta chiến thắng vĩ đại nhất. Thật thế, ”Cho dù là sự chết hay sự sống, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì có thể tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).

Lễ tôn phong cha Phaolô và các bạn tử đạo cống hiến cho chúng ta dịp trở lại các thời ban đầu của lịch sử Giáo Hội Hàn quốc. Nó mời gọi tín hữu công giáo Đại Hàn nhớ lại những điều trọng đại mà Thiên Chúa đã thực hiện trên phần đất này và giữ gìn gia tài đức tin đo cha ông họ để lại như kho tàng cho cuộc sống xã hội. Tin Mừng đã đến Hàn quốc không do các thừa sai, mà là do chính các giáo dân trí thức tò mò đã rộng mở tâm trí cho Tin Mừng và dẫn họ đến chỗ gặp gỡ chính Chúa, các bí tích đầu tiên và ước muốn một cuộc sống bí tích và giáo hội cũng như các dấn thân truyền giáo đầu tiên. Nó đã đem lại các hoa trái trong các cộng đoàn sống theo mẫu gương của Giáo Hội thời khai sinh, đồng tâm nhất trí, không chú ý tới các khác biệt xã hội. Lịch sử này nói với chúng ta về tầm quan trọng, phẩm giá và vẻ dẹp ơn gọi của giáo dân. Tôi đặc biệt chào anh chị em giáo dân hiện diện, đặc biệt là các gia đình kitô, hằng ngày dấn thân giáo dục người trẻ sống đức tin và tình yêu thương hòa giải của Chúa Giêsu.

Phúc Âm hôm nay nhắn gửi chúng ta tất cả một sứ điệp. Chúa Giêsu xin Thiên Chúa Cha thánh hiến chúng ta trong sự thật, và giữ gìn chúng ta khỏi thế gian. Ngài không xin Chúa Cha cất chúng ta ra khỏi trần gian. Nhưng Ngài sai các môn đệ ra đi làm muối đất và ánh sáng thế gian. Các vị tử đạo chỉ đường cho chúng ta. Khi theo Chúa, họ đã biết lời Chúa cảnh báo rằng họ sẽ bị thế giới thù ghét vì Ngài. Họ biết giá phải trả.

Đối với nhiều người điều này có nghĩa là sự bắt bớ và sau này, trốn chạy lên núi, nơi họ thành lập các làng công giáo. Họ sẵn sàng chịu các hy sinh lớn lao và để cho mình bị tước bỏ mọi sự có thể làm cho họ xa rời Chúa Kitô: của cải và đất đai, uy thế và danh dự, bởi vì họ biết rằng Chúa Kitô là kho tàng đích thật của họ. Ngày nay, rất thường khi chúng ta cũng sống kinh nghiệm đức tin bị thử thách, và trong rất nhiều cách thế người ta xin chúng ta chấp nhận các giàn xếp về lòng tin, làm tan loãng các đòi buộc của Tin Mừng, và thích nghi với tinh thần thế gian. Các vị tử đạo nhắc nhở chúng ta phải để Chúa Kitô trên tất cả mọi sự, và nhìn tất cả mọi sự còn lại trong tương quan với Người. Các vị tử đạo khiêu khích chúng ta tự vấn xem chúng ta có sẵn sàng chết vì điều gì không.

Tiếp tục bài giảng Đức Thánh Cha nói: gương các vị tử đạo đậy cho chúng ta biết tầm quan trọng của tình bác ái trong cuộc sống đức tin. Chính chứng tá trong sáng của họ đối với Chúa Kitô được thể hiện ra trong việc chấp nhận phẩm giá như nhau của tất cả mọi người được rửa tội, dẫn họ tới một hình thức sống huynh đệ thách đố các cơ cấu xã hội cứng nhắc thời đó. Sự khưởc từ phân rẽ giới răn tình yêu đối với Thiên Chúa và tình yêu đối với tha nhân khiến cho họ dấn thân lo lắng cho nhu cầu của các anh chị em khác. Áp dụng vào hiện tình thế giới Đức Thánh Cha nói:

Gương sống của họ có nhiều điều để nói với chúng ta, là những người sống trong xã hội, nơi bên cạnh các giầu có vô biên, gia tăng trong thinh lặng sự nghèo hèn; nơi ít khi tiếng kêu của người nghèo được lắng nghe; và nơi Chúa Kitô tiếp tục mời gọi, xin chúng ta yêu Người và phục vụ Người, bằng cách giơ tay ra trợ giúp các anh chị em nghèo túng… Buổi lễ hôm nay cũng ôm trọn biết bao nhiêu vị tử đạo vô danh, trong đất nước này và trên thế giới, là những người, đặc biệt trong thế kỷ vừa qua, đã hiến mạng sống vì Chúa Kitô và đã chịu các cuộc bách hại vì danh Người.

Gia tài của các vị tử đạo có thể gợi hứng cho tất cả mọi người thiện chí hoạt động trong hòa hợp cho một xã hội công bắng hơn, tự do và hòa giải và như thế cộng tác vào nền hòa bình và việc bảo vệ các giá trị nhân bản đích thực của quốc gia này và trên toàn thế giới. Ước chi các lời cầu của tất cả các vị tử đạo Hàn quốc, hiệp nhất với các lời bầu cử của Đức Bà là Mẹ Giáo Hội, ban cho chúng ta ơn kiên trì trong đức tin và mọi việc lành, trong sự thánh thiện và trong sạch của con tim, và trong lòng hăng say tông đồ làm chứng cho Chúa Giêsu trong quốc gia thân yêu này, và trong toàn Á châu cho tới tận cùng bờ cõi trái đất.

Thánh lễ đã kết thúc lúc 12 giờ rưỡi trong bầu khi rất hân hoan. Đức Thánh Cha đã đi xe về Tòa Sứ Thần dùng bữa trưa với đoàn tùy tùng và nghỉ ngơi chốc lát trước khi tiếp tục các sinh hoạt ban chiều.

Lúc 15.30 Đức Thánh Cha lấy trực thăng đi Khottongnae cách đó 90 cây số trong giáo phận Cheongju, miền trung Nam Hàn. Kkhottongnae có nghĩa là ”Đồi hoa” do linh mục Gioan Oh Woong-Jun, thuộc cộng đoàn Canh tân Đặc Sủng Thánh Linh, thành lập. Trung tâm chiếm cả một ngọn đồi gồm nhà ở, nhà thương, một đại học và các trung tâm phục hồi cho người tàn tật, người nghèo, người vô gia cư, đau yếu bị bỏ rơi thuộc mọi lứa tuỗi.

Giáo phận Cheongiu có hơn 155,000 tín hữu chiếm 11% dân số, gồm 76 giáo xứ 142 linh mục giáo phận, 12 linh mục dòng, 91 tu huynh, 515 nữ tu, 20 đại chủng sinh. Giáo phận điều khiển 26 cơ quan giáo dục và 70 cơ sở bác ái xã hội.

Đón Đức Thánh Cha tại bãi đậu trực thăng có cha Gioan Oh Woong-Jun, người thành lập Đồi Hoa và Đức Cha Gabirel Chang Nong-Hun cùng vài giới chức chính qpuyền địa phương. Đức Thánh Cha đã đi xe về ”Nhà hy vọng” cách đó 1 cây số. Hai bên đường có rất đông tín hữu vẫy khăn trắng chào đón Đức Thánh Cha.

Bên trong hội trường Nhà Hy vọng có khoảng 150 người tàn tật, đa số là trẻ em ngồi trên xe lăn, có một em nằn trên giường. Ngỏ lời chào Đức Thánh Cha, Đức Cha Gabriel, Giám Mục sở tại, đã nêu bật sự kiện ngay từ khi được thành lập giáo phận Cheongiu đã có nhiều sinh hoạt trợ giúp người nghèo và người bị gạt ra bên lề xã hội, các cơ sở giáo dục cho trẻ em tàn tật như ”Trường Đức Bà” cho trẻ em mù, ”Trường Thánh Tâm” cho trẻ em câm điếc; trường ”Chúa Thánh Thần” cho trẻ em bị chấn thương cảm xúc. Năm 2001 các tu sĩ Kkottongae đã khánh thành trường cho trẻ em bị bỏ rơi và con của các thiếu nữ làm mẹ không được ai nhận vì tàn tật. Các em bị bỏ rơi hai lần, bởi cha mẹ vì chúng tàn tật, rồi bởi vì không có ai nhận nuôi.

Đức Thánh Cha đã hôn, vuốt ve, an ủi từng em một và bắt tay hỏi chuyện các nữ tu và các nhân viên săn sóc các em. Các trẻ em đã trình diễn vài màn vũ, rồi các em tặng Đức Thánh Cha các thủ công nghệ do chính các em làm.

Lúc 17 giờ Đức Thánh Cha đã đi xe tới Trung tâm ”Trường tình thương” càch đó 1,5 cây số để gặp gỡ các tu sĩ nam nữ. Khi đi qua ”Vườn các thai nhi bị phá”, ngài đã đừng lại thinh lặng cầu nguyện. Cũng có sự hiện diện của các thành viên phong trào bảo vệ sự sống và tu huynh thừa sai Lee Gu-Won, cụt chân cụt tay.

Ngỏ lời chào mừng Đức Thánh Cha linh mục chủ tịch Hiệp Hội các dòng Nam nêu bật các khó khăn của cuộc sống tu trì trong xã hội tục hóa ngày nay. Tuy biết mình phải tìm thiện ích của thế giới và Giáo Hội với các đặc sủng là ơn của Chúa Thanh Thần, nhưng các tu sĩ có nguy cơ yêu mình hơn yêu cộng đoàn, và để bị lôi kéo bởi chủ thuyết tiêu thụ, hơn là tinh thần tiết độ và chia sẻ. Tu sĩ có nguy cơ khiến cho căn tính và các đặc sủng bị lu mờ bởi tinh thần thế tục.

Nữ tu Chủ tịch Hiệp hội các Bề trên Tổng quyền dòng nữ thì nhấn mạnh trên sự kiện Giáo Hội Đại Hàn đã lớn lên nhờ máu và tinh thần tu đức của các vị tử đạo. Nhưng xã hội đại hàn đau khổ vì hiện tượng toàn cầu hóa với sự thống trị của chủ thuyết tư bản, tân tư bản và duy đời. Và Giáo Hội cũng bị ảnh hưởng và liên lụy. Từ khắp nơi đều vang lên tiếng kêu cứu Giáo Hội trợ giúp. Vai trò của các nam nữ tu sĩ hiện diện tại những nơi có nước mắt và người yếu đuối cần trợ giúp.

Ngỏ lời với các tu sĩ nam nữ Đức Thánh Cha nhấn mạnh sự phong phú của các đặc sủng làm giầu cho cuộc sống Giáo Hội. Xác tín đươc Chúa yêu là trọng tâm của ơn gọi: là dấu chỉ sờ mó đựơc sự hiện diện của Nước Chúa. Đức Thánh Cha nói với các tu sĩ như sau:

Chỉ khi chứng tá của chúng ta tươi vui, thì mới có thể lôi kéo các người nam nữ tới với Chúa Kitô; và niềm vui đó là một ơn đươc nuôi dưỡng bằng một đời cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa , cử hành các Bí tích và sống đời cộng đoàn… Không thể tránh được các xung khắc, các hiểu lầm cần đương đầu, nhưng mặc dù có các khó khăn, chúng ta được kêu gọi lớn lên trong lòng thương xót, sự kiên nhẫn và tình bác ái trọn vẹn. Kinh nghiệm về lòng thương xót Chúa, được dưỡng nuôi bằng lời cầu nguyện và cuộc sống cộng đoàn, phải nhào nặn tất cả những gì anh chị em là và những gì anh chị em làm… Không có lối tắt đâu: Thiên Chúa muốn con tim của chúng ta một cách tron vẹn, và điều này có nghĩa là chúng ta phải ”tháo gỡ chính mình”, ”ra khỏi chính mình” ngày càng nhiều hơn.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh một hình thức nghèo khó, được diễn tả ra một cách cụ thể trong kiểu sống cá nhân và cộng đoàn, đặc biệt cần tránh mọi sự có thể làm cho tu sĩ lo ra và gây gương mù gương xấu cho người khác. Trong đời tu sự khó nghèo là ”bức tường” che chở và là ”mẹ”, vì nó giúp tu sĩ lớn lên và hướng dẫn tu sĩ bước đi trên con đường đúng đắn. Sự giả hình của những người sống đời thánh hiến tuyên khấn nghèo khó mà lại sống giầu sang, đả thương và làm hại Giáo Hội. Nguy hiểm là cám dỗ sống theo tâm thức hoàn toàn trần tục và duy lợi, khiến chúng ta chỉ đặt để hy vọng nơi các phương tiện của con người và phá hủy chứng tá nghèo khó mà Chúa Giêsu Kitô đã sống và dậy chúng ta sống.

Các tu sĩ đã tặng Đức Thánh Cha một bó hoa thiêng liêng gồm hơn 3 triệu 700 ngàn tràng chuỗi Mân Côi đã lần, hơn 118.400 hy sinh hãm mình, và một số tiền đã quyên mỗi tuần trong nhiều tháng qua để Đức Thánh Cha giúp người nghèo.

Sau khi Đức Thánh Cha ban phép lành, các tu sĩ đã nắm tay nhau đồng ca bài dân ca Đại Hàn ”Arirăng”

Từ giã mọi người Đức Thánh Cha lên xe tới Trung tâm tu đức cách đó 2 cây số để gặp gỡ đại diện các phong trào giáo dân hoạt động trong 16 giáo phận toàn Nam Hàn.

Ngỏ lời chào mừng Đức Thánh Cha ông chủ tịch Hiệp hội giáo dân công giáo Hàn quốc đã nêu bật sự kiện Giáo Hội Hàn quốc là Giáo hội duy nhất do vài giáo dân khai sinh, không có sự trợ giúp của các thừa sai. Họ đã đi bộ cả ngàn cây số nhiều lần sang Bắc Kinh để xin các linh mục.

Ông nói: trong các hoạt động chúng con đi tới với người nghèo, người đau yếu, nạn nhân của các bất công không đựơc ai trợ giúp. Các vùng ngoại biên của giáo dân Hàn quốc cũng là các anh chị em đã xa rời Giáo Hôi, mất hy vọng và mất hướng đi. Và chúng con cũng nghĩ tới một trong các vùng ngoại biên khác là đi đến với các anh chi em sống tại Bắc Hàn, bên kia biên giới, nơi họ bị bách hai và chờ đợi bàn tay của chúng con. Nhưng một trong các vùng ngoại biên khác nữa của chúng con cũng là các dân tộc Á châu chưa biết Chúa.

Ngỏ lời với 150 lãnh đạo các hiệp hội giáo dân Nam Hàn Đức Thánh Cha nói: Giáo Hội Đại Hàn thừa kế đức tin của các thế hệ giáo dân đã kiên trì trong tình yêu đối với Chúa Kitô và trong sự hiệp thông với Giáo Hội, mặc dù có ít linh mục và bị đe dọa bởi các cuộc bách hại. Gương của 124 tân Chân phước chứng minh cho điều đó… Ngày nay cũng như luôn mãi Giáo Hội cần một chứng tá đáng tin cậy của giáo dân cho sự thật cứu độ của Tin Mừng, cho sự phong phú trong việc xây dựng gia đình nhân loại trong hiệp nhất, công lý và hòa bình. Giáo Hội có một sứ mệnh duy nhất, và mọi tín hữu được rửa tội đều có vai trò sinh tử trong sứ mệnh đó. Công tác tông đồ có thể khác nhau, nhưng tất cả đều nhằm thăng tiến sứ mệnh của Giáo Hội, bằng cách bảo đảm cho trật tự trần thế được thấm nhuần và hoàn thiện bới Thần Khí của Chúa Kitô hầu chuẩn bị cho Nước Chúa.

Đức Thánh Cha đặc biệt ca ngợi hoạt động của nhiều hiệp hội giáo dân trợ giúp người nghèo và ngừơi túng thiếu trong các vùng ngoại biên của xã hội, thể hiện sự hiệp nhất ”không còn do thái hay hy lạp”. Tuy nhiên, trợ giúp người nghèo thôi không đủ. Ngài xin giáo dân Hàn quốc gia tăng nỗ lực để thăng tiến nhân bản làm sao để mọi người biết tới niềm vui phát xuất từ phẩm giá có công ăn việc làm để nuôi sống gia đình.

Đức Thánh Cha thừa nhận phần đóng góp qúy báu của các phụ nữ công giáo Đại Hàn cho cuộc sống và sứ mệnh của Giáo Hội, như mẹ gia đình, giáo lý viên, và bà giáo trong nhiều cách thức khác nhau. Ngài nhấn mạnh tầm quan trọng của chứng tá gia đình kitô. Trong thời đại khủng hoảng gia đình các cộng đoàn kitô đươc mời gọi nâng đỡ các cặp vợ chồng và các gia đình trong việc chu toàn sứ mệnh của chúng trong Giáo Hội và xã hội. Gia đình là sự hiệp nhất nền tảng của xã hội, và là trường học đầu tiên, trong đó trẻ em học các giá trị nhân bản, tinh thần và luân lý, khiến cho chúng có khả năng là các ngọn đèn pha của lòng tốt, sự toàn vẹn và công bắng trong các cộng đoàn… Vì thế cần phải có sự đào tạo thường hằng đầy đủ hơn cho anh chị em giáo dân, qua một chương trình giáo lý và linh hướng hường xuyên, trong hoạt động hòa hợp với các chủ chăn và dùng các trực giác, tài năng và đặc sủng của họ để phục vụ sự lớn mạnh của Giáo Hội, trong sự hiệp nhất và với tinh thần truyền giáo.

Từ giã các anh chị em lãnh đạo các phong trào và hiệp hội giáo dân Nam Hàn Đức Thánh Cha ra đi xe tới bãi đậu trực thăng tại KKhottongnae cách đó 2 cây số đề bay về thủ đô Seoul, rồi đi xe về tòa Sứ Thần Tòa Thánh cách đó 7 cây số, kết thúc tốt đẹp ngày thứ 3 trong chuyến công du Nam Hàn.

Chúa Nhật 17-8-2014 lúc 11 giờ Đức Thánh Cha sẽ gặp gỡ các Giám Mục Á châu tai dền thánh Haemi, và vào lúc 4 giờ rưỡi chiều ngài sẽ chủ sự thánh lễ kết thúc Ngày Giới Trẻ Công Giáo Á châu kỳ 6 tai quảng trường lâu đài Haemi.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Thánh Cha viếng thăm giáo phận Đại Điền, Hàn Quốc

Đức Thánh Cha viếng thăm giáo phận Đại Điền, Hàn Quốc

HÀN QUỐC. Thứ sáu 15-8-2014, cũng là Quốc Khánh của Hàn Quốc, và là ngày thứ hai trong chuyến viếng thăm của ĐTC tại nước này, ngài đã cử hành thánh lễ cho hơn 50 ngàn tín hữu tại Thành Phố Đại Điền và gặp gỡ giới trẻ nhân dịp Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu kỳ 6.

 

Thay vì dùng trực thăng, vì trời xấu, ĐTC đã đáp xe lửa cao tốc để đi từ thủ đô Hán Thành đến thành phố Đại Điền (Daejeon) cách đó 137 cây số về mạn nam. Hai toa xe đã được dành cho ngài và đoàn tùy tùng. Nhiều hành khách và dân chúng đã ngỡ ngàng khi thấy ĐGH đi cùng chuyến xe với họ.

Đại Điền là thành phố lớn thứ 5 của Hàn quốc với hơn 1 triệu rưỡi dân cư. Giáo phận tại đây hiện có gần 287 ngàn tín hữu Công Giáo, tương đương với 8% dân số địa phương, với 127 giáo xứ, 272 linh mục giáo phận và 18 LM dòng, 45 tu huynh và 635 nữ tu. Ơn gọi rất khả quan với 144 đại chủng sinh. Chính Đức Cha Lazaro Du Hưng Thực (You Heung Sik), GM Đại Điền, đã giữ vai trò tích cực trong việc mời ĐTC đến đây nhân dịp Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu kỳ 6.

Thánh lễ

Tại Sân bóng đá thế giới ở Đại Điền vào lúc gần 10 giờ sáng giờ địa phương, ĐTC đã cử hành thánh lễ trước sự hiện diện của 50 ngàn tín hữu, đặc biệt trong số này có khoảng 40 thân nhân của các nạn nhân bị thiệt mạng trong vụ đắm tàu Sewol ngày 16-4 năm nay. Một số đã được ĐTC đích thân chào thăm và an ủi khi ngài đi xe quanh sân vận động để chào các tín hữu đầu thánh lễ. Có 10 người khác do một LM hướng dẫn, trong đó có vài người sống sót trong vụ đắm tàu, được ĐTC tiếp kiến, chúc lành và an ủi. Ngoài ra có thân phụ của một học sinh bị mất tích trong tai nạn ấy đã thực hiện một cuộc hành hương dài 900 cây số, vai vác thánh giá. Ông đã xin ĐTC rửa tội cho. Ngài đã đồng ý và ông sẽ được ngài làm phép rửa tội thứ bẩy hôm 16-8-2014, tại tòa Sứ thần Tòa Thánh ở thủ đô Hán Thành.

Thánh lễ mừng Mẹ Lên Trời tại sân vận động

Trong lời chào ĐTC đầu thánh lễ, Đức Cha Du Hưng Thực cho biết Giáo Hội Công Giáo tại Hàn Quốc, từ một Giáo Hội chỉ nhận lãnh trước kia nay đang trởt hành một Giáo Hội chia sẻ và cho đi… Giáo Hội chúng con cũng đón nhận ĐTC trong lúc vẫn còn chịu đau khổ vì sự chia rẽ đất nước và căng thẳnh, cũng như đang sốgn trong tang tóc vì vụ đắm tàu Sewol, một thảm họa gây đau buồn và ngạc nhiên cho toàn thế giới.

Đức Cha cũng nhắc đến bao nhiêu dịp ĐTC đã kêu gọi dân Chúa cầu nguyện cho ngài và sứ vụ tông đồ của ngài. ”Thưa ĐTC, đón nhận ước muốn của ĐTC và trong khi chờ đợi ĐTC đến, các tín hữu giáo phận Đại Điền đã cầu nguyện đặc biệt sốt sắng và trong thời gian này, chúng con đã đọc hơn 15 triệu kinh Mân Côi để cầu cho ĐTC. Chúng con đã cử hành thánh lễ theo ý của ĐTC hơn 2 triệu lần. Chúng con đã cùng nhau đọc kinh đặc biệt cầu cho ĐGH gần 3 triệu 300 ngàn lần và chúng con hứa sẽ liên tục cầu nguyện cho ĐTC.”

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng bằng tiếng Ý, ĐTC nói:
”Hiệp với toàn thể Giáo Hội, chúng ta cử hành Lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời, trong vinh quang Thiên Chúa. Lễ Đức Maria lên trời tỏ cho chúng ta thấy vận mạng của chúng ta trong tư cách là dưỡng tử của Thiên Chúa và là chi thể của Thân Mình Chúa Kitô. Như Mẹ Maria Mẹ chúng ta, chúng ta được mời gọi tham dự trọn vẹn vào chiến thắng của Chúa trên tội lỗi và sự chết. Ngoài ra lễ này cũng mời gọi chúng ta ý thức về tương lai mà Chúa Phục Sinh đang mở ra cho chúng ta.

Tại Hàn quốc, lễ Đức Mẹ Hồn xác lên trời trùng vào lễ quốc khánh, kỷ niệm Hàn quốc được giải phóng khỏi sự đô hộ của Nhật Bản. ĐTC nhận xét rằng người Đại Hàn theo truyền thống thường cử hành lễ này dưới ánh sáng kinh nghiệm lịch sử của mình, nhìn nhận sự chuyển cầu yêu thương của Mẹ Maria luôn hoạt động trong lịch sử quốc gia và đời sống dân tộc. ”Ngày hôm nay, chúng ta hướng về Mẹ là Mẹ của Giáo Hội tại Hàn Quốc. Chúng ta hãy cầu xin Mẹ giúp chúng ta trung thành với tự do chúng ta đã lãnh nhận trong ngày chịu phép rửa tội, xin Mẹ hướng dẫn những cố gắng của chúng ta trong việc biến đổi thế giới này theo kế hoạch của Thiên Chúa và làm cho Giáo Hội tại đất nước này có khả năng ngày càng trở thành men của Nước Chúa giữa lòng xã hội Hàn Quốc.
ĐTC nói: ”Ước gì các tín hữu Kitô tại đất nước này là một sức mạnh quảng đại canh tân tinh thần trong mọi lãnh vực của xã hội. Chiến đấu chống sự cám dỗ của chủ nghĩa duy vật bóp nghẹt những giá trị tinh thần và văn hóa, cũng như tinh thần cạnh tranh thái quá, sinh ra ích kỷ và xung đột. Ngoài ra, cần loại trừ những kiểu mẫu kinh tế vô nhân đạo đang tạo nên những hình thức nghèo đói mới, gạt các công nhân ra ngoài lề, và chống lại nền văn hóa chết chóc hạ giá hình ảnh của Thiên Chúa, Thiên Chúa của sự sống và vi phạm phẩm giá của mỗi người nam nữ và trẻ em.

Cũng trong bài giảng, ĐTC khẳng định rằng: Trong tư cách là tín hữu Công Giáo Hàn quốc, anh chị em được mời gọi đề cao giá trị gia sản đã nhận lãnh và thông truyền cho các thế hệ tương lai. Điều này có nghĩa là mỗi ngừơi phải canh tân sự trở về cùng Lời Chúa và gia tăng sự quan tâm ân cần đối với người nghèo, những người túng thiếu và yếu thế giữa chúng ta. Niềm hy vọng do Tin Mừng cống hiến cho chúng ta là phương dược chống lại tinh thần tuyệt vọng dường như đang gia tăng như một thứ ung thư giữa lòng xã hội, bề ngoài có vẻ giàu sang, nhưng thường cảm thấy cay đắng và trống rỗng trong nội tâm. Sự tuyệt vọng ấy đã làm cho bao nhiêu người trẻ phải trả giá!

Cuối thánh lễ, trước khi đọc kinh Truyền Tin, ĐTC đã đọc kinh đặc biệt phó thác cho Mẹ Maria khoảng 300 người đã bị thiệt mạng vì vụ tàu Se Wol bị đắm ngày 16-4 năm nay ở Hàn Quốc, cũng như tất cả những người phải chịu đau khổ vì hậu quả của tai ương toàn quốc này.

Ngài nhận xét rằng biến cố thê thảm này đã liên kết mọi người dân Hàn quốc trong đau khổ, củng cố quyết tâm cộng tác của họ với nhau, liên đới phục vụ cho công ích. Ngài cũng xin Mẹ Maria đặc biệt phù hộ những phụ nữ Đại Hàn còn mang vết thương bất công trầm trọng đã phải chịu trong thời thế chiến thứ 2, các phụ nữ hộ lý. Sau cùng, ĐTC phó thác cho sự bảo vệ của Mẹ Maria tất cả những người trẻ từ Á châu đang tụ họp tại đây. Ngài nói: ”Ước gì họ trở thành những sứ giả vui tươi trong bình minh của một thế giới an bình, theo kế hoạch được Thiên Chúa chúc phúc.

Sau thánh lễ ĐTC đã về Đại chủng viện Đại Điền cách đó gần 40 cây số và trong khuôn khổ đại học Công Giáo ở địa phương để dùng bữa trưa với 18 đại diện bạn trẻ đến từ nhiều nước Á châu. Đức Cha Du Hưng Thực và cha giám tỉnh dòng Tên Đại Hàn, thông ngôn của ĐTC cũng dùng bữa chung, trong bầu không khí vui mừng và đơn sơ. Ngài thăm hỏi các bạn trẻ và phần lớn họ đều ngỏ lời xin ĐTC đến viếng thăm đất nước của họ.

Các hoạt động ban chiều của ĐTC

Sau bữa trưa với các bạn trẻ, vào 5 giờ chiều, ĐTC đến Đền Thánh Solmoe, hay là ”Tác Nhĩ Mặc” cách đó 43 cây số. Đây là nơi sinh trưởng của Thánh Anrê Kim Đại Kiến, LM đầu tiên của Giáo Hội Hàn quốc chịu tử đạo. Gia đình thánh nhân có 11 người chịu chết vì đức tin, trong đó có cả thân phụ và ông nội. Người được rửa tội năm lên 16 tuổi, theo học tại Macao và thụ phong linh mục tại đó, rồi năm 1845, cha Kim Đại Kiến trở về nước để làm thừa sai. Nhưng chẳng bao lâu cha bị bắt và bị kết án treo cổ tại Hán Thành năm 1846, khi mới được 25 tuổi và làm linh mục được 13 tháng.

Năm 1996, giáo xứ Công Giáo ở giáo phận Đại điền đã quyết định kỷ niệm 150 năm tử đạo của cha Kim Đại Kiến bằng cách tái thiết căn nhà nơi ngài sinh ra và biến thành một thánh điện.

Khi xe chở ĐTC đến Đền thánh trên ngọn đồi thông thật đẹp, có hàng ngàn người đứng hai bên đường để chào đón ngài, và gần đền thánh có sự hiện diện của hàng trăm chủng sinh. Đến nơi, ngài được cha Quản đốc đền thánh đón tiếp và đã cầu nguyện trước căn nhà nhỏ của Thánh Kim Đại Kiến trước khi tiến ra nơi gặp gỡ 6 ngàn bạn trẻ tham dự Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu kỳ 6 kể từ hôm 13-8 trước đó với chủ đề 'Hỡi những người trẻ Á châu, hãy tỉnh dậy! Vinh quang của các vị tử đạo chiếu tỏa trên các bạn!”. Căn lều lớn dài hơn 130 mét được dùng làm nơi hội họp có gắn máy lạnh.

Cuộc gặp gỡ diễn ra trong bầu không khí tưng bừng và hân hoan, với các bài ca và trình diễn văn nghệ, do một toán bạn trẻ Indonesia trình diễn, rồi 3 bạn trẻ: Campuchia, Hong Kong và Hàn quốc, lần lượt trình bày chứng từ và thắc mắc với ĐTC.

Đặc biệt thiếu nữ người Campuchia tên là Leap Lakaraksmey kể lại cuộc sống đạo của cô khi còn nhỏ, theo thân phụ đi nhà thờ, học Kinh Thánh và cách cầu nguyện. Vì tình trạng kinh tế khó khăn, cô đã phải từ bỏ ước mộng lên đại học, nhưng rồi cô được các ân nhân giúp đỡ sang Hàn quốc theo học.

Cô nói với ĐTC: ”Con có một băn khoăn lớn, đó là làm sao đáp lại bao nhiêu ơn Chúa ban. Khi còn nhỏ con nghĩ mình phải theo đuổi con đường ơn gọi, nếu Chúa gọi con. Giờ đây con vẫn không thay đổi tư tưởng. Giờ đây con có ý tưởng này: nếu càng học thì con càng có thể giúp đỡ nhiều người khác. Con nghĩ mình có thể giúp đỡ cha mẹ và những người ở làng con, họ sống nghèo khổ. Nhưng phải chăng con phải theo đuổi ơn gọi và từ bỏ tất cả những gì mà Chúa đã ban cho con để đáp lại tiếng Chúa? Hay là con phải tiếp tục học để giúp nhiều người khác?

Cô Smey nói thêm rằng Hàn quốc có bao nhiêu thánh tử đạo, và con thấy người ta có một hình ảnh rất tốt về đức tin Công Giáo. Vì thế con nghĩ thật là đẹp nếu ở Campuchia cũng có những vị thánh như vậy. Khi con còn nhỏ con nghe các Xơ nói có bao nhiêu vị tử đạo ở Campuchia. Vào đầu thập niên 1970, tại đất nước chúng con có bao nhiêu người chết trong các trại tiêu diệt do Pol Pot gây ra. Bao nhiêu linh mục và nữ tu đã bị giết trong thời kỳ đó. Đặc biệt là Đức GM tiên khởi Joseph Chhmar Sala. Thưa ĐTC, ngài có thể đến Campuchia của chúng con và phong thánh cho các vị tử đạo của chúng con không. Con nghĩ nếu ngài làm như thế thì bao nhiêu LM và nữ tu có thể thi hành các hoạt động truyền giáo một cách mạnh mẽ hơn và nhiều người trẻ có thể được biết Chúa Giêsu!”.

Huấn dụ của ĐTC

Ngỏ lời với các bạn trẻ, sau phần trình bày chứng từ của anh Giovanni người Hong Kong và cô Marina Park Giseon người Hàn quốc, ĐTC nói bằng tiếng Anh và có người thông dịch ra tiếng Đại Hàn sau mỗi đoạn. Ngài nhắc đến lời thánh Phêrô nói với Chúa Giêsu trên núi Tabor trong cuộc hiển dung của Chúa trong vinh quang, và ngài khẳng định rằng

Trong cộng đoàn đông đảo này với những người trẻ đến từ toàn Á châu, chúng ta có thể cảm thấy vinh quang của Chúa Giêsu hiện diện trong Giáo Hội của Chúa bao gồm mọi quốc gia, ngôn ngữ và dân tộc, hiện diện trong quyền năng Thánh Linh của Ngài, đổi mới mọi sự.

Như Chúa đã làm cho vinh quang của Ngài rạng ngời trong chứng tá anh dũng của các vị tử đạo, cũng vậy Chúa muốn vinh quang của Ngài chiếu tỏa rạng ngời trong đời sống các bạn và qua các bạn Ngài chiếu sáng cuộc sống của Đại lục bao la này. Chúa Kitô kêu gọi các bạn hãy nhìn những điều thực sự là đáng kể trong cuộc sống. Chúa yêu cầu hãy đi qua những con đường của thế giới này và góp của tâm hồn của những người khác, mời gọi họ đón nhận Ngài trong đời sống của họ.

Đại hội giới trẻ Á châu này cho chúng ta nhận thấy điều mà chính Giáo Hội được kêu gọi trở thành trong dự phóng ngàn đời của Thiên Chúa, và xây dựng một thế giới trong đó tất cả cùng nhau sống trong an bình và thân hữu, vượt thắng những hàng rào, khắc phục những chia rẽ, từ khước bạo lực và thành kiến. Giáo Hội là mầm mống sự hiệp nhất cho toàn thể gia đình nhân loại. Trong Chúa Kitô tất cả các dân nước và dân tộc được kêu gọi tiến đến hiệp nhất, một sự hiệp nhất không phá hủy sự khác biệt nhưng nhìn nhận khác biệt, dung hòa và làm cho nó được phong phú.

ĐTC nhấn mạnh rằng: Tinh thần thế gian này rất xa cách viễn tượng và dự phóng ấy! Sự thù nghịch và bất công không những xảy ra quanh chúng ta, nhưng cả trong tâm hồn chúng ta nữa; hố chia cách ngày càng sâu rộng trong xã hội chúng ta giữa người giàu và người nghèo; những dấu chỉ sự tôn thờ thần tượng giàu sang, quyền lực và khoái lạc mà người ta đạt tới với giá rất cao phải trả trong đời sống con người. Nhiều người, cho dù rất sung túc về vật chất, nhưng lại nghèo nàn về tinh thần, cô đơn, tuyệt vọng trong âm thầm. Dường như Thiên Chúa bị loại bỏ khỏi chân trời ấy. Như thế một sa mạc tinh thần đang lan rộng trên toàn thế giới. Nó cũng ảnh hưởng đến cả những người trẻ, tước đoạt hy vọng của họ, và trong quá nhiều trường hợp, và tước đoạt cả sự sống.

Trong thế giới này, các bạn phải ra đi làm chứng về Tin Mừng hy vọng, Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Thần trí của Chúa Giêsu có thể mang sự sống mới cho tâm hồn mỗi người và biến đổi mỗi tình trạng, cả những tình trạng có vẻ không còn hy vọng. Đó là sứ điệp mà các bạn được mời gọi chia sẻ với những người đồng lứa tuổi: tại học đường, nơi môi trường làm việc, trong gia đình, tại đại học và trong các cộng đoàn các bạn. Do sự kiện Chúa Giêsu đã sống lại từ cõi chết, chúng ta biết rằng Chúa có Lời ban sự sống đời đời (Ga 6,68) và Lời Ngài có năng lực đánh động mỗi tâm hồn, chiến thắng sự ác bằng sự thiện và thay đổi, cứu chuộc thế giới. Qua các bí tích rửa tội, thêm sức, Thánh Thể, Chúa Giêsu đi vào tâm hồn các bạn để trở thành chứng nhân của Chúa trước mặt thế giới.

Giữa bài huấn dụ bằng tiếng Anh, ĐTC ngưng lại và cho biết tiếng Anh của ngài còn yếu, nên tốt hơn ngài diễn tả bằng tiếng Ý và có người thông dịch lại.

Và ngài trả lời cho thắc mắc của cô Smey về việc nên đi tu hoặc tiếp tục học. ĐTC nói: điều quan trọng là tìm Chúa, chọn Chúa và phụng sự Chúa trong đời tu hoặc trong cuộc sống giáo dân. Điều đáng kể là phục vụ Chúa trong tha nhân, dù ở bậc sống nào đi nữa.

Ngài cũng xác tín ở Campuchia có các vị thánh và hứa khi trở về Roma, ngài sẽ nói với ĐHY Angelo Amato, Tổng trưởng Bộ Phong Thánh, ưu tiên nghiên cứu vấn đề này.

Trả lời cho thắc mắc của cô Marina Park Giseon về tình trạng chia rẽ của hai nước Đại Hàn quốc, ĐTC mời gọi mỗi người hãy đặc biệt cầu nguyện cho sự thống nhất hai miền đất nước. Mọi người đã hưởng ứng và cầu nguyện trong thinh lặng. Ngài nói thêm rằng: ”Có một hai hay nước Đại Hàn? Thưa có một nhưng bị chia rẽ, gia đình chia rẽ là một đau thương.Vậy làm sao giúp gia đình hiệp nhất. Ngoài việc cầu nguyện cho các anh chị em miền bắc, chúng ta còn có một niềm hy vọng: đó là Hàn quóc là một gia đình, một ngôn ngữ duy nhất. Khi các anh em ông Giuse sang Ai Cập để mua lương thực, họ là những người có tiền nhưng không có lương thực, và sang đó họ đã tìm được một người em là Giuse. Họ thấy rằng mình có cùng một tiếng nói: khi gia đình nói cùng một ngôn ngữ, có có một niềm hy vọng!”.

Trong phần cuối của bài huấn dụ, ĐTC lại dùng tiếng Anh và đưa ra 3 đề nghị về cách thức trở thành chứng nhân đích thực và vui tươi của Tin Mừng:

– Các bạn hãy tín thác nơi sức mạnh mà Chúa Kitô ban cho các bạn, trong chân lý của Lời Ngài và trong sức mạnh của ơn thánh Chúa! Các bạn đã được rửa tội trong sự vượt qua từ sự chết đến sự sống và được củng cố trong quyền năng của Thánh Linh ở nơi tâm hồn các bạn.

– Hãy ở lại gần Chúa với kinh nguyện hằng ngày. Thánh Linh của Chúa sẽ giúp các bạn nhận ra và thi hành thánh ý Chúa Cha. Các bạn hãy kín múc niềm vui và sức mạnh của Thánh Thể. Tâm hồn các bạn hãy tinh tuyền và có hướng đi tốt nhờ lãnh nhận thường xuyên bí tích Thống Hối. Tôi muốn sự tham dự của các bạn vào đời sống các giáo xứ của các bạn một cách tích cực và quảng đại.

Sau cùng giữa bao nhiêu ánh sáng trái ngược với Tin Mừng, ước gì tư tưởng, lời nói và hoạt động của các bạn luôn được sự khôn ngoan của Lời Chúa Kitô và sức mạnh chân lý của Ngài hướng dẫn. Các bạn đừng sợ đáp lại ơn gọi linh mục và tu sĩ.

Cuộc gặp gỡ kết thúc lúc 7 giờ chiều giờ địa phương, với phép lành và Kinh Lạy Cha bằng tiếng Hàn quốc.

Sáng thứ bẩy 16-8-2014, ĐTC sẽ kính viếng Đền các Thánh Tử Đạo Hàn quốc Seo So Mon, hay là Tây Tiểu Môn, là nơi 103 thánh tử đạo đã chịu chết vì đức tin và được ĐTC Gioan Phaolô 2 tôn phong cách đây 30 năm.

Tiếp đến ngài tới Quảng trường Quang Hóa Môn, trung tâm lịch sử của thủ đô Hán Thành, nối liền cổng vào hoàng cung cổ và quảng trường thành phố. Khu vực này có thể đón tiếp nửa triệu người đến tham dự thánh lễ ĐTC cử hành lúc 10 giờ sáng để phong chân phước cho 124 vị tử đạo đứng đầu là vị Tôi Tớ Chúa Phaolô Duẫn Trì Trung (Paul Yun Ji-Chung).

Ban chiều cùng ngày 16-8, ĐTC đáp trực thăng đến Hoa Chi Thôn, tiếng Hàn là Kkottongnae cách Hán Thành 90 cây số để viếng thăm Nhà Hy Vọng, lúc 4 giờ chiều. Đây là một trung tâm này quen gọi là ”Đồi hoa” hay là Đồi bác ái, gồm nhiều cơ sở nhắm phục hồi những người khuyết tật, và những nhà huấn luyện. ĐTC sẽ gặp các bệnh nhân, và những người tàn tật đang được chỉnh hình, cũng như các nhân viên y tế.

Ngài cũng sẽ dừng lại cầu nguyện tại khu vườn tưởng niệm các thai nhi bị sát hại, trước sự hiện diện của những người dấn thân bảo vệ sự sống tại Hàn Quốc, đặc biệt là một nhà thừa sai nổi tiếng tại nước này, không có tay cũng chẳng có chân, nhưng dấn thân linh hoạt người khác.

Sau đó lúc 5 giờ 15 ĐTC gặp gỡ 5 ngàn người thuộc các dòng tu tại Hàn Quốc tại Trung Tâm Huấn nghệ ”Trường Tình Thương”, gặp các thủ lãnh tông đồ giáo dân ở Trung Tâm Linh Đạo, cũng tại Hoa Chi Thôn.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Đức Thánh Cha gặp gỡ Hội đồng Giám Mục Hàn Quốc

Đức Thánh Cha gặp gỡ Hội đồng Giám Mục Hàn Quốc

Pope meets Korea Bishop

VATICAN. Chiều ngày 14-8-2014, ĐTC Phanxicô đã gặp gỡ các GM Hàn Quốc và nhắc nhở các vị về hai khía cạnh trong Sứ vụ Giám Mục: bảo tồn ký ức và bảo tồn hy vọng.

ĐTC đã từ phủ tổng thống Hàn Quốc đến trụ sở HĐGM cách đó 12 cây số vào lúc quá 5 giờ chiều. Tại đây ngài đã được 2 Hồng Y và 33 GM thuộc 16 giáo phận toàn quốc.

Đức Cha Phêrô Khương Vũ Nhất (Kang U-il) GM giáo phận Tể Châu (Cheju), Chủ tịch HĐGM Hàn Quốc, đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC.

Và trong huấn dụ bằng tiếng Ý, được dịch ra tiếng Hàn từng đoạn một, ĐTC khai triển nghĩa vụ của các GM là bảo vệ đoàn chiên Chúa và nhấn mạnh đến hai khía cạnh của việc bảo vệ này, đó là bảo tồn ký ức và bảo tồn hy vọng.

– Trước tiên là bảo tồn ký ức. Anh em là con cháu của các vị tử đạo, là những người thừa kế chứng tá đức tin anh dũng của các vị nơi Chúa Kitô. Ngoài ra anh em là người thừa kế truyền thống, ngoại thường, bắt đầu và tăng trưởng phần lớn nhờ lòng trung thành, kiên trì và công việc của các thế hệ giáo dân. Thật là điều đầy ý nghĩa sự kiện lịch sử Giáo Hội tại Hàn Quốc được khởi đầu với một cuộc gặp gỡ trực tiếp với Lời Chúa. Đó là một vẻ đẹp nội tại và sự toàn vẹn của Sứ điệp Kitô, Tin Mừng và lời mời gọi hoán cải, canh tân nội tâm và sống đời bác ái – gây ấn tượng mạnh nơi Ông Lý Bách (Yi Byeok, 1754-1785) và các kỳ lão của thế hệ đầu tiên. Điều này phản ánh qua sức sinh động của các giáo xứ, của các phong trào Giáo Hội, trong sự quan tâm mục vụ đối với giới trẻ và trong các trường Công Giáo, trong các chủng viện và trong các đại học cũng như trong các chương trình giáo lý vững chắc. Giáo Hội tại Hàn Quốc được quí chuộng vì vai trò của mình trong đời sống tinh thần và văn hóa của quốc gia và vì động lực truyền giáo mạnh mẽ.

Là người bảo tồn ký ức không phải chỉ có nghĩa là nhớ lại và bảo tồn những ân phúc quá khứ. Nó cũng có nghĩa là kín múc từ đó những nguồn lực thiêng liêng để đáp ứng một cách sáng suốt và quyết liệt với niềm hy vọng, những lời hứa và thách đố tương lai. Xét cho cùng, đời sống và sứ mạng của Giáo Hội tại Hàn Quốc không chỉ được đo lường bằng những yếu tố bên ngoài, số lượng và các cơ chế; đúng hơn đời sống và sứ mạng Giáo Hội phải được phán đoán trong ánh sáng minh bạch của Tin Mừng và lời mời gọi hoán cải, trở về cùng Chúa Giêsu Kitô. Bảo tồn ký ức có nghĩa là ý thức rằng sự tăng trưởng đến từ Thiên Chúa (Xc 1 Cr 3,6) và đồng thời là thành quả của sự kiên nhân và bền chí làm việc, trong quá khứ cũng như hiện nay. Ký ức chúng ta về các vị tử đạo và các thế hệ Kitô trước đây phải có tính chất thực tiễn, chứ không lý tưởng hóa hoặc háo thắng. Nhìn lại quá khứ bà mà không lắng nghe tiếng Chúa kêu gọi hoán cải trong hiện tại thì sẽ không giúp chúng ta tiến bước; trái lại nó sẽ cản trở hoặc thậm chí nó chặn đứng sự tiến triển thiêng liêng của chúng ta.

ĐTC nói tiếp: Thứ hai là bảo tồn hy vọng: niềm hy vọng do Tin Mừng ân sủng và từ bi của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô trao tặng, niềm hy vọng đã soi sáng cho các vị tử đạo. Chúng ta được mời gọi công bố niềm hy vọng ấy cho một thế giới, tuy thịnh vượng về vật chất, nhưng vẫn đang tìm kiếm một cái gì hơn nữa, một cái gì chân thực và sung mãn. Anh em hãy bảo tồn niềm hy vọng này bằng cách duy trì sinh động ngọn lửa thánh thiện, bác ái huynh đệ và lòng nhiệt thành truyền giáo trong niềm hiệp thông của Giáo Hội.

Là một Giáo Hội thừa sai, một Giáo Hội luôn đi ra ngoài, hướng về thế giới, đặc biệt là hướng về các ngoại ô của xã hội hiện đại, đòi phải phát triển một sở thích tinh thần làm cho chúng ta có khả năng đón nhận và đồng hóa với mỗi chi thế của Thân Mình Chúa Kitô (Xc Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, 268). Theo nghĩa này, cần chứng tỏ một sự quan tâm đặc biệt trong các cộng đoàn chúng ta đối với các trẻ em và những khát vọng của người trẻ; cũng như quan tâm đến người già, bảo tồn sự khôn ngoan và kinh nghiệm của người già.

Bảo tồn hy vọng cũng bao hàm việc bảo đảm sao cho chứng tá ngôn sứ của Giáo Hội tại Hàn Quốc tiếp tục được biểu lộ qua sự quan tâm đến người nghèo và các chương trình liên đới, nhất là đối với những người tị nạn và di dân, những người sống ngoài lề xã hội; trong sự liên lỷ hoạt động để thăng tiến về mặt xã hội, công ăn việc làm và giáo dục. Chúng ta có thể gặp nguy cơ thu hẹp sự dấn thân của chúng ta cho người túng thiếu vào chiều kích từ thiện mà quên đi nhu cầu của mỗi người cần được tăng trưởng như con người va có thể biểu lộ nhân cách, sự sáng vào và văn hóa của mình trong phẩm giá. Lý tưởng tông đồ của một Giáo Hội của người nghèo và cho người nghèo được diễn tả hùng hồn trong các cộng đồng Kitô tiên khởi tại đất nước anh em. Tôi cầu mong rằng lý tưởng này tiếp tục uốn nắn hành trình của Giáo Hội tại Hàn Quốc trong cuộc lữ hành hướng về tương lai.

Một chứng tá ngôn sứ theo Tin Mừng trình bày một số thách đố đặc biệt đối với Giáo Hội tại Hàn Quốc, xét vì Giáo Hội đang sống và hoạt động giữa một xã hội sung túc nhưng ngày càng bị tục hóa và duy vật. Trong những hoàn cảnh ấy, các nhân viên mục vụ bị cám dỗ muốn sử dụng không những kiểu mẫu quản trị hữu hiệu, những chương trình và tổ chức được thế giới doanh nghiệp thu hút, nhưng cả một lối sống và một não trạng được hướng dẫn bằng những tiêu chuẩn trần tục về sự thành công và thậm chí cả về quyền lực thay vì theo các tiêu chuẩn mà Chúa Giêsu đã nêu lên trong Tin Mừng. ”Khốn cho chúng ta nếu Thập Giá bị tước mất khả năng phán đoán sự khôn ngoan của thế gian này! (Xc 1 Cr 1,17). Tôi khuyên anh em và các linh mục của anh em hãy chống lại cám dỗ này dưới mọi hình thức”.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

————————————————————————————————–

Đây là nguyên văn bài đọc bằng Anh ngữ của ĐTC trong buổi gặp mặt Hội Đồng Giám Mục Đại Hàn.

Dear Brother Bishops,

I greet all of you with deep affection and I thank Bishop Peter U-il Kang for his words of fraternal welcome on your behalf.  It is a blessing for me to be here and to witness at first hand the vibrant life of the Church in Korea.  As pastors, you are responsible for guarding the Lord’sflock.  You are guardians of the wondrous works which he accomplishes in his people.  Guarding is one of the tasks specifically entrusted to the bishop: looking after God’s people.  Today I would like to reflect with you as a brother bishop on two central aspects of the task of guarding God’s people in this country: to be guardians of memory and guardians of hope.

To be guardians of memory.  The beatification of Paul Yun Ji-chung and his companions is an occasion for us to thank the Lord, who from the seeds sown by the martyrs has brought forth an abundant harvest of grace in this land.  You are the children of the martyrs, heirs to their heroic witness of faith in Christ.  You are also heirs to an impressive tradition which began, and largely grew, through the fidelity, perseverance and work of generations of lay persons.  It is significant that the history of the Church in Korea began with a direct encounter with the word of God.  It was the intrinsic beauty and integrity of the Christian message – the Gospel and its summons to conversion, interior renewal and a life of charity – that spoke to Yi Byeok and the noble elders of the first generation; and it is to that message, in its purity, that the Church in Korea looks, as if in a mirror, to find her truest self.

The fruitfulness of the Gospel on Korean soil, and the great legacy handed down from your forefathers in the faith, can be seen today in the flowering of active parishes and ecclesial movements, in solid programs of catechesis and outreach to young people, and inthe Catholic schools, seminaries and universities.  The Church in Korea is esteemed for its role in the spiritual and cultural life of the nation and its strong missionary impulse.  From being a land of mission, yours has now become a land of missionaries; and the universal Church continues to benefit from the many priests and religious whom you have sent forth.

Being guardians of memory means more than remembering and treasuring the graces of the past; it also means drawing from them the spiritual resources to confront with vision and determination the hopes, the promise and the challenges of the future.  As you yourselves have noted, the life and mission of the Church in Korea are not ultimately measured in external, quantitative and institutional terms; rather, they must be judged in the clear light of the Gospel and its call to conversion to the person of Jesus Christ.  To be guardians of memory means realizing that while the growth is from God (cf. 1 Cor 3:6), it is also the fruit of quiet and persevering labor, past and present.  Our memory of the martyrs and past generations of Christians must be one that is realistic, not idealized or “triumphalistic”.  Looking to the past without hearing God’s call to conversion in the present will not help us move forward; instead, it will only hold us back and even halt our spiritual progress.

In addition to being guardians of memory, dear brothers, you are also called to be guardians of hope: the hope held out by the Gospel of God’s grace and mercy in Jesus Christ, the hope which inspired the martyrs.  It is this hope which we are challenged to proclaim to a world that, for all its material prosperity, is seeking something more, something greater, something authentic and fulfilling.  You and your brother priests offer this hope by your ministry of sanctification, which not only leads the faithful to the sources of grace in the liturgy and the sacraments, but also constantly urges them to press forward in response to the upward call of God (cf. Phil 3:14).  You guard this hope by keeping alive the flame of holiness, fraternal charity and missionary zeal within the Church’s communion.  For this reason, I ask you to remain ever close to your priests, encouraging them in their daily labors, their pursuit of sanctity and their proclamation of the Gospel of salvation.  I ask you to convey to them my affectionate greeting and my gratitude for their dedicated service to God’s people.

If we accept the challenge of being a missionary Church, a Church which constantly goes forth to the world and, especially, to the peripheries of contemporary society, we will need to foster that “spiritual taste” which enables us to embrace and identify with each member of Christ’s body (cf. Evangelii Gaudium, 268).  Here particular care and concern needs to be shown for the children and the elderly in our communities.  How can we be guardians of hope if we neglect the memory, the wisdom and the experience of the elderly, and the aspirations of our young?  In this regard, I would ask you to be concerned in a special way for the education of children, supporting the indispensable mission not only of the universities, but also Catholic schools at every level, beginning with elementary schools, where young minds and hearts are shaped in love for the Lord and his Church, in the good, the true and the beautiful, and where children learn to be good Christians and upright citizens.

Being guardians of hope also entails ensuring that the prophetic witness of the Church in Korea remains evident in its concern for the poor and in its programs of outreach, particularly to refugees and migrants and those living on the margins of society.  This concern should be seen not only in concrete charitable initiatives, which are so necessary, but also in the ongoing work of social, occupational and educational promotion.  We can risk reducing our work with those in need to its institutional dimension alone, while overlooking each individual’s need to grow as a person and to express in a worthy manner his or her own personality, creativity and culture.  Solidarity with the poor has to be seen as an essential element of the Christian life; through preaching and catechesis grounded in the rich patrimony of the Church’s social teaching, it must penetrate the hearts and minds of the faithful and be reflected in every aspect of ecclesial life.  The apostolic ideal of “a Church of and for the poor” found eloquent expression in the first Christian communities of your nation.  I pray that this ideal will continue to shape the pilgrim path of the Church in Korea as she looks to the future.  I am convinced that if the face of the Church is first and foremost a face of love, more and more young people will be drawn to the heart of Jesus ever aflame with divine love in the communion of his mystical body.

Dear brothers, a prophetic witness to the Gospel presents particular challenges to the Church in Korea, since she carries out her life and ministry amid a prosperous, yet increasingly secularized and materialistic society.  In such circumstances it is tempting for pastoral ministers to adopt not only effective models of management, planning and organization drawn from the business world, but also a lifestyle and mentality guided more by worldly criteria of success, and indeed power, than by the criteria which Jesus sets out in the Gospel.  Woe to us if the cross is emptied of its power to judge the wisdom of this world (cf. 1 Cor 1:17)!  I urge you and your brother priests to reject this temptation in all its forms.  May we be saved from that spiritual and pastoral worldliness which stifles the Spirit, replaces conversion by complacency, and, in the process, dissipates all missionary fervor (cf. Evangelii Gaudium, 93-97)!

Dear brother Bishops, with these reflections on your role as guardians of memory and of hope, I want to encourage you in your efforts to build up the faithful in Korea in unity, holiness and zeal.  Memory and hope inspire us and guide us toward the future.  I remember all of you in my prayers and I urge you constantly to trust in the power of God’s grace: “The Lord is faithful; he will strengthen you and guard you from the evil one” (2 Thess 3:3).  May the prayers of Mary, Mother of the Church, bring to full flower in this land the seeds planted by the martyrs, watered by generations of faithful Catholics, and handed down to you as a pledge for the future of your country and of our world.  To you, and to all entrusted to your pastoral careand keeping, I cordially impart my Apostolic Blessing.

 

Đức Thánh Cha đến Hàn Quốc

Đức Thánh Cha đến Hàn Quốc

HÁN THÀNH. Lúc 10 giờ 10 phút sáng thứ năm, 14-8-2014, ĐTC Phanxicô đã đến thủ đô Hán Thành của Hàn Quốc sau chuyến bay dài hơn 11 tiếng đồng hồ từ Roma.

Đón tiếp

Chiếc Airbus A330 của hãng Alitalia đáp xuống căn cứ không quân Hán Thành ở thành phố Thành Nam (Seongnam) thuộc tỉnh Kinh Kỳ (Gyeonggi). 21 phát đại bác nổ vang chào mừng vị quốc khách, trong khi Bà Tổng thống Phác Cận Huệ đón chào ĐTC ngay tại chân thang máy bay trước khi hai em bé trong y phục cổ truyền của Hàn quốc tặng hoa cho ngài.

pope-francis and Korea President

Trong phái đoàn 300 tín hữu Công Giáo Hàn Quốc hiện diện tại Phi trường để chào đón ĐTC cũng có 2 người đã vượt biên từ Bắc Triều Tiên, 4 thân nhân các nạn nhân bị thiệt mạng trong vụ đắm tầu ngày 16-4 năm nay, hai công nhân nước ngoài từ Philippines và Bolivia, những người tàn tật và con cháu các vị tử đạo sắp được phong chân phước.

ĐTC được cha John Chong Che Chon, tân Giám tỉnh Dòng Tên tại Hàn Quốc, làm thông ngôn trong chuyến viếng thăm này. Khi được giới thiệu với một trong những thân nhân nạn nhân đắm tàu, ngài nói: ”Tai nạn này thật là đau thương. Tôi không quên các nạn nhân. Hòa bình tại Bán đảo Triều Tiên luôn có chỗ đứng trong tâm hồn tôi”.
Bầu không khí tiếp đón thật nồng nhiệt và tưng bừng. Liền đó ĐTC đã lên chiếc xe nhỏ hiệu Kia màu xám đậm, chế tạo tại địa phương, để về tòa Sứ Thần Tòa Thánh cách đó 17 cây số để cử hành thánh lễ riêng, trước khi dùng bữa và nghỉ trưa.

Gặp chính quyền

Lúc gần 4 giờ chiều giờ địa phương, ĐTC đã đến Phủ Tổng thống Hàn Quốc chỉ cách tòa Sứ Thần 800 mét. Dinh thự này quen gọi là tòa Nhà Xanh hay là ”Thanh ngõa đài” với 150 ngàn miếng ngói màu xanh dương với hai khu nhà bên cạnh. Dinh này được kiến thiết hồi năm 1991 thay thế cho dinh được xây dựng dưới thời Nhật Bản cai trị Hàn quốc.

Đến nơi ĐTC đã được bà tổng thống Phác Cận Huệ đón tiếp với tất cả nghi thức, quốc thiều và đoàn quân danh dự diễn hành trước lễ đài, và được mời vào phòng khánh tiết của Phủ Tổng Thống để hội kiến, cùng với hai vị Bộ trưởng Hàn quốc, ĐHY Quốc vụ khanh Parolin và Đức TGM Osvaldo Padilla, Sứ Thần Tòa Thánh tại Hán Thành.


Bà Phác Cận Huệ nguyên là con của cố tổng thống Phác Chánh Hy, năm nay 62 tuổi (1952). Bà đã theo học tại trường Nữ Trung Học Thánh Tâm. Hồi đó vào năm 1965, bà đã chịu phép rửa tội với tên thánh là Juliana.


Bà đã tốt nghiệp Kỹ Sư tại Đại học Tây Giang (Sogang) do Dòng Tên thành lập ở Hán Thành. Năm 2012 bà là Phụ nữ đầu tiên đắc cử tổng thống Hàn quốc và thuộc đảng Saenuri. Từ khi được bầu làm tổng thống hồi tháng 2 năm ngoái, bà Phác Cận Huệ đã 5 lần cố gắng mời ĐGH Phanxicô đến viếng thăm Hàn Quốc trong đó có 4 thư bà viết tay mời ngài đến thăm. Lần đầu tiên hồi tháng 3 năm ngoái khi bà gửi phái đoàn do Bộ trưởng Văn hóa, thể thao và du lịch đến dự lễ khai mạc sứ vụ của ĐTC ngày 19-3-2013 tại Quảng trường thánh Phêrô, và trong dịp đó phái đoàn đã trao thư viết tay của Bà Tổng thống chúc mừng ĐTC. Năm ngoái bà lại mời nhân dịp kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao giữa Hàn quốc và Tòa Thánh.

Sau khi hội kiến riêng và trao đổi quà tặng, Tổng thống và ĐTC tiến sang phòng khánh tiết trước sự hiện diện của khoảng 200 người gồm các vị lãnh đạo chính quyền, đại diện ngoại giao đoàn và nhiều chức sắc khác.

Trong diễn văn chào mừng ĐTC, Bà Phác Cận Huệ đã trình bày những giai đoạn trong cuộc viếng thăm của ĐTC tại Hàn Quốc và nói về những nơi sẽ được ngài đến. Sau đó bà cũng nói về cuộc chiến giữa hai miền thuộc bán đảo Triều Tiên, không những tạo nên một vết thương sâu đậm cho quốc dân, nhưng còn gây ra bao nhiêu chia cách cho các gia đình.

Về phần ĐTC, trong diễn văn đầu tiên, ngài đã dùng tiếng Anh và nói rằng:

”Thật là một niềm vui lớn cho tôi được đến Hàn Quốc, đất nước buổi sáng yên hàn, Triều Tiên, và cảm nghiệm không những vẻ đẹp thiên nhiên của quốc gia này, nhưng nhất là vẻ đẹp của dân chúng và lịch sử văn hóa phong phú của nước này. Gia sản đất nước này qua các năm tháng đang bị thửc thách vì bạo lực, bách hại và chiến tranh. Nhưng mặc dù những đau thương, sự nóng nực ban ngày và bóng tối của ban đêm vẫn luôn nhường chỗ cho buổi sáng yên hàn, nghĩa là cho một niềm hy vọng không suy giảm, mong được công lý, hòa bình và thống nhất.

ĐTC cũng nhắc đến hai lý do chính cuộc viếng thăm của ngài, trước tiên là Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu lần thứ 6, một cuộc cử hành đức tin chung trong vui tươi, qui tụ các bạn trẻ Công Giáo từ các nước thuộc Á châu, và tiếp đến là lễ tôn phong chân phước cho các vị chứng nhân đức tin Hàn quốc: Phaolô Duẫn Trì Trung (Yun Ji Chung) và 123 bạn.

ĐTC ca ngợi sự kiện xã hội Hàn quốc hiểu rõ sự khôn ngoan và phẩm giá của người già và vai trò của họ trong xã hội. Như một dân tộc khôn ngoan không phải chỉ yêu mến truyền thống của mình, nhưng còn đề cao giá trị của người trẻ, tìm cách thông truyền cho họ gia sản quá khứ và áp dụng gia sản ấy vào những thách đố ngày nay. ĐTC cũng nhắc đến tầm quan trọng của việc suy tư về cách thức thích hợp nhất để thông truyền các giá trị cho các thế hệ tương lai và đâu là loại xã hội mà ta mong muốn. Trong bối cảnh Hàn quốc, ĐTC nhấn mạnh hồng ân hòa bình, hòa giải, và sự ổn định tại bán đảo Triều tiên. Một thách đố đối với ngoại giao, một thách đố ngàn đời là làm sao phá đổ những bức tường nghi kỵ và oán ghét, thăng tiến một nền văn hóa hòa giải và liên đới. ”Vì ngoại giao, trong tư cách là một nghệ thuật về những gì có thể, được dựa trên xác tín kiên vững và bền bỉ, theo đó hòa bình có thể đạt được bằng sự lắng nghe và đối thoại trong thanh thản, hơn là bằng sự trách cứ nhau, những phê bình vô bổ và sử dụng võ lực”.

”Hòa bình không phải chỉ là vắng bóng chiến tranh, nhưng là thành quả công lý. Và công lý, như một nhân đức, đòi phải có sự bền chí kiên nhẫn, nó đòi chúng ta không quên những bất công quá khứ, nhưng cần vượt thắng chúng bằng sự tha thứ, bao dung và cộng tác. Nó đòi phải có ý chí phân định và đạt tới những mục tiêu có lợi cho nhau, trên những nền tảng tôn trọng lẫn nhau, cảm thông và hòa giải”.

ĐTC cũng nhận định rằng: Kinh nghiệm dạy chúng ta trong một thế giới ngày càng hoàn cầu hóa, nhận thức của chúng ta về công ích, tiến bộ và phát triển, xét cho cùng không phải chỉ có tính chất kinh tế, nhưng còn phải có đặc tính nhân bản nữa.

Cùng với phần lớn các nước phát triển, Hàn Quốc đang đương đầu với những vấn đề xã hội quan trọng, những chia rẽ chính trị, chênh lệch về kinh tế và những lo âu liên quan tới việc quản lý môi sinh trong tinh thần trách nhiệm. ĐTC kêu gọi làm tất cả những gì có thể để kiến tạo một bầu không khí xã hội trong đó mỗi thành phần của xã hội được lắng nghe, trong đó người ta duy trì tinh thần đả thông cởi mở, đặc biệt quan tâm đến những người nghèo, những người dễ bị tổn thương, nhưng người không có tiếng nói, không những chỉ đáp ứng nhu cầu nhất thời của họ, nhưng còn thăng tiến họ trong sự tăng trưởng về mặt nhân bản và tinh thần. Một điề biệt cần thiết ngày nay là một sự hoàn cầu hóa sự liên đới, nhắm mục tiêu phát triển toàn diện mỗi người trong gia đình nhân loại.

Sau cùng, ĐTC Phanxicô nhắc lại lời ĐGH Gioan Phaolô 2 đã nói tại Hàn Quốc cách đây 25 năm về ước muốn liên lỷ của Cộng đoàn Công Giáo Hàn Quốc được tham gia trọn vẹn vào đời sống quốc gia. Giáo Hội muốn góp phần vào việc giáo dục người trẻ, làm tăng trưởng tình liên đới đối vlơi ngư;ơi nghèo, người gặp khó khăn và góp phần vào việc huấn luyện các thế hệ công dân trẻ, sẵn sàng đóng góp sự khôn ngoan và sáng suốt được thừa hưởng từ tiền nhân và nảy sinh từ đức tin, để đương đầu với những vấn đề lớn về chính trị và xã hội của đất nước”.

Giã từ phủ tổng thống Hàn Quốc vào lúc quá 5 giờ chiếu, ĐTC đã đến trụ sở Hội đồng GM cách đố 12 cây số để gặp gỡ 2 Hồng Y và 33 GM thuộc 16 giáo phận toàn quốc.

Bên lề chuyến viếng thăm ca ĐTC

– Lúc 11 giờ sáng thứ tư, 13-8-2014, ĐTC đã đến Đền thờ Đức Bà Cả, trong tư cách riêng, không có người tháp tùng, và ngài cầu nguyện trong thinh lặng khoảng 20 phút trước ảnh Đức Mẹ là Phần Rỗi của dân Roma và dâng hoa trên bàn thờ kính Đức Mẹ.

Đây là lần thứ 10 ĐTC đến cầu nguyện tại Đền thờ Đức Mẹ. Lần đầu tiên sáng ngày 14-3 năm ngoái, tức là hôm sau ngày được bầu làm Giáo Hoàng. Những lần trước đây, trước khi khởi hành công du và sau đó, ngài đều đến cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ.

– Trên máy bay bay từ Roma tới Hàn quốc, ĐTC đã chào 72 ký giả thuộc 11 quốc gia tháp tùng ngài và ngài đặc biệt tưởng niệm và cầu nguyện cho một ký giả người Italia bị thiệt mạng hôm 13-8 vừa qua trong khi thi hành phận sự ở Gaza.

Đó là ông Simone Camilli, 35 tuổi, phóng viên hình ảnh làm việc với hãng thông tấn AP của Hoa Kỳ. Ông cùng với người Palestine thông dịch tên là Ali Shehda Abu Afash và 3 cảnh sát viên Palestine bị thiệt mạng trong lúc tháo gỡ một quả bom chưa nổ trong cuộc chiến giữa Israel và lực lượng Hamas. Có 4 người khác bị thương nặng trong đó có một phóng viên nhiếp ảnh của hãng AP.

ĐTC đã cúi đầu mặc niệm và cầu nguyện trong 30 giây cùng với các ký giả trong lúc cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, kể lại số phận của ký giả Camilli. Cha cũng cám ơn ĐTC vì sự dấn thân bênh vực hòa bình, như lá thư ngài gửi Ông Tổng thư ký LHQ về số phận của nhiều người dân ở Irak đang bị bách hại.
Rồi ĐTC nói: ”Tất cả những điều này là hậu quả của chiến tranh. Ước gì những lời của anh chị em giúp liên kết chúng ta với thế giới. Tôi xin anh chị em luôn truyền đi sứ điệp này, cố gắng trao ban một lời an bình”.

Sau cùng ĐTC mỉm cười nói các ký giả tháp tùng: ”Daniel sẽ vào trong miệng sư tử trên chuyến bay trở về Roma.. Nhưng mà các sư tử này không cắn!”. Ngài hứa sẽ mở cuộc họp báo với các ký giả tháp tùng như đã làm trên đường trở về Roma sau cuộc viếng thăm tại Brazil và Thánh Địa. Tiếp đến ĐTC bắt tay chào từng ký giả trong máy bay.

– Máy bay chở ĐTC từ Roma tới Hán Thành đã bay trên không phận của hàng chục quốc gia. Khi vào không phận mỗi nước, ĐTC đều cho gửi điện chào thăm vị quốc trưởng và nhân dân quốc gia liên hệ. Giới báo chí đặc biệt chú ý đến sự kiện lần đầu tiên một vị Giáo Hoàng gửi điện chào thăm chủ tịch Tập Cận Bình (Xi Jinping) và nhân dân Trung Quốc khi bay trên không phận nước này. Ngài viết:

”Khi đi vào không phận Trung Quốc, tôi gửi lời cầu chúc tốt đẹp nhất đến Ông Chủ Tịch và đồng bào của ngài đồng thời cầu xin Chúa ban ơn hòa bình và thịnh vượng cho quốc dân”.

Đây là lần đầu tiên máy bay chở một vị Giáo Hoàng được phép bay qua không phận Trung Quốc trong chuyến viếng thăm Á châu. Vị tiền nhiệm của Ngài, Đức Gioan Phaolô 2 đã tránh bay vào không phận Trung Quốc vì quan hệ căng thẳng giữa Bắc Kinh và Vatican.

Mặt khác, Ông Heo Young-yeop, Phát ngôn viên của Ban tổ chức cuộc viếng thăm của ĐTC tại Hàn quốc cho biết trong số hơn 100 bạn trẻ Công Giáo Trung Quốc dự định đến Hàn Quốc để tham dự Đại hội Giới trẻ Công Giáo Á Châu, hơn một nửa không đến được vì ”tình trạng phức tại ở Trung Quốc”. Ông từ chối không cho biết thêm chi tiết vì lý do an ninh. Ông nói: một số bạn trẻ định tham dự đã bị Nhà Cầm quyền Trung Quốc bắt giữ.

Ngoài ra, theo tin của Bộ quốc phòng Hàn quốc, trước khi ĐGH đến Hán Thành, Bắc Triều Tiên đã bắn ba hỏa tiễn tầm ngắn ra ngoài khơi bờ biển phía đông. Hành động này xảy ra trước cuộc tập trận chung giữa Hàn Quốc và Hoa Kỳ dự kiến sẽ diễn ra từ ngày thứ hai 18-8 tới đây.

Bắc Triều tiên đã khước từ lời mời của Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc cho phép các thành viên Hội Công Giáo Triều Tiên được tham dự thánh lễ do ĐTC Phanxicô cử hành ngày thứ hai 18-8 tại thủ đô Hán Thành để cầu nguyện cho hòa bình và hòa giải tại Bán đảo Triều Tiên, viện cớ là có cuộc tập trận chung giữa Hàn quốc và Hoa Kỳ.

– Trong số các ký giả Đài Vatican được gửi sang Hàn Quốc nhân cuộc viếng thăm của ĐTC cũng có ông Sean Lovett trưởng ban tiếng Anh. Ông đã điểm vài phản ứng báo chí Hàn Quốc về cuộc viếng thăm của ĐTC:

”ĐGH Phanxicô là tin hàng đầu trong tất cả các báo chí và tin tức ở Hàn Quốc ngày nay. Những hình ảnh của ngài với khuôn mặt tươi cười tiếp tục được chiếu qua các màn hình và trang nhất của các báo chí chính ở Hàn Quốc.
Phần lớn các bài báo đều nhắc lại sự kiện lần cuối cách đây 25 năm, Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã viếng thăm nước này và họ cung cấp nhiều chi tiết trong chương trình và lộ trình 4 ngày viếng thăm của ĐTC và dường như họ thích trưng dẫn các con số thống kê về chuyến tông du này. Ví dụ:

– 180 ngàn bánh lễ đã được chuẩn bị cho các thánh lễ với 300 ngàn chai nước sẽ được phân phát giúp các tín hữu đương đầu với sự nóng nực.

– 1.700 xe bus từ các nơi ở Hàn Quốc đang hướng về các địa điểm nơi diễn ra các cuộc gặp gỡ với ĐGH, chuyên chở 100 ngàn tín hữu và hơn 100 GM.

– 30 ngàn cảnh sát viên nam nữ được ủy thác nhiệm vụ giữ an ninh, với sự trợ giúp của 5 ngàn người thiện nguyện, vừa Công Giáo và người lương.

– 2.800 ký giả thuộc các cơ quan truyền thông của 23 quốc gia, trong đó 358 người đến từ 23 quốc gia khác, đã đăng ký với ban tổ chức ở Hàn Quốc để theo dõi và tường thuật về các hoạt động của ĐTC trên các lộ trình dài tổng cộng 1 ngàn cây số.

Có một bài xã luận đặc biệt mời gọi quốc dân Hàn Quốc hãy biểu lộ ”mea culpa”, nhìn nhận lỗi của mình, và bài báo liệt kê một loạt những tệ đoan của đất nước và hy vọng ĐGH có thể xá giải cho Hàn Quốc vì đã không khắc phục được những chia rẽ chính trị và xã hội, sự xung đột giữa các thế hệ, không kể sự chia rẽ giữa hai miền bán đảo Triều Tiên. Nhiều báo chí bày tỏ những mong đợi lớn qua những lời nói và cử chỉ của ĐGH Phanxicô đối với người nghèo và người khuyết tật, bênh vực hòa bình và hòa giải, chống kỳ thị và bất công, khuyến khích người trẻ và cổ võ canh tân trong Giáo Hội.

Những điều trên đây dường như là những mong đợi thái quá nơi cuộc viếng thăm này của ĐGH, nhưng như một ký giả Hàn Quốc nói về cuộc viếng thăm của vị thủ lãnh Công Giáo: ”Đây là một tin vui duy nhất từ lâu đối với nước này!”. Những băng tang, các khám tưởng niệm và biểu ngữ trưng tại nhiều nơi tại Hàn quốc chứng tỏ đất nước này vẫn ở trong tình trạng kinh hoàng sau vụ tàu Sewol bị đắm làm cho gần 300 người thiệt mạng, phần lớn các các học sinh du ngoạn.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio