Đức Thánh Cha tiếp kiến 7,500 thành viên Phong trào Schoenstatt

Đức Thánh Cha tiếp kiến 7,500 thành viên Phong trào Schoenstatt

VATICAN. Sáng thứ bẩy 25-10-2014, ĐTC đã tiếp kiến 7,500 thành viên Phong trào Schoenstatt từ 50 nước về Roma hành hương nhân dịp mừng kỷ niệm 100 năm thành lập Phong trào.

Phong Trào Schoenstatt do cha Giuse Kentenich (1885-1968) thành lập ngày 18-10 năm 1914 tại Schoenstatt cách thành phố Bonn 60 cây số về mạn nam. Cha là linh hướng tiểu chủng viện của các cha dòng Pallottin. Cùng với một nhóm chủng sinh, Cha lập một hiệp hội Đức Mẹ, qua một hành vi gọi là ”Giao ước Tình Yêu với Mẹ Maria”. Các thành viên của Phong trào Schoenstatt hiện nay có mặt tại 110 nước trên thế giới. Họ sống linh đạo gia đình giữa các thành viên, và khích lệ họ hoạt động tông đồ trong môi trường sống của mình.

Cuộc gặp gỡ diễn ra trong 2 tiếng đồng hồ dưới hình thức các cuộc đối thoại, trình bày chứng từ và văn nghệ, trình chiếu Video của các cộng đoàn, các đôi vợ chồng và các bạn trẻ. ĐTC đã lắng nghe và trả lời một số câu hỏi được nêu lên. ĐTC khuyến khích các thành viên pong trào Schoenstatt hãy tháp tùng các gia đình và bảo vệ hôn phối, là những thực tại chưa bao giờ bị tấn công như ngày nay.

”Nhiều gia đình ngày nay bị chia rẽ, bị biến thái, coi như một cách kết hiệp nào đó. Bao nhiêu hôn phối bị vỡ tan, bao nhiêu quan niệm duy tương đối về bí tích hôn phối. Gia đình ngày nay đang bị khủng hoảng”. ĐTC nói đến nguyên nhân của tình trạng trên đây là ”nền văn hóa tạm thời”, phá hủy khả năng liên kết lâu bền của con người với nhau, và trong đó các trẻ em chịu đau khổ nhiều nhất vì những cuộc hôn nhân tan vỡ”. Những hình thức kết hiệp mới phá hoại và giới hạn sự cao cả của tình yêu hôn nhân. Có bao nhiêu những vụ sống chung, ly thân và ly dị.

ĐTC nhận xét rằng nhiều cặp kết hôn chỉ coi bí tích hôn phối như một nghi thức, mà họ không hiểu ý nghĩa sâu xa. Nhiều người chẳng biết họ làm gì trong bí tích ấy.

Theo ĐTC, chìa khóa để giúp đỡ, chính là sự tiếp xúc, tháp tùng, chứ không chiêu dụ, vì hành động này không mang lại kết quả. Trái lại cần phải kiên nhẫn tháp tùng. Ngoài ra cần phải chuẩn bị hôn phối kỹ lưỡng. ĐTC phê bình sự kiện có những nơi người ta làm lễ cưới cho các cặp đính hôn chỉ sau hai cuộc gặp gỡ để chuẩn bị.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha kêu gọi canh tân nội tâm

Đức Thánh Cha kêu gọi canh tân nội tâm

VATICAN. ĐTC Phanxicô mời gọi các tín hữu Kitô canh tân nội tâm để có thể thực thi cuộc đối thoại đại kết Kitô đích thực.

Ngài đưa ra lời mời gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng ngày 24-10-2014, dành cho 45 tham dự viên cuộc hành hương của tổ chức Lumen Orientale, Ánh Sáng đông phương, dưới sự hướng dẫn của Đức TGM Kállistos của giáo phận Diokleia.

ĐTC nói: ”Mỗi cuộc hành hương theo tinh thần Kitô giáo không phải chỉ là một hành trình địa lý, nhưng nhất là dịp hành trình canh tân nội tâm để ngày càng tiến về Chúa Kitô hơn, ”Đấng mang lại nguồn gốc cho đức tin và làm cho đức tin tới độ viên mãn” (Dt 12,2). Những chiều kích này rất quan trọng để tiến bước trên con đường dẫn đến hòa giải và hiệp thông trọn vẹn giữa tất cả những người tin nơi Chúa Kitô. Sẽ không có một cuộc đối thoại đại kết chân thực nếu không có sự sẵn sàng can tân nội tâm và tìm kiếm sự trung thành mạnh mẽ hơn đối với Chúa Kitô và thánh ý Chúa”.

ĐTC cũng ca ngợi chủ ý của đoàn hành hương theo vết hai thánh Giáo Hoàng Gioan 23 và Gioan Phaolô 2, vì những đóng góp rất lớn của các ngài cho sự phát triển ngày càng thắm thiết giữa Giáo Hội Công Giáo và Giáo Hội Chính Thống. Ngài nói: ”Tấm gương của hai vị thánh này chắc chắn soi sáng cho tất cả chúng ta, vì hai vị luôn chứng tỏ lòng hăng say đối với sự hiệp nhất các tín hữu Kitô, xuất phát từ sự ngoan ngoãn lắng nghe ý Chúa, trong bữa tiệc ly Chúa đã cầu xin Chúa Cha cho các môn đệ của Người trở nên một” (Ga 17,21) (SD 24-10-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Chương trình hoạt động của Đức Thánh Cha tháng 11-2014

Chương trình hoạt động của Đức Thánh Cha tháng 11-2014

VATICAN. Hôm 24-10-2014, Ban nghi lễ phụng vụ của ĐTC đã công bố lịch trình các buổi lễ do ĐTC Phanxicô cử hành trong tháng 11-2014.

Chiều thứ bẩy, 1-11, lễ các thánh, ĐTC sẽ chủ sự thánh lễ lúc 4 giờ tại Nghĩa trang Verano. Chúa nhật hôm sau, 2-11, vào lúc 6 giờ chiều, ngài viếng mộ các vị Giáo Hoàng quá cố tại hầm Đền thờ Thánh Phêrô Sáng thứ hai, 3-11, lúc 11 giờ rưỡi, ĐTC sẽ chủ sự thánh lễ tại Đền thờ thánh Phêrô để cầu nguyện cho các Hồng y và GM qua đời trong 12 tháng qua.

Chúa nhật 23-11, lễ Chúa Kitô Vua, ĐTC sẽ chủ sự thánh lễ lúc 10 giờ rưỡi tại Quảng trường thánh Phêrô, để tôn phong 6 vị chân phước lên bậc hiển thánh. Sau cùng, từ ngày 28 đến 30-11, ngài sẽ viếng thăm Thổ Nhĩ Kỳ (SD 24-10-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha tiếp kiến chung: kêu gọi chống chia rẽ, ghen tương

Đức Thánh Cha tiếp kiến chung: kêu gọi chống chia rẽ, ghen tương

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến chung 60 ngàn tín hữu hành hương sáng ngày 22-10-2014, ĐTC Phanxicô nhắn nhủ các tín hữu tránh chia rẽ, ghen tương trong cộng đoàn Giáo Hội.
Trong số các đoàn tín hữu hành hương, đông nhất vẫn là các đoàn nói tiếng Ý rồi đến tiếng Đức, đặc biệt là 3,500 tín hữu thuộc các giáo phận miền Romana bắc Italia; phái đoàn 1 ngàn người từ giáo xứ Đức Mẹ Núi Cát Minh ở Gela, dưới sự hướng dẫn của Đức GM giáo phận Piazza Amerina. Từ Việt Nam có một nhóm hành hương gồm 16 người thuộc Tổng giáo phận Sàigòn. Từ Nhật Bản có 160 tín hữu thuộc tổng giáo phận Tokyo về đây hành hương dưới sự hướng dẫn của Đức TGM Takeo Okada.
Sau phần tôn vinh lời Chúa với bài đọc ngắn trích từ thư thứ I của Thánh Phaolô nói về Giáo Hội như thân mình của Chúa Kitô. Đó cũng là đề tài được ĐTC khai triển trong loạt bài về Giáo Hội.
Bài huấn giáo của ĐTC
Anh chị em thân mến, chào anh chị em,
Khi muốn cho thấy rõ các yếu tố họp thành một thực tại liên kết chặt chẽ với nhau như thế nào và họp thành một thực thể duy nhất, người ta thường dùng hình ảnh một thân thể. Từ thánh Phaolô Tông đồ, thành ngữ này đã được áp dụng cho Giáo Hội và được coi là nét đặc trưng sâu xa nhất và đẹp nhất của Giáo Hội. Vì vậy hôm nay chúng ta hãy tự hỏi: theo nghĩa nào Giáo Hội họp thành một thân thể? Và tại sao Giáo Hội được định nghĩa là ”thân mình Chúa Kitô?”
Trong sách ngôn sứ Ezechiel có mô tả một thị kiến khá đặc biệt, gây rùng mình, nhưng có khả năng mang lại niềm tín thác và hy vọng cho tâm hồn chúng ta. Thiên Chúa tỏ cho ngôn sứ thấy một bãi xương, tách biệt nhau và khô cằn. Một cảnh tượng tiêu điều.. Rồi Thiên Chúa bảo ngôn sứ hãy khẩn cầu Thần Khí trên chúng. Thế là các xương ấy bắt đầu xích lại gần nhau và liên kết với nhau, trên các xương đó trước tiên các dây thần kinh tăng trưởng rồi đến các lớp thịt và họp thành một thân mình trọn vẹn và đầy sức sống (Xc Ez 37,1-14). Đó chính là Giáo Hội! là một kiệt tác của Thần Khí, Người phú vào mỗi người sự sống mới của Đấng Phục Sinh và đặt chúng ta cạnh nhau, phần tử này phục vụ và nâng đỡ nhau, và qua đó Chúa biến tất cả chúng ta thành một thân mình duy nhất, được kiến tạo trong tình hiệp thông và tình yêu.
Nhưng Giáo Hội không phải chỉ là một thân mình được kiến tạo trong Thần Khí: Giáo Hội là thân mình của Chúa Kitô! Đây không phải chỉ là một kiểu nói: chúng ta thực sự là như vậy! đó là một hồng ân lớn chúng ta nhận lãnh trong ngày chúng ta chịu phép rửa! Thực vậy, trong bí tích rửa tội, Chúa Kitô đã làm cho chúng ta thuộc về Chúa, đón nhận chúng ta trong trọng tâm mầu nhiệm thập giá, mầu nhiệm tột đỉnh tình thương của Ngài đối với chúng ta, để cho chúng ta được sống lại với Ngài, như những thụ tạo mới. Giáo Hội được khai sinh như thế, và Giáo Hội được nhìn nhận là Thân Mình Chúa Kitô! Phép rửa tội tạo nên một sự tái sinh đích thực, tái sinh chúng ta trong Chúa Kitô, làm cho chúng ta trở nên chi thể của Chúa, liên kết chúng ta với nhau chặt chẽ, như những chi thể của cùng một thân mình, có Chúa là đầu (Xc Rm 12,5; 1 Cr 12,12-13).
ĐTC nhận xét rằng:
”Điều nảy sinh từ đó chính là một sự hiệp thông sâu xa trong tình thương. Theo nghĩa này, lời khuyên nhủ của thánh Phaolô soi sáng, khi Thánh Nhân nhắn nhủ những người chồng ”hãy yêu thương vợ như chính thân thể của mình như Chúa Kitô vẫn yêu thương Giáo Hội, vì chúng ta là chi thể của Chúa” (Ep 5,28-30). Thật là đẹp nếu chúng ta năng nhớ lại mình là gì, Chúa Giêsu đã biến chúng ta thành gì: chúng ta là thân mình của Chúa, thân thể mà không gì và không ai có thể tách rời khỏi Chúa và Ngài bảo bọc thân mình ấy với tất cả lòng say mê và yêu thương của Ngài, như người chồng yêu thương vợ mình. Nhưng tư tưởng này phải làm nổi lên trong chúng ta ước muốn đáp lại tình yêu của Chúa Kitô, chia sẻ tình thương của Ngài giữa chúng ta, như các chi thể sinh động của cùng một thân thể. Thời thánh Phaolô, cộng đoàn Corinto gặp nhiều khó khăn theo chiều hướng này, như thường xảy ra giữa chúng ta, họ sống kinh nghiệm chia rẽ, ghen tương, thiếu thông cảm và gạt ra ngoài lề. Tất cả những điều đó không tốt, vì thay vì xây dựng và làm cho Giáo Hội được tăng trưởng như thân mình của Chúa Kitô, thì lại phân tán Giáo Hội thành bao nhiêu mảnh, cắt chặt Giáo Hội. Điều này cũng xảy ra ngày nay. Chúng ta hãy nghĩ đến các cộng đoàn Kitô, trong một vài giáo xứ, chúng ta hãy nghĩ đến những khu phố với bao nhiêu chia rẽ, ghen tương, bao nhiêu hiểu lầm và tình trạng bị gạt ra ngoài. Sự kiện đó làm cho chúng ta tách biệt nhau. Đó là khởi đầu của chiến tranh. Chiến tranh không bắt đầu nơi chiến trường: chiến tranh bắt đầu trong tâm hồn, với những sự thiếu cảm thông, chia rẽ, ghen tương, tranh giành nhau.
Cộng đoàn Corinto xưa kia cũng như thế, họ vô địch trong lãnh vực này. Vì vậy, thánh Tông Đồ đã gửi đến người dân thành Corinto vài lời khuyên cụ thể, và những lời này cũng có giá trị đối với chúng ta: đừng ghen tương, nhưng trong cộng đoàn chúng ta, hãy quí chuộng những năng khiếu và đức tính của các anh chị em chúng ta… Tất cả những gì gây phân rẽ thì cần phải tránh, chẳng vậy sự ghen tương sẽ lớn mạnh và làm đầy tâm hồn. Một con tim ghen tương là một con tim át-xít, một con tim thay vì có máu thì dường như chỉ có dấm; đó là một con tim không bao giờ hạnh phúc, một con tim phân hóa cộng đoàn. Vậy ta phải làm gì đây? Thưa hãy quí chuộng những năng khiếu và đức tính của những người khác trong cộng đoàn, của các anh chị em chúng ta. Khi ý tưởng ghen tương lẻn vào tâm trí chúng ta – vì tất cả chúng ta đều là người tội lỗi – thì ta phải thưa với Chúa: ”Cám ơn Chúa, vì Chúa đã ban năng khiếu đó cho người ấy”. Hãy quí chuộng đức tính của họ, gần gũi và chia sẻ những đau khổ của những ngừơi rốt cùng và túng thiếu; biểu lộ lòng biết ơn đối với tất cả mọi người và đặc biệt đối với những người thi hành những công tác phục vụ khiêm tốn và âm thầm nhất, và sau cùng là lời khuyên của thánh Phaolô cho dân Corinto: đừng nghĩ mình cao trọng hơn người khác. Bao nhiêu người nghĩ mình cao trọng hơn người khác. Cả chúng ta nữa, bao nhiêu lần chúng ta nói như người Biệt Phái trong dụ ngôn: ”Lạy Chúa con cảm tạ Chúa vì con không như người kia, con cao trọng hơn họ”. Nhưng như thế là xấu, không bao giờ được làm như vây. Khi định làm như thế, thì hãy nhớ đến các tội lỗi của mình, những tội mà chẳng ai biết, và xấu hổ trước mặt Chúa, và nói: ”Lạy Chúa, Chúa biết ai cao trọng hơn. Con im miệng bây giờ”. Và làm như thế là tốt. Trong tình bác ái hãy coi nhau như chi thể của nay, sống và hiến thân mưu ích cho tất cả mọi người (Xc 1 Cr 12,14).
Và ĐTC kết luận rằng: Anh chị em thân mến, như ngôn sứ Ezechiele và như thánh Phaolô Tông đồ, chúng ta cũng hãy khẩn cầu Chúa Thánh Linh, cho ân thánh và những hồng ân dồi dào của Ngài giúp chúng ta thực sự sống như thân mình của Chúa Kitô và như dấu chỉ hữu hình và đẹp đẽ nói lên tình thương của Chúa.
Chào thăm và nhắn nhủ
Sau bài giáo lý bằng tiếng Ý, các LM và các giám chức của Tòa Thánh đã tóm tắt bài này bằng các sinh ngữ khác nhau cũng như dịch những lời ĐTC chào các tín hữu hành hương cùng với những lời nhắn nhủ của ngài.
Với các tín hữu nói tiếng Pháp, ĐTC đặc biệt chào thăm các bạn trẻ thuộc giáo phận Bayeux-Lisieux mới chịu phép thêm sức, cũng như những người thuộc giáo phận Lyon đang ở trong tình trạng bấp bênh. Ngài cho biết sẽ đặc biệt cầu nguyện cho họ.
Khi chào thăm các tín hữu Ba Lan, ĐTC nói:
”Hôm nay, chúng ta cử hành lễ kính nhớ Thánh Gioan Phaolô 2 Giáo Hoàng theo phụng vụ, Thánh nhân đã mời tất cả chúng ta hãy rộng cửa cho Chúa Kitô; trong cuộc viếng thăm đầu tiên tại quê hương anh chị em, Người đã khẩn cầu Chúa Thánh Linh ngự xuống, canh tân đất nước Ba Lan; Người cũng nhắc nhớ cho mọi người mầu nhiệm lòng từ bi của Chúa. Ước gì gia sản tinh thần của Người không bị lãng quên, nhưng thúc đẩy chúng ta suy tư và hành động cụ thể để mưu ích cho Giáo Hội, cho gia đình và xã hội.
Sau cùng, bằng tiếng Ý, ĐTC chào các tín hữu thuộc các giáo phận ở miền Romagna, bắc Italia, cùng với các GM của mình, Ngài khuyến khích họ hãy tìm trong Phúc Âm những tiêu chuẩn soi sáng cho cuộc sống bản thân và cộng đoàn.
Hiện diện tại Quảng trường có đông đảo các nhân viên hãng hàng không Meridiana ở Italia đang bị đe dọa mất việc vì họ thuộc vào số nhân viên thặng dư. ĐTC nói: ”Tôi muốn hiệp với Cộng đoàn giáo phận Tempio-Ampurias bày tỏ sự gần gũi và liên đới sâu xa với các nhân viên hãng hàng không Meridiana, đang sống những giờ lo âu cho tương lai công ăn việc làm của mình. Tôi nồng nhiệt cầu mong các vị hữu trách có thể tìm được một giải pháp công bình, để ý trước tiên tới phẩm giá con ngừời và nhu cầu không thể loại bỏ của bao nhiêu gia đình.”
Hãng này xác nhận sẽ thải 1,366 nhân viên. Chính phủ Italia đang cố gắng làm trung gian giải quyết vụ này.
Với các bạn trẻ, các bệnh nhân và các đôi tân hôn, ĐTC nhắc nhớ rằng ”tháng 10 mời gọi chúng ta hãy canh tân sự cộng tác vào sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội. Với năng lực tươi mát của tuổi trẻ, với sức mạnh của lời cầu nguyện và hy sinh, và với tiềm năng của đời sống vợ chồng, anh chị em hãy biết trở thành những nhà thừa sai của Tin Mừng, nâng đỡ cụ thể cho những người đang vất vả mang Tin Mừng đến cho những người chưa được nghe biết.
ĐTC cũng ứng khẩu nhắc nhở các tín hữu ngày hôm nay hãy lấy sách ngôn sứ Ezechiel và đọc đoạn thứ 37 kể lại thị kiến Thần Khí Chúa biến những xương khô thành một thành một thân mình sống động.

G. Trần Đức Anh OP

Đức Thánh Cha nhóm Công nghị Hồng Y

Đức Thánh Cha nhóm Công nghị Hồng Y

VATICAN. Sáng 20-10-2014, ĐTC đã chủ tọa công nghị Hồng Y về tình hình các tín hữu Kitô tại Trung Đông và quyết định về việc phong Hiển thánh.

Tham dự công nghị bắt đầu lúc 9 giờ sáng tại Hội trường Thượng HĐGM cũng có các vị Thượng Phụ và một số Giám Mục.

Ngỏ lời trong dịp này, ĐTC nói: ”Chúng ta có cùng ước muốn hòa bình và ổn định tại Trung Đông và ý chí cổ võ giải pháp cho các cuộc xung đột bằng cách đối thoại, hòa giải và dấn thân chính trị. Đồng thời chúng ta muốn gia tăng sự trợ giúp có thế cho các cộng đồng Kitô để hỗ trợ họ ở lại vùng miền ấy.

”Như tôi đã có dịp lập lại nhiều lần, chúng ta không thể có thái độ cam chịu khi nghĩ đến miền Trung Đông không còn Kitô hữu nữa, những người từ 2 ngàn năm nay đã tuyên xưng danh Chúa Giêsu tại đó. Những biến cố gần đây, nhất là tại Irak và Siria, gây lo âu rất nhiều. Chúng ta chứng kiến một hiện tượng khủng bố có chiều kích không thể tưởng tượng được trước đây. Bao nhiêu anh chị em chúng ta bị bách hại và đã phải rời bỏ gia cư, cả trong tình thế tàn bạo. Dường như người ta đánh mất ý thức về giá trị sự sống con người, con người dường như không đáng kể gì nữa, và người ta có thể hy sinh con người cho những lợi lộc khác. Rất tiếng là tất cả những điều đó xảy ra trong sự dửng dưng của bao nhiêu người.

Và ĐTC nhấn mạnh rằng: ”Tình trạng bất công này, không những đòi lời cầu nguyện của chúng ta, nhưng còn cần phải có câu trả lời thích hợp từ phía cộng đồng quốc tế. Tôi chắc chắn rằng với sự phù trợ của Chúa, từ cuộc gặp gỡ hôm nay, sẽ có những suy tư giá trị và những đề nghị để có thể giúp anh chị em chúng ta đang chịu đau khổ và đáp ứng cả thảm trạng suy giảm sự hiện diện của Kitô giáo tại miền đất nơi Kitô giáo được khai sinh và phổ biến.

Đức Hồng Y Parolin
Tiếp lời ĐTC, ĐHY Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, đã tường trình trước công nghị về khóa họp mới đây tại Vatican, từ ngày 2 đến 4-10 vừa qua của các vị Sứ thần Tòa Thánh ở Trung Đông, các đại diện Tòa Thánh tại LHQ ở Genève và New York cùng với các vị lãnh đạo tại Tòa Thánh về sự hiện diện của các tín hữu Kitô tại Trung Đông.

Trước tiên các vị bàn về tình trạng không thể chấp nhận được tại Trung Đông do cái gọi Nhà Nước Hồi giáo, một thực tài chà đạp công pháp và dùng những phương pháp khủng bố để mưu toan mở rộng quyền bính: giết người hằng loạt, chém đầu những kẻ nghĩ khác họ, bán phụ nữ ở chợ, xung các trẻ em vào các cuộc chiến đấu, tàn phá các nơi thờ phượng.. Tình trạng đó khiến hàng trăm ngàn người phải bỏ gia cư đi lánh nạn nơi khác, trong những điều kiện bấp bênh, chịu bao đau khổ về thể lý và tinh thần. Khi lên án rõ ràng những vi phạm đó, không những đối với công pháp quốc tế về nhân đạo, nhưng cả về các nhân quyền sơ đẳng nhất, người ta cũng tái khẳng định quyền của người tị nạn được trở về đất nước của mình và sống trong phẩm giá, trong an ninh. Đó là quyền phải được cộng đồng quốc tế và các quốc gia hỗ trợ và bảo đảm. Điều có liên hệ ở đây là những nguyên tắc căn bản như giá trị sinh mạng và phẩm giá con người, tự do tôn giáo, sự sống chung hòa bình và hòa giữa các cá nhân và giữa các dân tộc.

ĐHY Parolin cũng nhấn mạnh rằng các cuộc xung đột ở Trung Đông là một trong những đe dọa nghiêm trọng nhất đối với sự ổn định quốc tế. Hòa bình ở Trung Đông không thể tìm kiếm bằng những chọn lựa đơn phương áp đặt bằng võ lực.

ĐHY nhắc đến lời ĐTC lên án nạn buôn bán võ khí là một trong những nguyên nhân tạo nên nhiều nạn nhân ở Trung Đông và cộng đồng quốc tế không thể nhắm mắt làm ngơ trước vấn đề này.

ĐHY Quốc vụ khanh nói đến nạn xuất cư của các tín hữu Kitô ra khỏi Trung Đông, vai trò của Giáo Hội và của cộng đồng quốc tế. Ngài kêu gọi đi tới và giải quyết tận căn những nguyên nhân gây ra các vấn đề hiện nay và cổ võ con đường đối thoại và thương thuyết vì con đường bạo lực chỉ đưa tới tàn phá, đồng thời ĐHY xác quyết rằng việc bảo vệ các tín hữu Kitô và tất cả các nhóm tôn giáo và chủng tộc thiểu số cần phải đặt trong bối cảnh bảo vệ con người và tôn trọng nhân quyền, đặc biệt là tự do tôn giáo và tự do lương tâm.

Đề cập đến thảm trạng của bao nhiêu người tị nạn, như một nửa dân số Siria đang cần được cứu trợ về nhân đạo, ĐHY Parolin nói: Giáo hội khuyến khích cộng đồng quốc tế quảng đại đáp ứng thảm trạng này, và về phần mình, Giáo hội cũng đóng góp, đặc biệt qua các Caritas địa phương và các cơ quan cứu trợ Công Giáo, giúp đỡ các nạn nhân, không những các tín hữu Kitô, nhưng tất cả những người đang chịu đau khổ.

Trong công nghị, ĐTC đã ấn định ngày phong hiển thánh cho chân phước LM Joseph Vaz là 14-1-2015, trong chuyến viếng thăm của ngài tại Sri Lanka từ 13 đến 15-1 năm tới. Thánh nhân từ Ấn Độ đến truyền giáo tại Sri Lanka trong thời kỳ người Hòa Lan bách hại các tín hữu Kitô tại đảo này. (SD 20-10-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Tòa Thánh mời gọi các tín hữu Ấn Giáo cộng tác chống văn hóa loại trừ

Tòa Thánh mời gọi các tín hữu Ấn Giáo cộng tác chống văn hóa loại trừ

VATICAN. Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn mời gọi các tín hữu Ấn giáo cộng tác để thăng tiến nền văn hóa bao gồm và chống lại nền văn hóa loại trừ.

Trên đây là nội dung sứ điệp của Hội Đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn công bố hôm 20-10-2014, để chúc mừng các tín hữu Ấn giáo trên thế giới nhân lễ Deepavali, là lễ ánh sáng siêu việt, sẽ được cử hành vào ngày 23-10-2014. Sứ điệp mang chữ ký của ĐHY Chủ tịch Jean Louis Tauran và vị Tổng thư ký là Cha Mighuel Ángel Ayuso Guixot, người Tây Ban Nha, viết:

”Đứng trước tình trạng gia tăng kỳ thị, bạo lực và loại trừ ở các nơi trên thế giới, việc nuôi dưỡng một nền văn hóa bao gồm có thể được coi như một trong những khát vọng chân thành nhất của dân chúng ở mọi nơi”.

Sứ điệp của Tòa Thánh nhìn nhận có những điều tích cực do sự hoàn cầu hóa mang lại cho thế giới, mở ra những biên cương mới, cung cấp những cơ hội phát triển, cơ may giáo dục và săn sóc sức khỏe tốt đẹp hơn, nhưng sự hoàn cầu hóa hiện nay chưa đạt được đối tượng chủ yếu là hội nhập dân chúng địa phương vào cộng đồng hoàn cầu. Đúng hơn, hoàn cầu hóa đã góp một phần lớn làm cho nhiều dân tộc đánh mất căn tính xã hội văn hóa, kinh tế và chính trị của mình.

”Những công hiệu tiêu cực của sự hoàn cầu hóa cũng ảnh hưởng tới các cộng đồng tôn giáo trên thế giới, vì các tôn giáo có liên hệ mật thiết với các nền văn hóa xung quanh. Hoàn cầu hóa góp phần làm phân hóa xã hội, gia tăng trào lưu duy tương đối, tôn giáo hỗn hợp và tư nhân hóa tôn giáo. Trào lưu tôn giáo cực đoan cũng như những xung đột về chủng tộc, bộ tộc và phe phái ở các nơi trên thế giới ngày nay phần lớn là những biểu hiện sự bất mãn, bất an và bấp bênh nơi dân chúng, nhất là những người nghèo và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội, không được hưởng những thiện ích của sự hoàn cầu hóa.

Hội đồng Tòa Thánh cũng nhận xét rằng ”Những hậu quả tiêu cực của sự hoàn cầu hóa như sự lan tràn trào lưu duy vật và duy tiêu thụ làm cho dân chúng vị kỷ hơn, khao khát quyền lực và dửng dưng đối với các quyền, nhu cầu và đau khổ của người khác. Nói theo lời của ĐGH Phanxicô, đó là ”hoàn cầu hóa sự dửng dưng” khiến chúng ta dần dần lãnh đạm đối với những đau khổ của người khác và khép kín vào mình (Sứ điệp Ngày Hòa bình thế giới 2014). Sự dửng dưng ấy tạo nên nền văn hóa loại trừ, trong đó người nghèo, những người bị gạt ra ngoài lề và dễ bị tổn thương, bị chối bỏ các quyền lợi cũng như cơ may và tài nguyên mà các thành phần khác trong xã hội được hưởng..”

Sứ điệp của Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn kết luận rằng ”Vì thế, việc nuôi dưỡng một nền văn hóa bao gồm trở thành một lời kêu gọi chung và là một trách nhiệm chung mà chúng ta cần cấp thiết lãnh nhận. Đó là một dự phóng bao gồm những người quan tâm đến sự khỏe và sự sống còn của gia đình nhân loại trên trái đất này và cần được thi hành, mặc dù có những thế lực kéo dài nền văn hóa lại trừ” (SD 20-10-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Lễ phong chân phước cho Đức Phaolô 6 và bế mạc Thượng HĐGM thế giới

Lễ phong chân phước cho Đức Phaolô 6 và bế mạc Thượng HĐGM thế giới

VATICAN. Sáng chúa nhật 19-10-2014, ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ trước sự hiện diện của 80 ngàn tín hữu tại Quảng trường Thánh Phêrô để tôn phong ĐGH Phaolô 6 lên bậc chân phước đồng thời bế mạc Thượng Hội đồng Giám Mục khóa đặc biệt thứ 3 sau 2 tuần tiến hành với chủ đề ”Những thách đố về việc mục vụ gia đình trong bối cảnh loan báo Tin Mừng”.

Paul VI PP

Đồng tế với ĐTC trong thánh lễ tại Quảng trường Thánh Phêrô dưới bầu trời nắng thu thật đẹp, có gần 200 nghị phụ, hàng trăm Hồng Y và GM Italia và các nước khác về dự lễ phong chân phước, và gần 1 ngàn linh mục ngồi trong khu vực riêng trước thềm Đền thờ. Đặc biệt lúc 10 giờ sáng, Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16, trong phẩm phục đồng tế, tiến ra lễ đài và ngồi nơi hàng ghế cạnh các Hồng y đồng tế. Các tín hữu đã vỗ tay nồng nhiệt chào đón ngài.

Khi tiến ra bàn thờ, ĐTC Phanxicô đã đến chào vị Giáo Hoàng tiền nhiệm của ngài.

Đứng cạnh ĐTC trên bàn thờ là 6 chức sắc của Thượng HĐGM và có thêm 4 vị GM, Hồng Y có liên hệ đặc biệt với vị tân chân phước, đó là ĐGM giáo phận Brescia nguyên quán của Đức Phaolô 6, ĐHY Scola kế nhiệm Người trong chức vụ TGM Milano, ĐHY Re cùng thuộc giáo phận Brescia và sau đùng là ĐHY Vallini giám quản Roma.
Áo lễ ĐTC Phanxicô mặc cũng là áo lễ ĐGH Phaolô 6 nhận được trong dịp ngài mừng sinh nhật thứ 80 và chén lễ cũng là chén mà Đức Phaolô 6 đã dùng.

Trong số các tín hữu hiện diện trong thánh lễ, đặc biệt có 3 ngàn tín hữu từ giáo phận Milano và 5.300 người khác từ giáo phận Brescia của Đức chân phước Giáo Hoàng, trong khi các chủng sinh của hai giáo phận này đảm nhận việc giúp lễ.

Đầu thánh lễ, sau kinh thương xót, Đức Cha Monari, GM giáo phận Brescia, cùng với Cha Antonio Marrazzo, dòng Chúa Cứu Thế là thỉnh nguyện viên án phong, đã tiến lên trước ĐTC xin ngài tiến hành việc phong chân phước cho Vị Tôi Tớ Chúa Phaolô 6, Giáo Hoàng. Trong dịp này, tiểu sử của Đức Phaolô 6 cũng được trình bày.
Tóm lược tiểu sử vị tân chân phước

Đức Giáo Hoàng Phaolô 6 tên là Giovanni Battista Montini, sinh cách đây 117 năm (26-9 năm 1897) tại làng concesio, giáo phận Brescia, bắc Italia. Thân phụ ngài vốn là một luật sư, làm chủ báo ”Công dân Brescia” (Il Cittadino di Brescia) và sau này làm đại biểu của 3 khóa quốc hội thuộc đảng nhân dân Italia.

Thầy Montini thụ phong linh mục năm 1920, lúc mới 23 tuổi, tốt nghiệp triết học và dân luật ở Roma, và giáo luật ở Milano. Gia nhập trường ngoại giao Tòa Thánh rồi năm 1923 được gửi đi làm tùy viên ở Tòa Sứ Thần Tòa Thánh ở Varsava, thủ đô Ba Lan. Nhưng chẳng bao lâu vì sức khỏe yếu, cha trở về Roma và phục vụ tại Phủ quốc vụ khanh và dần dần được giao phó nhiều trách nhiệm hơn. Đồng thời cha cũng làm tuyên úy cho liên hiệp các sinh viên đại học Công Giáo Italia. Cha cố gắng giúp các sinh viên Công Giáo thấm nhuần các giá trị để có thể kháng cự lại ảnh hưởng của phong trào sinh viên phát xít. Cha cũng dạy về lịch sử ngành ngoại giao Tòa Thánh tại Giáo Hoàng đại học Laterano ở Roma.

Sau 28 năm phục vụ tại Vatican, cuối tháng 11 năm 1952, cha Montini được Đức Giáo Hoàng Piô 12 bổ làm Quyền Quốc vụ khanh Tòa Thánh đặc trách thường vụ, và 2 năm sau ngài được bổ nhiệm làm TGM giáo phận Milano là giáo phận lớn nhất tại Âu Châu.

Đức TGM Montini dành trọn 8 năm để tái thiết và tổ chức lại giáo phận Milano bấy giờ đang ở trong tình trạng rất khó khăn và bấp bênh về kinh tế cũng như do hiện tượng di cư từ miền nam Italia, sự lan tràn chủ nghĩa vô thần và mác xít nơi giới lao động. Đức Montini tìm kiếm sự đối thoại và hòa giải với mọi lực lượng xã hội và khởi sự công trình Kitô hóa thực sự nơi giới công nhân, nhất là qua hiệp hội công nhân Công giáo Italia, gọi tắt là Acli.
Sau khi ĐGH Gioan 23 qua đời hồi tháng 6 năm 1963, ĐHY Montini được bầu làm Giáo Hoàng. Ngài là vị giáo hoàng cuối cùng đội triều thiên 3 tầng; và 5 tháng sau, ngài long trọng đặt triều thiên này trên bàn thờ ở Đền thờ Thánh Phêrô như một dấu chỉ từ bỏ ”vinh quang và quyền lực phàm nhân”.

Đứng trước một thực tại xã hội ngày càng có xu hướng tách rời khỏi linh đạo, và bị tục hóa, đứng trước một quan hệ khó khăn giữa Giáo Hội và thế giới, Đức Giáo Hoàng Phaolô 6 đã luôn biết chứng tỏ đâu là những con đường đức tin và nhân đạo, qua đó có thể tiến tới một sự cộng tác liên đới với nhau để mưu công ích.
Ngài cố gắng duy trì sự hiệp nhất của Giáo Hội Công Giáo, trước sự kiện một đàng phe siêu bảo thủ tố giác ngài là cởi mở thái quá, nếu không muốn nói là theo phe duy tân, và đàng khác có những phe giáo sĩ gần gũi với các chủ trương xã hội chủ nghĩa, thì phê bình ĐGH là bất động.

Đức Phaolô 6 đã mở đầu thói quen viếng thăm mục vụ tại các đại lục từ Thánh Địa với cuộc gặp gỡ Đức Thượng Phụ Chính Thống Athenagoras, cho tới Ấn độ, LHQ, Fatima, Thổ nhĩ kỳ, Colombia, Genève và Uganda, Viễn Đông, Australia và Đại dương châu, và rất nhiều cuộc viếng thăm khác ở Italia.
Ngài công bố 7 thông điệp, bắt đầu là thông điệp Ecclesiam Suam cách đây đúng 50 năm, và sau cùng là thông điệp Humanae vitae, Sự sống con người, về hôn nhân và điều hòa sinh sản.
Đức Phaolô 6 đã áp dụng các giáo huấn của Công đồng và tiếp tục công trình canh tân Giáo Hội, thiết lập Ngày Hòa Bình thế giới. Ngài cũng chịu đau khổ nhiều vì cuộc khủng hoảng nơi các chi thể của thân mình Giáo hội và đáp lại bằng sự can đảm thông truyền đức tin, bảo đảm đạo lý chắc chắn trong một thời kỳ có nhiều đảo lộn ý thức hệ.

Đức Giáo Hoàng Phaolô 6 qua đời ngày 6-8-1978 tại Castel Gandolfo, sau một cơn bệnh ngắn, hưởng thọ 81 tuổi.
Sau khi ĐTC đọc công thức phong chân phước, thánh tích của Đức Phaolô 6 được nữ tu Giacomina Padrini, cùng với nước người cầm hoa nến tháp tùng rước lên bàn thờ. Thánh tích này là một mảnh áo của Đức Phaolô 6 bị thấm máu vì ngài bị mưu sát ngày 28-11 năm 1970 trong chuyến viếng thăm mục vụ tại Manila, Philippines.
Bài giảng của ĐTC

”Chúng ta vừa nghe một trong những câu thời danh nhất trong toàn Tin Mừng: ”Vậy hãy trả lại cho Cesar điều gì thuộc về Cesar, và trả lại cho Thiên Chúa điều thuộc về Thiên Chúa” (Mt 22,21). Trước sự khiêu khích của những người Biệt Phái, là những người có thể nói là muốn khảo hạch Chúa Giêsu về đạo và kéo vào chỗ sai lầm, Ngài trả lời bằng một câu nói mỉa mai và khéo léo ấy. Đó là một câu trả lời hiệu nghiệm mà Chúa gửi cho tất cả những người đặt vấn đề lương tâm, nhất là khi có liên quan tới lợi lộc, của cải và uy tín, quyền hành và danh tiếng của họ. Và điều này vẫn luôn xảy ra trong mọi thời đại.

Chắc chắn điều mà Chúa Giêsu nhấn mạnh là phần hai trong câu nói: ”Và hãy trả lại cho Thiên Chúa điều thuộc về Thiên Chúa”. Điều này có nghĩa là – đứng trước bất kỳ loại quyền bính nào – cần nhìn nhận và tuyên xưng rằng chỉ một mình Thiên Chúa là chúa tể của loài người, và không có ai khác. Đây là một sự mới mẻ ngàn đời cần phải tái khám phá mỗi ngày, vượt thắng sự sợ hãi mà nhiều khi chúng ta cảm thấy trước những điều ngạc nhiên về Thiên Chúa.

Chúa không sợ những điều mới mẻ! Vì thế, Ngài liên tục làm cho chúng ta ngạc nhiên, mở ra và dẫn đưa chúng ta vào những con đường chưa được nghĩ tới. Chúa đổi mới chúng ta, nghĩa là liên tục làm cho chúng ta 'trở nên mới'. Một Kitô hữu sống Tin Mừng là ”một sự mới mẻ của Thiên Chúa” trong Giáo Hội và trong thế giới. Và Thiên Chúa yêu mến ”sự mới mẻ ấy” dường nào! ”Hãy trả cho Thiên Chúa điều thuộc về Thiên Chúa” có nghĩa là cởi mở đối với Thánh Ý Chúa và tận hiến cuộc sống của chúng ta cho Chúa, và cộng tác vào Nước từ bi, yêu thương và an bình của Ngài.

Đây chính là sức mạnh đích thực của chúng ta, là men khơi dậy sức mạnh và là muối mang lại hương vị cho mỗi cố gắng của con người chống lại thái độ bi quan thịnh hành mà thế giới đang đề nghị cho chúng ta. Đây chính là niềm hy vọng của chúng ta vì niềm hy vọng nơi Thiên Chúa không phải là một sự trốn chạy thực tại, không phải là một cớ thoái thác: đó là hoạt động trả lại cho Thiên Chúa điều thuộc về Ngài. Chính vì điều này mà Kitô hữu nhìn thực tại tương lai, thực tại của Thiên Chúa, để sống trọn vẹn cuộc sống – với đôi chân đặt vững trên mặt đất – và can đảm đáp lại vô số những thách đố mới.

Chúng ta đã thấy điều này trong trong những ngày Thượng HĐGM khóa đặc biệt – Sinodo có nghĩa là đồng hành. Thực vậy, các vị chủ chăn và giáo dân từ các nơi trên thế giới đã mang đến Roma này tiếng nói các Giáo hội địa phương của họ để giúp các gia đình ngày nay tiến bước trên con đường Tin Mừng, với cái nhìn chăm chú vào Chúa Giêsu. Đó là một kinh nghiệm lớn trong đó chúng ta đã sống công nghị tính và cộng đoàn tính và chúng ta đã cảm thấy sức mạnh của Chúa Thánh Linh hướng dẫn và luôn canh tân Giáo Hội, Giáo Hội không ngừng được kêu gọi mau mắn chữa trị các vết thương rướm máu và khơi lên niềm hy vọng cho bao nhiêu người không có hy vọng.
Vì hồng ân Thượng HĐGM này và vì tinh thần xây dựng mà mọi người mang lại, cùng với thánh Phaolô Tông Đồ: ”chúng ta hãy luôn cảm tạ Thiên Chúa cho tất cả anh chị em, nhắc nhớ anh chị em trong kinh nguyện của chúng tôi” (1 Ts 1,2). Và Chúa Thánh Linh, trong những ngày làm việc này, đã ban cho chúng ta quảng đại hoạt động với tinh thần tự do đích thực và với tinh thần sáng tạo khiêm tốn, xin Chúa tháp tùng hành trình, trong các Giáo Hội trên toàn trái đất, chuẩn bị chúng ta tiến hành Thượng HĐGM thế giới khóa thường lệ vào tháng 10 năm 2015. Chúng ta đã gieo vãi và chúng ta sẽ còn tiếp tục gieo vãi trong kiên nhẫn và kiên trì, chắc chắn rằng Chúa sẽ làm tăng trưởng điều mà chúng ta đã gieo vãi (1 Cr 3,6).

Chân phước Phaolô 6

Trong ngày phong chân phước cho Đức Giáo Hoàng Phaolô 6 hôm nay, tôi nhớ đến những lời của Người, khi thành lập Thượng HĐGM: ”Khi chú ý xem xét những dấu chỉ thời đại, chúng ta tìm cách thích ứng cuộc sống và các phương pháp .. với những nhu cầu gia tăng ngày nay và với những hoàn cảnh biến đổi của xã hội” (Tông thư Tự Sắc Apostolica sollicitudo).

Đối với vị Đại Giáo Hoàng, là Kitô hữu can đảm và là tông đồ không biết mệt mỏi này, trước Thiên Chúa ngày hôm nay, chúng ta chỉ có thể nói một lời rất đơn sơ cũng như lời chân thành và quan trọng này: cám ơn Người! Xin cám ơn Đức Giáo Hoàng Phaolô 6 yêu quí và được yêu mến của chúng con! Cám ơn vì chứng tá khiêm tốn và ngôn sứ của Người về lòng yêu mến Chúa Kitô và Giáo Hội!

Trong nhật ký riêng, Vị Đại Hoa Tiêu của Công đồng này, sau khi bế mạc Công đồng đã ghi chú: ”Có lẽ Chúa đã gọi tôi và ủy cho tôi công tác phục vụ này không phải vì tôi có tài năng nào đó, hoặc để tôi cai quản và cứu vãn Giáo Hội khỏi những khó khăn hiện nay, nhưng để tôi chịu đau khổ cách nào đó vì Giáo Hội, và để rõ ràng là Chúa, chứ không ai khác, là vị đang hướng dẫn và cứu vãn Giáo Hội” (P. Macchi, Paolo VI nella sua Parola, Brescia 2001, pp.. 120-121). Trong sự khiêm tốn sáng ngời này, sự cao cả của Chân Phước Phaolô 6 đã biết hướng dẫn một cách khôn ngoan và sáng suốt tay lái con thuyền Phêrô mà không bao giờ đánh mất niềm vui và tín thác nơi Chúa, giữa lúc một xã hội tục hóa và thù nghịch đang xuất hiện ở chân trời.

Đức Phaolô 6 thực sự đã biết trả lại cho Thiên Chúa những gì là của Thiên Chúa khi dành trọn cuộc đời của Người cho ”sự dấn thân thánh thiêng, trọng đại và rất quan trọng: đó là tiếp tục trong thời gian và mở rộng sứ mạng của Chúa Kitô trên trái đất” (Bài Giảng lễ đăng quang: Insegnamenti I, 1963, p.26), bằng cách yêu mến Giáo Hội và hướng dẫn Giáo Hội để ”Giáo Hội đồng thời là người mẹ yêu thương của tất cả mọi người và là ngừơi ban phát ơn cứu độ” (Thông điệp Ecclesiam Suam, Lời Tựa).

Ý nguyện và kinh Truyền Tin

Trong các ý nguyện được xướng lên trong phần lời nguyện giáo dân có lời cầu xin Chúa thánh hóa sự kết hiệp của các đôi vợ chồng Kitô bằng ơn thánh sự hiện diện của Chúa và xin Chúa cho phẩm giá của các trẻ em và người già được bảo vệ trong mỗi gia đình; xin Chúa làm cho mọi người được biết sự khôn ngoan của thập giá Chúa nhờ chứng từ của các vị tử đạo và những người bị bách hại; xin cho các nhà lãnh đạo chính trị và tất cả những kẻ cường quyền từ bỏ con đường oán hận và chiến tranh.

Cuối thánh lễ, ĐTC đã chủ sự buổi đọc kinh Truyền Tin. Ngài chào thăm các tín hữu hành hương từ Italia và nhiều nước, cũng như các phái đoàn chính thức, và đặc biệt là các tín hữu từ các giáo phận Brescia, Milano và Roma có liên hệ đặc biệt tới cuộc sống và sứ vụ của ĐGH Montini.

ĐTC cũng nói rằng ”Đức tân Chân phước là người hăng say nâng đỡ sứ vụ truyền giáo cho dân ngoại, bằng chứng đặc biệt là Tông Huấn Evangelii nuntiandi của Người, qua đó Người muốn thức tỉnh đà tiến và sự dấn thân cho sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội. Cần đặc biệt để ý đến khía cạnh này trong triều đại Giáo Hoàng của Đức Phaolô 6, nhất là hôm nay chúng ta cử hành Ngày Thế Giới Truyền giáo.

ĐTC không quên đề cao lòng sùng kính sâu xa của Đức Chân Phước Phaolô 6 đối với Đức Mẹ. Dân Kitô giáo luôn biết ơn vị Giáo Hoàng này vì Tông Huấn Marialis cultus về lòng tôn sùng Đức Mẹ và vì đã tuyên xưng Đức Maria là Mẹ Giáo Hội nhân dịp bế mạc khóa III của Công đồng chung Vatican 2.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục đặc biệt về gia đình

Kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục đặc biệt về gia đình

VATICAN. Bản tường trình chung kết của Thượng Hội Đồng Giám Mục đặc biệt về gia đình đã được thông qua và công bố chiều tối thứ bẩy, 18-10-2014.

Trong phiên khoáng đại thứ 15 và là phiên cuối cùng, trước sự hiện diện của ĐTC, các nghị phụ đã thông qua Bản tường trình gồm 62 đoạn được đánh số theo thứ tự và được các nghị phụ bỏ phiếu từng đoạn.

Có một số đoạn gây nhiều tranh luận, tuy được thông qua, nhưng không đạt tới mức 2 phần 3 số phiếu. Ví dụ đoạn số 41 nói về việc nhận cho những người ly dị tái hôn dân sự được rước lễ còn bị tranh luận nhiều nhất với 104 phiếu thuận và 74 phiếu chống. Còn đoạn số 55 nói về việc đón nhận những người có xu hướng đồng tính luyến ái, tuy có thay đổi văn bản, và trích dẫn Sách Giáo Lý chung của Hội Thánh Công Giáo nhưng chỉ được 118 phiếu thuận và 62 phiếu chống.

Đoạn số 51 về tình trạng những người ly dị tái hôn cần được săn sóc mục vụ, được thông qua với 155 phiếu thuận và 19 phiếu chống.

Trước tình trạng một số đoạn không có sự đồng thuận của Thượng HĐGM, tuy được đa số phiếu quá bán, nhưng không được đa số 2 phần 3 như thế, ĐTC Phanxicô quyết định vẫn để cho toàn bộ bản tường trình thuộc văn kiện tạm thời và gửi đến các Giáo Hội địa phương để chuẩn bị cho Thượng HĐGM thế giới khóa thường lệ thứ 14 vào tháng 10 năm tới. Ngài cũng cho phép để công chúng, qua các ký giả, được biết mỗi đoạn được bao nhiêu phiếu, để hiểu mức độ đồng thuận của các nghị phụ về từng điểm.

Diễn văn bế mạc

Trong diễn văn bế mạc, sau khi cám ơn các vị trong Văn phòng Tổng thư ký và các vị điều hành khóa họp này cũng như tất cả các nghị phụ, dự thính viên, chuyên viên và cộng tác viên, ĐTC nói:

”Tôi có thể nói một cách thanh thản rằng – với một tinh thần toàn thể tính và công nghị tính – chúng ta đã thực sự sống kinh nghiệm ”Sinodo”, một hành trình liên đới, đồng hành.

Vì là một hành trình – và cũng như mọi cuộc hành trình, đã có những lúc chạy nhanh, hầu như một thắng thời gian và đạt tới đích sớm nhất có thể; có những lúc khác mệt mõi, hầu như muốn nói 'đủ rồi'; có những lúc hăng say phấn khởi. Có những lúc an ủi sâu xa khi nghe chứng tử của các vị mục tử đích thực (Xc Ga 10 và GL 375, 386,387) mang trong con tim một cách khôn ngoan những vui mừng và nước mắt của các tín hữu. Những lúc an ủi và ân phúc, được khích lệ khi nghe những chứng từ của cac gia đình đã tham gia Thượng HĐGM và đã chia sẻ với chúng ta vẻ đẹp và niềm vui đời sống hôn nhân của họ. Một hành trình trong đó người mạnh nhất cảm thấy nghĩa vụ phải giúp đỡ những người yếu nhất, trong đó người giải nhất sẵn sàng giúp đỡ những người khác, kể cả qua những lúc đụng độ với nhau. Và vì là một hành trình của con người, có những an ủi nhưng cũng có những lúc buồn chán, căng thẳng và cám dỗ.

ĐTC đã kể ra một số cám dỗ có thể có:

– Thứ I là cám dỗ cứng nhắc đố kỵ, nghĩa là muốn khép kín trong chữa viết chứ không để cho mình được Thiên Chúa làm ngạc nhiên, Thiên Chúa của những ngạc nhiên, là tinh thần; khép kín trong luật lệ, trong sự chắc chắn về những gì chúng ta biết chứ không phải về những điều mà chúng ta còn phải học và đạt tới. Từ thời Chúa Giêsu, đó là cám dỗ của những người nhiệt thành, những người bối rối, những người ân cần và của những người ngày nay gọi là duy truyền thống (traditionalisti) và cả những người duy trí thức.

– Cám dỗ của những người xuề xòa hủy hoại, nhân danh lòng từ bi đánh lừa, băng bó các vết thương trước khi chữa trị, xức thuốc cho nó; họ chữa trị các triệu chứng mà không chữa nguyên nhân và căn cội. Đó là cám dỗ của những người dễ dãi, những người nhát sợ và cả những người gọi là ”cấp tiến và duy tự do”.

– Cám dỗ muốn biến đá thành bánh, để chấm dứt cuộc ăn chay lâu dài, nặng nề và đau thương (Xc Lc 4,1-4) và biến bánh thành đá, để ném vào những ngừơi tội lỗi, những người yếu đuối và bệnh nhân (Xc Ga 8,7) nghĩa là biến nó thành ”những gánh nặng không thể vác nổi” (Lc 10,27).

– Cám dỗ xuống khỏi thập giá, để làm hài lòng dân, chứ không ở lại trên thập gia để thi hành thánh ý Chúa Cha; khuất phục tinh thần trần thế thay vì thanh tẩy nó và làm cho nó tùng phục Thánh Linh của Thiên cHúa.
– Cám dỗ lơ là đối với kho tàng đức tin, coi mình không phải là người bảo quản nhưng là sở hữu chủ và là chủ nhân, hoặc đàng khác, là cám dỗ lơ là thực tại, dùng một ngôn ngữ tỷ mỉ, và một ngôn ngữ chà nhám để nói bao nhiêu sự mà chẳng nói gì cả! Những thứ đó, người ta gọi là bizantinismi..

Anh chị em thân mến, những cám dỗ đó không được làm cho chúng ta kinh hãi hay ngỡ ngàng và càng không được làm cho chúng ta nản chí, vì không môn đệ nào lớn hơn thầy mình; vì thế nếu Chúa Giêsu đã bị cám dỗ – thậm chí Ngài bị gọi là tướng quỉ Beelzebul (Xc Mt 12,24) – thì các môn đệ của Chúa không thể mong đợi được đối xử tốt đẹp hơn.

Bản thân tôi, tôi sẽ rất lo lắng và buồn nếu không có những cám dỗ ấy và những cuộc tranh luận sôi nổi; nếu không sự chuyển động tinh thần như vậy, như thánh Ignatio (EE, 6) đã gọi, nếu tất cả đều đồng ý và im lặng trong một thứ an bình giả tạo. Trái lại tôi đã thấy và đã nghe – với niềm vui và biết ơn – những diễn văn và những phát biểu đầy niềm tin, lòng nhiệt thành mục vụ và đạo lý, khôn ngoan, thẳng thắn, can đảm và tự do ngôn luận. Và tôi đã cảm thấy rằng thiện ích của Giáo Hội, của các gia đình và quy luật tối hậu là phần rỗi các linh hồn (Xc GL 1752) được đặt trước mắt mình. Và điều này – như chúng ta đã nói ở Hội trường này – không bao giờ đặt lại vấn đề các chân lý nền tảng của bí tích Hôn phối là tính chất bất khả phân ly, một vợ một chồng, chung thủy, sinh sản con cái hay là cởi mở đối với sự sống (Xc GL 1055, 1056 và GS 48).

”Giáo Hội là như thế, là vườn nho của Chúa, là Mẹ đông đảo con cái và là Thày dạy ân cần, không sợ phải xắn tay áo lên để đổ dầu và rượu vào vết thương của con người (Xc Lc 10, 25-37); Giáo hội không nhìn nhân loại từ một lâu đài bằng kiếng để phán xét và xếp loại con người….

Và ĐTC kết luận rằng: ”Anh chị em thân mến, giờ đây chúng ta còn một năm để làm cho những ý tưởng đề nghị được chín mùi, với sự phân định tinh thần đích thực, để tìm ra những giải pháp cụ thể cho bao nhiêu khó khăn và vô số các thách đố mà các gia đình phải đương đầu, mang lại câu trả lời cho bao nhiêu nản chí vây bủa và bóp nghẹt các gia đình.

Một năm để làm việc về bản Tường trình của Thượng HĐGM là bản tóm lược trung thành và rõ ràng về tất cả những gì đã được nói và thảo luận tại Hội trường này và trong các nhóm nhỏ và bản này được trình bày cho các HĐGM như tài liệu chuẩn bị (Lineamenta).

Xin Chúa tháp tùng, hướng dẫn chúng ta trong hành trình này để làm vinh danh Chúa nhờ lời chuyển cầu của Mẹ Maria, Thánh Giuse! Xin anh chị em vui lòng cầu nguyện cho tôi!

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Sứ điệp đúc kết của Tổng Công Nghị Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa ngoại thường lần thứ III

Sứ điệp đúc kết của Tổng Công Nghị Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa ngoại thường lần thứ III

Chúng tôi, các nghị phụ họp tại Roma cùng với Đức Thánh Cha Phanxicô trong Cuộc họp Tổng Công Nghị Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa ngoại thường, xin gửi lời chào đến tất cả các gia đình khắp nơi tại các châu lục và đặc biệt là những gia đình bước theo Đức Kitô là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chúng tôi muốn bày tỏ sự ngưỡng mộ và lòng biết ơn bởi chứng tá hằng ngày mà các bạn đã cho chúng tôi và cả thế giới thấy qua sự trung tín, đức tin, niềm hy vọng và tình yêu của các bạn.

Ngay cả chúng tôi, những chủ chăn của Giáo Hội, cũng được sinh ra và lớn lên trong một gia đình với những hoàn cảnh và lịch sử khác nhau. Với tư cách là các linh mục và các giám mục, chúng tôi đã gặp gỡ và sống bên các gia đình đã cho chúng tôi thấy, bằng lời nói cũng như hành động, một chuỗi dài những điểm niềm vui cũng như những khó khăn của mình.

Việc chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng này, khởi đi từ những trả lời cho bảng câu hỏi mà Giáo Hội gửi đi trên khắp thế giới, đã giúp chúng tôi nghe được tiếng nói của nhiều kinh nghiệm trong gia đình. Rồi cuộc đối thoại trong những ngày này của Thượng Hội Đồng cũng làm chúng tôi hiểu hơn, giúp chúng tôi nhìn thấy tất cả những thực tại sống động và phức tạp mà các gia đình đang đối mặt.

Chúng tôi muốn gửi đến các bạn lời của Đức Kitô: “Này đây, Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe tiếng Ta và mở cửa cho Ta thì Ta sẽ đến và dùng bữa với người ấy, và người ấy sẽ ở với ta” (Kh 3,20). Trong suốt hành trình dài trên các con đường ở Đất Thánh, Đức Giêsu đã vào nhà tại các làng mạc, Ngài tiếp tục đi qua các ngả đường của thành phố chúng ta. Đối với các bạn, các bạn trải nghiệm lẫn ánh sáng và bóng tối, những thách đố thú vị nhưng đôi khi cũng có những thử thách đầy kịch tích. Sự tăm tối càng trở nên dày đặc hơn cho đến khi nó trở thành bóng đen, khi những sự xấu và tội lỗi thâm nhập vào tận trung tâm của đời sống gia đình.

Trước hết, có một thách đố rất lớn về sự trung tín trong tình yêu hôn nhân. Đức tin suy yếu và các giá trị đạo đức không được quan tâm, chủ nghĩa cá nhân, các mối tương quan bị kiệt quệ, nổ lực loại trừ sự phản tỉnh ghi dấu ấn của nó trong đời sống gia đình. Có không ít những khủng hoảng trong đời sống hôn nhân được giải quyết một cách vội vàng, không có sự kiên nhẫn, xác minh, tha thứ cho nhau, hòa giải và thậm chí là hy sinh. Những sai lầm như thế thường thấy ở những tương quan mới, những cặp đôi mới, mối liên hiệp mới và các đôi hôn phối mới, làm gia tăng những tình huống và vấn đề phức tạp trong gia đình cho các chọn lựa Kitô giáo.

Trong những thách đố này, chúng tôi muốn đề cập đến nỗi đau của chính sự hiện hữu. Chúng tôi nghĩ đến những thống khổ có thể có đối với một em bé bị khuyết tật, một chứng bệnh nghiêm trọng, tinh thần bị suy giảm do tuổi già, cái chết của một người thân yêu. Đáng ngưỡng mộ thay sự trung kiên đầy quảng đại của nhiều gia đình sống trong những thử thách này với lòng can đảm, đức tin và tình yêu, không xem nó như một điều gì đó bị cắt đứt hay tổn thương, nhưng như là cái được trao ban cho mình, nhìn thấy Đức Kitô chịu đau khổ nơi phần thân xác bệnh tật ấy.

Chúng tôi cũng nghĩ đến những khó khăn kinh tế do các hệ thống sai lạc, do “chủ nghĩa thờ đồng tiền và sự chuyên chế của một nền kinh tế vô nhân vị và không nhắm tới con người thật sự” (Evangelii Gaudium, 55), vốn hạ thấp nhân phẩm con người. Chúng tôi cũng nghĩ đến những người cha, người mẹ, thất nghiệp, bất lực trước những nhu cầu thiết yếu của gia đình mình và cả đến các bạn trẻ, những người ở không, không có hoài bão, những người có thể sẽ trở thành nạn nhân của những suy đồi do nghiện ngập hay tội ác.

Chúng tôi cũng nghĩ đến rất nhiều các gia đình nghèo, những người phải bám theo một chiếc thuyền để tìm đến một nơi sinh tồn, đến các gia đình đi di cư mà không có chút hy vọng nào nơi các sa mạc, những những gia đình bị bách hại chỉ bởi vì đức tin và vì những giá trị thiêng liêng và nhân bản của mình, đến những ai bị những tàn bạo của chiến tranh và áp bức vây bủa. Chúng tôi cũng nghĩ đến những phụ nữ phải gánh chịu những bạo lực, bị bóc lột sức lao động, đến những nạn nhân của nạn buôn người, đến các trẻ em và thanh thiếu niên bị lạm dụng bởi chính người chịu trách nhiệm chăm sóc và giúp mình lớn lên trong sự tin tưởng, đến các thành viên của những gia đình bị hạ nhục và trong hoàn cảnh khó khăn. “Nền văn hóa sung túc đang gây mê chúng ta và […] tất cả đời sống đó bị còi cọc đi do thiếu vắng những cơ hội dường như là một cảnh tượng đơn thuần chẳng làm cho chúng ta bận tâm tí nào” (Evangelii Gaudium, 54). Chúng tôi thỉnh cầu đến các nhà cầm quyền và các tổ chức quốc tế hãy thăng tiến các quyền về gia đình nhằm hướng đến công ích cho mọi người.

Đức Kitô đã muốn Giáo Hội của Ngài trở thành một ngôi nhà mở rộng cửa để đón tiếp mọi người, không trừ một ai. Chúng tôi biết ơn các chủ chăn, các tín hữu và cộng đoàn đã sẵn sàng đồng hành với các các cặp đôi và các gia đình, đồng thời chăm sóc những vết thương cả nội tâm lẫn xã hội của họ.

* * *
Tuy nhiên, cũng có một ánh sáng chiếu rọi giữa đêm đen, đằng sau những cánh cửa sổ của các tòa nhà ở thành phố, của căn nhà giản dị ở thôn quê hay nơi các làng mạc, hay thậm chí là cả những túp lều: nó tỏa sáng và sưởi ấm cả thể xác lẫn linh hồn. Ánh sáng này, dưới ánh sáng của lịch sử hôn nhân, đã tỏa chiếu từ cuộc gặp gỡ giữa vợ chồng: đó là một món quà, một ân sủng được diễn tả – như sách Sáng Thế nói (2,18) – khi khuôn mặt này “đối diện” với khuôn mặt kia, trong một sự “tương trợ đồng vị với nhau”, nghĩa là ngang nhau và hỗ tương với nhau. Tình yêu giữa người nam và người nữ dạy chúng ta biết rằng dù vẫn khác nhau về căn tính, mỗi người cần đến người kia để là chính mình, mỗi người phải mở ra và tỏ lộ cho nhau. Đó là điều mà người nữ diễn tả một cách rất gợi tình trong sách Diễm Ca: “Người yêu tôi là của tôi và tôi là của người yêu tôi… tôi thuộc về người yêu tôi và người yêu tôi thuộc về tôi” (Dc 2,16; 6,3)

Để cuộc gặp gỡ này được chân thành, lộ trình phải bắt đầu với việc đính hôn, khoảng thời gian chờ đợi và chuẩn bị. Nó sẽ đi đến sự thành toàn với bí tích, nơi mà Thiên Chúa đóng dấu ấn của Người, sự hiện diện và ân sủng của Người. Hành trình này cũng bao gồm cả tính dục, sự dịu ngọt, sự thân mật, nét đẹp, vốn là những điều luôn tồn tại, vượt trên cả những mãnh liệt và hăng hái của tuổi trẻ. Tự bản chất, tình yêu có xu hướng còn mãi, cho đến khi trao ban cả sự sống cho người mình yêu (x. Ga 15,13). Dưới ánh sáng này, tình yêu lứa đôi, duy nhất và bất khả phân ly, luôn tồn tại, bất chấp những khó khăn của giới hạn con người; đây là một trong những phép màu tuyệt vời nhất, và có lẽ cũng là phép lạ chung nhất.

Tình yêu này lan tỏa qua việc sinh sản con cái và phát triển nòi giống, vốn không chỉ liên hệ đến việc sinh con nhưng còn liên quan đến quà tặng đời sống thiêng liêng nơi bí tích Thanh Tẩy, giáo dục và dạy giáo lý cho con trẻ. Nó cũng bao gồm đến việc trao tặng sự sống, tình cảm, các giá trị – một kinh nghiệm mà cả người không có khả năng sinh sản vẫn có thể làm được. Những gia đình nào sống được cuộc phiêu lưu chói lọi này sẽ trở nên dấu chỉ cho tất cả mọi người, đặc biệt là những người trẻ.

Trong suốt hành trình, vốn đôi khi có lắm chông gai, khó khăn và vấp ngã, luôn có Chúa hiện diện và đồng hành kề bên. Gia đình cảm nghiệm được điều này việc yêu mến và đối thoại giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ với con cái, giữa anh chị em với nhau. Gia đình sống điều này trong việc cùng nhau lắng nghe Lời Chúa, cùng nhau cầu nguyện, một nơi nghỉ ngơi nho nhỏ cho tinh thần mỗi ngày. Rồi cùng dấn thân hàng ngày trong việc giáo dục đức tin và đời sống tốt lành của Tin Mừng, những điều thánh thiêng. Cả ông bà cũng cùng chia sẻ và thực thi trách nhiệm này với một sự yêu mến và dấn thân lớn lao. Như thế, gia đình sẽ trở thành một Giáo Hội tại gia chân thực, rồi nới rộng ra thành một gia đình trong các gia đình làm nên cộng đoàn giáo hội. Các cặp vợ chồng Kitô hữu được mời gọi để trở thành những thầy dạy đức tin và tình yêu cho những cặp trẻ hơn.

Một diễn tả khác của sự hiệp thông huynh đệ là sự diễn tả của đức ái, của trao ban, của việc gần gũi với những ai thấp bé, những người bị gạt ra bên ngoài xã hội, những người nghèo, những người đơn chiếc, bệnh nhân, người ngoại quốc, những gia đình khác đang gặp khủng hoảng, ý thức về lời Chúa: “Cho thì phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Đó là món quà của điều thiện hảo, của việc đồng hành, của tình yêu và lòng thương xót, và cũng là một chứng tá của chân lý, của ánh sáng, của ý nghĩa cuộc sống.

Điểm quy tụ và tóm kết mọi dây hiệp thông với Thiên Chúa và với tha nhân chính là Thánh Lễ ngày Chúa Nhật, khi tất cả gia đình và Giáo Hội cùng ngồi bên bàn tiệc của Chúa. Ngài đã trao ban cho tất cả chúng ta, những người hành hương trong lịch sử tiến về điểm gặp gỡ chung kết khi “Đức Kitô trở nên tất cả và trong tất cả” (Cl 3,11). Vì thế, trong chặng đầu tiên của khởi đầu Công Nghị của chúng tôi, chúng tôi đã suy tư về việc trợ giúp mục vụ và về việc tham dự bí tích cho những ai đã ly dị tái hôn.

Chúng tôi, các nghị phụ, xin anh chị em hãy bước đi cùng chúng tôi hướng về Cuộc Họp Thượng Hội Đồng sắp tới. Nguyện xin sự hiện diện của gia đình Giêsu, Maria và Giuse trong ngôi nhà đơn sơ của họ luôn ấp ủ các bạn. Cùng với Thánh Gia Nazaret, chúng ta hãy dâng lên Chúa Cha lời cầu khẩn của chúng tac ho tất cả gia đình dưới thế:

Lạy Cha, xin ban cho tất cả các gia đình có được những người vợ người chồng khôn ngoan và mạnh mẽ để họ có thể là nguồn mạch của một gia đình hiệp nhất và tự do.
Lạy Cha, xin ban cho các bậc cha mẹ có một mái nhà để sống bình an với gia đình của mình.
Lạy Cha, xin giúp những người làm con trở thành một dấu chỉ của niềm tin, niềm hy vọng, và giúp cho người trẻ có được một sự dấn thân vững bền và trung tín.
Lạy Cha, xin giúp cho tất cả mọi người có thể kiếm được lương thực hằng ngày nhờ đôi tay của mình, có thể hưởng nếm sự thanh thản tinh thần và giữ được ngọn lửa đức tin luôn bừng cháy, dù giữa lúc đêm đen.
Lạy Cha, xin giúp tất cả chúng con thấy được một Giáo Hội nở rộ sự trung tín và đáng tin, một thành phố công chính và nhân bản, một thế giới yêu mến chân lý, công bằng và lòng xót thương.


Chuyển ngữ: Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
 

Nên nộp thuế chăng?

Nên nộp thuế chăng?

(Trích trong ‘Sống Tin Mừng’ – R. Veritas)

Đi hỏi xem Đức Giáo Hoàng có bao nhiêu sư đoàn? Stalin đã có lần thốt lên như thế khi nhắc đến người có vai trò trung gian của Tòa thánh trong chiến trường quốc tế. Không đầy một thế kỷ sau, một vị Giáo hoàng đến từ Đông Au đã làm lung lay tận gốc rễ chế độ của Liên xô. Quả thật, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tỏ ra là một con người đáng sợ đối với rất nhiều nhà lãnh đạo chính trị và người cuối cùng hẳn phải là chủ tịch Phidel Castro, người đã đặt tất cả nhân loại dưới bờ vực của chiến tranh nguyên tử từ đầu thập niên 60. Dưới mắt giới truyền thông, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II chỉ là một con người bảo thủ, bênh vực giá trị truyền thống. Thế nhưng, nếu ta cần chứng kiến khi những giá trị truyền thống ấy bảo đảm cho phẩm giá con người thì không ai tỏ ra thẳng thắn, can đảm cho bằng ngài.
 
Người ta vẫn còn nhớ khi đến Pháp lần đầu tiên từ năm 1981, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã không ngần ngại hỏi từng người dân Pháp, kể cả vị nguyên thủ quốc gia của nước này như sau: “Hỡi nước Pháp, tôi đã làm gì với phép rửa của ngươi?”. Câu hỏi ấy ngài đi thẳng vào lương tâm mỗi người dân Pháp: “Đâu là chỗ đứng của niềm tin tôn giáo trong cuộc sống của mỗi người?”.
 
Một câu hỏi như thế cũng có thể được nêu lên cho mỗi một người Kitô hữu chúng ta. Người có tôn giáo dễ có khuynh hướng phân chia cuộc sống thành nhiều ô độc lập với nhau, ô ở Công giáo, ô ở phố chợ với nhau, ô ở nhà thờ v.v. Sự phân chia ấy dễ tạo nên hai bộ mặt tương phản nơi người tín hữu. Một bộ mặt rất đạo đức ở nhà thờ hay khi cầu kinh và một bộ mặt phi đạo đức bên ngoài nhà thờ.
 
Khi tuyên bố: “Của Xêda hãy trả lại cho Xêda, của Thiên Chúa hãy trả lại cho Thiên Chúa”, Chúa Giêsu không những đã thoát được cái bẫy thâm độc của những người Biệt phái và phe Hêrôđê. Ngài còn khẳng định về chỗ đứng trong cuộc sống con người: “Của Thiên Chúa hãy trả cho Thiên Chúa”.
 
Thiên Chúa không phải là một vị thần, hay vị thần của thế giới thần linh. Thiên Chúa không phải là món đồ trang sức cho con người, nhưng Thiên Chúa là Chủ tể, là gia nghiệp, là tất cả của con người. Ngài không chiếm chỗ nhất trong cuộc sống con người, mà con người phải tìm kiếm Ngài trong tất cả mọi sự. Ngài không chỉ ngự một góc nào đó trong nhà thờ, Ngài không chỉ hiện diện trong một buổi cầu kinh nào đó. Ngài gặp gỡ con người ở khắp mọi nơi, trong mọi sinh hoạt của cuộc sống con người. “Của Thiên Chúa hãy trả lại cho Thiên Chúa”, có nghĩa là hãy dành chỗ nhất cho Ngài trong cuộc sống, tìm kiếm Ngài, gặp gỡ Ngài, yêu mến Ngài trong tất cả mọi sự.
 
Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta tự vấn lương tâm và xác định lại sự chọn lựa căn bản của chúng ta. Niềm tin tôn giáo không phải là một sinh hoạt xa xỉ tùy tiện, được giản lược trong bốn bức tường của nhà thờ, hay chỉ trong bài diễn văn đặc biệt trong năm hay trong suốt một đời người. Niềm tin ấy phải thấm nhập vào toàn bộ cuộc sống và hướng dẫn mọi chọn lựa, suy nghĩ và hành động của người Kitô hữu.
 
Khi niềm tin được sống một cách triệt để như thế, thì Giáo Hội không chỉ có một vài sư đoàn, mà sẽ là một đạo binh có sức cải tạo và thay đổi bộ mặt của xã hội. Khi người tín hữu Kitô sống cho đến cùng những đòi hỏi của niềm tin, họ sẽ tìm được bình an và hạnh phúc đích thực cho cuộc sống, bởi vì họ có Chúa làm gia nghiệp cho cuộc đời.
 
Veritas Radio

Nên giống Chúa

Nên giống Chúa

Việc xảy ra trong một hầu quốc gần bờ sông Rhin nước Pháp. Vua của lãnh thổ này vừa qua đời. Sau một thời gian đất nước loạn lạc và chinh chiến, dân chúng chán cảnh chiến tranh và đòi một người kế vị yêu chuộng hòa bình. Nhưng các quan trong triều có trách nhiệm chọn người kế vị lại bối rối, khó xử, vì vị vua mới qua đời có để lại hai đứa bé còn nằm trong nôi, và đứa nào cũng dễ thương hết. Làm thế nào biết được em nào sẽ là con người yêu chuộng hoà bình?

Lúc đó, một vị quan có trách nhiệm lựa chọn đưa ra ý kiến là hãy quan sát kỹ hai em đang nằm ngủ trong nôi như hai thên thần, ông thấy em bé thứ nhất ngủ mà tay mở ra trong khi đứa thứ hai nắm chặt tay lại. Không do dự, ông chọn ngay đứa thứ nhất, và sử đã ghi lại rằng đó là vị hoàng tử đầy từ tâm và nhân ái dịu hiền.
 
Đây là hình ảnh kỳ diệu của Chúa Giêsu dịu hiền và tốt lành, là vua và là trung tâm của mỗi tâm hồn. Ngài xuống thế, lúc ở trong máng cỏ cũng như khi ở trên cây thập giá, Ngài đưa tay ra trong dáng điệu đón nhận.
 
Mỗi người trong chúng ta đã được Chúa dựng nên giống hình ảnh Ngài có lý trí, có trí khôn để hiểu biết và có tâm tình để yêu mến. Cái hình ảnh ấy, con người mang trong mình tự khi được thụ thai trong lòng mẹ, con người có những đức tính giống Thiên Chúa, hay đúng hơn, có những khả năng để trở nên giống Thiên Chúa. Nếu mỗi ngày biết trau dồi phát triển thêm, thì con người càng trở nên gống Chúa hơn, và người đời sẽ nhận ra giống hình ảnh Chúa nơi chúng ta, như cử chỉ em bé trong câu chuyện nói lên đời sống em.
 
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đặt câu hỏi: hình này là hình ảnh của ai đây? Câu ấy có thể là câu một Chúa muốn đặt ra cho chúng ta chăng? Ngoài những đức tinh, những khả năng tự nhiên của bản tính loài người, linh hồn thiêng liêng, lý trí và ý chí, những cái ta nhận được khi thụ thai, những cái làm ta nên giống Thiên Chúa một phần nào, Chúa còn in vào trong tâm hồn chúng ta, trao cho chúng ta nhiều hình ảnh khác nữa.
 
Lúc chịu phép rửa tội, Chúa đã in vào trong tâm hồn chúng ta một hình ảnh con Chúa, hình ảnh Chúa Kitô, một hình ảnh thật tốt, không thể tẩy xóa đi được, nhưng chưa được rõ lắm. Không những chúng ta có bổn phận tô điểm bức ảnh ấy cho thêm rõ ràng, cho thêm tươi đẹp… nghĩa là chúng ta phải làm thế nào để người khác trông vào nơi chúng ta là hình ảnh của Chúa, họ phải cảm thấy sự đáng mến đáng quí trọng của Ngài, nếu không, chúng ta chỉ là bức hí họa của Chúa.
 
Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu còn bảo nhóm biệt phái Do thái: “Cái gì của Xêda và cái gì của Thiên Chúa thì hãy trả cho Thiên Chúa”. Câu trả lời này của Chúa bao hàm nhiệm vụ trần thế và thiêng liêng của chúng ta. Thánh Phaolô đã dạy: “Những gì ta nợ ai, thì phải trả cho người ấy. Hãy nộp thuế cho kẻ có quyền thu thuế hay trả công cho kẻ có quyền lấy công, hãy sợ kẻ đang sợ, hãy kính kẻ đáng kính” (Roma 13,7). Những cái đó là những món nợ vật chất và tinh thần. Chúng ta phải thanh toán tất cả những món nợ ấy với những ai có quyền đói hỏi ở nơi ta.
 
Nhưng không phải chúng ta chỉ nợ nhau, nợ loài người mà thôi mà còn nợ cả Thiên Chúa nữa. Thi hành việc bác ái cho tha nhân chính là trả nợ cho Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Những gì làm cho họ “là” làm cho chính Ngài”. (Mt 25,40)
 
Mong rằng: chúng ta sẽ mang lại cho Chúa hình ảnh mà Ngài đã trao cho chúng ta khi được thụ thai cũng như khi chúng ta chịu phép rửa tội. Và không những chỉ một hình ảnh y nguyên như lúc chúng ta nhận được nơi tay Chúa mà còn phải là một hình ảnh tươi đẹp gấp bội nữa, bởi vì chúng ta cần phải tô điểm thêm nữa.
 
Xin Chúa chúc lành cho các bạn.

CỦA THIÊN CHÚA TRẢ CHO THIÊN CHÚA

CỦA THIÊN CHÚA TRẢ CHO THIÊN CHÚA

Người Do Thái muốn gài bẫy Chúa nên đưa ra câu hỏi hóc búa. Không ngờ Chúa trả lời thật khôn ngoan: “Của César trả cho César, của Thiên Chúa trả cho Thiên Chúa”. Với câu trả lời này, Chúa Giêsu minh định hai điều:

Thứ nhất: Tôn giáo và chính trị tách biệt nhau. Chính trị không thể trở thành tôn giáo hoặc bắt tôn giáo làm nô lệ. Tôn giáo cũng không thể đi vào chính trị, đánh mất bản chất của mình.
 
Thứ hai: Mỗi người phải chu toàn hai nhiệm vụ. Nhiệm vụ đối với xã hội là “trả cho César” những gì của César. Nhiệm vụ đối với Thiên Chúa: “trả cho Thiên Chúa” những gì thuộc về Thiên Chúa.
 
Hình và huy hiệu khắc trên đồng tiền là của hoàng đế César vì thế phải trả lại cho ông. Nhưng linh hồn con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa nên linh hồn phải được trả về cho Thiên Chúa.
 
Để có được đồng tiền mang hình ảnh César, người dân phải làm việc vất vả. Cũng thế, để linh mang hình ảnh Thiên Chúa, con người cũng phải ra sức làm việc.
 
Nhưng hai cách làm việc thật khác xa nhau. Để chia sẻ phần nào quyền lực của vua chúa trần gian, người ta phải làm việc theo cách vua chúa đó là tìm chiếm hữu của cải. Để trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa, con người phải suy nghĩ và hành động như Thiên Chúa đó là yêu thương và cho đi.
 
Bí tích Thánh Thể là minh họa rõ nét nhất về tính cách yêu thương và cho đi của Thiên Chúa. Nói về bí tích Thánh Thể, lòng trí ta tự nhiên hướng về bữa Tiệc Ly, cuộc Khổ Nạn và cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Qua đó ta thấy một vài khía cạnh trong tình yêu của Chúa.
 
Đó là tình yêu phục vụ. Tin Mừng thánh Gioan thuật lại. Chúa Giêsu yêu thương những kẻ thuộc về mình thì yêu thương cho đến cùng. Nên trong bữa ăn tối, Người cầm lấy chậu nước và khăn rồi đi rửa chân cho từng môn đệ.
 
Đó là tình yêu tự hiến. Khi lập phép Thánh Thể. Chúa Giêsu đã nói: “Đây là Mình Thày bị nộp vì anh em; Đây là Máu Thày đổ ra cho anh em và mọi người được tha tội” (Lc 22,19).
 
Đó là tình yêu hiền lành khiêm nhường. Chúa Giêsu cam lòng chịu kết án oan ức, chịu sỉ nhục, chịu hành hạ chịu chết mà chẳng một lời oán thán.
 

Đó tình yêu tha thứ. Không chỉ tha thứ mà còn cầu xin Chúa Cha tha cho những kẻ làm hại mình: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ lầm không biết” (Lc 23,34). Người cũng tha thứ cho kẻ trộm lành: “Thật Ta bảo thật, hôm nay con sẽ ở với Ta trên thiên đàng” (Lc 23,43).

Đó là tình yêu muốn tiếp diễn mãi mãi. Nên Người truyền cho ta: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thày” (Lc 22,19). Cử hành thánh lễ, chầu Mình Thánh, kiệu Thánh Thể để Chúa ở mãi với ta, tiếp tục bày tỏ tình yêu thương với ta.

Người mong muốn kéo dài tình yêu của Người cho đến tận cùng không gian và đến tận cùng thời gian nơi cuộc đời chúng ta. Vì thế khi ta chịu lễ, ta phải kết hiệp mật thiết với Người, nên một với Người. Nên một với Người là biến đổi để ta suy nghĩ, nói năng và hành động như Người, nghĩa là sống như Người.

Sống như Chúa là hãy có tình yêu thương phục vụ. Vì Chúa đã dạy: “Như Thày đã rửa chân cho các con, các con cũng hãy rửa chân cho nhau” (Ga 13,14). Sống như Chúa là hãy có tình yêu tự hiến. Quên mình vì hạnh phúc của người khác. Dám hy sinh thời giờ, sức khỏe, tiền bạc vì anh em. Sống như Chúa là hãy có lòng hiền lành khiêm nhường. Vì Chúa đã dạy: “Hãy học cùng Thày, vì Thày hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29). Sống như Chúa là hãy tha thứ, không phải chỉ tha thứ 7 lần mà đến 70 lần 7 (x. Mt 18,21-22).

Sống như thế, ta trở nên hình ảnh sống động của Thiên Chúa giữa trần gian. Sống như thế, ta trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa. Sống như thế ta tôn sùng bí tích Thánh Thể một cách thiết thực và hữu hiệu nhất. Sống như thế là sống nhờ Thánh Thể. Không còn sống cho những giá trị trần gian mau qua, nhưng sống cho những giá trị vĩnh cửu của Nước Trời.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, xin dạy con biết sống bí tích Thánh Thể để con được kết hiệp với Chúa và càng ngày càng nên giống Chúa hơn. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1- Ban đã phải trả cho César những gì thuộc về César. Nhưng bạn có thực sự trả cho Chúa những gì thuộc về Người không?

2- Bạn làm gì để nên giống Chúa?

3- Qua bí tích Thánh Thể, bạn có thể hiểu được gì về tình yêu Chúa đối với bạn?

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Trả về

Trả về

Cái gì là của Thiên Chúa và cái gì là của Cêsarê? Đây không chỉ là vấn đề của những người Pharisêu, nhưng còn là vấn đề của các tông đồ, của chúng ta, và của con người qua mọi thời đại. Chúa Giêsu đã không tránh né vấn đề bằng cách bỏ mặc cho con người với cách giải quyết riêng của mình. Trái lại, Ngài đã hiến thân để chứng minh cho cách thức giải quyết của Ngài. Ngài đã ban cho con người luật lệ chung, và con người có bổn phận phải áp dụng luật chung đó vào trong những trường hợp cụ thể. Khi được hỏi ý kiến về điều răn nào quan trọng nhất, Chúa Giêsu đã ban hành nguyên tắc chung là: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn lớn nhất và điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống như điều răn ấy, là: ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình”,

Trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã tận tình cắt nghĩa luật lệ này trong mọi lúc, mọi nơi và mọi hoàn cảnh. Hai điều luật vĩ đại này không thể phân chia ra làm hai. Chúng ta không thể chu toàn luật thứ nhất nếu không thi hành luật thứ hai. Yêu mến Thiên Chúa mà không yêu thương người lân cận là một sự mâu thuẫn. Trong thư gửi tín hữu, thánh Gioan đã viết: “Nếu ai nói: “Tôi yêu mến Thiên Chúa” mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy… ai yêu mến Thiên Chúa, cũng phải yêu mến anh em mình”.
 
Tất cả mọi người đã được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, và có quyền được yêu thương và kính trọng theo đúng phẩm giá của con người. Chính quyền không có quyền ban cho hay lấy đi quyền này của mỗi người, nhưng có bổn phận che chở và bảo vệ nó. Khi chính quyền chu toàn bổn phận này, chính quyền đã giúp cho người dân thi hành cả hai bổn phận trung thành với Thiên Chúa và với tổ quốc. Nhưng khi chính quyền theo đuổi một chính sách phủ nhận và chà đạp quyền căn bản của con người, người dân không thể chu toàn cả hai bổn phận được, khi đó lương tâm sẽ lên tiếng trả lời.
 
Sách Giáo lý Công giáo số 2242 đã nói: “Người công dân có nghĩa vụ, theo lương tâm, không tuân theo những luật lệ của chính quyền dân sự, khi các luật lệ này nghịch với những đòi hỏi của trật tự luân lý, nghịch với những quyền căn bản của con người hoặc với những lời dạy của Phúc âm. Sự từ chối vâng phục các uy quyền dân sự khi họ đòi hỏi những điều nghịch với lương tâm ngay chính, được biện minh bởi sự phân biệt giữa việc phục vụ Thiên Chúa và việc phục vụ cộng đồng chính trị. “Trả về Cêsarê cái gì của Cêsarê, và trả về Thiên Chúa cái gì của Thiên Chúa”. “Phải vâng phục Thiên Chúa hơn là vâng phục người ta”.
 
Vua Henri nước Anh, đã có vợ rồi, nhưng muốn cưới thêm vợ thứ hai. Vua ra lệnh cho các quần thần phải ký vào bản tuyên ngôn công nhận việc làm của vua là đúng. Thomas More, quan chưởng ấn không ký, vì ông không thể làm trái với tiếng nói của lương tâm mình. Ông đã bị hành quyết và trở thành một vị thánh.
 
Dietrich Bonhoeffer đã dám đi ngược lại đường lối của nhiều nhà thờ ở Đức để lên tiếng chống lại sự cai trị tàn bạo của Adolf Hitler trong thời gian quyền lực của Hitler đang lên tới tột đỉnh ở Đức. Bonhoeffer đã bị hành quyết vì tiếng nói chân chính của mình, và sau này những lời cảnh cáo của ông mới thành sự thực.
 
Mẹ Têrêsa Calcutta đã nói, “Chúng ta không được kêu gọi để thành công, nhưng chúng ta được kêu gọi để trung thành”. Trung thành với Thiên Chúa là quyền ưu tiên tối thượng trên tất cả mọi sự.
 
Một tờ báo cổ vũ về giá trị của đời sống gia đình đã kể câu chuyện về một người đàn ông lần đầu tiên đến thăm thủ đô Washington D.C… Ông rất cảm động trông thấy những nghị sĩ và dân biểu mà từ trước tới nay chỉ nghe nói mà thôi. Ông say mê nhìn ngắm những toà nhà của chính phủ và những cơ quan quan trọng của đất nước. Nhưng cái cảnh gây ấn tượng mạnh nhất là lá cờ tổ quốc bay phất phới trên đầu khi viếng thăm toà nhà quốc hội. Kết thúc một vòng tham quan thành phố thủ đô Washington, ông tự nghĩ: “Đây là nhà của chính phủ. Đây là nơi cư ngụ của quyền lực. Đây là nơi quan trọng nhất trên toàn thể đất nước Hoa Kỳ!”
 
Sau này, người đàn ông đó có dịp đến thăm một gia đình nông trại. Ông chăm chú nhìn thấy con cái của gia đình này sau khi đi học về, mỗi người tự động mau mắn làm những công việc nhà. Ngồi vào bàn ăn tối, ông hân hoan nhìn thấy những khuôn mặt vui tươi và lắng nghe những câu chuyện huyên náo sống động. Trước bữa ăn, ông cảm thấy ấm lòng khi người cha của gia đình đọc đoạn Thánh Kinh, rồi cha mẹ con cái cùng nắm tay nhau, cúi đầu tạ ơn lòng nhân lành của Thiên Chúa, và cầu nguyện cho Giáo Hội, cho bạn bè, cho tất cả mọi người đang lầm than. Họ cũng cầu nguyện cho tổ quốc, cho tổng thống và tất cả mọi người đang cầm quyền. Sau này, khi ra về, ông bắt đầu suy nghĩ về điều vừa nhìn thấy ở nông trại đơn sơ. Thình lình ông nhận ra mình đã sai lầm khi nghĩ rằng thủ đô Washington là nơi quan trọng nhất ở Hoa Kỳ. Ông ý thức rằng quyền lực thực sự của một quốc gia không phải nằm ở cơ cấu tổ chức của chính quyền. Quyền lực thực sự của một quốc gia được tìm thấy trong những mái gia đình đang tự do: “trả về Cêsarê cái gì của Cêsarê, và trả về Thiên Chúa cái gì của Thiên Chúa”. 
 
Sưu tầm

Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp Thủ tướng Việt Nam

Đức Thánh Cha Phanxicô tiếp Thủ tướng Việt Nam

VATICAN. Trưa thứ bẩy, 18-10-2014, ĐTC Phanxicô đã tiếp kiến thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam.
Toàn văn Thông cáo báo chí của Tòa Thánh nói rằng:

”Hôm nay ĐTC Phanxicô đã tiếp kiến Thủ Tướng Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, ông Nguyễn Tấn Dũng. Sau đó Thủ tướng đã gặp ĐHY Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, có Đức TGM ngoại trưởng Dominique Mamberti tháp tùng.

”Trong các cuộc hội kiến thân mật, các vị bày tỏ sự hài lòng về cuộc gặp gỡ hôm nay, đánh dấu một giai đoạn quan trọng trong tiến trình củng cố những quan hệ giữa Tòa Thánh và Việt Nam, vì đây là lần thứ hai, Thủ Tướng Dũng thực hiện cuộc viếng thăm tại Vatican sau cuộc viếng thăm hồi năm 2007. Trong cuộc hội kiến có nêu bật sự dấn thân của Giáo Hội đóng góp vào việc phát triển đất nước, nhờ sự hiện diện của Giáo Hội trong nhiều lãnh vực để mưu ích cho toàn thể xã hội. Trong bối cảnh đó có tái khẳng định sự đánh giá cao đối với sự nâng đỡ của Chính Quyền dành cho Cộng đồng Công Giáo trong khuôn khổ những phát triển được Hiến Pháp năm 2013 khẳng định liên quan đến chính sách tôn giáo, cũng như về sự trợ giúp cho Vị Đại Diện Tòa Thánh không thường trú ở Việt Nam trong việc thi hành sứ mạng của Ngài, nhắm thăng tiến quan hệ giữa Giáo Hội và Nhà Nước, hướng tới mục tiêu chung là các quan hệ ngoại giao. Rồi cũng đề cập tới một vài vấn đề mà hai bên cầu mong sẽ được đào sâu và giải quyết qua các kênh đối thoại hiện có.

Sau cùng, hai bên trao đổi ý kiến về một vài đề tài thời sự trong miền và quốc tế, đặc biệt là những sáng kiến nhắm thăng tiến hòa bình và sự ổn định tại Á châu”. (SD 18-10-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Bài giảng của Đức TGM Phaolô Bùi Văn Đọc tại Thượng Hội Đồng Giám Mục

Bài giảng của Đức TGM Phaolô Bùi Văn Đọc tại Thượng Hội Đồng Giám Mục

VATICAN. Sáng ngày 18-10-2014, Đức TGM Phaolô Bùi Văn Đọc đã trình bày bài suy niệm ngắn tại Thượng HĐGM thế giới.

Đầu phiên khoáng đại thứ 14 lúc 9 giờ sáng, đến lượt Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc, TGM giáo phận Sàigòn, Chủ tịch Hội đồng GM Việt Nam, được mời trình bày bài suy niệm ngắn trong kinh Giờ Ba lúc 9 giờ, trước sự hiện diện của ĐTC và các nghị phụ. Ngài mời gọi các tín hữu tin nơi sức mạnh của Tin Mừng là nguồn mạch an vui và hạnh phúc.

Dưới đây là toàn văn bài suy niệm của Đức TGM Bùi Văn Đọc được Văn phòng Tổng thư ký Thượng HĐGM phổ biến:

”Quả thế, tôi không hổ thẹn vì Tin Mừng, vì Tin Mừng là sức mạnh Thiên Chúa dùng để cứu độ bất cứ ai có lòng tin” (Rm 1,16). Thánh Phaolô không hổ thẹn vì Tin Mừng, vì Người rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đanh, là cớ vấp phạm đối với người Do thái, là sự điên rồ đối với dân ngoại. Chính cớ vấp phạm và sự điên rồ của tình yêu vô biên của Thiên Chúa được biểu lộ trong Chúa Kitô chịu đóng đanh, khiến ta không thể tự vệ, để cho mình bị giết.

”Nhưng đối với những người được kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Đức Kitô là quyền năng của Thiên Chúa và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa” (1 Cr 1,24). Vì "sự điên rồ của Thiên Chúa thì lớn hơn cái khôn ngoan của con người và sự yếu đuối của Thiên Chúa thì mạnh mẽ hơn sức mạnh của con người” (v. 25)

Vấn đề ở đây là đức tin. Chúng ta có tin hay không? Nếu chúng ta tin, thì Tin Mừng là ơn cứu độ chúng ta. Đức Kitô là niềm hy vọng của chúng ta, và Hy vọng cho tất cả mọi người. Chính Ngài là Đấng Cứu Độ duy nhất của chúng ta, chịu đóng đanh, bị giết, nhưng đã Sống Lại để làm cho chúng ta trở nên công chính; Ngài đang hiện diện giữa chúng ta, đồng hành với chúng ta hướng về tận cùng lịch sử. Chúa Kitô là niềm Hy vọng duy nhất cho đời sống gia đình của con người ngày nay và ngày mai”.

Tin Mừng là ơn cứu độ cho bất kỳ ai tin. Vì sự Công chính của Thiên Chúa được biểu lộ qua đó, nhất là Tình Thương, lòng Từ Bi và Tha Thứ. Tín hữu tham phần sự Công chính của Thiên Chúa, Tình Thương, lòng Từ Bi của Thiên Chúa; họ sống bằng Sự Sống của Thiên Chúa, nhờ đức tin. Đời sống đức tin là một hành trình từ đức tin tới đức tin, từ ơn thánh tới ơn thánh dồi dào hơn của Thiên Chúa, nhờ Đức Kitô.

Ơn Thánh này chính là Thần Trí của Thiên Chúa, là Gió thổi, và Hơi Thở sự sống. Tin là ”lắng nghe”, lắng nghe Tin Mừng, tin vui về Tình Yêu Cứu Độ của Thiên Chúa. Tin Mừng là một tin tức, một trình thuật về lịch sự Tình Yêu của Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu Kitô kể cho chúng ta; Chúa Giêsu Kitô là Thánh Sử Tin Mừng của chúng ta là những người nghèo. Vấn đề là chúng ta có tin nơi Đức Kitô một cách chân thành hay không.

Nếu chúng ta tin, chúng ta đón nhận điều được kể về Tình Yêu Thiên Chúa. Thiên Chúa từ bi vì Ngài toàn năng. Quyền năng của Thiên Chúa không phải là quyền lực tàn phá, nhưng làm cho sống. Với quyền năng này Thiên Chúa đã làm cho Đức Giêsu Kitô sống lại từ cõi chết. Và Sự Sống Lại của Đức Kitô là niềm Hy vọng của chúng ta, vì là Tình Yêu chiến thắng sự chết, tha thứ mọi tội lỗi cho những người đang cần. Chúng ta có tin nơi sức mạnh của Thiên Chúa, hoặc nơi sức mạnh của thế gian? Sức mạnh của thế gian đang tàn phá mọi sự, sự sống, tình yêu, gia đình nhân loại. Trái lại đời sống đức tin được diễn tả qua một cuộc sống yêu thương, là nguồn mạch vui mừng, hạnh phúc”.

Trong phiên khoáng đại thứ 14, từ 9 đến 12.30, các nghị phụ đã nghe trình bày bản dự thảo Tường trình chung kết của khóa họp, và bỏ phiếu thông qua Sứ điệp của Thượng HĐGM gửi Dân Chúa.

G. Trần Đức Anh OP chuyển ý

 

Tường trình của các nhóm nhỏ tại Thượng HĐGM thế giới về gia đình

Tường trình của các nhóm nhỏ tại Thượng HĐGM thế giới về gia đình

VATICAN. Thượng HĐGM thế giới khóa đặc biệt về gia đình đang tới hồi kết thúc. Trong phiên khoáng đại thứ 14 sáng thứ bẩy 18-10-2014, từ 9 giờ đến 12 giờ rưỡi, các nghị phụ sẽ nghe đọc dự thảo Bản tường trình kết thúc công nghị GM thế giới này, và bỏ phiếu chấp thuận văn bản chung kết Sứ điệp Thượng HĐGM gửi cộng đồng dân Chúa.

Ban chiều từ 4 giờ rưỡi đến 7 giờ, có phiên khoáng đại thứ 15 và là phiên cuối cùng. Các nghị phụ sẽ bỏ phiếu thông qua Bản tường trình Thượng HĐGM để đệ lên ĐTC. Văn kiện này chưa phải là quyết định chung kết nhưng sẽ được dùng làm Tài Liệu làm việc cho Thượng HĐGM thế giới khóa thường lệ lần thứ 14 nhóm vào tháng 10 năm tớim 2015.

Để đi tới Bản tường trình chung kết này, các nghị phụ đã làm việc khẩn trương trong hai tuần qua: trong tuần đầu là phần góp ý kiến, được đúc kết thành bản Tường trình giữa khóa mà ĐHY Peter Erdoe, người Hungari, Tổng tường trình viên, đã trình bày sáng thứ hai, 13-10, trong phiên khoáng đại thứ 11.

Bản này bị dư luận và nhiều nghị phụ phê bình và đã được nghiên cứu đào sâu thêm trong 6 cuộc họp nhóm nhỏ, mỗi nhóm khoảng từ 18 đến 20 nghị phụ, cùng với các dự thính viên và chuyên gia. Sau đó, sáng thứ năm, 16-10 vừa qua, Thượng HĐGM thế giới đã nhóm phiên khoáng đại thứ 12 để nghe tường trình về kết quả các cuộc thảo luận nhóm: 3 nhóm tiếng Ý, 3 nhóm tiếng Anh, 2 nhóm tiếng Pháp và 2 nhóm Tây Ban Nha. Vị tường trình viên của mỗi nhóm lần lượt trình bày kết quả cuộc thảo luận. Sau đây chúng tôi xin gửi đến quí vị một số ý chính trong các bản tường trình nhóm:

Vài nét chính trong các bản bá cáo của các nhóm

Tất cả các nhóm đều đưa ra nhiều nhận xét và đưa ra 500 yêu cầu sửa chữa bản phúc trình giữa khóa mà ĐHY Peter Erdoe trình bày.

Nói chung, Phúc trình này bị phê bình là quá nhấn mạnh đến các vấn đề, có nguy cơ làm cho các gia đình và người trẻ không quan tâm cố gắng làm cho hôn nhân và gia đình được tiến hành tốt đẹp. Theo nhiều nghị phụ, Thượng HĐGM về gia đình phải qui trọng tâm nhiều hơn về vẻ đẹp của hôn nhân và tránh để cho lối tiếp cận ”chào đón” và thương xót lấn át nghĩa vụ của Giáo Hội phải kêu gọi con người từ bỏ con đường tội lỗi.

Nhiều nhóm muốn có sự thay đổi lớn, hay là viết lại một số phần trong phúc trình giữa khóa, nhấn mạnh tầm quan trọng của một Giáo Hội tìm đến các gia đình và những người đang có vấn đề trong thế giới ngày nay, trong đó có những cặp sống chung mà không kết hôn, những tín hữu Công Giáo ly dị và tái hôn dân sự, những cặp đồng phái. Cần giúp đỡ và tháp tùng họ trở về cùng Giáo Hội. Hầu hết các nhóm nghị phụ đều muốn thấy Phúc trình chung kết của Thượng HĐGM này nhấn mạnh hơn về vẻ đẹp và sự thu hút trong cái nhìn của Thiên Chúa về hôn nhân bất khả phân ly giữa một người nam và một người nữ, cởi mở đối với sự sống.

– Nhóm Anh ngữ thứ 2, trong đó có ĐHY Timothy Dolan, TGM New York, Hoa Kỳ, ĐHY Wilfried Napier, TGM Durban, Nam Phi, và Đức TGM Diarmuid Martin của giáo phận Dublin, thủ đô Ai Len, cho biết nhiều vị trong nhóm cảm thấy rằng một người trẻ, khi đọc bản tường trình giữa khóa, sẽ cảm thấy bớt phấn khởi trong chấp nhận ơn gọi sống đời hôn nhân Kitô với tất cả những thách đố kèm theo.

– Nhóm tiếng Anh thứ 1, do ĐHY Raymond Burke, người Mỹ, Chủ tịch Tối Cao Pháp viện của Tòa Thánh, nói rằng bản Tường trình chung kết của Thượng HĐGM phải công bố chân lý Phúc Âm, sự sống con người, và tính dục dựa trên mạc phải và luật tự nhiên, vì việc săn sóc mục vụ không thể tách rời khỏi giáo huấn của Giáo Hội. Nhóm này cũng có ĐHY Gerhard Mueller, người Đức, Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, Đức TGM Vincent Nichols của giáo phận Westminster, Anh quốc. Nhóm phê bình phương pháp của bản tường trình giữa khóa, theo đó trước tiên lắng nghe dân chúng trước khi phán đoán và phân định hành trình mục vụ. Theo nhóm, Giáo Hội luôn phải nhìn thế giới qua lăng kính Tin Mừng để có thể yêu thương và săn sóc con người, đồng thời thẳng thắn nhìn nhận những tình trạng tội lỗi và tìm kiếm con đường để mời gọi con người hoán cải tâm hồn.

Nhóm này cảm thấy phúc trình giữa khóa có vẻ như muốn nói tính dục ngoài hôn nhân và những lối sống bất hợp lệ có thể là điều được phép khi khẳng định rằng: ”Có những hạt giống sự thật và tốt đẹp ở nơi những ngừơi liên hệ, và qua việc săn sóc mục vụ, những hạt giống ấy có thể được quí chuộng và phát triển”. Nhóm này nói bất kỳ sự ngụ ý nào nói hành vi vô luân là điều có thể chấp nhận được, sẽ làm cho các cha mẹ ngỡ ngàng và tự hỏi: tại sao mình lại phải cố gắng vất vả như vậy để dạy con cái về Tin Mừng?

– Nhóm tiếng Anh thứ ba, trong đó có ĐHY Donald Wuerl, TGM thủ đô Washington, Hoa Kỳ, Đức TGM Joseph Kurtz của giáo phận Louisville, bang Kentucky, Chủ tịch HĐGM Mỹ, và Đức TGM Denis Hart của giáo phận Melbourne, Australia, tuyên bố là không muốn bản phúc trình chung kết làm suy yêu cảm thức hy vọng rằng ”sự dấn thân có hiệu quả và trọn đời trong hôn nhân là điều có thể đạt tới được”. Nhóm này nói: Giáo Hội cần tìm đến để chào đón, mà không phán xét hay lên án, những người vì lý do nào đó, chưa có thể diễn tả sự dấn thân trọn đời trong hôn nhân giữa một người nam và một ngừơi nữ”, nhưng nhóm cũng kêu gọi quan tâm làm sao để biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với con người, vì chúng ta có thể vô tình gây ra cảm tưởng hôn nhân không phải là quan trọng, hoặc nó chỉ là một lý tưởng mà một vài người ưu tuyển có thể đạt tới.

– Nhóm tiếng Ý thứ 2, trong đó có nhiều vị thuộc giáo triều Roma như ĐHY Walter Kasper, Pietro Parolin Quốc vụ khanh Tòa Thánh, ĐHY Gianfranco Ravasi, Chủ tịch Hội đồng văn hóa và Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng tái truyền giảng Tin Mừng, kêu gọi nhấn mạnh làm sao để không có sự rạn nứt hay tách biệt giữa đạo lý và việc săn sóc mục vụ. Nhưng nhóm cũng nhấn mạnh trách nhiệm của Giáo Hội phải đưa ra một phán đoán về những vấn đề trong nền văn hóa ngày nay, Giáo Hội không thể quên vai trò ngôn sứ của mình và phải cảnh cáo những kẻ xấu về hình phạt của Thiên Chúa nếu họ không thay đổi cuộc sống gian ác (Ez 3,17-19).

– Nhóm tiếng Pháp do ĐHY Christoph Schoenborn, TGM giáo phận Vienne bên Áo, làm điều hợp viên, và có Đức TGM Paul-André Durocher của giáo phận Gatineau, Québec, Canada là thành viên, nói rằng thách đố ở đây là làm sao dung hợp “lòng yêu mến sự thật và đức bác ái mục tử, để không gây sốc cho những người đang cố gắng sống trọn các giáo huấn của hội Thánh. Nhóm này nói đến người anh cả trong dụ ngôn người con trai hoang đàng, cảm thấy không hài lòng khi người cha mở tiệc đón đứa em tội lỗi trở về, nhưng không bao giờ cho anh ta, vốn là người ở lại gia đình và làm việc, được mở tiệc để vui với các bạn.

Nhóm Pháp ngữ này có nhiều GM Phi châu. Các vị khẳng định sự tôn trọng và chào đón những người đồng tính luyến ái và lên án những kỳ thị đối với những người này, nhưng các vị nói rằng Giáo Hội không thể ”hợp thức hóa những việc thực thi đồng tính luyến ái, và càng không thể nhìn nhận những cặp đồng phái là hôn phối. Các vị tố giác các tổ chức quốc tế đặt điều kiện đòi các nước nghèo phải ban hành những luật tháo thứ hơn về luân lý thì mới được viện trợ.

– Nhóm tiếng Ý, trong đó có nhiều vị thuộc giáo triều, trong đó có ĐHY George Pell, Chủ tịch Hội đồng kinh tế, ĐHY Coccopalmerio Chủ tịch Hội đồng về các văn bản luật, và Đức TGM Paglia, Chủ tịch Họi đồng về gia đình, nói rằng có hai quan niệm khác nhau trong các cuộc thảo luận tại Thượng HĐGM. Một quan niệm cho rằng không nên do dự gì khi dùng những từ như ”tội lỗi”, ngoại tình và hoán cải, khi nói về những tình trạng trái ngược với Tin Mừng. Trong khi một lối tiếp cận khác phải nhìn nhận rằng ước muốn có một gia đình đã được Thiên Chúa đặt để trong tâm hồn mỗi người, cả những tín hữu vì những lý do khác nhau không sống hoàn toàn phù hợp với Lời Chúa Kitô”.

Nhóm này cũng nói: Một sự thiếu ý thức về tội lỗi và những hoàn cảnh văn hóa nghiệm trọng thường là lý do khiến một tín hữu không sống phù hợp với giáo huấn của Giáo Hội. Tường trình chung kết phải nhấn mạnh sự cầnthiết phải cải tiến việc giáo dục về đức tin (CNS 16-10-2014)

– Nhóm nghị phụ tiếng Ý thứ I, do ĐHY Filoni Tổng trưởng Bộ truyền giáo làm điều hợp viên, nói đến khó khăn trong việc mang lại một ý nghĩa cho thành ngữ ”luật tiệm tiến” đã được nhắc đến trong bản tường trình giữa khóa để biện minh cho sự bất toàn trong hành động của một số tín hữu, và áp dụng vào việc cho tín hữu ly dị tái hôn được rước lễ. Các nghị phụ nói rằng luật tiệm tiến không thể áp dụng được cho số 34 của Tông Huấn Familiaris consortio về gia đình, vì trong tông huấn này luật tiệm tiến được áp dụng chủ yếu cho vấn đề luân lý liên quan đến việc làm cha làm mẹ ý thức. Thành ngữ ”Luật tiệm tiến” dường như vượt ra ngoài sự kiểm soát với nguy cơ làm cho người ta nghĩ rằng những khó khăn trong đời sống vợ chồng đưa tới sự hạ thấp ý nghĩa trọn vẹn của chính ơn gọi vợ chồng. Nhóm này yêu cầu viết lại phần thứ II của tường trình giữa khóa để làm nổi vợt dự phóng vui tươi về hôn nhân do Thiên Chúa đề ra.

Nhóm cũng không đồng ý về việc để cho ĐGM giáo phận trực tiếp can dự vào các vụ án tuyên bố hôn nhân vô hiệu, vì thường các GM không phải là những nhà chuyên môn trong lãnh vực này, vì thế nên đề nghị một sự phối hợp mục vụ giữa những người liên hệ với tòa án hôn phối, các cố vấn và các văn phòng khác nhau của giáo phận về gia đình.

Về vấn đề cho người ly dị tái hôn được rước lễ, các nghị phụ trong nhóm tuy nhạy cảm đối với vấn đề, nhưng vẫn đề nghị tái nghiên cứu vấn đề này dưới ánh sáng số 84 của Tông huấn Familiaris consortio, để xác định những điều kiện khác với kỷ luật hiện hành.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

Đức Thánh Cha tiếp kiến chung các tín hữu hành hương: 15-10-2014

Đức Thánh Cha tiếp kiến chung các tín hữu hành hương: 15-10-2014

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến chung 80 ngàn tín hữu hành hương sáng thứ tư 15-10-2014 tại Quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC đã diễn giải về đề tài ”Giáo hội là hôn thê chờ đợi Hôn Phu của mình”.

ĐTC tạm vắng mặt khỏi phiên họp trong nhóm nhỏ của các nghị phụ Thượng HĐGM thế giới về gia đình, và lúc quá 9 giờ rưỡi sáng ngài tiến vào quảng trường thánh Phêrô trên chiếc xe díp màu trắng mui trần để chào thăm các tín hữu, ôm hôn và chúc lành cho các em bé được nhân viên an ninh bế đưa lên ngài.

Lên tới lễ đài ở thềm Đền thờ, ĐTC khởi sự buổi tiếp kiến với dấu Thánh giá và lời chào phụng vụ. Và sau phần tôn vinh lời Chúa với bài đọc ngắn trích từ sách Khải Huyền của thánh Gioan nói về vị hôn thê trang điểm chờ đợi hôn phu và Giáo hội như thành Jerusalem thiên quốc, ĐTC đã trình bày bài thứ 9 trong loạt bài giáo lý về Giáo Hội, và ngài bàn về chủ đề: ”Giáo Hội hôn thê chờ đợi Hôn Phu của mình”.

Huấn dụ của ĐTC

“Anh chị em thân mến, chào anh chị em. Trong thời gian này chúng ta đã nói về Giáo hội, về Mẹ Giáo hội thánh thiện và có phẩm trật, là Dân Thiên Chúa đang lữ hành.

Hôm nay chúng ta hãy tự hỏi: sau cùng, dân Chúa sẽ ra sao? Mỗi người chúng ta sẽ ra sao? Chúng ta phải chờ đợi cái gì? Thánh Phaolô Tông Đồ trấn an các tín hữu Kitô thuộc Cộng đoàn Tessalonica, là những người đặt ra những câu hỏi ấy và sau khi lý luận thánh nhân nói những lời này thuộc vào những lời đẹp nhất của Tân Ước:
“Và như thế chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn mãi!” (1 Ts 4,17). Những lời này đơn sơ, nhưng rất xúc tích về hy vọng.

Thật là biểu tượng như trong sách Khải Huyền của thánh Gioan, nhắc lại trực giác của các Ngôn Sứ, và đã mô tả chiều khích cuối cùng, chung kết, như ”Thành Jerusalem mới, xuống từ trời, từ nơi Thiên Chúa, sẵn sàng như hôn thể trang điểm đón chờ Hôn Phu của mình” (Kh 21,2). Đó là điều đang chờ đợi chúng ta! Vậy Giáo Hội là ai? thưa là Dân Thiên Chúa đi theo Chúa Giêsu và chuẩn bị ngày qua ngày cho cuộc gặp gỡ với Chúa, như một hôn thê chuẩn bị gặo hôn phu của mình. Đó không phải là một kiểu nói; sẽ có những hôn lễ thực sự! Đúng vậy, vì Chúa Kitô, khi làm người như chúng ta và làm cho tất cả chúng ta trở thành điều duy nhất với Ngài, qua cái chết và sự sống lại của Ngài, Ngài đã thực sự kết hôn với chúng ta và làm cho chúng ta trở nên hôn thê của Ngài. Điều này không là gì khác hơn là sự viên mãn kế hoạch hiệp thông và yêu thương được Thiên Chúa thực hiện qua dòng lịch sử.

”Nhưng có một yếu tố khác, an ủi và ủng cố chúng ta, mở rộng con tim chúng ta: thánh Gioan nói với chúng ta rằng trong Giáo Hội là hôn thê của Chúa Kitô, ”thành Jerusalem mới” trở nên hữu hình. Điều này có nghĩa là Giáo Hội, không những là hôn thê, nhưng còn được kêu gọi trở nên thành thị, biểu tượng tuyệt hảo của sự sống chung và quan hệ giữa con ngừơi với nhau. Vì thế, thật là đẹp khi có thể chiêm ngưỡng ngay từ bây giờ một hình ảnh khác rất xúc tích của sách Khải Huyền, tất cả các dân nước được tập hợp với nhau trong thành ấy, như trong một căn lều, ”lều của Thiên Chúa” (Xc Kh 21,3)! Và trong khung cảnh vinh quang đó sẽ không còn cô lập, thiếu thốn và những phân biệt nào – về mặt xã hội, chủng tộc và tôn giáo – nhưng tất cả chúng ta sẽ được hiệp nhất trong Chúa Kitô.

Đứng trước cảnh tượng chưa từng có và tuyệt vời ấy, con tim chúng ta không thể không cảm thấy được củng cố một cách mạnh mẽ trong niềm hy vọng. Anh chị em hãy xem, niềm hy vọng Kitô không phải chỉ là một ước muốn, một mong ước, không phải là lạc quan: đối với Kitô hữu, hy vọng là chờ đợi, nồng nhiệt chờ đợi, say mê mong sự viên mãn chung kết một mầu nhiệm, mầu nhiệm tình yêu Thiên Chúa, trong đó chúng ta được tái sinh và đang sống. Và đó là sự chờ đợi người sắp đến: đó là Chúa Kitô ngày càng trở nên gần gũi chúng ta, ngày qua ngày, và Ngài đến để dẫn đưa chúng ta vào cuộc hiệp thông viên mãn và an bình của Ngài. Vì thế, Giáo Hội có nghĩa vụ phải giữ cho ngọn đèn hy vọng luôn cháy sáng và hữu hình, để có thể tiếp tục chiếu tỏa như dấu chỉ cứu độ chắc chắn và có thể soi sáng cho toàn thể nhân con đường dẫn đến cuộc gặp gỡ với tôn nhan từ bi của Thiên Chúa.
Anh chị em thân mến, này đây điều mà chúng ta đang mong đợi: chúng ta đợi Chúa Giêsu trở lại! Giáo Hội hôn thê chờ đợi hôn phu của mình! Nhưng chúng ta phải tự hỏi rất chân thành: chúng ta có thực sự là những chứng nhân sáng ngời và đáng tin cậy về niềm hy vọng ấy hay không? Các cộng đoàn của chúng ta có còn sống trong dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô và nồng nhiệt chờ đợi Chúa đến hay không, hay là tỏ ra mệt mọi, ngái ngủ, dưới gánh nặng của mệt mỏi và cam chịu? Chúng ta có nguy cơ hết dầu đức tin và vui mừng hay không! Chúng ta hãy chú ý!

Chúng ta hãy khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ hy vọng và là nữ vương trời cao, xin Mẹ luôn giữ chúng ta trong thái độ lắng nghe và chờ đợi, để có thể ngay từ bây giờ được thấm nhiễm tình yêu Chúa Kitô và một ngày kia được tham phần niềm vui vô tần, trong sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa. Anh chị em đừng bao giờ quên câu ”Và chúng ta sẽ luôn ở với Thiên Chúa!” Chúng ta hãy lập lại câu này ba lần.

Chào thăm các tín hữu

Sau bài giáo lý bằng tiếng Ý, các LM và giám chức của Tòa Thánh đã tóm tắt bài này bằng các sinh ngữ khác nhau cũng như dịch những lời ĐTC chào các tín hữu hành hương cùng với những lời nhắn nhủ của ngài.

Chào nhóm tiếng Anh, ĐTC đặc biệt nhắc đến các đoàn đến từ Anh quốc, Ecosse, Na Uy, Đan Mạch, Ấn độ, Nhật Bản, Thái Lan, Australia và Hoa Kỳ, đặc biệt là đoàn hành hương toàn quốc Ai Len nhân dịp kỷ niệm 1.400 năm thánh Colombano qua đời.

Khi chào các tín hữu nói tiếng Bồ đào nha, nhất là các tín hữu đến từ Brazil, ngài xin họ cầu nguyện cho ngài và nhắn nhủ rằng gia đình anh chị em hãy họp nhau hằng ngày để đọc kinh Mân Côi, dưới cái nhìn của Đức Mẹ, để trong gia đình không bao giờ bị thiếu dầu đức tin và niềm vui, nảy sinh từ cuộc sống của các phần tử được hiệp thông với Thiên Chúa.

Với các tín hữu nói tiếng Ba Lan, ĐTC nhắc nhở rằng ”Hôm nay chúng ta kính nhớ thánh Têrêxa Chúa Giêsu, thuộc dòng Cát Minh nhặt phép, trinh nữ và tiến sĩ Hội Thánh. Trái lại ngày mai chúng ta kỷ niệm Thánh Gioan Phaolô 2 được bầu làm Giáo Hoàng. Hai vị thánh này được liên kết với nhau trong sự phó thác cho Thiên Chúa, lòng tận tụy đối với Giáo Hội và có đời sống thần bí. Chúng ta hãy học nơi các vị đặc tính quyết liệt của Tin Mừng và tăng trưởng trong niềm hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa.

Sau cùng, bằng tiếng Ý, ĐTC đặc biệt chào các tham dự viên Hội nghị kỳ 4 của Quỹ Ratzinger-Biển Đức 16 sẽ nhóm tại thành phố Medellín, Colombia, và khuyên nhủ họ hãy nghiên cứu những con đường kiến tạo hòa bình và thăng tiến phẩm giá con người.

ĐTC kết thúc buổi tiếp kiến với Kinh Lạy Cha và phép lành Tòa Thánh ban cho mọi người.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Tóm lược tham luận phiên họp khoáng đại thứ 11 của Thượng Hội đồng Giám Mục thế giới về gia đình

Tóm lược tham luận phiên họp khoáng đại thứ 11 của Thượng Hội đồng Giám Mục thế giới về gia đình

VATICAN. Văn phòng Tổng thư ký THĐGM đã công bố bản tóm lược ý kiến của 41 nghị phụ phản ứng trong phiên khoáng đại thứ 11 sáng thứ hai 13-10-2014, sau khi nghe ĐHY Peter Erdoe, Tổng tường trình viên, đúc kết các bài phát biểu của 180 nghị phụ trong tuần lễ đầu tiên của Công nghị Giám mục thế giới.

Bản tóm lược nói rằng:

”Nói chung, bản tường trình đúc kết được đánh giá cao vì diễn đạt tốt các bài phát biểu. Qua tường trình này, người ta thấy phản ánh lòng yêu mến của Giáo Hội đối với các gia đình trung thành với Chúa Kitô, và cả khả năng của Giáo Hội gần gũi con người trong mọi lúc của cuộc sống, khả năng hiểu rằng đằng sau những thách đố mục vụ, có bao nhiêu người đang chịu đau khổ. Cái nhìn của Thượng HĐGM phải là cái nhìn của vị mục tử hiến mạng sống mình vì đoàn chiên, chứ không phải thái độ tiên thiên xét đoán đoàn chiên.

Ngoài ra, vì Bản tường trình của ĐHY Erdoe thu thập nhiều quan điểm khác nhau để cung cấp căn bản làm việc cho các nghị phụ trong các nhóm nhỏ, trong phần góp ý và phản ứng, các nghị phụ đã đề nghị thêm một số suy tư: ví dụ, tuy Giáo Hội phải đón tiếp những người gặp khó khăn, nhưng cũng nên nói nhiều hơn về những gia đình trung thành với giáo huấn của Tin Mừng, cám ơn và khích lệ họ vì chứng tá của họ. Từ Thượng HĐGM này người ta phải thấy rõ hôn phối là bất khả phân ly, hạnh phúc và chung thủy, đẹp đẽ, là có thể, và hiện diện trong xã hội, vì thế tránh tình trạng chỉ chú ý đến những hoàn cảnh gia đình bất toàn.

– Một số nghị phụ khác đề nghị nhấn mạnh nhiều hơn về đề tài phụ nữ, việc bảo vệ phụ nữ và tầm quan trọng của phụ nữ trong việc thông truyền sự sống và đức tin; ghi thập vài nhận xét về vai trò của các ông bà giữa lòng gia đình; nhắc đến rõ rằng gia đình như ”Giáo Hội tại gia” và giáo xứ như ”gia đình của các gia đình”, cũng vậy, nên đề cao Thánh Gia như mẫu gương cần tham chiếu chắc chắn. Trong viễn tượng đó, có nghị phụ đề nghị đề cao viễn tượng truyền giáo của gia đình, gia đình loan báo Tin Mừng trong thế giới hiện nay.

– ”Cần đào sâu và làm sáng tỏ sự tiệm tiến, vì điều này có thể là nguồn gây ra một loạt những hỗn độn. Ví dụ, về việc cho những người ly dị tái hôn được lãnh nhận các bí tích, có nghị phụ nói thật là khó chấp nhận những luật trừ mà không làm cho nó trở thành một qui luật chung.

– Có nghị phụ cũng nhận xét rằng từ ”tội lỗi” hầu như vắng bóng trong bản tường trình đúc kết. Cũng vậy giọng văn ngôn sứ của những lời Chúa Giêsu, cần phải được nhắc nhớ để tránh nguy cơ rập theo não trạng của thế giới ngày nay.

– Về những người đồng tính luyến ái, các nghị phụ đồng ý về sự cần tiếp phải đón tiếp, nhưng với sự thận trọng đúng đắn, để không tạo nên cảm tưởng là Giáo Hội đánh giá tích cực xu hướng đồng tính luyến ái. Cũng cần chú ý như thế đối với những cặp sống chung không kết hôn.

– Một số phản ứng khác của các nghị phụ nhấn mạnh sự cần thiết phải tái khẳng định tầm quan trọng của bí tích rửa tội, là điều thiết yếu để hiểu tường tận đặc tính bí tích của hôn phối và bản chất của nó là ”một thừa tác vụ” trong việc loan báo Tin Mừng.

– Về việc tiến hành mau lẹ thủ tục giải hôn phối, một vài nghị phụ bày tỏ sự ngỡ ngàng về đề nghị ủy thác nhiều thẩm quyền hơn cho GM giáo phận, đè nặng thái quá trên vai các vị.

– Một số nghị phụ khác đề nghị suy tư sâu xa và chi tiết hơn về những vụ đa thê, nhất là những người trở lại đạo và muốn lãnh nhận các bí tích. Cũng vậy cần suy tư thêm sự lan tràn nạn dâm ô, nhất là qua Internet, là nguy cơ thực sự đối với đời sống vợ chồng.

– Sau cùng cần đề cập một cách sâu rộng và quyết liệt hơn không những vấn đề phá thai, nhưng cả vấn đề mang thai mướn.

Nhận định phê bình của Đức Cha Chủ tịch Hội đồng Giám Mục Ba Lan

Đức Cha Stanislaw Gadecki, TGM Poznan, Chủ tịch HĐGM Ba Lan, mạnh mẽ phê bình bản tường trình đúc kết hôm 13-10-2014 tại Thượng HĐGM thế giới về gia đình.

Trong cuộc phỏng vấn dành cho chương trình tiếng Ba Lan của Đài Vatican, Đức TGM Gadecki nói: tôi không dám nói bản tường trình này là một sự xa rời giáo huấn của Đức Gioan Phaolô 2, nhưng trong đó người ta thấy dấu vết của ý thức hệ chống hôn nhân.

Theo Đức TGM, Bản tường trình chứng tỏ người ta không có một cái nhìn rõ ràng về mục đích của chính Thượng HĐGM này. Ngài nói:

”Mục đích mục vụ chủ yếu của chúng ta là nâng đỡ gia đình, chứ không đánh vào gia đình bằng cách chỉ trình bày những hoàn cảnh khó khăn, các hoàn cảnh này tuy có thực, nhưng không phải là nòng cốt chính yếu của gia đình và không xóa bỏ sự cần thiết phải nâng đỡ các gia đình tốt lành, bình thường và chiếm đại đa số, đang chiến đấu không phải để sống còn, nhưng để trung thành”.

Đức TGM Chủ tịch HĐGM Ba Lan cũng phê bình sự kiện khi nói về gia đình và hôn nhân, người ta dùng một số tiêu chuẩn đáng nghi ngờ. Ví dụ tiêu chuẩn ”tiệm tiến” (gradualità). Nhưng phải chăng người ta có thể thực sự coi việc nam nữ sống chung không kết hôn như một sự tiệm tiến và là một con đường để thánh hóa hay sao?

Vị Chủ tịch HĐGM Ba Lan nhận xét: trong bản tường trình người ta bỏ qua đề tài tội lỗi, như thể quan điểm trần thế đã thắng và tất cả những gì dẫn đến sự hoàn hảo là bất toàn..

Ngoài ra, theo Đức TGM Gadecki, những đoạn nói về việc việc ủy thác các trẻ em cho các cặp đồng phái tính được trình bày như thể có sự chấp thuận một tình trạng như vậy. Đó cũng là một thiếu sót trong bản tường trình: thay vì cổ võ sự chung thủy, giá trị của gia đình, dường như người ta chấp nhận mọi sự như nó xảy ra. Thậm chí người ta có cảm tưởng cho đến nay giáo huấn của Giáo Hội không có lòng từ bi thương xót, trong khi bây giờ ngươi ta bắt đầu giáo huấn về lòng từ bi thương xót”.

Họp báo minh định

Trọn ngày 14-10-2014, cả sáng lẫn chiều, các nghị phụ Thượng HĐGM đã nhóm họp trong các nhóm nhỏ, tùy theo sinh ngữ, để đào sâu các vấn đề.

Ban trưa, Cha Lombardi cùng với hai vị trưởng nhóm đã mở cuộc họp báo. Cha Lombardi đã thông báo một tuyên ngôn của Văn phòng Tổng thư ký Thượng HĐGM về những phản ứng báo chí đối với Bản tường trình của ĐHY Peter Erdoe. Theo Văn phòng, người ta không hiểu bản chất của bản tường trình này. Đó chỉ là một văn kiện làm việc, tóm tắt những bài phát biểu và thảo luận trong tuần làm việc đầu tiên và giờ đây các điều đó được đề nghị cho cuộc thảo luận trong các nhóm nhỏ, như qui luật của Thượng HĐGM qui định. Kết quả các cuộc thảo luận nhóm sẽ được công bố vào sáng thứ năm tới đây, 16-10. Mỗi bản tóm lược của mỗi nhóm được trình bày khoảng 10 phút.

Trưởng của một nhóm tiếng Ý, ĐHY Filoni, Tổng trưởng Bộ truyền giáo, nhận xét rằng nhiều báo chí đã phản ứng về Bản tường trình của ĐHY Erdoe và nhiều người khác cảm thấy ngỡ ngàng như thể ĐTC đã nói hoặc đó là quyết định của Thượng HĐGM, trong khi văn bản đó chỉ là một văn kiện làm việc, để thảo luận.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Hiện tình Giáo Hội tại Cap Vert

Hiện tình Giáo Hội tại Cap Vert

Phỏng vấn Đức Cha Arlindo Gomes Furtado, Giám Mục Santiago de Cabo Verde

Trong các ngày đầu tháng 9 năm 2014 các Giám Mục nước Cap Vert đã về Roma viếng mộ hai Thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô và thăm Tòa Thánh.

Cap Vert rộng hơn 4.000 cây số vuông là một quần đảo gồm 10 đảo chính và một số đảo nhỏ. Các đảo chính gồm: São Tiago, Santo Antão, Boa Viosta, Fogo và São Nicolau. Quần đảo này là vùng phát xuất từ núi lửa có ngọn Pico de Fogo, cao 2829 mét nằm trên đảo Fogo.

Dân số Cap Vert được 566 ngàn người, cộng thêm 1,5 triệu sống tại các nước ngoài. Người dân Cap Vert gồm nhiều chủng tộc khác nhau gốc phi châu cũng như âu châu, nói tiếng Creol là thổ ngữ và tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức. Trên bình diện tôn giáo 93% tổng số dân theo Công Giáo, số còn lại theo Tin Lành hay Hồi giáo. Cũng có người tự xưng là vô thần.

Cap Vert được các nhà thám hiểm Diego Gomes và Antonio da Noli khám phá ra giữa các năm 1450-1460, và từ đó trở thành thuộc địa của Bồ Đào Nha cho tới năm 1975 mới được độc lập. Tiếp đến Cap Vert hiệp nhất với Guinea Bissau cho tới năm 1980. Ngay từ đầu chính quyền đảng Phi châu độc lập Guinea và Cap Vert đã lãnh đạo đất nước và có khuynh hướng phò Liên Xô. Chỉ sau khi tách rời khỏi Guinea Bissau năm 1990 đảng này mới khước từ địa vị độc tôn để rộng mở cho chế độ đa nguyên. Sau 10 năm do đảng Phong trào dân chủ lãnh đạo, năm 2001 đảng Phi châu độc lập lại trở lại nắm quyền.

Cap Vert là môt dân tộc trẻ có tuổi trung bình là 21, và 35% tổng số dân dưới 15 tuổi, chỉ có 6% trên 64 tuổi. Lãnh vực giáo dục, y tế tiến triển mạnh, nhưng số các nhà thương vẫn còn thiếu. Vì không có quặng mỏ và nước khan hiếm nên Cap Vert đã không thể phát triển nhiều về kinh tế. Cuộc sống khó khăn khiến cho người dân di cư ra nước ngoài để tìm công ăn việc làm tại Brasil, Hoa Kỳ, và các nước Âu châu như Bồ Đào Nha và Italia.

Giáo Hội Cap Vert chỉ có hai giáo phận trực thuộc Tòa Thánh là Santiago de Cap Vert được thành lập năm 1553 và hiện do Đức Cha Arlindo Gomes Furtado cai quản; và giáo phận Mindelo, được thành lập năm 2003, do Đức Cha Dos Santos Lopes Fortes cai quản. Cho tới khi được độc lập năm 1975 hàng giáo sĩ gồm các thừa sai Bồ Đào Nha và Italia.

Các thừa sai Italia là các cha dòng Capucino đã làm việc tại đây từ 60 năm qua. Nhóm đầu tiên đã tới Cap Vert vào năm 1940. Song song với việc truyền giáo các tu sĩ Capucino đã góp phần rất tích cực vào việc phát triển nhân bản với các trường học và vườn trẻ, các trung tâm đào tạo, bác ái xã hội, thông tin và văn hóa. Trong số hàng trăm chương trình thăng tiến an sinh có Nhà cho người nghèo, xây hồ chứa nước, các khóa đào tạo quản trị khách sạn hàng quán, nguyệt san ”Đất Mới”, và đài phát thanh “Radio Nova”. Ngày nay đa số các tu sĩ là người gốc Cap Vert đã tu học bên Bồ Đào Nha và Italia. Phụ tỉnh Cap Vert hiện có tất cả 35 tu sĩ, 4 tập sinh và 5 thỉnh sinh.

Vì qúa nhỏ Cap Vert không có Hội Đồng Giám Mục riêng, nhưng là thành phần của Hội Đồng Giám Mục Sénégal, Mauritania, Cap Vert và Guinea Bissau, cũng như là thành viên của Hội Đồng Giám Mục miền Tây Phi châu nói tiếng Pháp, và của Liên Hội Đồng Giám Mục Phi châu và Madagascar.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn bài phỏng vấn Đức Cha Arlindo Gomes Furtado, Giám Mục Santiago de Cabo Verde, về hiện tình Giáo Hội tại Cap Vert. Đức Cha Furtado năm nay 64 tuổi. Năm 2004 ngài đã được chỉ định làm Giám Mục đầu tiên của giáo phận tân lập Mindelo, và năm 2009 được thuyên chuyển về Santiago de Cabo Verde là giáo phận đã được thành lập năm 1553.

Hỏi: Thưa Đức Cha Furtado, trên bình diện tôn giáo Cap Vert cò đa số dân theo Công Giáo, nhưng cũng có tín hữu các tôn giáo khác nữa chứ, có phải thế không?

Đáp: Vâng, tại Cap Vert cũng có các giáo phái tin lành đến từ Brasil chiếm 3% dân số. Thế rồi có giáo phái Nazareen đến từ Hoa Kỳ chiếm 5%. Người ta cũng tìm thấy giáo phái ”Adventist ngày thứ bẩy” và ”Pentecotist các cộng đồng của Thiên Chúa”. Trong khi các tín hữu Do thái thì đã hiện diện tại Cap Vert từ thế kỷ XVI. Họ thuộc những người đầu tiên đến sống trên quần đảo này. Ngoài ra còn có một ấp gọi là Hội đường, điều này có nghĩa là đã có một hội đường Do thái. Nhưng với thời gian người do thái đã bị đồng hóa và theo Kitô giáo. Tòa đại sứ Israel đã tìm thấy các mộ do thái và đã trùng tu các mộ này.

Cap Vert cũng có một số những người ”không tôn giáo” và người hồi, từ Phi châu tới. Bên trong các nước thuộc Liên Hiệp Kinh Tế Phi châu có quyền tự do di chuyển, điều này cho phép người Phi châu dễ dàng tới sống trên quần đảo của chúng tôi. Chúng tôi cũng có các người di cư đến từ các nước Guinea Bissau, Sénégal, Nigeria, Ghana, Guinea Konakry và Mali. Nhưng chúng tôi cũng đã di cư và tiếp tục di cư. Cap Vert có 1,5 triệu người di cư, tức ba lần nhiều hơn con số người dân sống trên quần đảo. Rất đông người di cư sống tại Bồ Đào Nha, nhưng cũng có người sống bên Hoa Kỳ, Pháp, Hòa Lan, Luxembourg, Thụy Sĩ vv… Nhiều người thuộc thế hệ thứ hai hay thứ ba rồi, nhưng họ vẫn luôn luôn coi mình là công dân Cap Vert.

Hỏi: Giữa ngã tư của các đại lục Âu châu, Phi châu và Mỹ châu, người Cap Vert có phải là Phi châu không thưa Đức Cha?

Đáp: Cap Vert thật ra chịu các ảnh hưởng của cả ba đại lục. Chúng tôi coi mình như là những người lai giống trên bình diện văn hóa cũng như trêm bình diện sinh học. Và sự kiện chúng tôi nói tiếng Bồ Đào Nha tạo dễ dàng cho việc hội nhập với thế giới bên ngoài. Trong khi Đạo Công Giáo đã rất cổ truyền trên quần đảo, thì giống như Công giáo bình dân Bồ Đào Nha, Giáo Hội Cap Vert cũng phải đương đầu với các thách đố của sự tục hóa. Hiện tượng này đã xuất hiện trên đất nước chúng tôi cũng như bên Âu châu vào cuối thập niên 1960. Cuộc cách mạng năm 1968 đã là điểm khởi đầu của việc ý thức rằng các sự vật thay đổi trong thế giới.

Hỏi: Cuộc cách mạng chống lại thực dân Bồ Đào Nha có bị ảnh hưởng bởi chủ thuyết mác xít không thưa Đức Cha?

Đáp: Các người trí thức đã chiến đấu để thoát khỏi chế độ thực dân, nhưng đã không có các trận đánh du kích trên các đảo, vì đây là điều không thể làm được, bởi không có chỗ trú ẩn. Đó đã là một cuộc chiến đấu lén lút, một việc làm ý thức hệ. Các trận đánh chống lại người Bồ Đầo Nha đã xảy ra trên đất của nước Guinea Bissau.

Sau cuộc Cách mạng hoa Cẩm chướng tại Bồ Đào Nha vào tháng tư năm 1974 chúng tôi đã giành được độc lập. Chế độ mới có gợi hứng xã hội chủ nghĩa do ảnh hưởng của Cuba và Liên Xô đã kéo dài cho tới năm 1990.

Giáo Hội đã rất gắn bó với hệ thống thuộc địa, nên đã phải gánh chịu các hậu qủa và vì thế đã đau khổ nhiều. Đảng Phi châu đôc lập của Guinea và Cap Vert là đảng duy nhất, năm 1980 trở thành đảng Phi châu độc lập Cap Vert. Sau khi có cuộc đảo chánh tại Guinea Bissau hai nước tách rời nhau. Đảng này đã coi Giáo Hội là đồng lõa với chế độ thực dân. Và cũng có một phần thật. Các người cách mạng ngờ vực Giáo Hội, và Giáo Hội đã có thể trở thành một đối kháng ít nhiều công khai.

Hỏi: Thưa Đức Cha, Giáo Hội có bị bách hại bởi chế độ xã hội chủ nghĩa không?

Đáp: Đã không có bách hại thực sự, nhưng đã có một việc gạt bỏ Giáo Hội ra ngoài lề nào đó, một sự khinh bỉ tinh tế… Phải nói rằng hầu hết các nhân viện mục vụ, các thừa sai, đã thuộc thời của người ngoại quốc, chính yếu là người Bồ Đào Nha và vài tu sĩ Capucino người Ý. Đã có rất ít người gốc Cap Vert trong hàng giáo sĩ, và đó là điểm yều của Giáo Hội Cap Vert. Ban đầu sau thời gian độc lập người ta đã cảm thấy sự hăng say của cách mạng, vài người ngoại quốc đã ra đi, trong đó có ba thừa sai bị coi như những người không được chấp nhận. Nhưng sau đó các sự việc đã lắng dịu. Trong khi đó thì các chủng sinh người Cap Vert đã được thụ phong linh mục, và các linh mục này được chấp nhận tốt. Họ là những người Cap Vert trong thân xác cũng như trong tâm hồn, họ là ”người nhà”. Liên quan tới Giáo Hội vấn đề đích thật của các nhà chính trị thời đó là hình ảnh thực dân dính trên da. Được người Bồ Đào Nha thành lập năm 1553, Giáo Hội của chúng tôi đã chỉ có Giám Mục bản địa đầu tiên khi được độc lập, đó là Đức Cha Paulino Livramento Evora, dòng Chúa Thánh Thần.

Nói chung, Giáo Hội được trân trọng, nhất là kể từ sau khi thiết lập chế độ chính trị đa dảng và các cuộc bầu cử đa nguyên năm 1991. Từ đó đến nay không còn có các xung đột ý thức hệ giữa các đảng phái nữa, và nền dân chủ hoạt động tốt. Nếu không có thỏa hiệp nữa, thì đã có một sự đồng ý pháp lý được ký kết với Tòa Thánh; và chính quyền thừa nhận Giáo Hội và các cơ cấu của Giáo Hội, như tổ chức Caritas và các chi nhánh địa phương của nó.

Hỏi: Như thế Giáo Hội có dân thân cho việc phát triển đất nước không thưa Đức Cha?

Đáp: Nhờ tình liên đới của các tổ chức trợ giúp quốc tế như Caritas quốc tế chúng tôi có thể hoạt động cho việc phát triển. Đất nước chúng tôi nằm trong vùng sa mạc Sahel, nên thường có các vấn đề hạn hán. Trong qúa khứ, Cap Vert đã có nhiều thời gian bị đói kém, trận đói cuối cùng xảy ra vào năm 1947. Đã có nhiều người chết đói năm đó. Hồi đó không có các tổ chức nhân đạo quốc tế như ngày nay. Chính quyền thuộc địa Bồ Đào Nha đã muốn dấu nhẹm các nạn đói khủng khiếp này trước mắt thế giới và che dấu chúng. Nhưng các thời điểm đó đã trở thành ký ức rồi…

Việc thiếu nước vẫn còn đó. Đây là một vấn đề thường xuyên. Nhưng ngày nay chúng tôi có được việc đào tạo kỹ thuật dẫn nước, mặc dù là dẫn nước nhỏ giọt. Có các chương trình tài trợ nhỏ giúp mua rơm cỏ. Có các đập và các đê giữ nước được xây cất. Đây là sáng kiến tốt đẹp của chính quyền. Hiện nay lo lắng đầu tiên của chúng tôi là nạn người trẻ thất nghiệp, nhất là giới trẻ đã tốt nghiệp đại học. Tuy có bằng chuyên môn, nhưng họ không tìm ra việc làm tại chỗ. Vì thế họ di cư sang các nước khác như Angola, Guinea Equatorial, nơi có nhiều khả thể hơn. Cả khi số sinh giảm mỗi gia đình có 3-4 người con, so với 6 người con cách đây 25 năm, đất nước Cap Vert không thể thu nhận tất cả số công nhân này. Trái lại, ngành du lich phát triển tốt, nhất là từ khi có cuộc khủng hoảng do ”mùa xuân A Rập” tạo ra, vì du khách bỏ vùng Bắc Phi để hướng tới Cap Vert. Có hy vọng, vì người ta thấy tình hình Cap Vert từ từ cải tiến và trở nên tốt hơn.

(SD 6-9-2014)

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Thủ tướng CS Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng xin yết kiến Đức Thánh Cha Phan-xi-cô

Thủ tướng CS Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng xin yết kiến Đức Thánh Cha Phan-xi-cô

Thủ tướng CS Việt Nam ông Nguyễn Tấn Dũng mở đầu chuyến công du Châu Âu và Tòa Thánh Vatican với chặng đầu tiên là Vương Quốc Bỉ.

Sáng 13/10/2014  tức buổi chiều theo giờ Việt nam, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hội đàm với Thủ tướng Bỉ Charles Michel ở Bruxelles.

Theo báo điện tử Chính phủ, hai phía Việt Nam và Bỉ thỏa thuận tăng cường hợp tác thương mại tạo điều kiện để doanh nghiệp hai nước tiếp xúc kết nối trong các lĩnh vực ưu tiên như cảng biển, dịch vụ hậu cần, giao thông vận tải, công nghệ xanh, công nghệ cao, hàng không vũ trụ. Hai bên thống nhất duy trì cơ chế họp Ủy ban Hỗn hợp về hợp tác kinh tế để định hướng quan hệ kinh tế.

Về vấn đề hợp tác và an ninh châu Á-Thái Bình Dương, Bỉ khẳng định quyết tâm đẩy mạnh hợp tác với khu vực cả trong khuôn khổ song phương và đa phương. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở pháp luật quốc tế và Công ước Luật Biển 1982, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Sau Bỉ, Thủ tướng Việt Nam với sự tháp tùng của Ngoại trưởng Phạm Bình Minh và phái đoàn sẽ viếng thăm Ủy ban Châu Âu, Đức, Ý và Tòa thánh Vatican.

Sẽ thăm Vatican và hội kiến với Đức Giáo Hoàng

Trong khuôn khổ chuyến viếng thăm Châu Âu, Thủ tướng CS Việt nam Nguyễn Tấn Dũng sẽ viếng thăm Tòa Thánh Vatican vào ngày 18/10/2014 sắp tới để xin hội kiến với Đức Giáo Hoàng Phan Xi Cô.

Theo Đài Vatican Việt ngữ, Đức cha Federico Lombardi, Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh xác nhận tin Đức Giáo Hoàng Phan Xi Cô sẽ tiếp kiến Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vào ngày 18/10 tới đây. Cuộc gặp gỡ được mô tả  theo nguyên văn là nhằm đào sâu những quan hệ song phương giữa Việt Nam và Tòa Thánh.

Được biết, Hà Nội và Vatican đã thực hiện 5 vòng đàm phán của Nhóm Công tác hỗn hợp về quan hệ Việt Nam-Vatican. Biến cố 30/4/1975 đã cắt đứt mọi liên lạc của Tòa Thánh với chính quyền Việt Nam, nhưng đến năm 1990 bắt đầu được nối lại bằng những cuộc tiếp xúc trực tiếp, lúc đó Việt Nam bước vào giai đoạn mở cửa. Hiện nay Vatican có đặc phái viên không thường trú tại Việt Nam.

Xin nhắc lại, đây là lần thứ hai ông Nguyễn Tấn Dũng được Đức Giáo Hoàng tiếp kiến. Lần trước vào năm 2007, Đức Giáo Hoàng Biển Đức thứ 16 đã gặp gỡ Thủ tướng Việt Nam. Ngoài ra giới lãnh đạo Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cũng từng được Đức Giáo Hoàng tiếp kiến.

Trích từ RFA