Thánh lễ tại nhà nguyện Marta, 08.11.2016

Thánh lễ tại nhà nguyện Marta, 08.11.2016

thanh-le-tai-nha-nguyen-marta-08-11-2016

Để có thể phục vụ Thiên Chúa cách tốt đẹp, chúng ta phải làm ngược lại những gì gian manh và không tìm kiếm quyền lực. Đức Thánh Cha chia sẻ như thế trong thánh lễ sáng nay tại nhà nguyện Marta. Đức Thánh Cha cũng nhắc rằng chúng ta không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi thế gian.

“Chúng tôi chỉ là những đầy tớ vô dụng” là điều mà những môn đệ đích thực của Chúa có thể lặp lại nơi chính bản thân mình.

Tham vọng quyền lực ngăn cản chúng ta phục vụ Chúa

Có biết bao vật cản, có biết bao chướng ngại làm chúng ta không phục vụ Chúa cách tự do. Đã bao nhiêu lần có lẽ chúng ta nhìn thấy trong nhà của chúng ta những điều như: Đây là việc thuộc quyền tôi phụ trách! Đã bao nhiêu lần, dù không nói ra, nhưng chúng ta làm cho người khác cảm thấy rằng: Tôi phụ trách việc này! Một tham vọng về quyền bính… Chúa Giêsu đã dạy chúng ta: chỉ có một người chỉ đạo, còn chúng ta cần trở thành người phục vụ. Hoặc có lần Chúa nói: nếu ai muốn làm đầu thì hãy làm người rốt hết để phục vụ mọi người. Chúa Giêsu đã biến đổi những giá trị trong xã hội và thế giới này. Ham muốn quyền lực không phải là cách để trở thành người phục vụ của Chúa. Thực tế, tham vọng quyền lực là một trong những trở ngại. Chúng ta hãy cầu nguyện để Chúa loại bỏ tham vọng này khỏi chúng ta.

Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của

Chúa đã nói với chúng ta rằng, không đầy tớ nào lại có hai chủ. Không thể vừa có chủ là Thiên Chúa vừa có chủ là tiền bạc. Làm như thế là bất trung. Đây chính là trở ngại. Đúng chúng ta là tội nhân và chúng ta sám hối về điều này. Nhưng có công bằng không, khi chơi trò nước đôi, khi sống kiểu hai mặt? Có thể vừa đi bên phải vừa bước bên trái, vừa chơi với Thiên Chúa vừa chơi với thế gian? Không. Đây là trở ngại. Khi tham quyền thì sẽ gây ra bất công, sẽ không còn tự do để phục vụ Thiên Chúa.

Những chướng ngại này, tham vọng quyền lực và sự bất trung, lấy bình an khỏi trái tim chúng ta, làm chúng ta bất an, đưa chúng ta vào căng thẳng của thế gian hư ảo, làm chúng ta sống với những giả dối phô trương.

Người phục vụ của Thiên Chúa là phục vụ trong tự do của kẻ làm con chứ không phải là nô lệ

Có nhiều người sống chỉ để phô trương vì họ nói “À, thế này là tốt thế kia là…” để nổi tiếng. Danh tiếng của thế gian. Nếu thế chúng ta không thể phục vụ Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa để Ngài loại khỏi chúng ta những ngăn trở này, để chúng ta bình an trong cả thể xác lẫn tinh thần, để chúng ta có thể tự do mà làm việc phục vụ.

Người phục vụ của Thiên Chúa thì tự do, vì chúng ta là con cái chứ không phải là nô lệ. Khi chúng ta phục vụ Chúa trong tự do, chúng ta sẽ cảm thấy bình an thẳm sâu trong tâm hồn, và chúng ta nghe được tiếng nói của Chúa: “Hãy đến đây, hỡi những người đầy tớ tốt lành và trung tín.” Tất cả chúng ta đều muốn phục vụ Chúa trong tốt lành và chân thật, nhưng chúng ta cần ân sủng của Chúa, tự sức mình chúng ta không thể. Chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng ấy, để chúng ta có trái tim hòa bình và phục vụ trong tự do của con cái Thiên Chúa.

Tự do để phục vụ. Chúng ta chỉ là những tôi tớ vô dụng. Nguyện xin Chúa mở rộng cõi lòng chúng ta và ban Chúa Thánh Thần để Ngài giải thoát tâm hồn chúng ta khỏi tham vọng quyền lực, khỏi kiểu bất trung sống hai mặt, để chúng ta có thể phục vụ Chúa và phục vụ anh chị em đồng loại. Với tâm hồn hòa bình, chúng ta mang đến sự phục vụ của những người con tự do, với rất nhiều tình yêu mến. Lạy Thiên Chúa là Cha, con tạ ơn Cha, nhưng Cha biết đấy: con chỉ là đầy tớ vô dụng.

Tứ Quyết SJ

Hậu bầu cử tổng thống, tín hữu Công giáo Hoa kỳ tạo hiệp nhất hay chia rẽ?

Hậu bầu cử tổng thống, tín hữu Công giáo Hoa kỳ tạo hiệp nhất hay chia rẽ?

2016-election

Arlington, Virginia – Các tín hữu Công giáo Hoa kỳ phải tìm cách kiến tạo hiêp nhất và chữa lành những hỗn độn và chia rẽ sau cuộc bầu cử.

Trong Catholic Distance University Founder’s Award Dinner ở Arlington, Virginia, Hiệp sĩ Carl Anderson, chủ tịch hội hiệp sĩ Columbus đã nói: “Câu hỏi mà chúng ta cần hỏi chính mình là bằng cách nào các tín hữu Công giáo Hoa kỳ, trong tương lai, có thể là nguồn hiệp nhất và hòa giải hay là chúng ta sẽ là nguyên nhân của chia rẽ và thù hận thêm. Câu trả lời sẽ dựa rất nhiều trên vấn đề là một người Công giao ở Hoa kỳ ngày nay có nghĩa là gì? Nói khác đi, điều gì là nền tảng của căn tính chúng ta như là tín hữu Công giáo?”

Ông Anderson đề cập đến các email do WikiLeaks đưa ra. Một email nói đến ý tưởng của ông John Podesta, giám đốc chiến dịch tranh cử của bà Hillary Clinton, tạo nên “mùa xuân Công giáo” với sự nổi dậy của các tín hữu chống lại các Giám mục để yêu cầu thay đổi về giáo huấn luân lý. Một email của một người Công giáo khác là John Halpin, gọi sự bảo thủ của các tín hữu Công giáo là “con hoang của đức tin”, vv. Theo ông Anderson, những email này gây nên những vấn đề, trong đó có những ý kiến chê bai Công giáo từ chính người Công giáo.”

Ông Anderson nhận xét tiếp: “Giai đoạn này đưa ra thách thức nghiêm trọng cho các tín hữu Công giáo, bất luận kết quả bầu cử ngày thứ 3 như thế nào, đất nước chúng ta sẽ vẫn bị chia rẽ sâu sắc và những chia rẽ này, ở một mức độ rất thực, cũng được phản ánh trong chính cộng đồng đức tin Công giáo của chúng ta.”

Giải pháp của vấn đề này, theo ông Anderson, cần các tín hữu Công giáo trung thành thực hiện đầy đủ trách nhiệm công dân của họ khi mà nhiều người chán nản và thất vọng. Ông nói: “Bây giờ là lúc, hơn chứ không phải ít đi, các giá trị Công giáo trong tiến trình bầu cử của chúng ta. Bây giờ là lúc, hơn chứ không phải ít đi, các giá trị Công giáo trong đất nước chúng ta.” Ông đề nghị 6 lãnh vực cụ thể mà Công giáo Hoa kỳ có thể làm để phát triển và tăng cường đoàn kết.

Đầu tiên là “canh tân đời sống giáo xứ” như là một cộng đoàn Thánh Thể thật sự với sự yêu quý Thánh Thể hơn như nguồn mạch và tột đỉnh của sự hiệp nhát, bác ái và đời sống Kitô hữu. Kế đến là “canh tân việc truyền giảng Tin mừng của đời sống gia đình”, “chú trọng đến lời mời gọi mỗi gia đình Công giáo trở thành một giáo hội địa phương, tương trợ với các gia đình khác, sẽ có thể là nguồn mạch của hiệp nhất, bác ái và hòa giải.” Thêm vào đó, các tín hữu Công giáo cần gia tăng lòng sùng kính Mẹ Maria, quan thầy của Hoa kỳ, nhìn thấy nơi Mẹ mẫu gương của sự hiểu biết về trách nhiệm của chúng ta đối với người xung quanh ta và với thiện ích chung như là những công dân.” Chúng ta cũng cần có sự hiểu biết sâu sắc về các nguyên tắc và vấn đề luân lý mà chúng ta không thể thỏa hiệp như là một cộng đoàn đức tin. Một sự dấn than với nền văn hóa Công giáo đích thực đào tạo con người toàn diện ở mọi cấp độ học đường cũng quan trọng đối với căn tính Công giáo. Cuối cùng, ông Anderson kết luận là Giáo hội tại hoa kỳ cần tôn trọng vai trò của Giám mục hơn, như nguồn hiệp nhất của giáo hội địa phương và sự trao đổi liên lạc giữa các giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân. (CAN 07/11/2011)

Hồng Thủy

Đức Thánh Cha kêu gọi gây ý thức về tệ nạn buôn người

Đức Thánh Cha kêu gọi gây ý thức về tệ nạn buôn người

duc-thanh-cha-keu-goi-gay-y-thuc-ve-te-nan-buon-nguoi

VATICAN. ĐTC khuyến khích các tu sĩ Âu Châu tiếp tục gây ý thức sâu rộng trong xã hội về tệ nạn buôn người, một trong những vết thương trầm trọng nhất trong thế giới ngày này.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 7-11-2016, dành cho 130 đại biểu đến từ 27 quốc gia và thuộc tổ chức các tu sĩ Âu Châu chống nạn buôn và bóc lột người, gọi tắt Renate, đang nhóm đại hội kỳ 2 tại Roma từ mùng 6 đến 12-11 tới đây với chủ đề: “Sự chấm dứt nạn buôn người bắt đầu với chúng ta”.

ĐTC nói: ”Một trong thương tích đau đớn nhất của thế giới ngày nay là nạn buôn người, một hình thức nô lệ mới, vi phạm phẩm giá, hồng ân của Thiên Chúa, nơi bao nhiêu anh chị em chúng ta và là một tội ác thực sự chống lại nhân loại. Nhiều điều đã được thực hiện để gây ý thức nơi dư luận về sự trầm trọng và rộng lớn của hiện tượng này, nhưng vẫn còn rất nhiều điều phải làm để nâng cao mức độ ý thức trong dư luận quần chúng và để thực hiện một sự phối hợp tốt đẹp hơn những cố gắng của các chính quyền, các nhà chức trách tư pháp, lập pháp và các nhân viên xã hội”.

ĐTC đánh giá cao những cố gắng của các nữ tu trong tổ chức Renate nhắm gây ý thức công chúng về chiều kích rộng lớn của thảm trạng buôn người, gây thiệt hại phần lớn cho phụ nữ và trẻ em. 'Nhưng đặc biệt tôi cám ơn chị em vì chứng tá trung thành về Tin Mừng Thương Xót, như được biểu lộ qua sự dấn thân của chị em nhắm cứu giúp và phục hồi các nạn nhân”.

ĐTC nói thêm rằng: ”Hoạt động của chị em trong lãnh vực này nhắc nhở chúng ta về ”những cố gắng rất lớn, nhiều khi trong âm thầm trong bao năm qua của các dòng tu, đặc biệt là các dòng nữ, trong việc chăm sóc những người bị thương tổn trong phẩm giá và bị vết thương nặng vì kinh nghiệm của họ. Tôi đặc biệt nghĩ đến sự đóng góp đặc thù của các phụ nữ trong việc đồng hành với các phụ nữ khác và các trẻ em trong một hành trình sâu đậm để được chữa lành và tái hội nhập vào xã hội”.

Bà Anne Keller cho biết trong những ngày họp, tổ chức Renate cũng cứu xét tình trạng các phụ nữ và trẻ em từ Siria. Những người tị nạn từ các vùng chiến tranh có nguy cơ rơi vào mạng lưới của những tổ chức buôn người. Tại Âu Châu có nhiều nạn nhân đến từ Albani, Rumani và Macedoania. Từ Nigeria, ngày càng có những phụ nữ bị đưa tới Âu Châu vì những lời hứa hẹn giả dối, và khi tới nơi, họ rơi vào trọng của những mạng mại dâm.

Tổ chức Renate nhóm lần đầu tiên tại Ba Lan và hai năm một lần, các đại biểu thuộc tổ chức này gặp gỡ nhau để trao đổi thông tin và phối hợp hoạt động. Tại các nước liên hệ, các nhóm chăm sóc tâm lý cho các nạn nhân cũng như huấn nghệ cho họ, đồng thời lo liệu để các nạn nhân có thể hồi hương (SD 7-11-2016)

G. Trần Đức Anh OP 

Các vụ gọi là truyền chức Giám Mục bất hợp pháp ở Trung Quốc

Các vụ gọi là truyền chức Giám Mục bất hợp pháp ở Trung Quốc

nhung-vu-goi-la-truyen-chuc-giam-muc-bat-hop-phap-o-trung-quoc

VATICAN. Hôm 7-11-2016, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, Ông Greg Burke, ra thông cáo về những vụ gọi là truyền chức Giám Mục tại Trung Quốc không có ủy nhiệm của ĐTC:

”Trong những tuần lễ gần đây, liên tiếp có nhiều tín về một số vụ truyền chức Giám Mục, không có sự ủy nhiệm của ĐTC cho các linh mục thuộc cộng đoàn hầm trú của Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Lục. Tòa Thánh không cho phép một cuộc truyền chức nào, và cũng không được chính thức thông báo về những vụ như thế. Nếu những vụ truyền chức Giám Mục ấy thực sự xảy ra, thì sẽ là một vụ vi phạm trầm trọng giáo luật! Tòa Thánh cầu mong rằng những tin như thế là vô căn cứ. Trong trường hợp ngược lại, thì phải đợi những tin tức chắc chắn và có chắng cớ hẳn hoi trước khi thẩm định những vụ ấy một cách thích hợp. Tuy nhiên, Tòa Thánh tái khẳng rằng không được phép tiến hành cuộc truyền chức Giám Mục nào mà không có sự ủy nhiệm cần thiết của Đức Giáo Hoàng, và cũng không được nại đến những xác tín cá nhân”.

Trong thời gian qua một số cơ quan thông tin cho biết LM Đổng Quan Hoa (Dong Guanhua), công giáo thầm lặng, đã thụ phong giám mục bất hợp pháp vì lý do ”tuyệt vọng vì Tòa Thánh đang đối thoại với Nhà Nước Trung Quốc về việc bổ nhiệm các giám mục”. (SD 7-11-2016)

G. Trần Đức Anh OP

 

ĐTC kêu gọi cải tiến điều kiện sống và ân xá cho các tù nhân

ĐTC kêu gọi cải tiến điều kiện sống và ân xá cho các tù nhân

dtc-phanxico-giang-trong-thanh-le-nam-thanh-cua-cac-tu-nhan-cu-hanh-trong-den-tho-thanh-phero-sang-chua-nhat-6-11-2016

Trong buổi đọc Kinh  Truyền Tin trưa Chúa Nhật hôm qua ĐTC Phanxicô đã kêu gọi cải thiện điều kiện sống của các tù nhân, không chỉ trừng phạt nhưng rộng mở cho hy vọng tái hội nhập vào cuộc sống xã hội và ân xá cho các tù nhân xứng đáng trong Năm Thánh Lòng Thương Xót. Ngài cũng khích lệ thực thi thoả hiệp Paris về khí hậu tái nhóm hôm nay tại Marakech bên Marốc, và nêu bật khả năng của nhân loại có thể cộng tác để cứu vãn môi sinh, cũng như đặt để kinh tế trong tư thế phục vụ con người và xây dựng hoà bình và công lý.

Trước đó lúc 10 giờ sáng ĐTC đã chủ sự thánh lễ Ngày Năm Thánh cho các tù nhân trong đền thờ thánh Phêrô. Cùng đồng tế với ĐTC có hơn 100 Linh Mục, tuyên uý các nhà tù, và 8.000 tín hữu, trong đó có ban giám đốc nhà tù, các thiện nguyện viên và hàng trăm tù nhân. Các tù nhân đến từ nhà tù Regina Coeli. Ngoài ca đoàn Sistina còn có ca đoàn Papageno của nhà tù.

Từ lúc 9 giờ các tù nhân đã nghe thánh ca và các chứng từ của Đức Ông Giuseppe Livatino, anh của quan toà Rosarrio Livatino người Sicilia nam Italia, đã bị các tổ chức tội phạm mafia ám sát trên đường đến toà án ngày 21 tháng 9 năm 1990. Trong ba vụ xử khác nhau 6 can phạm đã bị kết án tù chung thân, và hai cộng sự viên khác bị kết án 13 năm tù. Năm 1993 ĐC Carmelo Ferraro, TGM Agrigento, đã thu thập các chứng từ cho án phong chân phước, và ngày 21 tháng 9 năm 2011 ĐTGM Francesco Montenegro đã chính thức bắt đầu mở án phong trên cấp giáo phận. Tiếp đến là chứng từ của một tù nhân đã gặp Chúa và dấn thân hoán cải, cùng với nạn nhân mà anh đã hoà giải. Sau cùng là chứng từ của một thiện nguyện viên của Cảnh sát nhà tù, thường ngày tiếp xúc với các tù nhân. Tiếp đến mọi người đã lần hạt Mân Côi kính Đức Mẹ.

Các bài sách thánh được đọc bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha. Thánh vịnh và Phúc Âm được hát và đọc bằng tiếng Ý. Phần lời nguyện giáo dân được đọc bằng các thứ tiếng A rập, Bồ Đào Nha, Tầu, Pháp và Albani.

Giảng trong thánh lễ ĐTC quảng diễn ý nghĩa các bài đọc và khẳng định rằng đức tin giúp thừa nhận Thiên Chúa là nguồn mạch của niềm hy vọng, và chỉ cho thấy ước mong đạt một cuộc sống mới.  Chúng ta tất cả đều được mời gọi sinh vào cuộc sống mới, cho dù trong quá khứ có sai lầm thế nào đi nữa và bị luật lệ trừng phạt. Không ai và không gì có thể bóp nghẹt được “hơi thở” của niềm hy vọng. Vì chính Thiên Chúa cũng hy vọng chúng ta hoán cải, và thay đổi là điều có thể làm được với ơn thánh trợ giúp của Ngài.

Tất cả các bài đọc trong thánh lễ nói về niềm hy vọng. Lời của một trong 7 anh em nhà Macabây nói với vua Antioco Epifane: “Từ Thiên Chúa người ta có niềm hy vọng được Ngài cho sống lại” (2 Mcb 7,14), biểu lộ đức tin của các vị tử đạo, là những người cho thấy họ có sức mạnh nhìn xa hơn, mặc dầu phải chịu khổ đau và tra tấn. Một đức tin, trong khi thừa nhận Thiên Chúa là nguồn mạch của niềm hy vọng, cho thấy ước mong đạt một cuộc sống mới. Cũng thế câu Chúa Giêsu trả lời cho các người Xađuxê xoá bỏ mọi khoa giải nghi tầm thường của họ. ĐTC nói:

Kiểu nói của Chúa: “Thiên Chúa không phải là của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống, bởi vì mọi người đều sống cho Ngài” (Lc 20,38), vén mở cho thấy gương mặt thật của Thiên Chúa Cha, là Đấng chỉ muốn sự sống của tất cả mọi con cái Ngài. Niềm hy vọng tái sinh vào một cuộc sống mới, như vậy là điều mà chúng ta được mời gọi lấy làm của mình để trung thành với giáo huấn của Chúa Giêsu.

Hy vọng là ơn Chúa ban. Nó được đặt trong tận cùng thẳm con tim của từng người, để có thể soi chiếu với ánh sáng của nó hiện tại, thường bị khuấy động và che mờ bởi biết bao tình trạng dẫn đưa tới buồn thương và khổ đau. Chúng ta luôn luôn cần củng cố các gốc rễ của hy vọng cho chắc hơn, để chúng có thể đem lại hoa trái, trước hết là xác tín về sự hiện diện và cảm thương của Thiên Chúa, mặc dù sự dữ chúng ta đã làm. Không có nơi nào trong con tim chúng ta mà tình yêu của Thiên Chúa không tới được. Nơi đâu có một người đã lầm lỗi, thì nơi đó lòng thương xót của Chúa Cha lại càng hiện diện hơn nữa, để dấy lên sự sám hối, tha thứ và hoà giải.

Tiếp tục bài giảng ĐTC nói : hôm nay là Ngày Năm Thánh cho anh chị em và với anh chị em là các tù nhân. Chính với kiểu nói này của tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa mà chúng ta cảm thấy cần đối chiếu. Chắc chắn việc thiếu tôn trong luật lệ đã đáng bị phạt, và việc mất đi sự tự do là hình phạt nặng nề nhất phải chịu, bởi vì nó đụng chạm tới con người trong nơi sâu thẳm nhất. Thế nhưng niềm hy vọng không thuyên giảm. Thật thế, một đàng là điều chúng ta phải chịu vì sự dữ đã làm, đàng khác là « hơi thở » của niềm hy vọng không thể bị bất cứ ai và bất cứ gì lấy mất. Con tim chúng ta luôn luôn hy vọng sự thiện, chúng ta nợ lòng thương xót mà với nó Thiên Chúa đến gặp gỡ chúng ta và không bao giờ bỏ rơi chúng ta (x. Thánh Agostino, Bài giảng 254,1).

Trong thư gửi tín hữu Roma tông đồ Phaolô nói về Thiên Chúa như là « Thiên Chúa của niềm hy vọng » (Rm 15,13). Làm như thể thánh nhân nói với chúng ta rằng Thiên Chúa cũng hy vọng ; và xem ra là điều mâu thuẫn, nhưng nó thật là như vậy : Thiên Chúa hy vọng ! Lòng thương xót của Ngài không để cho Ngài yên. Ngài như nguời Cha của dụ ngôn luôn luôn hy vọng người con đã sai lầm trở về (x. Lc 15,11-32). Không có ngưng nghỉ đối với Thiên Chúa cho tới khi tìm được con chiên đã bị mất (x. Lc 15,5). Và ĐTC giải thích thêm :

Vậy nếu Thiên Chúa hy vọng, thì khi đó niềm hy vọng không thể bị ai lấy mất, bởi vì đó là sức mạnh để đi tới : đó là việc hướng tới tương lai  để biến đổi cuộc sống ; đó là một thúc đẩy hướng tới ngày mai, bởi vì tình yêu bởi đó chúng ta được yêu thương cho dù tất cả, có thể trở thành con đường mới… Tóm lại, niềm hy vọng là bằng chứng nội tại của sức mạnh lòng thương xót của Thiên Chúa, xin chúng ta nhìn tới trước  và chiến thắng lôi kéo của sự dữ và tội lỗi với đức tin và sự tín thác nơi Ngài.

Anh chị em tù nhân thân mến, hôm nay là Ngày Năm Thánh của anh chị em. Ước chi, trước mặt Chúa, niềm hy vọng của anh chị em được thắp sáng lên. Tự bản chất của nó Năm Thánh đem theo lời loan báo giải thoát (x. Lv 25,39-46). Không tuỳ thuộc nơi tôi việc ban nó cho anh chị em, nhưng dấy lên nơi tùng người trong anh chị em ước muốn sự tự do đích thực là một bổn phận, mà Giáo Hội không thế từ bỏ. Đôi khi có sự giả hình nào đó thúc đẩy chỉ coi anh chị em như những người đã lầm lỗi, vì thế chỉ có con đường duy nhất là nhà tù. Người ta không nghĩ tới khả thể thay đổi cuộc sống, có ít tin tưởng nơi sự phục hồi. Nhưng như thế người ta quên rằng tất cả chúng ta đều là những kẻ tội lỗi, và thường khi chúng ta cũng là tù nhân mà không biết. Khi người ta khép kín chính mình trong các thành kiến, hay khi nguời ta là nô lệ các thần tượng của một sự thoải mái sai lạc, khi chúng ta di chuyển trong các lược đồ ý thức hệ, hay tuyệt đối hoá các luật lệ của thị trường đè bẹp con người, thì thật ra người ta không làm gì khác hơn là ở trong các bức tường của phòng giam của chủ trương cá nhân chủ nghĩa và tự đủ, mất đi sự thật làm nảy sinh ra tự do. Và giơ tay tố cáo chống lại ai đó đã lầm lỗi không thể trở thành một biện minh để che dấu các mẫu thuẫn của chính mình.

ĐTC nói thêm trong bài giảng : chúng ta biết rằng trước mặt Thiên Chúa không có ai có thể cho mình là công chính (x. Rm 2,1-11). Nhưng không ai có thể sống mà không xác tín tìm được sự tha thứ! Ông ăn trộm cùng bị đóng đanh với Chúa Giêsu đã theo Ngài vào thiên đàng (x. Lc 23,43). Vì thế đừng ai trong anh chị em tự khép mình trong quá khứ! Chắc chắn lịch sử quá khứ, cả khi chúng ta có muốn, cũng không thể được viết lại. Nhưng lịch sử bắt đầu từ ngày hôm nay, và liên quan tới tương lai tất cả còn phải được viết, với ơn thánh của Thiên Chúa và với trách nhiệm riêng của anh chị em. Khi học hỏi từ các sai lầm quá khứ, người ta có thể mở ra một chương mới của cuộc đời. Chúng ta đừng rơi vào cám dỗ nghĩ rằng không thể được tha thứ. Bất cứ điều gì lớn nhỏ mà con tim quở trách chúng ta, thì «Thiên Chúa lớn hơn con tim chúng ta » (1 Ga 3,20), chúng ta chỉ phải tín thác nơi lòng thương xót của Ngài thôi.

Đức tin, cho dù có bé như hạt cải đi nữa, cũng có thể chuyển núi rời non (x. Mt 17,20). Biết bao lần sức mạnh của đức tin đã cho phép nói lên lời tha thứ trong những điều kiện nhân loại không thể được ! Những người đã chịu bạo lực, áp bức trên chính họ hay trên các người thân hoặc của cải của họ… Chỉ có sức mạnh của Thiên Chúa, lòng thương xót, có thể chữa lành vài vết thương nào đó. Và ở đâu người ta đáp trả lại bạo lực với sự tha thứ, ở đó con tim của người đã sai lầm cũng có thể được thắng vượt bởi tình yêu đánh ngã mọi hình thức của sự dữ. Và như thế, giữa các nạn nhân và các kẻ có lỗi, Thiên Chúa dấy lên các chứng nhân và các người hoạt động đích thực của lòng thương xót.

Hôm nay chúng ta tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria nơi bức tượng Đức Mẹ bồng Chúa Giêsu cầm khúc xích bị bẻ gẫy trong tay, xích xiềng của nô lệ và tù ngục. Mẹ hướng tới từng người trong anh chị em cái nhìn hiền mẫu của Mẹ ; xin Mẹ làm vọt lên từ con tim của anh chị em sức mạnh của niềm hy vọng vào một cuộc sống mới đáng sống trong sự tự do tràn đầy và trong việc phục vụ tha nhân.

Lúc 12 giờ trưa ĐTC đã ra cửa sổ dinh tông toà để đọc Kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu. Trong bài huấn dụ ngài nói Chúa Giêsu không rơi vào bẫy của các người Xađuxê, nhưng nêu bật sự thật về sự phục sinh, bằng cách giải thích cuộc sống sau cái chết khác với cuộc sống trên trần gian. Vì thế không thể áp dụng các phạm trù của thế giới này cho các thực tại của cuộc sống bên kia. Chúa Giêsu muốn giải thích rằng trong thế giới này chúng ta sống các thực tại tạm bợ. Trái lại trong thế giới bên kia, sau khi phục sinh, chúng ta sẽ không còn cái chết như chân trời nữa, và sẽ sống mọi sự, kể cả các tuơng quan nhân loại, trong chiều kích của Thiên Chúa, một cách được biến đổi. Cả hôn nhân, là dấu chỉ và dụng cụ của tình yêu của Thiên Chúa trong thế giới này, cũng sẽ sáng ngời trong ánh sáng tràn đầy, trong sự hiệp thông của các Thánh trên Thiên Đàng. Ơn cứu rỗi do Chúa Giêsu đem tới được dành để cho tất cả mọi người. Sự sống lại không chỉ là sự kiện phục sinh sau cái chết, mà là một kiểu sống mới, mà chúng ta đã kinh nghiệm ngay ở đời này. Đó là chiến thắng trên sự hư vô mà chúng ta có thể nếm hưởng trước. Sự phục sinh là nền tảng của đức tin kitô. Nếu không có quy chiếu về Thiên Đàng và cuộc sống vĩnh cửu, Kitô giáo sẽ bị giản lược vào một luân lý hay một triết lý sống. Tin vào sự phục sinh là nền tảng để mọi hành động của tình yêu kitô không tàn phai, và là mục đích cho chính nó, nhưng trở thành một hạt giống được chỉ định nở hoa trong vườn của Thiên Chúa, và sinh trái của cuộc sống vĩnh cửu.

Tiếp đến ĐTC đã cất kinh Truyền Tin và ban phép lành toà thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin ngài cũng nhắc tới lễ phong chân phước cho 38 vị tử đạo Albani gồm 2 giám mục, nhiều linh mục và tu sĩ, một chủng sinh và vài giáo dân bị chính quyền độc tài cộng sản giết hồi thế kỷ trước. Các vị đã thích bị tù đầy, tra tấn và chết để trung thành với Chúa Kitô và Giáo Hội. Ước chi gương sống của các vị là sức mạnh nâng đỡ chúng ta trong những lúc khó khăn, và gợi hứng cho các thái độ sống tốt lành, tha thứ và hoà bình của chúng ta.

Linh Tiến Khải

 

Phần hai cuộc phỏng vấn ĐTC Phanxicô dành cho các nhà báo quốc tế

Phần hai cuộc phỏng vấn ĐTC Phanxicô dành cho các nhà báo quốc tế

phan-2-cuoc-phong-van-dtc-phanxico-danh-cho-cac-nha-bao-quoc-te-tren-chuyen-bay-tu-malmoe-ve-roma-ngay-1-11-2016

Trưa ngày mùng 1 tháng 11 vừa qua, trên chuyến bay từ phi trường quốc tế Malmoe về Roma, ĐTC Phanxicô đã dành cho các nhà báo quốc tế một cuộc phỏng vấn. Sau đây là nội dung phần hai cuộc phỏng vấn này.

Chị Eva Fernandez thuộc đài phát thanh Cope Tây Ban Nha hỏi:

Hỏi: Thưa ĐTC, con thích hỏi ĐTC bằng tiếng Ý hơn nhưng con chưa nói sõi đủ. Cách đây ít lâu ĐTC đã tiếp kiến tổng thống Nicolas Maduro của Venezuela. ĐTC có cảm tưởng gì về cuộc gặp gỡ này, và đâu là ý kiến của ĐTC về việc bắt đầu các cuộc nói chuyện này?

Đáp: Vâng, tổng thống Venezuela đã xin có cuộc gặp gỡ và cuộc hẹn này vì ông đến từ Trung Đông, từ Qatar, từ các nước Emirati và dừng chân kỹ thuật tại Roma. Trước đây tổng thống cũng đã xin một cuộc gặp gỡ. Và ông đã đến hồi năm 2013; rồi ông xin một cuộc hẹn khác nữa, nhưng đã bị đau không thể đến được, nên đã xin có cuộc gặp gỡ lần này. Khi một tổng thống xin gặp, thì được tiếp đón, vả lại ông đã dừng chân lại ở Roma. Tôi đã lắng nghe tổng thống trong nửa giờ trong cuộc gặp gỡ đó.Tôi đã lắng nghe và tôi đã hỏi tổng thống vài điều và ý kiến của ông. Thật luôn luôn tốt lắng nghe tất cả mọi ý kiến. Tôi đã lắng nghe ý kiến của tổng thống. Liên quan tới khiá cạnh thứ hai, là cuộc đối thoại. Đó là con đường duy nhất cho tất cả mọi cuộc xung đột. Hoặc là đối thoại hoặc là la lối, chứ không có cách khác. Tôi đã đặt hết con tim vào cuộc đối thoại, và tôi tin là phải bước đi trên con đường này. Tôi không biết nó sẽ kết thúc như thế nào, tôi không biết, bởi vì nó rất phức tạp, nhưng những người dấn thân trong cuộc đối thoại đều là các nhân vật quan trọng. Như ông Zapatero đã từng hai lần là thủ tướng Tây Ban Nha, và ông Restrepo nhà chính trị người Colombia, và tất cả các phe phái đều xin Toà Thánh hiện diện trong cuộc đối thoại. Và Toà Thánh đã chị định ĐTGM Claudio Celli như là người đồng hành với tiến trình này. Đức Sứ Thần Toà Thánh tại Argentina là ĐTGM Tsherrig, tôi đã thay thế ngài ngày Chúa Nhật 23 tháng 10, cũng hiện diện tại bàn thương thuyết. Đối thoại tạo điều kiện cho cuộc thương thuyết là con đường duy nhất giúp ra khỏi các cuộc xung đột, chứ không có con đường nào khác… Nếu vùng Trung Đông đã làm điều này, thì đã tiết kiệm được biết bao nhiều mạng người!

 

Ông Burke nói: Bây giờ tới phiên đài phát thanh Pháp. Chúng con có chị Mathilde Imberty.

Hỏi: Thưa ĐTC, chúng ta đang trở về từ Thụy Điển, nơi sự tục hóa rất mạnh. Đó là một hiện tượng liên lụy tới toàn Âu châu nói chung. Cả trong một nước như nước Pháp người ta ước lượng rằng trong các năm tới đa số dân sẽ không theo tôn giáo nào nữa. Theo ĐTC sự tục hoá có phải là một định mệnh không? Ai là những người có trách nhiệm, các chính quyền đời hay Giáo Hội đã quá nhút nhát?

Đáp: Định mệnh. Không. Tôi không tin vào các định mệnh! Ai là những người có trách nhiệm, tôi không biết… Bạn, nghĩa là từng người có trách nhiệm. Tôi không biết. Đó là một tiến trình… Nhưng trước hết tôi muốn nói một điều nhỏ bé thôi. ĐGH Biển Đức XVI đã nói biết bao về vấn đề này, và nói một cách rõ ràng. Khi đức tin trở thành hâm hẩm, là vì như chị nói, thì Giáo Hội suy yếu… Các thời gian bị tục hóa hơn… Nhưng chúng ta hãy nghĩ tới nước Pháp chẳng hạn các thời gian của sự tục hóa của Triều đình: các thời gian, trong đó các linh mục đã là abbé của Triều đình, một nhân viên giáo sĩ… Đã thiếu sức mạnh của việc rao giảng Tin Mừng, sức mạnh của Tin Mừng. Luôn luôn khi có sự tục hoá, thì chúng ta có thể nói rằng có vài yếu đuối nào đó trong việc rao giảng Tin Mừng, điều này thì thật vậy…

Nhưng cũng có một tiến trình khác, một tiến trình văn hóa, một tiến trình – tôi tin rằng tôi đã nói một lần – một hình thức thứ hai của sự “không văn hóa”, khi con người nhận thế giới từ Thiên Chúa và để làm cho nó trở thành văn hóa, làm cho nó lớn lên, thống trị nó, tới một lúc nào đó con người tự cảm thấy mình là chủ nhân ông của nền văn hóa đó – chúng ta hãy nghĩ tới huyền thoại cái tháp Babel – con người là chủ nhân ông của nền văn hóa tới độ làm cho mình là tạo hóa của một nền văn hoá khác, nền văn hóa riêng và chiếm chỗ của Thiên Chúa tạo hoá. Và trong sự tục hóa tôi tin rằng trước sau gì người ta cũng đi tới tội chống lại Thiên Chúa tạo hoá. Con người tự đủ cho chính mình. Nó không phải là một vấn đề của tính cách đời, bởi vì cần có một tính cách đời lành mạnh, là sự tự trị của các sự vật, sự tự trị lành mạnh của các sự vật, sự tự trị lành mạnh của các khoa học, của tư tưởng, của chính trị, cần phải có tính cách đời lành mạnh. Không. Có một điều khác, đó là một khuynh hướng duy đời như khuynh hướng duy đời mà chủ thuyết thiên quang luận đã để lại cho chúng ta như gia tài. Tôi tin rằng hai điều này: một chút tự đủ của con người tạo ra văn hóa, nhưng nó đi quá các giới hạn và nó cảm thấy nó là Thiên Chúa, và cũng có một chút sự yếu đuối trong việc rao giảng Tin Mừng, trở thành hững hờ và các kitô hữu hững hờ. Ở đó cứu chúng ta một chút việc lấy lại sự tự trị lành mạnh trong việc phát triển của văn hóa và của các khoa học, cả với ý thức về sự độc lập, về việc là thụ tạo chứ không phải là Thiên Chúa.

Ngoài ra, còn có việc lấy lại sức mạnh của việc rao truyền Tin Mừng nữa. Ngày nay tôi tin rằng sự tục hóa này rất mạnh mẽ trong nền văn hóa và trong vài nền văn hóa nào đó. Và tinh thần thế tục cũng rất mạnh trong vài hình thái khác nhau, sự thế tục tinh thần. Khi nó vào trong Giáo Hội, thì sự thế tục thiêng liêng tệ hại nhất. Đây không phải là các lời của tôi mà tôi sẽ nói bây giờ, nhưng đó là các lời của ĐHY De Lubac, một trong các nhà thần học lớn của Công Đồng Chung Vaticăng II. Ngài nói rằng khi tinh thần thế tục thiêng liêng bước vào trong Giáo Hội, thì kiểu này… nó là điều tệ hại nhất có thể xảy ra cho Giáo Hội, còn tệ hại hơn là điều đã xảy ra trong thời đại của các Giáo Hoàng thối nát. Và ngài liệt kê vài hình thức của sự thối nát của các Giáo Hoàng, tôi không nhớ rõ, nhưng biết bao nhiêu thối nát. Tinh thần thế tục. Đối với tôi điều này nguy hiểm. Có nguy cơ là điều này xem ra là một bài giảng, tôi sẽ nói điều này: Chúa Giêsu cầu nguyện cho tất cả chúng ta trong bữa tiệc ly, Ngài xin Thiên Chúa Cha cho tất cả chúng ta một điều: là đừng cất chúng ta ra khỏi thế gian, nhưng bảo vệ chúng ta khỏi thế gian, khỏi tinh thần thế tục. Nó vô cùng nguy hiểm, nó là một sự tục hóa hơi được trang điểm. hơi được hoá trang một chút, hơi là sẵn sàng để mặc, trong cuộc sống của Giáo Hội. Tôi không biết tôi đã trả lời cho câu hỏi chưa.

Ông Greg Burke nói xin cám ơn ĐTC. Bây giờ tới đài truyền hình Đức, anh Juergen Erbacher

Hỏi: Thưa ĐTC, cách đây vài ngày ĐTC đã gặp nhóm Thánh Nữ Marta chuyên chống lại nạn nô lệ mới và việc buôn người, là các đề tài theo con rất được ĐTC lưu tâm, không chỉ như là Giáo Hoàng, mà hồi còn ở Buenos Aires ĐTC đã chú ý tới đề tài này. Tại sao vậy? ĐTC đã có một kinh nghiệm đặc biệt hay có lẽ cả cá nhân nữa chăng? Và rồi như là người Đức, vào đầu năm kỷ niệm cuộc Cải Cách, con cũng phải hỏi ĐTC có đến quốc gia, nơi cuộc Cải Cách đã bắt đầu cách đây 500 năm hay không, có lẽ trong năm nay?

Đáp: Chúng ta hãy bắt đầu với câu hỏi thứ hai. Chương trình các chuyến viếng thăm của năm tới chưa được soạn. Vâng, chỉ biết rằng hầu như chắc chắn là tôi sẽ đi Ấn Độ và Bangladesh, nhưng chưa được làm. nó là một giả thiết.

Liên quan tới câu hỏi thứ nhất. Vâng, từ lâu khi tôi còn là linh mục ở Buenos Aires, tôi đã luôn luôn có sự lo lắng cho thịt xác của Chúa Kitô. Sự kiện Chúa Kitô tiếp tục đau khổ, Chúa Kitô liên tục bị đóng đanh trong các anh em yếu đuối nhất, đã luôn luôn khiến cho tôi cảm động. Như là linh mục tôi đã làm các công việc nhỏ với người nghèo, nhưng không chỉ có thế, tôi cũng đã làm việc với các sinh viên đại học nữa… Thế rồi, như là Giám Mục tại Buenos Aires chúng tôi đã có các sáng kiến làm việc với các nhóm không công giáo và người không tín ngưỡng, chống lại lao động nô lệ, nhất là của các người di cư châu mỹ latinh đến Argentina. Họ bị tịch thu thông hành và phải làm việc như nô lệ trong các nhà máy kỹ nghệ, bị khóa kín trong đó… Có một lần xảy ra hoả hoạn, các trẻ em leo lên sân thượng và chết hết ở trên đó và không có ai trốn thoát được. Thật đúng như là nô lệ, và điều này khiến cho tôi xúc động.

Việc buôn bán người. Tôi cũng đã làm việc với hai dòng nữ hoạt động trợ giứp các phụ nữ mại dâm, các phụ nữ nô lệ của nạn mại dâm. Tôi không thích dùng từ phụ nữ mại dâm, nhưng các phụ nữ nô lệ của mại dâm. Thế rồi, mỗi năm một lần tất cả các người nô lệ của hệ thống này cử hành một Thánh Lễ tại quảng trường Hiến pháp, là một trong các quảng trường nơi các xe lửa tới – giống như nhà ga xe lửa Termini của Roma – anh hãy nghĩ tới nhà ga Termini, và Thánh Lễ được cử hành tại đó với tất cả mọi người. Tới tham dự có tất cả mọi tổ chức, các nữ tu làm việc và cả những người không tin nữa, nhưng chúng tôi làm việc với  họ. Và ở đây cũng thế, ở đây tại Italia này cũng có biết bao nhiêu nhóm thiện nguyện hoạt động chống lại mọi hình thức nô lệ, nô lệ lao động cũng như phụ nữ nô lệ. Cách đây vài tháng tôi đã thăm một trong các tổ chức này và người dân… ở Italia này người ta làm việc thiện nguyện rất tốt. Tôi đã không bao giờ nghĩ nó là như thế. Thiện nguyện là một điều rất đẹp mà Italia có được. Được như thế là nhờ các cha sở. Trung tâm sinh hoạt cho giới trẻ và phong trào thiện nguyện là hai điều nảy sinh từ lòng nhiệt thành tông đồ của các cha sở Ý. Không biết tôi đã trả lời chưa hay có gì nữa…

Ông Burke nói: Chúng con xin cám ơn ĐTC. Người ta nói tới giờ ăn rồi, chúng ta phải đi ăn thôi.

Đáp: Xin cám ơn anh chị em về các câu hỏi, cám ơn rất nhiều, rất nhiều. Và xin anh chị em cầu nguyện cho tôi. Chúc anh chị em ăn ngon.

Linh Tiến Khải

 

Đức Thánh Cha tiếp hoàng tộc Habsburg

Đức Thánh Cha tiếp hoàng tộc Habsburg

duc-thanh-cha-tiep-hoang-toc-habsburg

VATICAN. Sáng 5-11-2016, ĐTC đã tiếp kiến 300 người thuộc hoàng tộc Habsburg và ngài ca ngợi tấm gương chân phước Carlo của Áo thuộc dòng tộc này.

Habsburg là hoàng tộc thuộc hàng quan trong nhất ở Âu Châu kể từ thế kỷ 13 với nhiều vị hoàng đế và vua tại Áo, Hungari, Tây Ban Nha, Bồ đào nha và nhiều nước khác. 300 người thuộc dòng tộc này về Roma hành hương nhân dịp Năm Thánh Lòng Thương Xót.

Lên tiếng tại buổi tiếp kiến, ĐTC nhắc đến mẫu gương của chân phước Carlo hoàng đế nước Áo, lên ngôi cách đây 100 năm, trong thời thế chiến thứ I, và tỏ ra nhạy cảm đối với những lời kêu gọi của ĐGH Biển Đức 15, hết sức tìm kiếm hòa bình, đến độ không được nhiều người hiểu và còn bị nhạo cười. ĐTC nói: Trong lãnh vực này, chân phước Carlo mang lại cho chúng ta một mẫu gương thời sự hơn bao giờ hết và chúng ta có thể cầu khẩn ngài như vị chuyển cầu để xin Chúa ban hòa bình cho toàn thể nhân loại”.

ĐTC cũng ghi nhận nhiều người xuất thân từ hoàng tộc Habsburg đang giữ những vai trò lãnh đạo trong các tổ chức liên đới và thăng tiến nhân bản và văn hóa, cũng như hỗ trợ dự án xây dựng Âu Châu như Căn nhà chung dựa trên các giá trị nhân bản và Kitô. Ngoài ra cũng có nhiều ơn gọi LM và đời sống thánh hiến xuất phát từ gia tộc này. Ngài cảm tạ Chúa và gọi sự kiện đó tái xác nhận gia đình Kitô là thửa đất đầu tiên trong đó các hạt giống ơn gọi có thể nảy mầm và tăng trưởng (SD 5-11-2016)

G. Trần Đức Anh OP

Đức Thánh Cha chủ sự lễ cầu nguyện cho các Hồng Y, Giám Mục

Đức Thánh Cha chủ sự lễ cầu nguyện cho các Hồng Y, Giám Mục

duc-thanh-cha-chu-su-le-cau-nguyen-cho-cac-hong-y-giam-muc

VATICAN. Trưa ngày 4-11-2016, ĐTC đã chủ sự thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô để cầu nguyện cho các Hồng Y và GM qua đời trong 12 tháng qua.

Đồng tế với ĐTC có gần 60 Hồng Y và Giám Mục hiện diện ở Roma, trước sự tham dự của gần 1 ngàn tín hữu.

Trong bài giảng, ĐTC nhắc đến các hoạt động của các vị chủ chăn đoàn chiên của Chúa Kitô đã tận tụy phục vụ và hy sinh vì phần rối những người đã được ủy thác cho các vị chăm sóc, đã thánh hóa họ nhờ các bí tích và dìu dắt họ trên con đường cứu độ. ”Đầy quyền năng của Chúa Thánh Linh, các vị chủ chăn ấy đã loan báo Tin Mừng, và với tình phụ tử, đã cố gắng thương yêu tất cả mọi người, đặc biệt là những người nghèo, người vô phương thế tự về và những người cần được trợ giúp”.

ĐTC cũng nói rằng: ”Qua sứ vụ, các vị chủ chăn ấy đã in vào tâm hồn các tín hữu chân lý đầy sức an ủi, theo đó ”ơn thánh và lòng thương xót của Chúa dành cho những người được Ngài tuyển chọn” (Kn 3,9), Nhân danh Thiên Chúa từ bi và tha thứ, đôi tay các vị đã chúc phúc và xá giải, những lời của các vị đã an ủi và lau khô nước mắt, sự hiện diện của các vị đã làm chứng một cách hùng hồn rằng lòng từ nhân của Thiên Chúa thật là vô tận và lòng thương xót của Chúa thật là vô biên. Một số vị chủ chăn ấy đã được kêu gọi làm chứng tá cho Tin Mừng đến mức độ anh hùng, chịu đựng những u sầu nặng nề”.

Và ĐTC kết luận rằng ”Dưới ánh sáng mầu nhiệm phục sinh của Chúa Kitô, cái chết của các vị là bước vào cuộc sống sung mãn. Và dưới ánh sáng ấy chúng ta cảm thấy càng được gần gũi với những người anh em quá cố của chúng ta: cái chết có vẻ phân ly chúng ta với các vị, nhưng quyền năng của Chúa Kitô và Thần Khí của Ngài liên kết chúng ta với các vị ấy càng sâu xa hơn nữa. Chúng ta tiếp tục cảm thấy các vị ở cạnh trong sự hiệp thông của các thánh” (SD 4-11-2016)

G. Trần Đức Anh OP 

 

Đức Hồng Y Filoni thánh hiến nhà thờ chánh tòa Karonga, Malawi

Đức Hồng Y Filoni thánh hiến nhà thờ chánh tòa Karonga, Malawi

nha-tho-chanh-toa-karonga

Karonga, Malawi – “Đây là dịp vui mừng, trong đó chúng ta chiêm ngắm vẻ đẹp và ý nghĩa của đền thờ này, nó cũng đánh dấu một bước quan trọng trong cuộc sống của Giáo hội địa phương”, Đức Hồng Y Filoni, chủ tịch Bộ Loan báo Tin Mừng, đặc sứ của Đức Thánh Cha Phanxicô, đã nói trong Thánh lễ thánh hiến nhà thờ chánh tòa của Giáo phận Karonga sáng ngày 5/11. Giáo phận Karonga được thành lập cách đây 6 năm để đáp ứng sự phát triển của Giáo hội ở vùng này.

Hiện diện trong Thánh lễ có các Giám mục, Đức khâm sứ Tòa Thánh, các Linh mục, tu sĩ nam nữ và đông đảo giáo dân cũng như chính quyền dân sự do tổng thống hướng dẫn.

Trong bài giảng, Đức Hồng Y nhắc nhở mọi người hiện diện là qua nghi thức thánh hiến, nhà thờ chánh tòa trở thành nhà của Chúa, nơi đặc biệt mà mọi người tụ họp trong đó để tôn thờ Chúa, Đấng đã khiêm nhường đến ở giữa chúng ta. Ngài cũng nhắc nhở rằng mỗi người là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Ở đây anh chị em sẽ nhận lãnh sức mạnh để đi ra xây dựng cộng đoàn các tín hữu, ở bất cứ nơi nào Chúa hướng dẫn anh chị em.

Đức Hồng Y nhắc lại lời Đức Thánh Cha trong lần thăm viếng Uganda vào năm ngoái: Quà tặng của Chúa Thánh Thần là để chia sẻ…. Chúng ta không nhận quà tặng của Chúa Thánh Thần cho chính chúng ta nhưng để xây dựng nhau trong đức tin, trong hy vọng và trong tình yêu… Nếu mỗi ngày chúng ta thôỉ ngọn lửa quà tặng của Chúa Thánh Thần… chắc chắn chúng ta sẽ trở thành môn đệ truyền giáo mà Đức Kitô kêu gọi chúng ta … trong gia đình của chúng ta và cới các bạn bè, nhưng cũng với những người chúng ta không quen biết, đặc biệt những người ít thân thiện hoặc ngay cả thù nghịch với chúng ta.”

Đức Hồng y khuyên các tín hữu hiệp nhất với Đức Thánh Cha, với các Giám mục như Chúa đã thiết lập Giáo hội trên nền tảng thánh Phêrô. Cuối cùng Đức Hồng y cám ơn những người hiện diện vì sự dấn thân không mệt mỏi để xây dựng một xã hội hòa giải, công bằng và hòa bình ở Malawi. (Agenzia Fides 05/11/2016)

Hồng Thủy

 

Đức Tổng Giám mục Los Angeles: Muốn nước Mỹ mạnh hơn? Hãy trở nên thánh

Đức Tổng Giám mục Los Angeles: Muốn nước Mỹ mạnh hơn? Hãy trở nên thánh

nhung-nguoi-ung-ho-cac-ung-cu-vien-tong-thong-my

Los Angeles, California – “Nếu chúng ta muốn một nước Mỹ mạnh hơn, chúng ta cần trở thành những vị thánh vĩ đại hơn, nhờ ơn Chúa,” đó là những lời Đức Tổng Giám mục Jose Gomez của Los Angeles vài ngày trước kỳ bầu cử tổng thống Hoa kỳ.

Cuộc bầu cử tổng thống Hoa kỳ năm nay được xem là một kỳ bầu cử gây nhiều tranh cãi, nhưng đối với Đức tổng Gomez, kết quả không quan trọng, vì “Chúa Giêsu Kitô vẫn là Vua” mới quan trọng đối với ngài. Ngài nói: “Các chính trị gia đến rồi đi; các quốc gia nổi lên rồi sụp đổ; các đế quốc cũng biến mất – điều còn lại và tiếp tục chính là Giáo hội mà Chúa Giêsu đã thiết lập trên tảng đá Thánh Phêrô. Không quan trọng ai sẽ thắng vào thứ 3 tới và ai sẽ thất bại, chúng ta được gọi theo Chúa Giêsu Kitô như con cái Thiên Chúa và các môn đệ truyền giáo. Hãy trung thành với Chúa Kitô và xây dựng vương quốc của Chúa ở đây trên trái đất này.”

 Đức Tổng nhấn mạnh đến 2 “dấu chỉ của các thời đại” có thể giúp suy tư về thực tại của Hoa kỳ. Thứ nhất là các dấu chỉ của nước Mỹ hậu Kitô giáo trong đó tính tục hóa đang tăng lên trong xã hội Mỹ và sự chống lại tự do tôn giáo. Ngài nói đến sự kiện là các giới lãnh đạo, những người đang điều hành và hình thành hướng đi của xã hội, bị tục hóa mạnh mẽ và thù địch với tôn giáo, với những giá trị tôn giáo và các truyền thống văn hóa. Thứ hai là “cuộc khủng hoảng của con người” . Ngài lưu ý là xã hội đang mất đi ý thức về con người; học thuyết về giống và hôn nhân đồng tính là thứ chủ nghĩa nhân văn sai lầm đang được cổ võ ở Hoa kỳ sẽ đưa thứ nhân văn chỉ nghĩa sai lầm đi vào con đường nguy hiểm.

Đức Tổng cũng đề cập đến việc đối xử tàn tệ với những người bị gạt bên lề xã hội, trong đó có các người di dân, vô gia cư và nhập cư; xã hội đang trở nên dửng dưng và không thông cảm cho những người xung quanh họ. Ngài nói: “Chúng ta đang trở thành một xã hội thiếu lòng thương xót, bởi vì chúng ta không còn nhận thấy sự thánh thiêng và phẩm giá của con người.”

Trước những thực tại này, Đức Tổng nhận định rằng không phải vị tổng thống kế tiếp sẽ thay đổi cách thế xã hội đối xử với tôn giáo hay con người, nhưng ngài tin là các cá nhân sẽ có ảnh hưởng trên tương lai hơn là một đảng phái chính trị, vì “chúng ta không phục hồi giá trị tôn giáo ‘từ trên’ bởi vì căn tính của mỗi con người được đặt nơi Chúa Kitô chứ không phải liên kết chính trị của họ.

Đức Tổng xác định chỉ có một điều có thể thay đổi thế giới: lời mời gọi nên thánh. Ngài nói: “Nếu chúng ta muốn nước Mỹ mạnh hơn, thì chúng ta cần những người nam nữ như các bạn và tôi, những người cam kết phục vụ Chúa và sống đức tin của họ trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nếu chúng ta muốn sống trong một xã hội cổ võ nhân đưc và công lý và nhân phẩm – nếu chúng là muốn các lãnh đạo suy tư các giá trị này – chúng ta cần trở thành các lãnh đạo và các vai trong gương mẫu trong xã hội chúng ta.”

Thay vì thất vọng tại các phòng bỏ phiếu, Đức Tổng khuyến khích xây dựng luân lý và tu đức giữa các cá nhân vì canh tân cá nhân sẽ có ảnh hưởng đến canh tân văn hóa dù cho ai sẽ thắng cử. Ngài đưa ra những ví dụ cụ thể cho việc canh tân: củng cố kinh nguyện cá nhân và mối liên hệ với Chúa, xây dựng mối liên hệ chung trong các hôn nhân và các gia đình và làm chúng cho Giáo hội qua sự cảm thông và thương xót.”

Ngài kết luận: “Đất nước chúng ta và thế giới chúng ta sẽ được đổi mới, không phải bởi các chính trị gia nhưng là bởi các thánh…. Nếu chúng ta muốn một nước Mỹ mạnh hơn, chúng ta cần trở thành những vị thánh vĩ đại hơn, nhờ ơn Chúa. Không quan trọng ai là tổng thống, Chúa Giêsu vẫn là Vua và chúng ta vẫn được gọi nên thánh và đổi mới thế giới này theo hình ảnh của Vương quốc Người.” (CNA 03/11/2016)

Hồng Thủy

Tinh thần cầu nguyện và phục vụ của bà Carolyn Woo

Tinh thần cầu nguyện và phục vụ của bà Carolyn Woo

ba-carolyn-woo

Nhiều buổi sáng, Carolyn Woo, một phụ nữ 62 tuổi, đi vào ngôi nhà nguyện tương đối vắng lặng tại trụ sở chính của cơ quan Cứu trợ Công giáo Hoa kỳ ở Baltimore và khi thành phố nhộn nhịp đó bắt đầu một ngày sống, bà tìm một chỗ đặc biệt thinh lặng trong ngôi nhà nguyện an bình ấy, nơi bà có thể chìm đắm trong kinh nguyện. Ở đó bà đọc các bài đọc sách Thánh hàng ngày. Bà ngồi đó với Mẹ Maria. Ở đó bà cầu nguyện và rồi bắt đầu một ngày mới. Cầu nguyện là điều bà Woo cần cho công việc bà đang làm.

Từ 4 năm nay, Carolyn Woo là giám đốc điều hành của cơ quan Cứu trợ Công giáo Hoa kỳ, một trong những tổ chức bác ái lớn nhất nước. Khi bắt đầu ngày làm việc, nghĩa là bà phải tham dự nhiều cuộc họp, tiếp nhiều khách thăm viếng, phải đi lại nhiều nơi, và rồi những thách đố, niềm vui, nỗi buồn, những điều mà bà không bao giờ nghĩ là sẽ gặp thấy ở cơ quan nhân đạo quốc tế của cộng đồng Công giáo Hoa kỳ. Cuối năm 2016 này, bà sẽ kết thúc nhiệm kỳ, lúc ấy bà có thể dành thời gian cho các lớp học, các bài học piano, khiêu vũ, cắm hoa và học tiếng Tây ban nha để có thể cùng hát trong Thánh lễ. Người ta nói với bà, khi nghỉ hưu rồi bà sẽ cảm thấy buồn chán, nhưng bà đang nôn nóng chờ ngày đó. Bà nghĩ đến thời gian hưu trí không phải là kết thúc, là rút lui nhưng là đốt nóng lại, là bắt đầu lại những gì đã kết thúc. Bà xem nó là một trong những phần tốt đẹp nhất của cuộc sống sắp sửa bắt đầu của bà. Bà nói: “Cuộc đời của tôi luôn có một chuỗi những chức danh chuyên nghiệp như giáo sư, giám đốc, khoa trưởng, vv., bây giờ tôi đang từ bỏ những chức danh đó để dành thời gian và sức lực cho những vai trò quan trọng nhất của tôi, đó là vai trò người mẹ, người vợ, người chị, người dì, người bạn và nữ tỳ của Chúa.” Tuy vậy, bà Woo vẫn sẽ phục vụ trong một số công việc như tiếp tục viết báo cho hãng thông tấn Hoa kỳ.

Hiện tại bà Woo đang bận rộn xem lại 5 năm đã qua của bà, nhìn lại các thử thách, thành công nhưng cũng là cơ hội điều hành cơ quan cứu trợ và phát triển của Hội đồng Giám mục Hoa kỳ ở hải ngoại. Bà đã chứng kiến hoạt động của các đồng nghiệp ở hơn 100 quốc gia, những đất nước nơi mà cơ quan Cứu trợ Công giáo Hoa kỳ phục vụ cho những người nghèo nhất và những cộng đoàn bị thiệt thòi nhất trên trái đất này. Như một giám đốc điều hành, bà Woo nhắm làm cho cơ quan Cứu trợ Công giáo Hoa kỳ trở thành một tổ chức hoạt động hiệu quả hơn, một tổ chức phát triển khả năng lãnh đạo từ nội bộ, một tổ chức xem xét các lợi ích dài hạn cũng như ngắn hạn cho những ai họ phục vụ và một tổ chức nhắm thông truyền căn tính Công giáo cho thế giới. Bà chia sẻ: “Điều quan trọng nhất đối với tôi chính là trình bày về Giáo hội cách thật tốt và chúng tôi hiểu vinh dự có thể phục vụ những người mà Thiên Chúa gửi đến với chúng tôi, những người chúng tôi phục vụ. Điều này cũng có nghĩa là phải có đủ nguồn lực để giảm bớt nghèo đói, ứng phó với thiên tai ngày càng gia tăng, như bão lụt ở Haiti hay tình trạng di dân khắp nơi trên thế giới. Bà nhận định: “Tầm vĩ mô của các vấn đề vượt quá nguồn lực trên thế giới, nhưng nó không vượt quá sự khéo léo sáng tạo và khả năng giải quyết vấn đề của chúng ta nếu chúng ta cùng nhau hành động.”

Bà Woo nhận thức rằng “sứ vụ của Cơ quan Cứu trợ Công giáo đến từ Tin Mừng, trong đó Chúa Giêsu đã sai chúng ta ra đi phục vụ, đặc biệt là nâng dậy những ai không có sức mạnh quyền lực, những ai không có của cải, những ai bị gạt ra ngoài lề xã hội.” Bà muốn tiếp tục sứ vụ này nhưng theo một con đường khác, đó là con đường bà luôn chú tâm đến với hồi ức về những hình ảnh thoáng qua của những người bà đã gặp trong thời gian làm việc tại cơ quan này; hình ảnh của các gia đình như gia đình bà – bán mọi thứ họ có để giúp một người con trốn thoát đến một nơi có tương lai an toàn hay tốt đẹp hơn; hình ảnh của một thanh niên nhắc bà nhớ đến một trong hai đứa con của bà đang sống với những mảnh đạn ghim trong thân thể. Bà hy vọng các đồng nghiệp của bà sẽ không sợ hãi để chu toàn trách nhiệm, bởi vì chúng ta làm tất cả những điều này để phục vụ nhân loại và Thiên Chúa. Và nếu chúng ta tín thác vào Thiên Chúa, Người sẽ đưa chúng ta đi. (CNS 27/10/2016)

Hồng Thủy

 

Phần đầu cuộc phỏng vấn ĐTC Phanxicô

Phần đầu cuộc phỏng vấn ĐTC Phanxicô

dtc-phanxico-tra-loi-cac-nha-bao-quoc-te-tren-chuyen-bay-tu-malmoe-ve-roma-trua-ngay-1-11-2016

Trưa ngày mùng 1 tháng 11 vừa qua trên chuyến bay từ Malmoe về Roma ĐTC Phanxicô đã dành cho các nhà báo quốc tế một giờ  phỏng vấn về  chuyến viếng thăm Thụy Điển và một vài vấn đề khác. Sau đây là nội dung phần đầu bài phỏng vấn.

Mở đầu ông Greg Burke, Giám đốc phòng báo chí Toà Thánh, nói: Chúng con xin cám ơn và kính chào ĐTC.  ĐTC đã nói nhiều về việc các tôn giáo khác nhau “cùng bước đi”. Cả chúng ta cũng đã cùng đi với nhau, có người đây là lần đầu tiên. Chúng con có một nhà báo Thụy Điển. Con nghĩ là từ lâu rồi bây giờ mới có một nhà báo Thụy Điển cùng tháp tùng chuyến bay với ĐTC. Vì thế xin nhường lời cho chị Elin Swedenmark của hãng tin Thụy Điển “TT”.

Đáp: Trước hết tôi xin chào và cám ơn anh chị em về công việc anh chị em đã làm, và cái lạnh anh chị em đã phải chịu. Nhưng chúng ta đã khởi hành đúng giờ, vì người ta nói rằng chiều nay nhiệt độ sẽ xuống thêm 5 độ nữa. Chúng ta đã khởi hành đúng giờ. Xin cám ơn rất nhiều. Xin cám ơn anh chị em về sự đồng hành và về công việc của anh chị em.

Chị Elin Swedenmark hỏi:

Thưa ĐTC, hôm qua ĐTC đã nói về cuộc cách mạng của sự dịu hiền. Đồng thời chúng ta cũng ngày càng trông thấy nhiều người đến từ Siria hay Iraq tìm tỵ nạn tại các nước Âu châu. Nhưng một số người phản ứng với sự sợ hãi, hay tệ hơn có người nghĩ rằng các người tỵ nạn này có thể đe dọa nền văn hóa của Kitô giáo. Đâu là sứ điệp của ĐTC đối với những người lo sợ cho sự phát triển của tình trạng này, và đâu là sứ điệp ĐTC nhắn gửi Thụy Điển, là quốc gia có truyền thống dài tiếp đón người tỵ nạn, nhưng bây giờ bắt đầu đóng cửa biên giới của mình?

Đáp: Trước hết như là người Argentina và nam mỹ latinh tôi xin cám ơn nước Thụy Điển rất nhiều vì sự tiếp đón này, bởi vì có rất nhiều người Argentina, Chilê, Uruguay đã được tiếp nhận vào Thuỵ Điển trong thời các chế độ quân đội độc tài. Thụy Điển đã có một truyền thống lâu dài tiếp nhận người tỵ nạn. Nhưng không phải chỉ tiếp nhận thôi, mà còn hội nhập họ, tìm nhà cửa, trường học và công việc làm ngay cho họ, hội nhập họ vào cuộc sống của một dân tộc. Theo các thống kê người ta nói cho tôi – có lẽ tôi lầm, tôi không biết chắc – nhưng tôi có nhớ là – Thụy Điển có bao nhiêu dân? Chín triệu? Trong số 9 triệu đó có 850.000 người “Thuỵ Điển mới”, nghĩa là các người di cư hay tỵ nạn và con cái họ. Đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai, cần phải phân biệt người di cư và người tỵ nạn. Người di cư phải được đối xử với vài luật lệ nào đó, bởi vì di cư là một quyền, nhưng là một quyền được luật lệ xác định. Trái lại người tỵ nạn  đến từ một tình trạng chiến tranh, lo âu, đói khổ, một tình trạng kinh khủng, và quy chế tỵ nạn cần săn sóc họ nhiều hơn và cho họ công việc làm nhiều hơn. Cả trong điều này nữa Thụy Điển đã luôn luôn là một gương  mẫu trong việc lo lắng cho người tỵ nạn, được học tiếng, hiểu nền văn hóa, và hội nhập vào nền văn hóa. Liên quan tới khiá cạnh hội nhập các nền văn hóa chúng ta không có gì phải hoảng hốt, bởi vì Âu châu đã được tạo thành với một sự hội nhập liên tục của các nền văn hóa, biết bao nền văn hóa. Tôi tin rằng – điều này tôi không nói một cách xúc phạm, không đâu, nhưng như là một sự tò mò – sự kiện ngày nay tại Islen, một cách cụ thể một người Islen với tiếng Islen ngày nay, có thể đọc các tác giả cổ điển một ngàn năm trước mà không gặp khó khăn nào, có nghĩa nó là một nước có ít cuộc di cư, ít làn sóng di cư như Âu châu đã có. Âu châu đã được thành hình với các cuộc di cư. Thế rồi tôi nghĩ gì về những nước đóng cửa biên giới: tôi tin rằng trên lý thuyết không thể khép kín tâm lòng đối với một ngươi tỵ nạn, nhưng cũng cần sự thận trọng của giới lãnh đạo: họ phải rất rộng mở tiếp đón người tỵ nạn, nhưng cũng phải tính toán xem có thể ổn định người tỵ nạn như thế nào. Bởi vì không phải chỉ tiếp đón một người tỵ nạn mà thôi, nhưng cũng cần phải hội nhập họ nữa. Và nếu một nước có khả năng hội nhập 20 người thôi, chẳng hạn, thì hãy làm tới đó thôi. Một nước khác có khả năng nhiều hơn, thì làm nhiều hơn. Nhưng luôn luôn phải có con tim rộng mở: đóng cửa không phải là nhân đạo, đóng con tim không phải là nhân bản, và về lâu về dài phải tính sổ với điều đó. Ở đây là trả giá chính trị, cũng như phải trả giá chính trị khi không thận trọng trong các tính toán, nhận nhiều người hơn là số có thể hội nhập. Bởi vì đâu là nguy cơ khi một người tỵ nạn hay một người di cư – điều này có giá trị cho cả hai – không được hội nhập, không hội nhập được? Tôi xin được phép nói một từ có lẽ là một kiểu nói mới “họ bị ghetto hoá” – họ vào trong một ghetto, một khu vực đóng kín. Đó là một nền văn hóa không phát triển trong tương quan với nền văn hóa khác, điều này nguy hiểm. Tôi tin rằng cố vấn xấu đối với các quốc gia hướng tới chỗ đóng các biên giới là sự sợ hãi, và cố vấn tốt nhất là sự thận trọng. Tôi đã nói chuyện với một nhân viên chính quyền  Thụy Điển  trong các ngày này, và ông ta kể cho tôi nghe một vài khó khăn trong lúc này – điều này có giá trị cho câu hỏi cuối cùng  của chị – vài khó khăn, bởi vì có biết bao người tỵ nạn đến, nhưng không có thời giờ để định cư họ, tìm nhà ở, trường học và việc làm cho họ, để họ học tiếng. Sự cẩn trọng phải biết tính toán. Nhưng Thụy Điển, tôi không tin rằng nếu Thuỵ Điển giảm khả năng tiếp đón là vì ích kỷ hay vì đã đánh mất đi khả năng đó. Nếu có điều gì như thế, thì là vì điều cuối cùng tôi đã nói: ngày nay biết bao người nhìn vào Thuỵ Điển vì họ biết sự tiếp đón của nó, nhưng để sắp xếp, thì không có thời giờ thu xếp cho tất cả mọi người . Không biết tôi đã trả lời cho câu hỏi của chị chưa.

Ông Greg Burke nói. Xin cám ơn ĐTC bây giờ tới câu hỏi của đài truyền hình Thuỵ Điển: chị Anna Cristina Kappelin thuộc đài truyền hình Sveriges:

Hỏi: Thưa ĐTC, Thụy Điển đã đón tiếp cuộc gặp gỡ đại kết quan trọng, có một phụ nữ lãnh đạo Giáo Hội của nó, ĐTC nghĩ gì về điều này? Có cụ thể không, khi nghĩ tới các phụ nữ linh mục trong Giáo Hội công giáo, trong các thập niên tới đây? Nếu không thì tại sao? Các linh mục công giáo sợ sự cạnh tranh của phụ nữ linh mục hay sao?

Đáp: Khi đọc lịch sử của vùng đất mà chúng ta đã viếng thăm, tôi thấy đã có một hoàng hậu bị goá tới 3 lần, và tôi đã nói: “Bà này mạnh thật”. Và người ta đã nói với tôi rằng “Phụ nữ Thụy Điển rất là mạnh khỏe, rất giỏi, vì thế có nam giới Thụy Điển tìm một người phụ nữ thuộc quốc tịch khác”. Tôi không biết có đúng không! Liên quan tới việc truyền chức cho phụ nữ trong Giáo Hội Công Giáo lời cuối cùng rõ ràng đã là lời của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, và lời đó tồn tại. Điều này tồn tại. Về việc cạnh tranh thì tôi không biết…

Nếu chúng ta đọc kỹ lời tuyên bố của Đức Gioan Phaolô II, thì nó đi theo đường hướng này. Vâng. Nhưng các phụ nữ có thể làm biết bao nhiêu việc, tốt hơn nam giới. Và cả trong lãnh vực tín lý – để minh giải – có lẽ để có một sự rõ ràng hơn – không phải chỉ quy chiếu một tài liệu thôi –   trong giáo hội học công giáo có hai chiều kích: chiều kích Phêrô là chiều kích của các Tông Đồ – Phêrô và Đoàn Tông Đồ là mục vụ của các Giám Mục – và chiều kích thánh mẫu Maria là chiều kích nữ giới của Giáo Hội. Và điều này tôi đã nói hơn một lần rồi. Tôi tự hỏi, ai quan trọng hơn trong nền thần học và trong nền thần bí của Giáo Hội: các tông đồ hay Đức Maria, trong ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống? Đó là Đức Maria! Còn hơn thế nữa: Giáo Hội là phụ nữ. Đó là “La” Chiesa giống cái, chứ không phải “Il” Chiesa giống đực. Đó là Giáo Hội phụ nữ. Đó là Giáo Hội hiền thê của Chúa Giêsu Kitô. Đó là một mầu nhiệm phu thê. Và dưới ánh sáng của mầu nhiệm này người ta hiểu cái tại sao của hai chiều kích này: chiều kích phêrô, nghĩa là giám mục và chiều kích thánh mẫu Maria, với tất cả những gì là chức làm mẹ của Giáo Hội, nhưng trong nghĩa sâu thẳm nhất. Không có Giáo Hội mà không có chiều kích nữ giới  này, bởi vì Giáo Hội là nữ giới.

Ông Greg Burke nói bây giờ tới một câu hỏi của anh Austen Ivereigh, hỏi bằng tiếng Tây Ban Nha:

Hỏi: Thưa ĐTC, mùa thu này đã rất phong phú với các cuộc gặp gỡ đại kết với các Giáo Hội truyền thống: Chính Thống, Anh giáo, và bây giờ là Luther. Nhưng đa số các tín hữu tin lành trên thế giới thuộc truyền thống tin lành pentecostal… Con đã  nghe nói là vào ngày vọng lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống năm tới sẽ có biến cố cử hành 50 năm của Phong trào canh tân đặc sủng thánh linh tại Circo Massimo ở Roma. ĐTC đã đưa ra rất nhiều sáng kiến – có lẽ đây là lần đầu tiên đối với một Giáo Hoàng – trong năm 2014 với các vị lãnh đạo tin lành. Điều gì đã xảy ra với các sáng kiến này, và ĐTC chờ đợi có được điều gì nơi cuộc gặp gỡ vào năm tới?

Đáp: Với các sáng kiến này… Tôi đã có hai loại sáng kiến. Một sáng kiến tôi đã làm khi đến thăm nhà thờ đặc sủng Valdese tại Caserta, và trong cùng đường hướng này khi tôi thăm nhà thờ tin lành Valdese tại Torino. Đó là một sáng kiến nhằm sửa chữa và xin lỗi, vì một phần tín hữu của Giáo Hội Công Giáo đã không có cung cách hành xử theo tinh thần Kitô đối với các anh chị em tin lành. Và ở đó có việc xin lỗi và chữa lành một vết thương.

Sáng kiến kia đã là sáng kiến đối thoại, và điều này tôi đã làm ngay từ khi còn ở Buenos Aires. Chẳng hạn tại Buenos Aires  chúng tôi đã có 3 cuộc gặp gỡ tại Luna Park chứa được 7,000 người . Ba cuộc gặp gỡ giữa các tín hữu công giáo và tin lành trong đường hướng Canh Tân đặc sủng Thánh Linh, nhưng cũng rộng mở. Các cuộc gặp gỡ kéo dài suốt ngày: trong đó có các bài thuyết giảng của một mục sư, một giám mục tin lành và một linh mục hay một giám mục công giáo; hay cứ từng hai vị một, thay đổi nhau. Trong hai cuộc gặp gỡ này, nếu không phải là trong cả ba, nhưng chắc chắn là trong hai cuộc gặp gỡ  cha Cantalamessa là vị giảng thuyết của Toà Thánh đã thuyết giảng.

Tôi tin là điều này đã bắt nguồn từ các triều đại giáo hoàng trước, và từ khi tôi ở Buenos Aires, điều này đã sinh ích cho chúng tôi. Và chúng tôi cũng tổ chức các cuộc tĩnh tâm cho các mục sư và các linh mục chung với nhau, do các mục sư và một linh mục hay một giám mục thuyết giảng. Điều này trợ giúp rất nhiều cuộc đối thoại, sự thông cảm, việc xích lại gần nhau và hoạt động, nhất là trong việc trợ giúp người cần giúp đỡ. Cùng nhau và có sự kính trọng lớn giữa hai bên… Đó là các hoạt động tại Buenos Aires. Còn tại Roma tôi đã có nhiều cuộc họp với các mục sư, hai ba lần rồi. Một số vị tới từ Hoa Kỳ, các vị khác tới từ các nước Âu châu. Thế rồi có cuộc gặp gỡ mà anh đã nhắc tới đó là lễ của Phong trào canh tân đặc sủng thánh linh quốc tế, đuợc nảy sinh như là phong trào đại kết, vì thế đó sẽ là một cử hành đại kết được tổ chức tại Circo Massimo. Tôi dự kiến – nếu Chúa cho tôi còn sống – đến để phát biểu tại đại hội. Hình như đại hội kéo dài hai ngày, vì thế nó chưa có chương trình chi tiết. Tôi biết là nó sẽ bắt đầu ngày áp lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, và tôi sẽ phát biểu trong một lúc nào đó. Liên quan tới Phong trào canh tân đặc sủng thánh linh, từ “pentecostale” , tên gọi “thánh linh” ngày nay hàm hồ không rõ ràng, bởi vì nó quy chiếu nhiều điều, nhiều hiệp hội, nhiều cộng đoàn giáo hội không giống nhau, trái lại đối chọi nhau. Vì thế cần phải chính xác hơn. Nghĩa là nó phổ biến tới độ nó đã trở thành một từ hàm hồ. Đây là điều đặc biệt xảy ra bên Brasil, nơi phong trào được phổ biến rộng rãi.

Phong trào canh tân đặc sủng thánh linh nảy sinh, và một trong những người đầu tiến chống đối bên Argentina là người đang nói chuyện với anh chị em đây. Bởi vì hồi đó tôi là Giám tỉnh dòng Tên, khi phong trào bắt đầu nảy sinh, tôi đã cấm các tu sĩ của dòng liên lạc với phong trào. Và tôi đã nói công khai rằng khi cử hành thánh lễ thì phải cử hành phụng vụ, chứ không phải là “một trường dậy nhảy samba” Tôi đã nói như vậy. Và ngày nay tôi nghĩ ngược lại, khi mọi sự được làm một cách tốt đẹp.

Còn hơn thế nữa tại Buenos Aires hàng năm Phong trào canh tân đặc sủng thánh linh đều tổ chức thánh lễ trong nhà thờ chính toà, và mọi người tới tham dự. Vì thế tôi cũng đã kinh nghiệm được một tiến trình hiểu biết điều tốt, mà phong trào cống hiến cho Giáo Hội. Và không được quên gương mặt vĩ đại của ĐHY Suenens, là người đã có thị kiến ngôn sứ và đại kết liên quan tới phong trào.

Linh Tiến Khải

 

Ngày Năm Thánh dành cho tù nhân và người vô gia cư

Ngày Năm Thánh dành cho tù nhân và người vô gia cư

duc-phanxico-tham-cac-tu-nhan

Vatican – Ngày 6/11 tới đây, ngày năm thánh đặc biệt dành cho các tù nhân sẽ được cử hành tại Vatican với sự tham dự của đông đảo tù nhân và gia đình họ từ khắp nước Ý cũng như các quốc gia lân cận.

Hôm 3/11, trong buổi họp báo trình bày về ngày Năm thánh dành cho tù nhân cũng như ngày Năm Thánh dành cho người vô gia cư vào ngày 13/11, Đức Tổng Giám mục Rino Fisichella, chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh cổ võ tái truyền giảng Tin Mừng, đã nói: “Đây là lần đầu tiên mà một số đông các tù nhân từ các miền nước Ý và các nước khác hiện diện ở đền thờ Thánh Phêrô để cử hành Năm Thánh với Đức Giáo hoàng Phanxicô.”

Đức Tổng Fisichella cũng nói đến sự quan tâm đặc biệt của Đức Phanxicô dành cho các tù nhân; trong mỗi chuyến đi nước ngoài, Đức Phanxicô lập đi lập lại ý muốn viếng thăm các tù nhân và trao cho họ sứ điệp của sự gần gũi và hy vọng.”

Ngày Năm Thành các tù nhân nhắm đặc biệt đến các tù nhân và gia đình của họ, các nhân viên và các tuyên úy nhà tù, cũng như các hiệp hội trợ giúp hệ thống nhà tù. Đây là một phần trong Năm Thánh Lòng Thương xót được Đức Phanxicô  đề ra.

Hiện tại đã có 4000 người đăng ký tham dự ngày này, trong đó có 1000 tù nhân từ 12 quốc gia, bao gồm Anh, Ý, Latvia, Madagascar, Malaysia, Mêxicô, Hà lan, Tây ban nha, Hoa kỳ, Nam Phi, Thụy điển và Bồ đào nha. Cũng có một đoàn Tin lành Luther từ Thụy điển. Khoảng 50 tù nhân và cựu tù nhân đến từ Hoa kỳ.

Các tù nhân thuộc mọi án tù khác nhau, bao gồm tù nhân vị thành viên, tham dự sự kiện sẽ trao cho họ một tương lai và hy vọng hơn là kết án và thời hạn tù. Sẽ không có sự tham dự của các tử tù.

Các cử hành của ngày Năm thánh tù nhân bắt đầu vào thứ 7, 05/11, với việc chầu Thánh Thể và xưng tội tại một số nhà thờ ở Roma. Cuối cùng là hành trình tiến qua cửa Thánh.

Ngày Chúa nhật, 6/11, đền thờ Thánh Phêrô sẽ mở cửa lúc 7.30 sáng; lúc 9 giờ sẽ có các chứng từ của một số người tham dự. Phần chứng từ bao gồm chia sẻ của một tù nhân về kinh nghiệm hoán cải, trong đó nạn nhân cũng sẽ cùng trình bày với tù nhân mà họ đã hòa giải với nhau; một người anh của nạn nhân bị giết sẽ nói về lòng thương xót và tha thứ; một tù nhân trẻ đang thụ án và một cảnh sát nhà tù, người hàng ngày tiếp xúc với các tù nhân.

Sau Thánh lễ có buổi tiếp tân cử hành Lòng Thương xót tại đại thính đường Phaolô VI.

Phần trưng bày các sản phẩm được các tù nhân làm trong nhà tù đang được lên kế hoạch và sẽ được đặt tại lâu đài Thiên thần.

Trong Thánh lễ, chính các  tù nhân sẽ hướng dẫn phụng vụ. Mình Thánh được lãnh nhận trong Thánh lễ cũng do chính các tù nhân ở nhà tù Milan như một phần của chương trình “Ý nghĩa của Bánh” được tổ chức cho Năm Thánh Lòng Thương xót.

Đức Tổng Fisichella cho biết các tù nhân tham dự được các hội đồng Giám mục và tuyên úy nhà tù chon. Việc tham dự được Vatican đề nghị và việc họ tham dự là sự đáp lời mời của Đức Giáo hoàng. Ngài cũng cho biết là mỗi nước có luật riêng để lo liệu việc di chuyển các tù nhân.

Còn ngày dành cho các  người vô gia cư vào ngày 13/11 được tổ chức cho những người vì những lý do khác nhau, từ vấn đề kinh tế bấp bênh cho đến các bệnh tật khác nhau, từ sự cô đơn cho đến thiếu những liên hệ gia đình, họ có những khó khăn hòa nhập vào xã hội và thường chọn ở bên lề xã hội, không có nhà hay một nơi để sống. Đã có 6000 người từ các quốc gia trên thế giới ghi danh, bao gồm Pháp, Đức, Bồ đào nha, Anh, Tây ban nha, Ba lan, Hà lan, ý, Hunggari, Slovac, Crôát và Thụy sĩ.

Cử hành bắt đầu thứ 6, 11/11, với buổi yết kiến chung tại đại thính đường Phaolô VI, trong đó Đức giáo hoàng sẽ nghe các chứng từ và nói chuyện với họ, Các chứng từ cũng được trình bày tại các giáo xứ ở quanh Roma. Ngày thứ 7, 12/11, buổi canh thức tại đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, và các người tham dự sẽ đi qua cửa Thánh. Tối đó một buổi hòa nhạc được tổ chức tại đại thính đường Phaolô VI. Sự kiện được kết thúc với Thánh lễ do Đức giáo hoàng cử hành vào Chúa nhật 13/11. Vào ngày này, cửa Năm Thánh tại 3 đền thờ Đức Bà Cả, Gioan Laterano và Phaolô ngoại thành, và tại các giáo phận trên thế giới sẽ được đóng. Cửa Thánh ở đền thờ Thánh Phêrô sẽ được đóng vào ngày 20/11.

Đức Tổng Fisichella nhận định là hai ngày Năm Thánh dành cho tù nhân và  dành cho người vô gia cư sẽ được sống với cùng sự sốt sắng và kinh nghiệm cầu nguyện mà chúng ta đã thấy trong suốt Năm Thánh. (CNA 02/11/2016)

Hồng Thủy

Kitô hữu Iraq quyết định trở về quê nhà

Kitô hữu Iraq quyết định trở về quê nhà

duc-tong-bashar-warda

Đức Tổng giám mục Bashar Warda của Erbil cho biết là 100 ngàn người Iraq tản cư đã bắt đầu chuẩn bị trở về các tình thành cổ kính ở bình nguyên Ninivê. Tuy thế Đức cha Warda nhấn mạnh đến tình trạng khó khăn của các Kitô hữu khi trở về các vùng gần Mosul, nơi lực lượng nhà nước Hồi giáo vẫn chiếm giữ và ngài cho biết các tín hữu quê quán tại đây vẫn hy vọng một ngày nào đó họ sẽ có thể trở về.

Trả lời phỏng vấn của Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội đau khổ, Đức cha cho biết dân chúng vẫn chưa trở về Ninivê bởi vì các hoạt động an ninh ở Mosul và kế hoạch tái thiết. Nhưng chắc chắn họ sẽ trở về khi tình hình an ninh. Dân chúng đang chuẩn bị. Họ đã cử hành các nghi lễ và cầu nguyện Một số Linh mục đi đến các vùng được giải phóng. Dân làng và các Linh mục hát các bài thánh ca vinh danh Thánh giá.

Đức cha cũng nhìn nhận có nhiều khó khăn cản trở cần vượt qua trước khi dân di tản ở Erbilvà các nơi có thể thực sự trở về quê quán ở Ninivê.

Đức cha lo ngại cho tình hình khó khăn của Mosul nơi cần có sự an ninh, gỡ bỏ các dụng cụ gây nổ và tái thiết lại khu vực.

Đức cha cám ơn Tổ chức Trợ giúp các Giáo hội đau khổ đã cung cấp thực phẩm, thuốc men, nơi cư trú và trường học từ khi dân chúng rời bỏ Ninivê và Mosul vào hè năm 2014. Ngài cũng kêu gọi trợ giúp việc xây dựng lại trường học, nhà cửa cho các gia đình Công giáo và các nhà thờ ở bình nguyên Ninivê đã bị các cuộc không kích phá hủy. (Catholic Herald 02/11/2011)

Hồng Thủy

Đức Thánh Cha dâng lễ cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời

Đức Thánh Cha dâng lễ cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời

thanh-le-tai-nghia-trang-prima-porta-02-11-2016

Ngày mồng 2 tháng 11 toàn thể Giáo hội tưởng nhớ và cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời. Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự Thánh lễ vào 4h chiều tại Nghĩa trang Prima Porta của Roma, cách Thành Vatican 15km về phía bắc. Trước Thánh lễ, Đức Thánh Cha đăng trên tweet lời mời gọi cầu nguyện ngay cả cho “những người đã qua đời mà không còn ai nhớ tới”.

Chia sẻ trong Thánh lễ, Đức Thánh Cha nói: nhớ về những người quá cố với niềm hy vọng vào sự phục sinh.

Nỗi buồn và niềm hy vọng

Ông Gióp đã đi trong bóng tối khi ông cận kề cái chết. Trong giây phút đau khổ đau đớn, ông tuyên xưng niềm hy vọng: “Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn sống, và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất! … Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Người, Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải người xa lạ” (Gióp 19:25.27).

Khi tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố, có hai ý nghĩa. Một là cảm giác buồn bã: nghĩa trang gợi nhớ sự buồn bã, buồn vì những người thân yêu của chúng ta đã ra đi, cũng buồn bã khi nghĩa trang gợi nhắc tương lai về cái chết của mỗi người. Thế nhưng, trong nỗi buồn này, chúng ta mang theo những bó hoa gợi nhắc dấu chỉ niềm hy vọng. Như thế, nỗi buồn và niềm hy vọng đan xen nhau. Và đây là tất cả những gì chúng ta cảm thấy trong ngày hôm nay: một ký ức về những người thân yêu, và hướng tới niềm hy vọng.

Hy vọng vào sự phục sinh

Chúng ta cảm thấy rằng, niềm hy vọng này nâng đỡ chúng ta, bởi vì tất cả chúng ta đều phải làm cuộc hành trình này. Tất cả chúng ta sẽ trải qua hành trình này. Kẻ trước người sau, đau buồn ít hay nhiều, nhưng là tất cả mọi người. Thế nhưng chúng ta có bông hoa của niềm hy vọng, niềm hy vọng đặt nơi cái neo của sự phục sinh.

Người đầu tiên đã làm điều này, người đầu tiên đã phục sinh là Chúa Giêsu. Chúng ta bước đi trên con đường mà Người đã đi. Người mở cửa cho chúng ta, và cánh cửa là chính Người. Với Thập giá, Chúa Giêsu mở ra cánh cửa hy vọng cho chúng ta để chúng ta sẽ ở nơi chiêm ngưỡng Thiên Chúa. “Tôi biết rằng Đấng bênh vực tôi vẫn sống, và sau cùng, Người sẽ đứng lên trên cõi đất! … Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Người, Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải người xa lạ.”

Hôm nay chúng ta trở về nhà với hai điều khắc ghi: một kí ức về quá khứ về những người thân yêu của chúng ta đã qua đời, và một niềm hy vọng về tương lai về con đường mà chắc chắn chúng ta sẽ đi. Cùng với sự đảm bảo chắc chắn từ lời hứa của Chúa Giêsu: “Ta sẽ cho kẻ ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6:40).

Tứ Quyết SJ

Nên thánh là ơn gọi của tất cả mọi kitô hữu

Nên thánh là ơn gọi của tất cả mọi kitô hữu

dtc-phanxico-nhan-le-vat-trong-thanh-le-cu-hanh-tai-san-van-dong-malmoe-ben-thuy-dien-sang-1-11-2016

Nên thánh là ơn gọi của tất cả mọi kitô hữu. Các Mối Phúc Thật diễn tả gương mặt của Chúa Giêsu và là con đường nên thánh, trong đó có sự hiền dịu diễn tả tình yêu thương của Ngài, làm cho chúng ta giống Ngài và loại bỏ tất cả những gì chia rẽ khiến cho chúng ta chống đối nhau, để tiến bước trên con đường hiệp nhất

ĐTC Phanxicô đã nói như trên trong thánh lễ cử hành lúc 9 giở 30 sáng mùng 1 tháng 11 lễ các Thánh Nam Nữ tại vận động trường Malmoe bên Thuỵ Điển.

Thư hai mừng 1 tháng 11 là ngày thứ hai ĐTC viếng thăm Thụy Điển. Ngài đã chỉ có một sinh hoạt duy nhất là cử hành thánh lễ cho tín hữu công giáo tại sân vận động Swedbank Malmoe và sau đó từ biệt Thuỵ Điển để trở về Roma.

Lúc 8 giờ rưỡi sáng ĐTC từ giã trung tâm đại  học giải phẫu tim mạch Igeloesa để đi xe tới sân vận động Swedbank, cách đó 3 cây số, dâng thánh lễ kính các Thánh cho tín hữu công giáo. Sân túc cầu này đã được xây năm 2007 và khánh thành năm 2009, thay thế cho sân vận động Malmoe, trụ sở lịch sử của đội banh của thành phố này có từ năm 1958. Sân vận động có chỗ cho 18.000 người. ĐTC đã được tín hữu nồng nhiệt tiếp đón. Ngài hôn các em bé và người tàn tật giữa tiếng hô và vỗ tay của giới trẻ “Papa Francesco”.

Khán đài nơi cử hành thánh lễ mầu trắng, được trang hoàng với các chậu hoa mầu trắng và mầu vàng. Cùng đồng tế thánh lễ với ĐTC có khoảng 15 Hồng Y, Giám Mục và hơn ba trăm Linh Mục,trong đó có mấy Linh Mục Việt Nam. Thánh lễ trọng kính các Thánh Nam Nữ được cử hành bằng tiếng Latinh và tiếng Thụy Điển. Các lời nguyện giáo dân đã được đọc bằng các thứ tiếng Tây Ban Nha, Thụy Điển, Ả Rập, Anh, Đức và Ba Lan.

Giảng trong thánh lễ ĐTC khẳng định rằng nên thánh là ơn gọi của tất cả mọi kitô hữu. Các Mối Phúc Thật diễn tả gương mặt của Chúa Giêsu và là con đường nên thánh, trong đó có sự hiền dịu diễn tả tình yêu thương của Ngài, làm cho chúng ta giống Ngài và loại bỏ tất cả những gì chia rẽ khiến cho chúng ta chống đối nhau, để tiến bước trên con đường hiệp nhất.

Khi mừng kính các Thánh chúng ta không chỉ tưởng nhớ các vị đã được tôn phong hiển thánh trong dòng lịch sử, nhưng cũng tưởng niệm biết bao anh chị em đã sống cuộc đời kitô trong đức tin tràn đầy và tình yêu qua cuộc sống đơn sơ và kín ẩn. Chắc chắn trong số đó có nhiều người thân, bạn bè quen thuộc của chúng ta. ĐTC nói:

 

Như thế ngày hôm nay chúng ta cử hành lễ của sự thánh thiện. Sự thánh thiện mà đôi khi không lộ hiện trong các công trình to lớn hay các thành công ngoại thường, nhưng biết sống một cách trung thành mỗi ngày các đòi hỏi của bí tích Rửa Tội. Một sự thánh thiện được làm bằng tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Tình yêu trung tín cho tới chỗ quên chính mình để tận hiến hoàn toàn cho các người khác, như cuộc sống của các bà mẹ, các người cha hy sinh cho gia đình, bằng cách biết sẵn sàng từ bỏ biết bao nhiêu điều, và biết bao dự tính hay các chương trình riêng, mặc dù đó không luôn luôn là điều dễ dàng.

Nhưng nếu có điều gì đó định tính các thánh, thì đó là các vị thực sự là những người có phúc. Các ngài đã khám phá ra bí mật của niềm hạnh phúc đích thật, ở sâu trong tâm hồn và bắt nguồn từ tình yêu của Thiên Chúa. Vì thế các thánh được gọi là các người có phúc. Các Mối Phúc Thật là con đường, là đích điểm là quê hương của các ngài. Các Mối Phúc Thật là con đường cuộc sống mà Chúa chỉ cho chúng ta, để chúng ta có thể theo vết chân Ngài. Trong Tin Mừng hôm nay, chúng ta đã lắng nghe Chúa Giêsu công bố chúng như thế nào trước một đám đông trên một ngọn núi gần hồ Galilea.

Tiếp tục bài giảng ĐTC nói: Các Mối Phúc Thật là gương mặt của Chúa Kitô và vì thế là gương mặt của kitô hữu. Trong các Phúc Thật ấy tôi muốn minh nhiên “Phúc cho những kẻ hiền dịu”. Chính Chúa Giêsu nói Ngài là người hiền dịu: “Các con hãy học cùng Thầy, là người hiền dịu và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29). Đó là nét tinh thần của Ngài và nó vén mở cho chúng ta thấy tình yêu phong phú của Ngài. ĐTC giải thích sự hiền dịu như sau:

Sự hiền dịu là một kiểu hiện hữu và sống đưa chúng ta tới gần Chúa Giêsu và hiệp nhất giữa chúng ta với nhau; nó làm cho chúng ta từ bỏ tất cả những gì chia rẽ, làm cho chúng ta đối nghịch nhau, và khiến cho chúng ta luôn luôn tìm các phương thế mới để tiến triển trên con đường hiệp nhất, như các người con nam nữ của vùng đất này đã làm, trong đó có thánh nữ Maria Elidabétta Hasselblad, mới được phong thánh, và thánh nữ Brigida, Brigitta Vadstena, đồng Bổn Mạng Âu châu. Các ngài đã cầu nguyện và làm việc để thắt các mối dây hiệp nhất và hiệp thông giữa các kitô hữu. Có một dấu chỉ rất hùng hồn đó là chính tại đây, trong quê hương của các ngài được định tính bởi sự chung sống của các dân tộc rất khác nhau, chúng ta đang cùng nhau tưởng niệm 500 năm Cải Cách. Các Thánh có được các thay đổi nhờ sự hiền dịu của con tim. Với sự hiền dịu chúng ta hiểu  sự cao cả của Thiên Chúa và chúng ta thờ lậy Ngài với lòng chân thành. Ngoài ra đó cũng là thái độ của người không có gì để mất, bởi vì sự giầu có duy nhất của họ là Thiên Chúa.

ĐTC nói thêm trong bài giảng: Các Mối Phúc Thật trong một kiểu nào đó là thẻ căn cước của kitô hữu, nhận diện họ như là người theo Chúa Giêsu. Chúng ta được mời gọi là những người có phúc, môn đệ của Chúa Giêsu, bằng cách đương đầu với các khổ đau và âu lo trong thời đại chúng ta với tinh thần và tình yêu của Chúa Giêsu. Trong nghĩa đó chúng ta sẽ có thể chỉ cho thấy nhiều tình trạng mới giúp sống chúng với tinh thần canh tân và luôn luôn thời sự: phúc cho những người chịu đựng với lòng tin những sự dữ mà người khác gây ra cho họ và sẵn sàng tha thứ; phúc cho những người nhìn vào mắt những ngưòi bị loại bỏ và gạt ra bên lề, bằng cách cho họ thấy sự gần gũi; phúc cho những ai nhận ra Thiên Chúa nơi từng người  và chiến đấu để cho người khác cũng nhận ra như vậy; phúc cho những ai che chở và săn sóc căn nhà chung; phúc cho những ai từ bỏ sự giầu sang của mình vì thiện ích của người khác; phúc cho những ai cầu nguyện và làm việc cho sự hiệp thông tràn đầy của các kitô hữu. Tất cả những người đó là những người mang lòng thương xót và sự hiền dịu của Thiên Chúa, và chắc chắn họ sẽ nhận được từ Ngài phần thưởng xứng đáng.

Anh chị em thân mến, ơn gọi nên thánh là cho tất cả mọi người  và cần nhận lãnh nó từ Chúa với tinh thần đức tin. Các Thánh khích lệ chúng ta với cuộc sống và lời bầu cử của các vị bên Thiên Chúa, và chúng ta cần nhau để trở nên thánh. Chúng ta hãy cùng nhau xin ơn biết tiếp nhận lời mời gọi này với niềm vui và hiệp nhất làm việc để đưa nó tới chỗ thành toàn. Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ Thiên Quốc, Nữ Vương các Thánh, các ý chỉ của chúng ta và cuộc đối thoại để tìm ra sự hiệp nhất trọn vẹn giữa tất cả mọi kitô hữu, để chúng ta được chúc phúc trong các nỗ lực của chúng ta và đạt tới sự thánh thiện trong hiệp nhất.

Vào cuối thánh lễ trước khi đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành cho tín hữu ĐTC đã cám ơn ĐC Anders Arborelius GM Stockholm, vị chủ tịch và tổng thư ký Liên hiệp Luther thế giới và ĐTGM của Giáo Hội Thụy Điển cũng như ngoại giao đoàn và tất cả những ai hiệp ý trong buổi cử hành Thánh Thể này. Ngài đặc biệt cám tạ Thiên Chúa đã cho ngài có thể đến thăm vùng đất này và gặp gỡ mọi người, có người đến từ nhiều nơi trên thế giới. Như là tín hữu công giáo chúng ta là thành phần của một đại gia đình, được nâng đỡ bởi cùng một sự hiệp thông. Tôi khích lệ anh chị em sống đức tin của anh chị em trong lời cầu nguyện, trong các Bí Tích và việc quảng đại phục vụ những người đau khổ và cần được giúp đỡ. Tôi cũng khích lệ anh chị em là muối và ánh sáng trong các tình trạng sống của anh chị em, với kiểu hiện hữu và hành động theo kiểu của Chúa Giêsu và với sự kính trọng lớn lao đối với tất cả những người thiện chí. Trong cuộc sống chúng ta không cô đơn, nhưng luôn luôn có sự trợ giúp và đồng hành của Đức Trinh Nữ Maria, mà hôm nay được giới thiệu với chúng ta như vị đầu tiên giữa các Thánh, môn đệ đầu tiên của Chúa. Chúng ta phó thác cho sự che chở của Mẹ và chúng ta dâng lên Mẹ các vui buồn, âu lo và khát vọng của chúng ta. Chúng ta tất cả hãy đặt mình dưới sự chở che của Mẹ, với sự chắc chắn rằng Mẹ nhìn chúng ta và lo lắng cho chúng ta với tình hiền mẫu. ĐTC xin mọi người đừng quên cầu nguyện cho ngài. Tiếp đến ngài đọc Kinh Truyền Tin rồi ban phép lành cho mọi người.

Sau khi từ gĩa tín hữu lúc 11 giờ 45 ĐTC đã đi xe tới phi trường Malmoe cách đó 29 cây số, để đáp máy bay trở về Roma.

Bà Alice Bah-Kuhnke, bộ trưởng Văn hóa và Dân chủ đã tiếp đón ĐTC tại phòng khách của phi trường. Tiếp đến hai vị đã đi bộ tới nơi diễn ra buổi lễ tạm biệt và hai phái đoàn chào nhau.

Máy bay chở ĐTC đã cất cánh lúc 12 giờ 45 và bay qua không phận của các nước Thụy Điển, Đức, Áo và Italia. ĐTC  đã về tới phi trường Ciampino sau 2 giờ 45 phút bay kết thúc chuyến viếng thăm Thụy Điển hai ngày và cũng là chuyến công du thứ 17 của ĐTC ngoài Italia.

Linh Tiến Khải

 

Đức Thánh Cha tham dự cuộc gặp gỡ đại kết tại Malmoe

Đức Thánh Cha tham dự cuộc gặp gỡ đại kết tại Malmoe

duc-thanh-cha-tham-du-cuoc-gap-go-dai-ket-tai-malmoe

MALMOE. Chiều ngày 31-10-2016, ĐTC Phanxicô đã cùng với 10 ngàn người tham dự buổi gặp gỡ đại kết tại Malmoe, phần 2 của ngày tưởng niệm cuộc cải cách của Tin Lành Luther.

 

 Malmoe có 323 ngàn dân cư ở miền cực nam Thụy Điển và cách thành phố Lund 28 cây số. Khi từ Lund tới đây vào lúc gần 4 giờ rưỡi chiều, ĐTC đã cùng với ĐGM Chủ tịch và Mục Sư Tổng thư ký Liên Hiệp Luther đã dùng xe nhỏ đi vòng quanh sân bóng đá Swetsbank để chào tất cả mọi người hiện diện.

Những tín hữu tham dự buổi sinh hoạt đại kết ở sân vận động này đã đăng ký trước và trả tiền vé là 120 đồng Thụy Điển, tương đương với 13 Euro. Số tiền dư sẽ được dùng đề giúp đỡ người tị nạn chiến tranh Siria.

Sinh hoạt đại kết diễn ra với phần trình bày 4 chứng từ, trước khi Đức GM Younan ngỏ lời với mọi người.

Diễn văn của ĐTC

Trong diễn văn nhân dịp này, ĐTC cám tạ Chúa vì buổi lễ kỷ niệm chung 500 năm cuộc cải cách mà chúng ta đang sống trong một tinh thần đổi với và với ý thức rằng sự hiệp nhất giữa các tín hữu Kitô là một ưu tiên, vì chúng ta nhìn nhận giữa chúng ta điều liên kết vẫn nhiều hơn những điều làm chúng ta chia rẽ. Ngài nói:

“Nguyên con đường chúng ta đi để đạt tới hiệp nhất đã là một hồng ân lớn lao Chúa ban cho chúng ta, và nhờ ơn phù trợ của Chúa, chúng ta ở đây hôm nay, Luther và Công Giáo, trong tinh thần hiệp thông, để nhìn lên Chúa duy nhất của chúng ta là Đức Giêsu Kitô.

Cuộc đối thoại giữa chúng ta đã giúp đào sâu sự cảm thông lẫn nhau, tạo nên sự tín nhiệm này, và củng cố ước muốn tiến bước về sự hiệp thông trọn vẹn. Một trong những thành quả cuộc đối thoại này là sự cộng tác giữa các tổ chức khác nhau thuộc Liên hiệp Tin Lành Luther thế giới với Giáo Hội Công Giáo. Nhờ bầu không khí cộng tác mới mẻ này, ngày hôm nay Caritas quốc tế và Dịch vụ thế giới của Liên hiệp Tin Lành Luther thế giới sẽ ký tuyên ngôn chung về các hiệp định, với mục đích phát triển và củng cố một nền văn hóa cộng tác để thăng tiến phẩm giá con người và công bằng xã hội”.

Tiếp đến ĐTC lần lượt nhắc đến và khích lệ, cám ơn 4 người đã trình bày chứng– Trước tiên của cô Pranita Biswasi, 26 tuổi người Ấn độ, đã dấn thân chống lại bất công làm ô nhiễm và gây hại cho thiên nhiên, chống lại những lạm dụng đối với trái đất.

-Tiếp đến là Đức ông Hector Garivia, giám đốc Caritas Colombia, người ta trình bày về công việc chung mà các tín hữu Luther và Công Giáo thực hiện ở Colombia. ĐTC nói: Thật là tin vui khi biết các tín hữu Kitô liên kết với nhau để tạo nên những tiến trình cộng đoàn và xã hội chung với nhau để phục vụ công ích.

– Thứ ba là chứng từ của bà Marguerite Barankitse, người Burundi đã can đảm chấp nhận nhận 7 người con nuôi trong thời nội chiến ở nước này. Bà đã giấu kín 7 người con ấy và 25 trẻ mồ côi khác, săn sóc cho các em. Bà coi sứ mạng của bà là săn sóc giúp đỡ các trẻ em bị bỏ rơi, giúp các em học hành và tăng trưởng.

Sau cùng là cô Rose Lokonyen, một thiếu nữ tị nạn thuộc toán tham dự thế vận hội Olimpic. Cô đã tận dụng tài năng Chúa ban qua thể thao. Thay vì phí phạm sức lực trong những nghịch cảnh, cô đã dùng nó trong một cuộc sống phong phú. ĐTC nói: ”bao nhiêu người trẻ khác cũng đang cần chứng tá của cô. Nhân dịp này tôi cám ơn tất cả cac chính phủ đang giúp đỡ những người di dân và tị nạn, vì mỗi hoạt động bênh vức những người đang cần được bảo vệ chính là một cử chỉ liên đới và nhìn nhận phẩm giá của họ.“

ĐTC cũng mời gọi mọi người nghe chứng từ tiếp đó của Đức Cha Antoine Audo, dòng Tên, thuộc Giáo Hội Công Giáo Canđê, GM tại thành Aleppo Siria, nơi dân chúng đang kiệt quệ vì chiến tranh, các quyền cơ bản của họ bị chà đạp.. Giữa những tàn phá đau thương ấy thật là anh hùng những người ở lại đó để giúp đỡ tinh thần và vật chất cho những ai đang cần.

Cuối buổi gặp gỡ đại kết vào lúc quá 6 giờ chiều, ĐTC đã ban phép lành cho mọi người trước khi cùng với ĐHY Koch chào thăm riêng 30 vị thủ lãnh của các phái đoàn Kitô tại phòng khánh tiết của sân bóng đá, trước khi trở về Trung tâm đại học y khoa Igeloesa cách đó 43 cây số để vùng bữa tối và qua đêm.

G. Trần Đức Anh OP 

 

Tuyên ngôn chung Công Giáo và Tin Lành Luther

Tuyên ngôn chung Công Giáo và Tin Lành Luther

tuyen-ngon-chung-cong-giao-va-tin-lanh-luther

Tuyên ngôn được ĐGH và Đức TGM Chủ tịch Liên hiệp Tin Lành Luther ký vào cuối buổi cầu nguyện tưởng niệm 500 cuộc cải cách cử hành tại Nhà thờ chính tòa Lund, Thụy Điển, chiều ngày 31-10-2016.

Tuyên ngôn có đoạn viết: ”Với tuyên ngôn chung này, chúng tôi, các tín hữu Công Giáo và Luther, bày tỏ lòng biết ơn vui mừng đối với Thiên Chúa vì ơn được cầu nguyện chung tại Nhà thờ Chính tòa Lund nhân dịp khai mạc năm kỷ niệm 500 năm cuộc Cải Cách. 50 năm đối thoại đại kết song phương liên tục và có thành quả giữa Công Giáo và Luther đã giúp vượt thắng nhiều khác biệt và đã kiến tạo sự cảm thông lẫn nhau và tín nhiệm giữa chúng tôi. Đồng thời chúng tôi đã tiến đến gần nhau trong việc cùng phục vụ những người thân cận của chúng tôi, thường ở trong bối cảnh đau khổ và bị bách hại. Vì thế, qua đối thoại và cùng làm chứng tá, chúng tôi không còn là những người xa lạ nữa. Trái lại, chúng tôi đã học biết rằng có nhiều điều liên hết chúng tôi hơn là những điều chia rẽ.

”Đáp lại 5 điều quyết tâm, chúng tôi sẽ tiếp tục theo đuổi cuộc đối thoại của chúng tôi để loại bỏ những chướng ngại còn tồn đọng cản trở chúng tôi tiến đến sự hiệp nhất trọn vẹn. Đặc biệt chúng tôi dấn thân tìm kiếm những con đường vượt thắng sự phân hóa trong Thân Mình Chúa Kitô và đáp lại sự đói khát thiêng liêng của các cộng đồng chúng tôi để được nên một tại Bàn Thánh Thể. Đó là mục đích nỗ lực đại kết của chúng tôi.

”Chúng tôi kêu gọi tất cả các cộng đồng Công Giáo và Luther địa phương và những người đối tác đại kết của chúng tôi hãy cản đảm và có tinh thần sáng tạo, vui tươi và hy vọng trong quyết tâm của họ dấn thân trong hành trình tuyệt vời này trước mặt chúng ta.”

Đức Giáo Hoàng Phanxicô và Đức Giám Mục Younan Chủ tịch Liên hiệp Tin Lành Luther thế giới đã ký tuyên ngôn chung, và giơ cao cho mọi người hiện diện. Toàn thể mọi người đã nhiệt liệt vỗ tay hưởng ứng, trong đó có cả Quốc vương và Hoàng hậu Thụy Điển.

G. Trần Đức Anh OP

Đức Thánh Cha tham dự lễ tưởng niệm 500 năm cuộc Cải Cách

Đức Thánh Cha tham dự lễ tưởng niệm 500 năm cuộc Cải Cách

duc-thanh-cha-tham-du-le-tuong-niem-500-nam-cuoc-cai-cach

LUND. Ngày 31-10-2016, ĐTC đã đến thành phố Lund, Thụy Điển, để cùng với Liên hiệp Tin Lành Luther thế giới tưởng niệm 500 năm cuộc cải cách của Martin Luther.

Liên hiệp này hiện qui tụ 145 Giáo Hội Tin Lành Luther tại 98 quốc gia trên thế giới với tổng số 74 triệu tín đồ.

Lễ tưởng niệm có chủ đề là ”Từ xung đột đến hiệp thông – Liên kết trong hy vọng” và diễn ra tại Nhà thờ chính tòa giáo phận Lund. Việc tham dự lễ tưởng niệm cũng là chủ đích nguyên thủy và chính yếu chuyến viếng thăm đại kết của ĐTC tại Thụy Điển. Sau đó chương trình được kéo dài với thánh lễ ngài cử hành cho cộng đoàn Công Giáo Thụy Điển sáng ngày 1-11-2016, lễ Các Thánh.

Thụy Điển rộng với 450 ngàn cây số vuông và dân số gần 9 triệu 750 ngàn dân, đa số theo Tin Lành Luther, vốn là quốc giáo tại Thụy Điển cho đến năm 2000.

Giáo Hội Công giáo chỉ được tái lập vào cuối thế kỷ 18 tại Thụy Điển và các tín hữu chỉ được hành đạo riêng tư. Hiện nay, Cộng đoàn Công Giáo tại đây họp thành một giáo phận duy nhất là giáo phận Stockholm với 115 ngàn tín hữu có đăng ký và con số thực tế nhiều gấp đôi nếu kể cả những người không đăng ký. Họ thuộc 44 giáo xứ do 127 LM coi sóc, cùng với 30 phó tế vĩnh viễn và 168 nữ tu, theo niên giám mới nhất của Tòa Thánh..

Giáo Hội Công Giáo tại Thụy Điển là Giáo Hội gồm những người nhập cư với khoảng hơn 80 ngôn ngữ khác nhau trong các giáo xứ. Các thứ tiếng có nhiều tín hữu nhất là Arập, Eritreo, Croat, Ba Lan, Sloveni, Ucraina và Việt Nam. Hơn 80% các tín hữu Công Giáo tại nước này là người nhập cư hoặc con cái của những người nhập cư. Có một số nhỏ là người Tin Lành Thụy Điển trở lại Công Giáo.

Buổi cầu nguyện đại kết tưởng niệm

ĐTC đã từ Roma bay tới phi trường thành phố Malmoe, có 323 ngàn dân cư, lúc gần 11 giờ sáng ngày 31-10 và được thủ tướng Stefan Loefven, cùng với bà Bộ trưởng văn hóa và dân chủ, Alice Bah-Kuhnke, đón tiếp cùng với một số vị lãnh đạo tôn giáo, đặc biệt là các GM Công Giáo Bắc Âu và một số thành viên Liên Hiệp tin lành Luther thế giới.

Lúc quá một giờ rưỡi trưa, ĐTC đã đến hoàng cung Kunghuset ở thành phố Lund, để gặp gỡ hoàng gia với vua Carl XVI Gustav và hoàng hậu Silvia. Tiếp đến ngài đến Nhà thờ chính tòa giáo phận Lund để tham dự buổi tưởng niệm cuộc cải cách.

Lund chỉ có 82 ngàn dân cư, được chọn làm nơi cử hành buổi lễ tưởng niệm, vì đây là nơi các Giáo Hội Tin Lành Luther trên thế giới đã nhóm họp năm 1947 để thành lập Liên Hiệp Tin Lành Luther thế giới, năm tới là kỷ niệm 70 năm thành lập. Ngày 31-10 được chọn để nhắc lại ngày cải cách: 31-10 năm 1517, Martin Luther yết thị 95 mệnh đề của ông tại cửa Nhà thờ lâu đài Wittemberg bên Đức.

Nhà thờ chính tòa giáo phận Lund rất cổ kính, có từ hơn 1 ngàn năm nay, được xây cất hồi năm 1080. Khi đến nay, lúc gần 2 giờ 30, ĐTC đã được bà TGM Antje Jackelén, giáo chủ Tin Lành Luther Thụy Điển và Đức GM Công Giáo Anders Arborelius của giáo phận Stockholm chào đón tại cửa thánh đường và cùng đi rước tiến lên bàn thờ chính. Cùng thuộc đoàn rước này có các đại diện của Liên hiệp Luther thế giới.

Trong số 600 khách mời hiện diện tại buổi cầu nguyện có hoàng gia Thụy Điển và chính quyền nước này.

Trong buổi cầu nguyện, hai đại diện của Tin Lành Luther và Công Giáo đã nhìn nhận những đau thương các tín hữu hai Giáo Hội đã gây ra cho nhau trong lịch sử và cầu xin ơn tha thứ của Chúa.

Sau các bài đọc sách thánh, là bài giảng của Mục Sư Martin Junge, Tổng thư ký Liên Hiệp Tin Lành Luther thế giới. Mục sư diễn giải ý nghĩa bài đọc Tin Mừng theo thánh Gioan về lời Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ ở lại trong Người như nhánh gắn vào thân cây nho.

Mục Sư Tổng thư ký

Mục sư Junge nói: Khi thấy Chúa Giêsu Kitô ở giữa chúng ta, chúng ta bắt đầu nhìn nhau một cách khác. Chúng ta nhìn nhận có rất nhiều điều liên kết chúng ta hơn là những điều chia rẽ. Chúng ta là một trong bí tích rửa tội. .. Chúng ta họp nhau nơi đây và sẵn sàng tái khám phá chúng ta là ai trong Chúa Kitô. .. Phép rửa tội là lời loan báo ngôn sứ chữa lành và hiệp nhất giữa thế giới bị tổn thương của chúng ta, nhờ đó biến thành một hồng ân hy vọng giữa một cộng đoàn nhân loại khao khát sống an bình trong công lý và trong sự khác biệt được hòa giải. Thật là một mầu nhiệm sâu xa dường nào: điều mà các dân tộc và cá nhân đang sống trong những tình trạng bạo lực và áp bức đang kêu gào cũng là điều phù hợp với điều mà Thiên Chúa nói nhỏ vào tai chúng ta qua Chúa Giêsu Kitô, là gốc nho đích thực mà chúng ta được gắn liền vào. Khi kết hiệp với gốc nho ấy, chúng ta sẽ mang lại hoa trái an bình, công lý, hòa giải, thương xót và liên đới mà dân Chúa đang cầu xin và Thiên Chúa tạo nên.

Bài giảng của ĐTC

Về phần ĐTC, trong bài giảng, ngài đi từ câu Chúa Giêsu nói với các môn đệ trong bữa Tiệc Ly: ”Các con hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở trong các con” (Ga 15,4) để nói lên ước muốn này: Cũng như Chúa Giêsu hiệp nhất với Chúa Cha, cả chúng ta cũng phải hiệp nhất với Chúa nếu chúng ta muốn mang lại hoa trái. Ngài nói:

”Trong cuộc gặp gỡ cầu nguyện này ở thành Lund này, chúng ta muốn biểu lộ ước muốn chung của chúng ta hiệp nhất với Chúa để có sự sống. Chúng ta cầu xin: ”Lạy Chúa, xin giúp chúng con bằng ơn thánh của Chúa, để chúng con hiệp nhất hơn với Chúa để cùng nhau làm chứng tá tin cậy mến hữu hiệu hơn”. Và đây cũng là lúc cảm tạ Thiên Chúa vì sự dấn thân của bao nhiêu anh chị em chúng ta, thuộc các cộng đoàn Giáo Hội khác nhau, không cam chịu sự chia rẽ, nhưng đã duy trì sinh động niềm hy vọng hòa giải giữa tất cả những người tin nơi Chúa duy nhất”.

ĐTC nhận xét rằng:

”Người Công Giáo và Luther chúng ta đã bắt đầu đồng hành trên con đường hòa giải. Giờ đây, trong bối cảnh kỷ niệm chung cuộc cải cách năm 1517, chúng ta có cơ hội mới để đón nhận một hành trình chung, đã hình thành trong 50 năm qua, với cuộc đối thoại đại kết giữa Liên hiệp Tin Lành Luther thế giới và Giáo Hội Công Giáo. Chúng ta không thể cam chịu sự chia rẽ và xa cách mà sự chia rẽ đã tạo ra nơi chúng ta. Chúng ta có thể sửa chữa trong một thời điểm quan trọng của lịch sự chúng ta, vượt thắng những tranh cãi và hiểu lầm thường ngăn cản chúng ta cảm thông nhau…

”Chúng ta cũng cần nhìn lại quá khứ của chúng ta trong tinh thần yêu thương và lương thiện và nhìn nhận lỗi lầm, rồi xin lỗi: chỉ có Thiên Chúa là thẩm phán. Với cùng tinh thần yêu và lương thiện, chúng ta cũng phải nhìn nhận rằng sự chia rẽ của chúng ta xa rời trực giác nguyên thủy của Dân Chúa, vốn tự nhiên mong ước điệp hiệp nhất, và sự chia rẽ ấy được kéo dài trong lịch sự do những người quyền thế ở trần gian này hơn là do ý muốn của dân trung thành, luôn luôn và tại mỗi nơi, họ đang cần được vị Mục Tử Nhân Lành hướng dẫn một cách vững chắc và dịu dàng. Tuy nhiên có một ý chí chân thành từ cả hai bên muốn tuyên xưng và bảo vệ đức tin chân chính; và chúng ta cũng ý thức rằng chúng ta khép kín nơi chính mình vì sợ hãi hoặc vì thành kiến đối với đức tin mà người khác tuyên xưng với sắc thái và ngôn ngữ khác nhau. ĐGH Gioan Phaolô 2 đã từng nói: ”Chúng ta không được để cho mình bị hướng dẫn do ý hướng muốn đặt mình làm người xét xử lịch sử, nhưng chỉ do ý hướng hiểu rõ hơn những biến cố và trở thành những người mang chân lý” (Sứ điệp gởi ĐHY Johannes Willebrands, 31-10-1983). Thiên Chúa là chủ vườn nho, và với lòng yêu thương bao la, Ngài nuôi dưỡng và bảo vệ vườn nho; chúng ta hãy để cho mình cảm động vì cái nhìn của Thiên Chúa; điều duy nhất mà Chúa muốn, đó là chúng ta hiệp nhất như cành nho gắn vào Chúa Giêsu Con của Ngài”.   Sau buổi cầu nguyện vào lúc gần 4 giờ chiều, ĐTC giã từ hoàng gia, rồi cùng đoàn xe tiến về thành phố Malmoe cách đó 28 cây số về hướng đông nam để cử hành phần thứ 2 của lễ tưởng niệm cải cách. Phần này có sự tham dự của 10 ngàn tín hữu, kể cả đại diện của nhiều Giáo Hội Kitô khác.

G. Trần Đức Anh OP

Thánh lễ đầu tiên được cử hành ở Qaraqosh sau khi nhà nước Hồi giáo thất thủ

Thánh lễ đầu tiên được cử hành ở Qaraqosh sau khi nhà nước Hồi giáo thất thủ

duc-cha-petros-mouche-cu-hanh-thanh-le-tai-nha-tho-chanh-toa-duc-me-vo-nhiem-qaraqosh-hom-30-10

Các lớp bồ hóng dày trên tường vẫn không đủ che dòng chữ “nhà nước Hồi giáo” (IS) được vẽ trên tường. Bom đạn đã phá vỡ một ít mái ngói, các hàng ghế bị lật ngửa chỏng chơ và mái nhà bị sập vài chỗ, nhưng nhà thờ chánh tòa vấn đứng vững cách kiêu hãnh ở trung tâm Qaraqosh. Sau hai năm bị các chiến binh  Nhà nước Hồi giáo chiếm đóng, các bài thánh ca tiếng Aramai lại vang lên khắp thành phố Kitô giáo quan trọng nhất của Iraq.

Đức cha Petros Mouche, Giám mục Công giáo Syria của Mosul, Kirkuk và toàn vùng Kurdistan cho biết: “Thánh đường này là một biểu tượng cho chúng ta… Nếu chúng tôi không còn thấy thánh đường như bây giờ, nếu nó đã bị phá hủy, người dân Qaraqosh sẽ không muốn trở lại thành phố này.”

Đức cha Mouche đã cử hành Thánh lễ đầu tiên kê từ khi thành phố bị thất thủ và dân chúng di tản. Trong bài giảng Đức cha nói: “Chúng ta tụ họp ở đâu để xóa sạch những dấu vết của IS khỏi thành phố này, sự hận thù mà chúng ta là nạn nhân… Không có người cao trọng và thấp hèn, không có vua chúa và nô lệ. Não trạng nàu phải bị xóa bỏ.”

Đối với cha Majeed Hazem, Thánh lễ đầu tiên này đánh dấu “một khởi đầu mới và tỏ cho thế giới sức mạnh của các Kitô hữu, dẫu cho những bất công.”

Khuôn viên của nhà thờ chánh tòa bị trở thành hoang phế với cây cỏ, các hình người giả; chiến binh Hồi giáo đã dùng nơi này để tập bắn.

Đức cha Mouche chia sẻ: “Tận đáy sâu tâm hồn, người dân muốn trở về nhưng đầu tiên họ muốn các cơ sở hạ tầng được xây dựng lại. Và trước khi tái thiết cơ sở hạ tầng, khu vực cần được đảm bảo an toàn vì chúng ta biết mìn được rải trong thành phố khi IS rút lui.” (Asia News  31/10/2016)

Hồng Thủy