Toà Án Vatican phán quyết chung kết vê vụ Vatileaks 2

Toà Án Vatican phán quyết chung kết vê vụ Vatileaks 2

Vatileak 2 final

VATICAN: Sau 21 phiên xử, chiều ngày mùng 7-7 vừa qua Toà án quốc gia thành Vatican đã phán quyết chung kết liên quan tới vụ Vatileaks 2.

Thẩm phán đoàn đã kết án Đức Ông Angel Lucio Vallejo Balda, người Tây Ban Nha, Thư ký Sở Kinh tế Toà Thánh, 18 tháng tù vì tội lấy và chuyển tài liệu mật của Toà Thánh cho hai nhà báo Ý. Bà Francesca Immacolata Chaouqui, người Ý, đồng loã trong vụ này, bị kết án 10 tháng tù.  

Hai nhà báo đã dùng các tài liệu để phát hành sách hồi mùa thu năm ngoái là Emiliano Fittipaldi và Gianluigi Nuzzi, được tha bổng, vì Toà án quốc gia thành Vatican không trực tiếp có thẩm quyền pháp lý trên hai người.

Trong thông cáo phổ biến sau đó cha Federico Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí  Toà Thánh, cho biết Hệ thống tư pháp Toà Thánh đã phải xử vụ này, vì trong các năm qua nó đã đưọc phát triển để đối phó với các đòi hỏi chống lại tình trạng bất hợp pháp trong nhiều lãnh vực. Ngoài ra cũng là để chứng minh cho thấy ý chí cương quyết chống lại các hậu quả không đúng đắn do các căng thẳng và tranh cãi nội bộ gây ra, và từ ít lâu nay bị phản ánh  trên các phương tiện truyền thông bên ngoài có đuợc tin tức vì do sự không kín đáo hay các rò rỉ. Điều này tạo ra vòng tròn và bối cảnh mập mờ tiêu cực giữa các thảo luận nội bộ và các phóng lại bên ngoài qua các phương tiện truyền thông, với các hâu quả tiêu cực trên dư luận công cộng có quyền được thông tin một cách khách quan và thanh thản.

Để hiểu biết và lượng định các khiá cạnh khác nhau của tình trạng này thật là điều đúng đắn can đảm đương đầu với chiều kích vai trò và trách nhiệm của các nhà báo trong lãnh vực này, mặc dù có các tranh luận liên quan tới quyền tự do báo chí, là quyền cần bảo vệ, nhưng nó cũng  có các giới hạn cần tôn trọng, nếu có các thiện ích quan trọng khác cần bênh vực; và thật là đúng đắn kiểm thực xem điểu này có xảy ra hay không. Như đã lập lại nhiều lần, đây không phải là một vụ xử án chống lại quyền tự do báo chí.

Cả Đức Nguyên Giáo Hoàng Biển Đức XVI, tuy chưa có luật hiện hành, nhưng cũng đã cho rằng công lý loài người phải được thi hành đối với ông quản gia của ngài cho tới khi có phán quyết. Cũng thế, giờ đây, cả khi việc phát tán tài liệu liên quan tới một giáo sĩ quan trọng, sẽ là điều không đúng đắn, nếu đối xử một cách khác.

Vụ xử án đã đưọc thực thi với ý chí hoàn toàn tôn trọng các luật lệ, các thủ tục, các đòi buộc quyền lợi và biện hộ của các bị can. Với các thẩm phán và trạng sư chuyên nghiệp và với các cuộc thảo luận công khai trong sáng. Đã có các chứng tá uy tín được lắng nghe bên trong và bên ngoài, và thời gian vụ xử cũng ngắn gọn.

Phán quyết đã được Thẩm phán đoàn đưa ra trong sự độc lập hoàn toàn, với thái độ công bằng  và độ lượng, theo tinh thần của việc canh tân luật hình sự do ĐGH Phaolo VI đề ra năm 1969. Như tất cả những người đã theo dõi vụ xử có thể hiểu một cách dễ dàng, cuộc tranh luận đã có một vai trò nền tảng trong việc đưa ra phán quyết của Thẩm phán đoàn, không dựa trên các lập trường có sẵn, và đạt được các phán xử đáng vui mừng. Các lý do của phán quyết sẽ được đệ trình và cho biết trong các tuần tới. Giờ đây có ba ngày để các bị can có thể kháng cáo.

Tuy có nỗi buồn mà mọi vi phạm và hậu quả của vụ xử án gây ra, nhưng cầu mong rằng người ta có thể rút tiả ra các kết luận và các suy tư hữu ích để phòng ngừa việc lập lại các tình trạng tương tự trong tương lai (SD 7-7-2016)

Linh Tiến Khải

Người nghèo là kho tàng của Giáo Hội

Người nghèo là kho tàng của Giáo Hội

ĐTC Phanxicô tiếp phái đoàn người nghèo các giáo phận Pháp hành hương Năm Thánh Lòng Thương Xót ngày 6-7-2016

VATICAN: Anh chị em ở trong tim Giáo Hội và anh chị em cho phép chúng tôi gặp gỡ Chúa Giêsu, vì toàn cuộc sống của anh chị em nói về Ngài.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên trong buổi tiếp kiến đoàn hành hương 200 người nghèo thuộc các giáo phận Pháp lúc 9 giờ sáng hôm qua (6-7) trong đại thính đường Phaolô VI. ĐTC nói: dù hoàn cảnh, lịch sử và gánh nặng của anh chị em thế nào đi nữa, thì chính Chúa Giêsu tụ họp chúng ta;  Ngài tiếp đón từng người như họ là, và trong Ngài chúng ta tất cả là anh chị em với nhau, con của cùng một Thiên Chúa Cha. Với  các vị đồng hành với anh chị em, anh chị em làm chứng cho tình huynh đệ, yêu thương trợ giúp nhau, tạo điều kiện cho nhau đi hành hương, và anh chị em trao ban chính Chúa Giêsu cho họ và cho tôi. Vì Chúa Giêsu đã muốn chia sẻ điều kiện của anh chị em, vì yêu thương, Ngài đã trở thành một người trong anh chị em: bị người khác khinh rẻ, quên lãng, một người không là gì cả. Nhưng Giáo Hội yêu thương và ưa thích điều Chúa Giêsu đã yêu thương và ưa thích.  Giáo Hội sẽ không an lòng cho tới khi nào không tới với tất cả những người  sống kinh nghiệm bị khước từ, loại bỏ và không có giá trị đối với người khác.

ĐTC cũng cám ơn các người đồng hành với đoàn hành hương người nghèo vì tất cả những gì họ đã làm để giúp các anh chị em này về hành hương Roma trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Họ đã trung thành với lý tưởng của cha Giuseppe Wresinski, chia sẻ cụ thể điều kiện sống của dân nghèo, chứ không yêu thương trong lý thuyết. Các lý thuyết trừu tượng dẫn đưa tới các ý thức hệ và các ý thức hệ dẫn đưa chúng ta tới chỗ chối bỏ rằng Thiên Chúa đã làm người như chúng ta. Cuộc sống chia sẻ với người nghèo biến đổi và hoán cải chúng ta. Anh chị em đã bước vào cuộc sống và sự thất vọng của người nghèo và đã dấy lên một cộng đoàn tái trao ban cho họ một cuộc sống, một căn cước, một phẩm giá. Và Năm Thánh Lòng Thương Xót là dịp giúp tái khám phá và sống chiều kích liên đới, huynh đề, trợ giúp và nâng đỡ nhau. Anh chị em hãy duy trì lòng can đảm giữa các âu lo, duy trì niềm vui và hy vọng. Ước chi ngọn lửa ấy đừng tắt ngấm nơi anh chị em.

ĐTC đã phó thác cho các anh chị em nghèo một sứ mạng: đó là cầu nguyện cho ơn hoán cải của tất cả những ai là nguyên nhân tình trạng sống nghèo túng của họ, để xin ơn hoàn cải cho họ; cầu nguyện cho biết bao nhiêu người giầu ăn mặc sang trọng, mở tiệc tưng bừng, nhưng không nhận ra biết bao nhiêu Ladarô nghèo trước cửa nhà thèm một chút thức ăn thừa từ bàn của họ. Cầu nguyện cho các tư tế, các lêvi tránh né và ngoảnh mặt đi qua, không cứu giúp người bị nạn dở sống dở chết. Cầu nguyện cho họ và cho biết bao nhiêu người khác dính líu tới cảnh nghèo túng và khổ đau của ho, mỉm cười với họ từ thâm tâm, cầu mong sự lành cho họ và xin  Chúa Giêsu hoán cải họ. Nếu anh chị em làm điều đó, tôi bảo đảm với anh chị em là sẽ có niềm vui lớn trong Giáo Hội, trong tim anh chị em và trong nước Pháp thân yêu (SD 6-7-2016)

Vatican Radio

Đức Thánh Cha khuyến khích chiến dịch hòa bình cho Syria

Đức Thánh Cha khuyến khích chiến dịch hòa bình cho Syria

Đức Thánh Cha khuyến khích chiến dịch hòa bình cho Syria

VATICAN. ĐTC Phanxicô khuyến khích chiến dịch của Caritas cho hòa bình tại Siria đồng thời lên án sự tài trợ võ khí nuôi chiến tranh tại đây.

Trong sứ điệp Video phổ biến hôm 5-7-2016, ĐTC bày tỏ đau buồn vì chiến tranh tại Siria nay đã bước sang năm thứ 5. ”Đó là một tình trạng đau khổ khôn tả, nạn nhân là những người dân Syria phải sống dưới bom đạn hoặc tìm đường trốn chạy ra nước ngoài: bỏ lại nhà cửa và mọi sự..” ĐTC nói: ”Tôi cũng nghĩ đến các cộng đoàn Kitô mà tôi hoàn toàn hỗ trợ vì những kỳ thị mà họ đang phải chịu”.

”Tôi muốn ngỏ lời với tất cả các tín hữu và những người, cùng với Caritas, đang dấn thân trong việc xây dựng một xã hội công chính hơn. Trong khi dân chúng chịu đau khổ, thì số lượng tiền bạc không thể tưởng tượng nổi được chi phí cho việc cung cấp võ khí cho những người đang đánh nhau. Và một số nước cung cấp các võ khí ấy, cũng thuộc vào số những nước nói về hòa bình. Làm sao ta có thể tin những người tay phải thì vuốt ve bạn, còn tay trái thì đánh bạn”.

ĐTC nói thêm rằng: ”Tôi khuyến khích tất cả mọi người, người lớn và người trẻ, hãy hăng hãi sống Năm Lòng Thương Xót này để khắc phục sự dửng dưng lãnh đạo và mạnh mẽ tuyên bố rằng hòa bình ở Syria là điều có thể!”

”Tôi mời gọi cầu nguyện cho hòa bình ở Syria và cho nhân dân nước này nhân dịp những buổi canh thức cầu nguyện, các sáng kiến gây ý thức nơi các nhóm, trong các giáo xứ và các cộng đoàn, để phổ biến một sứ điệp hòa bình, hiệp nhất và hy vọng”.

”Kèm theo lời cầu nguyện là những hoạt động cho hòa bình – ĐTC nói – Tôi mời gọi anh chị em hãy ngỏ lời với những người can dự vào các cuộc hòa đàm để họ coi trọng các hiệp định và dấn thân làm sao để các đồ cứu trợ nhân đạo được đưa tới cho các nạn nhân một cách dễ dàng.

”Tất cả phải nhìn nhận rằng không có một giải pháp quân sự cho Syria, nhưng chỉ có một giải pháp chính trị. Vì thế cộng đồng quốc tế phải hỗ trợ các cuộc hòa đàm, tiến tới việc thiết lập một chính phủ đoàn kết quốc gia.

Và ĐTC kết luận rằng: ”Chúng ta hãy liên kết mọi nỗ lực, trên mọi cấp độ, để hòa bình trở thanh điều có thể trên đất nước Siria yêu quí. Đây sẽ là một ví dụ hùng hồn về lòng thương xót và tình yêu được sống thực sể mưu ích cho toàn thể cộng đồng quốc tế” (SD 5-7-2016)

G. Trần Đức Anh OP 

Đọc Kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha, Chúa Nhật 14 Thường Niên

Đọc Kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha, Chúa Nhật 14 Thường Niên

Buổi Đọc Kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha, Trưa Chúa Nhật 14 Thường Niên

VATICAN. Trong buổi đọc kinh truyền tin trưa Chúa Nhật, ngày 03.07, với vài chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu, Đức Thánh Cha Phanxicô nói rằng mỗi người chúng ta hãy biết nài xin sự giúp sức của Thiên Chúa trước cánh đồng lúa chính vàng, và chính mỗi người chúng ta cũng phải trở nên những người thợ trong cánh đồng lúa ấy để loan báo Tin Mừng đến cho hết thảy mọi người.

Bài huấn dụ của Đức Thánh Cha

“Bài đọc Tin Mừng ngày hôm nay, trích từ chương thứ 10 Tin Mừng theo Thánh Luca (Lc, 1-12.17-20), giúp chúng ta hiểu sự cần thiết của việc kêu cầu Thiên Chúa: ‘Xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về ‘(Câu 2). Những người thợ mà Đức Giêsu nói đến chính là những thừa sai của Triều Đại Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã kêu gọi và sai ‘cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến’ (Câu 1). Nhiệm vụ của các thừa sai là loan truyền thông điệp cứu độ đến tất cả mọi người. Không chỉ những nhà truyền giáo ở những nơi xa xôi, nhưng chính chúng ta cũng là những thừa sai, những người nói những lời tốt lành về ơn cứu độ. Đây chính là món quà mà Đức Giêsu đã ban tặng cho chúng ta với Thần Khí. Lời loan báo ấy là: ‘Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông’ (Câu 9). Thực vậy, Đức Giêsu đã mang Thiên Chúa đến gần với chúng ta, Thiên Chúa đã trở nên một người như chúng ta; trong Đức Giêsu, Thiên Chúa cư ngụ giữa chúng ta, tình yêu thương xót của Người chiến thắng tội lỗi và đau khổ của chúng ta.

Đây là Tin Mừng mà những ‘người thợ’ phải mang đến cho tất cả mọi người: một thông điệp của sự hy vọng và của sự ủi an, của hòa bình và của lòng bác ái. Đức Giêsu, khi sai các môn đệ đi trước vào các thành thị và làng mạc, đã căn dặn các ông: ‘Trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này.”… Hãy chữa trị những người đau yếu trong thành’ (Câu 5.9). Tất cả những điều này có nghĩa là Triều Đại Thiên Chúa được xây dựng từng ngày từng ngày và làm trổ sinh trên trái đất này những hoa trái của sự hoán cải, của sự thanh tẩy, của tình yêu và của sự ủi gian giữa người với người. Thật là đẹp biết bao khi người ta biết xây dựng mỗi ngày Triệu Đại Thiên Chúa. Dựng xây chứ không phá hủy.

Người môn đệ của Đức Giêsu phải thực hiện sứ vụ này với một tinh thần như thế nào? Trước hết, anh phải ý thức về thực tại khó khăn và đôi khi cả sự thù địch đang chờ đợi anh phía trước. Thật vậy, Đức Giêsu đã nói: ‘Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bày sói’ (Câu 3). Sự thù địch bao giờ cũng là khởi đầu của những bách hại, vì Đức Giêsu biết rằng sứ vụ luôn bị cản trở bởi những hành động chống phá của ma quỷ. Vì thế, người thợ của Tin Mừng phải nỗ lực để được tự do, thoát khỏi những điều kiện nhân loại trong mọi hình thức, tức là không mang theo bao bị, túi tiền, giầy dép (Câu 4) như Đức Giêsu đã căn dặn, để chỉ tín thác vào quyền năng của Thập Giá Đức Kitô mà thôi. Điều này có nghĩa là người môn đệ phải loại bỏ mọi động cơ liên quan đến hư danh cá nhân ngõ hầu có thể trở thành khí cụ khiêm nhường của ơn cứu độ đã được thực hiện bởi sự hiến tế của Đức Giêsu, Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta.

Trở thành những Kitô hữu như thế là một sứ mạng tuyệt vời dành cho hết mọi người, không trừ một ai; điều này đòi hỏi rất nhiều lòng quảng đại, trên hết là có cái nhìn và một tâm hồn hướng thượng để nài xin sự giúp sức của Thiên Chúa. Chúng ta đang cần rất nhiều những Kitô hữu biết làm chứng cho Tin Mừng với niềm vui tươi trong cuộc sống hằng ngày. Các môn đệ, sau khi được Đức Giêsu sai đi, đã trở về trong vui tươi hớn hở (Câu 17). Khi chúng ta được sai đi như các môn đệ, tâm hồn chúng ta cũng ngập tràn niềm vui. Sự diễn tả này làm tôi nghĩ đến niềm vui trong Giáo hội. Mẹ Giáo hội mừng vui khi con cái mình được nhận lãnh Tin Mừng nhờ sự cống hiến, dấn thân của biết bao nhiêu người trong việc rao giảng: các linh mục, các cha xứ tốt lành, các nữ tu, các tu sĩ, các thừa sai, các nhà truyền giáo. Và giờ đây, tôi nhận thấy một câu hỏi đang dấy lên trong lòng là: Liệu có bao nhiêu bạn trẻ đang hiện diện nơi đây, trong quảng trường này, nghe thấy lời mời gọi của Thiên Chúa bước đi theo Ngài? Các bạn trẻ thân mến, các con đừng sợ hãi. Hãy cảm đảm và mang đến cho người khác ngọn đuốc cháy sáng của lòng nhiệt huyết tông đồ đã được để lại bởi gương mẫu của các môn đệ.

Chúng ta hãy cầu xin Chúa, với sự bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria, để trong Giáo Hội, đừng bao giờ thiếu những tâm hồn quảng đại, luôn lao tác làm việc nhằm mang đến cho mọi người tình yêu và sự hiền lành của Cha trên trời.

Chào mừng và mời gọi

Sau Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha đã gởi lời chào thân ái đến tất cả các tín hữu ở Roma và khách hành hương đến từ Italia cũng như các quốc gia khác. Đức Thánh Cha cũng đặc biệt chào mừng các nhóm, các đoàn thể đang tề tề tựu nơi đây trong buổi đọc Kinh Truyền Tin này.  

Đức Thánh Cha cũng nói thêm rằng trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, ngài cảm thấy niềm hạnh phúc xâu xa vì thứ tư tới đây, toàn thể Giáo hội sẽ mừng lễ thánh nữ Maria Goretti, một thánh nữ tử vì đạo. Trước lúc chết, thánh nữ sẵn lòng tha thứ cho kẻ đã sát hại mình.

Cuối cùng Đức Thánh Cha chúc tất cả mọi người ngày Chúa nhật tốt lành và ngài cũng không quên xin mọi người cầu nguyện cho ngài.

Vũ Đức Anh Phương SJ

Sứ điệp của Đức Thánh Cha gửi Đại hội ”Cùng nhau cho Âu Châu”

Sứ điệp của Đức Thánh Cha gửi Đại hội ”Cùng nhau cho Âu Châu”

Cùng nhau cho Âu Châu

VATICAN. ĐTC tố giác hiện tượng nhiều loại bức tường được dựng lên tại Âu Châu và ngài kêu gọi can đảm thay đổi, tận dụng gia sản phong phú của mình.

Trên đây là nội dung sứ điệp Video ĐTC gửi các tham dự viên Đại hội ”Cùng nhau cho Âu Châu” lần thứ 4 tiến hành tại thành phố Munich nam Đức từ 30-6 đến 2-7-2016.

Đại Hội này qui tụ nhiều hoạt động của các Cộng đoàn và Phong trào Giáo Hội Công Giáo, và của các tín hữu Kitô khác nhắm bênh vực gia đình, bảo vệ sự sống và thiên nhiên, cổ võ một nền kinh tế công chính, liên đới với người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, hòa giải và hòa bình, thiện ích của các thành thị và tình liên đới tại Âu Châu.

Trong sứ điệp được công bố tại Quảng trường Karlplatz ở trung tâm thành Munich, ĐTC nhận xét rằng: ”Ngoài một số bức tường hữu hình, còn có nhiều bức tường vô hình đang được củng cố thêm, chúng nhắm chia rẽ đại lục Âu Châu này. Những bức tường được dựng lên trong tâm hồn con người. Những bức tường sợ hãi và gây hấn, thiếu cảm thông đối với những người có nguồn gốc và xác tín tôn giáo khác. Những bức tường ích kỷ chính trị và kinh tế, không tôn trọng sự sống và phẩm giá của mỗi người”.

ĐTC nói thêm rằng: ”Âu châu đang ở trong một thế giới phức tạp và chuyển động mạnh mẽ, ngày càng hoàn cầu hóa nhiều hơn, và vì thế ngày càng bớt qui vào Âu Châu. Nếu chúng ta nhận thực các vấn đề lớn lao ấy, chúng ta phải có can đảm nói: chúng ta đang cần một thay đổi! Âu Châu được kêu gọi suy nghĩ và tự hỏi xem gia sản vô biên của mình, chịu ảnh hưởng của Kitô giáo, đang thuộc về một viện bảo tàng, hay vẫn còn có khả năng gợi hứng một nền văn hóa và trao tặng kho tàng của mình cho toàn thể nhân loại”.   Trong những ngày hội họp vừa qua, có sự tham dự của nhiều nhân vật như ĐHY Peter Turkson, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và hòa bình, ĐHY Kasper, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, ĐHY LLuis Martinez Sistach, nguyên TGM giáo phận Barcelona Tây Ban Nha, cùng một số HY khác. Đặc biệt cũng có sự hiện diện của Mục Sư Olav Fykse Tveit, Tổng thư ký Hội đồng đại kết các Giáo Hội Kitô ở Genève, Thụy Sĩ. Ngoài ra có các thủ lãnh và thành viên nhiều Cộng đoàn và Phong trào của Giáo Hội. Có 36 cuộc thảo luận bàn tròn và diễn đàn giúp trao đổi kinh nghiệm và viễn tượng liên quan đến Âu Châu.

ĐTC nói với họ: ”Anh chị em là các cộng đoàn và phong trào Kitô nảy sinh ở Âu Châu, anh chị em mang nhiều đoàn sủng, hồng ân Chúa ban. ”Cùng nhau cho Âu Châu” là một sức mạnh liên kết, với mục tiêu rõ ràng là diễn tả các giá tri căn bản của Kitô giáo thành những câu trả lời cụ thể cho những thách đố mà một đại lục đang khủng hoảng gặp phải.”

”Lối sống của anh chị em dựa trên tình thương yêu nhau, sống với tinh thần quyết liệt của Tin Mừng. Một nền văn hóa hỗ tương có nghĩa là đối chiếu, quí chuộng nhau, đón nhận và nâng đỡ nhau. Nó có nghĩa là đề cao giá trị của những đoàn sủng khác nhau, để qui hướng tất cả vào sự hiệp nhất và làm cho nền văn hóa ấy được phong phú. Sự hiện diện của Chúa Kitô giữa anh chị em, trong sáng và cụ thể, là chứng tá làm cho người khác tin”.

Sau cùng, ĐTC khẳng định rằng: ”Nếu toàn thể Âu Châu muốn là một gia đình các dân nước thì cần đặt con người ở trung tâm, cần cởi mở và có tinh thần hiếu khách, tiếp tục thực hiện những hình thức cộng tác không những về kinh tế, nhưng cả về mặt xã hội và văn hóa nữa” (SD 2-7-2016)

G. Trần Đức Anh OP 

Đức Thánh Cha sẽ viếng trại Auschwitz trong thinh lặng

Đức Thánh Cha sẽ viếng trại Auschwitz trong thinh lặng

Trại Auschwitz

VATICAN. ĐTC Phanxicô sẽ viếng thăm trại tập trung Auschwitz Birkenau bên Ba Lan vào ngày 25 tháng 7 tới đây, trong thinh lặng và cầu nguyện, sẽ không có diễn văn nào nhân dịp này.

Hôm 30-6-2016, cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh xác nhận sự thay đổi trên đây. Theo chương trình do Phòng báo chí Tòa Thánh công bố hôm 29-6 trước đó, ĐTC sẽ đọc một bài diễn văn tại đài tưởng niệm ở trại Birkenau giống như Đức Gioan Phaolô 2 và Đức Biển Đức 16 đã làm. Nhưng nay, có sự thay đổi như vừa nói.

Trên chuyến bay từ Armenia về Roma hôm 26-6-2016, Cha Lombardi đã ám chỉ đến sự thay đổi đó và ĐTC trả lời. Ngài nói: ”Hồi năm 2014, khi viếng nghĩa trang quân đội Redipuglia ở miền bắc Italia, nhân kỷ niệm 100 năm thế chiến thứ I bùng nổ, tôi đã bước đi trong thinh lặng giữa các ngôi mộ. Rồi sau đó, trong thánh lễ, tôi đã giảng, nhưng đây là chuyện khác. Cũng vậy tôi muốn đến chỗ kinh hoàng tại Auschwitz Berkenau, không có diễn văn, cũng chẳng có đám đông, chỉ một vài người cần thiết. Một mình đi vào, cầu nguyện, và xin Chúa ban cho tôi ơn được khóc”.

Cha Lombardi giải thích rằng sự im lặng của ĐTC Phanxicô không có nghĩa là ngài không có gì để nói về sự kinh hoàng của cuộc diệt chủng Do thái, điều quan trọng là tưởng niệm và cần phải tiếp tục bài trừ nạn bài Do thái. Chẳng hạn ngày 17-1 năm nay, khi viếng Hội đường Do thái ở Roma, ĐTC nói:

 ”Quá khứ phải là một bài học cho chúng ta trong hiện tại và tương lai.. Cuộc diệt chủng Do thái dạy chúng ta rằng sự cảnh giác tối đa luôn luôn là điều cần thiết để mau lẹ can thiệp bảo vệ phẩm giá con người và hòa bình”. (CNS 30-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP 

Sách mới về nội dung cuộc phỏng vấn với Đức nguyên Giáo hoàng Biển đức

Sách mới về nội dung cuộc phỏng vấn với Đức nguyên Giáo hoàng Biển đức

Đức nguyên Giáo hoàng Biển đức

Vatican – Nội dung cuộc một cuộc phỏng vấn của ký giả Peter Seewald với Đức nguyên Giáo hoàng Biển đức XVI sẽ được xuất bản trong một cuốn sách tiếng Đức có tựa đề: “Letzte Gespräche” (Các cuộc đối thoại cuối cùng) vào tháng 9 tới đây, theo nhật báo “Corriere della Sera” của Italia.

Nhật báo “Corriere della Sera” cũng cho biết cuốn sách nói về việc Đức nguyên Giáo hoàng biết đến một “nhóm đồng tính quyền lực” trong Vatican và ngài đã có thể dẹp tan quyền lực của họ; việc ngài giữ một cuốn nhật ký trong suốt triều Giáo hoàng của ngài nhưng ngài muốn đốt nó đi dù là các nhà lịch sử sẽ có thể tìm thấy nó có giá trị; sự ngạc nhiên của Đức nguyên Giáo hoàng Biển đức khi Đức Giáo hoàng Phanxicô được bầu chọn và niềm vui của ngài khi thấy cách Đức tân Giáo hoàng cầu nguyện trước công chúng và có thể giao tiếp với đám đông; việc ngài nói về những điều giống và khác nhau giữa ngài và Đức Giáo hoàng Phanxicô.

Trên trang web của mình, nhà xuất bản tiếng Đức Droemer Knaur cho biết Đức nguyên Giáo hoàng Biển đức XVI nói về những ưu tiên trong triều đại Giáo hoàng của ngài, về VatiLeaks, về Đức Giáo hoàng Phanxicô và các vấn đề gây tranh cãi về chức Giáo hoàng của mình. Ngài thảo luận những thử thách mà Giáo hội Công giáo đang đối mặt, nhưng cũng nhìn lại những kỷ niệm của gia đình và những sự kiện trong cuộc đời mình.

Khi còn là Hồng Y, Đức nguyên Giáo hoàng Biển đức cũng đã có các cuộc phỏng vấn được thực hiện bởi cùng tác giả Seewald và nội dung đã được xuất bản trong 2 cuốn sách: “Muối Đất” (xuất bản tiếng Đức năm 1996) và “Thiên Chúa và Thế Giới” (xuất bản tiếng Đức năm 2000). Sau khi được chọn làm Giáo Hoàng, ngài và cùng tác giả Seewald đã phát hành cuốn sách “Ánh Sáng Thế Gian” vào năm 2010. (CNS/CNA 1/7/2016)

Hồng Thủy Op

Đức Thánh Cha: Lòng thương xót không có việc làm là ”chết”

Đức Thánh Cha: Lòng thương xót không có việc làm là ”chết”

ĐTC trong buổi tiếp kiến chung sáng 30-6-2016

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến chung sáng 30-6-2016, ĐTC nhắc nhở cho các tín hữu rằng ”lòng thương xót nếu không có việc làm thì tự nó chết”.

Hôm qua là buổi tiếp kiến chung được thêm vào trong Năm Thánh và là buổi cuối cùng trước mùa hè. Trong tháng 7, ĐTC ngưng các buổi tiếp kiến.

Trong bài huấn dụ về đề tài ”các công việc từ bi thương xót” trước sự hiện diện của 30 ngàn tín hữu trong đó có khoảng 50 tín hữu hành hương người Việt, ĐTC nhấn mạnh đến sự cần thiết phải bày tỏ lòng thương xót qua các công việc cụ thể. Điều làm cho lòng thương xót sinh động chính là động thái liên lỷ đi đáp ứng nhu cầu và sự cần thiết của những người nghèo khổ về tinh thần và vật chất. Lòng thương xót có mắt để thấy, có tai để nghe, có đôi tay để nâng đỡ.”

ĐTC mời gọi các tín hữu đặc biệt quan tâm nhận ra tình trạng đau khổ và túng thiếu của bao nhiêu anh chị em. Nhiều khi chúng ta đứng trước những tình trạng nghèo khổ bi thảm nhưng dường như chúng ta không cảm thấy xúc động. Tất cả diễn ra như thể không hệ gì, trong một sự dửng dưng, đến độ làm cho chúng ta trở nên giả hình và lãnh đạm, không còn tâm hồn nhạy cảm nữa, và cuộc sống không còn mang lại hoa trái.

ĐTC nhắc đến bao nhiêu khía cạnh của lòng thương xót của Thiên Chúa đối với chúng ta và ngài nói: ”Cũng vậy, bao nhiêu người tìm đến chúng ta để được lòng từ bi thương xót. Ai đã cảm nghiệm trong cuộc sống của mình lòng thương xót của Chúa Cha thì không thể không nhạy cảm trước những nhu cầu của anh chị em mình… Những công việc từ bi thương xót không phải là những đề tài lý thuyết, nhưng là những chứng tá cụ thể, đòi chúng ta phải xắn tay áo lên để thoa dịu những đau khổ của nhân loại.

Trong bài huấn dụ, ĐTC nhận xét rằng trong thế giới hoàn cầu hóa, một số nạn nghèo đói vật chất và tinh thần gia tăng, vì thế chúng ta cần có tinh thần sáng tạo về đức bác ái để đề ra những hình thức hành động mới. Nhờ đó con đường thương xót sẽ luôn trở nên cụ thể hơn”.

Trong phần thứ hai của bài huấn dụ tại buổi tiếp kiến dưới trời nắng, ĐTC nhắc đến cuộc viếng thăm mục vụ ngài mới thực hiện tại Armeni, quốc gia đầu tiên đã theo Kitô giáo, hồi đầu thế kỷ thứ 4. Armeni, một dân tộc, qua dòng lịch sử dài đã làm chứng cho đức tin Kitô bằng sự tử đạo. Ngài nồng nhiệt cám ơn Tổng thống, Đức Tổng thượng phụ Karekin II, Đức Thượng Phụ, các GM Công Giáo và toàn dân Armeni đã đón tiếp ngài.

Và ĐTC loan báo: ”Trong vòng 3 tháng nữa, nếu Chúa muốn, tôi sẽ đến thăm Cộng hòa Georgia và Azerbaigian, hai nước cùng thuộc vùng Caucase. ”Tôi nhận lời viếng thăm hai nước này vì hai lý do: một đàng là để đề cao giá trị của những căn cội Kitô kỳ cựu tại miền ấy, luôn ở trong tinh thần đối thoại với các tôn giáo và các nền văn hóa khác; đàng khác là để khích lệ những hy vọng và những con đường hòa bình. Lịch sử dạy chúng ta rằng con đường hòa bình đòi phải kiên nhẫn rất nhiều và có những bước liên tục, bắt đầu từ những bước nhỏ, và dần dần tăng trưởng thêm, đi gặp gỡ người khác. Chính vì thế tôi cầu chúc tất cả và từng người đóng góp phần của mình cho sự hòa giải” (RG 30-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP 

Lời cầu nguyện mở ra lối thoát trong cuộc sống cá nhân và cộng đoàn

Lời cầu nguyện mở ra lối thoát trong cuộc sống cá nhân và cộng đoàn

ĐTC Phanxicô chủ sự thánh lễ kính hai thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô và làm phép dây Pallium sáng 29-6-2016

Lời cầu nguyện giúp thắng vượt các khéo kín và cho phép ơn thánh mở một lối ra trong cuộc sống chúng ta: từ khép kín tới rộng mở, từ sợ hãi tới can đảm, từ buồn phiền tới niềm vui. Và chúng ta có thể thêm từ sự chia rẽ tới hiệp nhất.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên trong bài giàng thánh lễ cử hành lúc 9 giở 30 sáng 29-6-2016, lễ kính hai thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô. Cùng đồng tế với ĐTC có 40 Hồng Y, 75 Tổng Giám Mục và Giám Mục, trong đó có 25 Tổng Giám Mục nhận dây Pallium và 300 linh mục.

Trong số các Tổng Giám Mục nhân dây Pallium có 4 vị người Ý, 4 vị Brasil, các nước Tây Ban Nha, Mêhicô và Ecuador mỗi nuớc 2 vị, các nước Pháp, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ, Cuba, quần đảo Antille, Ba Lan, Myanmar, Benin, Mỹ, đảo Salomon mỗi nước 1 vị.

Hiện diện trong thánh lễ có gần 10,000 tín hữu đặc biệt là phái đoàn của Toà Thượng Phụ Chính Thống Costantinopoli, gồm Đức Methodios TGM Boston, ĐC Telmessos, ĐC Job và Trưởng Phó tế Nephon Tsemalis.

Đảm trách phần thánh ca trong thánh lễ ngoài ca đoàn Sistina của Toà Thánh, còn có mấy ca đoàn khách. 

Các bài đọc bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha, Thánh vịnh được hát bằng tiếng Ý và Phúc Âm được hát bằng tiếng Latinh. Các lời nguyện giáo dân đã được đọc bằng các thứ tiếng Pháp, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Tầu và Ý.

Sau lời chào mở đầu, các Phó tế đã xuống trước mộ của Thánh Phêrô lấy các khăn Pallium để ở đây lên. Tiếp theo sau là phần giới thiệu các Tổng Giám Mục được nhận dây Pallium và lời thề của các vị. Dây Pallium được làm bằng lông chiên có 5  thánh giá mầu đen. Ngay từ hồi thế kỷ thứ IV nó đã được ĐGH dùng. Có lẽ nó đã là một dấu hiệu của hoàng đế, sau này được dùng cho các Giám Mục. Dây Pallium biểu tượng cho sự hiệp nhất của các Tổng Giám Mục với Đức Giáo Hoàng, là người kế vị thánh Phêrô. Sau này nó đuợc ĐGH là Giám Mục Rona trao cho các Tổng Giám Mục, nhất là dưới thời ĐGH Gregorio VII sau năm 1000, khi có nhu cầu kiểm soát việc lựa chọn các Giám Mục. Kể từ đó các Tổng Giám Mục đến Roma để nhận dây Pallium. Sau đó dây Pallium cũng được ban cho các vị không phải là Tổng Giám Mục như là một dấu hiệu danh dự. Vào thập niên 1970 Đức Phaolô VI đã cải cách hình thức trao dây Pallium, vì thế ngày nay nó chỉ được ban cho các Tổng Giám Mục mà thôi trong ngày lễ kính hai thánh Phêrô Phaolô 29 tháng 6 hàng năm, để nêu bật sự hiệp nhất gắn bó của các vị với Ngài Toà Thánh Phêrô. Trong suốt ngàn năm đầu tiên của Giáo Hội dây Pallium biểu tượng cho con chiên lạc và mục tử mang nó trên vai trái. Đó là hình chúng ta tìm thấy trên các ảnh vẽ icone trên gỗ và trên các bức khảm đá mầu. Sau ngàn năm thứ nhất dây Pallium thay đổi hình thức, nó được mang trên cổ và có ý nghĩa khác. Năm hình thánh giá đỏ ám chỉ 5 dấu thánh Chúa. Ba dấu thánh giá diễn tả 3 chiếc đinh đóng vào người Chúa Giêsu. Như thế dây Pallium đặc biệt có ý nghĩa kitô học, diễn tả Chúa Kitô Mục Tử Nhân Lành. Ngày này dây Pallium bao gồm tất cả các ý nghĩa kể trên và biểu hiệu cho Mục Tử Nhân Lành hy sinh mạng sống cho đoàn chiên.

Giảng trong thánh lễ ĐTC nói:

Lời Chúa trong phụng vụ chứa đựng một từ kép chính yếu: đóng – mở. Chúng ta cũng có thể để bên cạnh hình ảnh này biểu tượng của các chià khóa, mà Chúa Giêsu hứa ban cho Simon Phêrô để ông có thể mở cửa vào Nước Trời, chứ không đóng nó trước người ta, như vài ký lục và người pharisêu mà Chúa Giêsu quở trách, đã làm (c. Mt 23,13).

Bài đọc sách Tông Đồ Công Vụ (12,1-11) trình bầy với chúng ta ba cái đóng: thánh Phêrô bị đóng trong ngục; cộng đoàn đóng cửa chăm chú cầu nguyện; và trong bối cảnh gần với văn bản của chúng ta – sự đóng cửa nhà bà Maria, mẹ của Gioan gọi là Marco, nơi Phêrô tới gõ cửa  sau khi được giải thoát.

Liên quan tới các đóng kín này, lời cầu nguyện xem ra như là lối ra chính: lối ra cho cộng đoàn, có nguy cơ đóng kín trong chính mình vì cuộc bách hại và vì sợ hãi; lối ra cho Phêrô, còn đang ở trong giai đoạn đầu của sứ mệnh do Chúa trao phó, bị vua Hêrôđê tống ngục và có nguy cơ  bị kết án tử. Trong khi thánh Phêrô ở trong tù, thì “Giáo Hội liên lỉ dâng lên Chúa lời cầu nguyện khẩn thiết cho ông” (Cv 12,5). Và Chúa đáp trả lời cầu nguyện và sai thiên thần tới giải thoát ông, “giật thoát ông khỏi tay vua Hêrôđê (c. 11). Lời cầu nguyện như là việc khiêm tốn tín thác nơi Thiên Chúa và thánh ý Ngài, luôn luôn là lối ra cho các khép kín cá nhân và công đoàn của chúng ta.

Tiếp tục bài giảng ĐTC nói: Cả  thánh Phaolô, khi viết thư cho Timôthê, cũng nói về kinh nghiệm giải thoát của ngài, kinh nghiệm đi ra khỏi nguy hiểm bị kết án tử; nhưng Chúa đã ở gần ngài và ban cho ngài sức mạnh, để ngài có thể hoàn thành công trình rao giảng Tin Mừng cho muôn dân (x. 2 Tm 4,17). Nhưng Phaolô nói tới một rộng mở lớn lao hơn nhiều, hướng tới một chân trời vô cùng rộng rãi hơn: chân trời của cuộc sống vĩnh cửu, trước hết để đem Chúa Kitô tới cho những người không biết Chúa, và rồi để ném mình vào trong vòng tay ôm của Chúa và được Chúa cứu thoát đem lên trời trong nước Ngài” (c. 8).

Chúng ta hãy trở lại với thánh Phêrô. Trình thuật Tin Mừng (Mt 16,13-19) về lời tuyên xưng đức tin và sứ mệnh theo sau mà Chúa Giêsu tín thác cho thánh Phêrô cho thấy rằng cuộc sống của Simon – bác thuyền chài người Galilê  – như là cuộc sống của từng người trong chúng ta – mở ra, hoàn toàn mở ra, khi nó tiếp nhận ơn thánh đức tin từ Thiên Chúa Cha. Khi đó Simon lên đường – một con đường dài và cam go – sẽ đưa ông tới chỗ ra khỏi chính mình, ra khỏi các an ninh nhân loại của mình, nhất là ra khỏi sự kiêu căng lẫn lộn với can đảm và với lòng quảng đại yêu thương tha nhân. Trên lộ trình này của cuộc giải thoát của ông, lời cầu nguyện của Chúa Giêsu thật là định đoạt: “Thầy đã cầu nguyện cho anh, để đức tin của anh không thuyên giảm” (Lc 22,32). Nhưng cũng định đoạt cái nhìn tràn đầy cảm thương của Chúa, sau khi Phêrô đã chối Ngài ba lần: một cái nhìn đánh động con tim và tháo cởi các giọt nước mắt của sự hối hận (x. Lc 22,61-62).. Khi đó Simon đưọc giải thoát khỏi ngục tù của cái tôi kiêu căng và sợ hãi, và thắng vượt cám dỗ khép kín với lời mời Chúa Giêsu mời gọi theo Ngài trên con đường thập giá.

Như tôi đã nhấn mạnh, trong bối cảnh của sách Tông Đồ Công Vụ có một chi tiết chúng ta có thể ghi nhận (x. 12,12-17). Khi Phêrô được giải thoát ra khỏi ngục của vua Hêrôđê một cách lạ lùng, ông đến nhà bà mẹ của Gioan gọi là Marcô. Ông gõ cửa, và từ bên trong một đầy tớ gái tên là Rođê nhận ra tiếng Phêrô, nhưng thay vì mở cửa thì lại đầy nghi ngờ và vui mừng chạy vào báo cho bà chủ biết. Trình thuật xem ra tức cười, khiến cho chúng ta nhận thức được bầu khí sợ hãi mà cộng đoàn kitô đã sống, đóng kín trong nhà và cũng khép kín với cả các ngạc nhiên của Thiên Chúa nữa. Chi tiết này nói với chúng ta về cám dỗ luôn luôn hiện hữu đối với Giáo Hội: cám dỗ khép kín trong chính mình, khép kín trước các hiểm nguy.  Nhưng ở đây cũng có lốc xoáy, qua đó hoạt động của Chúa có thể đi ngang qua: thánh sử Luca nói rằng trong nhà đó “nhiều người họp nhau và cầu nguyện” (v. 12). ĐTC giải thích thêm như sau:

Lời cầu nguyện cho phép ơn thánh mở một lối ra: từ khéo kín tới rộng mở, từ sợ hãi tới can đảm, từ buồn phiền tới niềm vui. Và chúng ta có thể thêm từ sự chia rẽ tới hiệp nhất. Phải, hôm nay chúng ta nói lên điều này với sự tin tưởng cùng với các anh em của Phái đoàn, do ĐTC đại kết Bartolomeo thân mến gửi tới tham dự lễ hai thánh Bổn Mạng của Roma. Một ngày lễ của sự hiệp thông đối với toàn thể Giáo Hội như cũng minh nhiên sự hiện diện của các Tổng Giám Mục đến tham dự lễ làm phép các dây Pallium sẽ được các vị đại diện của tôi đeo cho các vị tại các toà địa phương.

Xin các thánh Phêrô Phaolô bầu cử cho chúng ta, để chúng ta có thể tươi vui hoàn thành lộ trình này, sống kinh nghiệm hoạt động giải thoát của Thiên  Chúa và làm chứng cho nó trước tất cả  mọi người.

Lúc 12 giờ trưa ĐTC đã ra cửa sổ Dinh Tông Toà đọc kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu tụ tập tại quảng trường dưới trời nóng 34 độ C của mùa hè Roma. Ngỏ lời với mọi người ĐTC nói: hôm nay lễ hai thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô chúng ta chúc tụng Chúa vì lời rao giảng và chứng tá của các vị. Giáo Hội Roma được xây trên đức tin của hai vị Bổn Mạng của mình. Nhưng hai vị cũng là rường cột và là ánh sáng lớn chiếu soi không những trên bầu trời Roma mà cả trong con tim của các tín hữu Đông và Tây Phương nữa. Trình thuật sứ mệnh của các Tồng Đồ cho biết Chúa Giêsu gửi các môn đệ ra đi cứ hai người một (x, Mt 10,1; Lc 10,1). Trong một nghĩa nào đó từ Thánh Địa hai thánh Phêrô Phaolô cũng đã được gửi tới Roma để rao giảng Tin Mừng. Hai vị đã là những người rất khác nhau: thánh Phêrô một bác “thuyền chài khiêm tốn”, thánh Phaolô “bậc thầy và tiến sĩ” như phụng vụ hôm nay nói. Nhưng nếu ở Roma này chúng ta được biết Chúa Giêsu, và nếu đức tin kitô là phần sống động và nền tảng của gia tài tinh thần và nền văn hóa của vùng đất này, thì cũng là nhờ lòng can đảm tông đồ của hai người con này của vùng Cận Đông. Vì tình yêu đối với Chúa Kitô, hai vị đã bỏ quê hương, không lo lắng trước các khó khăn của cuộc du hành dài và các hiểm nguy cũng như các nghi ngờ có thể gặp, và đã đến Roma. Nơi đây các vị đã là những người loan báo và chứng nhân của Tin Mừng giữa dân chúng, và đóng ấn sứ mệnh đức tin và lòng bác ái của mình với cuộc tử đạo.

Ngày này hai thánh Phêrô và Phaolô trở lại trong tinh thần  giữa chúng ta, các vị rong ruổi trên các con đường của thành phố này, gõ cửa nhà của chúng ta, nhưng nhất là gõ cửa con tim chúng ta. Các ngài muốn một lần nữa đem Chúa Giêsu, tình yêu thương xót, sự ủi an và hoà bình của Chúa Giêsu tới cho chúng ta. Chúng ta hãy tiếp nhận sứ điệp của các ngài! Chúng ta hãy lấy chứng tá của các ngài làm kho tàng của mình. Đức tin ngay thẳng và vững vàng của thánh Phêrô, con tim vĩ đại và hoàn vũ của thánh Phaolô sẽ giúp chúng ta là các kitô hữu tươi vui, trung thành với Tin Mừng và cởi mở cho sự gặp gỡ với mọi người.

ĐTC cũng nhắc cho mọi người biết trong thánh lễ ban sáng ngài đã làm phép các dây Pallium của các Tổng Giám Mục được chỉ định trong năm qua thuộc nhiều nước. Ngài chào và chúc mừng các vị, cũng như thân nhân và những người tháp tùng các vị hành hương tới Roma. ĐTC khích lệ các vị tươi vui tiếp tục sứ mệnh phục vụ Tin Mừng trong niềm hiệp thông với toàn thể Giáo Hội, đặc biệt là với Ngai Toà thánh Phêrô, như dấu chỉ dây Pallium diễn tả. ĐTC cũng chào phái đoàn Giáo Hội Chính Thống do Đức Thượng Phụ Bartolomaios Giáo chủ chính thống Costantinopoli gửi sang tham dự thánh lễ hai thánh Bổn Mạng của Giáo Hội Roma. Sự hiện diện của phái đoàn là dấu chỉ các mối dây huynh đệ giữa hai Giáo Hội chúng ta. Chúng ta hãy cầu nguyện để các mối dây liên kết hiệp thông và làm chứng tá chung ngày càng mạnh mẽ hơn.

Chúng ta hãy phó thác toàn thế giới và đặc biệt thành Roma này cho Đức Trinh Nữ Maria, Sự cứu rỗi của dân Roma, để nó có thể luôn tìm thấy nơi các giá trị tinh thần và luân lý nền tảng phong phú cho cuộc sống xã hội và sứ mệnh của nó tại Italia, trong Âu châu và trên thế giới.

Tiếp đến ĐTC đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành Toà Thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải

Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 kỷ niệm 65 năm Linh Mục

Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 kỷ niệm 65 năm Linh Mục

Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 kỷ niệm 65 năm Linh Mục

VATICAN. Trưa ngày 28-6-2016, Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 đã mừng kỷ niệm 65 năm Linh Mục.

Ngài thụ phong ngày 29-6 năm 1951 tại Nhà thờ Chính Tòa Freising của Tổng giáo phận Munich-Freising, cùng với anh ruột Georg và 42 bạn đồng môn.

Hiện diện tại sảnh đường Clementina trong dinh Tông Tòa, đặc biệt có ĐTC Phanxicô, đông đảo các vị Hồng Y và thủ lãnh các cơ quan trung ương Tòa Thánh.

Lên tiếng sau bài ca chúc mừng của Ca đoàn Sistina, ĐTC Phanxicô nhắc đến một nét nổi bật trong ơn gọi LM của Đức nguyên Giáo Hoàng là câu hỏi của Chúa Giêsu ”Hỡi Simon, con có yêu mến Thầy không?” (Ga 21,15-19). ”Đây là nét trổi vượt trong toàn đời sống phục vụ như LM và thần học gia mà Ngài (Đức nguyên Giáo Hoàng) không ngại định nghĩa là ”sự tìm kiếm Đấng được yêu mến”: đó là điều Ngài vẫn luôn đã và đang làm chứng ngày nay: điều quyết định trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta, chính là Chúa thực sự hiện diện, Đấng mà chúng ta mong ước và gần gũi Người trong nội tâm, Đấng mà chúng ta yêu mến và thực sự tin tưởng, tin rằng Chúa thực sự yêu thương chúng ta”.. Chính khi sống và làm chứng một cách khẩn trương và sáng ngời điều duy nhất thực sự quan trọng như thế mà Ngài vẫn tiếp tục phục vụ Giáo Hội, không ngừng góp phần mạnh mẽ vào sự tăng trưởng của Giáo Hội và Ngài thi hành điều đó trong Đan viện bé nhỏ Mẹ Giáo Hội ở Vatican…”.

ĐHY Gerhard Mueller, Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, cũng chúc mừng Đức nguyên Giáo Hoàng và trao cho ngài cuốn đầu tiên trong bộ sách tuyển tập tựa đề ”Dạy và học Tình Yêu Thiên Chúa”. ĐHY nói: Xét cho cùng, qua tựa đề đó có nói lên tất cả: chúng ta được kêu gọi dạy điều mà chúng ta đã học được nơi Tình Yêu Thiên Chúa.

ĐHY Angelo Sodano, niên trưởng Hồng Y đoàn, đã ngỏ lời chúc mừng Đức Biển Đức 16 và nhắc lại bài giảng thánh lễ của Người hồi tháng 9 năm 2006 tại Nhà thờ chính tòa Freising, nơi Người thụ phong. Trong bài giảng ấy, ĐGH Biển Đức 16 kể lại rằng: ”Khi tôi nằm phủ phục trên mặt đất như được kinh cầu các thánh bao phủ, tôi ý thức rằng trên con đường này chúng tôi không lẻ loi, nhưng có hàng ngũ đông đảo các thánh đồng hành với chúng tôi và các thánh vẫn còn sống, nghĩa là các tín hữu hôm nay và ngày mai, họ đang nâng đỡ và đồng hành với chúng tôi. Rồi đến nghi thức đặt tay và khi ĐHY Faulhaber nói với chúng tôi: ”Từ nay Thầy không gọi các con là tôi tớ, nhưng là bạn hữu”, lúc ấy tôi cảm nghiệm thấy rằng việc truyền chức linh mục giống như một sự khai tâm trong cộng đoàn các bạn hữu của Chúa Giêsu, họ được kêu gọi ở với Chúa và loan báo sứ điệp của Ngài”.

ĐHY Sodano cũng nhắc đến sự mô tả của Đức nguyên Giáo Hoàng về bản chất sứ điệp mà các linh mục được kêu gọi loan báo trên thế giới, nghĩa là các LM phải mang đến cho con người ngày nay ”Ánh sáng của Thiên Chúa và Tình Yêu của Thiên Chúa”.

ĐHY cũng nhận xét rằng khi đọc lại những lời của Đức Nguyên Giáo HOàng ngày nay, chúng ta thấy như một sự đi trước Giáo huấn của ĐGH Phanxicô, Người luôn mời gọi chúng ta hãy đi gặp những người đau khổ nhất, mang lại cho họ tình yêu thương huynh đệ của chúng ta. Đó cũng là đại sứ điệp của Năm Thánh Lòng Thương Xót chúng ta đang cử hành.

ĐHY niên trưởng Hồng Y đoàn cũng xin Đức Nguyên Giáo Hoàng ”đang ở trên núi” chuyên chăm sứ mạng cầu nguyện và suy niệm, tiếp tục cầu nguyện cho Giáo Hội và các tín hữu.

Buổi lễ mừng kết thúc với lời cám ơn chân thành của Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 đối với ĐTC Phanxicô vì lòng nhân từ ngay từ đầu đối với Ngài và cám ơn ĐHY Sodano và Mueller cũng như tất cả các Hồng Y và mọi người khác.

 Sau bản nhạc của Ca đoàn Sistina, các Hồng Y còn ở lại bắt tay và chúc mừng Đức đương kim Giáo Hoàng và vị Tiền Nhiệm (SD 28-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP

Đức Thánh Cha đề cao sứ mạng chung với Chính Thống

Đức Thánh Cha đề cao sứ mạng chung với Chính Thống

Đức Thánh Cha đề cao sứ mạng chung với Chính Thống

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng 28-6-2016 dành cho phái đoàn Tòa Thượng Phụ Chính Thống Constantinople, ĐTC Phanxicô đề cao sứ mạng chung của tất cả các tín hữu Kitô là loan báo lòng thương xót của Thiên Chúa.

Phái đoàn do Đức TGM Metodio, Đồng Chủ tịch Ủy ban đối thoại giữa Chính Thống và Công Giáo tại Hoa Kỳ, hướng dẫn, về Roma dự lễ thánh Phêrô Phaolô bổn mạng của Giáo Hội Roma. ĐTC nhận xét rằng ”cả hai Thánh Tông đồ đều đã từng cảm nghiệm quyền năng lòng thương xót của Thiên Chúa: một vị đã chối Thầy và một vị đã bách hại Giáo Hội sơ khai. ”Noi gương hai thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô và các Tông Đồ khác, Giáo Hội gồm những người tội lỗi được cứu độ nhờ phép rửa, đã tiếp tục loan báo lòng thương xót của Chúa qua dòng lịch sử.

ĐTC nói: ”Vì thế, khi mừng lễ các thánh Tông Đồ, chúng ta hãy tái cảm nghiệm sự tha thứ và ơn thánh liên kết tất cả các tín hữu của Chúa Kitô với nhau.. Nhìn nhận kinh nghiệm về lòng thương xót của Chúa là mối giây liên kết chúng ta bao hàm điều này là chúng ta phải luôn luôn làm cho tiêu chuẩn từ bi thương xót ngày càng trở thành tiêu chuẩn những quan hệ của chúng ta với nhau. Nếu chúng ta, trong tư cách là Công Giáo và Chính Thống, muốn cùng nhau loan báo những kỳ công của lòng thương xót Chúa cho toàn thế giới, chúng ta không thể duy trì những tâm tình và thái độ cạnh tranh, nghi kỵ và oán hận giữa chúng ta với nhau. Chính lòng thương xót giải thoát chúng ta khỏi gánh nặng của một quá khứ bị ghi đậm những cuộc xung đột và giúp chúng ta cởi mở đối với một tương lai mà Chúa Thánh Linh dẫn chúng ta tới”.

ĐTC cũng nhắc đến khóa họp vào tháng 9 tới đây của Ủy ban hỗn hợp quốc tế đối thoại thần học giữa Công Giáo và Chính Thống. Ngài nói: Nhiệm vụ của Ủy ban này rất quí giá, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho công việc của Ủy ban được tiếp tục một với nhiều thành quả.

Sau cùng, ngài cầu mong cho Công đồng liên Chính Thống giáo mới kết thúc tại đảo Creta được Chúa Thánh Linh cho nảy sinh từ đó những hoa trái dồi dào cho thiện ích của Giáo Hội. (SD 28-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP

Đánh bom tự sát tại Qaa, Lebanon

Đánh bom tự sát tại Qaa, Lebanon

Qaa, nơi xảy ra vụ đánh bom

Qaa, Lebanon – Một chuỗi 4 vụ nổ bom tự sát đã xảy ra hôm thứ 2, 27/6 ở một ngôi làng ở Qaa, thuộc vùng đông bắc Lebanon, gần biên giới Syria, nơi phần đông là các Kitô hữu thuộc Giáo hội Hy lạp Menkít, làm cho 5 người chết và ít nhất 15 người bị thương. Có 30 ngàn người Syria tị nạn sống xung quanh ngôi làng đó. Nhà nước Hồi giáo bị nghi là đã gây nên vụ tấn công. Các vị đại diện các tổ chức và các lực lượng chính trị của Libăng, cũng như lãnh đạo các Giáo hội đã bày tỏ sự phẫn nộ và lên án sự thảm sát khủng bố này.

Đức Tổng Giám mục Elias Rahal đứng đầu tổng giáo phận Giáo hội Hy lạp Menkít ở Baalbeck, yêu cầu nhà nước Lebanon chịu trách nhiệm. Cha cho biết là dù cho tình hình thế nào các Kitô hữu vẫn giữ vững đức tin và quyết chí duy trì sự hiện diện của mình tại miền đất này.

Đức Thượng phụ Gregoire III, Giám mục của Giáo hội Hy lạp Menkít cho biết ngài bị sửng sốt bởi vụ tấn công, và tưởng nhớ các nạn nhân – là những thành viên của các giáo xứ và Tổng giáo phận Baalbeck của Giáo hội Hy lạp Menkít.

Đức Thượng phụ Bechara Boutros Rai của Giáo hội Công giáo Maronít hy vọng là tội ác không tên này thúc đẩy dân Lebanon tìm lại được sự thống nhất đất nước và bảo vệ nó khỏi những kế hoạch khủng bố. (Agenzia Fides 28/06/2016)

Hồng Thủy Op

Nhận định về chuyến viếng thăm Armenia của Đức Thánh Cha Phanxicô

Nhận định về chuyến viếng thăm Armenia của Đức Thánh Cha Phanxicô

Đức Thánh Cha Phanxicô và Đức Tổng Thương phụ Karekin II

Chuyến viếng thăm Cộng hòa Armenia của Đức Thánh Cha Phanxicô đã kết thúc và được đánh giá là thành công. Sau đây là một vài nhận định của cha Andrea Majewski, Giám đốc các chương trình của Đài phát thanh Vatican và cha Federico Lombardi, Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh.

Theo cha Majewski, người dân Armenia rất yêu mến Đức Thánh Cha. Số người hiện diện trong các sinh hoạt của Đức Thánh Cha tại đây thật đông đảo. Đã có khoảng 50 ngàn người hiện diện trong buổi cầu nguyện tại thủ đô Yerevan và trong Thánh lễ của Giáo Hội Armenia Tông truyền vào  sáng Chúa nhật tại quảng trường San Tiridate ở Etchmiadzin số người tham dự cũng không kém đi.

Một điều mà chúng ta ngạc nhiên và người ta nói nhiều đến là Đức Thánh Cha được yêu mến như thế nào ở Armenia. Tên của ngài được nhắc đến 2 lần trong cử hành Thánh Thể. Một điều nữa rất quan trọng là sự vỗ tay nồng nhiệt trong các cuộc gặp của Đức Thánh Cha, những phản ứng sống động của dân chúng, của các Giám mục; nhất là vào cuối buổi nói chuyện của Đức Thánh Cha, ngài đã xin Đức Tổng Thượng Phụ Giáo hội Armenia Tông truyền chúc lành cho ngài. Tất cả các Giám mục đông phương tông truyền đều đứng dậy và cử chỉ này đã đánh động lòng người dân Armenia vô cùng.

Cha nhận định: Cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha gần kết thúc và đối với quốc gia này, đây là một phút giây lịch sử: Đức Thánh Cha đã muốn cầu nguyện với dân Armeni, muốn gần gũi họ trong một giai đoạn không phải là dễ dàng, bởi vì chúng ta biết là Armenia đang sống trong thời gian không an bình lắm trong lịch sử của họ. Chúng ta trở về Roma với đầy những ấn tượng tốt về quốc gia này nhưng trên hết là lòng hiếu khách và tình yêu mà dân Armenia dành cho Đức Thánh Cha.

Còn cha Lombardi thì đánh giá chuyến đi của Đức Thánh Cha là một thành công lớn. Cha cho biết chuyến đi của Đức Thánh Cha có 3 chiều kích căn bản và tất cả được vinh quang với thành công lớn. Cuộc gặp gỡ của Đức Thánh Cha với dân tộc Armenia, dân tộc rất thích sự gần gũi, sự hiểu biết về lịch sử và truyền thông Kitô giáo của ngài. Một số giây phút quan trọng như cuộc gặp ở dinh Tổng thống và trên tất cả là buổi cầu nguyện đại kết ở quảng trường Yerevan, một sự kiện hoàn toàn ngoại thường vì đó là một cuộc “trình diễn” tôn giáo: cầu nguyện tại một nơi công cộng với tất cả đại diện, cả đại diện quốc gia. Cha tin điều này chưa bao giờ xảy ra.

Về khía cạnh đại kết, sự tiếp đón của Đức Tổng Thượng phụ của Giáo hội Armenia Tông truyền thật là tuyệt diệu. Đức Thánh Cha đã lưu trú tại Tòa Thượng Phụ 3 ngày và như thế chắc chắn sẽ có những giây phút gặp gỡ sâu sắc và chân thành. Rồi có những lần cầu nguyện đại kết cụ thể như lần viếng thăm nhà thờ chánh tòa thánh Gregorio Vị soi sáng hay Thánh lễ của Armenia tông truyền vào sáng Chúa nhật. Vào cuối cuộc viếng thăm, Đức Thánh cha và Đức Tổng thượng phụ đã cùng ký một tuyên ngôn. Trong các bài diễn văn của Đức Thánh Cha chúng ta cũng nhận thấy giọng văn khuyến khích việc đại kết, đối thoại, hiệp nhất về mục đích và tiến tới sự hiệp nhất Thánh Thể. Cha Lombardi nhận định: một bước quan trọng trong hành trình đại kết với Giáo hội đông phương này rất có ý nghĩa, bởi vì thực tế nó đồng hóa với Quốc gia Armenia.

Cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha cũng là sự khích lệ cho các tín hữu Công giáo Armenia, một cộng đoàn thiểu số, một cộng đoàn tương đối nhỏ nhưng rất sống động và tham dự vào đời sống của quốc gia. Họ cảm thấy được sự hiện diện của vị mục tử phổ quát và do đó họ có thể đạt đến sự hữu hình của họ với Thánh lễ tại quảng trường ở Gyumri: họ có thể cho Đức Thánh Cha thấy hoạt động bác ái của họ, cô nhi viện và các hoạt động bác ái khác. Do đó nó cũng là một ngày hội lớn cho công giáo Armenia cả ở tại Armenia cũng như hải ngoại. Nhiều người Armenia, cả công giáo lẫn tông truyền trở về Armenia trong dịp này, ví dụ: có sự hiện diện của tất cả Giám mục Công giáo Armeni cùng cử hành Thánh lễ với Đức Thánh Cha. Tất cả các khía cạnh này được thực hiện tràn đầy và chúng ta có thể nói là sự hiện diện của Đức Thánh Cha ở đây, như mọi khi, ngài muốn là một sứ điệp của hòa bình cho vùng đất này với hy vọng điều này được hiểu và hưởng ứng. (RV 26/6/2016)

Hồng Thủy Op

Đức Thánh Cha viếng thăm Đan viện Khor Virap của Armenia

Đức Thánh Cha viếng thăm Đan viện Khor Virap của Armenia

Đức Thánh Cha viếng thăm Đan viện Khor Virap của Armenia

YEREVAN. Hoạt động cuối cùng của ĐTC Phanxicô tại Armeni là cuộc viếng thăm Đan viện Khor Virap, một trong những nơi thánh quan trọng nhất của Giáo hội Armenia.

Lúc gần 4 giờ chiều chúa nhật 26-6-2016, tại Edchmiadzin, trụ sở của Giáo Hội Armenia Tông Truyền, ĐTC và Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II đã gặp gỡ khoảng 100 người gồm các đại biểu và ân nhân của Giáo Hội này đã cộng tác vào việc chuẩn bị và tiến hành chuyến viếng thăm của ngài tại Armenia trong 3 ngày qua. Hai vị chào thăm từng người và chụp hình lưu niệm với họ, trước khi cùng lên đường đến Đan viện cổ kính Khor Virab cách đó 41 cây số. Đan viện tọa lạc trên một ngọn đồi giáp giới với Thổ nhĩ kỳ, và ở dưới chân ngọn núi Ararat, theo lưu truyền Con tàu của Ông Noe đã trôi tới núi trong trận hồng thủy.

Khor Virab có nghĩa là ”Giếng Sâu”, bắt nguồn từ sự tích cái giếng sâu 40 mét nơi thánh Gregorio Vị Soi Sáng bị vua Tiridate III cầm tù trong 13 năm trời, trước khi thánh nhân chữa cho nhà vua lành bệnh và hoán cải Vua cùng toàn thể triều đình và quốc dân Armeni vào năm 301.

Đến thế kỷ thứ 5, một đan viện được xây trên nơi trước kia là nhà tù rồi một huynh đoàn cũng được thành lập tại đây. Trong thế kỷ 12 và 13, Đan viện trở thành một trung tâm nghiên cứu nổi tiếng và là nơi đào tạo những nhân vật nổi bật trong đời sống tôn giáo và văn hóa của Armenia. Nhà thờ được xây trên giếng thánh Gregorio sâu 6 mét rưỡi so với mặt đất và trở thành nơi hành hương thu hút tín hữu từ các nơi trong nước.

Năm 1679, một trận động đất dữ dội đã tàn phá Đan viện, nhưng rồi cơ sở này dần dần được tái thiết, rồi được thêm nhiều phần khác trong đó có tháp chuông.

Ngày nay Đan viện này thuộc chủ quyền của Tòa Tổng Thượng vụ Armenia tông truyền va cách đây gần 15 năm, Đức Gioan Phaolô 2 cũng đã tới đây hành hương ngày 27-9 năm 2001, vào cuối cuộc viếng thăm 3 ngày của ngài ở Armenia.

Khi đến đây vào lúc 5 giờ chiều, ĐTC và Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II được vị Bề trên đan viện tiếp đón và hướng dẫn lên tới phòng gọi là ”Giếng thánh Gregorio”. Tại đây hai vị cùng thắp lên một ngọn nến sáng, tượng trưng ánh sáng đức tin mà Thánh Gregorio đã rao giảng cho Armeni. Rồi hai vị đọc lời nguyện và Kinh Lạy Cha.

Sau khi ban phép lành cho mọi người hiện diện, hai vị Giáo Chủ tiến ra khuôn viên bên ngoài cho đến sân thượng hướng nhìn về núi Ararat và cùng thả hai con chim bồ câu trắng, tượng trưng cho hòa bình.

Liền đó, các vị ra phi trường quốc tế Zvartnots của thủ đô Yerevan cách đó gần 50 cây số. Tại đây, tổng thống Armenia cùng phu nhân và các quan chức chính phủ cũng như các vị lãnh đạo Giáo Hội đã có mặt để tiễn biệt.

Sau 4 giờ bay, chiếc Airbus A321 của hãng Alitalia chở ĐTC, đoàn tùy tùng và 70 ký giả cùng đi, đã về đến phi trường Ciampino của thành phố Roma lúc quá 8 giờ rưỡi tối.

Trên đường về Vatican, như thông lệ, ĐTC đã ghé lại Đền thờ Đức Bà Cả để dâng hoa cám ơn Đức Mẹ là phần rỗi của dân Roma đã phù hộ cho chuyến viếng thăm của ngài tại Armenia.

G. Trần Đức Anh OP

 

Tuyên ngôn chung của Đức Thánh Cha và Đức Thượng Phụ Armenia

Tuyên ngôn chung của Đức Thánh Cha và Đức Thượng Phụ Armenia

Tuyên ngôn chung của Đức Thánh Cha và Đức Thượng Phụ Armenia

YEREVAN. Vào cuối cuộc viếng thăm tại Armeni chiều ngày 26-6-2016, ĐTC Phanxicô và Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II của Giáo Hội Armeni Tông Truyền đã ký và công bố một tuyên ngôn chung, toàn văn như sau:

 ”Hôm nay tại Thánh Thánh Etchmiadzin, trung tâm tinh thần của tất cả mọi người Armeni, chúng tôi, Giáo Hoàng Phanxicô và Karekin II, Tổng Thượng Phụ của tất cả mọi người Armeni, nâng tâm trí lên để cảm tạ Đấng Toàn Năng vì sự gần gũi liên lỷ và gia tăng trong đức tin và trong tình yêu giữa Giáo Hội Armeni Tông Truyền và Giáo Hội Công Giáo trong việc làm chứng tá chung cho sứ điệp Tin Mừng trong một giới bị xâu xé vì những cuộc xung đột, và đang mong ước được an ủi và hy vọng. Chúng tôi chúc tụng Chúa Ba Ngôi cực thánh, Cha, Con và Thánh Thần, vì đã cho chúng tôi đến phần đất Ararat này của Kinh Thánh, ngọn núi này vươn lên như để nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa vẫn luôn là Đấng bảo vệ và cứu độ chúng ta. Chúng tôi hài lòng nhắc lại rằng năm 2001, nhân dịp kỷ niệm 1700 năm tuyên bố Kitô giáo là tôn giáo của Armeni, Thánh Gioan Phaolô 2 đã viếng thăm Armeni và đã chứng kiến một trang sử mới về quan hệ nồng nhiệt và huynh đệ giữa Giáo Hội Armeni Tông Truyền và Giáo Hội Công Giáo. Chúng tôi cảm tạ vì được ơn ơn cùng nhau trong buổi phụng vụ trọng thể tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Roma ngày 12-4-2015, trong đó chúng tôi đã quyết tâm chống lại mọi hình thức kỳ thị và bạo lực, và chúng tôi đã tưởng niệm các nạn nhân của điều mà Tuyên ngôn chung của ĐTC Gioan Phaolô 2 và Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II đã gọi là ”cuộc tiêu diệt một triệu rưỡi Kitô hữu Armeni, thường được gọi là cuộc diệt chủng đầu tiên trong thế kỷ 20” (27-9-2001).

 Chúng tôi chúc tụng Chúa vì ngày hôm nay, đức tin Kitô lại là một thực tại sinh động tại Armeni, và Giáo Hội Armeni tiếp tục thi hành sứ mạng của mình với một tinh thần cộng tác huynh đệ giữa các Giáo Hội, nâng đỡ các tín hữu trong việc xây dựng một thế giới liên đới, công lý và hòa bình.

 Nhưng đáng tiếc là chúng ta đang chứng kiến một thảm trạng lớn lao đang xảy ra trước mắt chúng ta: vô số người vô tội bị giết, bị lưu đày hoặc phải lưu vong đau thương và bất định, vì những cuộc xung đột liên tục về chủng tộc, chính trị và tôn giáo tại Trung Đông và các nơi khác trên thế giới. Hậu quả là các nhóm thiểu số về chủng tộc và tôn giáo trở thành đối tượng cho các cuộc bách hại và đối xử tàn ác, đến độ những đau khổ ấy, vì lý do thuộc về một tôn giáo, đã trở thành một thực tại thường nhật. Các vị tử đạo thuộc tất cả các Giáo Hội và những đau khổ của họ tạo thành một ”phong trào đại kết bằng máu” vượt lên trên những chia rẽ lịch sử giữa các Kitô hữu, kêu gọi tất cả chúng ta hãy thăng tiến sự hiệp nhất hữu của mọi môn đệ Chúa Kitô. Cùng nhau chúng tôi cầu nguyện, nhờ lời chuyển cầu của các thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, Tađeo và Bartolomeo, để có một sự thay đổi trong tâm hồn của tất cả mọi người đã phạm những tội ác tầy đình như thế và nơi những người có khả năng chặn đứng bạo lực. Chúng tôi khẩn thiết xin các vị nguyên thủ quốc gia hãy lắng nghe lời thỉnh cầu của hàng triệu người, đang lo âu chờ đợi hòa bình và công lý trên thế giới, đang yêu cầu tôn trọng các quyền mà Thiên Chúa ban cho họ, họ đang cấp thiết cần được cơm bánh chứ không phải võ khí. Đáng tiếc thay chúng tôi đang chứng kiến một sự trình bày tôn giáo và các giá trị tôn giáo trên thế giới một cách cực đoan, bị lạm dụng để biện minh cho sự phổ biến oán thù, kỳ thị và bạo lực. Sự biện minh cho các tội ác dựa trên các ý tưởng tôn giáo như thế là điều không thể chấp nhận được, vì ”Thiên Chúa không phải là một chúa tể của xáo trộn, nhưng là của hòa bình” (1 Cr 14,33). Ngoài ra, sự tôn trọng những khác biệt về tôn giáo là điều kiện cần thiết để có sự sống chung hòa bình giữa các cộng đồng chủng tộc và tôn giáo khác nhau. Chính vì là Kitô hữu, nên chúng ta được kêu gọi tìm kiếm và phát triển những con đường hòa giải và hòa bình. Về vấn đề này, chúng tôi cũng bày tỏ hy vọng một giải pháp hòa bình cho các vấn đề liên quan đến vùng Nagorno-Karabakh.

 Nhớ lại điều Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ khi Ngài nói: ”Ta đói và các con đã cho Ta ăn, Ta khát các con đã cho Ta uống, Ta là ngoại kiều và các con đã đón tiếp Ta, Ta trần trụi và các con đã cho Ta mặc, Ta bệnh tật và các con đã viếng thăm Ta, Ta ở tù và các con đã đến tìm Ta” (Mt 25,35-36), chúng tôi kêu gọi các tín hữu thuộc các Giáo Hội chúng tôi hãy mở rộng tâm hồn và đôi tay cho các nạn nhân chiến tranh và khủng bố, những người tị nạn và gia đình họ. Ở đây có liên hệ tới chính ý nghĩa tình người của chúng ta, tình liên đới, sự cảm thông và lòng quảng đại, chỉ có thể được diễn tả một cách thích hợp qua việc sử dụng ngay các tài nguyên một cách thực tiễn. Chúng tôi nhìn nhận tất cả những gì đã được thực hiện, nhưng chúng tôi tái khẳng định rằng các vị hữu trách chính trị và cộng đồng quốc tế được yêu cầu hãy làm hơn nữa để đảm bảo quyền của tất cả mọi người được sống trong hòa bình và an ninh, để hỗ trợ nhà nước pháp quyền, để bảo vệ các nhóm tôn giáo và chủng tộc thiểu số, để bài trừ nạn buôn người.

 Sự tục hóa trong nhiều lãnh vực xã hội, sự kiện xã hội bị tha hóa khỏi những gì là tinh thần và thần linh, chắc chắn đưa tới một cái nhìn không có tính chất thánh thiên và duy vật về con người và gia đình nhân loại. Về điểm này chúng tôi lo ngại vì cuộc khủng hoảng gia đình tại nhiều nước. Giáo Hội Armeni Tông Truyền và Giáo Hội Công Giáo có cùng một quan niệm về gia đình, dựa trên hôn nhân, một hành vi nhưng không và yêu thương chung thủy giữa một người nam và một người nữ.

 Chúng tôi vui mừng khẳng định rằng mặc dù vẫn còn những chia rẽ giữa các tín hữu Kitô, chúng tôi đã hiểu rõ hơn rằng điều liên kết chúng tôi thì nhiều hơn những gì làm chúng tôi chia rẽ. Đây là nền tảng vững chắc dựa trên đó sự hiệp nhất của Giáo Hội Chúa Kitô sẽ được biểu lộ, theo lời Chúa dạy: ”Để tất cả chúng được nên một” (Ga 17,21). Trong những thập niên qua, quan hệ giữa Giáo Hội Armeni Tông Truyền và Giáo Hội Công Giáo đã bước vào một giai đoạn mới với sự thành công, được củng cố nhờ cầu nguyện cho nhau và sự dấn thân chung để vượt qua những thách đố hiện nay. Ngày nay chúng tôi xác tín về tầm quan trọng chủ yếu của việc phát triển những quan hệ ấy, thi hành một sự cộng tác sâu xa và quyết liệt hơn không những trong lãnh vực thần học, nhưng cả trong kinh nguyện và sự cộng tác tích cực trên bình diện các cộng đoàn địa phương, trong viễn tượng chia sẻ sự hiệp thông trọn vẹn và những biểu hiện cụ thể sự hiệp nhất ấy. Chúng tôi nhắn nhủ các tín hữu của chúng tôi hãy làm viẹc trong sự hòa hợp để thăng tiến các giá trị Kitô trong xã hội, góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng một nền văn minh công lý và hòa bình và liên đới nhân bản. Con đường hòa giải và huynh đệ mở rộng trước mắt chúng ta. Ước gì Chúa Thánh Linh, Đấng hướng dẫn chúng ta đến chân lý trọn vẹn (Xc Ga 16,13), nâng đỡ mọi cố gắng chân thành để kiến tạo những cây cầu yêu thương và hiệp thông giữa chúng ta.

 Từ Thành Thánh Etchmiadzin chúng tôi mời gọi tất cả các tín hữu của chúng tôi hãy hiệp nguyện, với những lời của thánh Nerses Vị … ”Lạy Chúa Hiển Vinh, xin đón nhận những lời khẩn nguyện của tôi tớ Chúa và nhân từ đón nhận những lời cầu xin của chúng con, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Thánh của Thiên Chúa, Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Stephano vị tử đạo tiên khởi, thánh Gregorio Vị Soi Sáng, các Thánh Tông Đồ, các Thánh ”Thần Linh”, các vị Tử Đạo, các Thánh Thượng Phụ, các vị ẩn tu, các Thánh Đồng Trinh và tất cả các Thánh của Chúa trên trời và dưới đất. Lạy Chúa Ba Ngôi không bị phân rẽ, chúc tụng và tôn vinh Chúa đến muôn đời. Amen”

 Thành Thánh Etchmiadzin ngày 26 tháng 6 năm 2016

 Ký tên: Phanxicô Giáo Hoàng – Karekin II Tổng Thượng Phụ

 G. Trần Đức Anh OP chuyển ý

Thánh lễ truyền chức 6 tân Phó Tế tại Giáo Phận Orange

Thánh lễ truyền chức 6 tân Phó Tế tại Giáo Phận Orange

6 Tân Phó Tế ngày 25 tháng 6 - 2016

GARDEN GROVE – Vào lúc 10 giờ sáng thứ Bảy, ngày 25 tháng 6, 2016, Đức Giám Mục Kevin Vann, Giám Mục Giáo Phận Orange đã đến thánh đường Saint Columban, 10801 Stanford, Garden Grove để cử hành Thánh Lễ Truyền Chức cho 6 tân Phó Tế: Michael Khổng, Phạm Tuấn, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Văn Phương, Tony Key Park (Đại Hàn) và Timothy John Donovan (Mỹ).

Cùng đồng tế với Đức Giám Mục Kevin Vann có Đức Cha Tod David Brown và hơn một trăm linh mục, phó tế trong giáo phận. Tham dự thánh lễ, ngoài thân nhân trong gia tộc của 6 tân phó tế còn có trên một ngàn giáo dân và tu sĩ nam nữ.

Nghi thức truyền chức được bắt đầu sau bài Tin Mừng của thánh Gioan do Phó Tế Peter Chung công bố.

Tân Phó Tế Tuấn Phạm thuộc cộng đoàn Orange, Phaolo Trần Xuân Hòa thuộc cộng đoàn Anaheim, Phương Nguyễn thuộc giáo xứ Hedwig là ba thầy được Đức Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, khi Ngài còn làm Tổng Giám Mục Hà Nội cử sang giáo phận Orange tu học. Riêng tân Phó Tế Michael Khổng Tuấn thuộc cộng đoàn Saint Columban, vị này là con đỡ đầu thứ 19 của linh mục Nguyễn Văn Luân, chính xứ giáo xứ Đức Mẹ La Vang tại Santa Ana.

Trong dịp vui mừng này, Viễn Đông phỏng vấn linh mục Nguyễn Văn Luân, được cha cho biết, “Thầy Michael Khổng Tuấn đã vào chủng viện cách nay 7 năm sau khi đã làm kỹ sư ở ngoài đời. Lý do thầy Khổng được Ơn Gọi là từ giáo xứ Saint Columban này. Khi cha tới đây làm Quản Nhiệm thì thầy Khổng xin đi học các chương trình tại Chủng Viện Saint Patrick, sau đó học tại Chủng Viện Saint John thêm 4 năm về triết học, 4 năm về thần học và đã giúp xứ Saint Joseph được một năm. Đó là thời gian thử thách, nay thầy đã được Đức Giám Mục truyền chức Phó Tế và sang năm, nếu không có gì trở ngại thầy sẽ lãnh chức linh mục.”

Linh mục Nguyễn Văn Luân cũng nhân cơ hội này giải thích chức Phó Tế. Các Thầy chịu chức Phó Tế hôm thứ Bảy là Phó Tế Chuyển Tiếp, nghĩa là sẽ được truyền chức linh mục, còn Phó Tế Vĩnh Viễn là những người có gia đình thì không bao giờ được truyền chức linh mục.

Bishop Kevin Vann and six new transition deacons 06-25-2016

Sau khi được truyền chức Phó Tế, các thầy sẽ đi giúp xứ, đặc biệt ở những giáo xứ do Đức Giám Mục bổ nhiệm để làm việc trong mùa hè. Các Phó Tế có thể Công Bố Lời Chúa, làm việc bác ái, giảng và trao Mình Thánh Chúa nhưng không được cử hành thánh lễ như các linh mục trên bàn thờ.

THANH PHONG

Viendongdaily

Tường thuật các sinh hoạt của ĐTC sáng Chúa Nhật tại Etchmiadzin

Tường thuật các sinh hoạt của ĐTC sáng Chúa Nhật tại Etchmiadzin

ĐTC Phanxicô tham dụ lễ nghi phụng vụ của Giáo Hội Armeni Tông Truyền tại quảng truờng thánh Tiridate ở Etschmiadzin

Chúa Nhật hôm qua là ngày cuối cùng ĐTC viếng thăm mục vụ Armenia. Ngài chỉ có ba sinh hoạt chính. Ban sáng ĐTC gặp gỡ các Giám Mục công giáo, tiếp đến ngài tham dự lễ nghi phụng vụ tại quảng trường San Tiridate Etchmiadzin. Sau bữa trưa ĐTC gặp gỡ các đại biểu và ân nhân của Giáo Hội Armeni Tông Truyền. Vào ban chiều ngài viếng thăm đan viện Khor Virap trước khi ra phi trường quốc tế Zvartnots Yerevan lấy máy bay trở về Roma. Sau đây là chi tiết các sinh hoạt ban sáng của ĐTC.

Lúc 7 giờ 30 sáng ĐTC dâng thánh lễ riêng trong nhà nguyện Dinh tông toà Etchmiadzin. Cùng đồng tế thánh lễ có ĐTGM Sứ Thần Toà Thánh và Đức Ông thư ký toà Sứ Thần. Lúc 9 giờ 15 ngài gặp gỡ thân tình với 14 Giám Mục công giáo Armenia. Cùng hiện diện cũng có 12 linh mục làm việc mục vụ tại Armenia và các vị trong đoàn tuỳ tùng của ĐTC. Tiếp đến ĐTC đi xe tới quảng trường Thánh Tiridate cách đó 200 mét để tham dự lễ nghi phụng vụ do Đức Guaréguin II Thượng Phụ Tối cao và Catholicos của mọi tín hữu Armenia chủ sự.

 

Bàn thờ ở hướng đông gần Chủng viện thần học Guevorguian, đã được xây hồi năm 2001 nhân dịp kỷ niệm 1,700 năm Kitô giáo được tuyên bố là quốc giáo của Armenia. Bàn thờ được dùng trong các lễ lớn như lễ Chúc lành Mùa Chay, và lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Cũng tại đây thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cử hành thánh lễ trong chuyến viếng thăm mục vụ Armenia năm 2001. Bên cạnh bàn thờ là Cổng thánh Gregorio Đấng soi sáng là lối vào chính của Toà Thượng Phụ Etchmiadzine. Trên cột phía Tây của cổng có hình hai thánh tông đồ Tadeo và Bartolomeo đã rao giảng Tin Mừng tại Armenia. Trên cột phía Đông có hình vua Tiridate và thánh Gregorio Đấng soi sáng.

Các liên lạc đại kết giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Tông Truyền Armenia rất thân tình và đã bắt đầu hồi thập niên 1970. ĐGH Phaolô VI đã gặp gỡ Đức Thượng Phụ Vazguen I năm 1970. Sau đó đã có các cuộc viếng thăm chính thức  của Đức Thượng Phụ Guaréguin I tại Vatican. Năm 1999 cuộc triển lãm Roma-Armenia đã được tổ chức trong nhà nguyện Sistina nhân kỷ niệm 1.700 năm dân nước Armenia được rửa tội. Trong 17 năm tại chức Đức Guaréguin II cũng đã gặp gỡ thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Biển Đức XVI và ĐTC Phanxicô. Chuyến viếng thăm cuối cùng là ngày 12 tháng 4 năm 2015, nhân dịp ĐTC Phanxicô cử hành thánh lễ tưởng niệm 100 năm cuộc diệt chủng Armenia trong đền thờ thánh Phêrô.

Thánh lễ đã bắt đầu lúc 10 giờ sáng giờ địa phương và được hát hầu nhu từ đầu tới cuối, đối đáp giữa vị chủ tế, các phó tế và ca đoàn. Tham dự thánh lễ có các TGM, GM của Giáo Hội Armenia Tông Truyền, các TGM, GM của Giáo Hội Công Giáo Armenia, cũng như tổng thống và giới chức chính quyền dân sự và đông đảo tín hữu.

Thánh lễ bao gồm nhiều phần khác nhau, từ nghi thức rửa tay thánh hóa, xưng thú tội lỗi xin Mẹ Thiên Chúa và các Thánh bầu cử, kêu lên Chúa với thánh vịnh 99, đến thánh vịnh 42 và lời cầu xin thánh Gregorio thành Narek giúp cử hành bí tích xứng đáng, thánh ca “Được chọn”, phần đem bánh rượu ra, xông hương cho cộng đoàn biểu tượng cho Chúa Kitô nhập thể làm người bước đi giữa loài người và lên trời. Hương thơm biểu tượng cho mùi thơm dịu dàng của Tin Mừng toả lan giữa loài người. Nhiều thánh ca đã được hát trước khi tới phần công bố Phúc Âm. Tiếp đến là kinh Tin Kính, rồi nhiều nghi thức khác trước khi trao hôn bình an, kinh Thánh Thánh Thánh, phần tưởng nhớ các thánh vv….

Trước nghi thức hiệp lễ Đức Thượng Phụ đã ngỏ lời với mọi người. Tiếp đến là bài phát biểu của ĐTC. Ngài nói: vào thời điểm tột đỉnh của chuyến viếng thăm đã được ước mong và đã trở thành không thể quên được, tôi xin Chúa Kitô chúc lành cho con đường tìm về hiệp nhất và xin Chúa Thánh Thần làm cho tín hữu chỉ có một con tim và một linh hồn. ĐTC dâng lời cảm tạ Thiên Chúa hiệp với thánh ca chúc tụng tạ ơn được dâng lên từ bàn thờ này. Ngài cũng cám ơn Đức Thưọng Phụ đã mở rộng cửa tiếp đón ngài và được cùng nhau sống kinh nghiệp “đẹp và êm dịu anh em sống chung một nhà” (Tv 133,1). ĐTC nói: Chúng ta đã gặp nhau, ôm hôn nhau một cách huynh đệ, chúng ta đã cùng nhau cầu nguyện, chia sẻ các ơn, niềm hy vọng và các lo lắng của Giáo Hội Chúa Kitô, mà chúng ta cảm nhận được các nhịp đập, và chúng ta tin và cảm thấy là một. “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” (Ep 4,4-6): thật thế chúng ta có thể lấy các lời này của tông đồ Phaolô làm của mình. Quy chiếu lịch sử Giáo Hội Armeni ĐTC nói:

Chính trong dấu chỉ của các thánh Tông Đồ mà chúng ta đã gặp gỡ nhau. Các thánh Bartolomeo và Taddeo đã loan báo Tin Mừng lần đầu tiên trong các vùng đất này, và các thánh Phêrô và Phaolô đã hiến mạng sống cho Chúa tại Roma, trong khi các vị cai trị với Chúa Kitô trên trời, chắc chắn các ngài vui mừng, khi trông thấy tình thương mến và khát vọng hiệp thông cụ thể của chúng ta. Tôi xin cảm tạ Chúa về tất cả những điều đó, cho anh chị em và cùng với anh chị em. “Park astutsò” Vinh danh Thiên Chúa.

Trong Phụng vụ thánh thiêng nầy thánh ca trọng thể chúc tụng Thiên Chúa ba lần thánh đã được dâng lên trời, chúc tụng sự thánh thiện của Thiên Chúa: Xin  phuớc lành của Đấng Tối Cao xuống phong phú trên trái đất, nhờ lời bầu cử của Mẹ Thiên Chúa, các thánh cả và các tiến sĩ, các vị tử đạo, đặc biệt là biết bao nhiêu vị tử đảo đã được tôn phong hiển thánh tại đây hồi năm ngoái. “Xin Con Một duy nhất, Đấng ngự xuống đây, chúc lành cho con đường của chúng ta. Xin  Chúa Thánh Thần làm cho các tín hữu chỉ có một con tim, một linh hồn: xin Người đến tái thành lập chúng ta trong sự hiệp nhất. Vì thế tôi muốn tái khẩn cầu Người bằng cách lấy lại vài lời rạng ngời đã được đưa vào phụng vụ của anh chị em. “Xin hãy đến, lậy Thần Khí, Chúa là Đấng giữ gìn các thánh và thanh tẩy các người tội lỗi, xin đổ tràn đầy trên chúng con lửa tình yêu và hiệp nhất của Chúa, và ước chi lửa này làm tan chảy các lý do gương mù gương xấu của chúng con” (Gregori di Narek, Sách Ai Ca, 33,5), trước hết là việc thiếu hiệp nhất giữa các môn đệ của Chúa Kitô.  Rồi ĐTC đưa ra lời cầu chúc sau đây:

Ước chi Giáo Hội Armeni tiến bước trong an bình, và sự hiệp nhất của chúng ta được trọn vẹn. Trong tất cả mọi người hãy nổi lên một khát vọng hiệp nhất mạnh mẽ, một sự hiệp nhất không được là sự lụy thuộc của người này vào người kia, cũng không phải là việc hút nhập, nhưng là sự tiếp nhận tất cả các ơn Thiên Chúa đã ban cho mỗi người để biểu lộ cho toàn thế giới mầu nhiệm lớn lao của ơn cứu rỗi đã được Chúa Kitô hiện thực qua Chúa Thánh Thần” (Phanxicô, Lời phát biểu trong lễ nghi phụng vụ tại nhà thờ thánh Giorgio bên Istanbul này 30-11-2014).

Chúng ta hãy tiếp nhận lời nhắn nhủ của các thánh, chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói của những người khiêm tốn và những người nghèo khó, của biết bao nạn nhân của thù hận, đã khổ đau và hy sinh mạng sống vì đức tin; chúng ta hãy lắng tai nghe các thế hệ trẻ khẩn nài một tương lai tự do khỏi các chia rẽ của quá khứ.  Từ nơi thánh thiện này ước chi một ánh sáng rạng ngời được phổ biến; xin ánh sáng của tình yêu tha thứ và hoà giải kết hiệp với ánh sáng đức tin mà  thánh Gregorio, người cha của anh chị em theo Tin Mừng, đã chiếu soi các vùng đất này.

Như các Tông Đồ sáng ngày Phục Sinh, mặc dù có các nghi ngờ và không chắc chắn, các vị đã chạy tới nơi của sự sống lại, được lôi kéo bởi rạng đông hạnh phúc của một niềm hy vọng mới (x. Ga 20,3-4), cả chúng ta nữa, trong ngày Chúa Nhật thánh này, cũng hãy theo lời Thiên Chúa mời gọi hiệp nhất toàn vẹn, và hãy mau bước tiến tới hiệp nhất.

Và giờ đây, thưa Đức Tượng Phụ, nhân danh Thiên Chúa, tôi xin ngài chúc lành cho tôi và cho Giáo Hội Công Giáo, và chúc lành cho cuộc chạy này của chúng ta tiến tới sự hiệp nhất trọn vẹn.

Đức Thượng Phụ và ĐTC đã ôm hôn nhau.

Lễ nghi phụng vụ tiếp tục với nhiều bài thánh ca khác và phần hiệp lễ. Sau khi ban phép lành cuỗi lễ cho mọi người Đức Thượng Phụ xin ĐTC ban phép lành cho cộng đoàn.

Tiếp đến Đức Thượng Phụ và ĐTC đã rời bàn thờ xuống chào tổng thống và các giới chức chính quyền, trước khi cùng các Giám Mục đi rước tiến về Dinh Tông Toà cách đó 200 mét. ĐTC và Đức Thượng Phụ đi dưới tàn che có 4 phó tế cầm bốn góc. Hai phó tế đi trước thỉnh thoảng quay lại xông hương cho hai vị, giữa tiếng vỗ tay và chào mừng của tín hữu. Một em bé đã chạy tới tặng ĐTC lá quốc kỳ Armenia bé tí của em.

Lúc gần 1 giờ trưa ĐTC đã dùng bữa trưa với Đức Thượng Catholicos, các TGM, GM của Giáo Hội Armeni Tông Truyền, cũng như các TGM, GM của Giáo Hội Công Giáo Armeni và đoàn tuỳ tùng của ĐTC.

Lúc gần 4 giờ chiều ĐTC gặp gỡ các đại biểu và ân nhân của Giáo Hội Tông Truyền Armenia. Sau đó ngài đi thăm đan viện Khor Virap cách Yerevan 41 cây số rồi ra phi trường lấy máy bay trở về Roma.

Linh Tiến Khải

 

Lễ tiễn ĐTC tại phi trường quốc tế Yerevan

Tường thuật ngày thứ hai chuyến công du của ĐTC bên Armenia

Tường thuật ngày thứ hai chuyến công du của ĐTC bên Armenia

ĐTC Phanxicô giảng trong thánh lễ cử hành cho tín hữu tại Gyumri sáng thứ bẩy 25-6-2016

Thứ bẩy 25-6.là ngày thứ hai ĐTC viếng thăm mục vụ Armenia. Ban sáng ĐTC có ba sinh hoạt chính là viếng thăm Đài tưởng niệm cuộc diệt chủng Armenia tại Etchmiadzin, chủ sự thánh lễ tại Gyumri, và thăm tu viện Đức Bà Armenia. Vào ban chiều sau khi viếng thăm nhà thờ chính toà Armenia Tông truyền và nhà thờ chính toà công giáo Armenia tại Gyumri, ĐTC lấy máy bay trở về Yerevan để tham dự buổi gặp gỡ đại kết cầu nguyện cho hoà bình tại quảng trường Cộng hoà trước  Dinh chính quyền. Sau đây là chi tiết các sinh hoạt kể trên.

 

ĐTC thăm đài tưởng niệm Tzitzemakaberd

Lúc 8 giờ 30 sáng thứ bẩy ĐTC đã đi xe đến kính viếng đài kỷ niệm cuộc diệt chủng Tzitzernakaberd, có nghĩa là “Đồi chim én” nằm cách đó 21 cây số, nơi có Đài tưởng niệm cuộc diệt chủng  Armenia hồi năm 1915 dưới thời đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ, khiến cho 1,5 triệu người chết. Đài kỷ niệm này đã được khánh thành năm 1967 và năm 1995 có thêm Viện bảo tàng trưng bầy các chứng tích cuộc diệt chủng, cũng như một trung tâm nghiên cứu tuỳ thuộc Hàn lâm viện khoa học quốc gia Armenia. Đài tưởng niệm gồm ba phần: Bức tường tưởng niệm, Lăng tẩm và Cột Armenia tái sinh. Bức tường dài 100 mét bằng huyền vũ nham dẫn vào Lăng tẩm có khắc tên các thành phố và dân chúng nạn nhân của “Sự dữ lớn lao”. Lăng tẩm hình tròn được tạo thành bởi 12 tấm huyền vũ nham đặt nghiêng, biểu tượng cho 12 thành phố nạn nhân cuộc tán sát hàng loạt bao quanh một khoảng trời trống, nơi có Ngọn lửa vĩnh cửu. Bên cạnh Lăng Tẩm là Cây cột Armenia tái sinh gồm hai cây cột xi măng dính vào nhau hình chiếc kim cao 44 mét, tượng trưng cho cuộc phân tán bạo lực nhân dân Armenia và sự hiệp nhất của nó. Sau cùng bên cạnh đài tưởng niệm có các hàng cây tưởng niệm các vị lãnh đạo và nhân vật quốc tế đã thừa nhận cuộc diệt chủng.

ĐTC và Đức Catholicos đã được tổng thống tiếp đón trên đường dẫn tới Đài tưởng niệm, nơi ĐTC đã đặt một vòng hoa bên ngoài. Cũng có một nhóm trẻ em cầm các bảng tên của các người đã bị tàn sát hồi năm 1915. ĐTC cùng các vị đi xuống thang cấp dẫn tới Ngọn lửa vĩnh cửu. Mọi người đọc Kinh Lạy Cha trong thứ tiếng riêng của mình. ĐTC và Đức  Thượng Phụ Catholicos làm phép và xông hương. Sau đó là bài thánh ca Hrashapar. Tiếp đến Giám Mục Armenia Tông truyền đọc bài đọc bằng tiếng Armenia trích từ chương 10 thư gửi tín hữu Do thái, nói về cuộc chiến đấu lớn lao mà kitô hữu phải chịu. Tiếp đến một Giám Mục công giáo đọc Phúc Âm bằng tiếng Ý, chương 14 thánh Gioan, ghi lại lời Chúa Giêsu nói: bất cứ gì chúng con xin nhân danh Thầy, Thầy sẽ làm cho các con. ĐTC đã đọc các lời nguyện bằng tiếng Ý. Sau cùng mọi người đọc Kinh Lạy Cha trong các thứ tiếng riêng của mình. Tại đài tưởng niệm ĐTC đã đọc lời nguyện sau đây: “Lạy Chúa Kitô, là Đấng đã đội triều thiên cho các thánh và hoàn thành ý muốn của tín hữu Chúa, cũng như nhìn các thụ tạo của Chúa với tình yêu thương và sự dịu hiền, từ trời cao sự thánh thiện của Chúa xin hãy lắng nghe chúng con nhờ lời bầu cử của Mẹ Thiên Chúa, nhờ lời khẩn cầu của tất cả các thánh của Chúa và của những người mà chúng con tưởng niệm hôm nay. Xin Chúa hãy lắng nghe và thương xót, xin tha thứ cho chúng con, xin đền bù và tha các tội của chúng con. Xin làm cho chúng con xứng đáng vinh danh Chúa với các tâm tình biết ơn cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần bây giờ và luôn mãi cho đến muôn muôn đời. Amen.”

ĐTC, Đức Catholicos và tổng thống đi xe lên sân thượng Viện bảo tàng cách đó 80 mét. ĐTC đã dừng lại chúc lành và tưới một cây tưởng niệm chuyến viếng thăm của ngài. Trên sân thượng có hàng chục người con cháu của những người Armenia bị bách hại, đã từng được ĐGH Biển Đức XV tiếp đón và cho trú ngụ tại nhà nghỉ mát Castel Gandolfo. Trước khi từ giã ĐTC đã ký tên vào sổ vàng.

Rời Đài tưỏng niệm ĐTC đã đi xe tới phi trường Yerevan cách đó 19 cây số để lấy máy bay di Gyumri cách đó 80 cây số.

Đón tiếp ĐTC tại phi trường quốc tế Gyumri có ông thị trưởng, ĐTGM Raphael François Minassian của Giáo Hội công giáo Armenia Đông Âu, và ĐGM Giáo Hội Tông truyền sở tại. Cũng có một nhóm trẻ em mồ côi và một ca đoàn.

 

ĐTC cử hành Thánh lễ tại Gyumri

Gyumri là thành phố nằm trên độ cao hơn 1,500 mét, có 146,000 dân, là thành phố lớn và đông dân thứ hai của Armenia, và là thủ phủ tây bắc vùng Shirak, có người ở ngay từ hồi năm 3,000 trước công nguyên. Vài nhà khảo khổ cho rằng thành phố bị các người Hy lạp chiếm đóng hồi thế kỷ thứ V hay thế kỷ thứ VIII trước công nguyên, hồi đó thành phố tên là Kumayri. Sau đó nó lần lượt bị người Ba Tư, A rập và Mông Cổ chiếm đóng. Năm 1837 nó bị Nga hoàng Nicolas I chiếm đóng và đổi tên là “Alessandropoli” theo tên hoàng hậu Alessandra. Sau đó thành phố được gọi là “Leninakan” khi Lenin qua đời năm 1924. Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1990 thành phố lấy lại tên Gyumri như hiện nay, và nổi tiếng là “thành phố của thủ công nghệ và các nghệ thuật”. Nó cũng nổi tiếng là thành phố của các học viện giáo dục và các nhà hát. Gyumri hãnh diện là thành phố đầu tiên có một đoàn hát năm 1865, nhà hát năm 1923, cũng như là thành phố tổ chức các buổi vũ cổ điển năm 1924, một nhà hát văn xuôi năm 1929. Gyumri cũng là trung tâm giáo dục chính của miền bắc Armenia, và là thành phố kỹ nghệ hoá nhất nước. Nhưng năm 1988 đã xảy ra một trận động đất lớn khiến cho thành phố bị hư hại nhiều và dân chúng phải sống trong các thùng tiền chế nhiều năm sau đó. Thế giới đã tỏ tình liên đới với dân chúng, và danh ca Pháp gốc Armeni Charles Aznavour đã phát động phong trào quyên góp trợ giúp các nạn nhân. Thành phố đã dựng tuợng ghi ơn ông sau đó.

ĐC Raphael François Minassian, TGM đặc trách tín hữu công giáo vùng Đông Âu châu từ năm 1991, hiện trông coi 600,000 tín hữu. Giáo phận có 44 giáo xứ với 11 linh mục giáo phận và 11 linh mục dòng, 10 tu huynh, 20 nữ tu và 4 đại chủng sinh. Giáo Hội điều khiển 1 học viện và 29 trung tâm bác ái.

Sau lễ nghi tiếp đón đơn sơ tại phi trường ĐTC đã đi xe tới quảng trường Vartanànts cách đó hơn 6 cây số để chủ sự thánh lễ cho tín hữu. Thánh lễ kính Lòng Thương Xót Chúa đã được cử hành bằng tiếng Latinh, Ý và Armenia. Tham dự thánh lễ cũng có Đức Thượng Phụ Catholicos Karekin II, cũng như tổng thống, các giới chức đạo đời và mấy chục ngàn tín hữu. Một ca đoàn hùng hậu gồm mấy trăm ca viên đảm trách phần thánh ca trong thánh lễ.

Để xây dựng và tái thiết cuộc sống cần duy trì và phục hồi ký ức, sống đức tin vững mạnh cụ thể và thực thi tình yêu thương xót Chúng ta được mời gọi trước hết xây dựng và tái thiết các con đường của sự hiệp thông, mà không mệt mỏi, xây dựng các cây cầu hiệp nhất và thắng vượt các hàng rào phân cách. Cần có các kitô hữu không để cho mệt mỏi đánh ngã, và không nản chí trước các đối nghịch, nhưng sẵn sàng và cởi mở, sẵn sàng phục vụ. Cần có những người thiện chí trợ giúp các anh chị em gặp khó khăn không phải chỉ bằng lời nói nhưng với cả việc làm. Cần có các xã hội công bằng hơn, trong đó mỗi người có thể có một cuộc sống xứng đáng hơn và nhất là một công việc làm được trả lương công bằng.

ĐTC đã nói như trên trong bài giảng thánh lễ. Ngài đã quảng diễn ý nghĩa các bài đọc lồng khung trong lịch sử của dân nước Armenia. Lấy lại lời ngôn sứ Isaia ngài nói: “Chúng sẽ xây lại các đổ nát cổ xưa; chúng sẽ tái thiết các thành phố hoang tàn” (Í 61,4). Có thể nói rằng các lời này của ngôn sứ đã được thực hiện. Sau các tàn phá kinh khủng của cuộc động đất hôm nay chúng ta cảm tạ Thiên Chúa về tất cả những gì đã được tái thiết. Nhưng chúng ta cũng có thể hỏi Chúa mời gọi chúng ta tái thiết cái gì trong cuộc sống hôm nay, và nhất là xây dựng cuộc sống chúng ta trên cái gì? ĐTC đã đề nghị ba nền tảng vững chắc giúp xây dựng và tái xây dựng cuộc sống Kitô không mệt mỏi: đó là ký ức, đức tin và tình yêu thương xót.

Biết phục hồi ký ức là một ơn cần xin Chúa ban cho chúng ta: ký ức liên quan tới những gì Thiên Chúa đã thành toàn nơi chúng ta và cho chúng ta. Nhớ lại rằng Chúa đã không quên chúng ta nhưng nhớ tới chúng ta (Lc 1,72). Ngài đã yêu thương chúng ta, tuyển chọn chúng ta, mời gọi chúng ta và tha thứ cho chúng ta.  Có các biến cố trong lịch sử tình yêu của chúng ta với Chúa cần được hồi sinh trong tâm trí từng người, nhưng cũng có ký ức của dân tộc. ĐTC nhấn mạnh điểm này như sau:

Và ký ức của dân tộc anh chị em rất cổ xưa và quý báu. Trong tiếng nói của anh chị em vang lên tiếng nói của các thánh khôn ngoan trong quá khứ; trong các lời nói của anh chị em vang vọng tiếng của người đã chế ra mẫu tự của anh chị em để loan báo Lời Chúa; trong các thánh ca của anh chị em tan hoà các khóc than và niềm vui của lịch sử của anh chị em. Duyệt xét lại tất cả những điều đó chắc chắn anh chị em có thể nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa: Ngài đã không bỏ anh chị em cô đơn. Ngài đã viếng thăm dân tộc của anh chị em, nhớ tới sự trung thành của tất cả những người đã làm chứng, cả với máu của mình, rằng tình yêu của Thiên  Chúa giá trị hơn sự sống. Thật là hay đẹp khi nhớ lại với lòng biết ơn đức tin kitô đã trở thành hơi thở của dân tộc anh chị em và con tim ký ức của nó.

Nền tảng vững chắc thứ hai là đức tin. Nó cũng là niềm hy vọng cho tương lai của anh chị em, là ánh sáng trên con đường cuộc sống. Nhưng cũng luôn luôn có nguy cơ làm lu mờ đức tin vì cám dỗ giản lược nó thành một cái gì của quá khứ, quan trọng nhưng thuộc các thời đại khác, như một cuốn sách được gìn giữ trong viện bảo tàng. Thật ra, đức tin là sức mạnh, là vẻ đẹp và sự rộng mở đối với tất cả mọi người; nó nảy sinh và tái sinh từ cuộc gặp gỡ sống động với Chúa Giêsu, từ kinh nghiệm về lòng thương xót của Ngài trao ban ánh sáng cho mọi trạng huống cuộc sống. Cần làm sống dậy mỗi ngày cuộc gặp gỡ này của chúng ta với Chúa, đọc và suy gẫm Lời Ngài trong thinh lặng để nhóm lên niềm vui trong con tim, một niềm vui lớn hơn sự buồn phiền, một niềm vui kháng cự lại khổ đau và biến thành an bình. Tất cả canh tân cuộc sống và khiến cho nó tự do và ngoan ngoãn đối với các ngạc nhiên, sẵn sàng với Chúa và với tha nhân. Chúa cũng có thể mời gọi chúng ta theo Ngài gần hơn, và dâng hiến cuộc sống cho Ngài và cho các anh chị em khác. Khi Ngài gọi anh chị em, đặc biệt là các người trẻ, đừng sợ hãi, nhưng hãy nói lên tiếng “có” để giãi sáng tình yêu và tiếp tục lịch sử rao truyền Tin Mừng, mà Giáo Hội và thế giới ngày nay cần đến.

Nền tảng thứ ba là tình yêu thương xót. Nó là đá tảng cho cuộc sống của người môn đệ Chúa Giêsu. Tình yêu cụ thể là tấm cạc có tên và địa chỉ của kitô hữu. Các kiểu giới thiệu khác có thể sai lạc và cả đến vô ích, vì mọi người sẽ nhận biết chúng ta  khi chúng ta yêu thương nhau. Chúng ta được mời gọi trước hết xây dựng và tái thiết các con đường của sự hiệp thông, mà không mệt mỏi, xây dựng các cây cầu hiệp nhất và thắng vượt các hàng rào phân cách.

Tiếp tục bài giảng ĐTC khẳng định như sau:

Thiên Chúa ở trong con tim của kẻ yêu mến: Thiên Chúa ở nơi đâu người ta yêu thương, đặc biệt nơi đâu người ta lo lắng cho người yếu đuối và nghèo nàn với lòng can đảm và thương xót. Điều này cần thiết biết bao: cần có các kitô hữu không để cho mệt mỏi đánh ngã, và không nản chí trước các đối nghịch, nhưng sẵn sàng và cởi mở, sẵn sàng phục vụ. Cần có những người thiện chí trợ giúp các anh chị em gặp khó khăn không phải chỉ bằng lời nói nhưng với cả việc làm. Cần có các xã hội công bằng hơn, trong đó mỗi người có thể có một cuộc sống xứng đáng hơn và nhất là một công việc làm được trả lương công bằng.

ĐTC đã nhắc tới gương của thánh Gregorio thành Narek, là tiếng nói của dân nước Armenia, là người luôn đặt để trong sự đối thoại các bần cùng của con người với lòng thương xót của Thiên Chúa. Thánh nhân là tiếng nói ủi an, khích lệ, dịu hiền, từ bi, thương xót của Chúa.

Trước khi ban phép lành cuối lễ ĐTC đã cám ơn Đức Thuợng Phụ Catholicos Karekin II và ĐTGM Minassian cũng như Đức Thưọng Phu Ghabroyan, các Giám Mục, linh mục và các giới chức chính quyền cũng như toàn thể tín hữu tham dự thánh lễ, dến từ nhiều miền, kể cả Cộng hoà Georgia. Ngài cũng cám ơn các người quảng đại trợ giúp dân nghèo, các nhân viên nhà thương Ashotsk, cộng đoàn công giáo địa phương, các nữ tu Armenia Vô nhiễm nguyên tội và các nữ tu thừa sai bác ái của Mẹ Têrêsa Calcutta.

Sau thánh lễ ĐTC đã đi một vòng quảng trường để chào tín hữu, rồi đến thăm tu viện “Đức Bà Armenia”, cách đó 5 cây số. Mẹ bề trên tu viện các nữ tu Armenia Vô nhiễm nguyên tội đã tiếp đón ĐTC tại lối vào viện mồ côi “Đức Bà Armeni – Trung tâm giáo dục Boghossian”, trong đó có 60 trẻ em mồ côi. Trong tu viện cũng có “Trường huấn nghệ Diramayr”. Các học sinh đảm trách việc tiếp đón ĐTC và phái đoàn Toà Thánh. ĐTC đã dùng bữa trưa trong tu viện của các nữ tu.

Vào lúc 4 giờ 15 phút chiều ĐTC từ giã cộng đoàn các nữ tu và nhân viên trường huấn nghệ và viện mồ côi tu viện Đức Bà Armenia. Ngài đã chụp hình lưu niệm với ba nhóm: các trẻ em mồ côi, các khách của tu viện cùng con em của họ, và các ân nhân. Tiếp đến ngài đến viếng thăm nhà thờ chính toà Tông truyền Gyumri tọa lạc tại quảng trường Vartanànts cách đó 5 cây số.

Nhà thờ chính toà Armenia Tông truyền “Yot Verk” được dâng kính Mẹ Thánh của Thiên Chúa, và được biết đến như là “Nhà thờ chính toà 7 vết thương của Đức Trinh Nữ Maria Rất Thánh”, chiếu theo hình vẽ trên gỗ được cất giữ tại đây. Bẩy vết thương quy chiếu 7 giai thoại cuộc đời Thánh Gia, từ biến cố trốn sang Ai Cập cho tới vụ an táng Chúa Giêsu. Ban đầu nhà thờ được làm bằng gỗ, sau đó vào cuối thế kỷ XIX được các ông hoàng nhà Kamsarakan thay thế bằng đá màu tối của vùng này. Dưới thời chính quyền Liên Xô mọi nhà thờ tại Gyumri đều bị đóng cửa. Nhà thờ chính toà Yot Verk đã là nơi thờ tự duy nhất được mở cửa cho các tín hữu. Bàn thờ chính giữa được dùng bởi Giáo Hội Armenia Tông Truyền, trong khi cung thánh phía bắc có tượng thánh giá lấy từ một nhà thờ công giáo dành cho các tín hữu công giáo, và cung thánh phiá nam có một ảnh Icone nga thánh Nicola vẽ trên gỗ dành cho tín hữu chính thống thuộc Toà Thượng Phụ Moscow. Bị hư hại trong trận động đất năm 1988 nhà thờ chính tòa được trùng tu với tiền quyên góp của các tín hữu Armenia di cư bên Argentina. Mái tròn cao 12 mét có bức bích họa Mẹ Maria bồng Chúa Giêsu hài đồng của họa sĩ Vardges Surenyants. Bên trong nhà thờ có nhiều ảnh Icone và trên tường có các bức bích họa thuộc thế kỷ XVII và các bức tranh sơn dầu.

ĐTC và Đức Thượng Phụ Catholicos tiến vào nhà thờ bên trong có vài Giám Mục Armenia Tông Truyền và một nhóm người tàn tật và người tỵ nạn Siri. ĐTC và Đức Thượng Phụ thinh lặng quỳ cầu nguyện trước ảnh Icone năm vết thương, rồi hai vị tôn kính thánh giá, trong khi đó một ca đoàn hát các thánh ca. Sau cùng ĐTC ban phép lành cho mọi người hiện diện. Khi ĐTC ra ngoài nhà thờ có một nữ ân nhân tặng quà cho ngài.

Tiếp đến ĐTC đã đi xe tới viếng thăm nhà thờ chính toà các thánh Tử đạo công giáo Armenia ở quảng trường Vartanànts, cách đó 700 mét. Nhà thờ chính toà này đã được khởi công xây cất năm 2010 do ĐTGM Minassian hoàn thành, và được ĐHY Leonardo Sandri, Tổng trưởng Bộ các Giáo Hội Đông Phương thánh hiến năm 2015.

ĐTGM Minassian và cha sở đã tiếp đón ĐTC tại cửa nhà thờ. Bên trong nhà thờ có một số các ân nhân của Giáo Hội công giáo Armenia. Sau lời nguyện của ĐTC Đức Thượng Phụ Catholicos đã ban phép lành cho mọi người.

Sau khi từ giã mọi người ĐTC đã ra phi trường Gyumri cách đó 6 cây số để lấy máy bay trở về Yerevan. Từ phi trường ĐTC đi xe tới quảng trường Cộng hoà Yerevan cách đó 12 cây số để tham dự buổi gặp gỡ đại kết cầu nguyện cho hoà bình. Quảng trường tọa lạc trước Dinh chính quyền, các Bộ và Viện bảo tàng quốc gia, có chỗ cho 50,000 người. Buổi phụng vụ lời Chúa cầu nguyện cho hoà bình được cử hành bằng tiếng Ý và Armenia.

Để thực hiện sự hiệp nhất cần có lời cầu nguyện của tất cả mọi người. và cần gia tăng tình yêu thương nhau, vì chỉ có lòng bác ái mới có thể chữa lành ký ức và các vết thương của quá khứ: chỉ có tình yêu thương mới xóa bỏ được các thành kiến và cho phép thừa nhận rằng việc cởi mở với người anh em thanh tẩy và cải tiến các xác tín của mình. Chúng ta được mời gọi can đảm từ bỏ các xác tín cứng nhắc và các lợi lộc riêng, nhân danh tình yêu tự hạ và trao ban, nhân danh tình yêu khiêm nhường.

ĐTC đã nói như trên trong bài giảng tại buổi cầu nguyện đại kết cho hoà bình. Ngài đã nói lên ước muốn của ngài được viếng thăm Armenia, là quốc gia đầu tiên trên thế giới đã lãnh nhận đức tin kitô. Các thánh giá bằng đá “khatchkar” kể lại một lịch sử duy nhất bao gồm đức tin sắt đá và khổ đau vô biên, một lịch sử giầu các chứng nhân tuyệt vời của Tin Mừng, mà anh chị em là những người thừa kế. Tôi đến như người hành hương từ Roma để gặp gỡ anh chị em và bầy tỏ tâm tình yêu thương quý  mến và vòng tay ôm huynh đệ của toàn thể Giáo Hội Công Giáo, yêu mến anh chị em và gần gũi với anh chị em.

Trong các năm qua các cuộc gặp gỡ giữa hai Giáo Hội đã được củng cố, luôn thân tình và đáng ghi nhớ. Và tôi cám ơn anh chị em vì lòng trung thành với Tin Mừng thường rất anh hùng, và là một món quà vô giá cho mọi kitô hữu. Chúng ta vui mừng chia sẻ biết bao bước tiến trên con đường chung, và tin tưởng hướng nhìn về một ngày, trong đó với sự trợ giúp của Thiên  Chúa, chúng ta sẽ hiệp nhất gần bàn thờ hiến tế của Chúa Kitô trong sự hiệp thông thánh thể tràn đầy.

ĐTC đã đặc biệt nhắc đến biết bao vị tử đạo đã đóng ấn niềm tin chung nơi Chúa Kitô với máu của các vị. Các vị là những vì sao chiếu sáng và chỉ đường cho chúng ta trên con đường còn lại phải đi. Trong số các vị thánh đó nổi bật là thánh Catholicos Nerses Shnorhali, rất yêu thương dân tộc và các truyền thống, và hướng tới các Giáo Hội khác. Sự hiệp nhất thực ra không phải là một lợi thế chiến thuật cần tìm kiếm cho lợi ích của nhau, nhưng là lợi thế mà Chúa Giêsu xin chúng ta, và là điều chúng ta phải chu toàn với thiện chí và tất cả sức lực của mình, để thực hiện sứ mệnh của chúng ta là trao ban Tin Mừng cho thế giới với sự trung thực. Theo thánh Nerses để thực hiện sự hiệp nhất cần thiết thiện chí của một ai đó trong Giáo Hội thì không đủ: cần phải có lời cầu nguyện của tất cả mọi người. Chính vì thế chiều nay tôi đến đây để xin anh chị em món quà của lời cầu nguyện. Thánh Nerses cũng ghi nhận là cần gia tăng tình yêu thương nhau, vì chỉ có lòng bác ái mới có thể chữa lành ký ức và các vết thương của quá khứ: chỉ có tình yêu thương mới xóa bỏ được các thành kiến và cho phép thừa nhận rằng việc cởi mở với người anh em thanh tẩy và cải tiến các xác tín của mình. Noi gương thánh nhân chúng ta được mời gọi can đảm từ bỏ các xác tín cứng nhắc và các lợi lộc riêng, nhân danh tình yêu tự hạ và trao ban, nhân danh tình yêu khiêm nhường: nó là dầu được chúc lành của cuộc sống kitô, là dầu thơm thiêng liêng quý báu chữa lành, củng cố và thánh hóa. Thánh nhân nói “Chúng ta hãy bổ túc các thiếu sót với lòng bác ái đồng nhất”… Không phải các tính toán, và các lợi thế, nhưng là tình yêu thương khiêm nhường và quảng đại lôi kéo lòng thương xót của Thiên Chúa Cha, phước lành của Chúa Kitô và sự phong phú của Chúa Thánh Thần.

Sự bình an mà Chúa Giêsu ban tặng cho chúng ta thế giới này vất vả tìm kiếm. Ngày nay các chướng ngại trên con đường hoà bình lớn biết bao, và các hậu quả của chiến tranh thê thảm biết bao! Tôi nghĩ tới các dân tộc bị bó buộc phải bỏ tất cả, đặc biệt là bên vùng Trung Đông, nơi biết bao nhiêu anh chị em của chúng ta đau khổ vì bạo lực và bách hại, vì thù hận và các xung khắc luôn luôn được dưỡng nuôi bởi tệ nạn phổ biến và buôn bán khí giới, bởi cám dỗ dùng võ lực và thiếu tôn trọng đối với con người, đặc biệt là đối với những người yếu đuối, nghèo nàn và đối với tất cả những ai chỉ xin có một cuộc sống xứng đáng.

Tiếp tục bài giảng trong buổi cầu nguyện đại kết cho hoà bình, ĐTC nói: Tôi không thể không nghĩ tới các thử thách kinh khủng mà dân tộc anh chị em đã phải sống: một thế kỷ đã qua, kể từ khi “Sự dữ lớn lao” đổ ập trên anh chị em. Cuộc tàn sát to lớn và điên loạn, mầu nhiệm thê thảm này của sự gian ác mà dân tộc anh chị em đã sống trong thịt xác, ghi đậm dấu trong ký ức và nung nấu con tim. Tôi muốn nhấn mạnh rằng các khổ đau của anh chị em cũng là các khổ đau của chúng tôi: chúng là các khổ đau của Thân Mình mầu nhiệm Chúa Kitô. Nhớ lại chúng không chỉ là điều thích đáng mà là một bổn phận: Ước chi chúng là lời cảnh cáo cho mọi thời đại, để thế giới đừng bao giờ rơi vào lốc xoáy của những kinh hoàng như thế!

ĐTC đã ca ngợi đức tin kitô của Giáo Hội Armenia cả trong những lúc thê thảm nhất của lịch sử đã là sức đẩy khai mào cuộc tái sinh của dân tộc bị thử thách. Nó chính là sức mạnh đích thực cho phép anh chị em rộng mở cho con đường nhiệm mầu và cứu rỗi của Phục Sinh: các vết thương còn mở và bị gây ra bởi thù hận tàn bạo và vô nghĩa có thể trong một cách thế nào đó đồng hình dạng với các vết thương của Chúa Kitô phục sinh, với các vết thương đã bị mở ra và Ngài còn mang trên thịt xác ngày hôm nay… Các vết thương kinh khủng ấy được tình yêu biến đổi đã trở thành suối nguồn của tha thứ và hoà bình… Thật thế, ký ức được tình yêu đi ngang qua có khả năng bước đi trên các con đường mới gây kinh ngạc, nơi các đan dệt của thù hận biến thành các dự án hoà giải, trong đó có thể hy vọng nơi một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người.

Hướng tới các ban trẻ ĐTC nói: Các người trẻ thân mến, tương lai này tuỳ thuộc các con: khi làm cho sự khôn ngoan của cha ông các con thành kho tàng, các con hãy ước muốn trở thành những người xây dựng hòa bình, không phải các chưởng khế của tình trạng ngưng đọng, nhưng là những người tích cực thăng tiến một nền văn hóa gặp gỡ và hoà giải.

ĐTC đã khích lệ mọi người noi gương thánh Gregorio thành Narek mà ngài đã tuyên bố là Tiến sĩ Giáo Hội và có thể gọi thánh nhân là “Tiến sĩ hòa bình”. Cuốn sách ngài viết có thể là hiến pháp tinh thần của nhân dân Armenia, trong đó có lời cầu này: “Lạy Chúa, xin nhớ tới những người trong dòng giống nhân loại là các kẻ thù của chúng con, nhưng vì thiện ích của họ, xin thực thi nơi họ sư tha thứ và lòng thương xót” Như thánh nhân chúng ta cũng phải là người dâng lời cầu nguyện cho toàn thế giới. ĐTC gửi lời chào mọi người dân Armenia sống rải rác đó đây trên thế giới, và cầu chúc họ trở thành các sứ giả của sự hiệp thông và hòa bình.

ĐTC và Đức Thượng Phụ Catholicos đã ôm hôn trao ban bình an cho nhau, rồi ban phép lành cho tín hữu.

Từ giã mọi người ĐTC đã đi xe về dinh Tông toà Etchmiadzin cách đó 12 cây số để dùng bữa tối và nghỉ đêm, kết thúc ngày thứ hai trong chuyến viếng thăm Armenia ba ngày.

Linh Tiến Khải

Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng, tân GM Phụ Tá Sàigòn

Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng, tân GM Phụ Tá Sàigòn

Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng, tân GM Phụ Tá Sàigòn

VATICAN. Ngày 25-6-2016, Phòng Báo Chí Tòa Thánh thông báo: ĐTC Phanxicô đã bổ nhiệm Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng làm tân Giám Mục Phụ Tá Tổng giáo phận Sàigòn.

Đức Cha Đỗ Mạnh Hùng năm nay 58 tuổi, sinh ngày 15-9-1957 tại Sàigòn (từ năm 1975 là Hồ Chí Minh City). Từ 1968 đến 1976 theo học tại tiểu chủng viện thánh Giuse, Sàigòn, và từ 1976 đến 1982 học tại Đại chủng viện Thánh Giuse cũng thuộc tổng giáo phận Sàigòn. Từ 1993 đến 1998, học thần học tại Học viện Công Giáo Paris, Pháp, và đậu tiến sĩ.

Sau khi thụ phong linh mục ngày 30-8-1990, Cha Giuse Hùng đảm nhận các trách vụ sau đây: phó xứ và giáo sư Đại chủng viện (1990-1993); linh hướng và giáo sư tại Đại chủng viện (1998-2011); Phó Giám đốc Đại chủng viện (2011-2014); từ năm 2001: Bề trên hiệp hội linh mục Prado; từ 2005: thư ký Ủy ban GM về giáo sĩ và chủng sinh; từ năm 2014: chưởng ấn tòa GM và bí thư của Đức TGM. (SD 25-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP 

Đức Thánh Cha gặp gỡ chính quyền Armenia

Đức Thánh Cha gặp gỡ chính quyền Armenia

Đức Thánh Cha gặp gỡ chính quyền Armenia

YEREVAN. Trong buổi gặp gỡ chính quyền và ngoại giao đoàn, cũng như các giới chức xã hội và dân sự Armenia, ĐTC ca ngợi niềm tin mạnh mẽ của dân tộc này và kêu gọi giới lãnh đạo bảo vệ nhân quyền và tự do tôn giáo.

Lúc 5 giờ rưỡi chiều ngày 24-6-2016, ĐTC đã đến phủ tổng thống Armenia cách dinh Tông Tòa 16 cây số để viếng thăm.

Tổng thống Sargsyan năm nay 62 tuổi (1954), đã từng làm bộ trưởng quốc phòng, rồi thủ tướng của Armenia, trước khi đảm nhận trách vụ hiện thời từ 8 năm nay (2008). Hồi tháng 4 năm ngoái (2015), ông đã cùng với Đức Tổng thượng Phụ Karekin và các GM Armeni, Công Giáo và Tông truyền, đến Vatican để tham dự phụng vụ do ĐTC Phanxicô chủ sự tại Đền thờ Thánh Phêrô nhân dịp kỷ niệm 100 năm cuộc ”tử đạo” của một triệu rưỡi người Armenia dưới bàn tay của quân Ottoman Thổ Nhĩ kỳ.

Sau khi hội kiến riêng với Tổng thống và chào thăm gia đình ông, ĐTC đã gặp gỡ các giới chức chính quyền và xã hội dân sự và văn hóa của Armenia cũng như ngoại giao đoàn tại nước này, tổng cộng là 240 người, vào lúc 6 giờ rưỡi chiều, cũng tại phủ Tổng Thống.

 

Diễn văn của ĐTC

Lên tiếng trong dịp này, sau khi cám ơn Tổng Thống, ĐTC nhắc đến Đại Tai Ương hàng triệu người dân Armenia bị tàn sát và lễ tưởng niệm đã được cử hành hồi tháng 4 năm ngoái ở Đền thờ Thánh Phêrô ở Vatican. Ngài cũng ca ngợi dân tộc Armenia kiên vững trong thử thách và tìm được sức mạnh nơi thập giá của Chúa Kitô:

”Tôi ca ngợi dân tộc Armenia, được ánh sáng Tin Mừng soi chiếu, cả trong những lúc bi thảm nhất của lịch sử, vẫn luôn tìm thấy nơi Thập Giá và sự Phục Sinh của Chúa Kitô, sức mạnh để trỗi dậy và tiếp tục hành trình trong phẩm giá. Điều này cho thấy cội rễ đức tin Kitô thật là sâu xa và kho tàng vô biên ơn an ủi và hy vọng chứa đựng trong đó. Nhớ đến những hậu quả đau buồn mà oán thù, thành kiến và ước muốn thống trị vô độ đưa tới trong thế kỷ vừa qua, tôi nồng nhiệt cầu chúc nhân loại biết rút ra từ kinh nghiệm bi thảm ấy bài học để hành động với tinh thần trách nhiệm va khôn ngoan để phòng ngừa, đừng để những điều kinh hoàng ấy tái diễn. Vì thế, từ mọi phía cần gia tăng nỗ lực để, trong những tranh chấp quốc tế, sự đối thoại luôn được trổi vượt, sự chân thần và liên lỷ tìm kiếm hòa bình, sự cộng tác giữa các quốc gia và sự chuyên cần dấn thân của các tổ chức quốc tế luôn chiếm ưu thế để kiến tạo một bầu không khí tín nhiệm, để đạt tới những hiệp định lâu bền.

ĐTC cho biết: ”Giáo Hội Công Giáo mong ước tích cực cộng tác với tất cả những người quan tâm đến số phận của nền văn minh và sự tôn trọng các quyền con người, để trên thế giới, các giá trị tinh thần được chiếm ưu thế, vạch mặt những người làm băng hoại ý nghĩa và vẻ đẹp của các giá trị ấy. Về vấn đề này, một điều tối quan trọng là tất cả nhưng người tuyên xưng niềm tin nơi Thiên Chúa hiệp lực với nhau để cô lập hóa những kẻ lạm dụng tôn giáo để thực hiện những dự án chiến tranh, chiếm đoạt, bách hại, lèo lái và lạm dụng danh thánh của Thiên Chúa.

”Đặc biệt ngày nay, các tín hữu Kitô, giống như và có thể là hơn cả thời các vị tử đạo đầu tiên, tại một số nơi họ bị kỳ thị và bách hại chỉ vì họ tuyên xưng niềm tin của họ, trong khi quá nhiều xung đột ở nhiều miền trên thế giới vẫn chưa tìm được những giải pháp tích cực, tạo nên tang tóc, tàn phá và những cuộc cưỡng bách di cư toàn thể dân tộc. Vì thế điều tối cần thiết là các vị nắm giữ vận mệnh của các dân nước này can đảm và không chút trì hoãn đề ra và thực hiện những sáng kiến nhắm chấm dứt những đau khổ ấy, tìm kiếm hòa bình, bảo vệ và đón tiếp những người đang bị tấn công và bách hại, thăng tiến công lý và sự phát triển dài hạn như những mục tiêu hàng đầu. Nhân dân Armeni đã đích thân trải qua những tình trạng như thế; họ biết đau khổ và bách hại; họ bảo tồn trong ký ức không những các vết thương trong quá khứ, nhưng cả tinh thần giúp họ mỗi lần đầu bắt đầu lại. Theo ý nghĩa đó, tôi khích lệ anh chị em đừng quên sự đóng góp quí giá này cho cộng đồng quốc tế.

Trong bài diễn văn, ĐTC cũng đề cập đến một kỷ niệm quan trọng và nói rằng:

”Năm nay là năm kỷ niệm 25 năm Armenia được độc lập. Đây là một dịp quí giá để vui mừng và nhớ đến những mục tiêu đã đạt được cũng như để đề ra những mục tiêu mới cần hướng tới. Những buổi lễ mừng độc lập càng có ý nghĩa nếu chúng trở thành cho mọi người Armenia ở quê hương cũng như ở hải ngoại một dịp đặc biệt để hồi niệm và phối hợp nghị lực, với mục đích tạo điều kiện dễ dàng cho sự phát triển đất nước về mặt dân sự và xã hội, công bằng và bao gồm mọi người. Vấn đề ở đây là liên tục kiểm chứng để không bao giờ lỗi những giới luật luân lý về công lý bình đẳng cho tất cả mọi người và về tình liên đới với nhưng người yếu thế và kém may mắn.

Về phần mình, Giáo Hội Công Giáo, tuy chỉ hiện diện tại đất nước này với số người giới hạn, nhưng cũng vui mừng vì có thể góp phần làm tăng trưởng xã hội, đặc biệt trong những hoạt động nhắm giúp đỡ những người yếu thế và nghèo túng hơn, trong lãnh vực y tế và giáo dục, trong lãnh vực bác ái, như nhà thương Redemptoris Mater, Mẹ Giáo Hội, ở Ashotsk, từ 25 năm nay, hoạt động của trường học ở thủ đô Yerevan, các sáng kiến của Caritas Armenia và hoạt động của các dòng tu.

Xin Chúa chúc lành và bảo vệ Armenia, phần đất được soi sáng nhờ đức tin, lòng can đảm của các vị tử đạo, niềm hy vọng mạnh hơn mọi đau khổ”.

Giã từ Tổng thống và các giới chức chính quyền, ĐTC đã về dinh tông tòa ở Etchmiadzin của Giáo Hội Armenia Tông Truyền để hội kiến với Đức Tổng Thượng Phụ và chào thăm phái đoàn 45 GM của giáo hội này vào lúc 7 giờ rưỡi tối. Sau đó ngài đã dùng bữa tối và qua đêm cũng tại dinh này.

Chương trình viếng thăm của ĐTC thứ bẩy 25-6-2016

Thứ bẩy 25-6-2015, ĐTC sẽ đến viếng thăm và cầu nguyện tại Đài tưởng niệm sẽ tới đài tưởng niệm Tzitzernakaberd, hay còn gọi là ”Pháo đài chim én” nằm trên một ngọn đồi.

Đài tưởng niệm này được xây năm 1967 để tưởng niệm 1 triệu rưỡi người Armenia đã bị sát hại hồi năm 1915 dưới thời đế quốc Ottoman của Thổ Nhĩ kỳ. Các nạn nhân thuộc 29 tỉnh đã bị giết trong 3 năm trời. Khu vực này bao gồm một viện bảo tàng, một đài tưởng niệm với 12 cây cột và một bút tháp cao vút. Đài tưởng niệm hình tròn, chính giữa có ngọn lửa thiêng cháy suốt ngày đem và có 12 cây cột nghiêng chụm đầu vào nhau biểu tượng cho các tỉnh có các nạn nhân bi sát hại. thêm vào đó là hai cây kim cao vút lên trời ám chỉ sự tái sinh của dân nước Armenia.

Trong dịp này, ĐTC cũng sẽ thăm bảo tàng viện diệt chủng và gặp khoảng 10 người con cháu của những người Armenia bị bách hại.

Tiếp đến vào lúc 10 giờ, ngài sẽ đáp máy bay đến Gumri, thành phố lớn thứ hai của Armenia, để cử hành thánh lễ theo nghi thức la tinh cho các tín hữu. Ban trưa ngài viếng thăm và dùng bữa tại Tu viện Đức Mẹ Armenia của các nữ tu dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội.

Ban chiều cùng ngày, ĐTC còn viếng nhà thờ chính tòa của Giáo Hội Armenia Tông truyền cũng tại Gumri rồi thăm nhà thờ Chính tòa của Công Giáo tại đây, trước khi bay trở lại thủ đô Yerevan.

G. Trần Đức Anh OP