Công đồng Liên Chính Thống giáo tiếp tục gặp chướng ngại

Công đồng Liên Chính Thống giáo tiếp tục gặp chướng ngại

Công đồng Liên Chính Thống giáo

ISTANBUL. Viễn tượng nhóm họp Công đồng Liên Chính Thống giáo từ chúa nhật 19-6 tới 27-6-2016 tại đảo Creta bên Hy Lạp tiếp tục gặp khó khăn.

Trong tuần lễ trước đây, Giáo Hội Chính Thống Bulgari cho biết sẽ không tham dự Công đồng này nếu một số vấn đề tranh luận không được làm sáng tỏ trước, và vì thế Giáo Hội này kêu gọi hoãn lại việc nhóm họp Công đồng. Cả Giáo Hội Chính Thống Giorgia cũng có lập trường tương tự.

Hôm 6-6-2016, sau phiên họp đặc biệt, Tòa Thượng Phụ chung của Chính Thống giáo ở Constantinople, Istanbul, Thổ Nhĩ kỳ, đã thông cáo bác bỏ yêu cầu của Giáo Hội Chính Thống Bulgari và nói rằng sau hơn 50 năm chuẩn bị, Công đồng này sẽ tiến hành như đã định, vào lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, 19-6 (theo lịch Giuliano).

Mục đích khóa họp thượng đỉnh này tại Creta là một sự thỏa thuận của Chính Thống giáo về đường hướng tương lai của mình. ”Tòa Thượng Phụ chung, có trách nhiệm chính đối với việc bảo tồn sự hiệp

nhất của Chính Thống giáo, kêu gọi tất cả hãy tận dụng cơ hội này và đến tham dự.

Thông cáo cũng có đoạn viết: ”Thật là ngạc nghiên và ngỡ ngàng, một vài Giáo Hội trong số 14 Giáo Hội Chính Thống đã tuyên bố lập trường của mình. Qui luật của Giáo Hội không cho phép xét lại kế hoạch Công đồng đã được đề ra. Tuy nhiên tại Creta, còn có thể thay đổi các dự thảo văn kiện. Các phái đoàn sẽ trình bày các đề nghị của mình”.

Tòa Thượng Phụ Chính Thống Nga mạnh mẽ phê bình lập trường của Tòa Thượng Phụ Constantinople. Tổng LM Andrej Nowokiow ở Mascơva tuyên bố với hãng thông tấn Tass của Nga hôm 7-6 rằng: ”Tôi e ngại rằng thái độ độc tài như thế của Tòa Thượng Phụ Constantinople là một toan tính buộc những người khác phải thay đổi ý kiến. Hiển nhiên Constantinople muốn có quyền lực vô giới hạn trong thế giới Chính Thống giáo, và hành động ”như thể một thứ giáo hoàng ở đông phương”, và như thế là đe dọa thành quả của Công đồng.

Thánh Hội đồng Chính Thống Nga đã yêu cầu Đức Thượng Phụ Bartolomaios triệu tập một phiên họp tiền công đồng, trước ngày 10-6 này để cứu xét xem có thể nhóm Công đồng trong thời hạn dự trù hay không. Theo Chính Thống Nga, dù một Giáo Hội thành viên không tham dự, thì đó cũng là một chướng ngại không thể vượt qua đối với việc thực hiện một đại Công đồng của Chính Thống giáo.

Trước sự từ khước của Đức Thượng Phụ Bartolomaios triệu tập phiên họp vừa nói, hôm 8-6-2016, Đức TGM Hilarion Alfeyev, Chủ tịch Hội đồng ngoại vụ tòa Thượng Phụ Chính Thống Nga, cho biết Thánh Hội đồng của Giáo Hội này nhóm họp khẩn cấp để quyết định có nên tham dự Công đồng liên Chính Thống giáo hay không. Đức TGM nói: ”Chúng tôi vẫn luôn nói rằng các quyết định của Công đồng phải được sự đồng thuận thì mới được công bố. Chúng tôi tin rằng sự đồng thuận bao hàm không những sự đồng ý của những người hiện diện nhưng cả những người khác vắng mặt nữa. Sự đồng thuận phải có nghĩa là ý kiến đồng nhất của tất cả các Giáo hội Chính Thống. Nếu một Giáo Hội vắng mặt, thì chúng tôi nghĩ điều này có nghĩa là không có sự đồng thuận” (KNA 7-6-2016, Asia News 8-6-2016).

Mặt khác, Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô sẽ tổ chức một buổi cầu nguyện vào thứ bẩy 11-6 tới đây để bày tỏ sự gần gũi tinh thần với Chính Thống giáo. Buổi cầu nguyện sẽ diễn ra tại Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành. (Apic 6-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP

Cầu nguyện là năng lượng của Kitô hữu để chiếu sáng

Cầu nguyện là năng lượng của Kitô hữu để chiếu sáng

Thánh lễ sáng thứ Ba, 07.06, tại nguyện đường thuộc Nhà trọ Thánh Marta

VATICAN. Cầu nguyện chính là năng lượng để Kitô hữu chiếu sáng. Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định như trên trong bài giảng thánh lễ sáng thứ Ba, ngày 07.06, tại nguyện đường thuộc Nhà trọ Thánh Marta. Đức Thánh Cha cũng cảnh giác các tín hữu về nguy cơ có thể trở thành những hạt muối nhạt, không còn mặn mà nữa. Cần phải chiến thắng cám dỗ về một thứ “linh đạo gương soi”, tức là quá chăm chú đến việc đánh bóng chính mình mà lãng quên nhiệm vụ phải mang ánh sáng đức tin đến cho người khác.

Ánh sáng và muối. Những chia sẻ của Đức Thánh Cha khởi đi từ bài đọc Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, chương 5, 13-16. Đức Thánh Cha nói rằng: “Đức Giêsu đã giảng dạy bằng những lời lẽ rất đơn sơ và những hình ảnh rất dung dị, đến nỗi ai cũng có thể hiểu được. Qua đó, Ngài định nghĩa Kitô hữu: Kitô hữu phải là muối cho đời và là ánh sáng cho trần gian. Muối và ánh sáng không tồn tại cho riêng bản thân mình. Nhưng ánh sáng là để chiếu soi vạn vật; còn muối để ướp, để gìn giữ sự vật khỏi hư nát.

Cầu nguyện là năng lượng để Kitô hữu trở thành ánh sáng cho đời

Kitô hữu sẽ làm gì khi độ mặn của muối và sự sáng của ánh sáng yếu dần đi? Họ phải làm gì để dầu thắp đèn không cạn tắt? Hay nói cách khác, đâu là năng lượng để Kitô hữu trở thành ánh sáng cho trần gian? Đơn giản thôi, đó chính là cầu nguyện. Anh chị em có thể làm rất nhiều việc, rất nhiều hoạt động, và cả những hoạt động bác ái. Anh chị em có thể làm rất nhiều viêc trọng đại cho Giáo hội, cho các đại học công giáo, các học viện, bệnh viện… Và thậm chí, người ta còn muốn lập một đài tưởng niệm để tôn phong anh chị em như là những ân nhân của Giáo hội. Nhưng nếu anh chị em không cầu nguyện, tôi e rằng tất cả những gì anh chị em làm có chút tối tăm, mù mịt trong đó. Rất nhiều hoạt động trở nên đen tối, vi thiếu đi ánh sáng, thiếu cầu nguyện. Vậy điều gì có thể bảo đảm, có thể mang lại ánh sáng cho đời sống của Kitô hữu? Đó chính là cầu nguyện.

Cầu nguyện là tôn thờ Thiên Chúa Cha, là ngợi khen Chúa Ba Ngôi, là lời nguyện tạ ơn, và cũng là lời cầu nguyện xin Chúa ban ơn. Tất cả những lời cầu nguyện ấy phải đến từ trái tim.

Kitô hữu ướp mặn đời bằng Tin Mừng

Muối cũng không để ướp chính mình. Muối chỉ là muối khi muối biết cho đi. Đây cũng chính là tâm tình phải có của Kitô hữu: cho đi, biết ướp cuộc đời cho đằm thắm, biết làm cho mọi sự nên đậm đà bằng thông điệp của Tin Mừng. Cho đi chứ không giữ lại riêng mình. Muối không chỉ dành cho Kitô hữu nhưng cho hết mọi người. Kitô hữu phải cho mình đi, vì muối là cho đi chứ không ở lại với chính mình. Cả ánh sáng và muối cũng đều vì người khác chứ không vì mình. Ánh sáng không chiếu soi ánh sáng và muối cũng không ướp muối.

Có người sẽ thắc mắc rằng: Nếu chúng ta là muối và ánh sáng không ngừng cho đi như thế, liệu muối và ánh sáng đó sẽ duy trì được bao lâu. Xin thưa rằng điều đó đến từ quyền năng của Thiên Chúa, vì Kitô hữu là muối và ánh sáng được Thiên Chúa ban tặng trong Bí Tích Thánh Tẩy. Chất muối và chất sáng đó được ban tặng như một món quà và sẽ tiếp tục được ban tặng nếu chúng ta cũng biết cho đi, biết giãi sáng, biết ướp mặn cho đời. Như thế, chúng sẽ không bao giờ cạn.

Hãy cảnh giác trước cám dỗ về một thứ ‘linh đạo gương soi’

Thứ linh đạo này đã xuất hiện trong Bài Đọc Một, kể về bà góa ở Xa-rép-ta. Bà đã tin ngôn sứ Ê-li-a và thế là hũ bột và vò dầu của bà đã chẳng hề vơi cạn.

Ánh sáng của anh chị em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ. Nhưng anh chị em cũng phải tỉnh thức trước cám dỗ muốn chiếu sáng hay đánh bóng chính mình. Điều ấy thật tệ, đó là thứ linh đạo gương soi: tự đánh bóng mình. Phải tránh cám dỗ chỉ biết đến bản thân mình. Nhưng hãy là ánh sáng để chiếu giãi, hãy là muối để ướp mặn đời và gìn giữ mọi sự khỏi hư nát.

Muối và ánh sáng không vì mình nhưng vì tha nhân ngang qua những công việc tốt lành. Khi làm việc tốt, chúng ta đã ‘chiếu giãi ánh sáng của mình trước mặt thiên hạ’. Và khi xem thấy những công việc tốt đẹp chúng ta làm, người ta sẽ tôn vinh Cha của chúng ta, Đấng ngự trên trời. Điều ấy cũng có nghĩa là chúng ta phải trở về với Chúa, Đấng là nguồn cội và đã ban cho chúng ta sự sáng và chất muối.

Xin Chúa giúp chúng ta biết giãi sáng bằng những việc làm và những thực hành cụ thể, chứ đừng che dấu ánh sáng đi. Xin Chúa giúp chúng ta là hạt muối biết cho đi hương vị mặn mà. Chất mặn ấy rất cần thiết, nhưng ta phải cho đi, vì khi cho đi ta mới tiếp tục được nhận lãnh và triển nở. Cho đi chính là những công việc tốt đẹp của người Kitô hữu.”

Vũ Đức Anh Phương, SJ

Hơn 930 Giám Mục đã đăng ký đến Cracovia, Ba Lan

Hơn 930 Giám Mục đã đăng ký đến Cracovia, Ba Lan

ĐHY Stanislaw Dziwisz

ROMA. ĐHY Stanislaw Dziwisz, TGM giáo phận Cracovia, Ba Lan, cho biết đã có 930 GM thế giới đăng ký đến Cracovia nhân Ngày Quốc Tế giới trẻ vào cuối tháng 7 tới đây.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài Vatican, sau khi được ĐTC tiếp kiến hôm thứ bẩy, 4-6-2016, ĐHY Dziwisz cũng cho biết các bạn trẻ từ 194 nước trên thế giới sẽ đến Ba Lan dự Đại hội giới trẻ sắp tới, và cũng để gặp gỡ ĐTC, đồng thời cử hành Năm Thánh tại ”thủ đô” của Lòng Chúa Thương Xót. Tại đó, Chúa Giêsu Kitô đã trao sứ điệp Thương Xót cho toàn thế giới, cho thánh nữ Faustina. Trong công trình này có một vị Tông Đồ khác là thánh Gioan Phaolô 2, Vị đã đưa sứ điệp này, là ngọn lửa tôn sùng lòng thương xót của Chúa cho toàn thế giới.

ĐHY Dziwisz nói thêm rằng: ”Giờ đây có ĐTC Phanxicô với cùng một chủ đề: lòng Chúa thương xót. Tôi thiết nghĩ các bạn trẻ sẽ nhận được sứ điệp này và họ sẽ mang đi khắp nơi trên thế giới, và đây sẽ là những thành quả của Ngày Quốc Tế giới trẻ tới đây. Thánh nữ Faustina đã nói: ”Nếu anh chị em muốn hòa bình, thì phải chạy đến Lòng Thương Xót của Chúa”.

Theo ĐHY TGM giáo phận Cracovia, ”Có rất nhiều người đến cùng Thiên Chúa qua thánh Gioan Phaolô 2 và chúng ta thấy bao nhiêu ơn lành, kể cả các phép lạ. Lúc sinh thời, khi có người xin ĐTC Gioan Phaolô 2 cầu nguyện cho, ngài không bao giờ quên. Ngài thường nói: ”Anh chị em hãy viết xuống điều đó cho tôi và để ở nhà nguyện”. Tôi nghĩ rằng cả bây giờ, nếu có ai xin thánh nhân chuyển cầu cùng Thiên Chúa, Người vẫn trung tín thi hành”.

Sau cùng, ĐHY Dziwisz nói thêm rằng công việc chuẩn bị cho Ngày Quốc Tế giới trẻ ở Cracovia tiến hành tốt. Điều duy nhất chúng ta phải cầu xin, đó là cho thời tiết được tốt đẹp (SD 6-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP

Tổng Thư ký Bộ Truyền Giáo giám quản tông tòa tại Guam

Tổng Thư ký Bộ Truyền Giáo giám quản tông tòa tại Guam

Archbishop Hon Tai Fai

VATICAN. Hôm 6-6-2016, ĐTC đã bổ nhiệm Đức TGM Savio Hàn Đại Huy (Hon Tai Fai), Tổng thư ký Bộ truyền giáo,  làm Giám quản Tông Tòa ”tòa đầy” (sede plena) của Tổng giáo phận Agaña ở đảo Guam.

Đức TGM Hàn Đại Huy năm nay 66 tuổi (1950), sinh trưởng tại Hong Hong, thuộc dòng Don Bosco và đã từng làm Giám tỉnh tại đây. Ngày 23-12-2010, ngài được ĐTC Biển Đức 16 bổ nhiệm làm TGM Tổng thư ký Bộ truyền giáo và là người Hoa đầu tiên được bổ vào chức vụ này.

Tổng giáo phận Agaña ở đảo Guam có hơn 140 ngàn tín hữu Công Giáo trên tổng số 165 ngàn dân cư, và có 24 giáo xứ với 50 linh mục. Từ 30 năm nay, giáo phận này do Đức TGM Anthony Sablan Apuron dòng Capuchino coi sóc. Với quyết định trên đây của ĐTC, ngài vẫn giữ nguyên danh hiệu TGM giáo phận Agaña, nhưng việc cai quản do Đức TGM Hàn Đại Huy đảm trách.

Cha Lombardi cho biết Đức TGM Savio Hàn tiếp tục làm Tổng thư ký Bộ Truyền Giáo

Mạng thông tin cruxnow.com, truyền đi hôm 5-6-2016, đưa tin Đức Anthony Sablan Apuron bị tố giác về một vụ lạm dụng tính dục cách 40 năm: cậu bé Roy Quintanilla, năm nay 52 tuổi và sống tại Hawaii.

Phó tế Martinez, điều hợp viên việc xử lý những vụ lạm dụng tính dục của giáo phận Agaña cho rằng Đức TGM đang bảo vệ chính mình và chính sách của tổng giáo phận chống lạm dụng tính dục không được vững mạnh. Tòa TGM Agaña bác bỏ những lời cáo buộc này và thuê một văn phòng luật sư nổi tiếng của Mỹ cũng như đang cộng tác với một điều tra viên độc lập.

Đức TGM Apuron đã bãi phó tế Martinez khỏi chức vụ điều hợp viên việc xử lý những vụ lạm dụng tính dục.

G. Trần Đức Anh OP

Biến cố chính của đức tin là chiến thắng của Thiên Chúa trên khổ đau và cái chết

Biến cố chính của đức tin là chiến thắng của Thiên Chúa trên khổ đau và cái chết

ĐTC Phanxicô chào tín hữu tham dự lễ phong thánh cho hai chân phước Papczynski và Hasselblad sáng Chúa Nhật 6-6-2016

Biến cố chính của đức tin là chiến thắng của Thiên Chúa trên khổ đau và cái chết. Chúa Giêsu xin cho Ngài cái chết của chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi nó, và trao ban sự sống trở lại cho chúng ta.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên trong bài giàng thánh lễ phong hiển thánh cho chân phước linh mục Stanislao Chúa Giêsu Maria Papczynski, người Ba Lan, và nữ Chân phước Maria Elisabetta Hesselblad, người Thụy Điển, cử hành lúc 10 giờ rưỡi sáng Chúa Nhật hôm qua trước thềm đền thờ thánh Phêrô.

Cùng đồng tế với ĐTC có  470 vị gồm các Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục và linh mục. Đảm trách phần thánh ca trong thánh lễ ngoài ca đoàn Sistina của Toà Thánh, còn có ca đoàn hướng dẫn, ca đoàn giáo phận Concorida Podenone, ca đoàn Goteborg và ca đoàn Bro Chamber.

Tham dự thánh lễ cũng có giới chức đạo đời của hai nước Ba Lan và Thụy Điển, gồm tổng thống Ba Lan, Bộ trưởng văn hóa và tôn giáo và đại sứ của hai nước, cũng như hơn 50.000 tín hữu và du khách hành hương, trong đó cũng có một số linh mục tu sĩ Việt Nam đang tu học tại Roma, và vài vị đến từ Thụy Điển.

Sau lời chào đầu lễ cộng đoàn đã hát kinh xin Chúa Thánh Thần đến. Tiếp đến ĐHY Angelo Amato, Tổng trường Bộ Phong Thánh, xin ĐTC tôn phong hai chân phước lên hàng hiển thánh và ngài đọc tiểu sử của hai vị.

Chân phước Stanislao Giêsu Maria Papczynski sinh năm 1631 tại Podegrodzie, trong tổng giáo phận Cracovia, bên Ba Lan. Sau thời gian huấn luyện, Stanislao gia nhập dòng các cha Scolopi, rồi được thụ phong Linh Mục. Cha nổi tiếng là bậc thầy của khoa hùng biện và giảng thuyết, cũng như là cha giải tội, đặc biệt là của Đức Sứ Thần Toà Thánh Antonio Pignatelli, sau này sẽ là ĐGH Innocenzo XII, và của vua Gioan III Sobieski. Cha viết cuốn Templum Dei Misticum Đền thờ thần bí của Thiên Chúa, trong đó cha trình bầy chương trình cuộc sống thiêng liêng, nhất là cho giáo dân, vì cha xác tin rằng họ cũng được mời gọi nên thánh.

Năm 1670 cha Papczynski ra khỏi dòng Scolopi với phép chuẩn, và thành lập một dòng mới với tên gọi là “Tu sĩ thánh mẫu của Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội”, với đặc sủng phổ biến lòng tôn sùng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục, đặc biệt cho các nạn nhân chiến tranh và dịch hạch, và trợ giúp mục vụ cho các cha sở.

Với phép của ĐC Stefano Wierzbowski, GM Poznan, cha lui về tịch liêu Korabiew, xây nhà đầu tiên của dòng và viết Hiến pháp. Tiếp đến cha sống tại một nhà thờ nhỏ gọi là “Nhà tiệc ly của Chúa tại Giêsusalem mới, nay là Gora Kalwaria, cùng với các anh em cùng dòng hoạt động tông đồ và bác ái, trợ giúp dân nghèo vùng quê.

Cha Stanislao đã về Roma để xin Toà Thánh chấp nhận dòng và dòng đã được Toà Thánh chấp nhận năm 1699. Giai đoạn cuối cùng cuộc đời cha bị ghi dấu bởi bệnh tật. Và cha đã qua đời trong hương thơm thánh thiện ngày 17 tháng 9 năm 1701 và được an táng trong nhà thờ Tiệc Ly tai Gora Kalwaria. Cha đã được ĐTC Biển Đức XVI phong Chân phước ngày 16 tháng 9 năm 2007.

Chị Maria Elisabetta Hesselblad sinh tại Faglavik bên Thuỵ Điển ngày mùng 4 tháng 6 năm 1870. Ngày từ ngày còn bé, khi nghe lời Chúa liên quan tới một chuồng chiên và một mục tử duy nhất, cô đã bắt đầu tuy tư về sự hiệp nhất trong Giáo Hội. Năm lên 18 tuổi để giúp gia đình chị Maria Elisabetta  di cư sang Mỹ tìm việc làm. Chính trong môi trường mới này chị tiếp xúc với các tín hữu công giáo, và bắt đầu con đường tiến tới gần Giáo Hội  và lãnh nhận bí tích Rửa Tội năm 1902. Vì một tật bệnh đã có từ hồi còn nhỏ nay trở lại, chị hầu như gần chết, và ước mong qua đời tại Nhà thánh nữ Brigida ở Roma. Vì thế chị sang Roma và chính tại đây chị đã cảm nhận được ơn gọi sống đời tu trì, xin gia nhập và khấn trong dòng Brigida.  Tại Roma chị Maria Elisabetta nhận 3 ứng sinh người Anh và cùng với các chị này bắt  đầu thành lập một dòng mới lấy tên là dòng Chúa Cứu Thế Rất Thánh của thánh nữ Brigida. Được linh hứng bởi một tinh thần truyền giáo mãnh liệt và nồng nhiệt đối với sự hiệp nhất của các tín hữu kitô, chị quảng đại phục vụ và trợ giúp dân nghèo trong thời Đệ Nhị Thế Chiến và đã được các chính quyền và dân chúng ghi ơn. Chị qua đời tại Roma ngày 24 tháng 4 năm 1957. Trong Năm Thánh 2000 chị đã được ĐTC Gioan Phaolô II tôn phong Chân phước. Mới đây ĐTC Phanxicô đã cho phép Bộ Phong Thánh công bố các sắc lệnh nhìn nhận các phép lạ nhờ lời bầu cử của hai chân phước. Hồi tháng 3 năm nay ĐTC đã họp  công nghị các Hông Y và quyết định tôn hai vị lên hàng hiển thánh.

Sau lời nguyện của ĐTC cộng đoàn đã hát kinh cầu các Thánh. Tiếp đến ĐTC đã đọc công thức ghi tên hai chân phước vào trong sổ bộ các thánh. Thánh tích của hai vị đã được rước lên đặt trên bệ cao bên trái bàn thờ, và được Phó tế xông hương. ĐHY Amato đã cám ơn ĐTC tôn phong hai chân phước lên hàng hiển thánh.

Thánh lễ đã  tiếp tục với kinh Vinh danh và phần phụng Lời Chúa. Bài đọc thứ nhất bằng tiếng Anh, Thánh vịnh được hát bằng tiếng Ý, bài đọc hai bằng tiếng Ba Lan. Phúc Âm đã được hát bằng tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp.

 

Giảng trong thánh lễ ĐTC  đã quảng diễn ý nghĩa  các bài đọc Chúa Nhật thứ 10 thường niên năm C kể lại phép lạ ngôn sứ Elia đã làm để cho con bà goá thành Sarepta hồi sinh, và  phép lạ Chúa Giêsu đã làm cho anh con trai bà goá thành Naim sống lại. Ngài nói: Lời Chúa mà chúng ta vừa nghe tuyên đọc dẫn chúng ta tới biến cố chính của đức tin: đó là chiến thắng của Thiên Chúa trên khổ đau và cái chết. Đó là Tin Mừng của hy vọng vọt lên từ Mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô, giãi toả từ gương mặt Ngài, vén mở Thiên Chúa Cha Đấng an ủi của người sầu khổ. Lời ấy mời gọi chúng ta kết hiệp mật thiết với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, Chúa chúng ta, để quyền năng sự phục sinh của Ngài được tỏ hiện nơi chúng ta. ĐTC giải thích thêm như sau:

Thật vậy, trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô có câu trả lời của Thiên Chúa cho tiếng kêu âu lo và đôi khi giận dữ, mà kinh nghiệm của khổ đau và cái chết dấy lên trong chúng ta. Đây không phải là trốn chạy Thập giá, nhưng ở lại đó, như Trinh Nữ Mẹ đã làm, Mẹ là Đấng, khi cùng chịu khổ đau với Chúa Giêsu, đã nhận được ơn hy vọng chống lại mọi hy vọng (x. Rm 4,18).

Đây cũng đã là kinh nghiệm của hai chân phước Stanislao Giêsu Maria và Maria Elisabetta Hesselblad, mà hôm nay chúng ta tôn phong lên hàng hiển thánh: hai vị đã kết hiệp mật thiết với cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, và nơi các vị đã tỏ lộ quyền năng sự phục sinh của Ngài.

Bài đọc thứ nhất và Phúc Âm của của Chúa Nhật hôm nay giới thiệu với chúng ta hai dấu chỉ lạ lùng của sự sống lại, dấu chỉ thứ nhất do ngôn sứ Elia làm, dấu chỉ thứ hai do Chúa Giêsu làm. Trong cả hai trường hợp, người chết là hai con trai rất trẻ của hai bà goá được hồi sinh và trả lại cho mẹ họ.

Người đàn bà Sarepta, là phụ nữ không do thái, nhưng đã tiếp đón ngôn sứ Elia vào nhà; bà nổi giận với ngôn sứ và với Thiên Chúa, bởi vì chính trong lúc ngôn sứ là khách trọ nhà bà, thì đứa con trai của bà bị đau và tắt thở trên tay bà. Khi đó ngôn sứ Elia nói với bà: “Hãy đưa con bà cho tôi” (1 V 17,19). Đây là từ chià khóa: nó diễn tả thái độ của Thiên Chúa trước cái chết của chúng ta, trong mọi hình thái của nó; ngôn sứ không nói: “Hãy giữ lấy nó và tự liệu lấy” nhưng nói: “Hãy đưa nó cho tôi”. Thật vậy ngôn sứ đã bế đứa bé, đưa nó lên phòng bên trên, và ở đó một mình “chiến đấu với Thiên Chúa” trong lời cầu nguyện,  bằng cách đặt để Thiên Chúa trước sự vô lý của cái chết. Và Chúa đã lắng nghe lời cầu của ngôn sứ Elia, bởi vì chính Ngài là Thiên Chúa nói và hành động qua ông. Chính Ngài, qua miệng ngôn sứ, đã nói với người đàn bà: “Đưa con bà cho tôi”. Và bây giờ chính ngôn sứ trả lại đứa con sống cho bà mẹ.

Tiếp tục bài giảng ĐTC nói: Sự dịu hiền của Thiên Chúa được mạc khải tràn đầy nơi Chúa Giêsu. Chúng ta đã nghe trong Tin Mừng (Lc 7,11-17) Chúa Giêsu cho thấy Ngài rất cảm thương bà góa thành Naim ở Galilêa, đang đi theo đứa con trai duy nhất còn thanh xuân ra mộ. Nhưng Chúa Giêsu tới gần, đụng vào cáng, chặn đoàn người đưa đám lại, và chắc chắn đã vuốt ve gương mặt đầy nước mắt của bà mẹ đáng thương ấy. Ngài nói với bà: “Đừng khóc” (Lc 7,13) như thể nói với bà: “Hãy cho tôi con bà”. Chúa Giêsu xin cho Ngài cái chết của chúng ta, để giải thoát chúng ta khỏi nó, và trao ban sự sống trở lại cho chúng ta Thật thế, thanh niên ấy tỉnh dậy như thể từ một giấc ngủ sâu,  và bắt đầu nói. Và Chúa Giêsu trả cậu lại cho mẹ cậu” (c.15). Ngài không phải là một nhà ảo thuật! Ngài là sự dịu hiền của Thiên Chúa nhập thể, nơi Ngài hoạt động sự cảm thương vô biên của Thiên Chúa Cha.

Cũng là một loại phục sinh sự sống lại của tông đồ Phaolô, từ kẻ thù nghịch và bách hại tàn bạo các kitô hữu đã trở thành chứng nhân và người loan báo Tin Mừng (x. Gl 1,13-17). Sự thay đổi triệt để này đã không phải là công trình của thánh nhân, mà là ơn lòng thương xót của Thiên Chúa, là Đấng đã chọn thánh nhân và kêu gọi thánh nhân với ơn của Chúa, và muốn mạc khải trong thánh nhân Con của Ngài, để thánh nhân loan báo Chúa giữa muôn dân (cc. 15-16). Thánh Phaolô nói rằng Thiên Chúa Cha đã hài lòng mạc khải Con của Ngài, không phải chỉ cho thánh nhân, nghĩa là hầu như in trong con người, thịt xác và tinh thần của thánh nhân, cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô. Như thế, tông đồ sẽ không chỉ là một sứ giả, mà trước hết là một chứng nhân. Áp dụng vào cuộc sống chúng ta ĐTC nói:

Và cả với những người tội lỗi, từng người một, Chúa Giêsu không ngừng làm rạng ngời lên chiến thắng của ơn thánh trao ban sự sống. Ngài nói với Mẹ Giáo Hội: “Hãy cho ta các con ngươi”, là chúng ta tất cả. Ngài nhận lấy trên Ngài các tội lỗi của chúng ta, Ngài cất chúng đi và trao ban chúng ta sống cho chính Giáo Hội. Và điều này xảy ra trong Năm Thánh Lòng Thương Xót này.

Ngày hôm nay Giáo Hội cho chúng ta thấy hai người con là chứng nhân gương mẫu của mầu nhiệm phục sinh này. Cả hai đều có thể ca hát đời đời, với các lời của tác giả Thánh vịnh: “Ngài đã thay đổi tiếng than van của con thành vũ điệu. Ôi Chúa, lậy Thiên Chúa của con, con sẽ tạ ơn Ngài luôn mãi” (Tv 30,12). Và chúng ta tất cả hãy hiệp tiếng nói rằng: “Con sẽ chúc tụng Chúa, vì Ngài đã nâng con dậy”.

Các lời nguyện giáo dân đã được đọc trong các thứ tiếng: Tây Ban Nha, Thụy Điển, Bồ Đào Nhà, Ý và Hoa. Các lễ vật đã được một gia đình 5 gồm cha mẹ với 3 con và 3 nữ tu dâng lên ĐTC.

Hàng chục linh mục đã giứp ĐTC cho tín hữu rước lễ.

Trước khi đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành cho mọi người ĐTC đã ngỏ lời chào và đăc biệt cám ơn các phái đoàn chính thức của hai nưóc đã đến tham dự thánh lễ tôn phong hiển thánh cho hai người con Ba Lan và Thụy Điển. Ngài Xin Chúa chúc lành cho hai quốc gia nhờ lời bầu cử của các vị. ĐTC cũng chào và cám ơn các nhóm hành hương Italia và các nước khác cũng như tín hữu đến từ Estonia, giáo phận Bologna và các ban nhạc.

Ngài mời mọi người hướng tới Đức Trinh Nữ Maria và xin Mẹ luôn hưóng dẫn trên con đường nên thánh và xây dựng công lý và hòa bình mỗi ngày.

Tiếp đến ĐTC đã đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành Toà Thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải 

Bãi chức giám mục và bề trên dòng lơ là xử lý vụ lạm dụng

Bãi chức giám mục và bề trên dòng lơ là xử lý vụ lạm dụng

Bãi chức các giám mục và bề trên dòng lơ là xử lý những vụ lạm dụng

VATICAN. ĐTC Phanxicô ban hành qui luật bãi chức các GM và các Bề trên cấp cao các dòng tu lơ là, bỏ quên việc xử lý những vụ lạm dụng tính dục trẻ em hoặc những người lớn dễ bị tổn thương.

 Qui luật trên đây được trình bày trong Tông Thư Tự Sắc ”Như một người mẹ yêu thương” (Come una madre amorevole), công bố hôm 4-6 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 5-9-2016.

 ĐTC nhắc lại rằng giáo luật đã dự trù việc bãi chức vụ trong Giáo Hội các GM giáo phận và những người tương đương vì những lý do hệ trọng. Nay qua Tông thư này, ngài xác định rằng trong số các nguyên do hệ trọng ấy, có cả việc lơ là của các GM trong việc thi hành chức vụ, đặc biệt liên quan đến những vụ lạm dụng tính dục trẻ em và những người lớn dễ bị tổn thương, như đã dự trù trong các tự sắc ”Bảo vệ sự thánh thiêng của các bí tích” (Sacramentorum Sanctitatis Tutela) do Thánh Gioan Phaolô 2 ban hành và Đức Biển Đức 16 tu chính.

 Tông thư tự sắc của ĐTC gồm 5 điều khoản, trong đó có qui định rằng:

 – GM giáo phận hoặc tương đương chỉ có thể bị cách chức nếu thiếu sót một cách khách quan trầm trọng đối với nghĩa vụ phải cần mẫn mà chức vụ đòi hỏi (1,2). Trong trường hợp những vụ lạm dụng tính dục trẻ em hoặc người lớn dễ bị tổn thương, chỉ cần sự thiếu sót ấy có tính chất trầm trọng (1,3). Các Bề trên cấp cao của các dòng tu và tu đoàn tông đồ thuộc quyền tòa thánh, cũng được đồng hóa với GM giáo phận trong những trường hợp này (1,4).

 Khi có những dấu hiệu nghiêm trọng về sự thiếu sót như vừa nói, thì bộ có thẩm quyền của Tòa Thánh sẽ khởi sự điều tra, báo cho đương sự và cho họ khả năng cung cấp các văn kiện và chứng từ (2,1). GM có thể được tự biện hộ theo các phương thế luật dự trù (2,2).

 Nếu thấy nên cách chức Giám Mục, thì Bộ sẽ sớm công bố sắc lệnh cách chức (4,1), hoặc khuyên đương sự đệ đơn từ chức lên ĐTC trong thời hạn 15 ngày, nếu GM không trả lời trong thời hạn dự trù, thì Bộ công bố sắc lệnh cách chức (4,2)

 Quyết định của Bộ phải được ĐTC phê chuẩn một cách đặc biệt. Trước khi quyết định chung kết, ĐTC sẽ được một ban luật gia trợ giúp.

 G. Trần Đức Anh OP

Thành lập và qui chế bộ giáo dân, gia đình và sự sống

Thành lập và qui chế bộ giáo dân, gia đình và sự sống

Công bố việc thành lập và qui chế bộ giáo dân, gia đình và sự sống

VATICAN. Hôm 4-6-2016, ĐTC đã cho công bố việc thành lập và qui chế thử nghiệm của Bộ (dicastero) giáo dân, gia đình và sự sống, bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-9 tới đây.

Việc thành lập này do Hội đồng các Hồng Y cố vấn đề nghị, theo đó từ ngày 1-9 năm nay, Hội đồng Tòa Thánh về giáo dân và gia đình sẽ được gộp vào trong Bộ mới, và hai hội đồng này bị bãi bỏ. Các điều khoản về hai Hội đồng (131-134, 139-141) trong Tông hiến Mục Tử Nhân Lành (Pastor Bonus, 28-6-1988) liên quan tới hai cơ quan này cũng bị bãi bỏ).

Qui chế của Bộ mới gồm 13 điều khoản, theo đó Bộ này có thẩm quyền trong những vấn đề thuộc quyền Tòa Thánh trong việc thăng tiến sự sống và tông đò giáo dân, chăm sóc mục vụ gia đình và sứ mạng của gia đình, theo ý định của Thiên Chúa, và bảo vệ, hỗ trợ sự sống con người (Đ.1)

Bộ giáo dân, gia đình và sự sống do một vị Bộ trưởng điều khiển với sự trợ giúp của một Tổng thư ký, có thể là giáo dân, và có 3 Phó tổng thư ký giáo dân, với một số viên chức thích hợp, giáo sĩ và giáo dân, được chọn bao nhiêu có thể từ những vùng khác nhau trên thế giới, theo qui luật hiện hành của các cơ quan trung ương Tòa Thánh (Đ.2, 1). Bộ được chi làm 3 phân bộ: giáo dân, gia đình và sự sống, mỗi phân bộ do một phó Tổng thư ký đứng đầu.

Bộ có các thành viên, trong đó có giáo dân nam nữ, độc thân hoặc có gia đình, dấn thân trong các lãnh vực hoạt động khác nhau, và đến từ các miền khác nhau trên thế giới, phản ánh đặc tính hoàn vũ của XX (Đ.3,1). Bộ các cố vấn (3,1) và theo tất cả các qui luật được thiết định cho các cơ quan trung ương Tòa Thánh (3,3).

Bộ cổ võ và tổ chức các hội nghị quốc tế và các sáng kiến khác thuộc về tông đồ giáo dân, hôn nhân và thực tại gia đình và sự sống trong lãnh vực Giáo Hội, cũng như có liên quan đến thân phận con người và xã hội của hàng giáo dân, gia đình và sự sống con người trong lãnh vực xã hội.

Các điều khoản khoản kế tiếp tục Qui chế lần lượt nói về các nhiệm vụ riêng của mỗi phân bộ: giáo dân, gia đình và sự sống.

Điều thứ 13 khẳng định rằng Hàn lâm viện Tòa Thánh về sự sống được gắn liền với Bộ này.. Bộ sử dụng thẩm quyền của Hàn lâm viện trong những vấn đề và các đề tài như việc sinh sản trách nhiệm, bảo vệ sự sống con người từ lúc mới thụ thai cho đến lúc chết, tự nhiên; các hiệp hội và tổ chức giúp phụ nữ và gia đình đón nhận và bảo vệ hồng ân sự sống, đặc biệt trong những trường hợp mang thai khó khăn, và phòng ngừa biện pháp phá thai..

G. Trần Đức Anh OP

 

Đức Thánh Cha cổ võ chống nạn buôn người và các tệ nạn xã hội

Đức Thánh Cha cổ võ chống nạn buôn người và các tệ nạn xã hội

Đức Thánh Cha cổ võ chống nạn buôn người và các tệ nạn xã hội

VATICAN. ĐTC khuyến khích các pháp quan thi hành công lý chống nạn buôn người và các tệ nạn xã hội khác, đồng thời ngài cảnh giác chống cám dỗ tham nhũng.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây chiều ngày 3-6-2016, trong buổi gặp gỡ hơn 150 thẩm phán và các quan chức tư pháp của nhiều quốc gia, tham dự hội nghị do Hàn lâm viên Tòa Thánh về các khoa xã hội tổ chức tại Vatican trong hai ngày mùng 3 và 4-6-2016.

 ĐTC đề cập đến các vấn đề được ngài quan tâm từ lâu như nạn buôn người, những hình thức mới của nạn nô lệ như cưỡng bách lao động, mại dâm, buôn bán cơ phận người để ghép, buôn bán ma túy và các tổ chức bất lương. Ngài đề cao vai trò không thể thay thế của các vị thẩm phán trong lãnh vực này và nhấn mạnh rằng và các thẩm phán phải được tự do, không phải chịu sức ép của các chính phủ, các tổ chức tư nhân, và nhất là được tự do đối với các cơ cấu tội lỗi, các tổ chức tội phạm tạo áp lực và xe dọa.

ĐTC nói: ”Tất cả chúng ta đều biết những chế riễu đối với ngành tư pháp công lý bị bịt mắt và bịt miệng. Nạn tham ô hối lộ là một trong những vấn đề thời sự lớn hiện nay, làm suy yếu nền dân chủ và công lý”.

Trong diễn văn, ĐTC cũng đề cao tầm quan trọng của sự cộng tác với LHQ để thực hiện dự án hợp với tinh thần nhân bản và Kitô, đó là giải thoát nhân loại khỏi nạn buôn người và các tổ chức tội phạm. Ngài cũng cổ võ sự hợp lực giữa các thẩm phán và chuyên gia, thành lập một liên mạng giữa họ với nhau để trao đổi kinh nghiệm, giúp bài trừ những hình thức mới của nạn nô lệ.

Trong bối cảnh này, ĐTC nói đến vai trò của Giáo Hội: ”Giáo Hội phải dấn thân để trung thành với con người, và càng phải làm hơn nữa, nếu ta xét tới những tình trạng trong đó có những tai gương và đau khổ thê thảm nhất.. Giáo Hội không thể chiều theo châm ngôn không muốn Giáo Hội xen mình vào chính trị. ĐTC nói: ”Giáo Hội phải xen mình vào nền chính trị cao cả, vì như ĐGH Phaolô 6 đã nói, chính trị là một trong những hình thức bác ái cao cả nhất” (RG 4-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP

Đài phát thanh Công giáo online đầu tiên ở Bangladesh

Đài phát thanh Công giáo online đầu tiên ở Bangladesh

Giáo phận Rajshahi

Rajshahi, Bangladesh – Hôm qua giáo phận Rajshahi khai trương đài phát thanh Công giáo đầu tiên tại Bangladesh.

Đài phát thanh Ánh Sáng là một đài phát thanh online, có thể nghe được trên các điện thoại thông minh (smartphone). Đức cha Gervas Rozario, Giám mục của giáo phận, đã giải thích với hãng tin Á Châu: “mục đích của đài phát thanh là rao giảng sứ điệp của Thiên Chúa qua các chương trình phát thanh của chúng tôi. Như thế chúng tôi sẽ truyền bà các giáo huấn của Chúa Giê-su”.

Đài truyền hình nằm trong nhà thờ Công giáo Emmaus ở Bogra của giáo phận Rajshahi với mục đích rõ rệt là làm cho mọi người nhận biết Chúa Ki-tô và Giáo hội ở trong nước cũng như ở nước ngoài.

Đức Giám mục khẳng định rằng qua đài phát thanh, chúng tôi muốn loan tin cho những người sống tại Bangladesh và hải ngoại. Chúng tôi dạy các giá trị của Giáo hội, các thánh ca và các kịch bản, luân lý đạo đức căn bản, khuyến khích việc bảo vệ trẻ em, phụ nữ và môi trường; chúng tôi giữ gìn văn hóa Bengal.

Giáo phận đã huấn luyện 25 bạn trẻ, phần lớn thuộc các bộ tộc, để làm phát thanh viên. Hiện tại chương trình dài một giờ mỗi ngày, nhưng trong tương lai, Đức cha nói, các ngài muốn kéo dài chương trình phát sóng để có thể thông tin thêm các tin tức về Ki-tô hữu, Giáo hội toàn cầu và quê hương các ngài.

Các tín hữu đón nhận tin tức với sự nhiệt thành. Một tín hữu Công giáo trẻ cho biết đó là một sáng kiến hợp thời. Bấy giờ tôi có thể nghe các bài thánh ca, tin tức, giáo huấn của Chúa Giê-su trực tiếp từ điện thoại di động của tôi. (Asia News 4/6/2016)

Hồng Thủy OP

Đức Giáo hoàng tặng quà đặc biệt cho 2 vợ chồng khuyết tật cao tuổi

Đức Giáo hoàng tặng quà đặc biệt cho 2 vợ chồng khuyết tật cao tuổi

Xe điện cho người tàn tật

Sáng nay, 4/6/2016, Đức tổng Giám mục Konrad Krajewski, đặc trách dịch vụ từ thiện của Đức Giáo hoàng đã trao tặng một món qua đặc biệt cho 2 vợ chồng khuyết tật cao tuổi đang được Hiệp hội trợ giúp y tế ở Tor Bella Monaca trợ giúp và chăm sóc.

Đó là một chiếc xe điện dành cho người khuyết tật để giúp họ có thể tự di chuyển. từ lâu 2 ông bà bị bó buộc trong căn hộ của họ vì tiểu đường và cao huyết áp. Người phụ nữ mới bị cắt 1 chân.

Hiệp hội trợ giúp y tế đã mở chiến dịch tương trợ để quyên góp cho đôi vợ chồng này để giúp họ giải quyết vấn đề di chuyển. Đức Giáo hoàng đã đi trước tất cả và thực hiện ước mơ của ông bà. (SD)

Hồng Thủy Op

 

Đức Thánh Cha kêu gọi tăng cường huấn luyện truyền giáo

Đức Thánh Cha kêu gọi tăng cường huấn luyện truyền giáo

Đức Thánh Cha kêu gọi tăng cường huấn luyện truyền giáo

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến 170 tham dự viên Hội nghị các vị Giám đốc toàn quốc Hội giáo hoàng truyền giáo, sáng ngày 4-6-2016, ĐTC kêu gọi tăng cường việc huấn luyện và thường huấn về tinh thần truyền giáo.

 Hội nghị vừa kết thúc sau 1 tuần lễ nhóm họp tại Roma. Có một đại diện của Giáo Hội Việt Nam là cha Ngô Quang Tuyên.

 Lên tiếng trong buổi tiếp kiến, ĐTC nhắc nhở các vị Giám đốc các Hội Giáo Hoàng truyền giáo không phải chỉ chu toàn một công tác quan trọng là quyên góp và phân phối các trợ giúp kinh tế cho bao nhiêu giáo phận và các tín hữu Kitô đang cần, nhưng còn phải quan tâm chu toàn công tác quảng đại thường huấn về việc truyền giáo. Việc truyền giáo này cần được mọi tín hữu, giáo dân, mục tử, các Giáo Hội kỳ cựu và các Giáo Hội trẻ, chu toàn. ĐTC cũng nói rằng:

 ”Các Giáo Hội mới được thiết lập gần đây, được anh em trợ giúp trong việc thường huấn về truyền giáo, có thể thông truyền sự hăng say của niềm tin trẻ trung, chứng tá về niềm hy vọng Kitô, cho các Giáo Hội kỳ cựu, nhiều khi trở nên nặng nề vì lịch sử của mình và có phần mệt mỏi. Chứng tá hy vọng ấy được nâng đỡ bằng sự can đảm chịu tử đạo đáng cảm phục”.

 ĐTC cũng nhắc đến kỷ niệm 100 năm thành lập Liên hiệp Truyền giáo do chân phước LM Paolo Manna. Ngài cầu mong lòng nhiệt thành truyền giáo của chân phước tiếp tục nung nấu, làm say mê, đổi với, suy nghĩ lại và cải tổ việc phục vụ mà Hội Liên hiệp Truyền Giáo được kêu gọi cống hiến cho toàn thể Giáo Hội. (SD 4-6-2016)

 G. Trần Đức Anh OP

Như thánh Thomas Becket, các Linh mục đừng thỏa hiệp

Như thánh Thomas Becket, các Linh mục đừng thỏa hiệp

Đức Hồng y Vincent Nichols

Hôm qua, ngày 3/6, trong bài giảng trong Thánh lễ nhân ngày năm Thánh dành cho các Linh mục tại nhà thờ Đức Maria Nữ vương các Tông đồ ở Montagnola, Roma, Đức Hồng y Vincent Nichols đã khuyến khích các Linh mục kiên vững trong sứ vụ của mình dù cho có những hoàn cảnh thất vọng.

Đức Hồng y nói: “Một Linh mục mà luôn luôn than phiền về những vấn đề của mình, về việc thiếu thời gian, thiếu tiền bạc, về những người đồng hành, về Giám mục, là một “phản chứng”. Đúng là có khó khăn, nhưng có lòng trung thành, có sự phục sinh, nguồn mạch thật sự của niềm hy vọng, niềm vui và sự kiên trì bền đỗ hàng ngày của chúng ta”.

Đức Hồng y cũng nói đến thánh Thomas Becket như mẫu gương kháng cự của Giáo hội chống lại cường quyền và vô đạo đức. Ngài nói, thánh Thomas là một linh hứng cho các Linh mục. Thánh Thomas đặt trọng tâm vào Chúa Ki-tô, thước đo và động lực duy nhất của mọi lời nói và hành động. Đây cũng là trọng tâm của chúng ta. Khi thánh nhân biết là sự thỏa hiệp không còn là một con đường có thể chấp nhận, và đã dẫn đến quyết định kịch tính là từ nơi lưu đầy trở về nhiệm sở dù thấy những nguy hiểm cho sự sống của mình. Đức Hồng y cảnh giác: “Đối với chúng ta, những nguy hiểm ít mạnh mẽ hơn. Chúng bò lên chúng ta khi chúng ta từ từ thỏa hiệp và mất đi căn tính độc đáo của chúng ta và cùng với nó, mất đi sức mạnh của chứng tá mà chúng ta đang làm.”

Đức Hồng y nhắc đến ngôi mộ của thánh Thomas đã trở thành nơi của những hòa giải kỳ diệu, Đức Hồng y cầu nguyện để sứ vụ Linh mục sẽ có đặc điểm là “phấn đấu cho sự hòa giải của các bên xung đột” và ngài nói: “dĩ nhiên điều này chỉ có thể có nguồn gốc của nó trong sự thương xót nhân từ của Thiên Chúa, một sự thương xót mà chúng ta biết, đó là Thiên Chúa không bao giờ mệt mỏi đổ tràn trên chúng ta ngay cả khi chúng ta trở nên mệt mỏi kiếm tìm nó …. và điều này chỉ có thể có nguồn gốc của nó trong sự thương xót nhân từ của Thiên Chúa được đổ ra trong Bí tích Hòa giải. (Catholic Herald 4/6/2016)

Hồng Thủy OP

Linh mục Luis Dli, cha giải tội giàu lòng thương xót

Linh mục Luis Dli, cha giải tội giàu lòng thương xót

Linh mục giải tội

Có một Linh mục được Đức Thánh Cha Phanxicô nhắc đến nhiều lần như là mẫu gương của lòng thương xót. Ngài đề cập đến vị Linh mục này lần đầu tiên trong buổi gặp các cha xứ của giáo phận Roma vào ngày 6 tháng 3 năm 2014. Một ít tháng sau, Đức Thánh Cha lại nhắc đến Linh mục này trong bài giảng trong lễ truyền chức Linh mục ngày 11 tháng 5 năm 2014. Ngài lại nói đến cha lần nữa trong cuốn sách thuật lại cuộc phỏng vấn của ngài tựa đề “Tên của Thiên Chúa là Lòng Thương xót”, và trong Thánh lễ với các Linh mục dòng Capuchino vào tháng 2 năm nay, Đức Thánh Cha lại nhắc đến Linh mục này.

Đức Thánh Cha kể: “Tôi nhớ đến một Linh mục giải tội, là một cha dòng Capuchino phục vụ ở Buenos Aires, thủ đô Achentina. Một lần, cha ấy đến gặp và muốn nói chuyện với tôi. Cha ấy nói: ‘con cần sự giúp đỡ của Đức Hồng y (khi ấy Đức Thánh Cha Phanxicô đang là Hồng y Tổng giám mục tổng giáo phận thủ đô Buenos Aires). Luôn luôn có rất nhiều người đến xưng tội với con; đủ mọi hạng người, những người khiêm nhường cũng như người thiếu khiêm nhường, cũng như nhiều Linh mục…. Con đã tha tội cho rất nhiều người và thỉnh thoảng con lo lắng vì con đã tha quá nhiều’. Chúng tôi đã nói về lòng thương xót và tôi hỏi cha ấy là cha đã làm gì khi cha cảm thấy bối rối như thế. Cha ấy đã trả lời: ‘con đến trước nhà Tạm Thánh Thể trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ của chúng con và con nói với Chúa Giê-su: Chúa ơi xin tha tội cho con vì con đã tha tội quá nhiều. Nhưng chính Chúa đã làm gương xấu cho con!’ Tôi không bao giờ quên câu chuyện này. Khi một Linh mục cảm thấy được sự thương xót này ngày trên chính da thịt mình thì Linh mục ấy có thể trao ban sự thương xót cho người khác”.

Vị Linh mục dòng Capuchino mà Đức Thánh Cha Phanxicô kể đến chính là Cha Luis Dli, 89 tuổi. Cha đã dùng hết thời gian của mình để ngồi tòa giải tội ở trong một khu phố ngoại ô thủ đô Buenos Aires. Trong một cuộc phỏng vấn, được hỏi tại sao cha trả lời Đức hồng y Bergoglio như Đức Thánh Cha đã kể, cha Luis trả lời là cha đã rất tin tưởng Đức hồng y Bergoglio và một lần Đức hồng y đã bảo cha: hãy tha thứ! Hãy tha thứ! Điều quan trọng là tha thứ! Và cha đã trả lời Đức hồng y như Đức Thánh Cha đã kể lại. Chúa Giê-su làm gương xấu vì Chúa tha thứ tất cả; Chúa không bao giờ đẩy ai ra xa Ngài. Đức hồng y Bergoglio, là Đức Thánh Cha bây giờ, đã bị ấn tượng với câu trả lời này. Ngài biết cha Luis ngồi giải tội nhiều giờ sáng chiều. Nhiều lần ngài đã khuyên các Linh mục đến xưng tội với cha Luis khi họ gặp những vấn đề. Cha đã lắng nghe họ và đã trở thành bạn với nhiều người trong số họ. Đến với cha họ được lắng nghe và cảm thấy tốt hơn về tinh thần cũng như về mục vụ. Cha Luis chia sẻ thêm: cha cám ơn Đức Thánh Cha đã đặt tin tưởng nơi cha dù cha không xứng đáng. Cha không phải là một Linh mục hay tu sĩ học cao và có bằng cấp, nhưng cuộc sống đã dạy cho cha rất nhiều; cuộc sống đã ghi dấu trên cha vì cha sinh ra trong sự nghèo khó và cha cảm thấy cha nên luôn luôn trao ban lời thương xót, sự giúp đỡ và gần gũi với những ai đến với cha. Không ai phải bỏ đi với ý nghĩ là họ không được hiểu hay họ bị hất hủi khinh bỉ.

Với kinh nghiệm của một Linh mục 89 tuổi đã dành cả cuộc đời để giải tội, Cha Luis khuyên các Linh mục như sau: Tôi không có gì khác để nói ngoài điều Đức Thánh Cha nói, vì tôi cảm và sống nó. Lòng thương xót, sự thông hiểu, dành cuộc đời mình để lắng nghe, hiểu và thử đặt mình trong “đôi giày” của người khác để hiểu những gì đang diễn ra. Chúng ta, các Linh mục không nên giải tội như những vị công chức: “tôi ban cho họ ơn tha tội”, thế là xong, nhưng trái lai, tôi tin là chúng tôi cần tỏ sự gần gũi và đặc biệt đối  xử tốt với họ, vì thường có những người không biết xưng tội là gì. Hãy nói với họ: “đừng sợ! Đừng lo lắng! Tất cả những gì bạn cần làm khi xưng tội là mong muốn được trở nên tốt hơn”. Chúng ta hãy quên họ thường pham tội thế nào hay với ai hay điều gì, vì những điều này dường như đẩy họ ra xa chúng ta. Và công việc của tôi là mang con người đến gần Thiên Chúa, gần Chúa Giê-su hơn.

Còn đối với những tội nhân đến xưng tội, cha Luis thường khuyên họ đừng sợ. Cha thường trình bày hình ảnh người cha nhân từ ôm chầm đứa con hoang đàng. Họ thường hỏi cha là Thiên Chúa sẽ tha thứ cho con không. Cha nói với họ: Thiên Chúa ôm lấy chúng ta, Ngài chăm sóc, yêu thương và đồng hành với bạn. Thiên Chúa đến để tha thứ chứ không để xử phạt. Người từ trời xuống để ở với chúng ta vậy tại sao chúng ta có thể sợ hãi Thiên Chúa! (Vatican Insider 09/05/16)

Hồng Thủy OP

ĐTC cử hành Thánh lễ ngày Năm Thánh cho các linh mục

ĐTC cử hành Thánh lễ ngày Năm Thánh cho các linh mục

ĐTC cử hành thánh lễ cho các linh mục

VATICAN. ĐTC mời gọi các linh mục hăng say đi tìm chiên lạc và tận tụy săn sóc đoàn chiên được giao phó cho mình, noi gương vị Mục Tử Nhân Lành.

Đó là nội dung bài giảng thánh lễ ĐTC cử hành lúc gần 9 giờ rưỡi sáng thứ sáu 3-6-2016, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, cũng là ngày Thánh Hóa các linh mục, tại Quảng trường thánh Phêrô, để kết thúc 3 ngày Năm Thánh dành cho các linh mục và chủng sinh.

Đồng tế với ĐTC có hơn 20 Hồng Y, 50 GM và khoảng 5 ngàn linh mục đến từ các nơi, trước sự hiện diện của hơn 10 ngàn tín hữu.

Bài giảng của ĐTC

Trong bài giảng, ĐTC nêu bật liên hệ giữa Trái Tim của Chúa Giêsu vị Mục Tử nhân lành với con tim của các linh mục. Ngài cũng đưa ra những lời nhắn nhủ thực hành: linh mục cần luôn luôn tìm kiếm Chúa, hăng say đi tìm các con chiên lạc để dẫn về đoàn chiên Chúa, và sau cùng là bí quyết niềm vui của linh mục. ĐTC nói:

”Khi cử hành Ngày Năm Thánh của các LM trong lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi chú tâm vào con tim, tức là nội tâm, những căn cội vững chắc nhất của đời sống, chú ý đến nòng cốt các tình cảm, nói tắt một lời là chú tâm đến trung tâm của con người. Và hôm nay, chúng ta hướng nhìn hai con tim: Trái Tim của Mục Tử nhân lành và trái tim của chúng ta như mục tử.

Trái Tim của vị Mục Tử Nhân Lành không phải chỉ là con tim có lòng thương xót chúng ta, nhưng là chính lòng thương xót. Tại đó, tình yêu của Chúa Cha chiếu tỏa rạng người; tại đó, với tất cả những giới hạn và tội lỗi của tôi, tôi nếm hưởng niềm chắc chắn mình được chọn và yêu thương. Khi nhìn Trái Tim ấy, tôi đổi mới tình đầu của tôi: nhớ lại khi Chúa đã đánh động tôi trong tâm hồn và gọi tôi theo Ngài, niềm vui được thả lưới cuộc đời theo Lời Chúa (Xc Lc 5,5).

Trái Tim vị Mục Tử nhân lành nói với chúng ta rằng tình yêu của Chúa không có giới hạn, không mệt mỏi và không bao giờ đầu hàng. Tại đó chúng ta thấy Chúa liên tục hiến mình, không giới hạn; tại đó chúng ta tìm được nguồn mạch tình yêu trung tín và dịu dàng, để cho chúng ta được tự do và làm cho chúng ta được tự do; tại đó chúng ta tái khám phá thấy Chúa Giêsu yêu thương chúng ta cho đến cùng” (Ga 13,1), nhưng không bao giờ áp đặt.

Trái tim vị Mục Tử Nhân lành hướng về chúng ta, đặc biệt nhắm đến những người còn ở xa cách hơn; tại đó kim địa bàn của Ngài liên tục hướng về, tại đó Ngài biểu lộ sự yếu đuối của một tình yêu đặc thù vì muốn đạt tới mọi người và không ai bị hư mất.

Đứng trước Trái Tim Chúa Giêsu, nảy sinh một câu hỏi căn bản về đời sống linh mục của chúng ta: con tim của tôi hướng về đâu? Sứ vụ thường đầy những sáng kiến khác nhau, hướng về nhiều mặt trận: từ việc huấn giáo cho đến phụng vụ, bác ái, những dấn thân mục vụ và cả hành chánh nữa. Giữa bao nhiêu hoạt động, vẫn luôn có một câu hỏi: con tim của tôi gắn chặt vào đâu, hướng về đâu, đâu là kho tàng mà tôi tìm kiếm? Vì – Chúa Giêsu đã nói – kho tàng của ngươi ở đâu, thì con tim của ngươi ở đó” (Mt 5,21). Có những yếu đuối trong tất cả chúng ta, cả tội lỗi. Nhưng chúng ta hãy đi sâu hơn, đến tận cội rễ: đâu là căn cội những yếu đuối của chúng ta, những tội lỗi của chúng ta, nghĩa là đâu chính là cái ”kho tàng” làm cho chúng ta xa Chúa?”

Có hai kho tàng không thể thay thế được của Trái Tim Chúa Giêsu: Chúa Cha và chúng ta. Hằng ngày Chúa Giêsu cầu nguyện cùng Chúa Cha và gặp gỡ dân chúng. Cả con tim mục tử của Chúa Kitô cũng chỉ có 2 chiều hướng: Chúa và dân chúng. Con tim của linh mục là một con tim bị tình yêu Chúa đâm thâu qua; vì thế LM không còn nhìn bản thân mình, nhưng hướng về Thiên Chúa và anh em. Đó không còn là một ”con tim chạy nhẩy”, để cho mình bị thu hút vì những gợi ý nhất thời hoặc chạy đây chạy đó tìm kiếm sự đồng thuận hoặc những thỏa mãn bé nhỏ; trái lại đó là một con tim kiên vững trong Chúa, được Thánh Linh thu hút, cởi mở và sẵn sàng đối với anh chị em mình.

Đi vào cụ thể hơn, ĐTC nói:

Để giúp con tim chúng ta nồng cháy tình bác ái của Chúa Giêsu vị Mục Tử nhân lành, chúng ta có thể luyện tập biến 3 hành động này làm của mình, như được các bài đọc hôm nay gợi ý cho chúng ta, đó là tìm kiếm, hội nhập và vui mừng.

 

Trước tiên là tìm kiếm. Ngôn sứ Ezechiele nhắc nhở chúng ta rằng chính Thiên Chúa tìm kiếm các con chiên của Ngài (34,11.16). Phúc Âm nói: Ngài ”đi tìm con chiên lạc” (Lc 15,4), không kinh hãi vì những rủi ro; không do dự phiêu lưu ra ngoài những cánh đồng cỏ và ngoài giờ làm việc. Không hoãn lại sự tìm kiếm, không nghĩ rằng ”hôm nay tôi đã thi hành bổn phận rồi, tôi sẽ làm tiếp ngày mai”, nhưng làm việc ngay, dấn thân ngay vào công việc: con tim LM không an nghỉ bao lâu chưa tìm được con chiên lạc duy nhất. Sau khi tìm được chiên ấy, người mục tử quên mệt nhọc và vác chiên lên vai và rất hài lòng.

Đó là con tim của người tìm kiếm: đó là một con tim không tư hữu hóa thời gian và không gian, không muốn hăng say bảo vệ sự yên hàn hợp pháp của mình, không bao giờ đòi cho mình không bị làm phiền. Người mục tử theo con tim của Thiên Chúa không bảo vệ sự thoải mái của mình, không bận tâm bảo vệ thanh danh, trái lại, không sợ những lời phê bình, sẵn sàng chấp nhận rủi ro miễn là noi gương Chúa.

Người mục tử theo Chúa Giêsu có một tâm hồn tự do để tự bỏ những gì thuộc về mình, không sống tính toán những gì mình có và những giờ phục vụ của mình: không phải là một kế toán viên tinh thần, nhưng là một người Samaritano nhân lành tìm kiếm những người đang cần. Đó là một mục tử, chứ không phải là một thanh tra đoàn chiên, và dành cho sứ mạng không phải 50 hay 60%, nhưng hết mình. Khi đi tìm kiếm, và tìm thấy vì đã chấp nhận rủi ro, không dừng lại sau những thất vọng, và không đầu hàng trong những mệt mỏi; đó là người ngoan cố thi hành điều thiện, được sự gan lỳ của Chúa xức dầu để không ai bị lạc. Vì thế LM không những giữ cho cánh cửa mở rộng, nhưng còn ra đi tìm kiếm những người không muốn bước qua cửa. Như mỗi Kitô hữu tốt lành, và như tấm gương cho mỗi Kitô hữu, LM luôn luôn ra khỏi mình. Trọng tâm con tim của mục tử ở ngoài mình: không bị thu hút bởi cái tôi, nhưng bởi Thiên Chúa và loài người chúng ta.

Thứ hai là hội nhập. Chúa Kitô yêu thương và biết các con chiên của Ngài, Ngài hiến mạng sống vì họ và không ai là người xa lạ với Ngài (Xc Ga 10,11-14). Đoàn chiên chính là gia đình và cuộc sống của Ngài. Ngài không phải là thủ lãnh mà đoàn chiên khiếp sợ, nhưng là Mục Tử đồng hành với chiên và gọi đích danh từng con (Xc Ga 10,3-4). Ngài muốn tập họp các chiên chưa ở với Ngài (Xc 10,16).

Cũng vậy đối với linh mục của Chúa Kitô: LM được xức dầu cho dân, không phải để chọn lựa dự phóng của mình, nhưng để ở gần những người dân cụ thể mà Thiên Chúa, qua Giáo Hội, đã ủy thác cho linh mục. Không ai bị loại trừ khỏi tâm hồn của mục tử, khỏi kinh nguyện và nụ cười của linh mục. Với cái nhìn yêu thương và con tim của người cha, linh mục đón nhận, hội nhập và khi phải sửa chữa, LM luôn hành động để đến gần; không coi rẻ một ai, nhưng luôn sẵn sàng chịu bẩn tay. Là thừa tác viên hiệp thông mà LM cử hành và sống, LM không chờ đợi những lời chào hay những lời khen ngợi của người khác, nhưng là người đầu tiên giơ tay ra, loại bỏ những lời nói hành nói xấu, những xét đoán và độc dược. Linh mục kiên nhẫn lắng nghe những vấn đề và tháp tùng những bước đi của con người, ban phát ơn tha thứ của Chúa với lòng cảm thông quảng đại. LM không trách mắng người rời bỏ hoặc lạc đường, nhưng luôn sẵn sàng giúp họ tái hội nhập và giàn xếp những tranh tụng.

Sau cùng là vui mừng. Thiên Chúa ”đầy vui tươi” (Lc 15,5): niềm vui của Ngài nảy sinh từ sự tha thứ, từ cuộc sống được tái sinh, từ người con được tái thở hít không khí gia đình. Niềm vui của Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành không phải là niềm vui cho mình, nhưng là một niềm vui cho tha nhân và với tha nhân. Niềm vui đích thực của tình yêu. Đây cũng là niềm vui của linh mục. LM được biến đổi nhờ lòng thương xót mà LM ban phát nhưng không. Trong kinh nguyện, linh mục khám phá sự an ủi của Thiên Chúa và cảm nghiệm rằng không gì mạnh hơn tình yêu Chúa. Vì thế, linh mục thanh thản trong nội tâm, và hạnh phúc vì được làm máng chuyển lòng thương xót, đưa con người xích lại gần Trái Tim của Thiên Chúa. Buồn sầu đối với linh mục là điều thường tình, nhưng chỉ là điều chóng qua; sự cứng cỏi là điều xa lạ đối với linh mục, vì linh mục là mục tử theo Con tim dịu hiền của Thiên Chúa.

Và ĐTC kết luận rằng:

Các linh mục thân mến, trong thánh lễ, mỗi người chúng ta tìm được căn tính mục tử của chúng ta. Mỗi lần chúng ta có thể thực sự biến những lời này thành lời của chúng ta: ”Này là mình Thầy dâng hiến vì các con”. Đó chính là ý nghĩa cuộc sống của chúng ta, những lời, qua đó một cách nào đó, chúng ta có thể lập lại những lời hứa khi chúng ta chịu chức. Tôi cám ơn anh em vì sự đồng ý, bao nhiêu là lời thưa ”xin vâng” âm thầm hằng ngày mà chỉ có Chúa biết. Tôi cám ơn vì sự ”đồng ý” hiến mình hiệp với Chúa Giêsu: đây chính là nguồn mạch tinh tuyền niềm vui của chúng ta.

Trong phần rước lễ, 250 LM đồng tế đã đảm nhận phần phân phát Mình Thánh Chúa cho các tín hữu hiện diện.

Thánh lễ kết thúc lúc quá 11 giờ với bài thánh ca: Lạy Nữ Vương.

G. Trần Đức Anh OP

Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha: Đừng bao giờ bỏ rơi người già nua, bệnh tật

Ý cầu nguyện của Đức Thánh Cha: Đừng bao giờ bỏ rơi người già nua, bệnh tật

Ý cầu nguyện tháng Sáu Cầu nguyện cho người cao tuổi, người bị gạt ra bên lề xã hội và những người cô đơn.

VATICAN. “Đừng bao giờ bỏ rơi những người già nua ốm yếu. Hãy kiến tạo một nền văn hóa gặp gỡ và liên đới.” Đức Thánh Cha đã tha thiết mời gọi như trên trong đoạn video ý chỉ cầu nguyện tháng Sáu. Ngài chia sẻ rằng:  

“Trong các thành phố, những người già nua, ốm yếu thường bị bỏ rơi.

Chúng ta có thể làm ngơ trước vấn đề này không?

Các thành phố của chúng ta trước hết phải nổi bật về tình liên đới, không chỉ trong việc giúp đỡ những ai túng thiếu, mà còn ở việc có trách nhiệm với nhau, và kiến tạo nên một nền văn hóa gặp gỡ.

Anh chị em có hiệp ý với cha trong lời cầu nguyện này không?

Xin cho những người cao tuổi, những người bị gạt ra bên lề xã hội và những người cô đơn, ngay trong các thành phố lớn trên thế giới, tìm được nhiều dịp để gặp gỡ và liên đới.”

Đức Thánh Cha giảng tĩnh tâm cho các linh mục (2)

Đức Thánh Cha giảng tĩnh tâm cho các linh mục

Đức Thánh Cha giảng tĩnh tâm cho các linh mục 1

ROMA. Hôm 2-6-2016, ĐTC Phanxicô đã trình bày 3 bài suy niệm tĩnh tâm dành cho các LM quốc tế nhân Ngày Năm Thánh dành cho các LM và chủng sinh.

 Trước tiên tại Đền thờ Thánh Gioan Laterano vào lúc 10 giờ và bắt đầu với kinh giờ Ba. Sau phần dẫn nhập, ĐTC nói về đề tài ”Từ sự xa cách đến việc mừng lễ”. Trong số hàng ngàn tham dự viên cũng có một số Hồng Y và Giám Mục thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh.

 Bài thứ hai lúc 12 giờ trưa tại Đền Thờ Đức Bà Cả với chủ đề ”Người đón nhận lòng thương xót”. Sau cùng vào lúc 4 giờ chiều ở Đền thờ thánh Phaolô ngoại thành, ĐTC nói về đề tài: các hoạt động từ bi thương xót, về thể lý và tinh thần.

 Cả ba bài suy niệm của ĐTC xoay quanh các khía cạnh khác nhau của lòng thương xót, qua đó ngài dựa nhiều trên linh đạo của thánh Ignatio Loyola Thánh Tổ dòng Tên. Mỗi bài dài khoảng 45 phút.

 Trong số các ý tưởng được ĐTC trình bày, có lời ngài cảnh giác rằng: ”Nếu các cơ cấu của chúng ta không được sống và được sử dụng để nhận lãnh nhiều hơn lòng thương xót của Thiên Chúa và trở nên từ bi hơn đối tha nhân, thì chúng có thể biến thành một cái gì rất khác biệt và đưa tới hậu quả ngược lại điều chúng ta mong muốn”.

 ĐTC nhấn mạnh tấm gương của các thánh trong việc cảm thấy cần lòng thương xót của Chúa. Ngài cũng trưng dẫn ĐHY Phanxicô Nguyễn Văn Thuận, và nhắc lại rằng ”Chính ĐHY Văn Thuận, đã nói rằng trong tù, Chúa đã dạy ngài biết phân biệt những ”điều thuộc về Thiên Chúa”, mà ĐHY đã tận tụy thi hành trong cuộc đời khi còn là một LM và GM được tự do, khác với chính Thiên Chúa, mà ĐHY tận tụy phục vụ trong lúc bị tù” (Xc Cinque pani e due pesci [5 chiếc bánh và 2 con cá], San Paolo 1997).

 ĐTC trách cứ những cha giải tội thiếu kiên nhẫn và trách móc các hối nhân! ”Anh em đừng làm như vậy!.. Trái lại điều làm tôi cảm động là sự xưng tội của các linh mục, họ xưng tội của mình và lắng nghe tội của những người xưng tội”.

 ĐTC cũng nhắn nhủ các linh mục đừng bao giờ coi những người khác chỉ là ”một vụ”, ”một trường hợp”. ”Đối với chúng ta họ luôn luôn là một người.

 ĐTC nhận xét rằng ”Hầu như tất cả các vị đại thánh đều là những người nhiều tội lỗi”. Như để chứng minh điều này, ngài nhắc lại trường hợp thánh Phêrô, đã từng chối Chúa ba lần, và đã từng bị thánh Phaolô sửa sai, nhưng người tội lỗi ấy đã được Chúa chọn làm giáo hoàng!” ”Trong việc thực thi lòng thương xót chữa lành sự ác của người khác, không ai tốt lành hơn để chữa lành tha nhân cho bằng người luôn giữ nguyên kinh nghiệm về bản thân mình đã từng được Chúa xót thương. Chúng ta thấy rằng trong số những người làm việc để bài trừ sự nghiện ngập, những người đã cai nghiện được, thường là những người hiểu rõ hơn, cảm thông hơn và giúp đỡ, biết xin những người khác. Cũng vậy cha giải tội tốt nhất thường là người biết xưng tội đúng đắn nhất”.

 Trong bài cuối cùng, ĐTC trình bày những suy tư về những công việc từ bi thương xót về tinh thần cũng như về thể xác, trong đó ngài cũng nói đến tòa giải tội, và chiều kích xã hội của các công việc từ bi bác ái (SD 26-2-16)

 G. Trần Đức Anh OP

Thiên Chúa hoàn toàn rộng mở con tim cho người khiêm nhường

Thiên Chúa hoàn toàn rộng mở con tim cho người khiêm nhường

ĐTC chào nữ văn sĩ Veronica Cantero Buroni, người Argentina, trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 1-6-2016

Kiêu căng làm hỏng mọi hành động tốt, khiến cho lời cầu nguyện thành trống rỗng và làm cho chúng ta xa cách với Thiên Chúa và với tha nhân. Trong khi khiêm nhường là điều kiện cần thiết để được Chúa nâng lên và sống kinh nghiệm lòng thương xót đổ đầy vào con tim chúng ta. Thiên Chúa hoàn toàn rộng mở con tim Ngài cho ngưòi khiêm nhường.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên với tín hữu và du khách hành hương trong buổi tiếp kiến sáng thứ tư hôm qua. Mở đầu bài huấn dụ ngài nói:

Thứ tư trước chúng ta đã lắng nghe dụ ngôn ông thẩm phán và bà goá liên quan tới sự cần thiết phải kiên trì cầu nguyện. Hôm nay, với một dụ ngôn khác, Chúa Giêsu muốn dậy cho chúng ta biết đâu là thái độ đúng đắn để cầu nguyện và khẩn nài lòng thương xót của Thiên Chúa Cha: phải cầu nguyện như thế nào. Một thái độ đúng đắn giúp cầu nguyện. Đó là dụ ngôn người pharisêu và người thu thuế.

Cả hai nhân vật lên đền thờ cầu nguyện, nhưng hành động trong các cách thức rất khác nhau và được các hiệu quả khác nhau. Ông pharisêu đứng cầu nguyện (c.11) và dùng nhiều lời. Lời cầu nguyện của ông đúng là một lời cầu nguyện tạ ơn hướng tới Thiên Chúa, nhưng trong thực tế là một khoe khoang công đức của ông, với ý thức sự cao vượt đối với các người khác, bị coi như “trộm cướp, bất công, ngoại tình”, và ông cho biết người khác ở đó là “tên thu thuế” (c.11). Nhưng vấn đề chính là ở đây: ông pharisêu cầu nguyện với Thiên Chúa, nhưng thật ra là ông nhìn vào chính mình. Ông cầu nguyện với chính ông.” Thay vì có Chúa trước mắt thì ông có một tấm gương. Tuy ở trong đền thờ, ông không cảm thấy cần phủ phục trước sự oai nghiêm của Thiên Chúa. Ông đứng và cảm thấy chắc chắn, làm như thể ông là chủ nhân của đền thờ! Ông liệt kê các việc tốt lành đã làm được: ông là người không thể trách cứ vào đâu được, tuân giữ Lề Luật hơn điều cần thiết, “ăn chay tuần hai lần” và trả thuế thập phân cho tất cả những gì ông có.

Sau cùng, hơn là cầu nguyện ông pharisêu hài lòng với việc tuân giữ các điều luật. Thế nhưng thái độ và các lời nói của ông xa cung cách nói năng và hành xử của Thiên Chúa, là Đấng yêu thương tất cả mọi người và không khinh rẻ các người tội lỗi. Ông này khinh rẻ các người tội lỗi, cả khi ông ghi nhận người khác ở đó. Sau cùng, ông pharisêu tự coi mình là công chính, lại lơ là với giới răn quan trọng nhất là tình yêu thương đối Thiên Chúa và tha nhân.

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC giải thích:

Như vậy tự hỏi chúng ta cầu nguyện bao nhiêu chưa đủ, cũng phải tự vấn xem chúng ta cầu nguyện ra sao, hay tốt hơn con tim của chúng ta như thế nào: thật quan trọng duyệt xét nó, để lượng định các tư tưởng, các tâm tình và nhổ tận gốc rễ sự kiêu căng và giả hình. Nhưng tôi xin hỏi: Có thể cầu nguyện với sự kiêu căng không? Không. Có thể cầu nguyện với sự giả hình không? Không. Chúng ta chỉ phải cầu nguyện trước Thiên Chúa như chúng ta là mà thôi. Nhưng ông này đã cầu nguyện với sự kiêu căng và giả hình.

Chúng ta tất cả đều bị tóm giữ bởi nhịp sống  quay cuồng, thường bị thống trị bởi các cảm xúc, các ồn ào và lẫn lộn. Cần phải học tìm lại con đường hướng về con tim, tái chiếm giá trị của sự thân tình và thinh lặng, bởi vì chính ở đó Thiên Chúa gặp gỡ và nói với chúng ta. Chỉ từ đó, tới phiên mình chúng ta mới có thể gặp gỡ tha nhân và nói chuyện với họ. Ông pharisêu  đã tiến tới đền thờ, tự tin, nhưng lại không nhận ra là ông đã lạc mất con đường của trái tim.

Người thu thuế trái lại – kẻ khác – tự trình diện trong đền thờ, nhưng cũng không dám hướng mắt lên trời, mà đấm ngực” (c. 13), Lời cầu của ông rất ngắn gọn: nó không dài như lời cầu của ông pharisêu: “Ôi, lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Không có gì hơn. “Ôi, lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. Lời nguyện thật đẹp. Chúng ta có thể lập lại ba lần, tất cả cùng nhau nhé? Nào hãy nói: “Ôi lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”. “Ôi lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”, “Ôi lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.

Thật ra, các người thu thuế được gọi như thế, bị coi như  những người ô uế, tùng phục các kẻ  thống trị ngoại quốc, bị dân chúng coi là xấu xa, và thường bị xếp hạng với những người tội lỗi. Dụ ngôn dậy rằng người ta công chính hay tội lỗi không bởi sụ tuỳ thuộc xã hội, nhưng do kiểu tương quan với Thiên Chúa và kiểu tương quan với các anh em khác. Các cử chỉ sám hối và ít lời đơn sơ của ông thu thuế chứng minh cho ý thức của ông liên quan tới tình trạng khốn cùng của ông. Lời cầu của ông nòng cốt. Ông hành động như người khiêm tốn, chỉ chắc chắn mình là một kẻ có tội cần sự thương hại. Nếu ông pharisêu không xin gì, bởi vì ông có tất cả, thì ông thu thuế chỉ có thể ăn mày lòng thương xót của Thiên Chúa mà thôi. Điều này đẹp phải không? Ăn mày lòng thương xót của Thiên  Chúa.

Khi trình diện với “đôi bàn tay trắng”, với con tim trần trụi và nhận mình là kẻ tội lỗi, người thu thuế cho tất cả chúng ta thấy điều kiện cần thiết để nhận được ơn tha thứ của Chúa. Sau cùng chính ông, bị khinh rẻ như vậy, lại trở thành hình ảnh của tín hữu đích thật.

Chúa Giêsu kết luận dụ ngôn với một phán quyết: “Tôi bảo anh em: người này nghĩa là ông thu thuế – khác với ông kia, trở về nhà mình được nên công chính, bời vì ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên.” (c. 14). Trong hai người này ai là người thối nát? Ông pharisêu. Ông pharisêu chính là hình ảnh của người thối nát giả bộ cầu nguyện, nhưng chỉ thành công trong việc khoe khoang chính mình trước một tấm gương. Ông là người thối nát nhưng giả vờ cầu nguyện. Như thế trong cuộc sống ai tin mình công chính, phán xét các người khác và khinh rẻ họ, là người thối nát, và là người giả hình. Sự kiêu căng làm hỏng mọi hành động tốt, khiến cho lời cầu nguyện thành trống rỗng và làm cho chúng ta xa cách với Thiên Chúa và với tha nhân.

Nếu Thiên Chúa ưa thích sự khiêm nhường thì không phải là để hạ nhục chúng ta: sự khiêm nhường là điều kiện cần thiết để được Chúa nâng lên và sống kinh nghiệm lòng thương xót đổ đầy vào con tim trống rỗng của chúng ta. Nếu lời cầu nguyện của kẻ kiêu căng không đạt tới trái tim của Thiên Chúa, thì sự khiêm nhường của kẻ bần cùng mở toang nó ra. Thiên Chúa có một sự yếu đuối: đó là sự yếu đuối đối với những kẻ khiêm nhường. Trước một con tim khiêm nhường,  Thiên Chúa mở rộng con tim Ngài một cách hoàn toàn. Và sự khiêm hạ này Đức Trinh Nữ Maria diễn tả trong bài thánh thi Magnificat: “Người đã nhìn đến phận hèn của nữ tỳ Người … đời nọ sang đời kia lòng thương xót Người đối với những kẻ kính sợ Người” (Lc 1,48-50. Xin Mẹ giúp chúng ta cầu nguyện với con tim khiêm tốn. Chúng ta hãy lập lại ba lần nữa lời cầu hay đẹp này: “Ôi lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” Ba lần: “Ôi lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” “Ôi lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” “Ôi lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”

ĐTC đã chào nhiều đoàn hành hương trong số 60.000 tín hữu và du khách hiện diện, đặc biệt các tín hữu đến từ nhiều giáo phận Pháp, như tín hữu giáo phận Bayonne do ĐGM sở tại hướng dẫn. Ngài cũng chào các đoàn hành hương đến từ các nước Anh, Ailen, Ecốt, Na Uy, Thụy Điển, Việt Nam, Tung Quốc, Indonesia, Philippines, Nigeria, Canada và Hoa Kỳ. Ngài cầu chúc Năm Thánh là thời điểm ơn thánh và canh tân tinh thần cho từng người và từng gia đình.

Trong số các đoàn hành hương nói tiếng Đức ngài chào các linh mục giáo phận Wuerzburg do ĐGM sở tại hướng dẫn.

Trong các nhóm nói tiếng Bồ Đào Nha ĐTC chào  học sinh và giáo viên trường Eça de Queiros, tín hữu giáo xứ Lapa và và tín hữu giáo phận Paraná bên Brasil. Ngài nhắc cho mọi nguời biết lời cầu nguyệnn rộng mở của con tim cho Thiên Chúa và mời gọi chúng ta đi ra ngoài gặp gỡ tha nhân, đặc biệt các anh chị em đang chiu thử thách và đem đến cho họ sự ủi an, ánh sáng và niềm hy vọng.

Trong các nhóm nói tiếng A Rập ĐTC chào một nhóm tín hữu Maronit đến từ Hoa Kỳ. Với các đoàn hành hương Ba Lan ĐTC nói  ngài hiệp ý với giới trẻ họp nhau tại Lednica trong tinh thần tín thác cuộc sống cho Chúa, với đúc tin mà cha ông họ đã lãnh nhân cách đây 1050 năm. Ngài cầu chúc họ luôn biết lập lại mỗi ngày tiếng Amen với Chúa.

Với các đoàn hành hương nói tiếng Ý ĐTC đặc biệt chào các nhóm đến từ nhiều giáo phận khác nhau, cũng như nhóm các tham dự viên khóa học do Bộ Phong Thánh tổ chức. Ngài khích lệ mọi người sống khiêm tốn, phổ biến lòng thương xót Chúa cho những người chung quanh và thăng tiến trong các giáo phận và dòng tu các án phong chân phước và phong thánh, lòng hăng say sống đức tin và tình thần truyền giáo và nên thánh.

Thứ sáu tới đây là lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, đặc biệt nhân dịp tĩnh tâm Năm Thánh của các linh mục và chủng sinh, ĐTC mời gọi mọi người cầu nguyện trong suốt tháng này và nâng đỡ gần gũi các linh mục để các vị là hình ảnh Thánh Tâm thương xót của Chúa. Ngài khích lệ giới trẻ biết kín múc nơi Thánh Tâm Chúa lương thực cho cuộc sống thiêng liêng. Với anh chị em đau yếu ngài xin họ kết hiệp các khổ đau của họ với các khô đau của Chúa. Ngài cũng nhắn nhủ các đôi tân hôn năng đến với Thánh Thể để cho cuộc sống gia đình được tình yêu của Thánh Tâm Chúa đánh động.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành toà thánh ĐTC ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải

Toàn câu có gần 50 triệu nô lệ, 60% ở Á châu

Toàn câu có gần 50 triệu nô lệ, 60% ở Á châu

Nô lệ trẻ em

Sydney – Hôm nay, Walk Free Foundation, một tổ chức bác ái do vợ chồng tỷ phú Andrew và Nicole Forrest thành lập, đã công bố số liệu thống kê về các nô lệ "thời hiện đại" toàn cầu. Trên thế giới hiện có ít nhất 45.8 triệu nô lệ; 2/3 trong số các nô lệ nam nữ, già trẻ này nằm ở vùng châu Á Thái bình dương. Á châu có số nô lệ đông nhất, khoảng 26.6 triệu – chiếm 58% tổng số nô lệ toàn cầu. Đó là số liệu do Global Slavery Index 2016 cung cấp.

Trong số 167 quốc gia, 5 quốc gia thuộc Á châu đứng đầu về số nô lệ tính theo phần trăm dân số, đó là: Bắc Triều tiên, Uzbekistan, Campuchia, Ấn độ và Qatar. Ở Bắc Triều tiên, nơi mạng lưới lao động cưỡng bức  ngày càng trở thành một phần của hệ thống sản xuất quốc gia. Đồng thời, hàng ngàn phụ nữ Bắc Triều tiên bị bán sang Trung quốc để làm vợ hay nô lệ tình dục. Ít nhất 4.37% dân nước này phải làm nô lệ. Ở Uzbekistan thì chính quyền buộc dân chúng thu hoạch bông vải mỗi năm. Cũng có khoảng 1.36% trên tổng số 2.3 triệu dân Qatar phải làm nô lê, đa số trong ngành công nghiêp xây dựng. Phần lớn các nô lệ nhập cư này đến từ Ấn độ, Nepal, Philippines, Sri Lanka và Bangladesh.

Nhưng nếu tính về số lượng thì các nước sau đây đứng đầu:  Ấn độ, Trung quốc, Pakistan, Bangladesh và Uzbekistan. Ấn độ đứng đầu với 18 triệu 350 ngàn người sống như nô lệ, rồi đến Trung quốc với 3,39 triệu, Pakistan có 2.13 triệu và Uzbekistan có 1.23 triệu. Nhiều nước đã dùng chế độ nô lệ cho hệ thống lao công rẻ tiền để sản xuất các sản phẩm cho thị trường ở Âu châu, Nhật, Bắc Mỹ và Úc.

Thống kê cho thấy tình trạng ở Hồng kông còn tồi tệ hơn Trung quốc, vì họ có ít chính sách bảo vệ những người ít tự vệ như phụ nữ, trẻ em hay nhập cư, khỏi trở thành nô lệ. Thậm chí người ta nghi ngờ là chính quyền có chính sách làm cho chế độ nô lệ dễ dàng hơn.

Theo các nhà nghiên cứu, có 3 lý do nuôi dưỡng ngành kinh doanh nô lệ: việc tìm kiếm giá thành sản phẩm thấp hơn; các tổ chức buôn nô lệ; và sự bóc lột con người bởi con người.

Theo Andrew Forrest, luật cấm nô lệ chống lại 3 yếu tố này, nhưng cũng đòi hỏi cộng đồng kinh doanh một sự trong sáng hơn về nơi chốn và cách thức tạo ra các sản phẩm mà họ bán. Có một cam kết quan trọng khác cũng là trách nhiệm của mỗi người: từ bỏ việc tiêu thụ được thúc đẩy bởi các sản phẩm với giá thành rẻ. (Asia News 31/5/2016)

Hồng Thủy OP

Làn sóng mới chống Công giáo ở Pháp và Bỉ

Làn sóng mới chống Công giáo ở Pháp và Bỉ

martigues-ste-madeleine church

Paris, Pháp – Trong những tuần lễ này, các tín hữu Công giáo ở Bỉ và Pháp đã phải chịu đựng những bạo lực và tấn kích như đốt các nhà thờ, tấn công Linh mục, phạm thánh nhà Tạm, nơi đặt Thánh Thể, và hơn 100 trang mạng internet bị tấn công.

Trong tập san định kỳ “La Provence”, cha Benoît Delabre kể rằng cách đây 2 tuần, bàn thờ của nhà thờ thánh Madeleine-de-l'Île ở Martigue, khoảng 800 cây số về phía nam của Paris, bị đốt cháy. Cũng may là bàn thờ bằng đá cẩm thạch nên ngọn lửa không cháy lan và nhà thờ không bị thiêu hủy. Cha cũng cho biết hôm 15/5, một người lạ đã xúc phạm nhà Tạm trong nhà thờ ở Jonquières, cũng trong vùng Martigue. Còn hôm Chúa nhật vừa qua, chính cha Delabre đã bị một người đàn ông tấn công khi cha bắt giữ ông ta ở cửa nhà thờ vì ông ta dường như đang cố lấy trộm đồ vật.

Gaby Charroux, thị trưởng của Martigues nói là trộm cắp tại các nhà thờ ở Pháp rất thường xuyên và hứa là cảnh sát sẽ ngăn chặn các cuộc tấn công.

Báo La Croix thuật lại là trong tháng 4, hơn 100 trang mạng internet của các nhà thờ và nhà dòng bị tấn công bởi các tin tặc chiến binh thánh chiến người Tunisi; họ tự gọi mình là nhóm Fallaga.

Ở Bỉ, chiều ngày 24/5, 2 vụ hỏa hoạn làm thiệt hại đáng kể nhà thờ có từ thế kỷ 16 ở Mont-Sainte-Geneviève. Vụ đầu tiên bắt đầu từ phòng thánh trong khi vụ thứ 2 bắt đầu từ mái nhà thờ. Các cảnh sát ở Hainut, 37 dặm về phía đôn gnam thủ đô Brussel đang truy tìm thủ phạm. (CNA 2/6/2016)

Hồng Thủy OP

Một phụ nữ Kitô giáo bị đánh đòn theo luật Hồi giáo

Một phụ nữ Kitô giáo bị đánh đòn theo luật Hồi giáo

Bị đánh đòn theo luật sharia Hồi giáo

Banda Aceh, Indonesia – Lần đầu tiên một phụ nữ người Indonesia không phải Hồi giáo bị phạt đánh đòn theo những điều luật của luật Hồi giáo sharia, ở tỉnh Aceh, miền bắc của đảo Sumatra.

Remita Sinaga, một phụ nữ 60 tuổi, theo đạo Tin lành, đã bị phạt đánh đòn ở thành phố Takengon thuộc tỉnh Aceh. Phụ nữ này đã bị buộc tội bởi một tòa án Hồi giáo vì bán rượu, sau khi cảnh sát tịch thu 50 chai rượu từ cửa hàng của bà. Sinaga đã bị đánh đòn 30 roi.

Ở Aceh, luật sharia áp dụng cho các tín hữu Hồi giáo nhưng những người không phải Hồi giáo có thể chọn theo luật này. Một số quan chức địa phương cho biết người phụ nữ này đã tình nguyện chọn bị đánh đòn vì cô nghĩ hình phạt khác sẽ nặng hơn như bị giam tù một thời gian. Vào năm 2015, chính quyền Indonesia đã cấm các cửa tiệm nhỏ bán rượu.

Vào năm 2002, để xoa dịu sự nổi dậy của những người đòi độc lập chính quyền trung ương đã cho phép tỉnh Aceh, nơi phần lớn trong tổng số 4.7 triệu cư dân là Hồi giáo, một chế độ "tự trị đặc biệt”. Bộ luật Hồi giáo mới được tỉnh này chuẩn y vào năm 2014 và áp dụng vào tháng 10/ 2015. Bộ luật phạt những ai có quan hệ tính dục ngoài hôn nhân, những người uống hay bán rượu, cờ bạc. Theo tổ chức phi chính phủ “Kontras”, một tổ chức bảo vệ và phát triển nhân quyền, “việc đánh đòn là một hình phạt phi nhân và là một hình thức bạo hành mà không nên được cho phép ở Indonesia (Agenzia Fides 2/6/2016)

Hồng Thủy OP