Đức Thánh Cha viếng thăm Đan viện Khor Virap của Armenia

Đức Thánh Cha viếng thăm Đan viện Khor Virap của Armenia

Đức Thánh Cha viếng thăm Đan viện Khor Virap của Armenia

YEREVAN. Hoạt động cuối cùng của ĐTC Phanxicô tại Armeni là cuộc viếng thăm Đan viện Khor Virap, một trong những nơi thánh quan trọng nhất của Giáo hội Armenia.

Lúc gần 4 giờ chiều chúa nhật 26-6-2016, tại Edchmiadzin, trụ sở của Giáo Hội Armenia Tông Truyền, ĐTC và Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II đã gặp gỡ khoảng 100 người gồm các đại biểu và ân nhân của Giáo Hội này đã cộng tác vào việc chuẩn bị và tiến hành chuyến viếng thăm của ngài tại Armenia trong 3 ngày qua. Hai vị chào thăm từng người và chụp hình lưu niệm với họ, trước khi cùng lên đường đến Đan viện cổ kính Khor Virab cách đó 41 cây số. Đan viện tọa lạc trên một ngọn đồi giáp giới với Thổ nhĩ kỳ, và ở dưới chân ngọn núi Ararat, theo lưu truyền Con tàu của Ông Noe đã trôi tới núi trong trận hồng thủy.

Khor Virab có nghĩa là ”Giếng Sâu”, bắt nguồn từ sự tích cái giếng sâu 40 mét nơi thánh Gregorio Vị Soi Sáng bị vua Tiridate III cầm tù trong 13 năm trời, trước khi thánh nhân chữa cho nhà vua lành bệnh và hoán cải Vua cùng toàn thể triều đình và quốc dân Armeni vào năm 301.

Đến thế kỷ thứ 5, một đan viện được xây trên nơi trước kia là nhà tù rồi một huynh đoàn cũng được thành lập tại đây. Trong thế kỷ 12 và 13, Đan viện trở thành một trung tâm nghiên cứu nổi tiếng và là nơi đào tạo những nhân vật nổi bật trong đời sống tôn giáo và văn hóa của Armenia. Nhà thờ được xây trên giếng thánh Gregorio sâu 6 mét rưỡi so với mặt đất và trở thành nơi hành hương thu hút tín hữu từ các nơi trong nước.

Năm 1679, một trận động đất dữ dội đã tàn phá Đan viện, nhưng rồi cơ sở này dần dần được tái thiết, rồi được thêm nhiều phần khác trong đó có tháp chuông.

Ngày nay Đan viện này thuộc chủ quyền của Tòa Tổng Thượng vụ Armenia tông truyền va cách đây gần 15 năm, Đức Gioan Phaolô 2 cũng đã tới đây hành hương ngày 27-9 năm 2001, vào cuối cuộc viếng thăm 3 ngày của ngài ở Armenia.

Khi đến đây vào lúc 5 giờ chiều, ĐTC và Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II được vị Bề trên đan viện tiếp đón và hướng dẫn lên tới phòng gọi là ”Giếng thánh Gregorio”. Tại đây hai vị cùng thắp lên một ngọn nến sáng, tượng trưng ánh sáng đức tin mà Thánh Gregorio đã rao giảng cho Armeni. Rồi hai vị đọc lời nguyện và Kinh Lạy Cha.

Sau khi ban phép lành cho mọi người hiện diện, hai vị Giáo Chủ tiến ra khuôn viên bên ngoài cho đến sân thượng hướng nhìn về núi Ararat và cùng thả hai con chim bồ câu trắng, tượng trưng cho hòa bình.

Liền đó, các vị ra phi trường quốc tế Zvartnots của thủ đô Yerevan cách đó gần 50 cây số. Tại đây, tổng thống Armenia cùng phu nhân và các quan chức chính phủ cũng như các vị lãnh đạo Giáo Hội đã có mặt để tiễn biệt.

Sau 4 giờ bay, chiếc Airbus A321 của hãng Alitalia chở ĐTC, đoàn tùy tùng và 70 ký giả cùng đi, đã về đến phi trường Ciampino của thành phố Roma lúc quá 8 giờ rưỡi tối.

Trên đường về Vatican, như thông lệ, ĐTC đã ghé lại Đền thờ Đức Bà Cả để dâng hoa cám ơn Đức Mẹ là phần rỗi của dân Roma đã phù hộ cho chuyến viếng thăm của ngài tại Armenia.

G. Trần Đức Anh OP

 

Tuyên ngôn chung của Đức Thánh Cha và Đức Thượng Phụ Armenia

Tuyên ngôn chung của Đức Thánh Cha và Đức Thượng Phụ Armenia

Tuyên ngôn chung của Đức Thánh Cha và Đức Thượng Phụ Armenia

YEREVAN. Vào cuối cuộc viếng thăm tại Armeni chiều ngày 26-6-2016, ĐTC Phanxicô và Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II của Giáo Hội Armeni Tông Truyền đã ký và công bố một tuyên ngôn chung, toàn văn như sau:

 ”Hôm nay tại Thánh Thánh Etchmiadzin, trung tâm tinh thần của tất cả mọi người Armeni, chúng tôi, Giáo Hoàng Phanxicô và Karekin II, Tổng Thượng Phụ của tất cả mọi người Armeni, nâng tâm trí lên để cảm tạ Đấng Toàn Năng vì sự gần gũi liên lỷ và gia tăng trong đức tin và trong tình yêu giữa Giáo Hội Armeni Tông Truyền và Giáo Hội Công Giáo trong việc làm chứng tá chung cho sứ điệp Tin Mừng trong một giới bị xâu xé vì những cuộc xung đột, và đang mong ước được an ủi và hy vọng. Chúng tôi chúc tụng Chúa Ba Ngôi cực thánh, Cha, Con và Thánh Thần, vì đã cho chúng tôi đến phần đất Ararat này của Kinh Thánh, ngọn núi này vươn lên như để nhắc nhở chúng ta rằng Thiên Chúa vẫn luôn là Đấng bảo vệ và cứu độ chúng ta. Chúng tôi hài lòng nhắc lại rằng năm 2001, nhân dịp kỷ niệm 1700 năm tuyên bố Kitô giáo là tôn giáo của Armeni, Thánh Gioan Phaolô 2 đã viếng thăm Armeni và đã chứng kiến một trang sử mới về quan hệ nồng nhiệt và huynh đệ giữa Giáo Hội Armeni Tông Truyền và Giáo Hội Công Giáo. Chúng tôi cảm tạ vì được ơn ơn cùng nhau trong buổi phụng vụ trọng thể tại Đền thờ Thánh Phêrô ở Roma ngày 12-4-2015, trong đó chúng tôi đã quyết tâm chống lại mọi hình thức kỳ thị và bạo lực, và chúng tôi đã tưởng niệm các nạn nhân của điều mà Tuyên ngôn chung của ĐTC Gioan Phaolô 2 và Đức Tổng Thượng Phụ Karekin II đã gọi là ”cuộc tiêu diệt một triệu rưỡi Kitô hữu Armeni, thường được gọi là cuộc diệt chủng đầu tiên trong thế kỷ 20” (27-9-2001).

 Chúng tôi chúc tụng Chúa vì ngày hôm nay, đức tin Kitô lại là một thực tại sinh động tại Armeni, và Giáo Hội Armeni tiếp tục thi hành sứ mạng của mình với một tinh thần cộng tác huynh đệ giữa các Giáo Hội, nâng đỡ các tín hữu trong việc xây dựng một thế giới liên đới, công lý và hòa bình.

 Nhưng đáng tiếc là chúng ta đang chứng kiến một thảm trạng lớn lao đang xảy ra trước mắt chúng ta: vô số người vô tội bị giết, bị lưu đày hoặc phải lưu vong đau thương và bất định, vì những cuộc xung đột liên tục về chủng tộc, chính trị và tôn giáo tại Trung Đông và các nơi khác trên thế giới. Hậu quả là các nhóm thiểu số về chủng tộc và tôn giáo trở thành đối tượng cho các cuộc bách hại và đối xử tàn ác, đến độ những đau khổ ấy, vì lý do thuộc về một tôn giáo, đã trở thành một thực tại thường nhật. Các vị tử đạo thuộc tất cả các Giáo Hội và những đau khổ của họ tạo thành một ”phong trào đại kết bằng máu” vượt lên trên những chia rẽ lịch sử giữa các Kitô hữu, kêu gọi tất cả chúng ta hãy thăng tiến sự hiệp nhất hữu của mọi môn đệ Chúa Kitô. Cùng nhau chúng tôi cầu nguyện, nhờ lời chuyển cầu của các thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô, Tađeo và Bartolomeo, để có một sự thay đổi trong tâm hồn của tất cả mọi người đã phạm những tội ác tầy đình như thế và nơi những người có khả năng chặn đứng bạo lực. Chúng tôi khẩn thiết xin các vị nguyên thủ quốc gia hãy lắng nghe lời thỉnh cầu của hàng triệu người, đang lo âu chờ đợi hòa bình và công lý trên thế giới, đang yêu cầu tôn trọng các quyền mà Thiên Chúa ban cho họ, họ đang cấp thiết cần được cơm bánh chứ không phải võ khí. Đáng tiếc thay chúng tôi đang chứng kiến một sự trình bày tôn giáo và các giá trị tôn giáo trên thế giới một cách cực đoan, bị lạm dụng để biện minh cho sự phổ biến oán thù, kỳ thị và bạo lực. Sự biện minh cho các tội ác dựa trên các ý tưởng tôn giáo như thế là điều không thể chấp nhận được, vì ”Thiên Chúa không phải là một chúa tể của xáo trộn, nhưng là của hòa bình” (1 Cr 14,33). Ngoài ra, sự tôn trọng những khác biệt về tôn giáo là điều kiện cần thiết để có sự sống chung hòa bình giữa các cộng đồng chủng tộc và tôn giáo khác nhau. Chính vì là Kitô hữu, nên chúng ta được kêu gọi tìm kiếm và phát triển những con đường hòa giải và hòa bình. Về vấn đề này, chúng tôi cũng bày tỏ hy vọng một giải pháp hòa bình cho các vấn đề liên quan đến vùng Nagorno-Karabakh.

 Nhớ lại điều Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ khi Ngài nói: ”Ta đói và các con đã cho Ta ăn, Ta khát các con đã cho Ta uống, Ta là ngoại kiều và các con đã đón tiếp Ta, Ta trần trụi và các con đã cho Ta mặc, Ta bệnh tật và các con đã viếng thăm Ta, Ta ở tù và các con đã đến tìm Ta” (Mt 25,35-36), chúng tôi kêu gọi các tín hữu thuộc các Giáo Hội chúng tôi hãy mở rộng tâm hồn và đôi tay cho các nạn nhân chiến tranh và khủng bố, những người tị nạn và gia đình họ. Ở đây có liên hệ tới chính ý nghĩa tình người của chúng ta, tình liên đới, sự cảm thông và lòng quảng đại, chỉ có thể được diễn tả một cách thích hợp qua việc sử dụng ngay các tài nguyên một cách thực tiễn. Chúng tôi nhìn nhận tất cả những gì đã được thực hiện, nhưng chúng tôi tái khẳng định rằng các vị hữu trách chính trị và cộng đồng quốc tế được yêu cầu hãy làm hơn nữa để đảm bảo quyền của tất cả mọi người được sống trong hòa bình và an ninh, để hỗ trợ nhà nước pháp quyền, để bảo vệ các nhóm tôn giáo và chủng tộc thiểu số, để bài trừ nạn buôn người.

 Sự tục hóa trong nhiều lãnh vực xã hội, sự kiện xã hội bị tha hóa khỏi những gì là tinh thần và thần linh, chắc chắn đưa tới một cái nhìn không có tính chất thánh thiên và duy vật về con người và gia đình nhân loại. Về điểm này chúng tôi lo ngại vì cuộc khủng hoảng gia đình tại nhiều nước. Giáo Hội Armeni Tông Truyền và Giáo Hội Công Giáo có cùng một quan niệm về gia đình, dựa trên hôn nhân, một hành vi nhưng không và yêu thương chung thủy giữa một người nam và một người nữ.

 Chúng tôi vui mừng khẳng định rằng mặc dù vẫn còn những chia rẽ giữa các tín hữu Kitô, chúng tôi đã hiểu rõ hơn rằng điều liên kết chúng tôi thì nhiều hơn những gì làm chúng tôi chia rẽ. Đây là nền tảng vững chắc dựa trên đó sự hiệp nhất của Giáo Hội Chúa Kitô sẽ được biểu lộ, theo lời Chúa dạy: ”Để tất cả chúng được nên một” (Ga 17,21). Trong những thập niên qua, quan hệ giữa Giáo Hội Armeni Tông Truyền và Giáo Hội Công Giáo đã bước vào một giai đoạn mới với sự thành công, được củng cố nhờ cầu nguyện cho nhau và sự dấn thân chung để vượt qua những thách đố hiện nay. Ngày nay chúng tôi xác tín về tầm quan trọng chủ yếu của việc phát triển những quan hệ ấy, thi hành một sự cộng tác sâu xa và quyết liệt hơn không những trong lãnh vực thần học, nhưng cả trong kinh nguyện và sự cộng tác tích cực trên bình diện các cộng đoàn địa phương, trong viễn tượng chia sẻ sự hiệp thông trọn vẹn và những biểu hiện cụ thể sự hiệp nhất ấy. Chúng tôi nhắn nhủ các tín hữu của chúng tôi hãy làm viẹc trong sự hòa hợp để thăng tiến các giá trị Kitô trong xã hội, góp phần hữu hiệu vào việc xây dựng một nền văn minh công lý và hòa bình và liên đới nhân bản. Con đường hòa giải và huynh đệ mở rộng trước mắt chúng ta. Ước gì Chúa Thánh Linh, Đấng hướng dẫn chúng ta đến chân lý trọn vẹn (Xc Ga 16,13), nâng đỡ mọi cố gắng chân thành để kiến tạo những cây cầu yêu thương và hiệp thông giữa chúng ta.

 Từ Thành Thánh Etchmiadzin chúng tôi mời gọi tất cả các tín hữu của chúng tôi hãy hiệp nguyện, với những lời của thánh Nerses Vị … ”Lạy Chúa Hiển Vinh, xin đón nhận những lời khẩn nguyện của tôi tớ Chúa và nhân từ đón nhận những lời cầu xin của chúng con, nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Thánh của Thiên Chúa, Thánh Gioan Tẩy Giả, Thánh Stephano vị tử đạo tiên khởi, thánh Gregorio Vị Soi Sáng, các Thánh Tông Đồ, các Thánh ”Thần Linh”, các vị Tử Đạo, các Thánh Thượng Phụ, các vị ẩn tu, các Thánh Đồng Trinh và tất cả các Thánh của Chúa trên trời và dưới đất. Lạy Chúa Ba Ngôi không bị phân rẽ, chúc tụng và tôn vinh Chúa đến muôn đời. Amen”

 Thành Thánh Etchmiadzin ngày 26 tháng 6 năm 2016

 Ký tên: Phanxicô Giáo Hoàng – Karekin II Tổng Thượng Phụ

 G. Trần Đức Anh OP chuyển ý

Tường thuật các sinh hoạt của ĐTC sáng Chúa Nhật tại Etchmiadzin

Tường thuật các sinh hoạt của ĐTC sáng Chúa Nhật tại Etchmiadzin

ĐTC Phanxicô tham dụ lễ nghi phụng vụ của Giáo Hội Armeni Tông Truyền tại quảng truờng thánh Tiridate ở Etschmiadzin

Chúa Nhật hôm qua là ngày cuối cùng ĐTC viếng thăm mục vụ Armenia. Ngài chỉ có ba sinh hoạt chính. Ban sáng ĐTC gặp gỡ các Giám Mục công giáo, tiếp đến ngài tham dự lễ nghi phụng vụ tại quảng trường San Tiridate Etchmiadzin. Sau bữa trưa ĐTC gặp gỡ các đại biểu và ân nhân của Giáo Hội Armeni Tông Truyền. Vào ban chiều ngài viếng thăm đan viện Khor Virap trước khi ra phi trường quốc tế Zvartnots Yerevan lấy máy bay trở về Roma. Sau đây là chi tiết các sinh hoạt ban sáng của ĐTC.

Lúc 7 giờ 30 sáng ĐTC dâng thánh lễ riêng trong nhà nguyện Dinh tông toà Etchmiadzin. Cùng đồng tế thánh lễ có ĐTGM Sứ Thần Toà Thánh và Đức Ông thư ký toà Sứ Thần. Lúc 9 giờ 15 ngài gặp gỡ thân tình với 14 Giám Mục công giáo Armenia. Cùng hiện diện cũng có 12 linh mục làm việc mục vụ tại Armenia và các vị trong đoàn tuỳ tùng của ĐTC. Tiếp đến ĐTC đi xe tới quảng trường Thánh Tiridate cách đó 200 mét để tham dự lễ nghi phụng vụ do Đức Guaréguin II Thượng Phụ Tối cao và Catholicos của mọi tín hữu Armenia chủ sự.

 

Bàn thờ ở hướng đông gần Chủng viện thần học Guevorguian, đã được xây hồi năm 2001 nhân dịp kỷ niệm 1,700 năm Kitô giáo được tuyên bố là quốc giáo của Armenia. Bàn thờ được dùng trong các lễ lớn như lễ Chúc lành Mùa Chay, và lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời. Cũng tại đây thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã cử hành thánh lễ trong chuyến viếng thăm mục vụ Armenia năm 2001. Bên cạnh bàn thờ là Cổng thánh Gregorio Đấng soi sáng là lối vào chính của Toà Thượng Phụ Etchmiadzine. Trên cột phía Tây của cổng có hình hai thánh tông đồ Tadeo và Bartolomeo đã rao giảng Tin Mừng tại Armenia. Trên cột phía Đông có hình vua Tiridate và thánh Gregorio Đấng soi sáng.

Các liên lạc đại kết giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Tông Truyền Armenia rất thân tình và đã bắt đầu hồi thập niên 1970. ĐGH Phaolô VI đã gặp gỡ Đức Thượng Phụ Vazguen I năm 1970. Sau đó đã có các cuộc viếng thăm chính thức  của Đức Thượng Phụ Guaréguin I tại Vatican. Năm 1999 cuộc triển lãm Roma-Armenia đã được tổ chức trong nhà nguyện Sistina nhân kỷ niệm 1.700 năm dân nước Armenia được rửa tội. Trong 17 năm tại chức Đức Guaréguin II cũng đã gặp gỡ thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, Đức Biển Đức XVI và ĐTC Phanxicô. Chuyến viếng thăm cuối cùng là ngày 12 tháng 4 năm 2015, nhân dịp ĐTC Phanxicô cử hành thánh lễ tưởng niệm 100 năm cuộc diệt chủng Armenia trong đền thờ thánh Phêrô.

Thánh lễ đã bắt đầu lúc 10 giờ sáng giờ địa phương và được hát hầu nhu từ đầu tới cuối, đối đáp giữa vị chủ tế, các phó tế và ca đoàn. Tham dự thánh lễ có các TGM, GM của Giáo Hội Armenia Tông Truyền, các TGM, GM của Giáo Hội Công Giáo Armenia, cũng như tổng thống và giới chức chính quyền dân sự và đông đảo tín hữu.

Thánh lễ bao gồm nhiều phần khác nhau, từ nghi thức rửa tay thánh hóa, xưng thú tội lỗi xin Mẹ Thiên Chúa và các Thánh bầu cử, kêu lên Chúa với thánh vịnh 99, đến thánh vịnh 42 và lời cầu xin thánh Gregorio thành Narek giúp cử hành bí tích xứng đáng, thánh ca “Được chọn”, phần đem bánh rượu ra, xông hương cho cộng đoàn biểu tượng cho Chúa Kitô nhập thể làm người bước đi giữa loài người và lên trời. Hương thơm biểu tượng cho mùi thơm dịu dàng của Tin Mừng toả lan giữa loài người. Nhiều thánh ca đã được hát trước khi tới phần công bố Phúc Âm. Tiếp đến là kinh Tin Kính, rồi nhiều nghi thức khác trước khi trao hôn bình an, kinh Thánh Thánh Thánh, phần tưởng nhớ các thánh vv….

Trước nghi thức hiệp lễ Đức Thượng Phụ đã ngỏ lời với mọi người. Tiếp đến là bài phát biểu của ĐTC. Ngài nói: vào thời điểm tột đỉnh của chuyến viếng thăm đã được ước mong và đã trở thành không thể quên được, tôi xin Chúa Kitô chúc lành cho con đường tìm về hiệp nhất và xin Chúa Thánh Thần làm cho tín hữu chỉ có một con tim và một linh hồn. ĐTC dâng lời cảm tạ Thiên Chúa hiệp với thánh ca chúc tụng tạ ơn được dâng lên từ bàn thờ này. Ngài cũng cám ơn Đức Thưọng Phụ đã mở rộng cửa tiếp đón ngài và được cùng nhau sống kinh nghiệp “đẹp và êm dịu anh em sống chung một nhà” (Tv 133,1). ĐTC nói: Chúng ta đã gặp nhau, ôm hôn nhau một cách huynh đệ, chúng ta đã cùng nhau cầu nguyện, chia sẻ các ơn, niềm hy vọng và các lo lắng của Giáo Hội Chúa Kitô, mà chúng ta cảm nhận được các nhịp đập, và chúng ta tin và cảm thấy là một. “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” (Ep 4,4-6): thật thế chúng ta có thể lấy các lời này của tông đồ Phaolô làm của mình. Quy chiếu lịch sử Giáo Hội Armeni ĐTC nói:

Chính trong dấu chỉ của các thánh Tông Đồ mà chúng ta đã gặp gỡ nhau. Các thánh Bartolomeo và Taddeo đã loan báo Tin Mừng lần đầu tiên trong các vùng đất này, và các thánh Phêrô và Phaolô đã hiến mạng sống cho Chúa tại Roma, trong khi các vị cai trị với Chúa Kitô trên trời, chắc chắn các ngài vui mừng, khi trông thấy tình thương mến và khát vọng hiệp thông cụ thể của chúng ta. Tôi xin cảm tạ Chúa về tất cả những điều đó, cho anh chị em và cùng với anh chị em. “Park astutsò” Vinh danh Thiên Chúa.

Trong Phụng vụ thánh thiêng nầy thánh ca trọng thể chúc tụng Thiên Chúa ba lần thánh đã được dâng lên trời, chúc tụng sự thánh thiện của Thiên Chúa: Xin  phuớc lành của Đấng Tối Cao xuống phong phú trên trái đất, nhờ lời bầu cử của Mẹ Thiên Chúa, các thánh cả và các tiến sĩ, các vị tử đạo, đặc biệt là biết bao nhiêu vị tử đảo đã được tôn phong hiển thánh tại đây hồi năm ngoái. “Xin Con Một duy nhất, Đấng ngự xuống đây, chúc lành cho con đường của chúng ta. Xin  Chúa Thánh Thần làm cho các tín hữu chỉ có một con tim, một linh hồn: xin Người đến tái thành lập chúng ta trong sự hiệp nhất. Vì thế tôi muốn tái khẩn cầu Người bằng cách lấy lại vài lời rạng ngời đã được đưa vào phụng vụ của anh chị em. “Xin hãy đến, lậy Thần Khí, Chúa là Đấng giữ gìn các thánh và thanh tẩy các người tội lỗi, xin đổ tràn đầy trên chúng con lửa tình yêu và hiệp nhất của Chúa, và ước chi lửa này làm tan chảy các lý do gương mù gương xấu của chúng con” (Gregori di Narek, Sách Ai Ca, 33,5), trước hết là việc thiếu hiệp nhất giữa các môn đệ của Chúa Kitô.  Rồi ĐTC đưa ra lời cầu chúc sau đây:

Ước chi Giáo Hội Armeni tiến bước trong an bình, và sự hiệp nhất của chúng ta được trọn vẹn. Trong tất cả mọi người hãy nổi lên một khát vọng hiệp nhất mạnh mẽ, một sự hiệp nhất không được là sự lụy thuộc của người này vào người kia, cũng không phải là việc hút nhập, nhưng là sự tiếp nhận tất cả các ơn Thiên Chúa đã ban cho mỗi người để biểu lộ cho toàn thế giới mầu nhiệm lớn lao của ơn cứu rỗi đã được Chúa Kitô hiện thực qua Chúa Thánh Thần” (Phanxicô, Lời phát biểu trong lễ nghi phụng vụ tại nhà thờ thánh Giorgio bên Istanbul này 30-11-2014).

Chúng ta hãy tiếp nhận lời nhắn nhủ của các thánh, chúng ta hãy lắng nghe tiếng nói của những người khiêm tốn và những người nghèo khó, của biết bao nạn nhân của thù hận, đã khổ đau và hy sinh mạng sống vì đức tin; chúng ta hãy lắng tai nghe các thế hệ trẻ khẩn nài một tương lai tự do khỏi các chia rẽ của quá khứ.  Từ nơi thánh thiện này ước chi một ánh sáng rạng ngời được phổ biến; xin ánh sáng của tình yêu tha thứ và hoà giải kết hiệp với ánh sáng đức tin mà  thánh Gregorio, người cha của anh chị em theo Tin Mừng, đã chiếu soi các vùng đất này.

Như các Tông Đồ sáng ngày Phục Sinh, mặc dù có các nghi ngờ và không chắc chắn, các vị đã chạy tới nơi của sự sống lại, được lôi kéo bởi rạng đông hạnh phúc của một niềm hy vọng mới (x. Ga 20,3-4), cả chúng ta nữa, trong ngày Chúa Nhật thánh này, cũng hãy theo lời Thiên Chúa mời gọi hiệp nhất toàn vẹn, và hãy mau bước tiến tới hiệp nhất.

Và giờ đây, thưa Đức Tượng Phụ, nhân danh Thiên Chúa, tôi xin ngài chúc lành cho tôi và cho Giáo Hội Công Giáo, và chúc lành cho cuộc chạy này của chúng ta tiến tới sự hiệp nhất trọn vẹn.

Đức Thượng Phụ và ĐTC đã ôm hôn nhau.

Lễ nghi phụng vụ tiếp tục với nhiều bài thánh ca khác và phần hiệp lễ. Sau khi ban phép lành cuỗi lễ cho mọi người Đức Thượng Phụ xin ĐTC ban phép lành cho cộng đoàn.

Tiếp đến Đức Thượng Phụ và ĐTC đã rời bàn thờ xuống chào tổng thống và các giới chức chính quyền, trước khi cùng các Giám Mục đi rước tiến về Dinh Tông Toà cách đó 200 mét. ĐTC và Đức Thượng Phụ đi dưới tàn che có 4 phó tế cầm bốn góc. Hai phó tế đi trước thỉnh thoảng quay lại xông hương cho hai vị, giữa tiếng vỗ tay và chào mừng của tín hữu. Một em bé đã chạy tới tặng ĐTC lá quốc kỳ Armenia bé tí của em.

Lúc gần 1 giờ trưa ĐTC đã dùng bữa trưa với Đức Thượng Catholicos, các TGM, GM của Giáo Hội Armeni Tông Truyền, cũng như các TGM, GM của Giáo Hội Công Giáo Armeni và đoàn tuỳ tùng của ĐTC.

Lúc gần 4 giờ chiều ĐTC gặp gỡ các đại biểu và ân nhân của Giáo Hội Tông Truyền Armenia. Sau đó ngài đi thăm đan viện Khor Virap cách Yerevan 41 cây số rồi ra phi trường lấy máy bay trở về Roma.

Linh Tiến Khải

 

Lễ tiễn ĐTC tại phi trường quốc tế Yerevan

Tường thuật ngày thứ hai chuyến công du của ĐTC bên Armenia

Tường thuật ngày thứ hai chuyến công du của ĐTC bên Armenia

ĐTC Phanxicô giảng trong thánh lễ cử hành cho tín hữu tại Gyumri sáng thứ bẩy 25-6-2016

Thứ bẩy 25-6.là ngày thứ hai ĐTC viếng thăm mục vụ Armenia. Ban sáng ĐTC có ba sinh hoạt chính là viếng thăm Đài tưởng niệm cuộc diệt chủng Armenia tại Etchmiadzin, chủ sự thánh lễ tại Gyumri, và thăm tu viện Đức Bà Armenia. Vào ban chiều sau khi viếng thăm nhà thờ chính toà Armenia Tông truyền và nhà thờ chính toà công giáo Armenia tại Gyumri, ĐTC lấy máy bay trở về Yerevan để tham dự buổi gặp gỡ đại kết cầu nguyện cho hoà bình tại quảng trường Cộng hoà trước  Dinh chính quyền. Sau đây là chi tiết các sinh hoạt kể trên.

 

ĐTC thăm đài tưởng niệm Tzitzemakaberd

Lúc 8 giờ 30 sáng thứ bẩy ĐTC đã đi xe đến kính viếng đài kỷ niệm cuộc diệt chủng Tzitzernakaberd, có nghĩa là “Đồi chim én” nằm cách đó 21 cây số, nơi có Đài tưởng niệm cuộc diệt chủng  Armenia hồi năm 1915 dưới thời đế quốc Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ, khiến cho 1,5 triệu người chết. Đài kỷ niệm này đã được khánh thành năm 1967 và năm 1995 có thêm Viện bảo tàng trưng bầy các chứng tích cuộc diệt chủng, cũng như một trung tâm nghiên cứu tuỳ thuộc Hàn lâm viện khoa học quốc gia Armenia. Đài tưởng niệm gồm ba phần: Bức tường tưởng niệm, Lăng tẩm và Cột Armenia tái sinh. Bức tường dài 100 mét bằng huyền vũ nham dẫn vào Lăng tẩm có khắc tên các thành phố và dân chúng nạn nhân của “Sự dữ lớn lao”. Lăng tẩm hình tròn được tạo thành bởi 12 tấm huyền vũ nham đặt nghiêng, biểu tượng cho 12 thành phố nạn nhân cuộc tán sát hàng loạt bao quanh một khoảng trời trống, nơi có Ngọn lửa vĩnh cửu. Bên cạnh Lăng Tẩm là Cây cột Armenia tái sinh gồm hai cây cột xi măng dính vào nhau hình chiếc kim cao 44 mét, tượng trưng cho cuộc phân tán bạo lực nhân dân Armenia và sự hiệp nhất của nó. Sau cùng bên cạnh đài tưởng niệm có các hàng cây tưởng niệm các vị lãnh đạo và nhân vật quốc tế đã thừa nhận cuộc diệt chủng.

ĐTC và Đức Catholicos đã được tổng thống tiếp đón trên đường dẫn tới Đài tưởng niệm, nơi ĐTC đã đặt một vòng hoa bên ngoài. Cũng có một nhóm trẻ em cầm các bảng tên của các người đã bị tàn sát hồi năm 1915. ĐTC cùng các vị đi xuống thang cấp dẫn tới Ngọn lửa vĩnh cửu. Mọi người đọc Kinh Lạy Cha trong thứ tiếng riêng của mình. ĐTC và Đức  Thượng Phụ Catholicos làm phép và xông hương. Sau đó là bài thánh ca Hrashapar. Tiếp đến Giám Mục Armenia Tông truyền đọc bài đọc bằng tiếng Armenia trích từ chương 10 thư gửi tín hữu Do thái, nói về cuộc chiến đấu lớn lao mà kitô hữu phải chịu. Tiếp đến một Giám Mục công giáo đọc Phúc Âm bằng tiếng Ý, chương 14 thánh Gioan, ghi lại lời Chúa Giêsu nói: bất cứ gì chúng con xin nhân danh Thầy, Thầy sẽ làm cho các con. ĐTC đã đọc các lời nguyện bằng tiếng Ý. Sau cùng mọi người đọc Kinh Lạy Cha trong các thứ tiếng riêng của mình. Tại đài tưởng niệm ĐTC đã đọc lời nguyện sau đây: “Lạy Chúa Kitô, là Đấng đã đội triều thiên cho các thánh và hoàn thành ý muốn của tín hữu Chúa, cũng như nhìn các thụ tạo của Chúa với tình yêu thương và sự dịu hiền, từ trời cao sự thánh thiện của Chúa xin hãy lắng nghe chúng con nhờ lời bầu cử của Mẹ Thiên Chúa, nhờ lời khẩn cầu của tất cả các thánh của Chúa và của những người mà chúng con tưởng niệm hôm nay. Xin Chúa hãy lắng nghe và thương xót, xin tha thứ cho chúng con, xin đền bù và tha các tội của chúng con. Xin làm cho chúng con xứng đáng vinh danh Chúa với các tâm tình biết ơn cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần bây giờ và luôn mãi cho đến muôn muôn đời. Amen.”

ĐTC, Đức Catholicos và tổng thống đi xe lên sân thượng Viện bảo tàng cách đó 80 mét. ĐTC đã dừng lại chúc lành và tưới một cây tưởng niệm chuyến viếng thăm của ngài. Trên sân thượng có hàng chục người con cháu của những người Armenia bị bách hại, đã từng được ĐGH Biển Đức XV tiếp đón và cho trú ngụ tại nhà nghỉ mát Castel Gandolfo. Trước khi từ giã ĐTC đã ký tên vào sổ vàng.

Rời Đài tưỏng niệm ĐTC đã đi xe tới phi trường Yerevan cách đó 19 cây số để lấy máy bay di Gyumri cách đó 80 cây số.

Đón tiếp ĐTC tại phi trường quốc tế Gyumri có ông thị trưởng, ĐTGM Raphael François Minassian của Giáo Hội công giáo Armenia Đông Âu, và ĐGM Giáo Hội Tông truyền sở tại. Cũng có một nhóm trẻ em mồ côi và một ca đoàn.

 

ĐTC cử hành Thánh lễ tại Gyumri

Gyumri là thành phố nằm trên độ cao hơn 1,500 mét, có 146,000 dân, là thành phố lớn và đông dân thứ hai của Armenia, và là thủ phủ tây bắc vùng Shirak, có người ở ngay từ hồi năm 3,000 trước công nguyên. Vài nhà khảo khổ cho rằng thành phố bị các người Hy lạp chiếm đóng hồi thế kỷ thứ V hay thế kỷ thứ VIII trước công nguyên, hồi đó thành phố tên là Kumayri. Sau đó nó lần lượt bị người Ba Tư, A rập và Mông Cổ chiếm đóng. Năm 1837 nó bị Nga hoàng Nicolas I chiếm đóng và đổi tên là “Alessandropoli” theo tên hoàng hậu Alessandra. Sau đó thành phố được gọi là “Leninakan” khi Lenin qua đời năm 1924. Sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1990 thành phố lấy lại tên Gyumri như hiện nay, và nổi tiếng là “thành phố của thủ công nghệ và các nghệ thuật”. Nó cũng nổi tiếng là thành phố của các học viện giáo dục và các nhà hát. Gyumri hãnh diện là thành phố đầu tiên có một đoàn hát năm 1865, nhà hát năm 1923, cũng như là thành phố tổ chức các buổi vũ cổ điển năm 1924, một nhà hát văn xuôi năm 1929. Gyumri cũng là trung tâm giáo dục chính của miền bắc Armenia, và là thành phố kỹ nghệ hoá nhất nước. Nhưng năm 1988 đã xảy ra một trận động đất lớn khiến cho thành phố bị hư hại nhiều và dân chúng phải sống trong các thùng tiền chế nhiều năm sau đó. Thế giới đã tỏ tình liên đới với dân chúng, và danh ca Pháp gốc Armeni Charles Aznavour đã phát động phong trào quyên góp trợ giúp các nạn nhân. Thành phố đã dựng tuợng ghi ơn ông sau đó.

ĐC Raphael François Minassian, TGM đặc trách tín hữu công giáo vùng Đông Âu châu từ năm 1991, hiện trông coi 600,000 tín hữu. Giáo phận có 44 giáo xứ với 11 linh mục giáo phận và 11 linh mục dòng, 10 tu huynh, 20 nữ tu và 4 đại chủng sinh. Giáo Hội điều khiển 1 học viện và 29 trung tâm bác ái.

Sau lễ nghi tiếp đón đơn sơ tại phi trường ĐTC đã đi xe tới quảng trường Vartanànts cách đó hơn 6 cây số để chủ sự thánh lễ cho tín hữu. Thánh lễ kính Lòng Thương Xót Chúa đã được cử hành bằng tiếng Latinh, Ý và Armenia. Tham dự thánh lễ cũng có Đức Thượng Phụ Catholicos Karekin II, cũng như tổng thống, các giới chức đạo đời và mấy chục ngàn tín hữu. Một ca đoàn hùng hậu gồm mấy trăm ca viên đảm trách phần thánh ca trong thánh lễ.

Để xây dựng và tái thiết cuộc sống cần duy trì và phục hồi ký ức, sống đức tin vững mạnh cụ thể và thực thi tình yêu thương xót Chúng ta được mời gọi trước hết xây dựng và tái thiết các con đường của sự hiệp thông, mà không mệt mỏi, xây dựng các cây cầu hiệp nhất và thắng vượt các hàng rào phân cách. Cần có các kitô hữu không để cho mệt mỏi đánh ngã, và không nản chí trước các đối nghịch, nhưng sẵn sàng và cởi mở, sẵn sàng phục vụ. Cần có những người thiện chí trợ giúp các anh chị em gặp khó khăn không phải chỉ bằng lời nói nhưng với cả việc làm. Cần có các xã hội công bằng hơn, trong đó mỗi người có thể có một cuộc sống xứng đáng hơn và nhất là một công việc làm được trả lương công bằng.

ĐTC đã nói như trên trong bài giảng thánh lễ. Ngài đã quảng diễn ý nghĩa các bài đọc lồng khung trong lịch sử của dân nước Armenia. Lấy lại lời ngôn sứ Isaia ngài nói: “Chúng sẽ xây lại các đổ nát cổ xưa; chúng sẽ tái thiết các thành phố hoang tàn” (Í 61,4). Có thể nói rằng các lời này của ngôn sứ đã được thực hiện. Sau các tàn phá kinh khủng của cuộc động đất hôm nay chúng ta cảm tạ Thiên Chúa về tất cả những gì đã được tái thiết. Nhưng chúng ta cũng có thể hỏi Chúa mời gọi chúng ta tái thiết cái gì trong cuộc sống hôm nay, và nhất là xây dựng cuộc sống chúng ta trên cái gì? ĐTC đã đề nghị ba nền tảng vững chắc giúp xây dựng và tái xây dựng cuộc sống Kitô không mệt mỏi: đó là ký ức, đức tin và tình yêu thương xót.

Biết phục hồi ký ức là một ơn cần xin Chúa ban cho chúng ta: ký ức liên quan tới những gì Thiên Chúa đã thành toàn nơi chúng ta và cho chúng ta. Nhớ lại rằng Chúa đã không quên chúng ta nhưng nhớ tới chúng ta (Lc 1,72). Ngài đã yêu thương chúng ta, tuyển chọn chúng ta, mời gọi chúng ta và tha thứ cho chúng ta.  Có các biến cố trong lịch sử tình yêu của chúng ta với Chúa cần được hồi sinh trong tâm trí từng người, nhưng cũng có ký ức của dân tộc. ĐTC nhấn mạnh điểm này như sau:

Và ký ức của dân tộc anh chị em rất cổ xưa và quý báu. Trong tiếng nói của anh chị em vang lên tiếng nói của các thánh khôn ngoan trong quá khứ; trong các lời nói của anh chị em vang vọng tiếng của người đã chế ra mẫu tự của anh chị em để loan báo Lời Chúa; trong các thánh ca của anh chị em tan hoà các khóc than và niềm vui của lịch sử của anh chị em. Duyệt xét lại tất cả những điều đó chắc chắn anh chị em có thể nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa: Ngài đã không bỏ anh chị em cô đơn. Ngài đã viếng thăm dân tộc của anh chị em, nhớ tới sự trung thành của tất cả những người đã làm chứng, cả với máu của mình, rằng tình yêu của Thiên  Chúa giá trị hơn sự sống. Thật là hay đẹp khi nhớ lại với lòng biết ơn đức tin kitô đã trở thành hơi thở của dân tộc anh chị em và con tim ký ức của nó.

Nền tảng vững chắc thứ hai là đức tin. Nó cũng là niềm hy vọng cho tương lai của anh chị em, là ánh sáng trên con đường cuộc sống. Nhưng cũng luôn luôn có nguy cơ làm lu mờ đức tin vì cám dỗ giản lược nó thành một cái gì của quá khứ, quan trọng nhưng thuộc các thời đại khác, như một cuốn sách được gìn giữ trong viện bảo tàng. Thật ra, đức tin là sức mạnh, là vẻ đẹp và sự rộng mở đối với tất cả mọi người; nó nảy sinh và tái sinh từ cuộc gặp gỡ sống động với Chúa Giêsu, từ kinh nghiệm về lòng thương xót của Ngài trao ban ánh sáng cho mọi trạng huống cuộc sống. Cần làm sống dậy mỗi ngày cuộc gặp gỡ này của chúng ta với Chúa, đọc và suy gẫm Lời Ngài trong thinh lặng để nhóm lên niềm vui trong con tim, một niềm vui lớn hơn sự buồn phiền, một niềm vui kháng cự lại khổ đau và biến thành an bình. Tất cả canh tân cuộc sống và khiến cho nó tự do và ngoan ngoãn đối với các ngạc nhiên, sẵn sàng với Chúa và với tha nhân. Chúa cũng có thể mời gọi chúng ta theo Ngài gần hơn, và dâng hiến cuộc sống cho Ngài và cho các anh chị em khác. Khi Ngài gọi anh chị em, đặc biệt là các người trẻ, đừng sợ hãi, nhưng hãy nói lên tiếng “có” để giãi sáng tình yêu và tiếp tục lịch sử rao truyền Tin Mừng, mà Giáo Hội và thế giới ngày nay cần đến.

Nền tảng thứ ba là tình yêu thương xót. Nó là đá tảng cho cuộc sống của người môn đệ Chúa Giêsu. Tình yêu cụ thể là tấm cạc có tên và địa chỉ của kitô hữu. Các kiểu giới thiệu khác có thể sai lạc và cả đến vô ích, vì mọi người sẽ nhận biết chúng ta  khi chúng ta yêu thương nhau. Chúng ta được mời gọi trước hết xây dựng và tái thiết các con đường của sự hiệp thông, mà không mệt mỏi, xây dựng các cây cầu hiệp nhất và thắng vượt các hàng rào phân cách.

Tiếp tục bài giảng ĐTC khẳng định như sau:

Thiên Chúa ở trong con tim của kẻ yêu mến: Thiên Chúa ở nơi đâu người ta yêu thương, đặc biệt nơi đâu người ta lo lắng cho người yếu đuối và nghèo nàn với lòng can đảm và thương xót. Điều này cần thiết biết bao: cần có các kitô hữu không để cho mệt mỏi đánh ngã, và không nản chí trước các đối nghịch, nhưng sẵn sàng và cởi mở, sẵn sàng phục vụ. Cần có những người thiện chí trợ giúp các anh chị em gặp khó khăn không phải chỉ bằng lời nói nhưng với cả việc làm. Cần có các xã hội công bằng hơn, trong đó mỗi người có thể có một cuộc sống xứng đáng hơn và nhất là một công việc làm được trả lương công bằng.

ĐTC đã nhắc tới gương của thánh Gregorio thành Narek, là tiếng nói của dân nước Armenia, là người luôn đặt để trong sự đối thoại các bần cùng của con người với lòng thương xót của Thiên Chúa. Thánh nhân là tiếng nói ủi an, khích lệ, dịu hiền, từ bi, thương xót của Chúa.

Trước khi ban phép lành cuối lễ ĐTC đã cám ơn Đức Thuợng Phụ Catholicos Karekin II và ĐTGM Minassian cũng như Đức Thưọng Phu Ghabroyan, các Giám Mục, linh mục và các giới chức chính quyền cũng như toàn thể tín hữu tham dự thánh lễ, dến từ nhiều miền, kể cả Cộng hoà Georgia. Ngài cũng cám ơn các người quảng đại trợ giúp dân nghèo, các nhân viên nhà thương Ashotsk, cộng đoàn công giáo địa phương, các nữ tu Armenia Vô nhiễm nguyên tội và các nữ tu thừa sai bác ái của Mẹ Têrêsa Calcutta.

Sau thánh lễ ĐTC đã đi một vòng quảng trường để chào tín hữu, rồi đến thăm tu viện “Đức Bà Armenia”, cách đó 5 cây số. Mẹ bề trên tu viện các nữ tu Armenia Vô nhiễm nguyên tội đã tiếp đón ĐTC tại lối vào viện mồ côi “Đức Bà Armeni – Trung tâm giáo dục Boghossian”, trong đó có 60 trẻ em mồ côi. Trong tu viện cũng có “Trường huấn nghệ Diramayr”. Các học sinh đảm trách việc tiếp đón ĐTC và phái đoàn Toà Thánh. ĐTC đã dùng bữa trưa trong tu viện của các nữ tu.

Vào lúc 4 giờ 15 phút chiều ĐTC từ giã cộng đoàn các nữ tu và nhân viên trường huấn nghệ và viện mồ côi tu viện Đức Bà Armenia. Ngài đã chụp hình lưu niệm với ba nhóm: các trẻ em mồ côi, các khách của tu viện cùng con em của họ, và các ân nhân. Tiếp đến ngài đến viếng thăm nhà thờ chính toà Tông truyền Gyumri tọa lạc tại quảng trường Vartanànts cách đó 5 cây số.

Nhà thờ chính toà Armenia Tông truyền “Yot Verk” được dâng kính Mẹ Thánh của Thiên Chúa, và được biết đến như là “Nhà thờ chính toà 7 vết thương của Đức Trinh Nữ Maria Rất Thánh”, chiếu theo hình vẽ trên gỗ được cất giữ tại đây. Bẩy vết thương quy chiếu 7 giai thoại cuộc đời Thánh Gia, từ biến cố trốn sang Ai Cập cho tới vụ an táng Chúa Giêsu. Ban đầu nhà thờ được làm bằng gỗ, sau đó vào cuối thế kỷ XIX được các ông hoàng nhà Kamsarakan thay thế bằng đá màu tối của vùng này. Dưới thời chính quyền Liên Xô mọi nhà thờ tại Gyumri đều bị đóng cửa. Nhà thờ chính toà Yot Verk đã là nơi thờ tự duy nhất được mở cửa cho các tín hữu. Bàn thờ chính giữa được dùng bởi Giáo Hội Armenia Tông Truyền, trong khi cung thánh phía bắc có tượng thánh giá lấy từ một nhà thờ công giáo dành cho các tín hữu công giáo, và cung thánh phiá nam có một ảnh Icone nga thánh Nicola vẽ trên gỗ dành cho tín hữu chính thống thuộc Toà Thượng Phụ Moscow. Bị hư hại trong trận động đất năm 1988 nhà thờ chính tòa được trùng tu với tiền quyên góp của các tín hữu Armenia di cư bên Argentina. Mái tròn cao 12 mét có bức bích họa Mẹ Maria bồng Chúa Giêsu hài đồng của họa sĩ Vardges Surenyants. Bên trong nhà thờ có nhiều ảnh Icone và trên tường có các bức bích họa thuộc thế kỷ XVII và các bức tranh sơn dầu.

ĐTC và Đức Thượng Phụ Catholicos tiến vào nhà thờ bên trong có vài Giám Mục Armenia Tông Truyền và một nhóm người tàn tật và người tỵ nạn Siri. ĐTC và Đức Thượng Phụ thinh lặng quỳ cầu nguyện trước ảnh Icone năm vết thương, rồi hai vị tôn kính thánh giá, trong khi đó một ca đoàn hát các thánh ca. Sau cùng ĐTC ban phép lành cho mọi người hiện diện. Khi ĐTC ra ngoài nhà thờ có một nữ ân nhân tặng quà cho ngài.

Tiếp đến ĐTC đã đi xe tới viếng thăm nhà thờ chính toà các thánh Tử đạo công giáo Armenia ở quảng trường Vartanànts, cách đó 700 mét. Nhà thờ chính toà này đã được khởi công xây cất năm 2010 do ĐTGM Minassian hoàn thành, và được ĐHY Leonardo Sandri, Tổng trưởng Bộ các Giáo Hội Đông Phương thánh hiến năm 2015.

ĐTGM Minassian và cha sở đã tiếp đón ĐTC tại cửa nhà thờ. Bên trong nhà thờ có một số các ân nhân của Giáo Hội công giáo Armenia. Sau lời nguyện của ĐTC Đức Thượng Phụ Catholicos đã ban phép lành cho mọi người.

Sau khi từ giã mọi người ĐTC đã ra phi trường Gyumri cách đó 6 cây số để lấy máy bay trở về Yerevan. Từ phi trường ĐTC đi xe tới quảng trường Cộng hoà Yerevan cách đó 12 cây số để tham dự buổi gặp gỡ đại kết cầu nguyện cho hoà bình. Quảng trường tọa lạc trước Dinh chính quyền, các Bộ và Viện bảo tàng quốc gia, có chỗ cho 50,000 người. Buổi phụng vụ lời Chúa cầu nguyện cho hoà bình được cử hành bằng tiếng Ý và Armenia.

Để thực hiện sự hiệp nhất cần có lời cầu nguyện của tất cả mọi người. và cần gia tăng tình yêu thương nhau, vì chỉ có lòng bác ái mới có thể chữa lành ký ức và các vết thương của quá khứ: chỉ có tình yêu thương mới xóa bỏ được các thành kiến và cho phép thừa nhận rằng việc cởi mở với người anh em thanh tẩy và cải tiến các xác tín của mình. Chúng ta được mời gọi can đảm từ bỏ các xác tín cứng nhắc và các lợi lộc riêng, nhân danh tình yêu tự hạ và trao ban, nhân danh tình yêu khiêm nhường.

ĐTC đã nói như trên trong bài giảng tại buổi cầu nguyện đại kết cho hoà bình. Ngài đã nói lên ước muốn của ngài được viếng thăm Armenia, là quốc gia đầu tiên trên thế giới đã lãnh nhận đức tin kitô. Các thánh giá bằng đá “khatchkar” kể lại một lịch sử duy nhất bao gồm đức tin sắt đá và khổ đau vô biên, một lịch sử giầu các chứng nhân tuyệt vời của Tin Mừng, mà anh chị em là những người thừa kế. Tôi đến như người hành hương từ Roma để gặp gỡ anh chị em và bầy tỏ tâm tình yêu thương quý  mến và vòng tay ôm huynh đệ của toàn thể Giáo Hội Công Giáo, yêu mến anh chị em và gần gũi với anh chị em.

Trong các năm qua các cuộc gặp gỡ giữa hai Giáo Hội đã được củng cố, luôn thân tình và đáng ghi nhớ. Và tôi cám ơn anh chị em vì lòng trung thành với Tin Mừng thường rất anh hùng, và là một món quà vô giá cho mọi kitô hữu. Chúng ta vui mừng chia sẻ biết bao bước tiến trên con đường chung, và tin tưởng hướng nhìn về một ngày, trong đó với sự trợ giúp của Thiên  Chúa, chúng ta sẽ hiệp nhất gần bàn thờ hiến tế của Chúa Kitô trong sự hiệp thông thánh thể tràn đầy.

ĐTC đã đặc biệt nhắc đến biết bao vị tử đạo đã đóng ấn niềm tin chung nơi Chúa Kitô với máu của các vị. Các vị là những vì sao chiếu sáng và chỉ đường cho chúng ta trên con đường còn lại phải đi. Trong số các vị thánh đó nổi bật là thánh Catholicos Nerses Shnorhali, rất yêu thương dân tộc và các truyền thống, và hướng tới các Giáo Hội khác. Sự hiệp nhất thực ra không phải là một lợi thế chiến thuật cần tìm kiếm cho lợi ích của nhau, nhưng là lợi thế mà Chúa Giêsu xin chúng ta, và là điều chúng ta phải chu toàn với thiện chí và tất cả sức lực của mình, để thực hiện sứ mệnh của chúng ta là trao ban Tin Mừng cho thế giới với sự trung thực. Theo thánh Nerses để thực hiện sự hiệp nhất cần thiết thiện chí của một ai đó trong Giáo Hội thì không đủ: cần phải có lời cầu nguyện của tất cả mọi người. Chính vì thế chiều nay tôi đến đây để xin anh chị em món quà của lời cầu nguyện. Thánh Nerses cũng ghi nhận là cần gia tăng tình yêu thương nhau, vì chỉ có lòng bác ái mới có thể chữa lành ký ức và các vết thương của quá khứ: chỉ có tình yêu thương mới xóa bỏ được các thành kiến và cho phép thừa nhận rằng việc cởi mở với người anh em thanh tẩy và cải tiến các xác tín của mình. Noi gương thánh nhân chúng ta được mời gọi can đảm từ bỏ các xác tín cứng nhắc và các lợi lộc riêng, nhân danh tình yêu tự hạ và trao ban, nhân danh tình yêu khiêm nhường: nó là dầu được chúc lành của cuộc sống kitô, là dầu thơm thiêng liêng quý báu chữa lành, củng cố và thánh hóa. Thánh nhân nói “Chúng ta hãy bổ túc các thiếu sót với lòng bác ái đồng nhất”… Không phải các tính toán, và các lợi thế, nhưng là tình yêu thương khiêm nhường và quảng đại lôi kéo lòng thương xót của Thiên Chúa Cha, phước lành của Chúa Kitô và sự phong phú của Chúa Thánh Thần.

Sự bình an mà Chúa Giêsu ban tặng cho chúng ta thế giới này vất vả tìm kiếm. Ngày nay các chướng ngại trên con đường hoà bình lớn biết bao, và các hậu quả của chiến tranh thê thảm biết bao! Tôi nghĩ tới các dân tộc bị bó buộc phải bỏ tất cả, đặc biệt là bên vùng Trung Đông, nơi biết bao nhiêu anh chị em của chúng ta đau khổ vì bạo lực và bách hại, vì thù hận và các xung khắc luôn luôn được dưỡng nuôi bởi tệ nạn phổ biến và buôn bán khí giới, bởi cám dỗ dùng võ lực và thiếu tôn trọng đối với con người, đặc biệt là đối với những người yếu đuối, nghèo nàn và đối với tất cả những ai chỉ xin có một cuộc sống xứng đáng.

Tiếp tục bài giảng trong buổi cầu nguyện đại kết cho hoà bình, ĐTC nói: Tôi không thể không nghĩ tới các thử thách kinh khủng mà dân tộc anh chị em đã phải sống: một thế kỷ đã qua, kể từ khi “Sự dữ lớn lao” đổ ập trên anh chị em. Cuộc tàn sát to lớn và điên loạn, mầu nhiệm thê thảm này của sự gian ác mà dân tộc anh chị em đã sống trong thịt xác, ghi đậm dấu trong ký ức và nung nấu con tim. Tôi muốn nhấn mạnh rằng các khổ đau của anh chị em cũng là các khổ đau của chúng tôi: chúng là các khổ đau của Thân Mình mầu nhiệm Chúa Kitô. Nhớ lại chúng không chỉ là điều thích đáng mà là một bổn phận: Ước chi chúng là lời cảnh cáo cho mọi thời đại, để thế giới đừng bao giờ rơi vào lốc xoáy của những kinh hoàng như thế!

ĐTC đã ca ngợi đức tin kitô của Giáo Hội Armenia cả trong những lúc thê thảm nhất của lịch sử đã là sức đẩy khai mào cuộc tái sinh của dân tộc bị thử thách. Nó chính là sức mạnh đích thực cho phép anh chị em rộng mở cho con đường nhiệm mầu và cứu rỗi của Phục Sinh: các vết thương còn mở và bị gây ra bởi thù hận tàn bạo và vô nghĩa có thể trong một cách thế nào đó đồng hình dạng với các vết thương của Chúa Kitô phục sinh, với các vết thương đã bị mở ra và Ngài còn mang trên thịt xác ngày hôm nay… Các vết thương kinh khủng ấy được tình yêu biến đổi đã trở thành suối nguồn của tha thứ và hoà bình… Thật thế, ký ức được tình yêu đi ngang qua có khả năng bước đi trên các con đường mới gây kinh ngạc, nơi các đan dệt của thù hận biến thành các dự án hoà giải, trong đó có thể hy vọng nơi một tương lai tốt đẹp hơn cho mọi người.

Hướng tới các ban trẻ ĐTC nói: Các người trẻ thân mến, tương lai này tuỳ thuộc các con: khi làm cho sự khôn ngoan của cha ông các con thành kho tàng, các con hãy ước muốn trở thành những người xây dựng hòa bình, không phải các chưởng khế của tình trạng ngưng đọng, nhưng là những người tích cực thăng tiến một nền văn hóa gặp gỡ và hoà giải.

ĐTC đã khích lệ mọi người noi gương thánh Gregorio thành Narek mà ngài đã tuyên bố là Tiến sĩ Giáo Hội và có thể gọi thánh nhân là “Tiến sĩ hòa bình”. Cuốn sách ngài viết có thể là hiến pháp tinh thần của nhân dân Armenia, trong đó có lời cầu này: “Lạy Chúa, xin nhớ tới những người trong dòng giống nhân loại là các kẻ thù của chúng con, nhưng vì thiện ích của họ, xin thực thi nơi họ sư tha thứ và lòng thương xót” Như thánh nhân chúng ta cũng phải là người dâng lời cầu nguyện cho toàn thế giới. ĐTC gửi lời chào mọi người dân Armenia sống rải rác đó đây trên thế giới, và cầu chúc họ trở thành các sứ giả của sự hiệp thông và hòa bình.

ĐTC và Đức Thượng Phụ Catholicos đã ôm hôn trao ban bình an cho nhau, rồi ban phép lành cho tín hữu.

Từ giã mọi người ĐTC đã đi xe về dinh Tông toà Etchmiadzin cách đó 12 cây số để dùng bữa tối và nghỉ đêm, kết thúc ngày thứ hai trong chuyến viếng thăm Armenia ba ngày.

Linh Tiến Khải

Đức Thánh Cha gặp gỡ chính quyền Armenia

Đức Thánh Cha gặp gỡ chính quyền Armenia

Đức Thánh Cha gặp gỡ chính quyền Armenia

YEREVAN. Trong buổi gặp gỡ chính quyền và ngoại giao đoàn, cũng như các giới chức xã hội và dân sự Armenia, ĐTC ca ngợi niềm tin mạnh mẽ của dân tộc này và kêu gọi giới lãnh đạo bảo vệ nhân quyền và tự do tôn giáo.

Lúc 5 giờ rưỡi chiều ngày 24-6-2016, ĐTC đã đến phủ tổng thống Armenia cách dinh Tông Tòa 16 cây số để viếng thăm.

Tổng thống Sargsyan năm nay 62 tuổi (1954), đã từng làm bộ trưởng quốc phòng, rồi thủ tướng của Armenia, trước khi đảm nhận trách vụ hiện thời từ 8 năm nay (2008). Hồi tháng 4 năm ngoái (2015), ông đã cùng với Đức Tổng thượng Phụ Karekin và các GM Armeni, Công Giáo và Tông truyền, đến Vatican để tham dự phụng vụ do ĐTC Phanxicô chủ sự tại Đền thờ Thánh Phêrô nhân dịp kỷ niệm 100 năm cuộc ”tử đạo” của một triệu rưỡi người Armenia dưới bàn tay của quân Ottoman Thổ Nhĩ kỳ.

Sau khi hội kiến riêng với Tổng thống và chào thăm gia đình ông, ĐTC đã gặp gỡ các giới chức chính quyền và xã hội dân sự và văn hóa của Armenia cũng như ngoại giao đoàn tại nước này, tổng cộng là 240 người, vào lúc 6 giờ rưỡi chiều, cũng tại phủ Tổng Thống.

 

Diễn văn của ĐTC

Lên tiếng trong dịp này, sau khi cám ơn Tổng Thống, ĐTC nhắc đến Đại Tai Ương hàng triệu người dân Armenia bị tàn sát và lễ tưởng niệm đã được cử hành hồi tháng 4 năm ngoái ở Đền thờ Thánh Phêrô ở Vatican. Ngài cũng ca ngợi dân tộc Armenia kiên vững trong thử thách và tìm được sức mạnh nơi thập giá của Chúa Kitô:

”Tôi ca ngợi dân tộc Armenia, được ánh sáng Tin Mừng soi chiếu, cả trong những lúc bi thảm nhất của lịch sử, vẫn luôn tìm thấy nơi Thập Giá và sự Phục Sinh của Chúa Kitô, sức mạnh để trỗi dậy và tiếp tục hành trình trong phẩm giá. Điều này cho thấy cội rễ đức tin Kitô thật là sâu xa và kho tàng vô biên ơn an ủi và hy vọng chứa đựng trong đó. Nhớ đến những hậu quả đau buồn mà oán thù, thành kiến và ước muốn thống trị vô độ đưa tới trong thế kỷ vừa qua, tôi nồng nhiệt cầu chúc nhân loại biết rút ra từ kinh nghiệm bi thảm ấy bài học để hành động với tinh thần trách nhiệm va khôn ngoan để phòng ngừa, đừng để những điều kinh hoàng ấy tái diễn. Vì thế, từ mọi phía cần gia tăng nỗ lực để, trong những tranh chấp quốc tế, sự đối thoại luôn được trổi vượt, sự chân thần và liên lỷ tìm kiếm hòa bình, sự cộng tác giữa các quốc gia và sự chuyên cần dấn thân của các tổ chức quốc tế luôn chiếm ưu thế để kiến tạo một bầu không khí tín nhiệm, để đạt tới những hiệp định lâu bền.

ĐTC cho biết: ”Giáo Hội Công Giáo mong ước tích cực cộng tác với tất cả những người quan tâm đến số phận của nền văn minh và sự tôn trọng các quyền con người, để trên thế giới, các giá trị tinh thần được chiếm ưu thế, vạch mặt những người làm băng hoại ý nghĩa và vẻ đẹp của các giá trị ấy. Về vấn đề này, một điều tối quan trọng là tất cả nhưng người tuyên xưng niềm tin nơi Thiên Chúa hiệp lực với nhau để cô lập hóa những kẻ lạm dụng tôn giáo để thực hiện những dự án chiến tranh, chiếm đoạt, bách hại, lèo lái và lạm dụng danh thánh của Thiên Chúa.

”Đặc biệt ngày nay, các tín hữu Kitô, giống như và có thể là hơn cả thời các vị tử đạo đầu tiên, tại một số nơi họ bị kỳ thị và bách hại chỉ vì họ tuyên xưng niềm tin của họ, trong khi quá nhiều xung đột ở nhiều miền trên thế giới vẫn chưa tìm được những giải pháp tích cực, tạo nên tang tóc, tàn phá và những cuộc cưỡng bách di cư toàn thể dân tộc. Vì thế điều tối cần thiết là các vị nắm giữ vận mệnh của các dân nước này can đảm và không chút trì hoãn đề ra và thực hiện những sáng kiến nhắm chấm dứt những đau khổ ấy, tìm kiếm hòa bình, bảo vệ và đón tiếp những người đang bị tấn công và bách hại, thăng tiến công lý và sự phát triển dài hạn như những mục tiêu hàng đầu. Nhân dân Armeni đã đích thân trải qua những tình trạng như thế; họ biết đau khổ và bách hại; họ bảo tồn trong ký ức không những các vết thương trong quá khứ, nhưng cả tinh thần giúp họ mỗi lần đầu bắt đầu lại. Theo ý nghĩa đó, tôi khích lệ anh chị em đừng quên sự đóng góp quí giá này cho cộng đồng quốc tế.

Trong bài diễn văn, ĐTC cũng đề cập đến một kỷ niệm quan trọng và nói rằng:

”Năm nay là năm kỷ niệm 25 năm Armenia được độc lập. Đây là một dịp quí giá để vui mừng và nhớ đến những mục tiêu đã đạt được cũng như để đề ra những mục tiêu mới cần hướng tới. Những buổi lễ mừng độc lập càng có ý nghĩa nếu chúng trở thành cho mọi người Armenia ở quê hương cũng như ở hải ngoại một dịp đặc biệt để hồi niệm và phối hợp nghị lực, với mục đích tạo điều kiện dễ dàng cho sự phát triển đất nước về mặt dân sự và xã hội, công bằng và bao gồm mọi người. Vấn đề ở đây là liên tục kiểm chứng để không bao giờ lỗi những giới luật luân lý về công lý bình đẳng cho tất cả mọi người và về tình liên đới với nhưng người yếu thế và kém may mắn.

Về phần mình, Giáo Hội Công Giáo, tuy chỉ hiện diện tại đất nước này với số người giới hạn, nhưng cũng vui mừng vì có thể góp phần làm tăng trưởng xã hội, đặc biệt trong những hoạt động nhắm giúp đỡ những người yếu thế và nghèo túng hơn, trong lãnh vực y tế và giáo dục, trong lãnh vực bác ái, như nhà thương Redemptoris Mater, Mẹ Giáo Hội, ở Ashotsk, từ 25 năm nay, hoạt động của trường học ở thủ đô Yerevan, các sáng kiến của Caritas Armenia và hoạt động của các dòng tu.

Xin Chúa chúc lành và bảo vệ Armenia, phần đất được soi sáng nhờ đức tin, lòng can đảm của các vị tử đạo, niềm hy vọng mạnh hơn mọi đau khổ”.

Giã từ Tổng thống và các giới chức chính quyền, ĐTC đã về dinh tông tòa ở Etchmiadzin của Giáo Hội Armenia Tông Truyền để hội kiến với Đức Tổng Thượng Phụ và chào thăm phái đoàn 45 GM của giáo hội này vào lúc 7 giờ rưỡi tối. Sau đó ngài đã dùng bữa tối và qua đêm cũng tại dinh này.

Chương trình viếng thăm của ĐTC thứ bẩy 25-6-2016

Thứ bẩy 25-6-2015, ĐTC sẽ đến viếng thăm và cầu nguyện tại Đài tưởng niệm sẽ tới đài tưởng niệm Tzitzernakaberd, hay còn gọi là ”Pháo đài chim én” nằm trên một ngọn đồi.

Đài tưởng niệm này được xây năm 1967 để tưởng niệm 1 triệu rưỡi người Armenia đã bị sát hại hồi năm 1915 dưới thời đế quốc Ottoman của Thổ Nhĩ kỳ. Các nạn nhân thuộc 29 tỉnh đã bị giết trong 3 năm trời. Khu vực này bao gồm một viện bảo tàng, một đài tưởng niệm với 12 cây cột và một bút tháp cao vút. Đài tưởng niệm hình tròn, chính giữa có ngọn lửa thiêng cháy suốt ngày đem và có 12 cây cột nghiêng chụm đầu vào nhau biểu tượng cho các tỉnh có các nạn nhân bi sát hại. thêm vào đó là hai cây kim cao vút lên trời ám chỉ sự tái sinh của dân nước Armenia.

Trong dịp này, ĐTC cũng sẽ thăm bảo tàng viện diệt chủng và gặp khoảng 10 người con cháu của những người Armenia bị bách hại.

Tiếp đến vào lúc 10 giờ, ngài sẽ đáp máy bay đến Gumri, thành phố lớn thứ hai của Armenia, để cử hành thánh lễ theo nghi thức la tinh cho các tín hữu. Ban trưa ngài viếng thăm và dùng bữa tại Tu viện Đức Mẹ Armenia của các nữ tu dòng Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội.

Ban chiều cùng ngày, ĐTC còn viếng nhà thờ chính tòa của Giáo Hội Armenia Tông truyền cũng tại Gumri rồi thăm nhà thờ Chính tòa của Công Giáo tại đây, trước khi bay trở lại thủ đô Yerevan.

G. Trần Đức Anh OP

 

Đức Thánh Cha bắt đầu viếng thăm Cộng Hòa Armenia

Đức Thánh Cha bắt đầu viếng thăm Cộng Hòa Armenia

Đức Thánh Cha bắt đầu viếng thăm Cộng Hòa Armeni

EREVAN. Chiều ngày 24-6-2016, ĐTC Phanxicô đã đến Yerevan để bắt đầu chuyến viếng thăm 3 ngày tại Cộng hòa Armenia, cho đến chiều chúa nhật 26-6-2016.

Đây là chuyến viếng thăm mục vụ thứ 14 của ngài tại nước ngoài và Armenia là quốc gia thứ 22 được ngài đến thăm. ĐTC sẽ trở lại vùng Caucase này để viếng thăm 2 nước láng giềng của Armenia là Cộng hòa Georgia và Azerbaigian vào tháng 9 năm nay.

Cùng đi với ĐTC trên chuyến bay có đoàn tùy tùng gồm 30 người và 70 ký giả Italia và quốc tế, không kể hơn 600 ký giả đã đăng ký tại phòng báo chí của Armenia để theo dõi và tường thuật về cuộc viếng thăm của ĐTC.

Armenia là một quốc gia bé nhỏ chỉ rộng gần 30 ngàn cây số vuông, với hơn 2 triệu 900 ngàn dân cư, trong đó 90% là tín hữu thuộc Giáo Hội Armenia tông truyền, và khoảng 10% tức là 280 ngàn tín hữu Công Giáo Armenia, với 3 giáo phận do 3 GM coi sóc và 40 giáo xứ được 30 LM triều và dòng phụ trách. Ngoài ra có 50 ngàn tín hữu Công Giáo la tinh sinh sống tại nước này.

Trên huy hiệu chính thức cuộc viếng thăm của ĐTC có hàng chữ: ”ĐGH Phanxicô tại Armenia từ 24 đến 26-6-2016. Cuộc viếng thăm tại nước Kitô đầu tiên.” Armenia đã được rửa tội theo Kitô giáo hồi năm 301, tức là 12 năm trước khi đế quốc Roma được hoàng đế Constantino tha bắt đạo.

Biến cố kỷ niệm 1700 năm Armenia lãnh nhận bí tích rửa tội đã được mừng trọng thể cách đây 15 năm (2001), đặc biệt với cuộc viếng thăm của thánh Gioan Phaolô 2 Giáo Hoàng tại đây từ ngày 25 đến 27-9-2001.

Tiếp đón

Sau 4 giờ bay, vượt qua 3 ngàn cây số, ĐTC và đoàn tùy tùng đã tới phi trường Zvartnots của thủ đô Yerevan vào lúc gần 3 giờ chiều giờ địa phương, tức là gần 1 giờ trưa giờ Roma. Yerevan ở cao độ 1 ngàn mét và có từ 3 ngàn năm nay. Đây cũng là thành phố lớn nhất của Armenia với hơn 1 triệu 200 ngàn dân cư, tức là chiếm hơn 1 phần 3 dân số toàn quốc.

 

Tổng thống Cộng hòa Armenia, Ông Serzb Sargsyan, cùng với phu nhân và Đức Tổng Thượng phụ Karekin II và Đức Thượng Phụ Công Giáo Armenia Grégoire Pierre 20 Ghabroan cùng một số GM Công Giáo và chính quyền đã chào đón ĐTC tận chân thang máy bay. Hai em bé trong quốc phục đã dâng cho ngài bánh và muối như một cử chỉ chào mừng.

Sau nghi thức chào cờ và duyệt qua hàng quân danh dự, ĐTC đã được tháp tùng về trụ sở Giáo Hội Armenia Tông Truyền ở Etchmiadzin cách đó 12 cây số.

”Tòa Thánh” Etchmiadzin

Thành phố này chỉ có 56 ngàn dân cư cách thủ đô Yerevan 18 cây số về mạn tây, gồm nhiều dinh thự khác nhau, trong đó có dinh tông tòa, Nhà thờ chính tòa, giáo phủ, chủng viện, nhà khách và một bảo tàng viện lưu trữ nhiều bảo vật và thủ bán quí giá. Đây la ”Vaticvan” của Giáo Hội Armeni tông truyền, trung tâm hành chánh và tôn giáo của Armenia sau khi Kitô giáo được chọn làm quốc giáo tại đây từ năm 301.

Theo truyền thống, các cuộc viếng thăm của các vị thủ lãnh tôn giáo bắt đầu với một nghi thức cầu nguyện ngắn tại Nhà thờ chính tòa ở Etchmiadzin và ĐTC Phanxicô cũng không đi ra ngoài thông lệ đó của Giáo Hội Armeni Tông truyền.

Nghi thức bắt đầu bằng bài nguyện ca Hrashapar dâng kính thánh Gregorio Vị Soi sáng, trong khi ĐTC và Đức Karekin II cùng hôn bàn thờ, và hai vị GM đọc thánh vịnh 122: ”Vui dường nào khi thiên hạ bảo tôi: Nào ta hãy đi về nhà Chúa. Chân chúng tôi đã dừng lại ở cửa ngươi, hỡi Jerusalem!”.

 Lên tiếng sau lời chào mừng của Đức Tổng thượng Phụ Karekin, ĐTC ca ngợi đức tin của nhân dân Armenia, sự giao hảo và cộng tác tốt đẹp giữa Giáo Hội này với Cộng Giáo, đồng thời ngài nhắc đến những thách đố đang chờ đợi hai Giáo Hội. Ngài nói:

”Trong dịp long trong này, tôi cảm tạ Chúa vì ánh sáng đức tin được thắp lên nơi đất nước của anh chị em, niềm tin đã mang lại cho Armenia căn tính đặc thù và làm cho Armenia trở thành sứ giả của Chúa Kitô giữa các dân nước. Chúa Kitô là vinh quang, là ánh sáng, là mặt trời chiếu soi anh chị em và ban cho anh chị em sự sống mới, tháp tùng và nâng đỡ anh chị em, đặc biệt trong những lúc thử thách cam go. Tôi cúi đầu trước lòng thương xót của Chúa, Đấng đã muốn cho Armeni trở thành quốc gia đầu tiên, ngay từ năm 301, đón nhận Kitô giáo như tôn giáo của mình, trong một thời kỳ đế quốc Roma vẫn còn hung hăng bách hại.

Niềm tin nơi Chúa Kitô, đối với Armenia không phải như chiếc áo người ta có thể mặc vào hoặc cởi ra tùy theo hoàn cảnh hoặc theo cơ hội thuận tiện, nhưng là một thực tại cấu thành chính căn tính của mình, một hồng ân bao la cần đón nhận và gìn giữ với quyết tâm và lòng can đảm, dù phải hy sinh mạng sống. Như Thánh Gioan Phaolô 2 đã viết, ”Với phép rửa của cộng đoàn Armeni […] đã nảy sinh một căn tính mới của dân tộc, sau này trở nên thành phần cấu thành và không thể tách rời khỏi chính bản thể của Armeni. Từ đó không còn có thể nghĩ rằng, trong số các yếu tố cấu thành căn tính ấy, không có niềm tin nơi Chúa Kitô như một yếu tố nòng cốt” (Tông Thư nhân 1700 năm dân Armenia chịu phép rửa, 2-2-2001). Xin Chúa chúc lành cho anh chị vì chứng tá đức tin sáng ngời, chứng tỏ cụ thể hiệu năng mạnh mẽ và phong phú của phép rửa tội được lãnh nhận cách đây hơn 1,700 năm..

ĐTC cũng nói rằng: ”Tôi cảm tạ Chúa vì hành trình mà Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Armenia Tông Truyền đã thực hiện qua cuộc đối thoại chân thành và huynh đệ, để đạt tới sự chia sẻ trọn vẹn bàn tiệc Thánh Thể. Xin Chúa Thánh Linh giúp chúng ta thực hiện sự hiệp nhất mà Chúa đã cầu xin, để các môn đệ của Người được nên một, hầu cho thế gian tin.

ĐTC nhắc đến những giai đoạn quan trọng trong cuộc đối thoại đại kết giữa hai Giáo Hội, với sự đẩy mạnh trong thời gian gần đây nhờ Đức Tổng Thượng Phụ Vasken I và Karekin I, nhờ thánh Gioan Phaolô 2 và ĐGH Biển Đức 16.

Nhắc đến những thách đố đang chờ đợi, ĐTC nói:

”Rất tiếc là thế giới đang bị ghi đậm những chia rẽ và xung đột, cũng như những hình thức nghèo đói trầm trọng về vật chất và tinh thần, kể cả nạn bóc lột người, cho đến cả các trẻ em và người già, thế giới ấy đang chờ đợi nơi các tín hữu Kitô một chứng tá về sự quí chuộng nhau và cộng tác huynh đệ, làm cho quyền năng và chân lý về sự phục sinh của Chúa Kitô chiếu tỏa rạng ngời trước mặt mọi lương tâm. Sự dấn thân kiên nhẫn và đổi mới tiến về sự hiệp nhất trọn vẹn, sự tăng cường những sáng kiến chung và sự cộng tác giữa mọi môn đệ của Chúa để mưu công ích, giống như ánh sáng rạng ngời trong đêm đen và là một lời kêu gọi hãy sống trong tình bác ái và cảm thông nhau, dù có những khác biệt. Tinh thần đại kết có một giá trị gương mẫu kể cả đối với thế giới ở ngoài biên cương của cộng đồng Giáo Hội, và là một lời mạnh mẽ kêu gọi mọi người hãy giải quyết những bất đồng bằng con đường đối thoại và đề cao giá trị của những gì liên kết chúng ta. Ngoài ra tinh thần đại kết ngăn cản sự lợi dụng và lèo lái đức tin, vì nó buộc phải tái khám phá những căn cội chân thực, trao đổi, bảo vệ và phổ biến chân lý trong niềm tôn trọng phẩm giá của mỗi người và theo những thể thức qua đó người ta thấy được sự hiện diện của tình thương và ơn cứu độ mà ta muốn phổ biến. Như thế chúng ta sẽ trình bày cho thế giới một chứng tá đầy sức thuyết phục, chứng tá mà thế giới rất cần, đó là Chúa Kitô hằng sống và đang hoạt động, Ngài luôn có thể mở ra những con đường mới, hòa giải giữa các dân nước, các nền văn minh và tôn giáo. Chúng ta làm chứng và làm cho chân lý này trở nên đáng tin, đó là Thiên Chúa là tình thương và thương xót.”

Cuộc viếng thăm và cầu nguyện kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành của ĐTC và Đức Tổng Thượng Phụ Karekin. Ngài nghỉ ngơi tại dinh Tông Tòa, trước khi đến thăm Tổng thống Armenia và gỡ 240 người thuộc chính quyền, ngoại giao đoàn và các giới chức xã hội văn hóa vào lúc 5 giờ rưỡi chiều.

G. Trần Đức Anh OP

Thượng Phụ Công Giáo la tinh ở Jerusalem từ chức

Thượng Phụ Công Giáo la tinh ở Jerusalem từ chức

Thượng Phụ Công Giáo la tinh ở Jerusalem từ chức

VATICAN. ĐTC đã nhận đơn từ chức vì lý do tuổi tác của Đức Thượng Phụ Công Giáo la tinh Jerusalem, Fouad Twal.

ĐTC bổ nhiệm Cha Pierbattista Pizzaballa dòng Phanxicô làm Giám quản Tông Tòa tòa trống (sede vacante) đồng thời nâng cha lên hàng TGM hiệu tòa Verbe.

Cha Pizzaballa người Italia, năm nay 51 tuổi (1965). Sau khi thụ phong LM năm 1990, cha theo học tại Học Viện Kinh Thánh của dòng Phanxicô ở Jerusalem từ năm 1993. Sau đó cha làm giáo sư dạy tiếng Do thái Kinh Thánh tại Phân khoa Kinh Thánh và Khảo cổ của dòng Jerusalem.

Từ năm 2004 đến 2016, cha làm Bề Trên Dòng Phanxicô tại Thánh Địa 3 nhiệm kỳ, cho đến tháng 4 năm nay, 2016.

Đức nguyên Thượng Phụ Fouad Twal người Giordani năm nay 76 tuổi (1940), nguyên là một nhà ngoại giao của Tòa Thánh, cho đến khi được bổ nhiệm làm TGM giáo phận Tunis thủ đô Tunisie năm 1994. Tháng 9 năm 2005, ngài được bổ làm TGM Phó của Đức Thượng Phụ Công Giáo la tinh ở Jerusalem, và 3 năm sau ngài kế vị Đức Thượng Phụ Michel Sabbah.

 Đức Thượng Phụ Công Giáo la tinh ở Jerusalem cai quản các cộng đoàn Công Giáo la tinh ở Thánh Địa (Palestine, Israel, đảo Cypro, Giordanie) với 293 ngàn tín hữu Công Giáo thuộc 66 giáo xứ, 81 LM giáo phận và 383 linh mục dòng, 1,650 tu sĩ nam nữ, theo niên giám 2016 của Tòa Thánh.

G. Trần Đức Anh OP

Ngày Quốc tế giới trẻ là một hành trình thiêng liêng cho các bạn trẻ

Ngày Quốc tế giới trẻ là một hành trình thiêng liêng cho các bạn trẻ

Logo ngày Quốc tế giới trẻ 2016

Jakarta – Theo tin địa phương, gần 200 bạn trẻ Indonesia của 22 giáo phận đã đăng ký tham dự ngày Quốc tế giới trẻ ở Balan, được tổ chức từ 25-31/7 tới đây. Các bạn trẻ đã cố gắng kiếm tiền để chi trả cho chuyến đi mà họ sẽ được gặp Đức Thánh Cha Phanxicô. Cũng có 18 tình nguyện viên đã đăng ký với Ủy ban Phụ trách Giới trẻ. Các tình nguyện viên này sẽ khởi hành ngày 19/7 với Linh mục Antonius Haryanto, người phụ trách toàn bộ cuộc hành hương.

Cha Antonius Haryanto cho biết: lòng mong muốn mãnh liệt được tham dự ngày Quốc tế giới trẻ đã thúc đẩy các bạn trẻ vượt qua rào cản kinh tế, tìm kiếm những trợ giúp để giúp họ trang trải chi phí, dự tính khoảng 2000 Mỹ kim. Theo cha, sự hiện diện của Đức Thánh Cha Phanxicô là một trong những lý do chính thúc đẩy các người trẻ hăng hái tham dự sự kiện này, vì họ không muốn lỡ cơ hội nhìn thấy ngài và tham dự Thánh lễ với ngài. Cha nói: “Ngày Quốc tế giới trẻ là một dạng hành trình thiêng liêng cho các người trẻ; nơi đó các bạn có thể gặp và biết những người đến từ những vùng khác nhau của thế giới, cùng cử hành chung một đức tin với họ và trải nghiêm cùng những giá trị trong Giáo hội Công giáo”.

Đức cha Pius Riana Prabdi Pr, Gíam mục của giáo phận Ketapang (Tây Kalimantan), sẽ đến Cracovia để đồng hành với các bạn trẻ. Ngài cho biết là Indonesia đã bắt đầu việc chuẩn bị: các giáo phận tổ chức các sự kiện cộng đồng giữa các tham dự viên. Mỗi tuần, các bạn trẻ tụ họp thành nhóm để gặp nhau và chia sẻ những lý do tại sao họ tham dự cuộc hành hương. Một số đang chuẩn bị các trình diễn văn hóa để biểu diễn trong ngày Quốc tế giới trẻ.

Sắp tới, giới trẻ Công giáo Indonesia sẽ là tâm điểm của 2 sự kiện quan trọng khác của Giáo Hội. Vào tháng 10, ngày Giới trẻ Indonesia 2016 sẽ được tổ chức tại giáo phận Manado (Bắc Sulawesi) và Tổng giáo phận Semarang và Yogyakarta sẽ là nơi tổ chức ngày Giới trẻ Châu Á. (Asia News 22/6/2016)

Hồng Thủy Op

Các người nghèo, người bị loại trừ và bệnh tật là thịt xác của Chúa Kitô

Các người nghèo, người bị loại trừ và bệnh tật là thịt xác của Chúa Kitô

ĐTC Phanxicô chụp hình với nhóm 12 thanh niên Phi châu tỵ nạn trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 22-6-2016

Các người nghèo, ngưòi bị loại trừ và bệnh tật là thịt xác của Chúa Kitô. Khi giơ tay đụng đến người phong cùi, Chúa Giêsu dậy chúng ta đừng sợ hãi đụng chạm tới người nghèo và người bị loại trừ, bởi vì Ngài ở trong họ. Đụng chạm tới người nghèo có thể thanh tẩy chúng ta khỏi sự giả hình, và khiến cho chúng ta lo lắng cho điều kiện của họ.

ĐTC Phanxicô đã khẳng định như trên với hơn 40,000 tín hữu và du khách hành hương năm châu trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư hôm qua. Trong số các đoàn hành hương hiện diện cũng có một đoàn hành hương 50 người đến từ Việt Nam, do các cha Dòng Tên hướng dẫn. Cũng có một nhóm  12 người Phi châu tỵ nạn được Caritas Firenze hướng dẫn về hành hương Roma, gặp và chụp hình chung với ĐGH sau buổi tiếp kiến.

Trong bài huấn dụ ĐTC giải thích ý nghĩa lòng thương xót của Chúa Giêsu khi làm phép lạ cho người phong cùi được khỏi bệnh. Ngài nói: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn Chúa có thể thanh tầy con” (Lc 5,12): đó là lời xin mà chúng ta vừa nghe từ một người phong cùi. Người này không chỉ xin được chữa lành, nhưng được “thanh tẩy”, nghĩa là được chữa lành một cách toàn vẹn, trên thân xác và trong con tim. Thật thế, bệnh phong cùi đã bị coi như một hình thức chúc dữ của Thiên Chúa, của sự ô uế sâu xa. Người phong cùi phải ở xa tất cả mọi người; họ không thể đến đền thờ và tham dự việc thờ phượng Thiên Chúa. Xa cách Thiên Chúa và xa cách loài người. Họ có cuộc sống buồn thương.

Mặc dù vậy, người phong cùi này không chịu trận đối với bệnh tật cũng như đối với các quy định khiến cho anh ta trở thành một kẻ bị loại trừ. Để đến với Chúa Giêsu anh ta đã không sợ hãi vi phạm luật lệ, đi vào thành phố, là phạm điều anh ta không được làm, điều bị cấm; và khi tìm thấy Chúa anh quỳ gối xuống trước mặt Ngài và cầu xin Ngài: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con” (c. 12). Tất cả những  gì mà người bị coi là ô uế này làm và nói diễn tả đức tin của anh.  Anh nhìn nhận quyền năng của Chúa Giêsu: anh chắc chắn rằng Ngài có quyền chữa lành anh, và tất cả tuỳ thuộc nơi ý muốn của Ngài. Đức tin này là sức mạnh cho phép anh bẻ gẫy mọi quy ước và tìm gặp Chúa Giêsu, quỳ gối trước mặt Ngài, gọi Ngài là “Chúa”. ĐTC giải thích thêm cung cách hành xử  của người phong cùi như sau:

Lời khẩn nài của người phong cùi cho thấy rằng khi chúng ta đến với Chúa Giêsu, không cần phải làm các diễn văn dài dòng. Chỉ cần ít lời thôi, miễn là chúng được đi kèm bởi sự tin tưởng tràn đầy nơi sự toàn năng và lòng lành của Chúa. Thật thế, tín thác nơi ý muốn của Thiên Chúa có nghĩa là phó mình cho lòng thương xót vô biên của Ngài. Tôi cũng xin thổ lộ với anh chị em một điều riêng tư. Buổi tối trước khi đi ngủ, tôi đọc lời cầu nguyện ngắn này: “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tầy con”. Và tôi đọc một Kinh Lạy Cha cho mỗi một vết thương của Chúa Giêsu, bởi vì Chúa Giêsu đã thanh tẩy chúng ta với các vết thương của Ngài. Mà nếu tôi làm điều này, thì anh chị em cũng có thể làm ở nhà và nói: “Lậy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con” và đọc một Kinh Lậy Cha cho mỗi vết thương. Và Chúa Giêsu luôn luôn lắng nghe chúng ta.

Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC nói: Chúa Giêsu bị người phong cùi này đánh động một cách sâu xa. Tin Mừng thánh Marcô nhấn mạnh rằng “Ngài cảm thương anh ta, giơ tay ra đụng tới anh và nói: “Ta muốn, hãy được thanh tẩy” Cử chỉ của Chúa Giêsu đi kèm theo các lời nói của Ngài và khiến cho giáo huấn của Ngài được rõ ràng hơn. Chúa Giêsu giơ tay ra và còn đụng vào người phong cùi nữa, chống lại Lề Luật Môshê cấm đến gần một người phong cùi (x. Lv 13,45-436). Chống lại mọi điều luật, Chúa Giêsu giơ tay và còn đụng tới anh nữa. Có biết bao lần chúng ta găp gỡ một người nghèo đến gặp chúng ta! Chúng ta cũng có thể quảng đại, có thể cảm thương, nhưng không đụng tới tay họ. chúng ta cho họ một đồng bạc, nhưng tránh đụng tới tay họ, chúng ta vứt đồng bạc ở đó. Và chúng tra quên rằng người đó là thịt xác của Chúa Kitô ! Chúa Giêsu dậy chúng ta đừng sợ hãi đụng tới người nghèo và người bị loại trừ, bởi vì Ngài ở trong họ. Dụng chạm tới người nghèo có thể thanh tẩy chúng ta khỏi sự giả hình và khiến cho chúng ta lo lắng cho điều kiện của họ. Đụng chạm tới những người bị loại trừ. Hôm nay có các người trẻ này đồng hành với tôi. Có biết bao người nghĩ rằng họ ở lại trong đất nước của họ thì tốt hơn, nhưng tại đó họ đau khổ biết bao! Họ là những người tỵ nạn của chúng ta, nhưng biết bao người coi họ là những kẻ bị loại trừ. Tôi xin anh chị em, họ là anh em của chúng ta! Kitô hữu không loại trừ ai hết, nhưng cho họ chỗ và để cho tất cả mọi người đến.

Sau khi đã chữa lành người phong cùi, Chúa Giêsu truyền cho anh đừng nói với ai, nhưng Ngài bảo anh: “Hãy đi trình diện tư tế, và dâng lễ vật cho việc thanh tẩy như Môshê dậy để làm chứng cho họ” (c. 14). Việc sắp đặt này của Chúa Giêsu cho thấy ít nhất ba điều. Thứ nhất, ơn thánh hoạt động trong chúng ta không tìm khuynh hướng cảm xúc. ĐTC giải thích:

Bình thường ơn thánh di chuyển một cách kín đáo và không gây ồn ào. Để chữa lành các vết thương của chúng ta và dẫn chúng ta trên con đường của sự thánh thiện, ơn thánh làm việc bằng cách kiên nhẫn nhào nắn con tim chúng ta theo Trái Tim của Chúa, như vậy để nó càng ngày càng có các tư tưởng và tâm tình của Chúa hơn. Thứ hai, khi chính thức làm cho các tư tế kiểm thực việc lành bệnh đã xảy ra, và dâng một hy lễ đền tội, người phong cùi được tái gia nhập cộng đoàn tín hữu và cuộc sống xã hội. Việc tái hội nhập anh thành toàn việc lành bệnh. Như chính anh đã xin, giờ đây anh được thanh tẩy hoàn toàn. Sau cùng, khi trình diện với các tư tế, người phong cùi làm chứng cho Chúa Giêsu và quyền bính cứu thế của Ngài. Sức mạnh của lòng thương xót mà Chúa Giêsu dùng để chữa lành người phong cùi đã đưa đức tin của người ấy tới chỗ rộng mở cho việc truyền giáo. Anh đã là một người bị loại trừ, giờ đây anh trở thành một người trong chúng ta.

Rồi ĐTC kết thúc bài huấn dụ như sau: Chúng ta hãy nghĩ tới mình, tới các khốn nạn của mình… Mỗi người đều có sự khốn nạn của mình. Chúng ta hãy suy tư với lòng chân thành. Có biết bao lần chúng ta bao che chúng với sự giả hình của các “cung cách hành xử tốt”. Nhưng chính khi đó lại cần ở một mình hơn cả, quỳ gối xuống trước mặt Thiên Chúa và cầu nguyện: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con”. Và anh chị em hãy làm điều đó, hãy làm điều đó mỗi chiều trước khi đi ngủ. Và bây giờ chúng ta hãy nói lên lời cầu đẹp này: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con”. Tất cả cùng nhau lập lại ba lần: “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con”. “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con”. “Lạy Chúa, nếu Chúa muốn, Chúa có thể thanh tẩy con”. Xin cám ơn anh chị em.

ĐTC đã chào nhiều đoàn hành hương khác nhau đến từ các nước Anh, Thụy Điển, Pháp, Đức, Áo, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Canada, Hoa kỳ, Trung quốc, cũng như các đoàn hành hương đến từ các nước châu Mỹ Latinh như Brasil.

Trong số các nhóm hành hương Pháp ĐTC đặc biệt chào phái đoàn đại biểu dấn thân trong xã hội dân sự do ĐC Dominique Rey hướng dẫn. Ngài khuyến khích họ hãy dám đụng chạm tới người nghèo đang muốn chúng ta trợ giúp họ. Cử chỉ này giải thoát chúng ta khỏi sự giả hình và tha thứ nhiều tội lỗi cho chúng ta.

Chào các đoàn hành hương nói tiếng Anh ĐTC cầu mong Năm Thánh Lòng Thương Xót là dịp giúp gia đình họ nhận được nhiều ơn thánh Chúa và giúp canh tân tinh thần.

Chào các đoàn hành hương nói tiếng Đức ĐTC cầu mong tháng 6 kính Thánh Tâm Chúa Giêsu giúp mọi người ý thức được lòng thương xót của Chúa Giêsu đối với nhân loại và thắp lên nơi từng người ngọn lửa đức tin truyền giáo.

Với các nhóm nói tiếng Bồ Đào Nha ngài đặc biệt chào các thành viên cộng đoàn Doce Mãe de Deus, và các thành viên hiệp hội Escuteiros giáo phận Leira. Ngài khích lệ họ dấn thân phục vụ các lý tưởng cao đẹp bằng cách tận dụng mọi khả năng Chúa ban.

Chào các nhóm Ba Lan ngài nhắn nhủ họ noi gương người phong cùi kêu lên Chúa để Ngài giải thoát khỏi tội lỗi và các quên sót, đồng thời luôn nhớ rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi chúng ta, trái lại Ngài đến gặp gỡ, chữa lành, xá giải và tha thứ tội lỗi chúng ta.

Trong số nhiều đoàn hành hương Italia ĐTC chào tín hữu các giáo phận Alba, Alghero-Bosa, do các Giám Mục hướng dẫn, các bác sĩ và người thiện nguyện của nhà thương bách khóa Gemelli thành viên tổ chức “Trao ban cuộc sống với con tim”. Ngài cám ơn họ vì các hoạt động khám tim miễn phí cho người nghèo với phòng khám di động. Ngoài ra ngày thứ năm vừa qua nhà thương cũng đã khánh thành  nhà ngủ cho các người vô gia cư, do cộng đồng thánh Egidio điều hành, thành quả của Năm Thánh Lòng Thương Xót. ĐTC cũng chào các tham dự viên đại hội Giostra del Saracino tỉnh Arezzo, năm nay có đề tại là lòng thương xót. Ngài khích lệ họ dấn thân gợi lại các biến cố lịch sử và phổ biến sứ điệp hoà bình, đối thoại và đối chiếu các nền văn hóa nhân danh thánh Phanxicô.

Chào các bạn trẻ, ĐTC khích lệ họ tận dụng các tài năng Chúa ban. Ngài xin các anh chị em đau yếu dâng hiến khổ đau cho Chúa Kitô để cộng tác vào việc cứu độ thế giới. và nhắn nhủ các đôi tân hôn ý thức sứ mệnh không thể thay thế được của họ trong bí tích hôn nhân.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành toà thánh ĐTC ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải

Khoảng 1500 bạn trẻ Philippine tham dự ngày Quốc tế Giới trẻ tại Cracovia

Khoảng 1500 bạn trẻ Philippine tham dự ngày Quốc tế Giới trẻ tại Cracovia

Cờ hiệu ngày Quốc tế giới trẻ ở Cracovia

Khoảng 1500 bạn trẻ Philippine dự kiến sẽ tham dự ngày Quốc tế Giới trẻ tại Cracovia, Balan vào cuối tháng 7 tới đây. Dự kiến sẽ có khoảng 2,5 triệu ngừoi trẻ từ khắp thế giới tham dự ngày hội đặc biệt này.

Johann Mangussad, một nhà thiết kế công nghiệp 27 tuổi, cho biết, anh không chờ đợi bất cứ điều gì đặc biệt ở Balan nhưng chỉ muốn thấy Chúa Giê-su. Anh nói: “Tôi muốn thấy Chúa trong mắt của mỗi người và mọi người tôi gặp. Tôi muốn cảm nhận sự hiện diện của Người”.

Sky Ortigas, đã tham dự ngày Quốc tế Giới trẻ 2 lần và đang chờ tham dự lần 3 chia sẻ: “Âm nhạc trong các nghi thức cử hành truyền cảm hứng và làm tôi xúc động, và cách nào đó làm cho tôi mong muốn biết Chúa nhiều hơn. Nhìn thấy mọi quốc gia và chủng tộc quỳ gối trước Chúa Ki-tô thì thật là tuyệt vời”.

Đoàn giới trẻ chính thức của Philippine sẽ được đại diện bởi 320 bạn trẻ đến từ Ủy ban Giới trẻ của Hội đồng Giám mục và mạng lưới mục vụ giới trẻ. Stephen Borja, thư ký của Ủy ban cho biết là các tổng giáo phận lớn như Manila và Cebu và các giáo phận như Cubao, Novaliches, Paranaque, và San Pablo cũng sẽ gửi các đoàn của riêng họ. Trung tâm mục vụ Mindanao-Sulu cũng gửi một đoàn từ khoảng 21 giáo phận ở miền nam Philippine. Trong khi đó, tòa Đại sứ Balan ở Manila cho biết họ đã nhận được it nhất 2200 đơn xin visa từ Philippin.

Trước khi đi đến Cracovia, các thành viên của đoàn Philippine sẽ gặp gỡ chuẩn bị. Borja cho biết: đây không chỉ là phần chuẩn bị trước mắt nhưng còn để củng cố tinh thần cộng đồng và chia sẻ quan điểm trong việc thực hiện cuộc hành hương này. Các nhóm đầu tiên của các đoàn sẽ đi Balan vào ngày 17/7 để tham dự “Ngày giáo phân”, một hoạt động trước khi đại hội Giới trẻ chính thức bắt đầu từ 26-31/7.

Đức Hồng Y của Manila Luis Antonio Tagle sẽ tham dự Đại hội cùng với Đức cha Joel Baylon của Legazpi, chủ tịch Văn phòng Giới trẻ của Phân bộ Giáo dân và Gia đình của Liên Hội đồng Giám mục châu Á. (Ucan news 21/6/2016)

Hồng Thủy Op

40 ngàn người đọc Kinh Truyền Tin với ĐTC: 19-6-2016

40 ngàn người đọc Kinh Truyền Tin với ĐTC: 19-6-2016

40 ngàn người đọc Kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha  19-6-2016

VATICAN. Trưa Chúa nhật 19-6-2016, ĐTC đã chủ sự buổi đọc kinh Truyền Tin với 40 ngàn tín hữu và mọi người hãy xác nhận tương quan của mình với Chúa Kitô.

 

Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, ĐTC đã quảng diễn ý nghĩa bài Tin Mừng chúa nhật thứ 12 thường niên năm C (Lc 9,18-24) và tái đưa ra những câu hỏi của bài Tin Mừng: ”Ai là Đức Giêsu đối với con người thời nay? Ai là Chúa Giêsu đối với mỗi người chúng ta?”. Ngài nói:

Bài huấn dụ

Đoạn Tin Mừng của chúa nhật này (Lc 9,18-24) có thể nói một lần nữa kêu gọi chúng ta hãy đối chiếu ”diện đối diện” với Chúa Giêsu. Tại một trong những lúc yên hàn hiếm hoi ở một mình với các môn đệ, Chúa hỏi các ông: ”Dân chúng nói Thầy là ai?” (v.18). Và họ thưa: ”Gioan Tẩy Giả; người khác thì nói là Elia; những người khác nữa thì cho là một trong các vị ngôn sứ thời xưa sống lại” (v.19). Vì vậy dân chúng quí chuộng Chúa Giêsu và coi Ngài như một đại ngôn sứ, nghĩa là Ngài là Đức Messia, là Con Thiên Chúa được Chúa Cha sai đến để cứu độ mọi người.

Bấy giờ Chúa Giêsu ngỏ lời trực tiếp với các Tông Đồ – vì đây là điều Ngài quan tâm hơn cả – và hỏi: ”Nhưng các con, các con bảo Thầy là ai?”. Phêrô nhân danh mọi người trả lời ngay: ”Thầy là Đức Kitô của Thiên Chúa” (v.20) nghĩa là: Thầy là Đức Messia, là Đấng được Thiên Chúa xức dầu và sai đến để cứu độ dân Người, theo Giao Ước và lời hứa. Thế là Chúa Giêsu thấy rằng 12 Môn Đệ, đặc biệt là Phêrô, đã nhận được từ Chúa Cha hồng ân đức tin, và vì thế Ngài bắt đầu nói với các ông một cách rõ ràng công khai về những gì đang chờ đợi Ngài ở Jerusalem: ”Con người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, tư tế và các thày thông luật phủ nhận, bị giết và ngày thứ ba sẽ sống lại” (v.22).

Cũng những câu hỏi ấy ngày nay được tái đề ra cho mỗi người chúng ta: ”Đối với dân chúng thời nay, ai là Đức Giêsu? Ai là Đức Giêsu đối với mỗi người chúng ta? Đối với tôi, với anh? Chúng ta được mời gọi chọn câu trả lời của thánh Phêrô như của chúng ta, vui mừng tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Lời vĩnh cửu của Chúa Cha đã nhập thể làm người để cứu chuộc nhân loại, đổ tràn trên loài người dồi dào lòng thương xót của Chúa”.

“Hơn bao giờ hết, thế giới đang cần Chúa Kitô, cần ơn cứu độ và tình yêu thương xót của Chúa. Nhiều người cảm thấy một sự trống rỗng quanh mình và trong mình; có những người khác sống trong lo âu và bất an vì sự bấp bênh và các cuộc xung đột”.

“Tất cả chúng ta đều cần những câu trả lời thích đáng cho các vấn nạn cụ thể của chúng ta. Trong Chúa Kitô, chỉ trong Chúa, mới có thể tìm được an bình đích thực và sự mãn nguyện cho mọi khát vọng của con người. Chúa Giêsu biết rõ tâm hồn của con người hơn ai khác. Vì thế Chúa Có thể chữa lành, trao ban cho con người sự sống và an ủi”.

”Sau khi kết thúc cuộc đối thoại với các tông đồ, Chúa Giêsu ngỏ lời với tất cả mọi người và nói: ”Ai muốn theo tôi, thì hãy bỏ mình đi, vác thập giá của mình mà theo tôi mỗi ngày” (v.23). Đây không phải là thánh giá để trang trí hoặc ý thức hệ, nhưng là thập giá nghĩa vụ mỗi người, hy sinh cho tha nhân vì yêu thương, – cho cha mẹ, con cái, gia đình, bạn hữu, và cả những kẻ thù nữa – thánh giá sẵn sàng liên đới với người nghèo, dấn thân cho công lý và hòa bình”.

Khi đón nhận những thái độ như thế, chúng ta luôn mất mát một cái gì. Không bao giờ chúng ta được quên rằng ”Ai mất mạng sống mình [vì Chúa Kitô] thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Đó là mất đi để tìm lại . Chúng ta hãy nhớ đến tất cả anh chị em chúng ta đang dâng hiến thời giờ, cơ cực hoặc thậm chí cả mạng sống của mình để khỏi chối bỏ niềm tin của họ. Qua Thánh Linh, Chúa Giêsu ban cho chúng ta sức mạnh để tiến bước trong hành trình đức tin và chứng tá.Và trong hành trình này chúng ta luôn có Mẹ Maria gần gũi và đi trước chúng ta. Chúng ta hãy để Mẹ cầm tay khi chúng ta tiến qua những lúc đen tối và khó khăn nhất.

Chào thăm và kêu gọi

Sau phép lành, ĐTC đã nhắc đến lễ phong chân phước hôm 18-6-2016 tại Foggia nam Italia cho cho Mẹ Maria Celeste Crostarosa, đan sĩ, sáng lập dòng các nữ tu Chúa Cứu Thế. Ước gì vị tân chân phước, qua tấm gương và sự chuyển cầu, giúp chúng ta làm cho trọn cuộc sống của chúng ta được giống Chúa Giêsu Đấng Cứu Độ chúng ta.

[Nữ tu Maria Celeste Crostarosa từ trần cách đây 261 năm, thọ 59 tuổi, và được coi là một trong những nhà thần bí lớn nhất ở Italia trong thế kỷ 18, với các tác phẩm tu đức sâu xa, lòng chiêm niệm cao độ và nhân cách mạnh mẽ.]

ĐTC cũng nhắc đến Công đồng Liên chính Thống giáo khai diễn ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống hôm 19-6-2016 theo lịch Chính thống tại đảo Creta Hy Lạp và mời gọi các tín hữu cầu nguyện cho anh chị em Chính Thống giáo. [Có 4 Giáo Hội Chính Thống vì những lý do khác nhau không đến tham dự Công đồng này]. ĐTC nói: ”Chúng ta hãy hiệp nguyện với các anh chị em Chính Thống của chúng ta, cầu xin Chúa Thánh Thánh ban ơn trợ giúp các Thượng Phụ, các TGM và GM đang họp nhau trong Công đồng này”.

ĐTC đã cùng mọi người đọc kinh Kính Mừng. Rồi ngài nhắc đến Ngày Thế giới người tị nạn, cử hành hôm 19-6 với chủ đề ”Với những người tị nạn. Chúng ta đứng về phía những người buộc lòng phải chạy trốn”. ĐTC nói: ”Những người tị nạn cũng là những người như tất cả mọi người, nhưng chiến tranh đã làm mất của họ gia cư, việc làm, thân nhân và bạn hữu. Cuộc sống và khuôn mặt của họ kêu gọi chúng ta hãy canh tân sự dấn thân kiến tạo hòa bình trong công lý. Vì thế chúng ta hãy đứng cạnh họ: gặp gỡ, đón tiếp, lắng nghe, và cùng họ trở thanh những người xây dựng hòa bình theo ý Chúa”

 

G. Trần Đức Anh OP 

 

Đức Thánh Cha viếng thăm Villa Nazareth

Đức Thánh Cha viếng thăm Villa Nazareth

Đức Thánh Cha viếng thăm Villa Nazareth

ROMA. Lúc 5 giờ chiều 18-6-2016, ĐTC đã đến viếng thăm Villa Nazareth ở Roma và trả lời nhiều câu hỏi thời sự do các bạn trẻ nêu lên.

Trung tâm này ở gần Nhà Quản Lý Phát Diệm, và do ĐHY Dominico Tardini, sau này là Quốc vụ khanh Tòa Thánh, thành lập cách đây 70 năm (1946) để đón nhận các trẻ mồ côi và con cái của những gia đình nghèo và đông con, với mục đích đề cao giá trị ơn gọi tông đồ của họ, phục vụ Giáo Hội và mưu thiện ích cho xã hội. Từ đó vào năm 1980, nảy sinh Hiệp hội ”Cộng đoàn Domenico Tardini” để đón tiếp giới trẻ và huấn luyện họ về đời sống Kitô. Năm 2004, Hội đồng Tòa Thánh về giáo dân nhìn nhận hiệp hội này như một Hội quốc tế của các giáo dân và thuộc quyền Tòa Thánh.

Tại Nhà nguyện của Villa Nazareth, ĐTC đã gặp gỡ các sinh viên, và chú giải cho họ đoạn Tin Mừng theo thánh Luca về người Samaritano nhân lành (Lc 10,25-37). Khi giải thích về phần này, ĐTC đặc biệt nói rằng:

Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi những linh mục đi vội vã

Thực vậy, ĐTC đã bình luận về thái độ của vị tư tế, thầy Lêvi, trong dụ ngôn người Samaritano nhân lành, vội vã đi mà không dừng lại cứu giúp người bị thương bên vệ đường, ngài nói:

”Xin Chúa giải thoát chúng ta khỏi những tên cướp, (như kẻ đã đả thương và cướp người đi đường). Có bao nhiêu tên cướp như vậy. Nhưng xin Chúa cũng giải thoát chúng ta khỏi những linh mục luôn vội đi, như người không có thời giờ để dừng lại giúp người bị thương, có thể là LM ấy phải đi đóng cửa nhà thờ, có một thời khóa biểu phải tôn trọng, không có giờ để lắng nghe và xem: họ phải làm những việc của mình. Xin Chúa giải thoát khỏi những nhà thông luật, như người không thể dừng lại, có thể đó là một luật sư không thể chịu nguy cơ đánh mất một ngày làm việc, và có lẽ là một ngày đi làm chứng ở tòa án.. Họ là một trong những người muốn trình bày đức tin nơi Chúa Giêsu với sự cứng nhắc của toán học. Xin Chúa dạy chúng ta dừng lại, và dạy chúng ta sự khôn ngoan của Tin Mừng. Nghĩa là xin Chúa cho chúng ta được bẩn tay: xin Chúa ban cho chúng ta ơn này”

Trả lời các câu hỏi

Sau đó, ĐTC gặp gỡ Cộng đoàn Villa Nazareth ở khuôn viên và trả lời 7 câu hỏi do một số đại diện cộng đoàn nêu lên, trước sự hiện diện của 1.300 người.

Trong số các câu trả lời, có những đoạn ĐTC khẳng định rằng:

Tại Trung Đông, có cuộc bách hại nhưng không có cuộc ”diệt chủng” Kitô

ĐTC cho biết ngài không thích dùng từ ”diệt chủng” để mô tả tình trạng các tín hữu Kitô ở Trung Đông, vì đây là một định nghĩa thu hẹp, chú ý tới vấn đề từ một cái nhìn xã hội học và như thế là thu hẹp thực tại phức tạp vào những thứ loại hoàn toàn theo năng động xã hội. Trong thực tế, ở Trung Đông, đó là một cuộc bách hại, ”đưa các tín hữu Kitô đến sự viên mãn niềm tin của họ”, là sự tử đạo, và có nghĩa là hy sinh mang sống của mình vì đức tin… Ví dụ các tín hữu Kitô Copte Ai Cập bị cắt cổ trên bãi biển ở Libia. Tất cả khi chết đều nói: ”Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con”. Tôi chắc chắn rằng phần lớn họ không biết đọc biết viết, nhưng họ là những ”tiến sĩ về sự sống phù hợp với Kitô giáo, nghĩa là họ là những chứng nhân đức tin và đức tin khiến cho chúng ta làm chứng về bao nhiêu điều khó khăn trong cuộc sống..”. ĐTC cũng cảnh giác rằng: “Chúng ta đừng tự lừa mình. Sự tử đạo đổ máu không phải là cách thức duy nhất để làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô ngày nay. Ngài nay chúng ta có nhiều tử đạo hơn so với những thế kỷ quá khứ, nhưng có một cuộc tử đạo hằng ngày: tử đạo vì kiên nhẫn, trong việc giáo dục con cái, trong sự chung thủy với tình yêu”.

Bao nhiêu lần tôi gặp khủng hoảng đức tin

Đáp một câu hỏi khác, ĐTC Phanxicô nói: ”Bao nhiêu lần tôi gặp khủng hoảng đức tin, nhiều lần tôi táo bạo trách Chúa Giêsu và nghi ngờ. Đây có phải là chân lý không? Đây là giấc mơ? Tôi đã gặp khủng hoảng như thế khi còn là một thiếu niên, chủng sinh, tu sĩ, linh mục, giám mục và cả khi làm giáo hoàng nữa”. Rồi ĐTC nhấn mạnh rằng ”một Kitô hữu không cảm thấy vài lần bị khủng hoảng vì đức tin thì họ thiếu một cái gì đó..” Ngài nói thêm rằng: ”Tôi không biết tiếng Hoa, với sinh ngữ tôi gặp nhiều khó khăn. Họ nói rằng từ khủng hoảng trong tiếng Hoa gồm 2 chữ gộp lại: rủi ro và cơ may”.

ĐTC cũng kêu gọi các bạn trẻ ”hãy chấp nhận rủi ro, nếu không cuộc sống của bạn dần dần sẽ bị tê liệt, hạnh phúc, hài lòng, nhưng nó bị dừng lại ở đó.. Thật là buồn khi thấy những người giống như những xác ướp ở trong bảo tàng viện hơn là một người sống động. Hãy chấp nhận rủi ro, hãy tiến bước!”

Tốt hơn đừng kết hôn nếu không ý thức về bí tích

ĐTC lập lại điều ngài đã nói trong hội nghị giáo phận Roma chiều thứ năm, 16-6-2016 ở Đền thờ Thánh Gioan Laterano: ”Tốt hơn đừng kết hôn nếu bạn không biết bí tích là gì!”. Ngài ghi nhận phần lớn các hôn nhân ngày nay là bất thành vì lý do đó”. Câu nói của ngài, khi công bố trên tờ thông tin của Phòng báo chí Tòa Thánh và báo Quan sát viên Roma, được điều chỉnh lại là ”một số hôn nhân ngày nay bất thành”.

Tại Villa Nazareth, ĐTC trở lại vấn đề này và giải thích rằng ”Ngày nay nhiều người không tự do trong nền văn hóa duy khoái lạc. Bí tích hôn phối chỉ có thể cử hành trong tự do, nếu không bạn đừng lãnh nhận bí tích này.. một số người kết hôn mà không biết điều mình làm. Có một nền văn hóa tạm bợ xâm nhập chúng ta, trong các giá trị và phán đoán của chúng ta. Điều này có nghĩa là hôn phối chỉ kéo dài bao lâu tình yêu còn kéo dài, rồi sau đó chấm dứt. Giáo Hội phải làm việc nhiều về điểm này trong việc chuẩn bị hôn phối”.

Nền kinh tế giết người, kỹ nghệ võ khí là doanh nghiệp nhiều lợi lộc.

ĐTC cũng nói rằng: ”Chiến tranh là doanh nghiệp hiện nay mang lại nhiều tiền bạc nhất. Nhiều khi Hội Chữ Thập Đỏ không đưa đồ cứu trợ đến nơi được. Nhưng võ khí vẫn luôn được đưa tới nơi, không có hải quan nào ngăn chặn chúng được”.

”Ngày nay có một nền kinh tế giết người. Nơi trung tâm kinh tế ấy không có con người nhưng chỉ có thần tiền bạc và điều này giết hại chúng ta. Một buổi sáng người ta thấy một người vô gia cư chết vì giá lạnh ở quảng trường Risorgimento (gần Vatican), điều này không thành tin tức. Nhưng nếu thị trường chứng khoán ở Tokio hay New York bị giảm 2, 3 phần trăm, thì nó trở thành một thảm họa quốc tế. Chúng ta là nô lệ của một chế độ giết người” (SD 18-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP

 

Kinh Lạy Cha là nền tảng của đời sống cầu nguyện

Kinh Lạy Cha là nền tảng của đời sống cầu nguyện

Thánh lễ sáng thứ Năm, 16.06, tại nguyện đường thuộc Nhà Thánh Marta

VATICAN. Đức Thánh Cha Phanxicô chia sẻ rằng cầu nguyện không phải là những lời nói ma thuật của những Kitô hữu. Khi cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha, chúng ta cảm nghiệm Thiên Chúa đang dõi mắt nhìm xem chúng ta. Lời cầu nguyện này phải là nền tảng trong đời sống thiêng liêng. Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ Năm, 16-06, tại nguyện đường thuộc Nhà Thánh Marta.

Đức Giêsu luôn quy hướng về Cha trong những giây phút thách đố nhất

Được gợi hứng từ bài Tin Mừng, thuật lại việc Đức Giêsu dạy các môn đệ cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha, Đức Thánh Cha đã chia sẻ những suy tư của mình về giá trị và ý nghĩa của cầu nguyện trong đời sống của một Kitô hữu. “Đức Giêsu luôn gọi ‘Cha’ trong những giây phút quan trọng hay thách đố nhất của cuộc đời. Chúa Cha biết rõ chúng ta cần gì, trước khi chúng ta cầu xin. Ngài là một người Cha luôn biết lắng nghe những điều kín ẩn nơi tâm hồn. Và chính Đức Giêsu đã khuyên chúng ta hãy biết cầu nguyện nơi kín ẩn chứ đừng lải nhải như dân ngoại.

Chính nhờ Cha mà chúng ta nhận lãnh được căn tính của mình là người con. Và khi thân thưa ‘Cha ơi’, thì điều ấy chạm đến cội rễ của căn tính nơi chúng ta: Căn tính Kitô hữu là trở nên con cái Chúa và đây là ân sủng của Thần Khí. Không ai có thể nói ‘Lạy Cha’ mà không nhờ ân sủng của Thánh Thần. ‘Lạy Cha’ cũng là từ mà Đức Giêsu đã dùng trong những thời khắc quan trọng: Khi Ngài tràn đầy niềm vui hay dạt dào cảm xúc: ‘Lạy Cha, con tạ ơn Cha, vì Cha đã mặc khải cho những người bé mọn.’ Hay khi Ngài khóc thương trước phần mộ của bạn Ngài là Lazaro: ‘Lạy Cha, con cảm tạ Cha vì Cha đã nhận lời con.’ Hoặc là trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời trên thánh giá.

Như vậy, ‘Lạy Cha’ là từ được Đức Giêsu sử dụng nhiều nhất trong những giờ phút quan trọng hay những thời khắc thách đố nhất của cuộc đời. Nếu chúng ta không cảm thấy mình là con cái Chúa, không muốn xem mình là con của Ngài, không muốn thân thưa ‘Lạy Cha’; lời cầu nguyện của chúng ta cũng giống như dân ngoại, chỉ là lải nhải những lời vô nghĩa.

Kinh Lạy Cha là nền tảng cầu nguyện

Nếu chúng ta không thể bắt đầu cầu nguyện với những lời của Kinh Lạy Cha, lời cầu nguyện của chúng ta sẽ chẳng đi đến đâu.

‘Lạy Cha’. Đó là một tâm tình khi cảm nhận được Cha đang nhìn xem chúng ta, cảm nhận được cầu nguyện không phải là chuyện mất thời gian. Nhưng đó là một lời mời đến cùng Thiên Chúa để Ngài ban tặng cho chúng ta căn tính được làm con. ‘Lạy Cha’ chính là chiều kích quan trọng trong lời cầu nguyện Kitô giáo. Chúng ta có thể cầu nguyện với các thánh, các thiên thần khi chúng ta đi đường hoặc hành hương… Tất cả những lời cầu nguyện này đều rất tuyệt vời nhưng chúng ta phải bắt đầu với ‘Lạy Cha’ và ý thức rằng chúng ta là con cái Chúa. Chúng ta có một người Cha yêu thương chúng ta và biết rất rõ chúng ta cần gì.

Trong kinh Lạy Cha, có một điều rất quan trọng là: ‘Xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con’. Điều này có nghĩa là lời cầu nguyện phải chuyển tải được cảm thức của chúng ta muốn trở nên anh chị em, là những thành viên của một gia đình. Không giống như Cain đã thù ghét em mình, chúng ta được mời gọi để tha thứ, tha thứ cho những ai xúc phạm chúng ta. Chúng ta hãy có tâm tình tha thứ, không giữ trong lòng những chuyện thù hằn, oán giận hay muốn trả thù.

Lời cầu nguyện đẹp nhất mà chúng ta có thể thân thưa với Thiên Chúa là lời cầu nguyện xin Chúa tha thứ cho tất cả mọi người cùng những tội lỗi mà họ đã phạm. Thật tốt nếu chúng ta biết xét mình về điều này: Thiên Chúa có là Cha của ta không? Ta có cảm nhận được Ngài là Cha không? Nếu ta không cảm nhận được, ta hãy nài xin Thánh Thần dạy chúng ta điều đó. Chúng ta có thể tha thứ, quên đi hận thù không? Nếu không, ta hay thân thưa với Cha: ‘Những người này cũng là con cái của Cha đấy, nhưng họ xúc phạm và làm tổn thương con… Xin Cha giúp con tha thứ cho họ, được không Cha?’ Chúng ta hãy thực hành việc xét mình và điều ấy sẽ mang lại cho chúng ta nhiều ích lợi. ‘Lạy Cha’ và ‘của chúng con’ đó là hai điều đem đến cho chúng ta căn tính là con cái Chúa và trao cho chúng ta một mái ấm gia đình trong cuộc lữ thứ hành hương về quê trời.”

Vũ Đức Anh Phương SJ

 

Đức Thánh Cha tiếp tham dự viên Ngày Năm Thánh của dân xiệc

Đức Thánh Cha tiếp tham dự viên Ngày Năm Thánh của dân xiệc

Pope Francis receives in audience representatives of the circus and world of travelling and folk shows on their Jubilee during the Year of Mercy

VATICAN. Sáng ngày 16-6-2016, ĐTC đã tiếp kiến hàng ngàn người thuộc các gánh xiệc, cũng như những người trình diễn văn nghệ lưu động, về Roma tham dự Ngày Năm Thánh dành cho họ.

Hiện diện tại Đại thính đường Phaolô 6 trong buổi tiếp kiến và đại diện mọi người chào mừng ĐTC có ĐHY Antonio Maria Viganò, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh mục vụ du lịch là người lưu động. Có một số đoàn xiếc từ các nước ngoài và đại diện các giới thuộc ngành này. Một số nghệ sĩ đã trình diễn các màn xiệc và có người dẫn mộn con beo nhỏ đến gần ĐTC.

Lên tiếng trong dịp này, ĐTC ca ngợi hoạt động của những người trình diễn văn nghệ lưu động, đặc biệt trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, được mở rộng cho những người túng thiếu nhất, những người vô gia cư, các tù nhân, các trẻ em bụi đời và nghèo đó. Đó là lòng từ bi thương xót, gieo vãi vẻ đẹp và niềm vui trong một thế giới nhiều đi u tối và sầu thảm.

ĐTC cũng nhận xét rằng ”Ngành văn nghệ lưu động và bình dân là hình thức giải trí cổ kính nhất, vừa tầm tay mọi người, và hướng đến mọi người, nhỏ cũng như lớn, đặc biệt là cho các gia đình; phổ biến nền văn hóa gặp gỡ và xã hội tính trong việc giải trí. Môi trường làm việc của anh chị em có thể trở thành nơi tập họp và huynh đệ. Vì thế tôi khuyến khích anh chị em hãy luôn có tinh thần đón tiếp đối với những người bé nhỏ và túng thiếu; trao tặng những lời nói và cử chỉ an ủi cho những người co cụm vào mình, nhớ lại lời thánh Phaolô: ”Ai làm những công việc từ bi thương xót, thì hãy thi hành những việc ấy trong niềm vui tươi” (Rm 12,8).

ĐTC không quên nhắc nhở những người làm nghề giải trí lưu động quan tâm chăm sóc đời sống đức tin của mình, tuy rằng sự liên tục di chuyển như vậy làm cho họ khó hội nhập vào đời sống của một giáo xứ một cách ổn định. Ngài nói: ”Anh chị em hãy lợi dụng mọi cơ hội để lãnh nhận các bí tích, hãy thông truyền cho con cái tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Tôi cũng kêu gọi các Giáo Hội địa phương và các giáo xứ quan tâm đến các nhu cầu của anh chị em và của tất cả những người lưu động” (SD 16-6-2016)

 G. Trần Đức Anh OP

Đức Thánh Cha khuyến khích trợ giúp các Giáo Hội Đông Phương

Đức Thánh Cha khuyến khích trợ giúp các Giáo Hội Đông Phương

Đức Thánh Cha khuyến khích trợ giúp các Giáo Hội Đông Phương

VATICAN. ĐTC cám ơn và khuyến khích các nỗ lực trợ giúp các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, để các Giáo Hội này có thể chiếu tỏa rạng ngời khuôn mặt của Chúa Kitô.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng ngày 16-6-2016, dành cho 90 tham dự viên Hội nghị thường niên của tổ chức Roaco là liên minh các cơ quan bác ái trợ giúp các Giáo Hội Công Giáo Đông phương. Hội nghị này tiến hành dưới quyền chủ tọa của ĐHY Leonardo Sandri, Tổng trưởng Bộ các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, và nhiều đại diện của các tổ chức bác ái và các vị sứ thần Tòa Thánh.

ĐTC đi từ sự kiện gần đây trong tiến trình tu bổ ở Bethlehem, trên trần một gian giữa của một đền thờ, người ta khám phá ra bức tranh khảm một thiên thần thứ 7, cùng với 6 thiên thần khác đang đi rước tiến về nơi Chúa sinh ra. Ngài nói:

”Sự kiện này làm cho chúng ta nghĩ rằng khuôn mặt của các cộng đoàn Giáo Hội cũng có thể bị che phủ vì những bụi bặm và những lớp vôi khác do những vấn đề khác nhau và tội lỗi. Trong chiều hướng đó, công việc của anh chị em phải luôn luôn được hướng dẫn do niềm xác tín rằng dưới những lớp bụi bặm và những gì che phủ về vật chất và luân lý, dưới những nước mắt và máu đổ do chiến tranh, bạo lực và bách hại gây ra, dưới những lớp phủ dường như không thể xuyên qua như thế, có một khuôn mặt sáng ngời như khuôn mặt thiên thần trong bức tranh khảm.”

ĐTC nhấn mạnh rằng: ”Tất cả anh chị em, qua những dự án và hành động, đang cộng tác vào việc tu bổ ấy, để khuôn mặt của Giáo Hội phản chiếu rõ rệt ánh sáng của Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể. Ngài là niềm an bình của chúng ta, và đang gõ cửa tâm hồn chúng ta ở Trung Đông, cũng như tại Ấn độ và Ucraina, quốc gia mà tôi đã muốn dành số tiền lạc quyên đặc biệt mới đây trong các nhà thờ ở Âu Châu hồi tháng tư vừa qua để cứu trợ.

Sau cùng, ĐTC đặc biệt nhắc đến sự hiện diện của Giáo Hội Siro Malabar và Siro Malankara ở ngoài bang Kerala bên Ấn Độ, một chủ đề được bàn tới trong khóa họp hiện nay của tổ chức Roaco. Ngài tái khẳng định lập trường và các chỉ thị của các vị Giáo Hoàng tiền nhiệm về quyền của các Giáo Hội này và các Giáo Hội Công Giáo la tinh, tránh tinh thần chia rẽ, và phải cổ võ tinh thần hiệp thông trong việc làm chứng tá về Chúa Giêsu Kitô Đấng Cứu Thế duy nhất.

Nhiều tín hữu Công Giáo đông phương thuộc hai Giáo Hội Syro Malabar và Syro Malankara ra ngoài lãnh thổ bang Kerala và sống rải rác tại các giáo phận Công Giáo la tinh. Từ đó thỉnh thoảng xảy ra những ”cọ xát” về thẩm quyền mục vụ giữa các GM la tinh và Đông phương. Các vị Giáo Hoàng trước đây đã đề ra các qui tắc cần thiết để việc mục vụ cho các tín hữu Đông phương được tiến hành hài hòa (SD 16-6-2016)

 

Linh đạo phu thê và gia đình theo Tông huấn Niềm Vui Yêu Thương

Linh đạo phu thê và gia đình theo Tông huấn Niềm Vui Yêu Thương

Joy of love 2

Trong chương IX, là chương cuối cùng của Tông huấn “Niềm Vui Yêu Thương”, ĐTC Phanxicô khai triển đề tài “Linh đạo  hay nền tu đức phu thê và gia đình”, các số từ 313 tới 325.

Mở đầu ĐTC viết: Tình bác ái có nhiều sắc thái khác nhau, tuỳ theo tình trạng cuộc sống mỗi người đã được mời gọi. Liên quan tới việc tông đồ của giáo dân, cách đây vài thập niên Công Đồng Chung Vatican II  đã nêu bật nền tu đức hay linh đạo phát xuất từ gia đình. Công Đồng khẳng định rằng “linh đạo của giáo dân phải có một diện mạo đặc biệt”, cả từ “tình trạng của hôn nhân và của gia đình” nữa và các lo lắng của gia đình không được là một cái gì  xa lạ với kiểu sống thiêng liêng của chúng. Vì thế, thật đáng công dừng lại một chút để miêu tả vài đặc thái nền tảng của linh đạo chuyên biệt này được phát triển trong năng động  các tương quan của cuộc sống gia đình (s. 313).

Linh đạo của sự hiệp thông siêu nhiên  

Chúng ta đã luôn luôn nói tới việc Thiên Chúa ở trong trái tim người sống trong ơn thánh Ngài. Ngày nay chúng ta cũng có thể nói rằng Thiên Chúa Ba Ngôi hiện diện trong đền thờ của sự hiệp thông hôn nhân. Cũng như Ngài ở trong các lời chúc tụng của dân Ngài (x. Tv 22,4), Thiên Chúa sống một cách thân tình trong tình yêu phu thê làm vinh danh Ngài (s. 314).

Sự hiện diện của Chúa sống trong gia đình là sự hiện diện thực sự và cụ thể, với tất cả các khổ đau, chiến đấu, niềm vui và các dự tính thường ngày. Khi người ta sống trong gia đình, nơi khó mà có thể giả bộ và nói dối, chúng ta không thể cho thấy một mặt nạ. Nếu tình yêu linh hoạt sự chân thành ấy, Chúa ngự ở đó với niềm vui và sự bình an của Ngài. Linh đạo của tình yêu gia đình đuợc làm thành bởi hàng ngàn cử chỉ thực sự và cụ thể. Trong sự khác biệt của các ơn và các cuộc gặp gỡ khiến cho sự hiệp thông chín mùi ấy, Thiên Chúa có chỗ riêng của Ngài. Sự tận hiến này hiệp nhất các giá trị nhân bản và các gia trị thiên linh, bởi vì nó tràn đầy tình yêu của Thiên Chúa. Một cách vĩnh viễn linh đạo hôn nhân là một nền tu đức  của mối dây được tình yêu của Thiên Chúa ở trong đó (s. 315).

Một sự hiệp thông gia đình được sống tốt đẹp là một lộ trình thánh hóa trong cuộc sống thường ngày và của sự trưởng thành thần bí, một phương thế  giúp kết hiệp thân tình với Thiên Chúa. Thật vậy, các nhu cầu huynh đệ và cộng đoàn của đời sống gia đình là một dịp để luôn luôn mở rộng con tim, và điều này khiến cho cuộc gặp gỡ với Chúa luôn luôn tràn đầy hơn. Lời Chúa nói với chúng ta rằng “ai ghét anh em mình thì bước đi trong tối tăm” (1 Ga 2,11), “ở trong sự chết” (1 Ga 3,14), và “đã không biết Thiên Chúa” (1 Ga 4,8). Vị tiền nhiệm của tôi, Đức Biển Đức XVI đã nói rằng “nhắm mắt trước người lân cận cũng là nhắm mắt trước Thiên Chúa”, và rằng tình yêu nói cho cùng là ánh sáng duy nhất luôn luôn chiếu soi trở lại một thế giới tối tăm. Chỉ nếu chúng ta yêu nhau, Thiên Chúa mới ở trong chúng ta và tình yêu của Ngài toàn hảo nơi chúng ta” (1 Ga 4,12). Vì bản vị con người có một chiều kích cấu trúc xã hội bẩm sinh, và vì kiểu diễn tả đầu tiên và nguyên thuỷ của chiều kích xã hội của con người là cặp vợ chồng và gia đình, linh đạo được nhập thể trong sự hiệp thông gia đình. Vì thế, những người có các ước mong thiêng liêng sâu thẳm không được cảm thấy rằng gia đình làm cho họ xa rời việc lớn lên trong cuộc sống của Thần Khí, nhưng nó là một lộ trình, mà Chúa dùng để đem họ tới các đỉnh cao của sự kết hiệp thần bí (s. 316).

Hiệp nhất trong lời cầu dưới ánh sáng của lễ Phục Sinh 

Nếu gia đình thành công trong việc tập trung nơi Chúa Kitô, thì Chúa hiệp nhất và soi sáng toàn cuộc sống gia đình. Các khổ đau được kinh nghiệm trong hiệp thông với Thập Giá của Chúa, và việc ôm lấy Ngài cho phép chịu đựng những lúc tệ hại hơn. Trong các ngày cay đắng của gia đình có một sự hiệp nhất với Chúa Giêsu bị bỏ rơi có thể giúp tránh được một sự đổ vỡ. Các gia đình đạt tới sự thánh thiện của chúng qua cuộc sống hôn nhân từ từ với ơn của Chúa Thánh Thần, cả bằng cách tham dự vào mầu nhiệm thập giá Chúa Kitô, là mầu nhiệm biến đổi các khó khăn và khổ đau thành của lễ tình yêu. Đàng khác, các lúc tươi vui, nghỉ ngơi hay mừng lễ, và cả tính dục được sống như một tham dự vào cuộc sống tràn đầy của sự Phục Sinh. Với các cử chỉ khác nhau thường ngày các cặp vợ chồng trao ban hình thái cho không gian đối thần, trong đó có thể sống kinh nghiệm sự hiện diện thần bí của Chúa phục sinh (s. 317).

Cầu nguyện trong gia đình là một phương thế ưu tiên giúp diễn tả và củng cố niềm tin phục sinh này. Mỗi ngày có thể tìm ra vài phút để hiệp nhất trước mặt Chúa hằng sống, nói với Ngài các điều khiến cho chúng ta âu lo, cầu nguyện cho các nhu cầu gia đình, cầu nguyện cho ai đó đang phải trải qua một lúc khó khăn, xin Ngài trợ giúp để yêu thương, cảm tạ Ngài vì sự sống và những điều tốt lành, xin Đức Trinh Nữ che chở chúng ta với áo choàng của Mẹ. Với các lời đơn sơ, lúc cầu nguyện này có thể đem lại rất nhiều thiện ích cho gia đình. Các diễn tả lòng đạo đức bình dân khác nhau là một kho tàng tu đức đối với nhiều gia đình.

Con đường cộng đoàn của lời cầu nguyện đạt tột đỉnh trong việc cùng tham dự bí tích Thánh Thể, đặc biệt trong bối cảnh của ngày nghỉ Chúa Nhật. Chúa Giêsu gõ cửa gia đình để chia sẻ với nó Bữa Tiệc Chiều. Ở đó các cặp vợ chồng luôn luôn có thể đóng ấn giao ước phục sinh đã kết hiệp họ với nhau và phản ánh Giao Ước, mà Thiên Chúa đã đóng ấn với nhân loại trên Thập Giá. Thánh Thể là bí tích của Giao Ước Mới, trong đó hiện thực hành động cứu độ của Chúa Kitô. Như vậy được ghi nhận các mối dây ràng buộc sâu đậm hiện hữu giữa cuộc sống hôn nhân và Thánh Thể. Lương thực Thánh Thể là sức mạnh và kích thích giúp sống giao ước hôn nhân mỗi ngày như “Giáo hội tại gia” (s. 318).

Linh đạo của tình yêu triệt để và tự do – Trong hôn nhân người ta cũng sống ý thức hoàn toàn tùy thuộc một người duy nhất. Các cặp vợ chồng chấp nhận thách đố và ngưỡng vọng cùng nhau già đi và tự tiêu hao, và như thế họ phản ánh lòng trung thành của Thiên Chúa. Quyết định vững vàng này ghi dấu một kiểu sống, là một đòi buộc nội tâm của khế ước tình yêu phu  thê, bởi vì người không quyết định yêu thương luôn mãi, thì cũng khó mà có thể yêu thương một cách chân thành dù chỉ một ngày. Nhưng điều này không có ý nghĩa thiêng liêng, nếu đó chỉ là một luật được sống với sự chịu trận. Nó là một sự tuỳ thuộc của con tim, ở nơi chỉ Thiên Chúa trông thấy (x. Mt 5,28).

Mỗi sáng khi thức dậy, chúng ta canh tân trước Thiên Chúa quyết định này của lòng trung thành, cho dù có gì xảy ra trong cuộc sống đi nữa. Và mỗi người khi đi ngủ, chờ đợi thức dậy để tiếp tục cuộc phiêu lưu này, bằng cách tín thác nơi sự trợ giúp của Chúa. Như thế, mỗi một người phối ngẫu là dấu chỉ và dụng cụ sự gần gũi của Chúa cho người khác. Chúa là Đấng không bao giờ bỏ chúng ta cô đơn: “Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho tới tận thế” (Mt 28,20) (s. 319).

Có một điểm, trong đó tình yêu lứa đôi đạt sự giải thoát tột đỉnh và trở thành một không gian  của sự tự lập lành mạnh: đó là khi mỗi người khám phá ra rằng người kia không phải là của mình, nhưng có một chủ nhân quan trọng hơn rất nhiều, là Chúa duy nhất của họ. Không ai có thể yêu sách chiếm hữu sự thân tình cá nhân nhất và bí ẩn nhất của người được yêu, và chỉ có Ngài có thể chiếm chỗ trung tâm cuộc sống của họ. Đồng thời nguyên lý của sự thực tế tinh thần khiến cho người phối ngẫu không yêu sách người khác phải thoả mãn các đòi hỏi của mình một cách hoàn toàn. Con đường thiêng liêng của từng người – như Dietrich Bonhoeffer đã chỉ cho thấy – cần phải giúp họ tháo gỡ ảo tưởng của người khác, thôi chờ đợi từ người đó điều chỉ là riêng tư của tình yêu Thiên Chúa. Điều này đòi hỏi một sự lột bỏ nội tâm. Khoảng không gian triệt để, mà mỗi người phối ngẫu dành cho tương quan cá nhân của mình với Thiên Chúa, không chỉ cho phép chữa lành các vết thương của cuộc chung sống, mà cũng cho phép tìm ra trong tình yêu của Thiên Chúa ý nghĩa cuộc đời mình nữa. Chúng ta cần khẩn nài hoạt động của Chúa Thánh Thần mỗi ngày để sự có thể có được sự tự do nội tâm này. (s. 320).

Sau khi khai triển các tiểu đề: linh đạo của sự hiệp thông siêu nhiên, hiệp nhất trong lời cầu nguyện dưới ánh sáng phục sinh và linh đạo của tình yêu triệt để và tự do, ĐTC Phanxicô đề cập tới linh đạo của việc săn sóc, ủi an và kích thích trong cuộc sống hôn nhân và gia đình.

Ngài viết: Các đôi vợ chồng kitô là những cộng sự viên của ơn thánh và là các chứng nhân của đức tin đối với nhau, đối với con cái và tất cả các thành phần khác trong gia đình. Chính vì thế mà gia đình luôn luôn là “nhà thương gần nhất”. Chúng ta hãy săn sóc nhau, nâng đỡ nhau, khích lệ nhau và hãy sống tất cả những điều đó như là phần của linh đạo gia đình. Cuộc sống lứa đôi là một sự tham dự vào công trình phong phú của Thiên Chúa, và mỗi một người là một khiêu khích của Thần Khí đối với người khác. Tình yêu của Thiên Chúa được diễn tả qua các lời nói sống động và cụ thể, qua đó người nam và người nữ nói lên tình yêu phu thê của họ với nhau. Như vậy, với nhau cả hai là các phản ánh tình yêu của Thiên Chúa, củng cố với lời nói, cái nhìn, sự trợ giúp, vuốt ve và vòng tay ôm. Do đó, muốn thành lập một gia đình là có can đảm làm thành phần giấc mơ của Thiên Chúa, can đảm mơ tưởng với Ngài, can đảm xây dựng với Ngài, can đảm cùng Ngài bước vào lịch sử này, xây dựng một thế giới, trong đó không có ai cảm thấy cô đơn (s. 321).

Tuy nhiên, cuộc sống gia đình là một “đồng cỏ” nhân từ. Mỗi người cẩn thận vẽ và viết trong cuộc sống của người khác: “Thư của chúng tôi là chính anh em. Thư ấy viết trong tâm hồn chúng tôi… không phải với mực, mà với Thần Khí của Thiên Chúa.” (2 Cr 3,2-3). Mỗi một người là một “kẻ chài lưới người” (Lc 5,10), thả lưới nhân danh Chúa Giêsu (x, Lc 5,5) đối với các người khác, hay một nông phu làm việc trong thửa đất tươi mát là những người thân của mình, bằng cách khích lệ điều tốt nhất của họ.

Sự phong phú hôn nhân bao gồm việc thăng tiến, vì yêu một người là chờ đợi từ họ một cái gì đó không thể định nghĩa được, không thể thấy trước được; đồng thời cống hiến cho họ, trong một cách thế nào đó,  phương tiện giúp đáp trả lại sự chờ đợi ấy. Điều này là một việc phụng tự đối với Thiên Chúa, bởi vì Ngài là Đấng đã gieo vãi nhiều điều tốt lành nơi các người khác trong niềm hy vọng rằng chúng ta làm cho chúng lớn lên (s. 322).

Thật là một kinh nghiệm thiêng liêng chiêm ngắm một người thân với đôi mắt của Thiên Chúa, và nhận ra Chúa Kitô nơi họ. Điều này đòi hỏi một sự sẵn sàng nhưng không, cho phép đánh giá cao phẩm giá của họ. Ta có thể hiện diện một cách tràn đầy trước người khác, nếu ta tự trao ban chính mình mà không hỏi tại sao, bằng cách quên đi tất cả mọi sự chung quanh. Như thế người được yêu xứng đáng với tất cả sự chú ý. Chúa Giêsu đã là một mẫu gương, bởi vì khi có ai đó đến gần nói chuyện với Ngài, Ngài nhìn họ với tình yêu mến (x. Mc 10,21). Trước sự hiện diện của Ngài không có ai cảm thấy mình bị lơ là, bởi vì các lời nói và cử chỉ của Chúa diễn tả câu hỏi này: “Ngươi muốn Ta làm gì cho ngươi?” (Mc 10,51). Đây là điều ta sống trong cuộc sống thường ngày của gia đình. Trong đó chúng ta nhớ rằng người sống với chúng ta đáng được tất cả, vì họ có một phẩm giá vô tận, vì họ là đối tượng tình yêu vô biên của Thiên Chúa Cha. Như thế nở hoa sự dịu hiền, đến độ khơi dậy nơi người khác niềm vui cảm thấy mình được yêu. Nó đặc biệt biểu lộ trong việc êm dịu chú ý tới các hạn hẹp của người khác, đặc biệt khi chúng nổi lên một cách hiển nhiên (s. 323).

Dưới sự thúc đẩy của Thần Khí, hạt nhân gia đình không chỉ đón nhận sự sống bằng cách sinh ra nó trong lòng mình, nhưng rộng mở, ra khỏi chính mình để đổ trên thiện ích của các người khác, để săn sóc họ và kiếm tìm hạnh phúc của họ. Sự rộng mở này được diễn tả một cách đặc biệt trong việc hiếu khách, được Lời Chúa khích lệ một cách gợi cảm như sau: “Anh em đừng quên tỏ lòng hiếu khách, vì nhờ vậy, có những người đã được tiếp đón các thiên thần mà không biết.” (Dt 13,2). Khi gia đình tiếp đón và gặp gỡ các người khác, đặc biệt là các người nghèo và bị bỏ rơi, nó là biểu tượng, chứng tá, sự tham dự vào chức làm mẹ của Giáo Hội.

Tình yêu xã hội, phản ánh của Thiên Chúa Ba Ngôi, thực ra là  điều kết hiệp ý nghĩa thiêng liêng của gia đình và sứ mệnh của nó bên ngoài chính nó, vì nó khiến cho lời rao giảng hiện diện với tất cả các đòi buộc cộng đồng của nó. Gia đình sống linh đạo đặc biệt của nó đồng thời bằng cách là một Giáo Hội tại gia và một tế bào sinh động hầu biến đổi thế giới (s. 324).

Các lời của Thầy (x, Mat 22,30) và các lời của thánh Phaolô (x. 1 Cr 7,29-31) liên quan tới hôn nhân, không phải vô tình mà được lồng vào trong chiều kích cuối cùng vĩnh viễn của cuộc sống chúng ta, mà chúng ta cần tái chiếm. Trong cách thế đó các cặp vợ chồng sẽ có thể nhận biết ý nghĩa con đường họ đang đi. Thật thế, như chúng ta đã nhắc tới nhiều lần trong Tông huấn, không có gia đình nào là một thực tại toàn thiện, và được chế tạo một lần cho luôn mãi, nhưng nó đòi hỏi một sự phát triển từ từ của khả năng yêu thương. Có một tiếng gọi liên lỉ đến từ sự hiệp thông tràn đầy của Thiên Chúa Ba Ngôi, từ sự hiệp nhất tuyệt vời giữa Chúa Kitô và Giáo Hội Ngài, từ cộng đoàn xinh đẹp là gia đình Nagiarét  và từ tình huynh đệ không tì ố hiện diện giữa các thánh trên trời. Tuy nhiên, chiêm ngắm sự tràn đầy mà chúng ta chưa đạt tới cũng cho phép chúng ta thôi đòi hỏi từ các tương quan liên bản vị một sự hoàn thiện, một sự trong sáng của các ý hướng  và một sự trung thực, mà chúng ta chỉ có thể tìm thấy trong Nước vĩnh cửu. Ngoài ra, nó ngăn cản chúng ta phán đoán với sự nghiêm ngặt những người sống trong các điều kiện của sự giòn mỏng lớn. Chúng ta tất cả được mời gọi duy trì sống động việc hướng tới một cái gì vượt quá chính mình và các hạn hẹp của mình, và mỗi một gia đình phải sống trong kích thích liên lỉ đó. Hỡi các gia đình, chúng ta hãy bước đi, chúng ta hãy tiếp tục bước đi! Điều được hứa cho chúng ta luôn luôn hơn thế. Chúng ta đừng mất đi niềm hy vọng vì các hạn hẹp của chúng ta, nhưng cũng đừng khước từ kiếm tìm tình yêu và hiệp thông tràn đầy đã được hứa ban cho chúng ta.

Lời cầu nguyện với Thánh Gia 

Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Cha Thánh Giuse, nơi Chúa, Mẹ và Cha Thánh chúng con chiêm ngưỡng ánh quang rạng ngời của tình yêu chân chính, chúng con xin tín thác mình cho Ba Đấng.

Lạy Thánh Gia Nagiarét, xin cũng làm cho các gia đình của chúng con trở thành nơi của sự hiệp thông và các nhà tiệc ly cầu nguyện, các trường học đích thật của Tin Mừng và các Giáo Hội nhỏ tại gia.

Lạy Thánh Gia Nagiarét, xin cho trong các gia đình đừng bao giờ có các vụ bạo lực, khép kín và chia rẽ nữa; xin cho bất cứ ai bị thương tích hay bị gương mù gương xấu được mau ủi an và chữa lành.

Lạy Thánh Gia Nagiarét, xin làm cho tất cả chúng con ý thức về tính cách thánh thiêng và bất khả xâm phạm của gia đình, của vẻ đẹp của nó trong chương trình của Thiên Chúa.

Lạy Giêsu Maria Giuse, xin lắng nghe chúng con và khấng nhận lời van nài của chúng con. Amen

Linh Tiến Khải

 

Chúa Giêsu đi qua đâu ở đó luôn luôn có sự giải thoát

Chúa Giêsu đi qua đâu ở đó luôn luôn có sự giải thoát

Phái đoàn Việt Nam tại Quận Cam California tham dự buổi tiếp kiến chúng của ĐTC Phanxicô sáng thứ tư 15-6-2016

Khi cho người mù thành Giêricô được sáng mắt Chúa, Giêsu cũng khiến cho dân chúng trông thấy. Cùng ánh sáng đó soi chiếu cho tất cả mọi người, và làm cho họ cùng chung lời chúc tụng. Như thế, Chúa Giêsu đổ lòng thương xót của Ngài xuống trên tất cả những người gặp gỡ Ngài: Ngài kêu mời họ, tụ tập họ, chữa lành họ và soi sáng cho họ, bằng cách tạo dựng một dân tộc mới cử hành các việc diệu kỳ của tình yêu thương xót của Ngài.

 ĐTC Phanxicô đã nói như trên với hơn 60.000 tín hữu và du khách hành huơng năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư hôm qua.

Trong số hằng trăm đoàn hành hương cũng có 4 đoàn hành hương gồm các tín hữu Việt Nam: 3 đoàn đến từ Hoa Kỳ và một đoàn từ Đức.

Trong bài huấn dụ ĐTC đã giải thích ý nghĩa phép lạ Chúa Giêsu cho người mù thành Giêricô ăn mày bên vệ đường được sáng mắt (Lc 18,35-43). Ngài nói: Hôm nay chúng ta muốn lãnh nhận ý nghĩa của dấu chỉ này, bởi vì nó cũng trực tiếp đụng chạm tới chúng ta. Thánh sử Luca nói rằng người mù ấy ngồi bên vệ đường ăn xin (c. 35). Vào thời bấy giờ – nhưng cho tới các thời gian gần đây cũng thế – họ chỉ có thể sống nhờ của bố thí. ĐTC nói:

Gương mặt của người mù này đại diện cho biết bao nhiêu người , kể cả ngày nay nữa, bị sống bên lề vì một thiệt thòi thể lý hay thuộc loại khác. Họ bị tách rời khỏi đám đông, họ ngồi đó, trong khi người ta qua lại bận bịu công chuyện, trong tư tưởng và biết bao nhiêu chuyện. Đó là con đường có thể trở thành nơi gặp gỡ, nhưng đối với anh ta thì nó là con đường của sự cô đơn. Biết bao người đi qua… Nhưng anh ta cô đơn.

Thật là buồn hình ảnh của một ngưòi bị bạt bỏ ngoài lề, nhất là trong bối cảnh của thành phổ Giêricô, là ốc đảo phì nhiêu phong phú trong sa mạc. Chúng ta biết rằng chính tại Giêricô  dân Israel đã tới sau cuộc xuất hành dài từ Ai Cập: thành phố đó trở thành  cửa ngõ dẫn vào đất hứa. Chúng ta nhớ tới các lời ông Môshê nói trong dịp ấy. Ông nói: “Nếu giữa anh (em), trong một thành nào của anh (em), trên đất mà Giavê, Thiên Chúa của anh (em), ban cho anh (em), có một người anh em nghèo, thì anh (em) đừng có lòng chai dạ đá, cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em nghèo túng. Vì trong đất của anh (em) sẽ không thiếu người nghèo, nên tôi truyền cho anh (em): hãy mở rộng tay giúp người anh em khốn khổ, nghèo khó của anh (em), trong miền đất của anh (em).” (Đnl 15,7.11).

Thật là trái nghịch giữa lời nhắn nhủ trên đây của Lề Luật Chúa và tình trạng được kể trong Tin Mừng: trong khi người mù kêu van Chúa Giêsu – anh ta đã có giọng tốt phải không ? – trong khi anh lớn tiếng khẩn nài Chúa Giêsu, thì dân chúng lại la mắng cho anh ta im đi, làm như thể anh ta không có quyền nói. Họ không cảm thương anh ta, trái lại còn cảm thấy khó chịu vì tiếng kêu của anh. Biết bao nhiêu lần khi  trông thấy biết bao người trên đường – những người túng thiếu, đau yếu, không có gì ăn – chúng ta cảm thấy khó chịu. Biết bao lần khi chúng ta đứng trước bao người di cư tỵ nạn, chúng ta cảm thấy khó chịu. Đó là một cám dỗ: chúng ta tất cả đều có điều đó đúng không? Tất cả, kể cả tôi nữa, tất cả mọi người. Và chính vì vậy mà Lời Chúa dậy dỗ chúng ta. Sự dửng dưng và thù nghịch khiến cho họ mù và điếc, ngăn cản họ trông thấy các anh em khác và không cho phép họ nhận ra Chúa nơi các người ấy – dửng dưng và thù nghịch. Và khi sự dửng dưng và thù nghịch này trở thành sự hiếu chiến và cả nguyền rủa nữa – “Xin làm ơn đuổi tất cả họ đi đi” – “Hãy để họ ở một nơi khác” – sự tấn kích này là điều dân chúng đã làm đối với anh mù, khi anh kêu lên. “Này anh hãy cút đi, cút đi, đừng có nói, đừng có kêu!”

ĐTC nói tiếp trong bài huấn dụ: Chúng ta ghi nhận một đặc điểm hay khác. Thánh sử nói rằng một người nào đó trong đám đông giải thích cho anh mù biết lý do của đám đông người khi nói: “Có Đức Giêsu người Nagiarét đi qua” (c. 37). Biến cố Chúa Giêsu đi qua được diễn tả với cùng động từ trong sách Xuất Hành khi kể lại biến cố vượt qua của thiên thần tàn sát cứu dân Israel bên đất Ai Cập (x. Xh 12,23).

Đó là sự vượt qua của lễ phục sinh, việc khởi đầu của cuộc giải phóng: khi Chúa Giêsu đi qua, thì luôn luôn có sự giải thoát, luôn luôn có ơn cứu rỗi. Như vậy đối với anh mù, nó như thể là việc loan báo sự vượt qua giải phóng của anh. Khi Chúa Giêsu đi qua, thì luôn luôn có sự giải thoát, luôn luôn có ơn cứu độ.

Không để cho mình sợ hãi anh mù kêu to lên nhiều lần hướng tới Chúa Giêsu, bằng cách nhận ra nơi Người Con vua Đavít, Đấng Cứu Thế được trông đợi, mà  theo ngôn sứ Isaia, sẽ mở mắt cho người mù (x. Is 35,5). Khác với đám đông, anh mù này trông thấy với đôi mắt đức tin. Nhờ nó lời khẩn cầu của anh có một sự hữu hiệu quyền năng.

Thật thế, khi nghe thấy anh, “Chúa Giêsu dừng lại và truyền dẫn anh đến cho Ngài” (c. 40). Khi làm như thế, Chúa Giêsu cất anh mù khỏi vệ đường và đặt anh vào trung tâm sự chú ý của các môn đệ và của dân chúng. Cả chúng ta cũng hãy nghĩ, khi chúng ta ở trong các tình trạng xấu, kể cả các tình trạng tội lỗi, đã có Chúa Giêsu cầm tay chúng ta và cất chúng ta khỏi lề đường của ơn cứu độ. Như vậy Ngài thực hiện hai cuộc vượt qua. Thứ nhất: dân chúng đã loan báo một tin vui cho anh mù, nhưng không muốn liên lụy gì tới anh cả; Giờ đây Chúa Giêsu bắt buộc mọi người ý thức rằng việc loan báo tin vui tốt bao gồm việc đặt để vào giữa con đường người đã bị loại trừ. Thứ hai, đến lần anh, người mù đã không thấy nhưng đức tin của anh mở ra cho anh con đường của ơn cứu rỗi và anh ta ở giữa những người tuốn đến trên đường để trông thấy Chúa Giêsu. ĐTC giải thích:

Anh chị em thân mến việc đi qua của Chúa là một cuộc gặp gỡ của lòng thương xót hiệp nhất tất cả chung quanh Ngài để cho phép nhận ra ai cần sự trợ giúp và an ủi. Cả trong cuộc sống chúng ta Chúa Giêsu cũng đi qua: và khi Chúa Giêsu đi qua và tôi nhận ra điều đó, nó là một lời mời gọi tôi đến gần Ngài, để trở nên tốt lành hơn, là kitô hữu tốt hơn, theo Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu hướng tới anh mù và hỏi anh: “Anh muốn ta làm gì cho anh?” (c. 41). Các lời này của Chúa Giêsu gây ấn tượng: Con Thiên Chúa giờ đây đứng trước người mù như một đầy tớ khiêm hạ. Thiên Chúa trở thành tôi tớ của người tội lỗi. Ngài, Chúa Giêsu, Thiên Chúa, nói: “Mà con muốn Ta làm gì cho con? Con muốn Ta phục vụ con như thế nào? Thiên Chúa trở thành tôi tớ của người tội lỗi. Và anh mù thưa với Chúa Giêsu,  không bằng cách gọi Ngài là “Con vua Đavít”, mà bằng “Chúa”, là tước hiệu Giáo Hội áp dụng cho Chúa Giêsu phục sinh ngay từ đầu. Anh mù xin được thấy trở lại  và ước mong của anh được chấp nhận. “Hãy được sáng mắt. Lòng tin của con đã cứu con” (c. 42). Anh đã cho thấy đức tin của anh, khi kêu cầu Chúa Giêsu và khi tuyệt đối muốn gặp Chúa, anh được ơn cứu độ. Nhờ đức tin giờ đây anh có thể trông thấy và nhất là anh ta cảm thấy mình được Chúa Giêsu yêu thương. Vì thế, trình thuật kết thúc bằng cách kể rằng anh mù bắt đầu đi theo  Người và chúc tụng Thiên Chúa” (c. 43): anh trở thành môn đệ bằng cách bước đi theo Chúa và bước vào làm thành phần cộng đoàn của Ngài. Từ người ăn mày trở thành môn đệ, đây cũng là con đường của chúng ta: chúng ta tất cả là những người ăn xin, tất cả. Chúng ta luôn cần đến ơn cứu độ. Và tất cả chúng ta, mọi ngày phải làm bước đi này: từ ăn mày trở thành môn đệ. Và đúng như thế, người mù bước đi theo Chúa và là thành phần của của cộng đoàn.

Người mà dân chúng muốn làm cho im đi, giờ đây lớn tiếng làm chứng cho cuộc gặp gỡ của anh với Chúa Giêsu thành Nagiarét , và toàn dân, khi trông thấy đã chúc tụng Thiên Chúa” (c. 43). Xảy ra một phép lạ thứ hai: điều đã xảy ra cho anh mù cũng khiến cho dân chúng sau cùng trông thấy. Cùng ánh sáng đó soi chiếu cho tất cả mọi người, và làm cho họ cùng chung lời chúc tụng. Như thế, Chúa Giêsu đổ lòng thương xót của Ngài xuống trên tất cả những người gặp gỡ Ngài: Ngài kêu mời họ, tụ tập họ, chữa lành họ và soi sáng cho họ, bằng cách tạo dựng một dân tộc mới cử hành các việc diệu kỳ của tình yêu thương xót của Ngài. Nhưng chúng ta cũng hãy để cho Chúa Giêsu mời gọi chúng ta và chúng ta hãy để cho Chúa Giêsu chữa lành, và chúng ta đi theo Chúa Giêsu bằng cách chúc tụng Thiên Chúa. Và ước gì được như vậy!

ĐTC đã chào các đoàn hành hương đến từ Anh quốc, Êcốt, Ai len, Malta, Thụy Điển, Siria, Israel, Zambia, Trung quốc, Philippes, Nhật Bản, Canada Hoà Kỳ, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nhà và các nước châu Mỹ Latinh.

Trong các nhóm Đức ĐTC chào đoàn hành hương giáo phận Trier do ĐGM sở tại hướng dẫn. Chào các nhóm hành hương Ý đến từ nhiều giáo phận khác nhau ĐTC cầu chúc Năm Thánh Lòng Thương Xót đem lại nhiều ơn lành hồn xác cho họ và cộng đoàn của họ.

Với người trẻ, các anh chị em đau yếu và các đôi tân hôn ĐTC xin Chúa Giêsu là Thầy hướng dẫn họ. Ngài khích lệ người đau yếu dâng mọi khổ đau cho Chúa  để cộng tác vào ơn cứu độ của thế giới. Ngài nhắn nhủ các đôi tân hôn ý thức về sứ mệnh tình yêu không thể thay thế được mà họ đã cùng nhau lãnh nhận trong đời hôn nhân.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành toà thánh ĐTC ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải

Văn kiện mới của Bộ Giáo Lý đức tin: Iuvenescit Ecclesia

Văn kiện mới của Bộ Giáo Lý đức tin: Iuvenescit Ecclesia

Văn kiện mới của Bộ Giáo Lý đức tin  Iuvenescit Ecclesia

VATICAN. Sáng ngày 14-6-2016, Bộ giáo lý đức tin đã công bố văn kiện xác định quan hệ thiết yếu giữa giáo quyền và các cộng đoàn, phong trào mới trong Giáo Hội.

Văn kiện này là thư của Bộ gửi các GM trong Giáo Hội với tựa đề ”Iuvenescit Ecclesia” (Giáo Hội trở nên trẻ trung), về tương quan giữa các hồng ân phẩm trật và đoàn sủng cho đời sống và sứ mạng của Giáo Hội.

Hiện diện trên bàn chủ tọa trong cuộc họp báo giới thiệu văn kiện của Bộ cũng có ĐHY Marc Ouellet, Tổng trưởng Bộ GM, Đức Ông Piero Coda, thành viên Ủy ban thần học quốc tế, và nữ giáo sư María Carmen Aparicio Valls, thuộc phân khoa thần học Đại học Giáo Hoàng Gregoriana ở Roma.

Thư dài 18 trang, được ấn hành bằng các ngôn ngữ chính, và mang chữ ký ngày 15-5-2016 của ĐHY Gerhard Mueller, Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, và vị Tổng thư ký của Bộ là Đức TGM Luis Ladaria. ĐTC đã phê chuẩn và truyền công bố thư này trong buổi tiếp kiến ngày 14-3 năm nay dành cho ĐHY Tổng trưởng.

Văn kiện nhấn mạnh đến tương quan hòa hợp và bổ túc cho nhau giữa định chế của Giáo Hội và các phong trào, cộng đoàn mới: trong sự tham gia phong phú và có trật tự của các đoàn sủng vào cộng đoàn hiệp thông của Giáo Hội, các thực thể mới này không được tránh né không vâng phục hàng giáo phẩm của Hội Thánh, và cũng không được tự ban cho mình quyền được thi hành một sứ vụ tự trị. Vì thế, các đoàn sủng có một tầm quan trọng không thể thiếu được đối với đời sống và sứ mạng của

Giáo Hội; các đoàn sủng chân chính chính có đặc tính cởi mở truyền giáo, vâng phục cần thiết đối với các mục tử, và ở trong Giáo Hội.

Thư của Bộ giáo lý đức tin cảnh giác chống lại chủ trương coi Giáo Hội cơ chế và Giáo Hội bác ái như hai thực thể đối nghịch nhau hoặc chỉ ở cạnh nhau, bởi vì trong Giáo Hội cả các cơ chế thiết yếu cũng có đặc tính đoàn sủng, và các đoàn sủng phải được cơ chế hóa để có một sự thống nhất, trước sau như một, và liên tục. Vì thế, cả hai chiều kích đều cùng nhau góp phần hiện diện hóa mầu nhiệm và hoạt động cứu độ của Chúa Kitô trong thế giới.

Bộ giáo lý đức tin cũng trình bày những tiêu chuẩn để phẩm trật Giáo Hội phân định những đoàn sủng chân chính, theo đó các đoàn sủng phải là dụng cụ nên thánh trong Giáo Hội; dấn thân trong việc truyền bá Tin Mừng; tuyên xưng trọn vẹn đức tin Công Giáo, chứng tỏ tình hiệp thông thực sự với toàn thể Giáo Hội, chân thành đón nhận các giáo huấn đạo lý và mục vụ của Giáo Hội, nhìn nhận và quí chuộng các yếu tố đoàn sủng khác trong Giáo Hội; khiêm tốn chấp nhận những lúc thử thách trong cuộc phân định; có những thành quả thiêng liêng như bác ái, vui mừng, hòa bình, nhân bản; để ý đến chiều kích xã hội trong việc loan báo Tin Mừng, ý thức sự kiện: mối quan tâm đến sự phát triển toàn diện cho những người bị xã hội bỏ rơi nhiều nhất là điều không thể thiếu trong một thực tại Giáo Hội chân chính”.

Thư của Bộ giáo lý đức tin đã trình bày 2 tiêu chuẩn cơ bản để cứu xét hầu nhìn nhận các thực tại mới của Giáo Hội về phương diện pháp lý, theo các hình thức đã được Bộ giáo luật thiết định.

– Tiêu chuẩn thứ I là ”tôn trọng đặc tính đoàn sủng của mỗi phong trào hoặc cộng đoàn ới của Giáo Hội”, vì thế cần tránh những những ”bó buộc hoặc lèo lái về pháp lý, làm giảm bớt sự mới mẻ của các thực tại ấy”.

– Tiêu chuẩn thứ hai liên quan đến sự tôn trọng đường lối cơ bản trong việc cai quản Giáo Hội, tạo điều kiện dễ dàng cho sự hội nhập các hồng ân đoàn sủng trong đời sống Giáo Hội, nhưng cần làm sao để tránh cho các thực thể ấy bị coi như một thực tại song song, không tham chiếu các phẩm trật của Hội Thánh”. (SD 14-6-2016)

G. Trần Đức Anh OP

 

Đức Thánh Cha thăm Tổ chức Chương trình lương thực thế giới

Đức Thánh Cha thăm Tổ chức Chương trình lương thực thế giới

Đức Thánh Cha viếng thăm Tổ chức Chương trình lương thực thế giới

ROMA. Trong cuộc viếng thăm sáng ngày 13-6-2016 tại trụ sở tổ chức Chương trình Lương thực thế giới, ĐTC kêu gọi bài trừ quan niệm coi nạn đói là chuyện ”thường tình, tự nhiên”.

Chương trình Lương thực thế giới (PAM, Wfp) là cơ quan từ thiện lớn nhất của LHQ dấn thân chống nạn đói trên thế giới. Cơ quan này được thành lập năm 1962 và hiện có 11 ngàn nhân viên hoạt động, phần lớn tại những vùng có nạn đói hoặc nạn suy dinh dưỡng. Trong năm 2014, Chương trình PAM đã trợ giúp lương thưc cho 80 triệu người tại 82 quốc gia trên thế giới.

Khi đến trụ sở lúc 9 giờ 20 phút, ĐTC đã được Bà Ertharin Cousin, giám đốc điều hành, Đức Ông Fernando Chica Arellano, Quan sát viên thường trực của Tòa Thánh tại cơ quan này, và bà Stephanie Hochstetter Skinner-Klée tiếp đón tại khuôn viên, và hướng dẫn vào bên trong. Hai em bé đã trao hai giỏ hoa cho ĐTC rồi đặt trước bức tường tưởng niệm có ghi tên hàng trăm nhân viên của Chương trình lương thưc thế giới đã tự nạn trong khi thi hành sứ mạng. ĐTC đã đến gần bức tường này và mặc niệm trong thinh lặng.

Sau khi chào thăm các quan chức cấp cao khác của tổ chức PAM, Đức Thánh Cha đã hội kiến riêng với 3 vị lãnh đạo củq tổ chức này, rồi chào thăm các vị quốc trưởng cũng như các bộ trưởng đến tham dự phiên họp khai mạc của Hội đồng chấp hành tổ chức PAM.

Khi ĐTC tiến vào thính đường, mọi người đã nồng nhiệt vỗ tay chào mừng. Rồi hai bà chủ tịch và giám đốc điều hành tổ chức PAM đã lần lượt chào ĐTC.

 

Diễn văn của ĐTC

Trong diễn văn bằng tiếng Tây Ban Nha nhân dịp này, ngài đặc biệt kêu gọi mọi người đừng coi lầm than là chuyện bình thường, để rồi không còn nhạy cảm đối với những thảm trạng của người khác; ngoài ra cần giải trừ sự ”bàn giấy hóa nạn đói”, cụ thể là nạn buôn bán võ khí, chiến tranh và xung đột võ trang cản trở các nỗ lực bài trừ nạn đói. ĐTC nói:

 ”Trong thế giới được liên kết với nhau và siêu thông tin như chúng ta đang sống, những khoảng cách địa lý dường như được thu ngắn lại. Chúng ta có thể có những tiếp xúc hoặc chứng kiến hầu như đồng thời với những gì đang xảy ra ở nơi khác trên trái đất.. Nhưng có một điều nghịch lý là dường như sự gần gũi do thông tin tạo nên như thế ngày càng bị thu hẹp lại. Thông tin thái quá mà chúng ta có được dần dần tạo nên sự bình thường hóa lầm than. Nghĩa là dần dần chúng ta không còn nhạy cảm đối với những thảm trạng của người khác và coi chúng như những điều ”tự nhiên”, bình thường. Vì thế bao nhiêu hình ảnh được truyền tới chúng ta và chúng ta nhìn thấy đau khổ, nhưng chúng chẳng đánh động chúng ta nữa, chúng ta nghe thấy tiếng khóc, nhưng chúng ta không an ủi, chúng ta thấy đói khát, nhưng chúng ta không đáp ứng nó…

ĐTC nhấn mạnh rằng: ”Cần chấm dứt tình trạng coi lầm thay như điều bình thường, tự nhiên, và ngưng coi nó như một sự kiện của thực tại như bao nhiêu điều khác, bởi vì lầm than có một khuôn mặt. Nó có khuôn mặt của một trẻ thơ, một gia đình, người trẻ và người già. Nó có khuôn mặt của sự thiếu cơ may và công ăn việc làm của bao nhiêu người, khuôn mặt của những vụ cưỡng bách di cư, những căn nhà bị bỏ rơi hoặc bị phá hủy. Chúng ta không thể coi nạn đói của bao nhiêu người là điều tự nhiên, không được nói rằng tình trạng của họ là kết quả của một định mệnh mù quáng, mà chúng ta không thể làm gì được. Khi lầm than không còn có một khuôn mặt nữa, thì chúng ta có thể rơi vào cám dỗ bắt đầu nói và thảo luận về nạn đói, về sự dinh dưỡng, bạo lực, và bỏ quan một bên chủ thể cụ thể, thự tế, đang gõ cửa nhà chúng ta..

Cũng trong chiều hướng ấy, ĐTC nhắc lại cuộc viếng thăm của ngài tại trụ sở Lương nông quốc tế, FAO, ngày 20-11-2014, trong dịp đó ngài khẳng định rằng thế giới có đủ lương thực cho mọi người, tất cả mọi người, ”nhưng không phải tất cả đều có thể được ăn, trong khi nạn phí phạm, loại bỏ, tiêu thụ lương thực thái quá hay dùng lương thực vào những mục tiêu khác đang xảy ra trước mặt chúng ta”. Ngài áp dụng vào cuộc viếng thăm này và khẳng định rằng:

 

 ”Chúng ta hãy ý thức rõ: sự thiếu lương thực không phải là một cái gì tự nhiên, không phải là một sự kiện hiển nhiên. Ngày nay, giữa thế kỷ 21, nhiều người vẫn còn đau khổ vì thiếu lương thực, và tai ương ấy là do sự phân phối các tài nguyên một cách ích kỷ và sai trái, biến thực phẩm thành hàng hóa. Đất đai bị ngược đãi và bóc lột tại nhiều nơi trên thế giới, tiếp tục mang mang lại chúng ta hoa mầu, tiếp tục cung cấp cho chúng ta những gì tốt đẹp nhất; những khuôn mặt của những người đói nhắc nhớ cho chúng ta rằng chúng ta đã đảo lộn những mục tiêu của trái đất. Một món quà, có mục đích mưu ích cho tất cả mọi người, nhưng chúng ta lại biến nó thành một đặc ân của một ít người.

”Trào lưu duy tiêu thụ tràn lan trong các xã hội chúng ta, làm cho chúng ta quen với sự thừa thãi và hằng ngày phung phí lương thực, lương thực mà nhiều khi chúng ta không có khả năng mang lại cho nó giá trị đúng đắn, vượt lên trên những tiêu chuẩn kinh tế.. Nhưng chúng ta cần nhớ rằng phí phạm lương thực là điều giống như ăn trộm từ bàn ăn của người nghèo, của người đói. Điều này đòi chúng ta phải suy tư về vấn đề thất thoát và phí phạm lương thực, để tìm ra những phương thế nghiêm túc đối phó với vấn đề, để thực thi tình liên đới và chia sẻ với những người túng thiếu nhất”.

Chống ”bàn giấy hóa” nạn đói

Tiếp tục diễn văn, ĐTC đề cập đến vấn đề bàn giấy hóa. Ngài nói: ”Có những hành động như thể bị kẹt, bị chặn đứng. Tình trạng bấp bênh của thế giới như chúng ta đang sống là điều mọi người đều biết. Trong thời gian gần đây chiến tranh và những hiểm họa xung đột trở thành những quan tâm chính của chúng ta và được thảo luận nhiều. Vì thế, đứng trước bao cuộc xung đột hiện nay, dường như võ khí đã đạt tới mức độ ưu tiên khác thường, đến độ chúng loại bỏ những cách thức khác để giải quyết các tranh chấp. Tình trạng ấy ăn rễ sâu và được người ta chấp nhận đến độ nó cản trở việc phân phối lương thực tại những vùng chiến tranh, thậm chí đi tới sự vi phạm những nguyên tắc và qui luật cơ bản nhất của công pháp quốc tế hiện hành từ nhiều thế kỷ.

”Do đó chúng ta đứng trước một hiện tượng lạ thường và mâu thuẫn: trong khi những viện trợ và kế hoạch phát triển bị cản trở vì những quyết định chính trị phức tạp và khó hiểu, hoặc vì những quan điểm ý thức hệ thiên lệch hoặc vì những hàng rào quan thuế không thể vượt qua được, thì võ khí lại không hề bị cản trở; nó xuất phát từ đâu, đó chẳng phải là điều quan trọng, võ khí tự do lưu hành, hầu như một cách tuyệt đối trong nhiều vùng trên thế giới. Do đó chính chiến tranh được nuôi dưỡng, chứ không phải con người. Trong một số trường hợp, chính nạn đói được sử dụng như một võ khí chiến tranh. Và các nạn nhân gia tăng, vì số người chết đói và kiệt lực thêm vào số những chiến binh bị chết trên chiến trường và nhiều thường dân bị giết trong các cuộc xung đột và khủng bố. Chúng ta ý thức rõ điều đó, nhưng chúng ta để cho lương tâm mình bị tê liệt, và chúng ta không còn để lương tâm mình được nhạy cảm nữa. Qua đó, võ lực trở thanh phương thế hành động duy nhất của chúng ta, và mục tiêu cần ưu tiên đạt tới là quyền lực. Dân chúng yếu đuối nhất không những đau khổ vì chiến tranh, nhưng đồng thời họ thấy mọi sự viện trợ bị cản trở. Vì thế, điều cấp thiết là phải giải trừ thứ bệnh bàn giấy cản trở các kế hoạch viện trợ nhân đạo, không cho các kế hoạch này đạt tới mục đích. Trong lãnh vực này, chúng ta có một vai trò cơ bản, vì chúng ta cần những vị anh hùng thực sự, có khả năng mở ra những con đường, kiến tạo những nhịp cầu, tạo điều kiện dễ dàng cho những hoạt động đặt nặng tầm quan trọng khuôn mặt của người đau khổ. Những sáng kiến của cộng đồng quốc tế cũng phải hướng về mục tiêu ấy.

Trong phần kết của bài diễn văn, ĐTC nói đến sự sẵn sàng đóng góp của Giáo Hội Công Giáo vào những sáng kiến nhắm cứu vãn phẩm giá con người, nhất là những người bị chà đạp các quyền của mình. ”Tôi cam đoan với quí vị sự hỗ trợ hoàn toàn và sự nâng đỡ trọn vẹn của chúng tôi để tạo điều kiện dễ dàng cho mọi cố gắng đã bắt đầu”.

Sau bài diễn văn, ĐTC bước ra khỏi hội trường để chào thăm một nhân viên của Chương trình lương thực thế giới bị thương trong khi thi hành sứ mạng, rồi ngài tiến ra ngoài khuôn viên của tổ chức PAM để chào thăm tất cả các nhân viên và gia đình những người đang phục vụ tại trụ sở này.

G. Trần Đức Anh OP

 

Các Giám mục Hoa kỳ lên án hành động thảm sát tại Orlando

Các Giám mục Hoa kỳ lên án hành động thảm sát tại Orlando

Tưởng nhớ nạn nhân vụ thảm sát Orlando

Vatican Radio – Các Giám mục Hoa kỳ lên án  hành động thảm sát tại hộp đêm Pulse ở Orlando, bang Florida, miền Nam nước Mỹ, giết hại ít nhất 50 người và làm bị thương 53 người khác.
Trong Thánh lễ sáng Chúa nhât ngày 12/6 vừa qua, Đức cha John Noonan của Orlando đã đưa ra thông cáo, trong đó ngài nói: “Một lưỡi gươm đã đâm vào con tim của thành phố chúng ta”. Ngài cầu nguyện xin lòng thương xót của Thiên Chúa đổ xuống trên mọi người trong thời điểm khó khăn này. Ngài cũng kêu gọi mọi người chạy đến với Chúa Giê-su, thầy thuốc vĩ đại, Đấng an ủi và đưa chúng ta qua những đau khổ bằng sự thương xót và hiền dịu của Ngài. Chúa Giê-su chữa lành không chỉ vết thương trên thân xác nhưng mọi cấp độ của nhân tính: thể lý, tình cảm, xã hội, và tinh thần. Ngài kêu gọi chúng ta kiên trì trong việc bảo vệ sự sống và quyền con người và không ngừng cầu nguyện cho hòa bình thế giới.
Các Linh mục, phó tế và các người cố vấn của giáo phận và các tổ chức bác ái Công giáo đang phục vụ ở trung tâm trợ giúp. Họ giúp các bịnh nhân và gia đình của họ. Họ đem tình yêu và lòng thương xót của thiên Chúa cho những ai đang đối diện với nỗi đau không thể tưởng tượng. Các giáo xứ và các tổ chức cầu nguyện cho các nạn nhân của bạo lực kinh hoàng và tất cả những ai bị tổn thương từ hành động chống lại tình yêu của Thien Chúa. Đức cha Noonan cũng loan báo buổi canh thức lau khô nước mắt vào 7 giờ chiều thứ 2, 13/6 ở nhà thờ chánh tòa thánh Gia-cô-bê.
Đức Tổng giám mục Joseph Kurtz  chủ tịch Hội đồng Giám mục Hoa kỳ nói: “Thức giấc với tin tức về bạo lực không thể diễn tả được ở Orlando nhắc nhở chúng ta rằng sự sống của chúng ta thì quý giá biết bao”. Đức Tổng giám mục cũng dâng lời cầu nguyện cho các nạn nhân và kêu gọi sự liên đới với những đau khổ và giải pháp tốt hơn để bảo vệ sự sống và phẩm giá của mỗi người.
Đức tổng Giám mục Blase J. Cupich của Chicago cũng cầu nguyện cho các nạn nhân và gia đình. Ngài cám ơn những người không sợ nguy hiểm đến bản thân đã cứu giúp các nạn nhân một cách anh hùng, nhắc nhở sự dũng cảm và cảm thông ngay cả khi đối mặt những nguy hiểm và tàn ác. Đối lại với sự tàn ác, chúng ta được gọi gieo trồng yêu thương; đáp lại bạo lực chúng ta gieo trồng hòa bình và với bất bao dung chúng ta mang lại bao dung tha thứ. Tổng giáo phận Chicago bên cạnh các nạn nhân và gia đình và khẳng định lại dấn thân, với Đức Thánh Cha Phanxicô, nguyên nhân của những thảm kịch như thế là việc dễ dàng có các vũ khí. Chúng ta không còn có thể đứng im và không làm gì. (RV)

Hồng Thủy OP