Đức Thánh Cha gặp gỡ Hội đồng Giám Mục Hàn Quốc

Đức Thánh Cha gặp gỡ Hội đồng Giám Mục Hàn Quốc

Pope meets Korea Bishop

VATICAN. Chiều ngày 14-8-2014, ĐTC Phanxicô đã gặp gỡ các GM Hàn Quốc và nhắc nhở các vị về hai khía cạnh trong Sứ vụ Giám Mục: bảo tồn ký ức và bảo tồn hy vọng.

ĐTC đã từ phủ tổng thống Hàn Quốc đến trụ sở HĐGM cách đó 12 cây số vào lúc quá 5 giờ chiều. Tại đây ngài đã được 2 Hồng Y và 33 GM thuộc 16 giáo phận toàn quốc.

Đức Cha Phêrô Khương Vũ Nhất (Kang U-il) GM giáo phận Tể Châu (Cheju), Chủ tịch HĐGM Hàn Quốc, đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC.

Và trong huấn dụ bằng tiếng Ý, được dịch ra tiếng Hàn từng đoạn một, ĐTC khai triển nghĩa vụ của các GM là bảo vệ đoàn chiên Chúa và nhấn mạnh đến hai khía cạnh của việc bảo vệ này, đó là bảo tồn ký ức và bảo tồn hy vọng.

– Trước tiên là bảo tồn ký ức. Anh em là con cháu của các vị tử đạo, là những người thừa kế chứng tá đức tin anh dũng của các vị nơi Chúa Kitô. Ngoài ra anh em là người thừa kế truyền thống, ngoại thường, bắt đầu và tăng trưởng phần lớn nhờ lòng trung thành, kiên trì và công việc của các thế hệ giáo dân. Thật là điều đầy ý nghĩa sự kiện lịch sử Giáo Hội tại Hàn Quốc được khởi đầu với một cuộc gặp gỡ trực tiếp với Lời Chúa. Đó là một vẻ đẹp nội tại và sự toàn vẹn của Sứ điệp Kitô, Tin Mừng và lời mời gọi hoán cải, canh tân nội tâm và sống đời bác ái – gây ấn tượng mạnh nơi Ông Lý Bách (Yi Byeok, 1754-1785) và các kỳ lão của thế hệ đầu tiên. Điều này phản ánh qua sức sinh động của các giáo xứ, của các phong trào Giáo Hội, trong sự quan tâm mục vụ đối với giới trẻ và trong các trường Công Giáo, trong các chủng viện và trong các đại học cũng như trong các chương trình giáo lý vững chắc. Giáo Hội tại Hàn Quốc được quí chuộng vì vai trò của mình trong đời sống tinh thần và văn hóa của quốc gia và vì động lực truyền giáo mạnh mẽ.

Là người bảo tồn ký ức không phải chỉ có nghĩa là nhớ lại và bảo tồn những ân phúc quá khứ. Nó cũng có nghĩa là kín múc từ đó những nguồn lực thiêng liêng để đáp ứng một cách sáng suốt và quyết liệt với niềm hy vọng, những lời hứa và thách đố tương lai. Xét cho cùng, đời sống và sứ mạng của Giáo Hội tại Hàn Quốc không chỉ được đo lường bằng những yếu tố bên ngoài, số lượng và các cơ chế; đúng hơn đời sống và sứ mạng Giáo Hội phải được phán đoán trong ánh sáng minh bạch của Tin Mừng và lời mời gọi hoán cải, trở về cùng Chúa Giêsu Kitô. Bảo tồn ký ức có nghĩa là ý thức rằng sự tăng trưởng đến từ Thiên Chúa (Xc 1 Cr 3,6) và đồng thời là thành quả của sự kiên nhân và bền chí làm việc, trong quá khứ cũng như hiện nay. Ký ức chúng ta về các vị tử đạo và các thế hệ Kitô trước đây phải có tính chất thực tiễn, chứ không lý tưởng hóa hoặc háo thắng. Nhìn lại quá khứ bà mà không lắng nghe tiếng Chúa kêu gọi hoán cải trong hiện tại thì sẽ không giúp chúng ta tiến bước; trái lại nó sẽ cản trở hoặc thậm chí nó chặn đứng sự tiến triển thiêng liêng của chúng ta.

ĐTC nói tiếp: Thứ hai là bảo tồn hy vọng: niềm hy vọng do Tin Mừng ân sủng và từ bi của Thiên Chúa trong Chúa Giêsu Kitô trao tặng, niềm hy vọng đã soi sáng cho các vị tử đạo. Chúng ta được mời gọi công bố niềm hy vọng ấy cho một thế giới, tuy thịnh vượng về vật chất, nhưng vẫn đang tìm kiếm một cái gì hơn nữa, một cái gì chân thực và sung mãn. Anh em hãy bảo tồn niềm hy vọng này bằng cách duy trì sinh động ngọn lửa thánh thiện, bác ái huynh đệ và lòng nhiệt thành truyền giáo trong niềm hiệp thông của Giáo Hội.

Là một Giáo Hội thừa sai, một Giáo Hội luôn đi ra ngoài, hướng về thế giới, đặc biệt là hướng về các ngoại ô của xã hội hiện đại, đòi phải phát triển một sở thích tinh thần làm cho chúng ta có khả năng đón nhận và đồng hóa với mỗi chi thế của Thân Mình Chúa Kitô (Xc Tông Huấn Niềm Vui Phúc Âm, 268). Theo nghĩa này, cần chứng tỏ một sự quan tâm đặc biệt trong các cộng đoàn chúng ta đối với các trẻ em và những khát vọng của người trẻ; cũng như quan tâm đến người già, bảo tồn sự khôn ngoan và kinh nghiệm của người già.

Bảo tồn hy vọng cũng bao hàm việc bảo đảm sao cho chứng tá ngôn sứ của Giáo Hội tại Hàn Quốc tiếp tục được biểu lộ qua sự quan tâm đến người nghèo và các chương trình liên đới, nhất là đối với những người tị nạn và di dân, những người sống ngoài lề xã hội; trong sự liên lỷ hoạt động để thăng tiến về mặt xã hội, công ăn việc làm và giáo dục. Chúng ta có thể gặp nguy cơ thu hẹp sự dấn thân của chúng ta cho người túng thiếu vào chiều kích từ thiện mà quên đi nhu cầu của mỗi người cần được tăng trưởng như con người va có thể biểu lộ nhân cách, sự sáng vào và văn hóa của mình trong phẩm giá. Lý tưởng tông đồ của một Giáo Hội của người nghèo và cho người nghèo được diễn tả hùng hồn trong các cộng đồng Kitô tiên khởi tại đất nước anh em. Tôi cầu mong rằng lý tưởng này tiếp tục uốn nắn hành trình của Giáo Hội tại Hàn Quốc trong cuộc lữ hành hướng về tương lai.

Một chứng tá ngôn sứ theo Tin Mừng trình bày một số thách đố đặc biệt đối với Giáo Hội tại Hàn Quốc, xét vì Giáo Hội đang sống và hoạt động giữa một xã hội sung túc nhưng ngày càng bị tục hóa và duy vật. Trong những hoàn cảnh ấy, các nhân viên mục vụ bị cám dỗ muốn sử dụng không những kiểu mẫu quản trị hữu hiệu, những chương trình và tổ chức được thế giới doanh nghiệp thu hút, nhưng cả một lối sống và một não trạng được hướng dẫn bằng những tiêu chuẩn trần tục về sự thành công và thậm chí cả về quyền lực thay vì theo các tiêu chuẩn mà Chúa Giêsu đã nêu lên trong Tin Mừng. ”Khốn cho chúng ta nếu Thập Giá bị tước mất khả năng phán đoán sự khôn ngoan của thế gian này! (Xc 1 Cr 1,17). Tôi khuyên anh em và các linh mục của anh em hãy chống lại cám dỗ này dưới mọi hình thức”.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

————————————————————————————————–

Đây là nguyên văn bài đọc bằng Anh ngữ của ĐTC trong buổi gặp mặt Hội Đồng Giám Mục Đại Hàn.

Dear Brother Bishops,

I greet all of you with deep affection and I thank Bishop Peter U-il Kang for his words of fraternal welcome on your behalf.  It is a blessing for me to be here and to witness at first hand the vibrant life of the Church in Korea.  As pastors, you are responsible for guarding the Lord’sflock.  You are guardians of the wondrous works which he accomplishes in his people.  Guarding is one of the tasks specifically entrusted to the bishop: looking after God’s people.  Today I would like to reflect with you as a brother bishop on two central aspects of the task of guarding God’s people in this country: to be guardians of memory and guardians of hope.

To be guardians of memory.  The beatification of Paul Yun Ji-chung and his companions is an occasion for us to thank the Lord, who from the seeds sown by the martyrs has brought forth an abundant harvest of grace in this land.  You are the children of the martyrs, heirs to their heroic witness of faith in Christ.  You are also heirs to an impressive tradition which began, and largely grew, through the fidelity, perseverance and work of generations of lay persons.  It is significant that the history of the Church in Korea began with a direct encounter with the word of God.  It was the intrinsic beauty and integrity of the Christian message – the Gospel and its summons to conversion, interior renewal and a life of charity – that spoke to Yi Byeok and the noble elders of the first generation; and it is to that message, in its purity, that the Church in Korea looks, as if in a mirror, to find her truest self.

The fruitfulness of the Gospel on Korean soil, and the great legacy handed down from your forefathers in the faith, can be seen today in the flowering of active parishes and ecclesial movements, in solid programs of catechesis and outreach to young people, and inthe Catholic schools, seminaries and universities.  The Church in Korea is esteemed for its role in the spiritual and cultural life of the nation and its strong missionary impulse.  From being a land of mission, yours has now become a land of missionaries; and the universal Church continues to benefit from the many priests and religious whom you have sent forth.

Being guardians of memory means more than remembering and treasuring the graces of the past; it also means drawing from them the spiritual resources to confront with vision and determination the hopes, the promise and the challenges of the future.  As you yourselves have noted, the life and mission of the Church in Korea are not ultimately measured in external, quantitative and institutional terms; rather, they must be judged in the clear light of the Gospel and its call to conversion to the person of Jesus Christ.  To be guardians of memory means realizing that while the growth is from God (cf. 1 Cor 3:6), it is also the fruit of quiet and persevering labor, past and present.  Our memory of the martyrs and past generations of Christians must be one that is realistic, not idealized or “triumphalistic”.  Looking to the past without hearing God’s call to conversion in the present will not help us move forward; instead, it will only hold us back and even halt our spiritual progress.

In addition to being guardians of memory, dear brothers, you are also called to be guardians of hope: the hope held out by the Gospel of God’s grace and mercy in Jesus Christ, the hope which inspired the martyrs.  It is this hope which we are challenged to proclaim to a world that, for all its material prosperity, is seeking something more, something greater, something authentic and fulfilling.  You and your brother priests offer this hope by your ministry of sanctification, which not only leads the faithful to the sources of grace in the liturgy and the sacraments, but also constantly urges them to press forward in response to the upward call of God (cf. Phil 3:14).  You guard this hope by keeping alive the flame of holiness, fraternal charity and missionary zeal within the Church’s communion.  For this reason, I ask you to remain ever close to your priests, encouraging them in their daily labors, their pursuit of sanctity and their proclamation of the Gospel of salvation.  I ask you to convey to them my affectionate greeting and my gratitude for their dedicated service to God’s people.

If we accept the challenge of being a missionary Church, a Church which constantly goes forth to the world and, especially, to the peripheries of contemporary society, we will need to foster that “spiritual taste” which enables us to embrace and identify with each member of Christ’s body (cf. Evangelii Gaudium, 268).  Here particular care and concern needs to be shown for the children and the elderly in our communities.  How can we be guardians of hope if we neglect the memory, the wisdom and the experience of the elderly, and the aspirations of our young?  In this regard, I would ask you to be concerned in a special way for the education of children, supporting the indispensable mission not only of the universities, but also Catholic schools at every level, beginning with elementary schools, where young minds and hearts are shaped in love for the Lord and his Church, in the good, the true and the beautiful, and where children learn to be good Christians and upright citizens.

Being guardians of hope also entails ensuring that the prophetic witness of the Church in Korea remains evident in its concern for the poor and in its programs of outreach, particularly to refugees and migrants and those living on the margins of society.  This concern should be seen not only in concrete charitable initiatives, which are so necessary, but also in the ongoing work of social, occupational and educational promotion.  We can risk reducing our work with those in need to its institutional dimension alone, while overlooking each individual’s need to grow as a person and to express in a worthy manner his or her own personality, creativity and culture.  Solidarity with the poor has to be seen as an essential element of the Christian life; through preaching and catechesis grounded in the rich patrimony of the Church’s social teaching, it must penetrate the hearts and minds of the faithful and be reflected in every aspect of ecclesial life.  The apostolic ideal of “a Church of and for the poor” found eloquent expression in the first Christian communities of your nation.  I pray that this ideal will continue to shape the pilgrim path of the Church in Korea as she looks to the future.  I am convinced that if the face of the Church is first and foremost a face of love, more and more young people will be drawn to the heart of Jesus ever aflame with divine love in the communion of his mystical body.

Dear brothers, a prophetic witness to the Gospel presents particular challenges to the Church in Korea, since she carries out her life and ministry amid a prosperous, yet increasingly secularized and materialistic society.  In such circumstances it is tempting for pastoral ministers to adopt not only effective models of management, planning and organization drawn from the business world, but also a lifestyle and mentality guided more by worldly criteria of success, and indeed power, than by the criteria which Jesus sets out in the Gospel.  Woe to us if the cross is emptied of its power to judge the wisdom of this world (cf. 1 Cor 1:17)!  I urge you and your brother priests to reject this temptation in all its forms.  May we be saved from that spiritual and pastoral worldliness which stifles the Spirit, replaces conversion by complacency, and, in the process, dissipates all missionary fervor (cf. Evangelii Gaudium, 93-97)!

Dear brother Bishops, with these reflections on your role as guardians of memory and of hope, I want to encourage you in your efforts to build up the faithful in Korea in unity, holiness and zeal.  Memory and hope inspire us and guide us toward the future.  I remember all of you in my prayers and I urge you constantly to trust in the power of God’s grace: “The Lord is faithful; he will strengthen you and guard you from the evil one” (2 Thess 3:3).  May the prayers of Mary, Mother of the Church, bring to full flower in this land the seeds planted by the martyrs, watered by generations of faithful Catholics, and handed down to you as a pledge for the future of your country and of our world.  To you, and to all entrusted to your pastoral careand keeping, I cordially impart my Apostolic Blessing.

 

Đức Thánh Cha đến Hàn Quốc

Đức Thánh Cha đến Hàn Quốc

HÁN THÀNH. Lúc 10 giờ 10 phút sáng thứ năm, 14-8-2014, ĐTC Phanxicô đã đến thủ đô Hán Thành của Hàn Quốc sau chuyến bay dài hơn 11 tiếng đồng hồ từ Roma.

Đón tiếp

Chiếc Airbus A330 của hãng Alitalia đáp xuống căn cứ không quân Hán Thành ở thành phố Thành Nam (Seongnam) thuộc tỉnh Kinh Kỳ (Gyeonggi). 21 phát đại bác nổ vang chào mừng vị quốc khách, trong khi Bà Tổng thống Phác Cận Huệ đón chào ĐTC ngay tại chân thang máy bay trước khi hai em bé trong y phục cổ truyền của Hàn quốc tặng hoa cho ngài.

pope-francis and Korea President

Trong phái đoàn 300 tín hữu Công Giáo Hàn Quốc hiện diện tại Phi trường để chào đón ĐTC cũng có 2 người đã vượt biên từ Bắc Triều Tiên, 4 thân nhân các nạn nhân bị thiệt mạng trong vụ đắm tầu ngày 16-4 năm nay, hai công nhân nước ngoài từ Philippines và Bolivia, những người tàn tật và con cháu các vị tử đạo sắp được phong chân phước.

ĐTC được cha John Chong Che Chon, tân Giám tỉnh Dòng Tên tại Hàn Quốc, làm thông ngôn trong chuyến viếng thăm này. Khi được giới thiệu với một trong những thân nhân nạn nhân đắm tàu, ngài nói: ”Tai nạn này thật là đau thương. Tôi không quên các nạn nhân. Hòa bình tại Bán đảo Triều Tiên luôn có chỗ đứng trong tâm hồn tôi”.
Bầu không khí tiếp đón thật nồng nhiệt và tưng bừng. Liền đó ĐTC đã lên chiếc xe nhỏ hiệu Kia màu xám đậm, chế tạo tại địa phương, để về tòa Sứ Thần Tòa Thánh cách đó 17 cây số để cử hành thánh lễ riêng, trước khi dùng bữa và nghỉ trưa.

Gặp chính quyền

Lúc gần 4 giờ chiều giờ địa phương, ĐTC đã đến Phủ Tổng thống Hàn Quốc chỉ cách tòa Sứ Thần 800 mét. Dinh thự này quen gọi là tòa Nhà Xanh hay là ”Thanh ngõa đài” với 150 ngàn miếng ngói màu xanh dương với hai khu nhà bên cạnh. Dinh này được kiến thiết hồi năm 1991 thay thế cho dinh được xây dựng dưới thời Nhật Bản cai trị Hàn quốc.

Đến nơi ĐTC đã được bà tổng thống Phác Cận Huệ đón tiếp với tất cả nghi thức, quốc thiều và đoàn quân danh dự diễn hành trước lễ đài, và được mời vào phòng khánh tiết của Phủ Tổng Thống để hội kiến, cùng với hai vị Bộ trưởng Hàn quốc, ĐHY Quốc vụ khanh Parolin và Đức TGM Osvaldo Padilla, Sứ Thần Tòa Thánh tại Hán Thành.


Bà Phác Cận Huệ nguyên là con của cố tổng thống Phác Chánh Hy, năm nay 62 tuổi (1952). Bà đã theo học tại trường Nữ Trung Học Thánh Tâm. Hồi đó vào năm 1965, bà đã chịu phép rửa tội với tên thánh là Juliana.


Bà đã tốt nghiệp Kỹ Sư tại Đại học Tây Giang (Sogang) do Dòng Tên thành lập ở Hán Thành. Năm 2012 bà là Phụ nữ đầu tiên đắc cử tổng thống Hàn quốc và thuộc đảng Saenuri. Từ khi được bầu làm tổng thống hồi tháng 2 năm ngoái, bà Phác Cận Huệ đã 5 lần cố gắng mời ĐGH Phanxicô đến viếng thăm Hàn Quốc trong đó có 4 thư bà viết tay mời ngài đến thăm. Lần đầu tiên hồi tháng 3 năm ngoái khi bà gửi phái đoàn do Bộ trưởng Văn hóa, thể thao và du lịch đến dự lễ khai mạc sứ vụ của ĐTC ngày 19-3-2013 tại Quảng trường thánh Phêrô, và trong dịp đó phái đoàn đã trao thư viết tay của Bà Tổng thống chúc mừng ĐTC. Năm ngoái bà lại mời nhân dịp kỷ niệm 50 năm quan hệ ngoại giao giữa Hàn quốc và Tòa Thánh.

Sau khi hội kiến riêng và trao đổi quà tặng, Tổng thống và ĐTC tiến sang phòng khánh tiết trước sự hiện diện của khoảng 200 người gồm các vị lãnh đạo chính quyền, đại diện ngoại giao đoàn và nhiều chức sắc khác.

Trong diễn văn chào mừng ĐTC, Bà Phác Cận Huệ đã trình bày những giai đoạn trong cuộc viếng thăm của ĐTC tại Hàn Quốc và nói về những nơi sẽ được ngài đến. Sau đó bà cũng nói về cuộc chiến giữa hai miền thuộc bán đảo Triều Tiên, không những tạo nên một vết thương sâu đậm cho quốc dân, nhưng còn gây ra bao nhiêu chia cách cho các gia đình.

Về phần ĐTC, trong diễn văn đầu tiên, ngài đã dùng tiếng Anh và nói rằng:

”Thật là một niềm vui lớn cho tôi được đến Hàn Quốc, đất nước buổi sáng yên hàn, Triều Tiên, và cảm nghiệm không những vẻ đẹp thiên nhiên của quốc gia này, nhưng nhất là vẻ đẹp của dân chúng và lịch sử văn hóa phong phú của nước này. Gia sản đất nước này qua các năm tháng đang bị thửc thách vì bạo lực, bách hại và chiến tranh. Nhưng mặc dù những đau thương, sự nóng nực ban ngày và bóng tối của ban đêm vẫn luôn nhường chỗ cho buổi sáng yên hàn, nghĩa là cho một niềm hy vọng không suy giảm, mong được công lý, hòa bình và thống nhất.

ĐTC cũng nhắc đến hai lý do chính cuộc viếng thăm của ngài, trước tiên là Đại hội giới trẻ Công Giáo Á châu lần thứ 6, một cuộc cử hành đức tin chung trong vui tươi, qui tụ các bạn trẻ Công Giáo từ các nước thuộc Á châu, và tiếp đến là lễ tôn phong chân phước cho các vị chứng nhân đức tin Hàn quốc: Phaolô Duẫn Trì Trung (Yun Ji Chung) và 123 bạn.

ĐTC ca ngợi sự kiện xã hội Hàn quốc hiểu rõ sự khôn ngoan và phẩm giá của người già và vai trò của họ trong xã hội. Như một dân tộc khôn ngoan không phải chỉ yêu mến truyền thống của mình, nhưng còn đề cao giá trị của người trẻ, tìm cách thông truyền cho họ gia sản quá khứ và áp dụng gia sản ấy vào những thách đố ngày nay. ĐTC cũng nhắc đến tầm quan trọng của việc suy tư về cách thức thích hợp nhất để thông truyền các giá trị cho các thế hệ tương lai và đâu là loại xã hội mà ta mong muốn. Trong bối cảnh Hàn quốc, ĐTC nhấn mạnh hồng ân hòa bình, hòa giải, và sự ổn định tại bán đảo Triều tiên. Một thách đố đối với ngoại giao, một thách đố ngàn đời là làm sao phá đổ những bức tường nghi kỵ và oán ghét, thăng tiến một nền văn hóa hòa giải và liên đới. ”Vì ngoại giao, trong tư cách là một nghệ thuật về những gì có thể, được dựa trên xác tín kiên vững và bền bỉ, theo đó hòa bình có thể đạt được bằng sự lắng nghe và đối thoại trong thanh thản, hơn là bằng sự trách cứ nhau, những phê bình vô bổ và sử dụng võ lực”.

”Hòa bình không phải chỉ là vắng bóng chiến tranh, nhưng là thành quả công lý. Và công lý, như một nhân đức, đòi phải có sự bền chí kiên nhẫn, nó đòi chúng ta không quên những bất công quá khứ, nhưng cần vượt thắng chúng bằng sự tha thứ, bao dung và cộng tác. Nó đòi phải có ý chí phân định và đạt tới những mục tiêu có lợi cho nhau, trên những nền tảng tôn trọng lẫn nhau, cảm thông và hòa giải”.

ĐTC cũng nhận định rằng: Kinh nghiệm dạy chúng ta trong một thế giới ngày càng hoàn cầu hóa, nhận thức của chúng ta về công ích, tiến bộ và phát triển, xét cho cùng không phải chỉ có tính chất kinh tế, nhưng còn phải có đặc tính nhân bản nữa.

Cùng với phần lớn các nước phát triển, Hàn Quốc đang đương đầu với những vấn đề xã hội quan trọng, những chia rẽ chính trị, chênh lệch về kinh tế và những lo âu liên quan tới việc quản lý môi sinh trong tinh thần trách nhiệm. ĐTC kêu gọi làm tất cả những gì có thể để kiến tạo một bầu không khí xã hội trong đó mỗi thành phần của xã hội được lắng nghe, trong đó người ta duy trì tinh thần đả thông cởi mở, đặc biệt quan tâm đến những người nghèo, những người dễ bị tổn thương, nhưng người không có tiếng nói, không những chỉ đáp ứng nhu cầu nhất thời của họ, nhưng còn thăng tiến họ trong sự tăng trưởng về mặt nhân bản và tinh thần. Một điề biệt cần thiết ngày nay là một sự hoàn cầu hóa sự liên đới, nhắm mục tiêu phát triển toàn diện mỗi người trong gia đình nhân loại.

Sau cùng, ĐTC Phanxicô nhắc lại lời ĐGH Gioan Phaolô 2 đã nói tại Hàn Quốc cách đây 25 năm về ước muốn liên lỷ của Cộng đoàn Công Giáo Hàn Quốc được tham gia trọn vẹn vào đời sống quốc gia. Giáo Hội muốn góp phần vào việc giáo dục người trẻ, làm tăng trưởng tình liên đới đối vlơi ngư;ơi nghèo, người gặp khó khăn và góp phần vào việc huấn luyện các thế hệ công dân trẻ, sẵn sàng đóng góp sự khôn ngoan và sáng suốt được thừa hưởng từ tiền nhân và nảy sinh từ đức tin, để đương đầu với những vấn đề lớn về chính trị và xã hội của đất nước”.

Giã từ phủ tổng thống Hàn Quốc vào lúc quá 5 giờ chiếu, ĐTC đã đến trụ sở Hội đồng GM cách đố 12 cây số để gặp gỡ 2 Hồng Y và 33 GM thuộc 16 giáo phận toàn quốc.

Bên lề chuyến viếng thăm ca ĐTC

– Lúc 11 giờ sáng thứ tư, 13-8-2014, ĐTC đã đến Đền thờ Đức Bà Cả, trong tư cách riêng, không có người tháp tùng, và ngài cầu nguyện trong thinh lặng khoảng 20 phút trước ảnh Đức Mẹ là Phần Rỗi của dân Roma và dâng hoa trên bàn thờ kính Đức Mẹ.

Đây là lần thứ 10 ĐTC đến cầu nguyện tại Đền thờ Đức Mẹ. Lần đầu tiên sáng ngày 14-3 năm ngoái, tức là hôm sau ngày được bầu làm Giáo Hoàng. Những lần trước đây, trước khi khởi hành công du và sau đó, ngài đều đến cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ.

– Trên máy bay bay từ Roma tới Hàn quốc, ĐTC đã chào 72 ký giả thuộc 11 quốc gia tháp tùng ngài và ngài đặc biệt tưởng niệm và cầu nguyện cho một ký giả người Italia bị thiệt mạng hôm 13-8 vừa qua trong khi thi hành phận sự ở Gaza.

Đó là ông Simone Camilli, 35 tuổi, phóng viên hình ảnh làm việc với hãng thông tấn AP của Hoa Kỳ. Ông cùng với người Palestine thông dịch tên là Ali Shehda Abu Afash và 3 cảnh sát viên Palestine bị thiệt mạng trong lúc tháo gỡ một quả bom chưa nổ trong cuộc chiến giữa Israel và lực lượng Hamas. Có 4 người khác bị thương nặng trong đó có một phóng viên nhiếp ảnh của hãng AP.

ĐTC đã cúi đầu mặc niệm và cầu nguyện trong 30 giây cùng với các ký giả trong lúc cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, kể lại số phận của ký giả Camilli. Cha cũng cám ơn ĐTC vì sự dấn thân bênh vực hòa bình, như lá thư ngài gửi Ông Tổng thư ký LHQ về số phận của nhiều người dân ở Irak đang bị bách hại.
Rồi ĐTC nói: ”Tất cả những điều này là hậu quả của chiến tranh. Ước gì những lời của anh chị em giúp liên kết chúng ta với thế giới. Tôi xin anh chị em luôn truyền đi sứ điệp này, cố gắng trao ban một lời an bình”.

Sau cùng ĐTC mỉm cười nói các ký giả tháp tùng: ”Daniel sẽ vào trong miệng sư tử trên chuyến bay trở về Roma.. Nhưng mà các sư tử này không cắn!”. Ngài hứa sẽ mở cuộc họp báo với các ký giả tháp tùng như đã làm trên đường trở về Roma sau cuộc viếng thăm tại Brazil và Thánh Địa. Tiếp đến ĐTC bắt tay chào từng ký giả trong máy bay.

– Máy bay chở ĐTC từ Roma tới Hán Thành đã bay trên không phận của hàng chục quốc gia. Khi vào không phận mỗi nước, ĐTC đều cho gửi điện chào thăm vị quốc trưởng và nhân dân quốc gia liên hệ. Giới báo chí đặc biệt chú ý đến sự kiện lần đầu tiên một vị Giáo Hoàng gửi điện chào thăm chủ tịch Tập Cận Bình (Xi Jinping) và nhân dân Trung Quốc khi bay trên không phận nước này. Ngài viết:

”Khi đi vào không phận Trung Quốc, tôi gửi lời cầu chúc tốt đẹp nhất đến Ông Chủ Tịch và đồng bào của ngài đồng thời cầu xin Chúa ban ơn hòa bình và thịnh vượng cho quốc dân”.

Đây là lần đầu tiên máy bay chở một vị Giáo Hoàng được phép bay qua không phận Trung Quốc trong chuyến viếng thăm Á châu. Vị tiền nhiệm của Ngài, Đức Gioan Phaolô 2 đã tránh bay vào không phận Trung Quốc vì quan hệ căng thẳng giữa Bắc Kinh và Vatican.

Mặt khác, Ông Heo Young-yeop, Phát ngôn viên của Ban tổ chức cuộc viếng thăm của ĐTC tại Hàn quốc cho biết trong số hơn 100 bạn trẻ Công Giáo Trung Quốc dự định đến Hàn Quốc để tham dự Đại hội Giới trẻ Công Giáo Á Châu, hơn một nửa không đến được vì ”tình trạng phức tại ở Trung Quốc”. Ông từ chối không cho biết thêm chi tiết vì lý do an ninh. Ông nói: một số bạn trẻ định tham dự đã bị Nhà Cầm quyền Trung Quốc bắt giữ.

Ngoài ra, theo tin của Bộ quốc phòng Hàn quốc, trước khi ĐGH đến Hán Thành, Bắc Triều Tiên đã bắn ba hỏa tiễn tầm ngắn ra ngoài khơi bờ biển phía đông. Hành động này xảy ra trước cuộc tập trận chung giữa Hàn Quốc và Hoa Kỳ dự kiến sẽ diễn ra từ ngày thứ hai 18-8 tới đây.

Bắc Triều tiên đã khước từ lời mời của Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc cho phép các thành viên Hội Công Giáo Triều Tiên được tham dự thánh lễ do ĐTC Phanxicô cử hành ngày thứ hai 18-8 tại thủ đô Hán Thành để cầu nguyện cho hòa bình và hòa giải tại Bán đảo Triều Tiên, viện cớ là có cuộc tập trận chung giữa Hàn quốc và Hoa Kỳ.

– Trong số các ký giả Đài Vatican được gửi sang Hàn Quốc nhân cuộc viếng thăm của ĐTC cũng có ông Sean Lovett trưởng ban tiếng Anh. Ông đã điểm vài phản ứng báo chí Hàn Quốc về cuộc viếng thăm của ĐTC:

”ĐGH Phanxicô là tin hàng đầu trong tất cả các báo chí và tin tức ở Hàn Quốc ngày nay. Những hình ảnh của ngài với khuôn mặt tươi cười tiếp tục được chiếu qua các màn hình và trang nhất của các báo chí chính ở Hàn Quốc.
Phần lớn các bài báo đều nhắc lại sự kiện lần cuối cách đây 25 năm, Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 đã viếng thăm nước này và họ cung cấp nhiều chi tiết trong chương trình và lộ trình 4 ngày viếng thăm của ĐTC và dường như họ thích trưng dẫn các con số thống kê về chuyến tông du này. Ví dụ:

– 180 ngàn bánh lễ đã được chuẩn bị cho các thánh lễ với 300 ngàn chai nước sẽ được phân phát giúp các tín hữu đương đầu với sự nóng nực.

– 1.700 xe bus từ các nơi ở Hàn Quốc đang hướng về các địa điểm nơi diễn ra các cuộc gặp gỡ với ĐGH, chuyên chở 100 ngàn tín hữu và hơn 100 GM.

– 30 ngàn cảnh sát viên nam nữ được ủy thác nhiệm vụ giữ an ninh, với sự trợ giúp của 5 ngàn người thiện nguyện, vừa Công Giáo và người lương.

– 2.800 ký giả thuộc các cơ quan truyền thông của 23 quốc gia, trong đó 358 người đến từ 23 quốc gia khác, đã đăng ký với ban tổ chức ở Hàn Quốc để theo dõi và tường thuật về các hoạt động của ĐTC trên các lộ trình dài tổng cộng 1 ngàn cây số.

Có một bài xã luận đặc biệt mời gọi quốc dân Hàn Quốc hãy biểu lộ ”mea culpa”, nhìn nhận lỗi của mình, và bài báo liệt kê một loạt những tệ đoan của đất nước và hy vọng ĐGH có thể xá giải cho Hàn Quốc vì đã không khắc phục được những chia rẽ chính trị và xã hội, sự xung đột giữa các thế hệ, không kể sự chia rẽ giữa hai miền bán đảo Triều Tiên. Nhiều báo chí bày tỏ những mong đợi lớn qua những lời nói và cử chỉ của ĐGH Phanxicô đối với người nghèo và người khuyết tật, bênh vực hòa bình và hòa giải, chống kỳ thị và bất công, khuyến khích người trẻ và cổ võ canh tân trong Giáo Hội.

Những điều trên đây dường như là những mong đợi thái quá nơi cuộc viếng thăm này của ĐGH, nhưng như một ký giả Hàn Quốc nói về cuộc viếng thăm của vị thủ lãnh Công Giáo: ”Đây là một tin vui duy nhất từ lâu đối với nước này!”. Những băng tang, các khám tưởng niệm và biểu ngữ trưng tại nhiều nơi tại Hàn quốc chứng tỏ đất nước này vẫn ở trong tình trạng kinh hoàng sau vụ tàu Sewol bị đắm làm cho gần 300 người thiệt mạng, phần lớn các các học sinh du ngoạn.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha gửi thư cho Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon

Đức Thánh Cha gửi thư cho Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon

VATICAN. Qua thư gửi Ông Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon, ĐTC kêu gọi cộng đồng quốc tế cứu trợ nhân đạo và giúp chấm dứt bạo lực chống các tín hữu Kitô và tín đồ các tôn giáo thiểu số tại Iraq.

Trong thư gửi đề ngày 9-8-2014 gửi ông Ban Ki Moon và được Phòng báo chí Tòa Thánh công bố trưa hôm 13-8-2014, ĐTC viết:

”Với tâm hồn nặng chĩu và lo âu, tôi theo dõi các biến cố bi thảm trong những ngày gần đây tại miền bắc Irak, nơi mà các tín hữu Kitô và tín đồ các tôn giáo thiểu số khác bị bó buộc phải trốn chạy khỏi gia cư của họ và chứng kiến sự tàn phá các nơi thờ phượng cũng như gia sản tôn giáo của họ. Xúc động vì số phận đau thương của họ, tôi đã xin ĐHY Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ Truyền giáo, người đã từng làm Đại diện của các vị Giáo Hoàng tiền nhiệm của tôi, Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 và Biển Đức 16 nơi nhân dân Iraq, đến biểu lộ sự gần gũi tinh thần của tôi và bày tỏ mối quan tâm của tôi cũng như của toàn thể Giáo Hội Công Giáo, đối với sự đau khổ không thể chấp nhận được của những người chỉ muốn được sống trong an bình, hòa hợp và tự do nơi phần đất của cha ông họ”.

Với cùng tinh thần đó, thưa ông Tổng thư ký, tôi viết cho ông, và đặt trước ông nước mắt, sự đau khổ và tiếng kêu thống thiết tuyệt vọng của các tín hữu Kitô và các tín đồ tôn giáo thiểu số khác nơi đất nước Irak yêu quí. Tôi lập lại lời kêu gọi cấp thiết gửi đến cộng đồng quốc tế: xin hãy hành động để chấm dứt thảm trạng nhân đạo đang diễn ra, và tôi khuyến khích tất cả các cơ quan thẩm quyền của LHQ, đặc biệt các cơ quan đặc trách về an ninh, hòa bình và công pháp nhân đạo, cũng như cơ quan trợ giúp những người tị nạn, hãy tiếp tục nỗ lực phù hợp với Lời tựa và các điều khoản quan trọng trong Hiến Chương LHQ”.

”Những cuộc tấn công tàn bạo đang càn quét qua miền bắc Iraq không thể không thức tỉnh lương tâm của mọi người nam nữ thiện chi và thúc đẩy họ có những hành vi liên đới cụ thể để bảo vệ những người bị thương tổn hoặc bị bạo lực đe dọa và đảm bảo sự trợ giúp cần thiết và cấp thời cho bao nhiêu người phải tản cư cũng như giúp họ trở về thành thị và gia cư của họ trong an toàn. Những kinh nghiệm thê thảm trong thế kỷ 20 và sự ý thức cơ bản nhất về phẩm giá con người thúc đẩy cộng đồng quốc tế, đặc biệt qua các qui luật và cơ cấu công pháp quốc tế, làm tất cả những gì có thể để chặn đứng và ngăn ngừa không để xảy ra nữa những bạo lực có thệ thống chống các nhóm chủng tộc và tôn giáo thiểu số”.

Và ĐTC kết luận rằng: ”Với niềm tín thác lời kêu gọi, mà tôi liên kết với những lời kêu gọi của các vị Thượng Phụ Đông Phương và các vị lãnh đạo tôn giáo khác sẽ được đáp trả tích cực, tôi tái bày tỏ với ông Tổng thư ký lòng quí trọng sâu đậm nhất của tôi”. (SD 13-8-2014)

G. Trần Đức Anh OP  – Vatican Radio

Bầu khí chờ đợi Đức Thánh Cha Phanxicô và các bạn trẻ Á châu tại Nam Hàn

Bầu khí chờ đợi Đức Thánh Cha Phanxicô và các bạn trẻ Á châu tại Nam Hàn

Lúc 16 giờ chiều thứ tư 13-8-2014 giờ Roma, Đức Thánh Cha Phanxicô lấy máy bay đi Seoul, bắt đầu chuyến viếng thăm mục vụ tại Nam Hàn kéo dài cho tới ngày 18-8. Đức Thánh Cha sẽ gặp gỡ giới trẻ Á châu và chủ sự lễ phong chân phước cho 124 vị tử đạo Đại Hàn.

Worker setup Cross

Từ nhiều tháng qua hơn 1,000 nhân viên thiện nguyện và 300 công nhân đã làm việc cật lực chuẩn bị từng chi tiết cho chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha Phanxicô tại Nam Hàn. Đức Cha Basilio Cho Kyu Man, 59 tuổi, Giám Mục phụ tá tổng giáo phận Seoul, cho biết có sự chờ đợi rất lớn. Trong mọi giáo xứ đều có treo các băng rôn lớn chào mừng Đức Thánh Cha, và đã có các buổi canh thức cầu nguyện cho chuyến viếng thăm mang lại nhiều kết qủa mong muốn.

Nhưng không phải chỉ có các tín hữu công giáo náo nức chờ đợi Đức Thánh Cha, mà đại đa số người dân Nam Hàn cũng thế, vì họ coi ngài là một nhân vật rất nổi tiếng. Mọi người dân Nam Hàn đều biết kiểu làm và nói của ngài, kiểu ngài hành động đối với người nghèo và người bệnh tật. Trong các tháng qua đã có nhiều sách của Đức Giáo Hoàng được dịch ra tiếng Đại Hàn.

Trong bản tin gửi ngày 12-8-2014 phóng viên Faccioli Pintozzi của hãng tin Asianews cho biết trong các đường phố chính của thủ đô Seoul đều có treo hình của Đức Phanxicô với hàng chữ ”Chào mừng Đức Giáo Hoàng”. Bên cạnh đó là quốc kỳ Nam Hàn. Chính quyền Nam Hàn đã chuẩn bị tiếp đón vị thượng khách của quốc gia với rất nhiều cẩn trọng. Dĩ nhiên, vấn đề an ninh rất là quan trọng trong công tác chuẩn bị tiếp đón. Chung quanh khu vực trụ sở Hội Đồng Giám Mục Nam Hàn, nơi Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ gặp gỡ các Giám Mục Nam Hàn chiều ngày hôm nay 14-8, có nhiều cảnh sát và nhân viên công lực canh giữ. Trong khi tiếng máy bay trực thăng lượn vòng trên bầu trời Seoul làm nhạc nền cho mọi sinh hoạt của cuộc sống thường ngày.

Cảnh sát cũng kiểm soát nghiêm ngặt quảng trường Gwanghwamun ”Quang môn” giữa lòng thủ đô Seoul, nơi Đức Thánh Cha sẽ chủ sự thánh lễ phong Chân phước cho Linh Mục Phaolô Yun Ji-Chung và 123 bạn tử đạo ngày 16 tháng 8. Quảng trường ”Quang Môn” hay ”các cửa của ánh sáng” nằm gần hoàng cung, biểu tượng cho căn tính của Nam Hàn, được trang hoàng bằng các bức tượng của Đô đốc Yi Sun-Schin, là người hồi thế kỷ thứ XV đã nhiều lần đánh bại hạm đội Nhật Bản, và của vua Sejong Cả, người cải cách nổi tiếng thuộc thế kỷ XV.

Đức Cha Basilio cho biết lúc đầu ban tổ chức tính chọn một khu vực rộng lớn hơn gần bờ sông, nhưng sau đó đã quyết đinh chọn quảng trường ”Quang Môn”, vì nó gần trung tâm và nằm trong thành cổ. Các vị tử đạo đã sống tại nơi này, và vài vị đã chịu tử đạo, bị chém đầu tại quảng trường này. Bên cạnh chỗ đặt bàn thờ có một nhà thờ kính nhớ các vị tử đạo. Xưa kia cũng có trạm cảnh sát, trong đó chắc chắn nhiều vị tử đạo đã bị nhốt trước khi bị hành quyết. Nơi này cũng là trung tâm của thành phố, diễn tả lịch sử của Đại Hàn, và trong vùng của các dịch vụ làm ăn buôn bán, là môi trường cũng cần được loan báo Tin Mừng.

Vùng quảng trường có các hàng rào chứa được 200,000 người, nhưng cả quảng trường có chỗ cho nửa triệu người. Đức Cha Basilio cho biết số tín hữu sẽ không đông đến 1 triệu, như hồi Đức Gioan Phaolô II viếng thăm Nam Hàn năm 1984. Lý đo vì trời qúa nóng và chi phí di chuyển cũng qúa mắc đối với nhiều giáo dân.

Như đã nói trên đây, vấn đề an ninh là một trong các ưu tư chính của chính quyền Nam Hàn. Lý do là vì sau khi Đức Thánh Cha ra vạ tuyệt thông cho các thành viên tổ chức tội phạm Mafia bên Italia, người ta sợ các tổ chức này tìm cách trả thù cách gián tiếp. Có tin đồn là có sự giằng co giữa các nhân viên an ninh của chính quyền Seoul muốn Đức Thánh Cha dùng xe có kính chắn đạn và các nhân viên an ninh Vaticăng, muốn để cho ngài được tự do tiếp xúc với dân chúng.

Tại quảng trường Quang Môn hiện cũng đang có một nhóm đông người biểu tình đòi ”sự thật và công lý” sau vụ đắm phà tại Sewol ngày 16 tháng 4 năm nay, khiến cho hơn 300 người chết, nhưng cho tới nay người ta vẫn chưa biết các chi tiết tai nạn xảy ra. Trong số những người ngồi biểu tình cũng có vài linh mục và nữ tu.

Flag welcome Pope

Đối với cuộc gặp gỡ giới trẻ tại Daejeon, thì ít có sự chờ đợi hơn. Đã có 4,000 bạn trẻ Nam Hàn và 2.000 bạn trẻ thuộc 23 nước Á châu tham dự Đại hội giới trẻ. Trong số này cũng có một bạn trẻ Bắc Hàn tỵ nạn tại Nam Hàn. Tuy không phải là tín hữu kitô, nhưng anh cho biết bà nội của anh thỉnh thoảng có nói tới Đức Giáo Hoàng, vì thế anh muốn biết ngài là ai, làm gì. Và đây là dịp may hiếm có, nên anh xin ghi danh tham dự. Trong số 2,000 bạn trẻ thuộc các nước Á châu nhóm đông nhất đến từ Philippines, rồi có các bạn trẻ Nhật Bản, Hồng Kông, Mông Cổ, Việt Nam. Ban tổ chức cũng đã gửi thứ mời các ban trẻ Hoa Lục, nhưng không ai biết họ có được phép tham dự không và sẽ có bao nhiêu người.

Đề tài đai hội là ”Hãy đến và xem”. Trong các ngày đại hội các bạn trẻ sẽ tham dự các cuộc hội thảo, trao đổi và chia sẻ chứng từ về một loạt các đề tài khác nhau, cũng như các buổi trình diễn văn nghệ, ca vũ và hòa nhạc. Ban vũ của Indonesia đặc biệt được chờ đợi. Trọng tâm của đại hội là việc làm chứng tá, tử đạo và ”thức tỉnh” qua sứ điệp của Chúa Kitô. Trong thánh lễ kết thúc đại hội do Đức Thánh Cha chủ sự sáng Chúa Nhật 17-8 sẽ có nghi thức sai các bạn trẻ ra đi rao truyền Tin Mừng.

Một linh mục thuộc ban tổ chức cho biết các bạn trẻ náo nức chờ đươc tham dự thánh lễ kính Đức Mẹ hồn xác lên trời, do Đức Thánh Cha chủ sự, nhưng họ cũng hân hoan vì cơ may gặp gỡ các bạn trẻ khác đến từ nhiều nước Á châu và chia sẻ với họ các kinh nghiệm chứng tá đức tin và các khó khăn của đời kitô trong thế giới ngày nay.

Thánh lễ khai mạc đã do Đức Cha Lazzaro You Heung Sik, Giám Mục Daejeon, khai mạc với thánh lễ do ngài chủ sự vào sáng 13-8 tại đền thánh Solmoe, là quê sinh của linh mục Anrê Kim Taegon, đã được Đức Gioan Phaolô II tôn phong hiển thánh cùng với 102 vi tử đạo khác hồi năm 1984.

Đại hội giới trẻ công giáo Á châu cũng mang sắc thái ơn gọi với sự tham dự của 500 đại chủng sinh. Trưa ngày 15-8-2014 sẽ có 20 bạn trẻ dùng bữa với Đức Thánh Cha. Vào ban chiều họ sẽ cùng các bạn trẻ khác đến Solmoe gần đền các thánh tử đạo, nơi diễn ra đại hội. Vào ban tối sẽ có lễ hội văn hóa với sự tham dự tiết mục của các phái đoàn các nước. Hai bạn trẻ sẽ chia sẻ chứng tá cuộc sống của họ với các bạn trẻ và Đức Thánh Cha, trước khi ngài ban huấn từ.

Theo Đức Cha Lazzaro You Heung Sik, Giám Mục Daejeon, ”trước khi là người Đại Hàn, Trung Quốc hoặc Á châu, người trẻ đến Daejeon đều là anh chị em với nhau và là con cái Thiên Chúa. Quốc tịch, trình độ học vấn hay các khác biệt chính trị không quan trọng: tất cả chúng ta phải cùng nhau luôn luôn gieo vãi tình yêu khắp nơi, để có tình yêu thương giữa chúng ta. Nếu có tình yêu thương giữa chúng ta, thì khi đó chúng ta có thể làm được tất cả mọi sự. Nhưng không có tình yêu thương, thì sẽ không làm được gì cả”.

Để giúp tín hữu và nhân dân Nam Hàn chuẩn bị tinh thần đón tiếp Đức Thánh Cha Phanxicộ, ngày 11-8-2014 đài truyền hình quốc gia đã cho trình chiếu sứ điệp video của ngài, trong đó Đức Thánh Cha nói: ”Anh chị em thân mến! Chỉ còn vài ngày nữa, với ơn Chúa giúp, tôi sẽ ở giữa anh chị em bên Đại Hàn. Ngay từ bây giờ tôi xin cám ơn anh chị em về sự tiếp đón của anh chị em, và tôi mời gọi anh chị em cùng tôi cầu nguyện, để cho chuyến tông du này đem lại nhiều hoa trái cho Giáo Hội và xã hội Đại Hàn. ”Hãy dứng đậy và hãy bừng sáng” (Is 60,1), với các lời ngôn sứ Isaia đã nói với thành Giêrusalem, tôi xin nói với anh chị em. Chính Chúa mời gọi anh chị em tiếp nhận ánh sáng của Người, tiếp nhận nó trong con tim để suy tư trong một cuộc sống tràn đầy đức tin đức cậy và đức mến, tràn đầy niềm vui của Phúc Âm. Như anh chị em biết, tôi đến nhân dịp Ngày Giới Trẻ Á châu lần thứ 6. Đặc biệt tôi sẽ đem tới cho ngưới trẻ lời Chúa mời gọi: ”Hỡi giới trẻ Á châu, hãy đứng lên! Vinh quang của các vị tử đạo chiếu sáng trên các con”. Ánh sáng của Chúa Kitô phục sinh chiếu tỏa như trong một tấm gương nơi chứng tá của cha Phaolô Yun Ji-Chung và 123 bạn tử đạo, tất cả là các chứng nhân của đức tin, mà tôi sẽ tuyên phong chân phước ngày 16 tháng 8 tới đây tại Seoul”. Người trẻ là những người đem theo niềm hy vọng và năng lực cho tương lai; nhưng họ cũng là nạn nhân của cuộc khủng hoảng luân lý và tinh thần trong thời đại chúng ta. Vì thế tôi ước mong loan báo cho họ và mọi người danh thánh duy nhất, trong đó chúng ta có thể được cứu rỗi: Đức Giêsu là Chúa.”

Đức Thánh Cha nói thêm trong sứ điệp Video gửi tín hữu Đại Hàn: ”Anh chị em Đại Hàn thân mến, niềm tin nơi Chúa Kitô đã đâm rễ sâu trên quê hương của anh chị em và đã đem lại hoa trái dồi dào. Các người cao niên là những người giữ gìn gia tài đó: không có họ giới trẻ sẽ không có ký ức. Sự gặp gỡ giữa người già và người trẻ bảo đảm cho con đường của dân tộc. Và Giáo Hội là đại gia đình, trong đó tất cả mọi người là anh chị em với nhau trong Chúa Kitô. Nhân danh Người tôi đến với anh chị em, trong niềm vui được chia sẻ với anh chị em Tin Mừng tình yêu và niềm hy vọng. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em và xin Đức Trinh Nữ Mẹ Người che chở anh chị em”.

Đức Cha You cũng đồng ý với nhận xét của Đức Thánh Cha liên quan tới người trẻ. Đức Cha cho biết thách đố lớn nhất đối với Giáo Hội Đại Hàn hiện nay là chủ thuyết vô thần thực tiễn của một xã hội dựa trên sự ganh đua và thành công, dậy người ta chỉ nghĩ tới tiền bạc và công việc làm, đến độ mhiều người trẻ xem ra không còn thời giờ để sống đức tin nữa. Vì thế Giáo Hội phải đẩy mạnh mục vụ giới trẻ và chứng tá bác ái, là con đường đúng đắn giúp tới gần các thế hệ trẻ. Đức Cha hy vọng chuyến công du này của Đức Thánh Cha Phanxicô khiến cho tâm tình tôn giáo nở hoa, và giúp nhiều người khám phá ra niềm tin công giáo. Khi Đức Gioan Phaolô II viếng thăm Nam Hàn trong các năm 1984 và 1989, số người xin gia nhập Giáo Hội gia tăng mạnh. Là vị chủ chăn đã khẳng định rằng trong Giáo Hội mọi tín hữu đều là các thừa sai, chắc chắn Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ thúc đẩy mọi người các linh mục tu sĩ và giáo dân nam nữ hăng say rao giảng Chúa Kitô cho các anh chị em khác.

(ASIANEWS 27.28.30-6-2014; 12-8-2014)

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Tòa Thánh lên án việc tái lập Nhà Nước Hồi Giáo

Tòa Thánh lên án việc tái lập Nhà Nước Hồi Giáo

VATICAN. Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn nghiêm khắc lên án việc tái lập Nhà Nước Hồi giáo với những hành vi man rợ và tàn ác đi kèm.

Trong tuyên ngôn công bố hôm 12-8-2014, Hội đồng Tòa Thánh khẳng định rằng:

”Toàn thế giới kinh hoàng chứng kiến cái gọi là ”sự tái lập Nhà Nước Hồi giáo (califat) vốn đã bị Kamal Ataturk, vị sáng lập nước Thổ nhĩ kỳ hiện đại, bãi bỏ ngày 29-10-1923.
”Sự phản đối của đại đa số các tổ chức tôn giáo và chính trị Hồi giáo chống lại sự ”tái lập” này vẫn không ngăn cản những kẻ ”thánh chiến của Nhà Nước Hồi giáo” phạm và tiếp tục phạm những hành vi tội ác khôn tả. Hội đồng Tòa Thánh này, tất cả những người dấn thân trong công cuộc đối thoại liên tôn, tín đồ của tất cả các tôn giáo cũng như những người nam nữ thiện chí chỉ có thể tố giác và lên án quyết liệt những phương thức bất xứng với con người như:
– tàn sát con người chỉ vì họ thuộc về một tôn giáo nào đó;
– chặt đầu người, đóng đanh và treo thi thể trước công chúng;
– bó buộc các tín hữu Kitô và người yézidi phải chọn lựa một là theo Hòi giáo, hay là trả tiền thuế (yizya) hay là phải di cư;
– trục xuất hàng chục ngàn người, trong đó có các trẻ em, người già, phụ nữ đang mang thai và bệnh nhân.
– bắt cóc các thiếu nữ và phụ nữ thuộc cộng đoàn yézidie và Kitô như chiến lợi phẩm (sabaya);
– áp đặt biện pháp man rợ khâu kín cơ phận sinh dục phụ nữ;
– phá hủy các nơi thờ phượng và lăng tẩm của Kitô giáo và Hồi giáo;
– chiếm đóng hoặc xúc phạm đến các nhà thờ và tu viện;
– tháo gỡ các thánh giá và các biểu tượng tôn giáo khác của Kitô giáo và các cộng đồng tôn giáo khác;
– phá hủy gia sản văn hóa và tôn giáo Kitô có giá trị khôn lường;
– bạo hành dã man với mục đích làm cho dân chúng phải kinh sợ để bó buộc họ đầu hàng hoặc phải chạy trốn.
Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn khẳng định rằng: ”Không chính nghĩa nào có thể biện minh cho những hành vi man rợ như vậy và chắc chắn không tôn giáo nào có thể làm như thế. Đó là một sự xúc phạm cực kỳ trầm trọng đối với nhân loại và đối với Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, như ĐGH Phanxicô thường nhắc nhở.
Nhưng ta cũng không thể quên rằng các tín hữu Kitô và Hồi giáo đã có thể sống chung với nhau, tuy có những lúc thăng trầm, qua bao thế kỷ, kiến tạo một nền văn hóa sống chung và một nền văn minh mà họ hãnh diện. Đàng khác, chính trên căn bản đó mà trong những năm gần đây, cuộc đối thoại giữa các tín hữu Kitô và Hồi giáo đã được tiếp tục và đào sâu.
”Tình trạng thê thảm của các tín hữu Kitô, của những người yézidis và các cộng đồng tôn giáo khác và chủng tộc thiểu số tại Irak đòi phải có một lập trường minh bạch và can đảm từ phía các vị lãnh đạo tôn giáo, nhất là Hồi giáo, những người dấn thân trong cuộc đối thoại liên tôn và tất cả mọi người thiện chí. Tất cả phải đồng thanh liên án quyết liệt những tội ác vừa nói và tố giác việc lạm dụng tôn giáo để biện minh cho những việc làm ấy. Chẳng vậy các tôn giáo, các tín đồ và thủ lãnh của họ có gì đáng tin cậy? Cuộc đối thoại liên tôn đã được kiên nhẫn theo đuổi trong những năm qua còn uy tín nào nữa?
”Các vị lãnh đạo tôn giáo cũng được mời gọi dùng ảnh hưởng của mình nơi các chính quyền để chấm dứt những tội ác ấy, trừng phạt những kẻ phạm tội như thế và tái lập chế độ pháp quyền trên lãnh thổ của mình, đồng thời bảo đảm cho những người bị trục xuất được hồi hương. Khi nhắc nhớ sự cần thiết phải có luân lý đạo đức trong việc quản trị xã hội loài người, cũng các vị lãnh đạo tôn giáo ấy không được quên nhấn mạnh rằng sự hỗ trợ, tài trợ và cung cấp võ khí cho khủng bố là điều bị lên án về luân lý”.
Ngoài những điều trên đây, Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn cám ơn tất cả những người đã lên tiếng tố giác nạn khủng bố, nhất là thứ khủng bố lợi dụng tôn giáo để biện minh cho mình.
Vậy chúng ta hãy hiệp tiếng với ĐGH Phanxicô: ”Xin Thiên Chúa hòa bình khơi lên nơi tất cả mọi người một ước muốn chân thành đối thoại và hòa giải. Không thể thắng bạo lực bằng bạo lực. Chỉ có thể thắng bạo lực được bằng hòa bình!” (SD 12-8-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

(Yézidi hay Yazidi là nhóm bộ tộc tôn giáo nói tiếng Kurde theo đạo Hồi có pha trộn các yếu tố truyền thống đa phương. Phần lớn họ sống tại tỉnh Ninive ở miền bắc Iraq. Trên thế giới có khoảng 700 ngàn người Yézidi).

 

Tình hình Giáo Hội tại Á châu, đặc biệt tại Nam Hàn

Tình hình Giáo Hội tại Á châu, đặc biệt tại Nam Hàn

Một số nhận định của Đức Hồng Y Stanislav Rylko, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Gia đình, của Linh Mục Bernardo Cervellera, Giám đốc hãng thông tấn Asianews, và của ông Thomas Hong Son Han, Đại sứ Nam Hàn cạnh Tòa Thánh

Sáng 13-8-2014 Đức Thánh Cha Phanxicô lên đường công du Nam Hàn để tham dự Đại hội giới trẻ Á châu, và chủ sự thánh lễ phong Chân Phước cho 124 vị tử đạo Đại Hàn.

Cách đây 4 năm Giáo Hội Nam Hàn đã nhóm Hội nghị giáo dân Á châu tại Seoul, với sự tham dự của hàng trăm đại biểu phái đoàn của 19 nước trong vùng, thành viên của Liên Hội Đồng Giám Mục Á châu, và phái đoàn của 37 hiệp hội, phong trào và cộng đoàn giáo dân được Tòa Thánh chấp nhận. Hội nghị đã diễn ra trong các ngày 31 tháng 8 đến mùng 5 tháng 9 năm 2010 về đề tái: ”Loan báo Chúa Giêsu Kitô tai Á châu ngày nay”.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn một số nhận định của Đức Hồng Y Stanislav Rylko, Chủ tich Hội Đồng Toà Thánh về giáo dân, của cha Bernardo Cervellera, thuộc Hội truyền giáo nước ngoài Milano, gọi tắt là PIME, và của ông Thomas Hong Son Han, Đại sứ Nam Hàn cạnh Tòa Thánh, về tình hình Giáo Hội tại Nam Hàn.

Tuy bài phỏng vấn đã được thực hiện trong bối cảnh hội nghị cách đây 4 năm, nhưng nó vẫn còn rất thời sự. Vì thế chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn một số nhận xét của Đức Hồng Y Rylko, của cha Cervellera và ông đại sứ Nam Hàn, nhân chuyến viếng Đức Thánh Cha viếng thăm Nam Hàn bắt đầu từ ngày 13-8-2014.

Hỏi: Thưa Đức Hồng Y, giữa hội nghị giáo dân Á châu năm 1994 và hội nghị năm 2010 có khoảng cách là 16 năm. Trong khoảng thời gian này thế giới giáo dân Á châu đã có các thay đổi nào?

Đáp: Nếu chúng ta chú ý quan sát cuộc sống của Giáo Hội tại Á châu trong khoảng thời gian này, chúng ta có thể trông thấy Giáo Hội tại Á châu đầy nhiệt huyết truyền giáo như thế nào, mặc dù gặp nhiều khó khăn và thử thách. Đây là một Giáo Hội hằng năm có sức tăng trưởng 4-5% và có thể tự hào về hàng ngũ các Thánh, nhất là các vị tử đạo, trong đó có không ít giáo dân nam nữ. Dĩ nhiên, tại Á châu Giáo Hội là một thiểu số, nhưng không phải là một thiểu số nhút nhát. Thật thế, chúng ta đang đứng trước một Giáo Hội đầy tràn sức sinh động và được linh hoạt bởi niềm hy vọng lớn nảy sinh từ đức tin.

Hỏi: Đâu là các điểm khó khăn của công tác rao truyền Tin Mừng tại Á châu ngày nay, thưa Đức Hồng Y?

Đáp: Vấn đề nghiêm trọng nhất hiện nay, như nhiều phái đoàn tham dự Hội nghị đã nêu lên, đó là hiện tượng phong trào tôn giáo cuồng tín ngày càng lan tràn và áp đặt các hạn chế nghiêm ngặt đối với sự tự do tôn giáo tại nhiều nước á châu. Thế rồi cũng không thiếu các trường hợp kỳ thị, và có cả các cuộc bách hại tôn giáo đích thật nữa. Vì thế Á châu lại có các vị tử đạo. Rất nhiều kitô hữu Á châu sống trong lo sợ, bởi vì họ bị đe dọa, sách nhiễu và bách hại.

Các Giám Mục của một vài nước Á châu đã tố cáo hiện tương đau buồn của một sự ”mất máu sự hiện diện kitô”. Hội nghị lần này là một đip quan phòng để bầy tỏ tình liên đới và sự hiệp thông đức tin của chúng tôi đối với các anh chị em đó. Ngoài ra, đối với nhiều tham dự viên, hội nghị này là một cung cấp dưỡng khí tốt lành, một ơn của niềm hy vọng, cho thấy Giáo Hội hoàn vũ đồng hành với các Giáo Hội tại Á châu.

Có một thách đố khác nữa đó là sự gặp gỡ với các truyền thống tôn giáo lớn của Á châu. Sự gặp gỡ này tạo ra nguy cơ phổ biến của một tâm thức tương đối hóa và trộn lẫn tôn giáo, làm sai lạc ý nghĩa của việc rao truyền Tin Mừng. Chẳng hạn như người ta hướng tới chỗ san bằng sứ mệnh truyền giáo, coi nó như là một cuộc đối thoại mơ hồ, bên trong đó mọi lập trường đều như nhau. Người ta hướng tới chỗ giản lược việc rao truyền Tin Mừng thành một công tác thăng tiến nhân bản đơn thuần. Sau cùng, sự toàn cầu hóa cũng đem tới Á châu não trạng hậu tân tiến, khước từ Thiên Chúa và các trào lưu này ảnh hướng trên hàng ngũ giáo dân công giáo tại Á châu. Tất cả các thách đố này chứng minh cho thấy sự cấp thiết của một việc đào tạo nghiêm chỉnh, của một chương trình khai tâm kitô sâu xa hơn cho các anh chị em muốn gia nhập Giáo Hội, trong các giáo xứ cũng như trong các hiệp hội giáo dân.

Tuy nhiên, cuộc sống của Giáo Hội tại Á chậu không chỉ có các vấn đề và các thách đố. Mặc dù gặp nhiều khó khăn, Giáo Hội tại Á châu sinh động, lớn lên và ngày càng truyền giáo hơn. Đây là lý do khiến cho mọi tham dự viên đều vui sướng.

Hỏi: Liên quan tới cuộc đối thoại liên tôn, anh chị em giáo dân nắm giữ vai trò nào trong một môi trường như môi trường Á châu, trong đó có hiện tượng tôn giáo cuồng tín gia tăng, thưa Đức Hồng Y?

Đáp: Trong lãnh vực này phần đóng góp của anh chị em giáo dân không thể thiếu được. Họ ở hàng tiền đạo, dấn thân trong môi trường sống của họ, trong một ”cuộc đối thoại của cuộc sống thường ngày”. Chứng tá của tình bác ái tin mừng, có khả năng nghiêng mình trên mọi nỗi khổ đau của con người một cách vô vị lợi – một cách độc lập với sự tùy thuộc tôn giáo – và thái độ rộng mở cho sự cộng tác xây dựng công ích của các cộng đoàn địa phương có thể là các phép lạ đích thật. Trong hội nghị chúng tôi đã nghe rất nhiều chứng từ về điều này. Thật đáng nêu bật điều này: đó là không có sự chống đối giữa việc loan báo Chúa Kitô và việc đối thoại với các tôn giáo khác. Cần phải duy trì sự liên lạc giữa hai yếu tố này, nhưng đồng thời cũng phải phân biệt, không lẫn lộn và không lèo lái chúng, cũng như coi chúng như nhau, có thể thay thế nhau được.

Hỏi: Như vậy có thế nói là Hội nghị đã đạt các thành qủa tốt?

Đáp: Vâng. Nó đã là một ơn lớn lao cho toàn thể Giáo Hội sống và rao truyền Tin Mừng tại Á châu. Tôi tin rằng mọi tham dự viên đã mạnh mẽ trong hy vọng, được phong phú tình yêu hơn đối với Giáo Hội địa phương, và dấn thân hơn trong việc truyền giáo. Nhiều người đã khám phá ra vẻ đẹp là tín hữu kitô. Và hội nghị cần được tiếp tục trong cuộc sống của mọi tham dự viên.

** Sau đây là vài nhận định của cha Bernardo Cervellera, Giám đốc hãng thông tấn Asianews.

Hỏi: Thưa cha, cha có nhận xét gì về lịch sử của Giáo Hội tại Á châu?

Đáp: Tôi tin rằng trong lịch sử của nó Giáo Hội tại Á châu đã là một trong các Giáo Hội bị bách hại gắt gao nhất. Có lẽ Giáo Hội tại Á châu đã có nhiều vị tử đạo hơn tất cả các Giáo Hội khác cộng lại với nhau. Ngay cả ngày nay tại nhiều nước khác nhau vẫn không có tự do tôn giáo. Trong số 10 quốc gia bóp nghẹt tự do tôn giáo, ít nhất có 8 nước Á châu. Điều này có nghĩa là có rất nhiều đau khổ và hạn chế. Vẫn còn có các vị tử đạo tại Á châu, nếu chúng ta nghĩ tới các vụ tàn sát trong bang Orissa bên Ấn Độ, tới các tín hữu kitô bị bỏ tù bên Trung quốc, tại Bắc Hàn, và nhiều nước khác. Như thế còn có nhiều tử đạo và rất nhiều khó khăn.

Hỏi: Tại nhiều nước Á châu như Philippines, Nam Hàn và Ấn Độ, sự hiện diện của Giáo Hội trong lãnh vực truyền thông rất ý nghĩa. Các Giáo Hội địa phương di chuyển như thế nào để lôi cuốn giáo dân vào việc sử dụng các phương tiện truyền thông, thưa cha?

Đáp: Chính trong các nước mà qúy vị vừa kể tên, có các kinh nghiệm rất lớn như các nhật báo và các đài phát thanh. Đó đây cũng có kinh nghiệm về truyền hình nữa, nhưng truyền hình rất mắc mỏ, và như thế như là một thiểu số Giáo Hội tại Á châu không có khả năng chịu nổi các chi phí to lớn như vậy. Tuy nhiên, trong mọi môi trường đều có các giáo dân làm việc. Vị linh mục đưa ra các chỉ dẫn và trao ban giá trị tinh thần cho chương trình. Nhưng chính các giáo dân điều hành các phương tiện truyền thông cho việc rao truyền Tin Mừng.

Hỏi: Thưa cha, phụ nữ và người trẻ nắm giữ vai trò nào cho tương lai của Giáo Hội tại Á châu?

Đáp: Đôi khi đối với tôi Giáo Hội tại Á châu xem ra hơi ”giáo sĩ”, bởi vì có sự kính trọng đối với quyền bính, vì thế người ta tôn trọng linh mục, giám mục như ”quyền bính thánh thiêng”. Điều này tùy thuộc các quan niệm tôn giáo hiện diện tại Á châu. Hội nghị muốn thúc đẩy một sự cộng tác giữa hàng giáo sĩ và giáo dân, và như thế theo tôi, phụ nữ và người trẻ có một cơ may lớn. Thật ra, hiện nay việc rao truyền Tin Mừng được giao cho giới trẻ làm giữa các bạn trẻ cùng trang lứa với họ, trong các trường học hay đại học, với hàng xóm, và cả trong các chức vụ giữa lòng xã hội nữa.

Hỏi: Trong bối cảnh này, các Ngày quốc tế giới trẻ có giá trị nền tảng trên bình diện quốc gia và quốc tế, có đúng thế không thưa cha?

Đáp: Đúng vậy. Bởi vì các Ngày quốc tế giới trẻ là dịp giúp khám phá ra tính cách đại đồng của Giáo Hội. Nghĩa là Giáo Hội không chỉ là một gia đình gắn liền với một quốc gia, một chủng tộc hay một nền văn hóa mà thôi, nhưng còn là cái gì vượt quá mọi nền văn hóa và ôm trọn toàn thế giới nữa. Các Ngày quốc tế giới trẻ hấp dẫn đối với giới trẻ Á châu. Và thường khi trong các ngày này nhiều người trẻ quyết định theo Chúa trong ơn gọi đời thánh hiến.

** Sau cùng là nhận định của ông Thomas Hong Soon Han, Đại sứ Nam Hàn cạnh Tòa Thánh.

Hỏi: Thưa ông đại sứ, có khoảng trống nào được dành cho giáo dân Nam Hàn ngày nay hay không?

Đáp: Giáo dân Đại Hàn rất hãnh diện về lịch sử Giáo Hội của họ, bởi vì chính họ đã là những người thành lập nó. Nhưng chính ơn thánh Chúa đã hướng dẫn chúng tôi tới con đường cứu độ này. Vì thế giáo dân Đại Hàn tìm cách làm chứng tá cho Chúa một cách tốt đẹp nhất trong cuộc sống thường ngày, luôn luôn trong sự hiệp thông với các linh mục và các tu sĩ nam nữ để phục vụ công cuộc rao giảng Tin Mừng một cách tốt đẹp hơn.

Hỏi: Đề tài đối thoại, là một khía cạnh quan trọng tại Á châu, chiếm chỗ nào trong hội nghị, trong các thời điểm khó khăn này đối với Giáo Hội tại nhiều nước, nơi các bạo lực chống Kitô giáo gia tăng một cách thê thảm: tôi nghĩ tới Pakistan hay Ấn Độ?

Đáp: Ngày nay tại Á châu đối thoại quan trọng và cần thiết, nhất là để thăng tiến sự hiểu biết lẫn nhau giữa tín hữu của các tôn giáo khác nhau. Nó vô cùng quan trọng đối với việc thăng tiến hòa bình. Vì thế đối với chúng tôi đối thoại không gì khác hơn là một hình thức rao truyền Tin Mừng.

(SD 4-8-2014)

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Một thoáng Hàn Quốc và Giáo hội Công giáo Hàn Quốc

Một thoáng Hàn Quốc và Giáo hội Công giáo Hàn Quốc

Korea Logo

Đức giáo hoàng Phanxicô sẽ đến thăm Hàn Quốc từ ngày 14 đến ngày 18 tháng 8 nhân dịp Đại hội Giới trẻ Á châu lần thứ sáu. Theo tường thuật của thông tín viên Simone Orendain của đài VOA, đây là chuyến viếng thăm đầu tiên trong vòng gần 20 năm của một nhà lãnh đạo Tòa Thánh Vatican tới một nước Châu Á. Các giới chức Nam Triều Tiên mô tả chuyến viếng thăm của Ðức giáo hoàng đến nước họ lần đầu tiên trong vòng 25 năm là “có ý nghĩa rất lớn”. Hàn Quốc rộng 99,268 km vuông với dân số 50,220,000 người,trong đó có 5,393,000 người Công Giáo, chiếm 10,7% dân số. Trong suốt 50 năm qua, có lẽ đã không có quốc gia nào trên thế giới có được sự phát triển liên tục trên mọi bình diện chính trị, kinh tế, xã hội và tôn giáo như Hàn Quốc. Chúng tôi có dịp hành hương đến đất nước này, nay nhân sự kiện Đại hội Giới trẻ Á châu, xin được điểm lại vài nét về xứ sở nhân sâm và kim chi.

1. Đôi nét lịch sử cận đại

Năm 1945, chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc. Đại Hàn kết thúc ách đô hộ của Nhật kéo dài 35 năm (1910- 1945).

Click xem hình

Lúc ấy, các lực lượng Đồng Minh quyết định chia cắt Đại Hàn ra làm hai: miền Nam với sự giúp đỡ của Mỹ và miền Bắc với sự giúp đỡ của Liên Xô. Năm 1948, quân đội Liên Xô rút khỏi miền Bắc và năm sau, 1949, quân đội Mỹ cũng rút khỏi miền Nam.

Năm 1950, được sự ủng hộ của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc, Bắc Hàn, dưới sự lãnh đạo của Kim Nhật Thành, phát động chiến tranh, tung quân qua biên giới Nam Hàn, gọi là để thống nhất đất nước. Sau khi Liên Hiệp Quốc thất bại trong nỗ lực hòa giải và ngăn chận chiến tranh, Tổng thống Truman quyết định đưa quân Mỹ và một số nước đồng minh sang giúp Nam Hàn trong cuộc chiến đối đầu với miền Bắc. Lúc ấy, Trung Quốc cũng quyết định can thiệp (với sự trợ giúp khí giới của Liên Xô).

Cuộc nội chiến Nam Bắc Hàn trở thành cuộc đối đầu trực tiếp giữa Mỹ và Trung Quốc, trong đó có lúc (ví dụ riêng đợt phản công mùa xuân năm 1951), quân Trung Quốc nhảy vọt lên đến khoảng 700,000 người.

Đến giữa năm 1953, hai bên tuyên bố đình chiến. Cuộc chiến tranh kéo dài ba năm để lại thảm kịch nặng nhất là có ít nhất trên hai triệu thường dân, từ cả hai miền, bị giết chết, kể cả bị giết tập thể.

Sau chiến tranh, Đại Hàn lại bị chia làm hai, lấy vĩ tuyến 38 làm biên giới. Phía Nam được biết dưới tên chính thức là Đại Hàn Dân Quốc (thường được gọi tắt là Hàn Quốc); phía Bắc, Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên (thường được gọi tắt là Triều Tiên).

Ban đầu, cả Bắc và Nam Hàn đều gánh chịu một di sản giống nhau. Đó là ách đô hộ kéo dài 35 năm của đế quốc Nhật Bản, cuộc nội chiến kéo dài 3 năm và số thương vong được xếp vào loại lớn nhất trong tất cả các cuộc chiến tranh trong nội bộ một quốc gia ở thế kỷ 20, sự nghi kỵ và thù hận không phải giữa hai miền Nam Bắc. Những di sản ấy thể hiện rõ trong tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của cả hai miền ngay sau chiến tranh như nghèo khổ, lạc hậu và độc tài.

Nhưng 50 năm sau, khoảng cách giữa hai miền, Hàn Quốc và Triều Tiên, khác nhau vời vợi. Vào giữa thập niên 1950, cũng giống như Triều Tiên, Hàn Quốc nằm trong danh sách những quốc gia nghèo, tương tự vô số các quốc gia nghèo khác ở châu Á và châu Phi. Nhưng từ giữa thập niên 1960 thì họ nhảy vọt. Suốt cả mấy thập niên sau đó, họ được xem là một trong vài quốc gia có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Giới nghiên cứu thường nêu lên một ví dụ về sự phát triển thần kỳ của Hàn Quốc: năm 1957, thu nhập trên đầu người của Hàn Quốc thấp hơn hẳn Ghana, một quốc gia thuộc Tây Phi; bốn mươi năm sau, vào năm 2008, thu nhập của họ cao gấp 17 lần Ghana! Hiện nay, Hàn Quốc nằm trong nhóm 20 quốc gia giàu mạnh nhất thế giới (G-20). Một số thương hiệu của Hàn Quốc trở nên quen thuộc trên phạm vi toàn cầu, hầu như đi đâu cũng gặp: Hyundai, Samsung, Daewoo và LG.(x. Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc).

2. Giáo Hội Hàn Quốc

Triều Tiên có lịch sử lâu dài với hơn 5 ngàn năm, chịu ảnh hưởng truyền thống Phật Giáo và Khổng Giáo. Kitô Giáo được du nhập vào Ðại Hàn khi Nhật xâm lăng quốc gia này vào năm 1592. Lúc ấy có một số người Ðại Hàn được rửa tội, có lẽ bởi các binh sĩ Công Giáo người Nhật. Việc truyền giáo rất khó khăn vì Ðại Hàn chủ trương bế quan tỏa cảng, ngoại trừ những hành trình đến Bắc Kinh để trả thuế.

Mãi đến đầu thế kỷ 18, Triều Tiên mới đón nhận ánh sáng Đức tin Công Giáo và phát triển mạnh vào cuối thế kỷ 19. Các triều đại phong kiến đã có những cuộc bách hại Kitô Giáo trong nhiều năm và đã có trên 10 ngàn Kitô hữu hy sinh mạng sống để minh chứng Đức tin.

Năm 1925, Đức giáo hoàng Piô XI đã tuyên chân phước cho 79 vị tử đạo. Năm 1968, Đức giáo hoàng Phaolô VI đã tuyên chân phước cho 24 vị tử đạo. Ngày 14 tháng 10 năm 1984, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên hiển thánh cho 103 vị tử đạo Hàn Quốc.

Từ năm 1960 đến năm 2010, dân số Hàn Quốc từ 23 triệu đã tăng lên 48 triệu người. Lợi tức bình quân tính trên đầu người gia tăng từ 1,300 USD lên 19,500 USD hằng năm. Số Kitô hữu từ 2% tăng lên 30%, trong đó có khoảng 11% là tín hữu Công Giáo, tức khoảng 5,4 triệu. Số linh mục từ 250 lên đến 5,000. Số tân linh mục hằng năm vào khoảng 130 đến 150 vị. Với 5,000 linh mục hiện nay, tính bình quân, mỗi vị coi sóc 1.100 tín hữu. Số tín hữu Công Giáo gia tăng 3% mỗi năm (linh mục Piero Gheddo). Văn phòng Trung ương Thống kê Giáo Hội cho biết: Giáo Hội Công Giáo tại Hàn Quốc, tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2013, có 16 giáo phận, 1,673 giáo xứ và 843 trung tâm mục vụ, với 35 giám mục, 4,261 linh mục,10 phó tế, 1,489 đại chủng sinh và 395 tiểu chủng sinh, 516 nam tu sĩ và 9,016 nữ tu, 123 thừa sai giáo dân và 14.195 giáo lý viên.

Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc điều hành 328 trung tâm giáo dục thuộc mọi cấp lớp với 221,020 học sinh theo học, 49trung tâm đặc biệt và 200 cơ sở khác, 40 bệnh viện, 4 phòng khám, 9 trại phong, 513 nhà an dưỡng cho người già và người khuyết tật, 277 trại mồ côi và nhà trẻ, và 83 trung tâm tư vấn gia đình và bảo vệ sự sống. (VIS).

Đức hồng y Nicholas Cheong Jin Suk, Tổng giám mục thủ đô Seoul, cho biết trong 10 năm qua, số tín hữu Công Giáo Hàn Quốc đã gia tăng từ 3 lên đến hơn 5 triệu. Như thế, Giáo Hội Hàn Quốc là Giáo Hội tiến triển mạnh nhất châu Á. Tại Hàn Quốc, quyền tự do tôn giáo được hoàn toàn tôn trọng.

Ðức giáo hoàng Gioan Phaolô II đến Nam Hàn năm 1984 để tuyên hiển thánh cho 103 vị Tử Đạo. Trong đó có thánh Anrê Kim Taegon, linh mục, thánh Phaolô Chong Hasang, chủng sinh, và 98 người Hàn Quốc cùng ba vị thừa sai người Pháp. Tất cả đều tử đạo trong khoảng từ năm 1839 và 1867. Trong số đó có các giám mục và linh mục, nhưng hầu hết là giáo dân với 47 phụ nữ, 45 đàn ông.

Trong bài giảng lễ phong thánh, Ðức Gioan Phaolô II đã nói: "Giáo Hội Hàn Quốc thì độc đáo vì được thành lập hoàn toàn bởi giáo dân. Giáo Hội còn non yếu, thật trẻ trung nhưng thật vững mạnh trong đức tin, và đã đứng vững sau những đợt sóng bách hại mãnh liệt. Do đó, chỉ trong vòng một thế kỷ, Giáo Hội đã kiêu hãnh với 10,000 vị tử đạo. Cái chết của các vị tử đạo này trở thành men cho Giáo Hội và đưa đến sự triển nở huy hoàng của Giáo Hội Hàn Quốc ngày nay. Ngay cả bây giờ, tinh thần bất khuất ấy vẫn còn trợ giúp cho người tín hữu của Giáo Hội thầm lặng ở miền bắc bên kia vĩ tuyến".

Nét độc đáo của Giáo Hội Hàn Quốc đó là sự cộng tác tuyệt vời của giáo dân vào công cuộc rao giảng Tin Mừng. Khác với lịch sử của các Giáo Hội khác trên thế giới, Giáo Hội Nam Hàn là do chính các giáo dân thành lập. Vào thế kỷ XVIII, một vài triết gia người Hàn đã sang Bắc Kinh gặp được nhà truyền giáo nổi tiếng linh mục Mátthêu Ricci. Sau khi thụ huấn và chịu phép Rửa tội, họ về nước đem theo cuốn Thánh Kinh và họ dịch sang tiếng Hàn rồi rao giảng Tin Mừng và thành lập Giáo Hội Công Giáo. Trong các năm 1779-1836, khi các thừa sai đầu tiên người Pháp tới Đại Hàn, thì Kitô giáo đã được phổ biến trong nước, nhưng sau đó bị bách hại khốc liệt. Nhưng sự cộng tác của giáo dân thì vẫn tồn tại mạnh mẽ. Ngày nay tại Hàn Quốc, những ai muốn gia nhập Kitô giáo đều biết rằng mình phải có bổn phận dấn thân trong một hiệp hội hay phong trào nào đó hiện hữu trong các giáo xứ.

Từ thập niên 1980, trong 10 năm chuẩn bị lễ tuyên thánh cho các vị tử đạo, Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc đã phát động phong trào mỗi một tín hữu phải làm sao giúp cho một người khác theo đạo. Nhờ đó, số tín hữu đã gia tăng gấp đôi.

Hiện nay, Giáo Hội Hàn Quốc đang sống chương trình gọi là "Rao giảng Tin Mừng hai mươi hai mươi", nghĩa là vào năm 2020, số tín hữu Công Giáo đạt tỷ lệ 20% tổng số dân Hàn Quốc, lý tưởng là gia tăng gấp đôi số tín hữu hiện nay để đạt con số 10 triệu người Công Giáo.

3. Những Đền thánh Công Giáo, nơi thu hút khách hành hương

Đoàn hành hương chúng tôi có 4 ngày ở đất Hàn nên dành trọn mỗi ngày đến một Đền thánh để tìm hiểu học hỏi và dâng lễ.

a. Đền thánh Yongsu ở Khu tưởng niệm Linh mục Kim Dae-gun, Thánh Tử Đạo đầu tiên tại đảo Cheju.

Buổi sáng sớm, sau khi thưởng thức món mì chay Uđông, đoàn chúng tôi đi qua cây cầu dài 21km bắc qua biển. Người Hàn gọi là “vĩ đại cầu”. Hành trình hơn 80km đến làng AnSung linh thiêng. Đang là mùa xuân nên khí hậu mát mẻ, núi rừng ngát xanh, khung cảnh tuyệt đẹp. Núi xanh bao bọc trung tâm hành hương. Nơi đây có Nhà thờ và nhiều nhà nguyện nhỏ và nhiều dãy nhà khác ẩn khuất trong vườn cây xanh mát. Đây là nơi lý tưởng để tĩnh tâm, linh thao.

Một nữ giáo dân phụ trách khu vực đền thánh giới thiệu cho chúng tôi về miền đất thánh thiêng và Thánh Anrê Kim. Chị chào mừng đoàn hành hương tín hữu Công Giáo Việt Nam. Vào năm1801, chính quyền phong kiến cấm đạo tuyệt đối. Sau 200 năm lịch sử, du khách đến xứ sở thanh bình này cảm nhận miền đất thiêng được khởi đi từ dòng máu tử đạo. Năm 1846 vị Lm đầu tiên của Hàn quốc là Thánh Anrê Kim bị chặt đầu nên người dân gọi ngọn núi thiêng này là núi chặt đầu.

Trước khi chết, thánh nhân có 3 câu nói nổi tiếng: tôi đem đức tin vào Hàn quốc và tôi luôn cầu nguyện cho đất nước bình an, tôi không bao giờ từ bỏ đức tin và tôi sẽ sống lại.

Anrê Kim Taegon là linh mục Ðại Hàn đầu tiên và là con của một người trở lại đạo. Cha của ngài, ông Ignatius Kim, được tử đạo trong thời cấm đạo năm 1839 và được phong thánh năm 1925. Sau khi được rửa tội vào lúc 15 tuổi, Anrê phải trải qua một hành trình dài 1,300 dặm để gia nhập chủng viện ở Macao. Sáu năm sau khi học hỏi những tinh hoa của Tin Mừng, ngài trở về quê hương qua ngã Mãn Châu. Cùng năm ấy ngài vượt qua eo biển Hoàng Sa đến Thượng Hải và được thụ phong linh mục. Trở về trên con thuyền nhỏ nên ngài lạc đường và sau nhiều ngày lênh đênh trên biển ngài lên bờ lần đầu tại đảo Cheju. Đảo Cheju là nơi du lịch chính của Hàn Quốc, và đã thu hút 7,578,000 du khách Hàn Quốc và nước ngoài trong năm 2010. Giáo phận Cheju, nơi có đảo Cheju, có 67,496 tín hữu Công Giáo theo thống kê năm 2009. (UCA News 6-5-2011).

Đền thánh Yongsu, nơi tôn kính thánh tử đạo Anrê Kim Taegon bình yên giữa núi rừng hùng vĩ. Thánh nhân đã cử hành thánh lễ đầu tiên của mình ở Hàn Quốc tại đây. Chúng tôi hôn kính xương thánh và viếng mộ và của ngài. Mộ của thân mẫu thánh nhân cũng nằm trên ngọn đồi nhỏ phía sau.Chúng tôi dâng thánh lễ trong nhà nguyện nhỏ ấm cúng.Tạ ơn Chúa đã đưa chúng tôi đến nơi đây hành hương và cầu nguyện bên mộ phần thánh tử đạo.

Sau khi ăn trưa chúng tôi đi một hành trình dài 4 giờ xe đi về thành phố thủ phủ Kwangju, một trong 6 thánh phố lớn nhất của xứ sở Kim Chi.

Hệ thống giao thông xứ Hàn quá hiện đại như các nước Âu châu và Mỹ. Không thấy một xe honda nào trên quốc lộ. Không thấy một bóng dáng cảnh sát nào đứng đường.

Alex thuyết minh cho biết về lịch sử và văn hóa kinh tế xứ Hàn. Tổng thống Pắc Chung Hy trong 18 năm lãnh đạo (1961-1979) đã đưa đất nước phát triển. Từ một đất nước không có tài nguyên khoáng sản. Với ¾ diện tích đất đai là núi đồi. Đất đai chỉ sản xuất được 1 mùa, không có lương thực. Phía Bắc giáp Triều Tiên và ba phía kia giáp biển đầm lầy. Pac Chung Hy cùng nội các đã tìm ra đường lối phát triển đất nước. Công trình đầu tiên là mở tuyến đường Bắc Nam phát triển cơ sở hạ tầng. Xây dựng sân bay quốc tế Incheon và thành phố Seoul. Đưa học sinh sinh viên sang Mỹ du học nhièu nghành nghề, đặc biệt là nghành y học để các bác sĩ trở về chăm sóc sức khỏe tốt cho dân. Phát triển đất nước phải bắt đầu từ gia đình rồi đến xã hội. Mọi du học sinh khi thành đạt đều trở về giúp xây dựng quê hương.

Ngày nay ở Hàn quốc có 4 nghành kinh tế chủ lực. Đó là xây dựng, công nghệ điện tử, sản xuất xe hơi và đóng tàu biển. Người dân làm việc chăm chỉ cần cù và được trả lương xứng đáng với khả năng. Lương kỹ sư là 60,000usd/năm và tăng theo thời gian, sau 10 năm làm việc mức lương đạt 100,000 usd/năm. Mức lương thấp nhất dành cho người lao động thủ công cũng rất cao 1500 usd/tháng. Chế độ bảo hiểm và an sinh xã hội rất tốt nên không có người ăn xin, người bán vé số dạo.

b. Linh Địa Đức Mẹ Naju.

Từ sáng sớm chúng tôi đến thăm vùng đất thánh Naju. Một chị giáo dân từng du học Mỹ làm việc ở văn phòng truyền giáo của giáo phận hướng dẫn và giới thiệu rất tận tình.

Naju là một thị trấn nhỏ với khoảng 90 ngàn dân thuộc miền Tây Nam bán đảo Triều Tiên, cách Thủ đô Seoul chừng 320 Kilô mét về phía nam. Naju thuộc Giáo phận Kwangju. Bộ phim truyền thuyết Jumong được quay tại Naju.

Chúng tôi vào viếng thánh đường Hoa Hồng. Nơi đây có thánh tượng Đức Mẹ ban ơn lành chảy huyết lệ liên tiếp từ ngày 30 tháng 6 năm 1985, đã gây chấn động cho cả nước.

Thánh tượng này là sở hữu của gia đình ông bà Julia Kim (Tên bà là Hong Sun Yoon và tên ông là Man Box Julio Kim), một gia đình Công Giáo công chức trong thành phố. Bà Julia chính là người được Đức Mẹ hiện ra để mời gọi mọi người cầu nguyện cho có sự an bình trên thế giới. Chúng tôi được xem phim tư liệu về thánh địa Naju. Sau đó đoàn chúng tôi tiếp tục hành trình lên núi thánh Đức Mẹ Naju. Giữa núi rừng bao la, ngước nhìn lên tượng Đức Mẹ ban ơn tâm hồn lữ khách được nâng lên trong cuộc gặp gỡ thân tình với Mẹ. Chúng tôi chọn một cây thánh giá gỗ và lần lượt chia nhau vác bắt đầu đi 14 chặng đàng thánh giá. Những giáo dân Bắc 54 thuộc lòng kinh nguyện, sốt sắng trong mỗi chặng thương khó của Chúa. Kết thúc đàng thánh giá nơi thánh tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng tôi đọc kinh và hát ca sốt mến dâng tất cả cho trái tim Cực Thánh Chúa Giêsu.

Ban chiều trở lại thánh đường Hoa Hồng, chúng tôi dâng lễ. Cha linh hướng và cộng đoàn Nữ tu cùng tham dự thánh lễ. Dù không hiểu tiếng Việt nhưng họ cùng hiệp thông trong lời cầu nguyện.

Sau thánh lễ, thật may mắn, bà Julia Kim từ bệnh viện đến thăm và nói chuyện với chúng tôi. Người phụ nữ đã bước vào tuổi 65, hơn 20 năm bị ung thư vẫn trẻ trung và thật phúc hậu. Trước khi nói chuyện bà tặng cho các linh mục chuỗi Mân Côi xin các linh mục đặt tay chúc lành, một cử chỉ thật khiêm tốn. Bà chào mừng đoàn Việt Nam từ một nơi rất xa đã đến hành hương nên dù đang điều trị tại bệnh viện bà vẫn cố gượng dậy để đến gặp gỡ. Bà cầu chúc mọi người sức khỏe và bình an trong ơn lành của Đức Mẹ. Bà nói về đức tin. Khi tin vào Chúa và Đức Mẹ chúng ta luôn có bình an. Nghe bà nói chuyện tôi nhận thấy bà có đức tin mạnh mẽ và đời sống cầu nguyện thân mật với Chúa với Đức Mẹ nên bà rất khiêm tốn và trọn niềm tín thác.

Julia sinh năm 1947 là con gái của một vị học giả cổ điển Trung hoa. Cụ thân sinh của Julia đã bị mất tích trong thời Nam Bắc phân tranh và cô em út cũng qua đời khi mới lên 2 tuổi. Julia sống với mẹ, một người mẹ can đảm và chuyên cần lam lũ nuôi con ăn học qua hết bậc trung học. Đến năm 25 tuổi (1972) cô kết hôn với Juliô, người con cả trong gia đình. Ông bà sinh được 4 cháu (Tên là Rosa, Tomas, Térèsa và Philip). Ông bà đã lãnh nhận được ơn đức tin và đã trở thành con Giáo Hội vào lễ Phục sinh 1981.

Sau lần trở lại, bà dành hết thì giờ vào việc phục vụ khách hàng (nơi cửa tiệm hớt tóc của bà), lo cơm nước cho chồng con và săn sóc gia đình.

Ông Lubino Park là khách hàng quen thuộc của bà. Ông bị chứng bệnh sưng phổi từ khi ông phục vụ các bệnh nhân trong bệnh viện Lao trị. Ông xin bà Julia cầu nguyện cho trước khi khám nghiệm giải phẫu. Vốn có tinh thần tông đồ, nên bà đã dâng một tuần bảy ngày với các việc hy sinh và kinh nguyện để cầu cho ông. Kết quả sau ba lần tái khám, bác sỹ cho hay ông đã khỏi bệnh cách lạ lùng. Để trả ơn bà Julia, ông xin tặng bà một món quà tôn giáo bày bán trong tiệm ảnh tượng của nhà thờ. Bà Julia chọn bức tượng Đức Mẹ ban ơn lành làm kỷ vật và cũng là để nhớ ơn Mẹ đã nhậm lời bà cầu nguyện.

Sau khi sinh cháu thứ tư, bà mắc một chứng bệnh ung thư. Trước cảnh tượng đau đớn năm chờ chết, bà đã nhiều lần ý "chấp nhận cái chết" với chồng con. Bà cũng cố gượng viết một chúc thư dành cho người sẽ làm vợ kế của chồng bà. Bà cũng được cha Sở xứ đạo Naju thường xuyên đến cho bà lãnh nhận Mình Thánh Chúa và khuyên nhủ ủi an trong khi chờ chết. Hôm ấy trong giấc ngủ mơ, bà thấy mình được Chúa chỉ dẫn đọc Thánh Kinh. Bà mở nhằm đoạn sách nói về người đàn bà loạn huyết lâu năm được Chúa chữa lành nhờ lòng tin. Sau giấc chiêm bao ấy, cũng nhờ lòng tin, bà được Chúa cho hoàn toàn bình phục, lại ban cho hết những gì bà khẩn cầu. Vì thế, nghĩ đến ơn Chúa ban, bà quyết định biến nhà mình thành nơi cư trú cho mọi kẻ nghèo hèn. Từ tháng 5, 1985 cơn bệnh của bà lại tái phát, nhưng Chúa vẫn cho bà đủ sức để làm việc phục vụ. Đức Mẹ đã tỏ cho Julia Kim biết về con đường thiêng liêng theo thánh Têrêsa thành Lisieur là cầu nguyện, sinh hoạt chung, chịu đựng hy sinh, làm việc đền tội dâng lên Thiên Chúa vì yêu mến và sống khiêm nhường hiệp ý với Mẹ thì rất có giá trị trong việc cứu rỗi các linh hồn.

Bà Julia kể: Sau khi đi thăm Kwangju, tôi đến Naju lúc 11g20 khuya ngày 30 tháng 6 năm 1985. Tôi đọc kinh Mân Côi xin cho kẻ có tội được ơn trở lại và cho những người đang đau khổ tại Kwangju. Đang khi đọc kinh, tôi ngạc nhiên thấy nước mắt chảy dài trên đôi mắt tượng Mẹ. Tôi hồ nghi không phải là nước mắt Mẹ nên tôi đánh thức chồng tôi đang ngủ gục, để nhìn cho rõ. Hai chúng tôi nhìn sát mắt Mẹ và chúng tôi xác định là nước mắt thật sự đã chảy ra từ khoé mắt Mẹ.

Sáng hôm sau tôi thức dậy từ 6 giờ và đi thẳng đến chân tượng Mẹ để quan sát lại. Tôi thấy những giọt nước Phép tôi vẩy lên tượng khi đêm đã khô sạch, nhưng vệt nước chảy từ khoé mắt Mẹ hôm qua, giờ vẫn còn chảy đều. Trước khi rời nhà đi làm, Juliô bảo tôi "đừng tiết lộ cho ai biết về hiện tượng lạ này" Anh lại bảo tôi "phải cầu nguyện sốt sáng hơn" nữa.

Vì thế, chẳng bao lâu sự kiện Đức Mẹ khóc tại Naju được loan đi khắp nơi và thiên hạ kéo đến đông nghẹt cả đường phố. Gia đình ông bà Juliô đã trở thành nơi cầu nguyện suốt đêm ngày.

Đức tổng giám mục Gong Hee Victorius Yoon đã để tâm nghiên cứu và nghiệm xét những sự lạ xảy ra tại đây và đã công bố với các cha trong ngày tĩnh tâm của các linh mục giáo phận rằng: "Sự kiện Đức Mẹ khóc chảy nước mắt không thể chối được. Chúng tôi thường xuyên quan sát các sự kiện và diễn tiến của biến cố…. Và tôi cũng đang tiếp tục nghiên cứu các hệ quả…." (tháng 7 năm 1989).

Ngài cũng nói với cha Raymond Spies Chánh sở Xứ đạo Naju rằng: "Tôi hết sức tin tưởng vào hiện tượng Đức Mẹ chảy nước mắt tại Naju này. Tôi chấp nhận như là một sự có thật. Tôi chưa thấy nơi bà Julia nói điều gì trái với Tín lý của Giáo Hội. Xin cha cho tôi biết rõ tình hình bằng cách cung cấp cho tôi cả những thông điệp, nhật ký của bà Julia, các hình ảnh và băng hình nữa".

Đức Tổng giám mục Ivan Dias, Khâm Sứ Toà Thánh tại Nam Triều Tiên cũng công khai bày tỏ: "Tôi xin phó dâng sứ mạng Khâm Sai của tôi qua lời cầu nguyện của cha Raymond Spies, bà Julia và cũng cậy nhờ vào những sự đau khổ bí nhiệm của bà chịu nữa" (Ngày 22 tháng 12, 1991).

Chia tay cha Linh hướng, các Nữ tu, các thiện nguyện viên và bà Julia Kim trong lưu luyến, chúng tôi về thánh phố Kwanju nghĩ ngơi.

c. Thánh địa Chonjinam

Từ Kwanju chúng tôi đi hơn 3 giờ xe là đến vùng thánh địa Chonjinam trên núi cao.

Đức Ông Byon Ki – Young tiếp đón chúng tôi rất niềm nở và tặng sách “History of the Foundation of the Korean Catholic Church” do ngài biên soạn.

Chon-jin-am, một nơi gặp gỡ giữa Nho giáo, Phật giáo và Công Giáo, đã trở thành nơi khai sinh của Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc.

Vị linh mục cai quản thánh địa chuyên đón đoàn hành hương đã đưa chúng tôi lên núi trước phần mộ của 5 linh mục đầu tiên và ngài giới thiệu đôi nét lịch sử hình thành Giáo Hội Hàn quốc.

Chon-jin-am có 5 ngôi mộ của 5 linh mục tử đạo khai sinh Giáo Hội Công Giáo Hàn Quốc. Các ngài đi tìm chân lý và gặp gỡ nơi Tin Mừng Chúa Giêsu rồi về nước các ngài truyền bá Tin Mừng. Họ đã xây dựng Giáo Hội Hàn Quốc mà không có sự giúp đỡ của các nhà truyền giáo nước ngoài.

Hiện nay, tại Chon-jin-am, đã đặt nền móng xây dựng vương cung thánh đường. Dự kiến sẽ kéo dài trong thời gian dài. Vương cung được mô phỏng theo phong cách lấy cảm hứng từ các tôn giáo khác nhau của người dân Hàn Quốc: Nho giáo, Phật giáo và Kitô giáo (xin đọc thêm tư liệu lịch sử tại web: chonjinam.org).

Đoàn chúng tôi đọc kinh cầu nguyện và xuống núi dâng lễ kính thánh Antôn Pađôva trong nhà nguyện nhỏ dưới chân núi.

Ban chiều chúng tôi về thành phố Seoul ghé vào cửa hàng sâm nổi tiếng Ginseng Outlet, tham quan và mua quà lưu niệm.

d. Bảo tàng lịch sử Giáo Hội Hàn quốc và Thánh đường Juldusan

Seoul là thủ đô của Hàn Quốc, nằm bên Sông Hàn ở phía Tây Bắc Hàn Quốc. Thành phố cách biên giới với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 50 km về phía Nam (Khu phi quân sự Triều Tiên). Với dân số hơn 10 triệu, Seoul là thành phố lớn nhất Hàn Quốc. Diện tích chỉ 605 km², đây là một trong những thành phố lớn có mật độ dân số cao nhất thế giới. Hệ thống giao thông quá hiện đại.

Seoul có một hệ thống tàu điện ngầm nối mỗi quận của thành phố và các khu vực xung quanh. Với lượng khánh hơn 8 triệu mỗi ngày, hệ thống tàu điện ngầm của Seoul được xếp vào một trong những hệ thống tàu điện ngầm bận rộn nhất trên thế giới. Tàu điện ngầm vùng đô thị Seoul có 12 tuyến phục vụ Seoul, Incheon, Gyeonggi, tây Gangwon, và bắc Chungnam.

Chúng tôi đến miền đất thánh thiêng giữa lòng thủ đô Seoul. Đó là bảo tàng lịch sử của Giáo Hội Hàn quốc. Một vị trí rất đẹp từ trên đồi cao nhìn xuống sông Hàn thơ mộng. Hàn Quốc tự hào với hàng loạt bảo tàng quốc gia và rất nhiều những bảo tàng chuyên đề dành cho những đối tượng riêng biệt. Các bảo tàng quốc gia trưng bày những hiện vật vô giá xuyên suốt chiều dài lịch sử 5000 năm của Hàn Quốc.

Chúng tôi dâng thánh lễ khởi đầu ngày mới trên miền đất có nhiều vị tử đạo vào năm 1866.

Một thiện nguyện viên nói tiếng Anh lưu loát hướng dẫn và thuyết minh cho chúng tôi về lịch sử Giáo Hội Hàn quốc, tham quan bảo tàng với nhiều chứng tích lịch sử Giáo Hội bị bách hại và đặc biệt là tư liệu hình ảnh Đức Gioan Phaolô II đến thăm Hàn quốc 2 lần (dịp phong thánh năm 1984 và dịp Đại hội Thánh Thể năm 1993). Nơi đây có dãy nhà trưng bày cách sống động những nhà tù và các dụng cụ tra tấn các vị tử đạo. Sau đó chúng tôi vào Thánh đường Juldusan viếng Chúa. Nhiều giáo dân Hàn đang lần chuỗi và cầu nguyện.

Sau khi chụp hình lưu niệm, chúng tôi chia tay các thiện nguyện viên với lời cảm ơn chân thành.

Chỉ còn một buổi chiều tại Seoul, chúng tôi thăm lâu đài Kinh Bắc Cung – Gyeongbok Place, nơi ở và làm việc của các triều đại phong kiến Triều Tiên. Cung điện Kyongbuk – Cung điện ánh sáng và hạnh phúc. Cung điện được xây dựng vào năm 1394 dưới đời vua Chosun (1392 – 1910), đời vua cuối cùng của Hàn Quốc. Đây được xem là một công trình nghệ thuật nổi tiếng có phong cách và kiến trúc độc đáo và đẹp nhất Seoul. Cung điện là một tổng thể kiến trúc đồ sộ với những hồ sen thơm ngát, những ngôi chùa đá cổ kính và đặc biệt là những cung điện nguy nga, tráng lệ.

Chúng tôi tham quan Bảo tàng Dân tộc Quốc gia là bảo tàng quốc gia duy nhất về văn hóa dân gian, trưng bày khoảng 4,000 hiện vật về đời sống văn hóa. Tham quan Bảo tàng Cung điện Quốc gia trưng bày 40.000 hiện vật tái hiện lại lịch sử và văn hóa của triều đại Joseon. Sau đó đi chợ Dongdaemun mua sắm đặc sản xứ Hàn. Ban tối được nhâm nhi rượu Soju với gà hâm sâm, thưởng thức nhiều món kim chi quốc hồn quốc túy đất nước này.

Hôm sau kết thúc chuyến hành hương, chúng tôi lên đường sớm kịp chuyến bay từ Incheon về Sài gòn.

4. Thay lời kết

Hàn Quốc có diện tích là 99,720 cây số vuông, dân số 48,754,657 (tháng 7, 2011), Thu nhập bình quân đầu người là 30,000 Mỹ kim (năm 2010), tổng sản lượng quốc nội (GDP) là $1.459 trillion (2010) (trillion là một ngàn tỉ); xếp hàng thứ 13 trên thế giới. (theo tài liệu của CIA World Factbook).

Hiện nay Giáo Hội Hàn Quốc đang đẩy mạnh chương trình học hỏi Lời Chúa để truyền giáo cho xã hội đang thay đổi nhanh chóng ngày nay. Hy vọng chương trình "Rao giảng Tin Mừng hai mươi hai mươi", sẽ gia tăng tín hữu lên 10 triệu vào năm 2020.

Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ chủ sự ngày Giới Trẻ Á châu và lễ tuyên hiển thánh cho 124 vị tử đạo Đại Hàn.

Linh Mục Rossi De Gasperis, SJ viết: Trong lịch sử hiện đại mặc dù chiến tranh lạnh đã chấm dứt trên thế giới, nhưng Đại Hàn vẫn còn là vùng ghi đậm dấu vết hậu qủa của nó với chiến tranh Triều tiên và sự kiện đất nước chia đôi lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới. Ngày 15 tháng 8 năm 1948 Cộng Hòa Nam Hàn khai sinh, trong khi ngày mùng 9 tháng 9 cùng năm, Bắc Hàn được tuyên bố là Cộng hòa dân chủ nhân dân Bắc Hàn. Ngày 25 tháng 5 năm 1950 Bắc Hàn xâm lăng Nam Hàn. Chiến tranh mau chóng trở thành toàn diện và bị quốc tế hóa với sự tham dự của Hoa Kỳ trợ giúp Nam Hàn, và Trung Quốc yểm trợ Bắc Hàn. Ba năm nội chiến đã khiến cho khoảng 400 ngàn người dân Nam Hàn bị giết, 55,000 lính Mỹ thiệt mạng và khoảng 1 triệu người dân Bắc Hàn và Trung quốc chết và bị thương. Ngày 27 tháng 7 năm 1953 Liên Hiệp Quốc chấp nhận nghị quyết chia đôi Triều Tiên lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới và là vùng phi quân sự. Nó là “bức tường Berlin của Á châu” ngăn cách và phân rẽ hàng trăm ngàn gia đình “người bắc kẻ nam”.

Trong hơn nửa thế kỷ qua chế độ cộng sản vô thần Bắc Hàn đã tiêu diệt tôn giáo. Giáo Hội Công Giáo không còn linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân nữa. Tuy nhiên, Giáo Hội Nam Hàn đã không bao giờ coi bức tường ngăn cách hiện hữu, và đã liên tục dấn thân hoạt động cho việc thống nhất đất nước, qua các công tác bác ái cứu trợ nhân dân Bắc Hàn, đặc biệt là cứu đói.

Hội Đồng Giám Mục Nam Hàn đã thành lập một Ủy ban hòa giải nhắm nhiều mục đích khác nhau. Cha Timoteo Lee Eun-Hyung thành phần Ủy ban cho biết ngoài việc rao truyền Tin Mừng cho Bắc Hàn là nơi không có tự do tôn giáo, Ủy ban tìm mọi cách để trao đổi tin tức giữa hai miền, cũng như chia sẻ tình yêu thương liên đới, trong đó có việc trợ giúp các anh chị em Bắc Hàn định cư tại Nam Hàn. Ngoài ra còn có việc cầu nguyện chung. Gần biên giới có vài giáo xứ, trong đó vào mỗi ngày thứ tư tín hữu tụ tập nhau cầu nguyện cho người dân Bắc Hàn.

Hồi tháng 5 vừa qua ĐHY Andrew Yeom Soo-Jung, TGM Seoul đã sang thăm vùng kỹ nghệ Kaesong nằm trên đất Bắc Hàn. Đây là vùng có các hãng xưởng kỹ nghệ tạo công ăn việc làm cho 55,000 dân Bắc Hàn và là vùng đầu tư rất có triển vọng trong tương ái, đặc biệt khi hai miền Nam Bắc Hàn thống nhất với nhau. Hiện nay Nam Hàn là quốc gia phát triển kỹ nghệ đứng hàng thứ 11 trên thế giới. Nếu từ đây cho tới năm 2015 hai miền Bắc và Nam Hàn có thể thống nhất, thì với 70 triệu dân Đại Hàn vào năm 2050 Đại Hàn sẽ cỏ thể trở thành cường quốc kỹ nghệ thứ 8, vượt cả Đức và Anh quốc và với lợi tức đầu người lớn hơn của cả Nhật Bản. Vì thế chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Thánh Cha Phanxicô vào trung tuần tháng 8 này sẽ có thể góp phần mở ra các viễn tượng mới đầy hy vọng cho cả hai miền Bắc và Nam Hàn. (SD 4-8-2014. R.Vatican).

Đây là bài phỏng vấn linh mục Hur Young-Up phát ngôn viên tổng giáo phận Seoul.

Hỏi: Thưa cha, cha có cảm nghĩ gì về chuyến công du sắp tới của ĐTC tại Nam Hàn?

Đáp: Giáo Hội Đại Hàn là Giáo Hội đầu tiện tại Á châu được Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm. Qua biến cố ý nghĩa này Giáo Hội Đại Hàn trở thành cánh cửa rao giảng Tin Mừng tại Á chậu. Đức Thánh Cha đến Nam Hàn như là một chủ chăn để gặp gỡ dân chúng và gặp gỡ giới trẻ Á châu. Chúng ta có thể nói rằng Đại Hàn là quốc gia biểu tượng cho các nhu cầu của hòa bình và hòa giải. Vì thế, chuyên viếng thăm của Đức Thánh Cha có thể mang lại một sứ điệp quan trọng của niềm hy vọng và hoa bình cho đất nước chúng tôi.

Hỏi: Người dân Đại Hàn nghĩ gì về Đức Thánh Cha Phanxicô, thưa cha?

Đáp: Không phải chỉ có các tín hữu công giao mà tất cả mọi người dân Đại Hàn đều thích Đức Thánh Cha Phanxicô. Chúng tôi qúy trọng các kiểu cách thân thiện và sự đơn sơ của ngài, chúng tôi đanh giá cao kiểu ngài lo lắng cho cho người mghèo và những người bị gạt bỏ bên lề xã hội. Toàn dân Đại Hàn nóng lòng chờ được gặp gỡ Đức Thánh Cha Phanxicô.

Hỏi: Việc chuẩn bị đón tiếp Đức Thánh Cha tiến hành như thế nào thưa cha?

Đáp: Cùng với Giáo Hội chính quyền của chúng tội cũng ủng hộ việc chuẩn bị cho chuyên công du mục vụ này của Đức Thánh Cha Phanxicô. Vì thế tôi tin rằng các chuẩn bị bên ngoài cũng như bên trong đều quan trọng. Chuyến viếng thăm của Đức Thnah Cha không chỉ là một dịp đặc biệt cho Giáo Hội, mà cũng là một cơ may quan trọng cho các cuộc cải cách nội bộ và công tác rao truyền Tin Mừng nữa.

Hỏi: Thưa cha, cách đây 25 năm, hồi năm 1989, Đức Gioan Phaolô II đã viếng thăm Nam Hàn lần thứ hai. Đâu là các hoa trái của chuyến viếng thăm đó?

Đáp: Chuyến viếng thăm của Đức Gioan Phaolô II đã đem lại các kết qủa tích cực cho Giáo Hội Đại Hàn. Giáo Hội đã được biết tới nhiều hơn trong xã hội và đã gây được ấn tượng tốt nơi người dân.

Hỏi: Tiến trình tục hóa liện quan tới Nam Hàn cũng giống như tại tất cả mọi quốc gia kỹ nghệ. Giáo Hội Nam Hàn đã trả lời ra sao?

Đáp: Ngày nay đất nước chúng tôi bị ảnh hưởng nặng nề của ý thức hệ chủ thuyết duy vật, cá nhân chủ nghĩa, tục hóa, và vô cảm tôn giáo. Bên trong Giáo Hội cũng có cùng vấn đề đó. Vì thế thật là điều quan trọng, khi Giáo Hội tìm ra các con đường mới và các phương thức mới để đương đầu với các vấn đề như thế. Tôi tin rằng đó là một nhiệm vụ quan trọng và là một mục tiêu đói với việc rao giảng Tin Mừng.

Hỏi: Các tín hữu Nam Hàn có sẵn sàng đương đầu với thách đố của công tác rao truyền Tin Mừng mới hay không?

Đáp: Tái truyền giảng Tin Mừng là một phương pháp mới giúp chúng ta canh tân đức tin của mình trong thế giới thay đổi nhanh chóng này. Thật là quan trọng việc chính Giáo Hội thay đổi trước để đi ra hướng về thế giới, và phổ biến Tin Mừng qua các phương tiện mới và với các kết qủa mới. Con đường Giáo Hội Đại Hàn phải đi còn dài, nhưng chúng tôi đang làm tốt chừng nào có thể để biến đổi việc rao giảng Tin Mừng thành hành động.

Hỏi: Chúng ta nhớ là Tin Mừng đã được phổ biến tại Đại Hàn năm 1700, có phải thế không thưa cha?

Đáp: Vâng, đạo Công Giáo đã được đem vào trong đất nước chúng tôi sau khi các sách Công Giáo được dịch ra tiếng Đại Hàn, và các học sinh đại hàn bắt đầu học. Tiếp theo đó các tín hữu thành lập các cộng đoàn Công Giáo và rao giảng đức tin của họ cho các người khác. Như thế điều đặc biệt nhất của Giáo Hội Đại Hàn là nó đã bắt đầu qua các giáo dân, chứ không qua các thừa sai. Giáo Hội Đại Hàn đã chịu nhiều bách hại ngay lập tức. Nhưng cha ông chúng tôi đã duy trì được đức tin của họ, và tiếp tục phổ biến tin vui của Chúa Giêsu Kitô.

Hỏi: Thưa cha, đâu là dấn thân của Giáo Hội cho việc thống nhất đất nước?

Đáp: Đây là sứ mệnh của Giáo Hội Đại Hàn: làm việc cho hòa giải và thống nhất đất nước chúng tôi. Tôi tin rằng việc yểm trợ nhân đạo và các cuộc đối thoại chân thành là điều cần thiết nhất. Giáo Hội đã tiếp tục yểm trợ nhân đạo cả khi tương quan giữa Bắc và Nam Hàn căng thẳng.

Hỏi: Liên quan tới việc tái thống nhất đất nước việc đối thoại liên tôn có tầm quan trọng nào giúp đạt mục đích này không?

Đáp: Đối thoại liên tôn là một vấn đề quan trọng, nhưng không liên quan gì tới các mục tiêu chính trị. Tôi nghĩ rằng thật là một điều hay đẹp, khi con người thuộc nhiều tôn giáo khác nhau hiểu biết nhau và trân trọng vẻ đẹp mà mội tôn giáo đã đem đến cho con người.(RG 16-7-2014; vietvatican.net).

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Sứ điệp Video của Đức Thánh Cha gửi nhân dân Hàn Quốc

Sứ điệp Video của Đức Thánh Cha gửi nhân dân Hàn Quốc

VATICAN. ĐTC Phanxicô mời gọi các tín hữu Hàn Quốc đón nhận ánh sáng của Chúa Kitô và biểu lộ trong đời sống thường nhật.

Ngài đưa ra lời mời gọi trên đây trong sứ điệp Video gửi nhân dân Hàn quốc được đài truyền hình KBS và nhiều cơ quan truyền thông khác ở Hàn Quốc phổ biến. ĐTC nói:

”Anh chị em thân mến!

”Trong vài ngày nữa, với ơn Chúa giúp, tôi sẽ ở giữa anh chị em ở Hàn Quốc. Ngay từ bây giờ tôi cảm ơn anh chị em vì sự tiếp đón và mời gọi anh chị em cùng cầu nguyện với tôi, để cuộc tông du này mang lại những thành quả tốt đẹp cho Giáo Hội và xã hội Hàn Quốc.

”Hãy trỗi dậy và chiếu sáng!” (Is 60,1): với những lời mà vị Ngôn Sứ nói với thành Jerusalem, tôi cũng ngỏ lời với anh chị em. Chính Chúa mời gọi anh chị em đón nhận ánh sáng của Chúa, đón nhận trong tâm hồn và phản chiếu ánh sáng ấy trong một cuộc sống đầy niềm tin, cậy, mến, đầy niềm vui Phúc Âm”.

”Như anh chị em biết, tôi đến nhân dịp Ngày Giới Trẻ Á châu lần thứ 6. Tôi sẽ đặc biệt mang đến cho các bạn trẻ lời kêu gọi của Chúa: ”Hỡi giới trẻ Á châu, hãy trỗi dậy! Vinh quang của các vị tử đạo chiếu sáng trên các bạn”. Ánh sáng của Chúa Kitô phục sinh chiếu tỏa như qua một gương soi trong chứng tá của Phaolô Duẫn Trì Trung (Yun Ji-chung) và 123 bạn chịu chết vì đức tin, mà tôi sẽ tôn phong chân phước ngày 16-8 tới đây tại Hán Thành.

”Các bạn trẻ là những ngừơi mang hy vọng và nghị lực cho tương lai; nhưng họ cũng là những nạn nhân của cuộc khủng hoảng luân lý và tinh thần thời nay. Vì thế tôi muốn loan bao cho họ và tất cả mọi người danh duy nhất trong đó chúng ta có thể được cứu thoát: danh Chúa Giêsu.

”Anh chị em Hàn quốc thân mến, niềm tin nơi Chúa Kitô đã ăn rễ sâu nơi đất anh chị em và mang lại hoa trái dồi dào. Những người cao niên là những người giữ gìn gia sản ấy: nếu không có họ thì người trẻ sẽ không có ký ức. Cuộc gặp gỡ giữa người cao niên và người trẻ là bảo đảm hành trình của dân tộc. Và Giáo Hội là đại gia đình trong đó tất cả chúng ta là anh chị em với nhau trong Chúa Kitô. Nhân danh Chúa, tôi đến nơi anh chị em, trong niềm vui được chia sẻ với anh chị em Tin Mừng tình thương và hy vọng.

Xin Chúa chúc lành cho anh chị em và xin Đức Mẹ bảo vệ anh chị em” (SD 11-8-2014)

G. Trần Đức Anh OP
– Vatican Radio

 

Đức Hồng Y Filoni, Đặc Sứ của Đức Thánh Cha lên đường sang Iraq

Đức Hồng Y Filoni, Đặc Sứ của Đức Thánh Cha lên đường sang Iraq

ROMA. Hôm 11-8-2014, ĐHY Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ truyền giáo, đã lên đường sang Iraq, trong tư cách là Đặc Sứ của ĐTC để bày tỏ tình liên đới của Ngài với các nạn nhân, đặc biệt là các tín hữu Kitô bị trục xuất trong những ngày này.

ĐHY Filoni đã từng là Sứ thần Tòa Thánh tại Irak trong thời chiến tranh hồi năm 2003 và sau đó làm Phụ Tá Quốc vụ khanh Tòa Thánh.

Chiều chúa nhật 10-8-2014, ĐTC đã tiếp kiến ĐHY Filoni và đưa ra những chỉ dẫn cho sứ mạng của ĐHY, đồng thời cũng trao một số tiền lớn để góp phần cứu trợ cấp thời cho các nạn nhân, như dấu chỉ tình liên đới cụ thể, tham gia những cố gắng của các tổ chức và những người thiện chí để đáp ứng tình trạng thê thảm này.

Tuyên bố với Đài Vatican trước khi lên đường, ĐHY Filoni nhắc lại rằng ĐTC đã nhiều lần bày tỏ sự nhạy cảm của Ngài trước tình trạng rất khó khăn ở Iraq, đối với bao nhiêu các tín hữu Kitô và những nhóm dân thiểu số tại đây. Người ta nói có thể số người bị trục xuất lên tới 1 triệu người, họ đang tìm nơi an toàn để sống và xây dựng tương lai.

ĐHY Filoni cho biết sứ mạng của ngài là khích lệ, mang lại tín thác, trợ giúp về tinh thần và tâm lý. Ngài cảm thấy rằng các tín hữu Kitô ở Iraq, sau bao nhiêu khó khăn, có thể nghĩ rằng đây không còn là đất nước của họ nữa. Theo truyền thống, Iraq vốn là một nước trong đó có rất nhiều thực tại cùng chung sống, đó là một đất nước hiếu khách và trong lịch sử, qua bao thế kỷ, các nhóm thiểu số và đa số vẫn sống chung với nhau tại đất nước này. Vì thế, thật là một điều uổng nếu ngày nay sự phong phú ấy bị mất đi.

ĐHY Filoni cũng nói rằng sự hiện diện của ngài tại Irak nhắm khích lệ các tín hữu Kitô, để nói với họ rằng có một tương lai đối với họ. ”Tôi xác tín rằng chính quyền sẽ làm tất cả những gì có thể để các tín hữu Kitô ấy có thể sống an toàn, có tương lai và an ninh. Nhưng họ cũng phải cảm thấy rằng Giáo Hội hoàn vũ ở với họ, không bỏ rơi họ, coi họ là quí giá tại phần đất này, nếu họ tự tín và tin gưỡng nơi những quan hệ mà họ có thể thiết lập với những người khác”.

Sau cùng, ĐHY Tổng trưởng Bộ truyền giáo khẳng định rằng sứ mạng của ngài cũng nhắm gây ý thức nơi chính quyền, khuyến khích họ quan tâm đến các thành phần này trong dân chúng, đồng thời tìm cách giúp đỡ những người dân này một cách cụ thể trong hoàn cảnh hiện nay cũng như trong tương lai gần đây. ĐHY cũng muốn cám ơn tất cả những người, từ chính quyền, tới các tổ chức của Giáo Hội và ngoài Giáo Hội, cũng như tất cả những người đang cứu giúp dân chúng Iraq” (SD 11-8-2014).

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Không thể đem thù hận tới nhân danh Thiên Chúa! Không thể gây chiến nhân danh Thiên Chúa

Không thể đem thù hận tới nhân danh Thiên Chúa! Không thể gây chiến nhân danh Thiên Chúa

Không thể đem thù hận tới nhân danh Thiên Chúa! Không thể gây chiến nhân danh Thiên Chúa!

Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương trong buổi đọc Kinh Truyền Tin tại quảng trường thánh Phêrô trưa Chúa Nhật 10-8-2014. Ngài đã tái khẩn thiết kêu gọi hòa bình cho Irak và Thánh Địa. Đức Thánh Cha nói:

Anh chị em thân mến, các tin tức đến từ Iraq khiến cho chúng ta không thể tin được: hàng ngàn người, trong đó có các tín hữu kitô, bị đuổi khỏi nhà cửa của họ một cách tàn bạo; trẻ em chết đói chết khát trong khi chạy trốn; phụ nữ bị bắt cóc; con người bị tàn sát; đủ mọi thứ bạo lự; tàn phá các gia tài tôn giáo, lịch sử và văn hóa. Tất cả những điều này xúc phạm trầm trọng đến Thiên Chúa và nhân loại. Không thể đem thù hận tới nhân danh Thiên Chúa! Không thể gây chiến nhân danh Thiên Chúa!

Tôi xin cám ơn những người đang can đảm trợ giúp các anh chị em này, và tôi tin tưởng rằng một giải pháp chính trị hữu hiệu trên bình diện quốc tế và địa phương có thể ngăn chặn các tội phạm này và tái lập quyền lợi. Để bảo đảm tốt hơn cho sự gần gũi của tôi, tôi đã gửi Đức Hồng Y Fernando Filoni, như đặc sứ của tôi tại Iraq. Ngày mai Đức Hồng Y sẽ lên đường sang Iraq.

Cả tại dải Gaza sau một cuộc ngưng bắn, chiến tranh đã tái diễn, gây ra các nạn nhân vô tội, và chỉ làm cho xung khắc giữa người Israel và người Palestine trở nên tồi tệ hơn. Chúng ta hãy cùng nhau xin Thiên Chúa của hòa bình qua lời bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria: ”Lạy Chúa, xin ban hòa bình cho những ngày sống của chúng con, và biến chúng con thành những người xây dựng công lý và hòa bình.”

Đức Thánh Cha cũng mời mọi người cầu nguyện cho các nạn nhân của vi khuẩn Ebola và những ai đang chiến đấu để ngăn chặn nó.

Trước đó, trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã nhắc tới bài Phúc Âm phụng vụ Chúa Nhật kể lại biến cố Chúa Giêsu đi trên mặt nước hồ Galilea (Mt 14,22-33). Sau khi làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều để nuôi dân chúng Chúa Giêsu bảo các môn đệ lên thuyền sang bờ hồ bên kia trước, trong khi Người giải tán dân chúng, và lên núi một mình cầu nguyện. Trong khi đó có một cơn bão nổi lên, Chúa Giêsu đi trên mặt nước đến với với các môn đệ. Trông thấy Người các ông tưởng là ma, nhưng Người trấn an họ: ”Can đảm lên, Thầy đây , đừng sợ!” (c. 27). Tông đồ Phêrô, với kiểu hăng hái của ông, làm như thử Người liền xin: ”Lậy Chúa, nếu là Chúa xin truyền cho con đi trên mặt nước đến với Chúa!”, và Chúa Giêsu nói với ông: ”Hãy đến” (cc.28-29). Phêrô xuống khỏi thuyền và bắt đầu đi trên nước; nhưng gió thổi mạnh, và ông bắt đầu chìm. Khi đó ông kêu lên: ”Lậy Thầy, cứu con với”. Chúa Giêsu giơ tay ra và nâng ông dậy.

Câu chuyện này là một hình ảnh đẹp trong đức tin của tông đồ Phêrô. Trong tiếng Chúa Giêsu nói với ông ”Hãy đến”, ông nhận ra tiếng vọng của cuộc gặp gỡ đầu tiên trên cùng bờ hồ này và ngay lập tức một lần nữa ông bỏ thuyền và đi tới với Thầy. Và ông bước đi trên mặt nước! Câu trả lời tin tưởng và sẵn sàng với tiếng gọi của Chúa luôn luôn khiến hoàn thành được các điều kỳ diệu. Mà chính Chúa Giêsu đã nói rằng chúng ta có khả năng làm các phép lạ với niềm tin của chúng ta, tin nơi Người, tin vào lời Người, tin nơi tiếng nói của Người. Trái lại Phêrô bắt đầu chìm trong lúc ông rời cái nhìn khỏi Chúa Giêsu, và để cho mình bị cuốn hút bởi các nghịch cảnh bao quanh. Nhưng Chúa luôn ở đó, và khi Phêrô khẩn cầu Người Chúa Giêsu cứu ông khỏi hiểm nguy. Đức Thánh Cha quảng diễn sư kiện này như sau:

Trong nhân vật Phêrô, với các hăng hái và các yếu đuối của ông, đức tin của chúng ta được miêu tả: luôn luôn giòn mỏng và nghèo nàn, bất an nhưng chiến thắng, đức tin của kitô hữu bước đi gặp Chúa phục sinh, giữa các bão táp và nguy hiểm của thế giới.

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Cảnh sau cùng cũng rất quan trọng: ”Họ vừa lên thuyền, thì gió ngừng thổi. Những người ở trên thuyền qùy phục xuống trước mặt Người và nói: ”Thầy thật là Con Thiên Chúa” (cc.32-33). Trên thuyền có tất cả các môn đệ, cùng chung kinh nghiệm sự yếu đuối, nghi ngờ, sơ hãi, ”ít đức tin”. Nhưng khi Chúa Giêsu lên con thuyền đó, thì bầu khí lập tức thay đổi: mọi người cảm thấy hiệp nhất trong niềm tin nơi Người. Tất cả mọi người, bé nhỏ, sợ hãi trở thành lớn lao trong lúc họ qùy gối xuống và nhận ra Thầy mình là Con Thiên Chúa.

Biết bao lần cũng xảy ra cho chúng ta như thế… Không có Chúa Giêsu, xa Chuá Giêsu, chúng ta cảm thấy sợ hãi và không đủ sức đến độ nghĩ rằng chúng ta không làm được: thiếu niềm tin! Nhưng Chúa Giêsu luôn ở với chúng ta, có lẽ dấu ẩn, nhưng hiện diện và sẵn sàng nâng đỡ chúng ta.

Đây là một hình ảnh hữu hiệu về Giáo Hội: một con thuyền phải đương đầu với bão táp và đôi khi xem ra sắp chìm. Điều cứu Giáo Hội không phải là các đức tính và sự can đảm của các con người của Giáo Hội, nhưng là đức tin, cho phép bước đi cả trong tối tăm, giữa các khó khăn. Đức tin ban cho chúng ta cái chắc chắn về sự hiện diện của Chúa Giêsu luôn ở bên cạnh, của bàn tay Người năm lấy chúng ta để kéo chúng ta ra khỏi các hiểm nguy. Chúng ta tất cả đều ở trên con thuyền này, và ở đây chúng ta cảm thấy an toàn, mặc cho các hạn hẹp và yếu đuối của chúng ta. Chúng ta an toàn, nhất là khi chúng ta biết qùy gối xuống và thờ lậy Chúa Giêsu, là Chúa duy nhất của cuộc sống chúng ta. Đức Mẹ là Mẹ chúng ta luôn nhắc nhớ cho chúng ta điều đó. Chúng ta hãy tin cậy hướng lên Mẹ.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha báo cho mọi người biết từ thứ tư 13-8 tới thứ hai 18-8 ngài sẽ đi công du bên Đại Hàn. Đức Thánh Cha xin mọi người đồng hành với ngài trong lời cầu nguyện.

Linh Tiến Khải  – Vatican Radio

ĐỨC HỒNG Y THÉODORE ADRIEN SARR CA NGỢI VAI TRÒ QUAN TRONG CỦA NỮ GIỚI TRONG GIÁO HỘI

ĐỨC HỒNG Y THÉODORE ADRIEN SARR CA NGỢI VAI TRÒ QUAN TRONG CỦA NỮ GIỚI TRONG GIÁO HỘI

DAKAR: Đức Hồng Y Théodore Adrien Sarr, Tổng Giám Mục Dakar Senegal, đã ca ngợi vai trò quan trọng không thể chối cãi được của nữ giới trong cộng đoàn kitô, như vai trò của bà mẹ trong gia đình.

Đức Hồng Y đã nhấn mạnh như trên trong thánh lễ cử hành tại giáo xứ thánh Maria Madalena. Ngài khích lệ chị em phụ nữ hãy nhận lấy chỗ của họ trong cộng đoàn, và cầu mong Giáo Hội thừa nhận họ trong sự thật và công bằng. Vì cộng đoàn giáo xứ cần sự hăng say, các sáng kiến, và niềm vui của họ làm chứng cho tình yêu Chúa đối với Chúa Giêsu Kitô. Việc xây dựng một Giáo Hội cộng đoàn gia đình của Thiên Chúa sẽ không thành công, nếu thiếu trực giác hiền mẫu và lo lắng của nữ giới. Đức Hồng Y Sarr cũng tố cáo các thái độ kỳ thị xã hội, văn hóa, phái tính đối với nữ giới trong tực tại cuộc sống giáo xứ, dựa trên các suy xét xấu và cằn cỗi. Ngài mời gọi mọi người thừa nhận vai trò của nữ giới trong việc linh hoạt các hội đoàn, các phong trào và các nhóm khác nhau trong giáo xứ, giáo phận, và thăng tiến sư cộng tác và tình liên đới huynh đệ trong việc xây dựng cuộc sống cộng đoàn (SD 7-8-2014).

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

CÁC GIÁM MỤC ARGENTINA PHÊ BÌNH CÁC BỆNH XÁ PHÁ THAI LƯU ĐỘNG

CÁC GIÁM MỤC ARGENTINA PHÊ BÌNH CÁC BỆNH XÁ PHÁ THAI LƯU ĐỘNG

LA PLATA: Các Giám Mục vùng La Plata bên Argentina đã mạnh mẽ phê bình quyết định của Bộ trưởng Y tế gửi các bệnh xá phá thai lưu động tới những nơi các bác sĩ, vì lý do lương tâm, từ chối giúp phá thai.

Bộ Y tế Argentina đã loan báo việc thành lập một nhóm lưu động để giải quyết các tranh luận liên quan tới việc phá thai hợp pháp và một văn phòng cố vấn trợ giúp thuốc men cho các phụ nữ muốn phá thai cho tới tuần thứ 12.

Trong thông cáo phản đối Bộ Y tế các Giám Mục khẳng định rằng ”Phá thai là cố ý giết người và trực tiếp. Việc khước từ vì lý do lương tâm không thể bị coi như một chướng ngại, cũng như không thể cho rằng một hành động nhằm loại bỏ một sự sống là một trợ giúp y tế”.

Đức Cha Héctor Aguer, Tổng Giám Mục La Plata và các Giám Mục phụ tá Nicolas Baisi và Alberto Bochatey bầy tỏ ngac nhiên về sáng kiến phá thai này của chính quyền địa phương. Các vị đã nhắc lại các giáo huấn của Giáo Hội, và minh xác rằng ”Dù được làm trong bất cứ điều kiện nào, phá thai là một việc giết người đích thật; đó là việc hủy bỏ một con người trong giai đoạn đầu sự sống của nó, từ lúc thụ thai cho tới khi sinh ra”. Cuộc tranh luận nảy sinh sau khi người ta phố biến tin ”Phá thai dễ hơn tại Buenos Aires” (FIDES 7-8-2014).

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

GIÁO HỘI HÒA LAN PHÁT ĐỘNG CHƯƠNG TRÌNH DẬY GIÁO LÝ CHO TRẺ EM VÀ NGƯỜI TRẺ

GIÁO HỘI HÒA LAN PHÁT ĐỘNG CHƯƠNG TRÌNH DẬY GIÁO LÝ CHO TRẺ EM VÀ NGƯỜI TRẺ

UTRECHT: Để đương đầu với số ơn gọi linh mục giảm sút, Giáo Hội Hòa Lan đã đưa ra một loạt các sáng kiến mục vụ mới, trong đó có việc soạn các sách giáo lý mới cho trẻ em và người trẻ.

Lộ trình đào tạo này gồm 5 giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài 3 năm, cho tới 19 tuổi. Trong mỗi giai đoạn đều có giáo lý toàn vẹn, tùy theo lứa tuổi của trẻ em liên quan tới: kinh Tin Kính, các Bí tích, Thánh Kinh, Mười Điều Răn và việc cầu nguyện, theo truyền thống giáo lý của Giáo Hội Công Giáo.

Ông John Marx, đặc trách việc in ấn sách giáo lý ”Ánh sáng trên đường đi của chúng ta” cho biết cuốn sách giáo lý cuối cùng in năm 1967. Việc chuẩn bị cho trẻ em rước lễ lần đầu và lãnh Phép Thêm Sức đã do các trường học đảm trách, nên trong giáo xứ đã không có các lớp giáo lý. Nhưng hiện nay trong bối cảnh xã hội đã hoàn toàn thay đổi, các trường học không thể cống hiến các giờ học giáo lý nữa, vì càng ngày càng có các trẻ em theo đạo Hồi hay vô thần, không theo đạo nào hết. Do đó các giáo xứ phải đảm trách trở lại việc đào tạo kitô và dậy giáo lý cho trẻ em và người trẻ. Phương pháp mới gồm lộ trình bổ túc cho lỗ hổng đào tạo đã có trước và sau khi rước lễ lần đầu và nhận phép Thêm sức (SD 4-8-2014).

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Chúa đi trên biển

Chúa đi trên biển

Đứng bên cạnh con đang chuẩn bị qua cơn giải phẫu nguy hiểm, người cha không ngừng trấn an con mình với những lý luận dựa trên tài năng nổi tiếng của nhóm bác sĩ giải phẫu với những phương tiện tối tân, ông còn trấn an con là sẽ hiện diện bên cạnh để cung ứng mọi nhu cầu cho con.

Nghe xong lời cha khuyên, người con trả lời cho cha:

Xin cha đừng lo lắng nhiều, con không sợ đâu, con tin tưởng phó thác mọi sự cho Chúa Giêsu, Người hiện diện bên con và giúp con chịu đựng, hy sinh âm thầm trong tâm trí.

Người cha cảm phục lòng tin của con, vừa hổ thẹn vì mình không có được thái độ tin Chúa như con mình.

Chúng ta cũng thường hành xử như vậy khi gặp những thử thách xảy ra cho anh chị em xung quanh, cũng như và nhất là cho chính chúng ta. Phản ứng tự nhiên trước những thử thách, chúng ta thường nghĩ ngay đến những phương thế, những tài năng riêng của con người mà quên đi phần đóng góp tích cực và quan trọng của Chúa.

Bài Phúc Âm của Chúa Nhật 19 mùa thường niên năm A, trích từ Phúc Âm Thánh Mátthêu hôm nay trình bày cho chúng ta một toàn cảnh thật ý nghĩa. Ở đây chúng ta thấy hai khía cạnh: trước hết, Chúa Giêsu cầu nguyện trên núi, xem ra như Ngài xa cách không còn quan tâm gì đến những nguy hiểm mà các Tông Đồ đang gặp sóng to gió lớn trên mặt biển hồ Galilêa. Mặt hồ của toàn cảnh là cảnh tượng các Tông Đồ đang trên thuyền và phải tận lực chiến đấu với những nguy hiểm. Các ngài là những ngư phủ trên biển hồ Galilêa này, và có thể nói là đã quen thuộc với những cơn sóng to gió lớn. Hai khía cạnh này xem ra như không có gì liên hệ với nhau; Thiên Chúa xem ra như hoàn toàn xa lạ, vắng mặt khỏi hoàn cảnh sống của con người, xa lạ, lạnh lùng với những thử thách của con người đang gặp phải.

Là môn đệ của Chúa Giêsu, các ngài cũng có thể bị cám dỗ có những suy nghĩ như vậy. Chúa ở đâu mà tôi không nhìn thấy Ngài đâu cả? Nhưng thật sự không phải như vậy. Thiên Chúa không vắng mặt, không rời xa con người. Các Tông Đồ đang gặp sóng to gió lớn là vì tuân lệnh Chúa Giêsu mà chèo thuyền vượt biển cực khổ giữa ban đêm để qua bên kia bờ. Ban đêm thường có sóng to gió lớn, các Tông Đồ biết như thế, vì là những ngư phủ trong vùng.

Thông thường các ngài có thể lý luận với Chúa để ở lại với Chúa chờ qua ngày hôm sau đi lại ít nguy hiểm hơn, và cũng để được nghỉ ngơi sau một ngày mệt nhọc vì bận rộn lo cho hơn năm ngàn người ăn uống khi nghe Chúa giảng dạy. Thế nhưng lý do gì mà Chúa ra lệnh cho các Tông Đồ lên thuyền chèo qua bên kia bờ biển hồ và giữa đêm khuya như vậy?

Các Tông Đồ gặp thử thách nguy hiểm kia là vì tuân lệnh Chúa, và chúng ta thấy Chúa không để cho những người vâng phục Chúa bị thiệt hại. Phải, bị thử thách và chịu thử thách nhưng không bị đè bẹp, Chúa để cho các Tông Đồ phải chiến đấu với thử thách trong một thời gian mãi đến ba giờ sáng rồi Chúa mới đến với các ngài. Sau biến cố, sau kinh nghiệm và có thể nói được là hai kinh nghiệm, tập thể các Tông Đồ đi trên thuyền và Phêrô muốn đi trên mặt nước đang nổi sóng. Sau kinh nghiệm đó, Chúa Giêsu rút ra bài học cho các ông: "Tại sao các con kém tin thế?", tại sao không tin rằng Chúa hằng hiện diện bên cạnh, Ngài không xa vắng, Ngài không ngủ quên hay bỏ mặc những kẻ Ngài đã chọn.

Đó là bài học cho các Tông Đồ sau này khi lãnh nhận sứ mạng chính thức sau khi Chúa phục sinh: "Thầy đã được mọi quyền năng trên trời dưới đất, chúng con hãy ra đi rao giảng Tin Mừng cho muôn dân". Đây không phải là lời hứa suông, mà là một bảo đảm mạnh hơn mọi thứ bảo đảm do con người đặt ra trong xã hội hôm nay. Những bảo hiểm của con người sẽ vô ích nếu như không có sự bảo đảm của Thiên Chúa, dù con người không chấp nhận hay không biết đến sự bảo đảm này, hơn ai hết, sau khi đã trải qua kinh nghiệm trên biển hồ nổi sóng, các Tông Đồ sẽ xác tín hơn sau này cho sứ mạng làm chứng cho Chúa: "Không gì có thể tách rời tôi ra khỏi tình yêu Chúa".

Mọi gian nan thử thách đều trở nên tốt đẹp, hữu ích cho những ai yêu mến Chúa. Chúng ta hãy nhìn lại xem mình đã có kinh nghiệm sống như bài học của Phúc Âm hôm nay Chúa đã dạy các Tông Đồ chưa? Cùng với các ngài vâng lệnh Chúa vào thuyền, và sau cơn giông tố chúng ta tuyên xưng: "Thầy là Con Thiên Chúa", Chúa sống với chúng ta thì chúng ta còn lo sợ chi nữa.

Veritas Radio

Con đường của Chúa

Con đường của Chúa

Sau khi làm phép lạ hóa bánh ra nhiều, nuôi năm ngàn người ăn uống no nê, Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ xuống thuyền đi qua bờ bên kia. Rồi Người một mình lên núi cầu nguyện suốt đêm. Tại sao Chúa có thái độ kỳ lạ như thế? Tại sao Chúa Giêsu bắt ép các môn đệ ra đi? Tại sao giữa lúc dân chúng đang phấn khởi tinh thần, giữa lúc uy tín của Người dâng cao như núi, Người lại bỏ đi? Trong Phúc Âm, thánh Marcô và thánh Matthêu không nói rõ lý do. Nhưng Phúc Âm thánh Gioan thì nói rõ: “Chúa Giêsu bỏ đi vì Người biết dân chúng muốn tôn Người lên làm vua” (Ga 6,14-15). Thật là một quyết định khác thường. Theo thói thường, ta sẽ khuyên Chúa Giêsu lên ngôi làm vua rồi đi khắp nơi làm phép lạ nuôi người ta ăn uống no nê, mọi người sẽ theo Chúa và chịu phép rửa tội, cả thế giới sẽ thuộc về Chúa, khỏi mất công truyền giáo khổ cực.

Không, con đường của Chúa thì khác với con đường của ta.

Con đường của ta là con đường kiêu ngạo trong khi con đường của Thiên Chúa là con đường khiêm nhường. Ta luôn tìm cách nâng mình lên, còn Thiên Chúa luôn tìm cách hạ mình xuống. Ta muốn xưng mình là Chúa trong khi Thiên Chúa lại muốn xuống làm người. Không chỉ làm một người bình thường, nhưng còn mặc lấy thân phận nghèo hèn, yếu ớt, thậm chí bị coi như một người tội lỗi nữa. Khi nâng mình lên, ta thường hạ người khác xuống. Còn Thiên Chúa tự hạ mình xuống để nâng con người lên làm con Thiên Chúa. Con người và Thiên Chúa đều sử dụng bậc thang, nhưng theo những mục đích khác nhau. Con người sử dụng bậc thang để leo lên cao. Ai cũng muốn lên cao trong đời sống vật chất. Ai cũng muốn leo cao trong địa vị xã hội. Ai cũng muốn leo cao trong bậc thang danh vọng. Còn Thiên Chúa lại sử dụng bậc thang để đi xuống. Từ trời Thiên Chúa đã xuống thế làm người. Từ một người bình thường, Chúa còn xuống làm một người nghèo hèn, một người tội lỗi, một người thất bại.

Con đường ta chọn là con đường rộng rãi, dễ dãi. Còn con đường của Chúa là con đường chật hẹp khó khăn. Ta luôn tìm sự dễ dãi: làm sao cho đời sống đỡ vất vả, làm sao cho có những tiện nghi phục vụ đời sống, làm sao cho cuộc đời thành công tốt đẹp. Còn Thiên Chúa lại chọn con đường chật hẹp, bé nhỏ, khiêm nhường. Trong nghệ thuật quảng cáo, người ta hứa hẹn cho khách hàng mọi sự tiện nghi thoải mái. Còn Chúa Giêsu thì hứa với những kẻ muốn theo Người rằng: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Ta” (Mt 16, 24). Trong các trường đại học người ta quảng cáo: ai học trường này sẽ thành công, sẽ lên chức, sẽ lên lương. Còn Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ: “Trong anh em, ai lớn nhất thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ” (Lc 22,26).

Chính Chúa Giêsu không đi vào con đường rộng rãi thênh thang, nhưng đã chọn con đường bé nhỏ, chật hẹp. Người không chọn cứu chuộc con người bằng những thành công lẫy lừng, những phép lạ kinh thiên động địa. Nhưng Người đã chọn cứu chuộc nhân loại bằng con đường đau khổ, con đường thập giá, con đường tử nạn. Chính vì thế, hôm nay, vì sợ đám đông tôn Người lên làm vua, đi xa con đường khiêm nhường bé nhỏ, Người đã bỏ đám đông mà đi. Người sợ các môn đệ bị nhiễm thói kheo khoang, phô trương, quyền lực, nên thúc giục các ông xuống thuyền sang bờ bên kia trước.

Đây không phải lần đầu tiên Chúa gặp cơn cám dỗ loại này. Trong sa mạc ma quỉ đã xui giục Người bỏ con đường khiêm nhường, đau khổ để đi vào con đường vinh quang, dễ dãi. Đây cũng chưa phải là cơn cám dỗ cuối cùng. Cám dỗ sẽ còn trở lại với lời khuyên của Phêrô khi ông ngăn cản Thầy ra đi chịu chết (x. Mt 16,23). Cơn cám dỗ khốc liết tiếp tục trong vườn Giệt-sê-ma-ni khiến Người nao núng hầu như muốn tháo lui (x. Mt 26, 39). Cơn cám dỗ không buông tha cả khi Người đã bị treo trên thánh giá với lời thách thức của mọi người: “Nếu Ông là Con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi thập giá để chúng tôi tin” (x. Mt 27, 42). Nhưng Người đã chiến thắng tất cả những cám dỗ của ma quỉ, kiên quyết đi vào con đường thánh ý Chúa Cha, con đường khiêm nhường, vâng lời, hi sinh gian khổ.

Bản thân ta và Hội Thánh, nếu muốn trung thành với Chúa, không thể có chọn lựa nào khác ngoài con đường của Chúa đã đi.

Quá khứ đã minh chứng: Chính khi giàu sang, quyền thế, thì Hội Thánh sa sút, khủng hoảng. Trái lại những khi gặp khó khăn, nghèo khổ, bắt bớ, Hột Thánh lại phát triển mạnh mẽ, vì đang đi vào con đường của Chúa.

Là môn đệ Chúa, ta hãy mạnh dạn bước theo Chúa vào con đường khiêm nhường bé nhỏ, vào con đường chật hẹp từ bỏ mình, vào con đường thánh giá đau khổ. Tuy khó khăn, đau đớn, nhưng đó mới là con đường dẫn ta đến với Chúa, ơn cứu độ của ta.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Chúa bỏ đi, Chúa thúc giục các môn đệ bỏ đi vì sợ người ta tôn làm vua. Tôi có lựa chọn nào khiến Chúa phải bỏ đi không?

2) Tôi mong muốn Hội Thánh có khuôn mặt nào: uy quyền giàu sang hay nghèo khó, khiêm nhường?

3) Tôi có sẵn sàng đi vào con đường của Chúa không?

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Dìu nhau tiến bước

Dìu nhau tiến bước

Khi đối diện với đau khổ chúng ta thường hỏi: Chúa ở đâu? Và khi đứng trước những nghi nan chúng ta thường đặt điều kiện: "Nếu có Thiên Chúa xin hãy cứu con?". Thế nhưng, đau khổ vẫn cứ tiếp diễn trên thế gian. Mỗi ngày trôi qua chúng ta phải chứng kiến biết bao cái chết đau thương, biết bao những bất hạnh rủi ro đến với con người chúng ta. Nhìn vào cuộc đời khiến nhiều người bi quan bảo rằng: "Đời là bể khổ", hay ''Cây xanh thiếu lá nó xanh xanh – Biết mình thế này thà đừng sinh ra". Quả thực, nếu sinh ra trong cuộc đời để rồi chịu cực, chịu khổ, chịu nhiều đắng cay đoạ đầy là một bất hạnh cho kiếp người chúng ta. Nhưng thực ra, trong cuộc sống vẫn có những niềm vui. Niềm vui của tình liên đới, của sự chia sẻ, của lòng bác ái, của tinh thần hy sinh dấn thân phục vụ vì lý tưởng và vì đồng loại…

Trong giáo xứ Bình Lâm có một em bé 6 tuổi tên là K' Thủ Lĩnh. Em vừa lọt lòng mẹ đã bị bỏ đi. Điều tệ hại là chính người vứt em đi đã bẻ gãy đôi chân của em thành tàn phế rồi mới bỏ em bên vệ đường. Em đã được một gia đình người dân tộc Châu Mạ đón về nuôi. Mỗi ngày em đi học phải có người bồng ẵm đi, nếu đi một mình phải đi bằng khuỷ chân thật tội nghiệp! Thấy cảnh thương tâm, giáo xứ đã quyết định đưa em đi bệnh viện để chữa trị đôi chân. Tại trung tâm chấn thương chỉnh hình ơn Chúa đã đến với em và giáo xứ. Vì đã có nhà tài trợ sẵn lòng trả toàn bộ chi phí cho ca mổ và suốt thời gian điều trị cho em. Đây là một món quà quá bất ngờ đối với gia đình mẹ nuôi của em và với giáo xứ. Chúng ta cùng tạ ơn Chúa vì trên thế gian này vẫn còn đó những tấm lòng quảng đại được trao ban một cách quảng đại và vô vị lợi.

Thực vậy, nếu không có tấm lòng nhân ái được trao ban thì những bất hạnh rủi ro đến với nhân loại sẽ mãi mãi không bao giờ nguôi ngoai, nhưng nếu có nhiều tấm lòng nhân ái, biết chia sẻ cho nhau, thì những đau thương mất mát sẽ sớm được hàn gắn và chữa lành. Vì có ai đó đã nói rằng:

"Có một đường đi, đi chung Đường sẽ vui hơn,

Có một quặn đau, đau cùng sẽ sớm nguôi ngoai".

Trở lại với bài phúc âm của Chúa nhật 18 thường niên, thánh Matthêu đã nhấn mạnh với chúng ta một điều: nếu không có lòng nhân ái của em bé dâng cho Chúa 5 chiếc bánh và hai con cái, có lẽ đã không có phép lạ hoá bánh ra nhiều để chia sẻ với hơn 5 ngàn người đang đói vào buổi chiều hôm đó. Bài phúc âm hôm nay, Chúa còn khẳng định với chúng ta: sự dữ luôn có mặt ở quanh ta. Cuộc đời không thiếu những sóng gió nghi nan. Nhưng, Chúa có thể làm những điều tốt hơn từ trong những bất hạnh này. Em K' Thủ Lĩnh từ trong bất hạnh nhưng hôm nay em đã học được bài học về nhân ái khi đôi chân của em đang được chữa trị. Và Chúa Giêsu Ngài đã làm phép lạ từ lòng tốt của người dâng cho Chúa bánh và cá. Phải chăng, Chúa muốn dạy chúng ta bài học, khi đứng trước khổ đau của anh em mình, chúng ta phải tự hỏi: chúng ta đang ở đâu khi khổ đau ập xuống anh em? Chúng ta đã làm gì cho anh em mình khi chứng kiến những cảnh tang thương và bất hạnh của anh em? Sự dữ vẫn đang hoành hành. Quyền lực của ác thần vẫn làm cho con người sợ hãi, đôi khi đánh mất niềm tin. Nhưng Chúa vẫn đang mời gọi chúng ta: Anh em đừng sợ, vì Thầy đã thắng thế gian. Thầy đã thắng thế gian, đó cũng là tiếng mời gọi các môn đệ của Chúa là chúng ta, hãy cũng với Chúa để chiến thắng sự dữ, để đẩy lùi cái ác ra khỏi thế gian, để xoa dịu những đau thương mất mát trong cuộc đời. Đồng thời Ngài cũng mời gọi chúng ta hãy đưa tay cho Ngài dìu chúng ta bước qua những khó khăn của dòng đời. Thánh Phê-rô đã có thể đi trên mặt nước, đi qua hiểm nguy khi ông nhận ra Chúa đang đến với ông. Cuộc đời chúng ta cũng chỉ bình an trước gian nan khi chúng ta tin tưởng rằng: Chúa vẫn đang đồng hành với chúng ta. Chúa vẫn đang mời gọi chúng ta hãy trao vào tay Chúa những khó khăn của cuộc đời để Chúa sẽ giải thoát chúng ta khỏi mọi hiểm nguy.

Và hôm nay với biết bao khổ đau của tha nhân, Chúa cũng muốn chúng ta hãy là chứng nhân cho tình thương và lòng nhân ái của Chúa, khi chúng ta cùng cầm tay nhau vượt qua những thăng trầm của cuộc đời. Khi chúng ta biết chạnh lòng thương xót trước những bất hạnh của tha nhân. Khi chúng ta không phủi tay trốn tránh trách nhiệm trước những nhu cầu của thời đại. Vâng cuộc đời sẽ ấm áp hơn nếu mỗi người biết liên đới và chia sẻ cho nhau để làm vơi đi những khổ dau, những lắng lo trong cuộc sống.

Chúng ta có thể không có khả năng làm phép lạ hoá bánh ra nhiều, nhưng chúng ta có khả năng trao vào tay Chúa một chút lương thực ít ỏi, để Chúa có thể nhân rộng cho hàng ngàn người hưởng dùng.

Chúng ta có thể không có khả năng đi trên mặt nước, nhưng chúng ta có thể nâng đỡ, dìu dắt anh em qua những khó khăn của cuộc sống.

Chúng ta có thể không khiến cho sóng gió ba đào im lặng, nhưng chúng ta có thể góp phần đầy lùi sự dữ và xoa dịu những đau thương bằng lòng quảng đại và nhân ái của chúng ta.

Nguyện xin Chúa ban cho chúng ta lòng mến nồng nàn để chúng ta trở nên khí cụ mang tình yêu và lòng nhân ái đến cho anh chị em chung quanh. Nguyện xin Chúa ban thêm đức tin và đức cậy để chúng ta luôn biết cậy dựa vào ơn trợ giúp của Chúa và an bình sống trong sự quan phòng của Chúa. Amen.

LM Giuse Tạ Duy Tuyền

Xin cứu tôi

Xin cứu tôi

Bài học của Phêrô bước đi trên biển đến với Chúa, và khi nghi ngờ sợ hãi ông đã bị chìm xuống cũng là bài học đức tin cho tất cả mọi người Kitô hữu. Khi nào không tập trung nhìn thẳng vào Chúa Giêsu mà chỉ nhìn vào những đối tượng khác, chúng ta sẽ bị khủng hoảng.

Một nam tu sĩ trong tu hội của Mẹ Têrêsa Calcutta đã đến than phiền với mẹ về luật lệ của một vị bề trên đã ban ra, mà ông cảm thấy rằng nó đã cản trở việc mục vụ của ông. “Ơn gọi của tôi là làm việc cho những người cùi”, ông nói với Mẹ Têrêsa, “tôi muốn sống cho những người cùi”. Mẹ Têrêsa nhìn thẳng vào mắt vị tu sĩ một lúc rồi mỉm cười và nhẹ nhàng nói:“Thưa sư huynh, ơn gọi của sư huynh không phải là làm việc cho những người cùi, nhưng ơn gọi của sư huynh là thuộc về Chúa Kitô”.

Khi nào chúng ta không nhìn thẳng lên trời, không nhìn vào những điểm tích cực và lạc quan mà chỉ nhìn xuống, nhìn vào những hoàn cảnh đe dọa xung quanh, vào điều tiêu cực với lòng bi quan yếm thế, chúng ta sẽ bắt đầu chìm xuống.

Cha Mark Link đã dùng câu chuyện sau đây để minh họa cho điều này. Một con tàu đang gối sóng trên đại dương. Những cơn gió mạnh thổi ngược vào những cánh buồm làm chúng có thể bị rách bươm. Một chàng thủy thủ trẻ được lệnh phải trèo lên cột những cánh buồm lại. Anh chưa bao giờ trèo lên cột buồm chính vào thời tiết khắc nghiệt như vậy bao giờ. Anh bắt đầu trèo, và dường như muốn tụt xuống vì sự gầm thét của gió bão làm cho anh quá sợ hãi khi nhìn xuống. Trong kinh hoàng, anh tê cóng người lại, không thể leo lên hay tụt xuống được. Hoảng sợ anh la to:“Tôi sẽ ngã. Tôi sẽ ngã”. Viên chỉ huy hét lên thật lớn trong cơn gầm thét của bão tố:“Hãy nhìn lên!Hãy nhìn lên sẽ không bị ngã!” “Người đâu mà kém tin vậy!Sao lại hoài nghi?” (Mt 14,31)

Khi vượt biên đến trại tị nạn Thái Lan, tôi đã học thêm được hai từ Anh ngữ mới:“boat people and land people”, người đến bằng đường biển đã được Cao Uy Liên Hiệp Quốc áp dụng chính sách tị nạn cho đi định cư dễ dàng hơn. Sau khi vượt biên bằng đường bộ sang Campuchia, tôi đã xuống tàu vượt qua Vịnh Thái Lan. Con tàu chúng tôi sử dụng chỉ là chiếc tàu chở hàng nông sản trên dòng sông Cửu Long, chứ không phải chiếc tàu đánh cá ngoài biển khơi. Nó nhỏ bé và mong manh giống như chiếc lá trôi trên mặt đại dương bao la. Vào một đêm giông bão, trời tối đen như mực, ghé tai vào mạn thuyền có thể nghe tiếng gió kêu rít bên ngoài. Con thuyền cũ kỹ và bé nhỏ cố gắng trồi lên trên những ngọn sóng cao rồi lại lao đầu xuống vực thẳm đen tối. Sóng đập vào mạn thuyền kêu răng rắc. Mọi người trong thuyền chỉ còn nhắm mắt, bịt tai và cầu xin Thiên Chúa cùng Mẹ Maria cho qua được cơn khủng khiếp này. Bây giờ nghĩ lại kinh nghiệm này, tôi có cảm nghiệm giống như Phêrô. Ở trên một chiếc thuyền mỏng manh trôi trên biển cả, có khác nào Phêrô bước đi trên nước. Một kinh nghiệm vô cùng sợ hãi nhưng cũng tràn đầy ơn phúc!Tôi đã được cứu thoát là nhờ niềm tin và ơn phúc. Nếu bây giờ lập lại biến cố này, tôi sợ rằng sẽ chìm, vì sợ hãi đã càng ngày càng lớn và niềm tin lại suy yếu dần. Tôi đã nghi ngờ giống như Phêrô. Và chắc chắn cũng sẽ chìm giống như Phêrô!Trong lúc các môn đệ cần đến Chúa Giêsu, Ngài đã đến với họ. Khi có gió ngược và cuộc đời trở nên trắc trở khó khăn, Chúa Giêsu đã ở đó để giúp đỡ. Ngay khi chúng ta cần đến Ngài, Ngài đã ở ngay đó để giải cứu chúng ta.

 

ĐỨC THÁNH CHA KÊU GỌI CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ GIÚP CHẤM DỨT THẢM CẢNH BÁCH HẠI CÁC KITÔ HỮU TẠI IRAK

ĐỨC THÁNH CHA KÊU GỌI CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ GIÚP CHẤM DỨT THẢM CẢNH BÁCH HẠI CÁC KITÔ HỮU TẠI IRAQ

VATICAN: Trong thông cáo công bố ngày mùng 7-8-2014 cha Federico Lombardi, Giám đốc Phòng Báo Chí Tòa Thánh, cho biết Đức Thánh Cha Phanxicô rất lo âu theo dõi tình hình thê thẩm của các nhóm thiểu số, đặc biệt là các kitô hữu tại Irak: một dân tộc phải chạy trốn các làng mạc của mình vì bạo lực lan tràn trong vùng.

Cha Lombardi đã lập lại các lời Đức Thánh Cha đau đớn nói lên trong buổi đọc Kinh Truyền Tin ngày 20-7-2014: ”Các anh chị em của chúng ta bị bách hại, bị đuổi đi, họ phải bỏ nhà cửa mà không thể mang theo được gì. Tôi muốn bầy tỏ sự gần gũi và lời cầu nguyện liên lỉ của tôi cho các gia đình và các người này. Các anh chị em bị bách hại rất thân mến, tôi biết anh chị em đau khổ chừng nào, tôi biết rằng anh chị em đã bị tước đoạt mọi sự. Tôi ở với anh chị em trong niềm tin nơi Đấng đã chiến thắng sự dữ!”

Dưới ánh sáng của các biến cố gây lo âu này Đức Thánh Cha tái lập lại sự gần gũi của ngài với những ai đang phải trải qua thử thách đớn đau này. Ngài hiệp ý với các lời kêu gọi khẩn thiết của các Giám Mục địa phương, cùng với các vị và cho các cộng đoàn đang gặp khốn khó, xin toàn thể Giáo Hội liên lỉ dâng lời cầu nguyện để xin Chúa Thánh Thần ơn hòa bình.

Đức Thánh Cha cũng kêu gọi cộng đồng quốc tế hoạt động giúp chấm dứt thảm cảnh đang xảy ra này, và có các biện pháp che chở những người bị liên lụy hay bị đe đọa bởi bạo lực, và bảo đảm cho họ có được các trợ giúp cần thiết, nhất là trợ giúp cấp thời cho biết bao nhiêu người tỵ nạn; số phận của họ tùy thuộc tình liên đới của người khác.

Ngài kêu gọi lương tâm mọi người và lập lại với mọi tín hữu: Xin Thiên Chúa của hòa bình dấy lên nơi tất cả một ước muốn đối thoại và hòa giải đích thực. Bạo lực không thể thắng với bạo lực. Bạo lực được thắng với hòa bình! Chúng ta hãy thinh lặng cầu nguyện xin hòa bình. Tất cả trong thinh lặng. Xin Đức Maria Nữ Vương hòa bình cầu cho chúng con”.

Mặt khác trong thông cáo công bố ngày mùng 8-8-2014 Đức Hồng Y Leonardo Sandri, Tổng trưởng Bộ các Giáo Hội Đông Phương, đã cám ơn Đức Thánh Cha về sự gần gũi và lo lắng cho hơn 100.000 tín kitô hữu trong đêm đã phải bỏ nhà cửa, các nhà thờ và làng mạc trong thung lũng Ninive bên Irak, và giờ đây đang lang thang tiến về thành phố Erbil, trong các điều kiện không thể tưởng tượng nổi để tìm kiếm chỗ ẩn náu và sống còn ngày càng không chắc chắn hơn. Đức Hồng Y bầy tỏ tình liên đới với các dân tộc này và cầu nguyện cho họ là nạn nhân của các đối xử mọi rợ hoàn toàn trái nghịch với phẩm giá con người. Các hành động bạo lưc ấy là các cử chỉ chống lại Thiên Chúa và mọi ý thức nhân bản. Ngài kêu gọi các chính quyền và các tổ chức quốc tế đừng chậm trễ gửi các phẩm vật cứu trợ cần thiết cho dân chúng trong hoàn cảnh trầm trọng này, đồng thời hoạt động trên mọi bình diện để chấm dứt, đặc biệt tại Irak và Siria, cuộc xuất hành bất công của các kitô hữu khỏi các vùng đất nơi họ đã sinh sống từ hai ngàn năm nay. Bộ các Giáo Hội Đông Phương liên tục tiếp xúc với Đức Thượng Phụ Canđê Louis Sako, Đức Sứ thần Tòa Thánh tại Baghdad, và các Giám Mục địa phương, và khích lệ các giới hữu trach và tất cả những ai nhậy cảm đối với số phận của các tín hữu kitô Đông Phương cấp thiết làm tất cả những gì có thể hầu thoa dịu các khổ đau của các nạn nhân đang thiếu nước uống và thực phẩm cũng như mọi vật dụng cần thiết, đặc biệt là các trẻ em, người già, người bệnh đang ở trong tình trạng khốn khó không thể chịu đựng nổi. Rất tiếc là người ta lo sợ sẽ xảy ra một kết cục thảm hại, nếu không tìm cách chấm dứt cảnh bất an toàn diện, được dưỡng nuôi bởi sự thờ ơ đã nhiều lần bị tố cáo này (SD 7.8-8-2014)

Linh Tiến Khải – Vatrican Radio

Vũ khí nguyên tử, bệnh ghẻ ngứa khó chữa

Vũ khí nguyên tử, bệnh ghẻ ngứa khó chữa

Cách đây 69 năm, ngày mùng 6 tháng 8 năm 1945 chính quyền Hoa Kỳ đã ra lệnh ném trái bom nguyên tử đầu tiên trên thành phố Hiroshima. Và ngày mùng 9 tháng 8 quả bom nguyên tử thứ hai rơi trên thành phố Nagasaki. Hai trái bom nguyên tử đầu tiên ấy đã khiến cho 400.000 người chết ngay lập tức, hàng trăm ngàn người khác chết vì bị nhiễm phóng xạ và bị bệnh ung thư trong các tháng năm sau đó, kéo dài cho tới ngày nay. Hai thành phố lớn của Nhật Bản bị tàn phá bình địa.

Thế là kỷ nguyên vũ khí hạt nhân bắt đầu, khiến cho các cường quốc bị cuốn hút vào vòng xoáy thi đua nhau chế tạo và tàng trữ vũ khí nguyên tử như Hoa Kỳ, Liên Xô, Anh, Pháp và Trung Quốc, tức 5 nước thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra còn có bốn nước khác không gia nhập Thỏa Hiệp cấm vũ khí hạt nhân làn tràn là Ấn Độ, Pakistan. Bắc Hàn và Israel. Cảnh thi đua vũ trang đã kéo dài từ 70 năm qua và vẫn còn tiếp tục, khi mạnh khi yếu. Không ai biết được mỗi cường quốc có bao nhiệu bom, hỏa tiễn và đầu đạn nguyên tử, vì đây là bí mật quốc phòng.

Tuy nhiện, theo các phân tích và ước đoán của các chuyên viên nguyên tử, dựa trên các lời tuyên bố và các thông tin rỏ rỉ ra ngoài người ta được biết vào năm 1949 Liên xô có 8.500 đầu đạn nguyên tử; Hoa Kỳ có 7.700 vào năm 1945; Anh quốc có 225 vào năm 1952; Pháp có khoảng 300 vào năm 1960; Trung Quốc có 240 vào năm 1964. Trong khi Ấn Độ có từ 80-100 đầu đạn hạt nhân trong năm 1974. Pakistan có từ 90-110 văo năm 1998; Bắc Hàn khoảng 10 trong năm 2006. Israel có khoảng 80 và đã không thực hiện cuộc thử nghiệm chính thức nào như các nước khác.

Các cuộc thương thuyết nhằm giải trừ vũ khí hạt nhân đã khiến cho số 65.000 đầu đạn nguyên tử hoạt động giảm xuống còn 17.300 trong năm 2012, trong đó có 4.300 vũ khí ”hoạt động”, số còn lại là vũ khí ”dự trữ”. Nhưng thật khó mà xác định sự khác biệt giữa vũ khí hoạt động và vũ khí dự trữ. Vì số đầu đạn nguyên tử dự trữ đó có thể được khởi động trong vòng vài ngày hay vài tuần. Trong suốt thời gian chiến tranh lạnh giữa khai khối Minh Ước Bắc Đại Tây Dương hay NATO và khối Varsava tức Liên Xô và các nước Đông Âu, đã có hàng ngàn hỏa tiễn có đầu đạn hạt nhân được Liên Xô đặt bên Ucraina hướng về mọi thủ đô và thành phố lớn của các nước Tây Âu. Sau khi chế độ cộng sản Liên Xô sụp đổ, Ucraina đã trả các vũ khí này lại cho Nga.

Dầu sao đi nữa nguy cơ của một cuộc chiến nguyên tử vẫn luôn đe dọa nhân loại. Xem ra tình hình cũng không tiến triển nhiều lắm, mặc dù trong các thập niên qua Tòa Thánh, các Hội Đồng Giám Mục và nhiều tổ chức kitô trên toàn thế giới đã không ngừng yêu cầu các cường quốc nỗ lực giải trừ vũ khí hạt nhân, đặc biệt là trong các lễ nghi tưởng niệm các nạn nhân của bom nguyên tử vào đầu tháng 8 hằng năm.

Điển hình như thông cáo của tổ chức Pax Christi Hòa Bình Chúa Kitô Bỉ phổ biến ngày mùng 6-8-2014 tại Bruxelles, nhân tưởng niệm biến cố bom nguyên tử nổ tại Hiroshima ngày mùng 6 tháng 8 năm 1945. Qua đó tổ chức Pax Christi kêu gọi bài trừ vũ khí hạt nhân và khẳng định rằng ”việc sử dụng và sở hữu vũ khí nguyên tử là vô luân và không thể biện minh được.” Tổ chức Hòa Bình Chúa Kitô kêu gọi ”các giới chức chính trị, ngoại giao và thành viên các xã hội dân sự hoạt động làm sao để mọi quốc gia tôn trọng thỏa hiệp không để vũ khí nguyên tử lan tràn, và dấn thân giải trừ vũ khí hạt nhân. Thông cáo viết: ”Các vũ khí hóa học và sinh học đã bị lên án và bài trừ. Cả các vũ khí nguyên tử cũng phải được loại bỏ như vậy. Chúng tôi kêu gọi tạo dựng một thế giới không có tai nạn nguyên tử, không phải do sợ hãi, mặc dù các hậu qủa kinh khủng của của các vũ khí này, nhưng dựa trên niềm hy vọng được linh hoạt bởi sự thật ghi sâu trong trái tim con người: đó là chúng ta tất cả là một gia đình nhân loai duy nhất, một dân tộc được mời gọi là một cộng đoàn. Đồng ý với các giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô tổ chức Hòa Bình Chúa Kitô minh nhiên rằng ”việc giải trừ vũ khí nguyên tử là bước đầu tiên để loại trừ các chướng ngại ngăn cản nhân loại tiến tới công bằng và tình liên đới toàn cầu.

Tổ chức Hòa Bình Chúa Kitô cũng tố cáo vài cường quốc tiếp tục duy trì và liên tục canh tân kho vũ khí hạt nhân của mình, theo đuổi một đường lối chính trị lỗi thời, khiến cho tiến trình giải trừ vũ khí hạt nhân bị trì trệ, và không có đủ can đảm thực thi Thỏa hiệp không để cho vũ khí hạt nhân lan tràn.

Thật ra, cám dỗ chế tạo, thử nghiệm và sử dụng vũ khí hạt nhân giống như bệnh ghẻ ngứa khó chữa, càng gãi càng thích cho tới khi bật máu mới thôi. Nhưng với ”bệnh ghẻ nguyên tử”, khi hàng ngàn vũ khí nguyên tử nổ trên thế giới này, thì nhân loại cũng sẽ không kịp có giờ để mà ”thưởng thức cái khoái tàn hại của chúng”.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

CÁC GIÁM MỤC VÙNG NAM PHI DUYỆT XÉT CÁC THÀNH QUẢ 20 NĂM SAU KHI CHẤM DỨT CHẾ ĐỘ KỲ THỊ CHỦNG TỘC

CÁC GIÁM MỤC VÙNG NAM PHI DUYỆT XÉT CÁC THÀNH QUẢ 20 NĂM SAU KHI CHẤM DỨT CHẾ ĐỘ KỲ THỊ CHỦNG TỘC

MARIANHILL: Trong các ngày 5-12 tháng 8 năm 2014 các Giám Mục miền Nam Phi đang nhóm đại hội tại Marianhill để duyệt xét các thành qủa của 20 năm sau khi chế độ kỳ thị chủng tộc cáo chung tại Nam Phi.

Tham dự đại hội có các Giám Mục của ba nước Nam Phi, Botswana và Swaziland. Trong số các đề tài được thảo luận có: các tương quan giữa Giáo Hội và nhà nước 20 năm sau khi chế độ dân chủ được thực thi tại Nam Phi; việc tái tổ chức Hội Đồng Giám Mục các nước vùng Nam Phi cho việc loan báo Tin Mừng và cử hành Năm đời thánh hiến, sẽ bắt đầu vào tháng 11 tới đây. Các Giám Mục cũng thảo luận về các thách đố và sứ mệnh của Giáo Hội trong xã hội Nam Phi hiện nay, dưới ánh sáng của thư mục vụ ”Hai mươi năm dân chủ. Dân Thiên Chúa và mọi người thiện chí” công bố hồi tháng 2 năm nay.

Trong thư các Giám Mục đã duyệt xét các thành qủa của hai thập niên dân chủ, kể từ khi chế độ kỳ thị chủng tộc cáo chung, cũng như các vấn đề chưa được giải quyết như nạn bạo lực, các bất công xã hội, và chủ trương kỳ thị chủng tộc vẫn còn tồn tại. Ngày 6-8-2014 cha Stuart Bate đã thuyết trình về đề tài ”Đức tin và sự tục hóa trong các nước đang trên đường phát triển”. Các Giám Mục cũng sẽ thảo luận về việc thành lập Ủy ban truyền giáo, Ủy ban giáo dân, Ủy ban Phó tế, và việc cử hành Năm đời thánh hiến do Đức Thánh Cha Phanxicô công bố nhân kỷ niệm 50 năm Công Đồng Chung Vatican II.

Khách mời danh dự của đại hội là Đức Hồng Y Raymond Leo Burk, Chủ tịch Tối cao pháp viện Tòa Thánh. Đức Hồng Y đã minh giải vài vấn đề giáo luật liên quan tới việc tiêu hôn (SD 6-8-2014).



Linh Tiến Khải – Vatican Radio