Ki-Tô hữu phải trung thực trong lời nói và việc làm

Ki-Tô hữu phải trung thực trong lời nói và việc làm

Chúng ta có thể cống hiến ba điều cho tất cả những người “muốn thấy Chúa Giêsu”: sách Phúc Âm, Thánh Giá và chứng tá đức tin nghèo nàn nhưng chân thành của chúng ta. Phúc Âm: trong đó chúng ta có thể gặp gỡ Chúa Giêsu, lắng nghe Người và hiểu biết Người. Thánh Giá; dấu chỉ tình yêu của Chúa Giêsu, Đấng đã tự trao ban cho chúng ta. Và một đức tin được diễn tả ra trong các cử chỉ đơn sơ của tình bác ái huynh đệ.

ĐTC Phanxicô dã nói như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật hôm qua tại quảng trường thánh Phêrô.  Mở đầu bài huấn dụ ĐTC nói: trong Chúa Nhật thứ V Mùa Chay, thánh sử Gioan lôi kéo sự chú ý của chúng ta với một chi tiết lạ kỳ: vài người Hy lap” theo Do thái giáo đến Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua, hướng tới tông đồ Philiphê và nói: “Chúng tôi muốn trông thấy Đức Giêsu” (Ga 12,21). Trong thành thánh, nơi Chúa Giêsu đến lần cuối cùng, có nhiều người. Có những người bé nhỏ và đơn sơ đã tiếp đón vị ngôn sứ thành Nagiarét vui như lễ hội, vì họ nhận ra nơi Ngài Đấng Chúa Sai Đến. Có những thượng tế và các vị lãnh đạo của dân muốn loại trừ Ngài, bởi vì họ coi Ngài là lạc giáo và nguy hiểm. Cũng có những người, như những người Hy lạp tò mò muốn trông thấy Ngài và hiểu biết hơn về con ngưòi và các việc Ngài đã làm, mà việc sau cùng là  cho ông Ladarô sống lại đã gây nhiều ồn ào. ĐTC quảng diễn lời xin của các người Hy lạp như sau:

“Chúng tôi muốn trông thấy Đức Giêsu”: các lời này, như biết bao lời khác trong các Phúc Âm, vượt ngoài giai thoại đặc biệt này và diễn tả một cái gì phổ quát. Chúng vén mở cho thấy một uớc mong hiện hữu trong con tim của biết bao nhiêu người đã nghe nói tới Đức Kitô, nhưng chưa gặp được Ngài. “Tôi muốn trông thấy Đức Giêsu”, Ngài cảm thấy lời này trong trái tim của dân chúng. Trả lời một cách gián tiếp, một cách ngôn sứ, cho lời xin có thể trông thấy Ngài, Chúa Giêsu nói lên một lời tiên tri vén mở cho thấy căn cước của ngài và chỉ cho thấy con đường giúp hiểu biết Ngài thực sự: “Đã đến giờ con người được tôn vinh” (Ga 12,23). Đó là giờ của Thập Giá! Đó là giờ bại trận của Satan, ông hoàng của sự dữ, giờ chiến thắng vĩnh viễn của tình yêu thương từ bi của Thiên  Chúa. Chúa Kitô tuyên bố rằng “Ngài sẽ được nâng cao khỏi đất” (c. 32), đây là một kiểu diễn tả có hai nghĩa: “được nâng cao” bởi vì bị đóng đinh, và “được nâng cao” bởi vì được Thiên Chúa Cha tán dương trong việc Sống Lại, để lôi kéo tất cả mọi người đến với Ngài và hòa giải con người với Thiên Chúa và giữa con người với nhau. Giờ của Thập Giá, giờ đen tối nhất lịch sử, cũng là suối nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tin vào Ngài.

ĐTC nói tiếp trong bài huấn dụ: tiếp tục lời tiên tri về lễ Vượt Qua của Ngài gần kề, Chúa Giêsu dùng một hình ảnh đơn sơ và gợi ý, đó là hình ảnh “hạt lúa” rơi xuống đất, chết đi để sinh bông hạt (c. 24). ĐTC giải thích thêm như sau:

Trong hình ảnh này chúng ta tìm thấy một khía cạnh khác nữa của Thập Giá Chúa Kitô: đó là hình ảnh của sự phong phú. Thật vậy, cái chết của Chúa Giêsu là một nguồn suối vô tận của sự sống mới, bởi vì nó mang theo trong chính nó sức mạnh tái sinh của tình yêu thương của Thiên Chúa. Được dìm mình trong tình yêu đó qua bí tích Rửa Tội, kitô hữu có thể trở thành “các hạt lúa” và đem lại nhiều bông hạt, nếu họ “đánh mất sư sống mình” vì tình yêu thương Thiên Chúa và các anh chị em khác như Chúa Giêsu (c. 25). Vì thế cho những người ngày nay “muốn trông thấy Chúa Giêsu”; cho những ngưòi kiếm tìm gương mặt của Thiên Chúa; cho những người từ nhỏ đã nhận được giáo lý và rồi đã không đào sâu nó; cho biết bao nhiêu người còn chưa gặp được Chúa Giêsu một cách cá nhân; cho tất cả những người đó chúng ta có thể cống hiến ba điều: sách Phúc Âm, Thánh Giá và chứng tá đức tin nghèo nàn nhưng chân thành của chúng ta. Phúc Âm: trong đó chúng ta có thể gặp gỡ Chúa Giêsu, lắng nghe Người và hiểu biết Người. Thánh Giá; dấu chỉ tình yêu của Chúa Giêsu, Đấng đã tự trao ban cho chúng ta. Và một đức tin được diễn tả ra trong các cử chỉ đơn sơ của tình bác ái huynh đệ. Nhưng một cách chính yếu trong sự trung thực của cuộc sống giữa điều chúng ta nói và điều chúng ta sống, sự trung thực giữa đức tin và cuộc sống, giữa các lời nói và các hành động của chúng ta. Sách Tin Mùng. Thánh  Giá và chứng tá. Xin Đức Maria Mẹ chúng ta giúp chúng ta theo Chúa Giêsu trên con đường của thập giá và sự sống lại.

Tiếp đến ĐTC đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người:

Sau Kinh Truyền Tin ĐTC đã chào khen tín hữu và các tham dự viên cuộc chay đua Marathon đường dài mùa xuân ở Roma là can đảm, vì trời mưa mà vẫn tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin. ĐTC cho biết hôm thứ bẩy ngài đã viếng thăm tổng giáo phận Napoli: ngài cám ơn sự tiếp đón nồng hậu của tín hữu Napoli và khen họ rất giỏi.

ĐTC cũng nhắc cho mọi người biết Chúa Nhật hôm qua là Ngày quốc tế về nước, do Liên Hiệp Quốc phát động nhằm gây ý thức về việc cấp thiết bảo vệ, quý trọng và tiết kiệm nước ngọt. Ngài nói: nước là yếu tố nòng cốt nhất cho sự sống, tương lai của nhân loại tùy thuộc nơi khả năng của chúng ta biết giữ gìn và chia sẻ nước. Tôi khích lệ cộng đồng quốc tế canh thức để nước của địa cầu được bảo vệ một cách thích đáng, và để không ai bị loại trừ hay kỳ thị trong việc sử dụng thiện ích này, là thiện ích chung tuyệt diệu. Cùng với thánh Phanxicô thành Assisi chúng ta hãy nói: “Xin chúc tụng Chúa, lậy Chúa của con,  vì nước, rất ích lợi và khiêm tốn, qúy báu và trong sạch” (Bài ca của anh Mặt Tròi).

ĐTC đã chào nhiều nhóm hiện diện trong đó có ca đoàn của “Đại học âm nhạc chuyên nghiệp Orihuela Tây Ban Nha, các tín hữu Hungari, các nhóm nhạc công bang Ticino Thuỵ Sĩ, giới trẻ trường trung học Saint Jean de Passy Paris, nhóm Phan Sinh đời tỉnh Cremona, tổ chức chuyên chở các bệnh nhân hành hương Lộ Đức UNITALSI vùng Lombardia, bắc Italia. Nhóm Giám Mục Tử Đạo Oscar Romero sắp được phong chân phước, cũng như tín hữu vùng Fiumicino, trẻ em mới rước lễ lần đầu vùng Sambuceto và các trẻ em tỉnh Ravenna, Milano và Firenze mới hay đang chờ lãnh bí tích Thêm Sức.

Sau cùng ĐTC nói ngài lập lại cử chỉ đã làm hồi năm ngoái: theo truyên thống cổ xưa của Giáo Hội trong Mùa Chay sách Phúc Âm được phân phát cho những người chuẩn bị lãnh bí tích Rửa Tội. Cũng thế, hôm nay tôi muốn tặng anh chị em hiện diện tại quảng trường một món quà: đó là cuốn Phúc Âm bỏ túi. Sách sẽ được phân phát bởi một số anh chị em vô gia cư ở Roma. Cả trong cử chỉ này nữa chúng ta cũng trông thấy một cử chỉ rất hay đẹp khiến Chúa Giêsu hài lòng: đó là các anh chị em nghèo túng nhất là những người trao tặng Lời Chúa cho chúng ta. Xin anh chị em hãy nhận lấy, đem theo mình trong sắc tay, trong túi để thường xuyên đọc Phúc Âm mỗi ngày. Lời Chúa là ánh sáng soi đường của chúng ta. Nó sẽ sinh ích cho anh chị em, hãy làm điều đó. Xin chúc anh chị em một ngày Chúa Nhật an vui và xin anh chị em đừng quên cầu nguyện cho tôi nhé.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Hạt lúa mục nát

Hạt lúa mục nát

Mùa Xuân năm ấy, có hai hạt giống nằm cạnh nhau trong thửa đất màu mỡ. Hạt giống thứ nhất hăng hái nói: “Tôi muốn mọc lên! Tôi muốn cắm rễ sâu xuống lòng đất, và đâm chồi xuyên qua lớp đất cứng bên trên. Tôi muốn vươn lên những búp non mơn mởn như những lá cờ loan báo mùa xuân đã đến… Tôi muốn cảm nhận hơi ấm của mặt trời mơn man trên mặt và hơi nước mát lạnh của sương mai trên những cánh hoa”. Và nó đã mọc lên xanh tốt.

Hạt giống thứ hai tự nhủ: “Mình sợ lắm! Nếu cắm rễ xuống đất, mình chẳng biết sẽ gặp gì trong lòng đất tối tăm. Nếu mình tìm đường xuyên qua lớp đất cứng bên trên, biết đâu những chồi non yếu ớt của mình sẽ bị thương tổn… Làm sao mình có thể cho búp non xòe lá khi một chú sâu đang chờ sẵn để xơi tái đọt lá xanh non? Và nếu mình nở hoa, một em bé có thể nhổ đứt mình lên! Không, tốt hơn mình nên đợi cho đến lúc an toàn hơn”. Và nó tiếp tục đợi chờ… Một sáng đầu xuân, cô gà mái bới đất kiếm ăn đã thấy hạt giống đang nằm chờ đợi. Cô chẳng đợi gì mà không mổ lấy, nuốt ngay.

Hạt giống phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt. Điều này đúng với đời sống cây cỏ. Muốn có thóc lúa trong mùa gặt, ta phải ném hết lúa giống xuống ruộng trong mùa gieo. Muốn có rau xanh trong bữa ăn, ta phải đổ hết hạt giống xuống vườn. Cứ khư khư hạt giống trong kho, ta sẽ chẳng có rau, cũng chẳng có thóc. Hạt giống gieo xuống cứ nằm trơ trơ trên mặt đất sẽ chẳng ích lợi gì. Nó phải chịu vùi sâu trong lòng đất, hút lấy nước, tắm trong phân bón, mục nát đi thì mới mọc lên thành cây mới, sinh nhiều hoa quả.

Hạt giống phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt. Điều này đúng đối với đời sống tự nhiên của con người. Mục nát ở đây có nghĩa là phải chịu vất vả khó nhọc. Người nông dân muốn có một mùa gặt bội thu, phải thức khuya dậy sớm, dầm mưa dãi nắng chăm chỉ cầy bừa. Người học sinh muốn đỗ đạt vinh quang, phải từ bỏ những giờ vui chơi với bạn bè, đêm đêm chong đèn miệt mài kinh sử.

Mục nát ở đây cũng có nghĩa là phải chịu đau đớn với những từ bỏ. Bào thai muốn phát triển thành một con người, phải từ bỏ lòng mẹ nơi nó được cưu mang an toàn. Em bé muốn nên người phải từ bỏ cha mẹ và những người thân để vào trường học tập. Học sinh muốn phát triển cao phải từ bỏ trường làng đầy kỷ niệm đẹp tuổi thơ để ra tỉnh, lên đại học. Thanh niên thiếu nữ đến tuổi trưởng thành cũng phải từ bỏ cha mẹ, từ bỏ mái ấm gia đình để sống tự lập trong đời sống tu trì hoặc trong đời sống hôn nhân. Đời sống con người là một chuỗi dài những từ bỏ. Từ bỏ nào cũng gây đớn đau. Nhưng chính nhờ những từ bỏ đau đớn ấy mà người ta lớn lên thành người. Chính nhờ những từ bỏ ấy mà gia đình và xã hội luôn phát triển. Chính nhờ những từ bỏ ấy mà cuộc sống trở nên tươi đẹp, phong phú và ý nghĩa hơn.

Hạt giống phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt. Điều này tuyệt đối đúng với đời sống thiêng liêng. Mục nát đi trong đời sống thiêng liêng có nghĩa là chết cho tội lỗi, từ bỏ bản thân, từ bỏ ý riêng mình.

Chết cho tội lỗi là dứt lìa những dục vọng đam mê trái luật Chúa. Chết cho tội lỗi là quyết tâm lánh xa những con người. Những đồ vật, những nơi chốn lôi kéo ta phạm tội. Những con người ấy, những đồ vật ấy, những nơi chốn ấy như gắn chặt vào ta, như là một phần đời sống của ta. Dứt bỏ những con người ấy, những đồ vật ấy, những nơi chốn ấy khiến ta đau đớn như chết đi một phần đời mình. Đó là những mất mát to lớn. Nhưng nếu ta chấp nhận những “cái mất” hiện tại, ta sẽ có những “cái được” trong tương lại. Nếu ta dám chấp nhận những “cái mất” chóng qua, ta sẽ có những “cái được” vĩnh cửu.

Đời sống thiêng liêng hệ tại việc kết hợp với Chúa. Ta chỉ kết hợp trọn vẹn với Chúa khi ta từ bỏ ý riêng mình để làm theo ý Chúa. từ bỏ ý riêng nhiều khi là một cuộc chiến đấu khốc liệt với chính bản thân mình. Hãy nhìn Đức Giêsu trong vườn Giệt-si-ma-ni. Cuộc chiến đấu từ bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa Cha khiến Người đau đớn đến đổ mồ hôi máu ra. Nhưng chính nhờ từ bỏ ý riêng mà ta trở nên con yêu dấu của Chúa. Chính nhờ làm theo ý Chúa mà ta trổ sinh hoa trái. Từ bỏ bản thân, ta đi đến đích điểm đời mình là được kết hiệp với Chúa. Bấy giờ ta có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống, mà là chính Chúa sống trong tôi”. Ta chịu mất bản thân mình để được chính Chúa. Ta chịu mất điều tầm thường để được điều cao cả. Ta chịu mất trần gian để được thiên đàng.

“Lạy Chúa Giêsu, khi nhìn thấy đồng lúa chín vàng, chúng con ít khi nghĩ đến những hạt giống đã âm thầm chịu nát tan, để trao cho đời cây lúa trĩu hạt. Có bao điều tốt đẹp chúng con được hưởng hôm nay, là do sự hy sinh quên mình của người đi trước, của các nhà nghiên cứu, của các người rao giảng, của ông bà, cha mẹ, thầy cô, của những người đã nằm xuống cho quê hương dân tộc. Đã có những người sống như hạt lúa, để từ cái chết của họ vọt lên sự sống cho tha nhân. Nhờ công lao của bao người, chúng con được làm hạt lúa. Xin cho chúng con đừng tự khép mình trong lớp vỏ để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của mình, nhưng dám đi ra để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ. Chúng con phải chọn lựa nhiều lần trong ngày. Để chọn tha nhân và Thiên Chúa, chúng con phải chết cho chính mình. Ước gì chúng con dám sống mầu nhiệm Vượt Qua đi từ cõi chết đến nguồn sống, đi từ cái tôi hẹp hòi đến cái tôi rộng mở trước Đấng Tuyệt đối và tha nhân. Amen. (Manna 85).

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1- Con người chỉ lớn lên khi từ bỏ. Đứa bé rời khỏi bụng mẹ để chào đời. Đôi bạn trẻ rời nhà để lập một tổ ấm mới. Con người rời bỏ cuộc sống này để vào nơi vĩnh cửu. Đối với bạn, sự từ bỏ nào khó hơn cả.

2- Hạt giống phải mục nát mới trổ sinh bông hạt. Bạn hiểu điều này thế nào trong đời sống cây có?

3- Hạt giống phải mục nát mới trổ sinh bông hạt. Bạn hiểu điều này thế nào trong đời sống thiêng liêng?

4- Chúa Giêsu đã là hạt giống chịu mục nát đi. Bạn hiểu điều này thế nào?

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Con đường hạt lúa

Con đường hạt lúa

Con đường Chúa Giêsu đã đi qua là con đường hạt lúa: "Đã đến giờ Con Người được tôn vinh. Thật, Thầy bảo anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hoa trái" (Ga 12,23-24).

Hạt lúa được gieo trên ruộng đồng. Hạt lúa mục nát rồi mới nẩy mầm, đâm bông và kết hạt. Không mục nát, hạt lúa chỉ trơ trọi một mình. Sự mục nát làm trổ sinh sự sống mới, hứa hẹn mùa gặt tương lai.

Nhìn một cánh đồng lúa xanh tươi, uốn lượn theo gió, trải dài trong nắng, căng tròn sức sống, ta nghĩ đến muôn vàn hạt lúa đã mục nát để lên xanh đồng lúa bát ngát.

1. Con đường hạt lúa Giêsu.

Từ khi nhập thể, Chúa Giêsu đã trở nên như hạt lúa gieo vào lòng đất nhân loại. Thánh Phaolô trình bày mầu nhiệm tự huỷ: "Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế". Như hạt lúa bị mục nát: "Người đã hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự". Như hạt lúa nẩy mầm, lớn lên, đơm bông sinh hạt: "Thiên Chúa đã siêu tôn Người, và ban tặng danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất, và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa" (Pl 2,6-11).

Phúc Âm Marcô viết: "Chúa Giêsu bắt đầu dạy cho các môn đệ biết Con Người phải chịu đau khổ rất nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và sau ba ngày sẽ sống lại" (Mc 8,31). Chúa Giêsu nói, Người phải chịu nhiều đau khổ. Phải có nghĩa là bắt buộc. Những kẻ gây đau khổ cho Chúa là những người có địa vị trong tôn giáo và xã hội, những người được coi là thuộc loại trí thức, chức cao, quyền trọng, gây nhiều ảnh hưởng trong dân.

Con đường Chúa đi, quá nhục nhã ê chề nên các môn đệ không thể chấp nhận. "Phêrô liền kéo riêng Chúa Giêsu ra và bắt đầu can trách Người. Nhưng khi Chúa Giêsu quay lại, nhìn thấy các môn đệ, Người liền mắng ông Phêrô: Satan, hãy lui lại đằng sau Thầy! Vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Chúa, mà là của loài người" (Mc 8,32-33). Chính bản thân Chúa sẽ như hạt lúa chịu nhiều đau thương tơi tả. Mục nát là chặng đường phải đi qua để có mùa gặt trù phú.

Con đường Chúa đi thật quá hãi hùng: "Chúa Giêsu và các môn đệ đang trên đường đi Giêrusalem…Người lại kéo riêng nhóm mười hai ra và bắt đầu nói với các ông về những điều sắp xảy ra cho mình: Này, chúng ta lên Giêrusalem, và ở đó con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại" (Mc 10,32-34). Con đường mở mang Nước Trời sao quá khổ đau, bị nhạo báng, bị khạc nhổ, bị đánh đập. Hạt lúa Giêsu đã đi hết chặng đường đau khổ, mục nát trong cõi chết để đạt tới sự sống vinh quang.

2. Con đường hạt lúa các môn đệ.

Các môn đệ theo Chúa nên cùng đi trên con đường Chúa đã đi "Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Ta" (Mc 8,34). Thánh Phaolô kể về con đường đi của người môn đệ: "Giờ đây bị Thánh Thần trói buộc, tôi về Giêrusalem. Không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó, trừ ra điều này, là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng: xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng gì, miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ tôi đã nhận từ Chúa Giêsu, là long trọng làm chứng cho Tin mừng và ân sủng của Thiên Chúa" (CV 20,22-24). Người môn đệ của Chúa coi vinh dự là "đựơc thông phần những đau khổ của Chúa, nên đồng hình đồng dạng với Chúa trong cái chết của Người, với hy vọng cũng được sống lại từ trong cõi chết" (Pl 3,10-11). Thánh Phaolô trở thành hạt lúa Tin mừng. Trải qua tiến trình đau khổ mục nát, thánh nhân đã đứng ở vị trí đầu sóng ngọn gió trên cánh đồng truyền giáo mênh mông.

Xuyên suốt dòng lịch sử Giáo hội, biết bao hạt lúa môn đệ đã chịu mục nát để Giáo hội lớn mạnh không ngừng "Máu các vị tử đạo là hạt giống trổ sinh các tín hữu". Từng thế hệ chứng nhân như những hạt giống tốt, chết đi trong lòng đất các nền văn hoá, và đã trổ sinh rất nhiều hạt lúa mới. Tất cả làm nên cánh đồng lúa thiêng liêng, mùa màng tươi tốt trong cuộc sống đạo và truyền giáo.

3. Con đường hạt lúa chúng ta hôm nay.

Con đường hạt lúa như Chúa Giêsu hay như thánh Phaolô và các tông đồ là những con đường kiễu mẫu cho chúng ta đi theo.

Hạt giống phải mục nát đi mới sinh nhiều bông hạt. Muốn sống một cách trọn vẹn, trổ sinh hoa trái tốt lành, ta phải chết đi cho bản thân mình. Chết đi mỗi ngày một chút cho tính ích kỷ, giả dối hận thù ghen ghét. Mục nát đi trong đời sống thiêng liêng có nghĩa là chết cho tội lỗi, từ bỏ bản thân, từ bỏ ý riêng mình. Chết cho tội lỗi là dứt lìa những dục vọng đam mê trái luật Chúa. Chết cho tội lỗi là quyết tâm lánh xa những gì đưa đến sa ngã.

Định luật căn bản của sự sống là: "Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai bằng lòng mất sự sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống muôn đời" (Ga 12,25). Chết vì tình thương, vì hạnh phúc đồng loại, vì chính nghĩa, vì công lý, vì hòa bình, vì đức tin là những cái chết làm trổ sinh muôn ngàn nét đẹp cho đời.

4. Hạt lúa âm thầm và hạt lúa mục nát

Tình yêu cao quý hơn cuộc sống và mãnh liệt hơn sự chết. Cái chết của Chúa Giêsu đã nên lời yêu thương con người mọi nơi và mọi thời. Chính vì dám chết cho tình yêu nên luật yêu thương của Chúa trở nên một thách đố. Thách đố con người chui ra khỏi vỏ ốc ích kỷ của mình, ra khỏi những bận tâm, toan tính, vun quén cho mình, để sống cho tha nhân và cho Thiên Chúa. Quên mình, hiến thân, đón nhận cái chết như hạt lúa mục nát, đã từng làm cho Chúa Giêsu trăn trở, nao núng và thổn thức. Những giây phút cuối cùng giáp mặt với tử thần không thể không gay go, thống thiết và đầy thách thức: "Bây giờ linh hồn Ta xao xuyến và biết nói gì? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này" (Ga.12,27). Thế nhưng, Người đã biến cuộc tử nạn nên lời tôn vinh Thiên Chúa và lời yêu thương con người: "Chính vì thế mà con đã đến trong giờ này" (Ga.12,27).

Nếu "Hạt lúa âm thầm mọc lên" (x. Mc 4,26-29) là hình ảnh của Tin mừng chan hoà trong một nền văn hoá, thì "Hạt lúa phải mục nát đi" (x. Ga 12,24) là con đường gian truân vất vả để làm nên một mùa gặt phong nhiêu.

LM Giuse Nguyễn Hữu An

Từ bỏ

Từ bỏ

Chỉ còn một tuần nữa là đến Tuần thánh. Vì thế, lời Chúa hôm nay hướng chúng ta dần dần tới cái chết đau thương và sự phục sinh vinh quang của Chúa Giêsu. Cụ thể, trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu đã dùng một hình ảnh: hạt lúa gieo xuống đất để ám chỉ về cái chết của Ngài. Nhưng hạt lúa gieo xuống đất để làm gì và cái chết của Chúa Giêsu có ý nghĩa thế nào?

Một hạt lúa gieo xuống đất là nó chấp nhận chết đi để mưu ích cho con người, nghĩa là nó trở thành một cây lúa xanh tươi, để rồi sau này sẽ nhân thừa lên và sinh ra trăm ngàn ức triệu hạt lúa khác, một cách vô định hay bất tận. Cho nên, Chúa Giêsu không nói ngoa khi tuyên bố: “Nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”. Như vậy, nếu không chấp nhận chết đi, thì hạt lúa sẽ chấm dứt sức sống một cách ích kỷ nơi chính mình. Trái lại, nếu nó chấp nhận từ bỏ sự sống hạt lúa của nó, thì nó sẽ giữ được sự sống ấy bằng cách chuyển sự sống nó sang cây lúa và sang các bông hạt sau này, nghĩa là sự sống từ bỏ kia sẽ không mất đi nhưng nó sẽ tồn tại mãi mãi.

Chúa Giêsu là một hạt lúa đầu tiên như thế. Ngài đã làm chết đi nơi mình những gì “là Chúa” và “của Chúa” để cứu chuộc chúng ta và ban cho chúng ta sự sống đích thực. Ngài đã từ bỏ mọi cách thức ưu đãi, giàu sang, danh vọng và quyền uy để chọn một cuộc sống tầm thường, âm thầm, đạm bạc suốt ba mươi năm trời, không ai để ý tới, không có một ưu đãi nào dành cho con nhà giàu, nhà sang. Rồi khi hoạt động công khai, Ngài cũng chọn một đời hoạt động bấp bênh. Ngài đi theo con đường của một người không có thế lực, không có bất cứ phương tiện nào sẵn sàng. Ngài vào đời với hai bàn tay trắng, không một lời giới thiệu, gửi gắm của người có uy quyền. Và suốt ba năm, Ngài đã trải qua mọi hoàn cảnh, mọi tình huống của một người tay trắng đó: bị công kích, bị khước từ, bị mạ lỵ, bị chụp mũ, bị nếm mùi: “Bụt nhà không thiêng”.

Cuối cùng, cách thế để đi tới chiến thắng vinh quang cũng lại là cách thế đau thương nhất, khốn cực nhất của trần gian. Con người, ai ai cũng vậy, rất sợ đánh đập, rất sợ tòa án, rất sợ và ghê sợ tử hình. Nhưng Chúa đã đi vào, đã gánh chịu, đã đón nhận tất cả để chứng tỏ Ngài hoàn toàn từ bỏ chính mình. Từ bỏ đến cấp độ kinh hoàng nhất. Tất cả chỉ vì Ngài muốn mình phải chết đi như một hạt lúa để trổ sinh vô số bông lúa và hạt lúa khác. Nếu ông Te-tu-li-a-nô đã nói: “Máu các thánh tử đạo là hạt giống sinh các tín hữu”, thì máu của Chúa Giêsu còn giá trị hơn biết bao nhiêu.

Nói rõ hơn, Chúa Giêsu chấp nhận chết đi, chôn vùi trong lòng đất để trở nên nguyên nhân cứu độ, phát sinh nhiều Kitô khác. Ngài chịu treo lên thập giá là để trở thành nguồn ơn cứu độ cho chúng ta được nhìn lên Ngài và được sống. Ngài có vẻ như thất bại hoàn toàn khi bị treo lên thập giá, nhưng đó lại chính là lúc Ngài ném được thủ lãnh thế gian ra ngoài và trở thành Đấng phán xét cả nhân loại. Thập giá trở thành ngai Chúa ngự để phán xét và ban sự sống. Ngài chết là để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống cho chúng ta.

Hơn nữa, hạt lúa chấp nhận bị nghiền nát để trở thành cơm bánh nuôi sống con người, thì Chúa Giêsu cũng vậy, Ngài chấp nhận bị nghiền nát trong cuộc thụ nạn để trở thành bánh thánh dâng lên Chúa Cha trên bàn thờ thập giá, đồng thời trở nên lương thực nuôi các tín hữu. Tóm lại, Chúa Giêsu đã chết, nhưng không chết luôn mà đã phục sinh để tồn tại mãi và ban sự sống đời đời cho con người.

Là Kitô hữu, chúng ta chỉ có thể lập công phúc, được cứu rỗi, được sống muôn đời và hữu ích cho người khác… Khi biết từ bỏ sự sống tạm bợ, tức là từ bỏ tất cả những gì mà người đời gọi là “sống”. Có người từ bỏ được tiền của, danh vọng nhưng lại không bỏ được ý riêng mình; có người bỏ được ý riêng của người khác chứ không chịu bỏ ý riêng mình; có người từ bỏ nhiều mà không từ bỏ tất cả; có người bỏ được những cái to lớn nhưng lại không bỏ được những cái nhỏ mọn hay những cái cần phải bỏ; có người bỏ được lúc này nhưng lại không bỏ được lúc khác…

Từ bỏ là một nhân đức của anh hùng. Là một nhân đức được thử luyện mỗi ngày cả ngàn lần, nhưng cũng có cả hơn ngàn lý do để chối bỏ. Vì thế, chúng ta cần đặt lại giá trị của hy sinh từ bỏ mà chúng ta đã bỏ quên hoặc coi thường. Chúng ta hãy suy nghĩ xem: hiện giờ chúng ta có thấy mình cần từ bỏ gì không: một thói quen không tốt, một tật xấu, một tội lỗi hay bất cứ thứ gì không đúng với Tin Mừng, không hợp với tinh thần Kitô, không đúng với cung cách một người con của Chúa.

Sưu tầm

 

Thiên Chúa cứu chuộc thế gian bằng tình yêu

Thiên Chúa cứu chuộc thế gian bằng tình yêu

(Suy niệm của Noel Quesson)

“Phần tôi, một khi được nâng lên khỏi mặt đất. Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi”.

Năm 1941, một tù nhân đã trốn khỏi nhà tù Ốt-suýt (Auschwits) của Đức quốc xã. Đó là một nhà tù nổi tiếng khủng khiếp, và đã có quy định là nếu một người trốn trại thì sẽ có mười người khác thế mạng. Giám thị trại giam tập họp tù nhân lại và đếm ra 10 người. Một trong đám mười người bị tử thần điểm danh này bỗng òa khóc: “Trời ơi, vợ tôi, con tôi! Tôi sẽ không bao giờ gặp lại họ nữa!”. Cha Maximilianô Kônbê (Maximiliano Kolbe) cũng là tù nhân ở trại lúc đó, nghe tiếng than của người tù. Cha động lòng thương, Ngài tiến lại kéo anh tù ra, và đứng vào chỗ anh cho đủ mười người. Cha Kônbê và 9 bạn tù bị bỏ đói hai tuần lễ và kết thúc cuộc sống bằng một mũi tiêm thuốc độc. Xác họ được hỏa táng và sử dụng như phân bón.

Người tù thoát chết tên là Phanxit (Francis Gap Wniczek) kể lại chuyện này. Anh nói sau cái chết của Cha Kônbê, tinh thần trại giam thay đổi hẳn. Mọi người đối xử với nhau rất thân ái, chia sẻ từng mẩu bánh, từng muỗng canh, ai cũng cảm phục và muốn noi gương vị Linh mục dòng Phanxicô, đã hy sinh mạng sống để cứu một người anh em.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã phong Thánh cho Cha Kônbê vào tháng 10 năm 1983, và đặt Ngài làm bổn mạng của thời đại khó khăn. Giáo Hội mong ước các tín hữu noi gương Cha Kônbê, và cũng là noi gương Chúa Giêsu, sẵn sàng hy sinh cho anh em đồng loại.

Chúa Giêsu đã chọn cái chết trên thập giá vì chúng ta. Chúng ta là những tội nhân đáng phải chết, mà Chúa đã chết thay cho chúng ta. Chúa chết để biểu lộ tình yêu tột đỉnh của Người đối với ta như Người đã nói: Không có tình yêu nào lớn lao bằng hy sinh mạng sống vì người mình yêu.

Chúa Giêsu cũng có nhân tính, cũng là người như chúng ta, cũng biết đau khổ và cái chết là tận cùng của đau thương. Chúa cũng thấy ngại ngùng lo sợ, cơn hấp hối đã bắt đầu: “Tâm hồn Ta xao xuyến”, “Xin Cha cứu con khỏi giờ này”. Nhưng Chúa can đảm trở lại ngay. Nhưng không, “Con tới chính vì giờ này. Lạy Cha xin làm vinh quang Cha”.

Đường khổ giá không phải chỉ dành cho Chúa. Các Môn đệ Chúa phải hy sinh vì anh em, để chứng tỏ mình yêu thương mọi người, có vậy mới chứng tỏ được rằng mình yêu Chúa.

Can đảm bước theo Chúa trên đường Thánh giá là xây dựng vinh quang cho mình mai sau. Lời Chúa và cuộc sống của Chúa đã bảo đảm điều đó.

Lạy Chúa, xin hướng dẫn chúng con trên đường theo Chúa hôm nay, biết sẵn sàng chia sẽ cuộc sống với những người anh chị em đau khổ.

Quy luật sự sống

Quy luật sự sống

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Cái chết của ông Y Rabin, Thủ Tướng Israel ngày 3/11/1995 đã làm cả thế giới chấn động. Những người Do Thái quá khích giết ông, vì họ không chấp nhận công trình hòa bình ông đang kiến tạo với Palestine và các nước vùng Trung Đông. Cái chết của ông Rabin làm cho thế giới nhớ lại cái chết của Mahatma Gandhi 50 năm trước đây: một người thanh niên Ấn Giáo quá khích đã sát hại vị Cha già của dân tộc Ấn, vì anh không thể chấp nhận việc ngài tha thứ và dạy tha thứ cho người Hồi Giáo. Người ta cũng không thể quên cái chết của Mục sư Martin Luther King năm 1968, vì đã tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen bằng phương pháp ôn hòa và bất bạo động. Lịch sử nhân loại đã được viết bằng máu của biết bao gương mặt kiến tạo hòa bình như thế. Liệu người ta có thể xếp cái chết của Chúa Giêsu vào hạng những cái chết vì hòa bình không? Đâu là lý do khiến Chúa Giêsu phải chết, một cái chết cũng mang tính cách mạng như chính cuộc sống và sự điệp của Ngài?

Chúa Giêsu đã chịu treo trên thập giá giữa hai tên trộm cướp. Thời Đế quốc Rôma cai trị Palestine có biết bao người đã chết như thế, nhưng cái chết của Chúa Giêsu có lý do sâu xa hơn bất cứ một cái chết nào. Chúa Giêsu đã có thể lẩn tránh được một cái chết như thế: Ngài đã làm cho kẻ chết sống lại được, thì việc thoát tay kẻ thù đối với Ngài không phải là chuyện khó. Ngài cũng có thể tránh được một cái chết như thế bằng cách thay đổi thái độ đối với những kẻ đang tìm cách hãm hại Ngài. Nhưng Chúa Giêsu đã không hành động như thế. Các sách Tin Mừng thuật lại rằng Ngài đã tự nộp mình cho kẻ thù. Ngài chết để giải phóng con người khỏi tội lỗi và sự chết. Một cuộc giải phóng vượt lên trên và bao trùm mọi thứ giải phóng khác. Từ nay, với cái chết của Chúa Giêsu, sự chết không còn là một thực tại đáng sợ nữa, nhưng nó là cửa ngõ dẫn vào cuộc sống vĩnh cửu.

Thánh Gioan hôm nay đã dùng hình ảnh quen thuộc để diễn tả ý nghĩa đích thực của cái chết của Chúa Giêsu: hình ảnh của một hạt giống bị mục thối đi trong lòng đất để dẫn đến một mùa gặt phong phú. “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều bông hạt khác”. Cũng vậy, những đau thương Chúa Giêsu sắp trải qua sẽ không kết thúc ở một cái chết cằn cỗi mà sẽ dẫn đến sự phì nhiêu sung mãn của sự sống lại, một sự sống có khả năng tập họp mọi dân nước trong Nước Trời.

Tuy nhiên, là Thiên Chúa nhưng cũng là con người và như mọi con người, Chúa Giêsu cũng đã phải trải qua những giờ phút xao xuyến trong tâm hồn khi phải đương đầu với kẻ thù và cái chết nhuốc hổ trên thập giá: “Bây giờ tâm hồn Con xao xuyến, Con biết nói gì đây? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này…” Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ xin Cha Ngài giải thoát Ngài khỏi “Giờ” đen tối hay khỏi “uống chén đắng” này. Trong bài đọc 2, chúng ta còn được Thánh Phaolô cho thấy tâm trạng của Chúa Giêsu khi đứng trước “Giờ” của thập giá: “Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khấn nguyện lên Đấng có thể cứu Ngài khỏi chết…” Cuối cùng, Chúa Giêsu đã không xin Cha cứu Ngài khỏi chết mà xin cho Danh của Cha được tôn vình. Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu muốn cầu xin Thiên Chúa hãy tỏ ra Ngài là một người Cha, bằng cách hoàn tất công trình yêu thương của Ngài đối với con người, ngang qua cái chết và sống lại của Con của Ngài. Qua lời cầu xin này, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đã gián tiếp đón nhận “Giờ” của sự phục vụ cho tới hơi thở cuối cùng trên thập giá, nhưng đồng thời cũng là “Giờ” Con Người bước vào vinh quang. Có điều “vinh quang” ở đây không theo ý nghĩa thường tình của chúng ta. Vinh quang ở đây đòi phải trải qua khổ nhục. Vinh quang của hạt lúa đã trổ bông, nặng trĩu và chín vàng, nhưng là sau khi bị chôn vùi dưới bùn rồi nứt nẻ, bứt phá khỏi hình thức hẹp hòi của vỏ trấu, để giờ này mới trở thành nguồn sống, và lại sẵn sàng nẩy mầm, phát triển, tăng gấp mãi.

Thánh Gioan đã diễn tả chân lý này như một quy luật tất yếu cho sự sống phát sinh và đạt tới ý nghĩa cuối cùng: Hạt lúa và bất cứ thứ hạt giống thực vật nào, đều mang ý nghĩa và sứ mạng truyền sinh, tăng gấp nguồn sống ẩn chứa trong bản thân. Thế nhưng, muốn thể hiện ý nghĩa và sứ mạng này, nó phải qua tiến trình biến dạng hoàn toàn, phải chết đi. Chúa Giêsu đã chấp nhận quy luật này, và vẫn đang “lôi kéo mọi người theo Ngài”.

Thưa anh chị em,

Là quy luật, là chân lý Chúa Kitô mạc khải, làm sao con người chúng ta có thể tránh né? Mặc dầu biết rõ mình phải nứt nẻ, bứt phá, lột xác, phải chết đi, mới góp phần làm phát sinh sự sống. Thế nhưng chúng ta vẫn thường coi trọng và bảo vệ cái cũ, những gì là quen thuộc, dễ dãi, dễ chịu hơn là đổi mới. Sống giữa một xã hội đang chủ trương đổi mới, thế mà chỉ mới đặt lại vấn đề đổi mới một số tư tưởng, cách làm ăn, tổ chức đời sống xã hội… cũng đủ làm chúng ta e ngại, lo âu. Nói chi đến thay đổi cả nếp sống trước đây vẫn được tôn trọng. Định luật của sự sống là đổi mới. “Hat lúa phải mục nát đi trong lòng đất mới nảy sinh nhiều bông hạt”. Chúa Giêsu đã nói đến cái chết của Ngài như một điều kiện cần thiết để đem lại sự sống mới cho mọi người. Ngài phải chết đi để các Kitô hữu được sống, để muôn dân trở thành tín hữu và tất cả đều được cứu chuộc.

Còn chúng ta, được mời gọi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng đừng quên định luật căn bản của sự sống, đó là: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai bằng lòng mất sự sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống muôn đời” (Ga 12,25). Đi theo Chúa Giêsu đòi hỏi người môn đệ của Ngài phải chia sẻ cuộc sống và cả cái chết của Ngài. Bài học của thập giá đó là đã có những cái chết không uổng công mà trái lại còn nảy sinh nhiều hoa trái, đó là cái chết vì tình thương, vì hạnh phúc, vì sự cứu độ của kẻ khác, vì sự giải phóng con người đồng loại, vì những cái gì còn đáng quý hơn cả chính mạng sống của mình, vì chính nghĩa, vì công lý, vì hòa bình, vì đức tin…

Ở đây, Chúa Giêsu đặt chúng ta trước một thang giá trị. Chính khi con người biết vượt ra khỏi cái vỏ ích kỷ để sống một cuộc sống quảng đại, vì người khác, dù có phải vì thế mà hy sinh cả mạng sống của mình, con người đã thực sự bước vào cuộc sống mới. Điều Chúa đòi hỏi nơi những kẻ muốn đi theo Ngài thì Ngài thực hiện nơi chính bản thân Ngài.

Anh chị em thân mến,

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá. Ngài chết là để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống cho chúng ta. “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài. Nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài” (x. Tin Mừng 2,8-12). Ai ham sống, sợ chết, sẽ đánh mất tất cả. Người dám theo Chúa Giêsu mà đánh đổi cuộc sống hiện tại, sẽ được cuộc sống muôn đời.

Đức Thánh Cha cử hành thánh lễ cho 60 ngàn tín hữu Napoli

Đức Thánh Cha cử hành thánh lễ cho 60 ngàn tín hữu Napoli

VATICAN. Lúc 11 giờ sáng ngày 21-3-2015, ĐTC đã cử hành thánh lễ cho hơn 60 ngàn tín hữu thuộc giáo phận Napoli, trong cuộc viếng thăm của ngài tại đây.

 

Giã từ dân chúng tại khu vực Scampía, mạn cực bắc của thành Napli, ĐTC đã tiến về quảng trường Dân ý (Plesbicito) ở trung tâm thành Napoli, để cử hành thánh lễ lúc 11 giờ. Trong số các tín hữu hiện diện, đặc biệt cũng có gia đình Ông Mario Cuomo, thống đốc bang New York, Hoa Kỳ, là người gốc thành Napoli. Trên vòng cung quanh quảng trường, có treo các bức ảnh lớn các vị thánh và chân phước xuất thân từ tổng giáo phận Napoli.

 

Đồng tế với ĐTC có ĐHY Sepe, TGM sở tại, đông đảo các GM thuộc 25 giáo phận miền Campania và 300 LM.

 

Bài giảng của ĐTC

 

Trong bài giảng, sau khi nói đến sức mạnh của Lời Chúa và mời gọi các tín hữu đón nhận sức mạnh của Lời Chúa, ĐTC nhắn nhủ rằng:

”Anh chị em Napoli thân mến, anh chị em đừng để người ta cướp mất niềm hy vọng của mình! Đừng chiều theo những lời dụ dỗ kiếm tiền dễ dàng hoặc kiếm những lợi lộc bất chính. Hãy cương quyết phản ứng chống các tổ chức khai thác, bóc lột và làm hư hỏng người trẻ, người nghèo, người yếu, bằng việc buôn bán ma túy và các tội phạm khác. Ước gì nạn tham nhũng và phạm pháp không bóp méo khuôn mặt của thành phố tươi đẹp này! Giáo hội lập lại với những kẻ phạm pháp và tất cả các kẻ đồng loã của họ rằng: Hãy hoán cải, hãy trở về với tình thương và công lý! Hãy để cho mình được lòng tư bi của Thiên Chúa tìm thấy! Với ơn Chúa tha thứ tất cả, có thể trở lại một cuộc sống lương thiện. Với nước mắt của những bà mẹ ở Napoli, hòa lẫn với nước mắt của Mẹ Maria Mẹ Thiên Chúa được cầu khẩn ở Piedigrotta và tại bao nhiêu thánh đường ở Napoli này, tôi xin anh chị em điều đó. Ước gì những giọt nước mắt này sẽ cho những con tim chai cứng trở nên dịu dàng và dẫn đưa tất cả trở về con đường sự thiện”.

 Sau cùng ĐTC cầu mong và nguyện cầu cho thành Napoli được phục hồi, một thành có bao nhiêu tiềm năng tinh thần, văn hóa và nhân bản, nhất là có bao nhiêu khả năng yêu thương. Chính quyền, các tổ chức, các thực tại xã hội khác nhau, cùng với các công dân, tất cả cùng nhau và hòa hợp, có thể kiện tạo một tương lai tốt đẹp hơn. Tương lai của Napoli không phải là com cụm vào mình và cam chịu, nhưng là tín thác cởi mở đối với thế giới.”

 

 Viếng thăm nhà tù Poggioreale

 

Sau thánh lễ, ĐTC đã đến viếng thăm nhà tù Poggioreale vào lúc quá 1 giờ trưa. Nơi đây có khoảng 1.900 tù nhân. Ngài được các vị hữu trách, cha tuyên úy nhà tù tiếp đón rồi dùng bữa với đại diện các tù nhân tại Nhà Nguyện.

 

Ngỏ lời với các tù nhân, ĐTC bày tỏ sự gần gũi với tất cả mọi người và nói:

”Cuộc gặp gỡ này cho tôi cơ hội biểu lộ sự gần gũi của tôi với anh chị em, và tôi đến đây để mang cho anh chị em lời và tình thương của Chúa Giêsu, Đấng đã đến trần thể để làm cho trái đất chúng ta đầy hy vọng và Chúa đã chết để cứu vớt mỗi người chúng ta.”

ĐTC nhận xét rằng ”nhiều khi anh chị em cảm thấy thất vọng, nản chí, bị mọi người bỏ rơi,. nhưng Thiên Chúa không quên các con cái của Ngài, không bao giờ bỏ rơi họ! Chúa luôn ở cạnh chúng ta, nhất là trong giờ thử thách; Ngài là người Cha giàu lòng xót thương (Ep 2,4) luôn thanh thản nhìn chúng ta với lòng từ nhân, luôn chờ đợi chúng ta với vòng tay rộng mở. Niềm chắc chắn này làm cho chúng ta tràn đầy an ủi và hy vọng, nhất là trong những lúc khó khăn và buồn sầu.”

 

ĐTC cũng nhấn mạnh rằng ”cả khi chúng ta sai lỗi trong cuộc đời, Chúa không mệt mỏi chỉ cho chúng ta con đường trở về và gặp gỡ Ngài.. Tình thương của Chúa Giêsu đối với mỗi người chúng ta là nguồn an ủi và hy vọng… Không gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình thương của Thiên Chúa, kể cả những chấn song của nhà tù. Điều duy nhất có thể tách chúng ta ra khỏi Chúa chính là tội lỗi chúng ta. Nhưng nếu chúng ta nhìn nhận tội lỗi và xưng thú với tâm tình thống hối chân thành, thì chính tội lỗi ấy trở thành nơi gặp gỡ với Chúa, vì Chúa chính là lòng từ bi thương xót”.

 

ĐTC không quên kêu gọi các giới hữu trách cải tiến điều kiện sinh sống của cac tù nhân, nhiều khi họ bị giam giữ trong những tình trạng không xứng đáng với con người và sau đó họ không thể tái hội nhập vào xã hội. Nơi căn bản của xác tín và sự dấn thân ấy, có xác tín: tình thương luôn có thể biến đổi con người”.

 

 Giã từ nhà tù, và sau khi ghé tòa TGM Napoli để nghỉ ngơi chốc lát, ĐTC đã vào Nhà thờ chính tòa kính viếng thánh tích của thánh Gennaro tử đạo. Thánh tích này là một ống đựng máu của thánh Gennaro, một năm 2 lần xảy ra phép lạ máu hóa lỏng.

 

Tại thánh đường, ĐTC đã gặp gỡ hàng giáo sĩ và tu sĩ lúc 3 giờ chiều, trước khi đến nhà tới nhà thờ Chúa Giêsu mới để thăm các bệnh nhân, sau cùng, ngài gặp gỡ các bạn trẻ và các gia đình vào lúc 5 giờ chiều tại khu vực Caracciolo dọc theo bờ biển. ĐTC đã giã từ Napoli lúc quá 6 giờ chiều để đáp trực thăng trở về Roma (SD 21-3-2015)

 

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

Đức Thánh Cha viếng thăm Pompei và Scampia, Napoli

Đức Thánh Cha viếng thăm Pompei và Scampia, Napoli

VATICAN. Thứ bẩy 21-3-2015, ĐTC Phanxicô đã dành trọn 10 tiếng đồng đồ để viếng thăm mục vụ tại Đền thánh Đức Mẹ Pompei và tổng giáo phận Napoli, nam Italia.

Chặng dừng đầu tiên là Pompei, Đền thánh Đức Mẹ quan trọng nhất ở miền nam Italia và cũng là một giám hạt do Đức TGM Tommaso Caputo coi sóc, với 25 ngàn tín hữu Công Giáo, thuộc 5 giáo xứ, do 44 LM giáo phận và 6 LM dòng săn sóc và 112 nữ tu. Tiếp đến là Napoli một tổng giáo phận có gần 1 triệu 760 ngàn tín hữu Công Giáo, 287 giáo xứ với hơn 1,500 LM.

Cuộc viếng thăm thu hút sự chú ý nhiều của dư luận, trong số 1 ngàn ký giả đăng ký để theo dõi và tường thuệt có 250 ký giả nước ngoài, đặc biệt là từ Argentina và nhiều nước Âu Châu. Theo ban tổ chức hằng triệu người tham dự các sinh hoạt trong ngày viếng thăm của ĐTC. Cả 68 nữ tu dòng kín cũng được phép ra khỏi đan viện để tham dự thánh lễ và các cuộc gặp gỡ với ngài.

Đến Đền Đức Mẹ Pompei lúc 8 giờ sáng sau 1 giờ bay trực thăng từ Roma, ĐTC kính viếng và cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ đang trao chuỗi Mân Côi cho thánh Đa Minh và thánh nữ Catarina. Đây là ảnh Đức Mẹ làm phép lạ do cha giải tội Alberto Radente tặng cho chân phước Bartolo Longo vào năm 1875.

ĐTC cầu nguyện trong thinh lặng và đọc kinh một kinh ngắn trước ảnh Đức Mẹ Mân Côi do chính chân phước Bartolo Longo soạn, xin Mẹ cứu giúp các tín hữu đang sống trong lầm than, đang trải qua bao nhiêu con đường oán thù và máu đổ, bao nhiêu tình trạng nghèo cũ và mới, nhất là tội lỗi.

Sau khi chào thăm một số bệnh nhân, người khuyết tật và người nghèo, cùng với các tín hữu khác, ĐTC đã đáp trực thăng đến sân thể thao Scampía vào lúc quá 9 giờ và được ĐHY Crescenzio Sepe, TGM Napoli cùng với các giới chức chính quyền địa phương tiếp đón, và ngài gặp gỡ dân chúng tại Quảng trường thánh Gioan Phaolô 2 vẫn thuộc khu vực Scampía. Chính tại nơi đây 25 năm về trước, Đức Thánh Giáo Hoàng cũng đã đến viếng thăm.

Gặp gỡ dân chúng tại khu vực Scampía

Scampía là khu phố ở mạn cực bắc thành Napoli, rất đông dân cư và là nơi có tỷ lệ thất nghiệp cao nhất Italia: từ 50 tới 75% dân chúng ở tuổi làm việc, với bao nhiêu tệ nạn xã hội từ đó mà ra, nhất là tệ nạn tổ chức bất lương Camora.

Ngỏ lời với gần 10 ngàn người, cùng với các giới chức chính quyền địa phương, đại diện những người di dân, tụ tập tại Quảng trường, ĐTC nhắc đến những vấn đề khó khăn của người dân, nhưng cũng nhấn mạnh đến niềm hy vọng. Ngài nói:

”Hành trình thường nhật tại thành phố này, với những khó khăn và cơ cực và nhiều khi bị thử thách cam go, tạo nên một nền văn hóa sự sống luôn giúp đỡ trỗi dậy sau mỗi sa ngã và làm sao để sự ác không bao giờ có tiếng nói cuối cùng. Đó chính là hy vọng, anh chị em biết rõ niềm hy vọng này là gia sản quí giá, là ”đòn bẩy của tâm hồn”, nhưng nhiều khi nó cũng phải chịu những cuộc tấn công và cướp bóc. Thực vậy ai tự ý đi theo con đường sự ác, thì cũng là người cướp mất một mảnh hy vọng của mình và của mọi người, của bao nhiêu người lương thiện và cần cù, của danh thơm tiếng tốt và nền kinh tế của thành phố này”.

ĐTC cũng nhắc đến tình trạng bao nhiêu người trẻ ở đây thiếu công ăn việc làm, ”đó là một tiếng kêu mạnh mẽ. Vì thất nghiệp họ bị thiếu mất phẩm giá và có nguy cơ phải chịu mọi thứ bóc lột”. Ngài tố giác toan tính muốn biến khu Scampía này thành vùng đất ”không thuộc một ai”, trong đó mọi giá trị bị gạt bỏ, một vùng đất ở trong tay của cái gọi là ”tiểu tội phạm”. ĐTC mạnh mẽ tố giác nạn bóc lột sức lao động như nô lệ, nạn ”làm đen” làm lậu và nạn tham nhũng tại đây. Tất cả những hành động đó hoàn toàn trái ngược với Kitô giáo. Tín hữu Kitô tham nhũng là người ung thối!

Ngài không quên nhắc nhở giới chính trị hãy dấn thân phục vụ và nói rằng ”chính trị tốt là một việc phục vụ con người, chính trị được thi hành trước tiên nơi bình diện địa phương, nơi là gánh nặng của những gì không được hoàn tất, những chậm trễ và thiếu sót đè nặng trực tiếp trên dân chúng và gây đau khổ nhiều nhất. Chính trị tốt là một trong những biểu hiện cao quí nhất của đức bác ái, của việc phục vụ và tình thương”.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

Đức Thánh Cha khuyến khích nỗ lực truyền giáo tại Nhật Bản

Đức Thánh Cha khuyến khích nỗ lực truyền giáo tại Nhật Bản

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến 16 GM Nhật Bản sáng ngày 20-3-2015, ĐTC nồng nhiệt khuyến khích Giáo Hội tại nước này tăng cường các hoạt động loan báo Tin Mừng.

Các GM thuộc 16 giáo phận tại Nhật về Roma hành hương viếng mộ hai thánh Tông Đồ và thăm Tòa Thánh. Đây là đoàn thứ 2 và cũng là đoàn cuối cùng của các GM từ Á châu về Roma thăm Tòa Thánh trong năm nay.

Trong bài huấn dụ trao cho các GM tại buổi tiếp kiến, ĐTC ca ngợi công trình của các thừa sai và các tín hữu Công Giáo ẩn náu mà Giáo Hội Công Giáo tại nước này đang kỷ niệm 150 năm khám phá ra họ. Tấm gương của họ tiếp tục nâng đỡ đời sống Giáo Hội ngày nay và cống hiến một chỉ dẫn để sống đức tin.

ĐTC cho biết ngài cùng với các GM nồng nhiệt cám ơn nhiều thừa sai từ nước ngoài đến hoạt động truyền giáo tại Nhật Bản, cộng tác với các LM, tu sĩ địa phương và các thủ lãnh giáo dân. ĐTC nói:

”Ngoài việc nâng cỡ các cố gắng của các thừa sai trong việc loan báo Tin Mừng, tôi cũng khuyến khích anh em quan tâm đến các nhu cầu thiêng liêng và nhân bản của họ, để họ không nản chí, nhưng kiên trì trong các công tác của họ. Ước gì anh em hướng dẫn họ hiểu các phong tục của nhân dân Nhật Bản, để họ có thể trở thành những người phục vụ Tin Mừng hữu hiệu hơn và cùng nhau tìm kiếm những phương thức mới để mang tinh thần Phúc Âm vào nền văn hóa (Xc Evang. gaudium 69).

ĐTC cũng nhắc nhở rằng ”công cuộc loan báo Tin Mừng không phải chỉ là trách nhiệm của những người rời bỏ quê hương đến miền đất xa xôi để rao giảng Phúc Âm… Tất cả chúng ta, do bí tích rửa tội, đều được kêu gọi trở thành những nhà truyền giáo và làm chứng cho Tin Mừng của Chúa Giêsu, bất kỳ chúng ta ở đâu (Mt 28,19-20). Chúng ta được kêu gọi tiến bước, trở thành cộng đoàn truyền giáo, cho dù điều này chỉ là mở cửa nhà, đi ra ngoài, tiến vào các khu xóm láng giềng. ”Một cộng đồng truyền giáo can dự bằng lời nói và việc làm vào cuộc sống thường nhật của dân chúng; bắc những nhịp cầu trên những xa cách, hạ mình xuống nếu cần, và đón nhận cuộc sống con người, đụng chạm đến thân mình đau khổ của Chúa Kitô nơi người khác. Như thế những người truyền giảng Tin Mừng có ”mùi của chiên” và chiên sẵn sàng nghe tiếng của họ” (Evang. Gaudium 24).

Nhật bản rộng gần 378 ngàn cây số vuông với 126 triệu 650 ngàn dân cư đa số theo Thần đạo và Phật giáo, và chỉ có 1.7% là tín hữu Kitô, trong đó chỉ có 444 ngàn tín hữu Công Giáo, tương đương với 0.35% dân số toàn quốc. Nếu kể cả tín hữu Công Giáo nhập cư từ nước ngoài, con số có thể lên đến 1 triệu người. Số tín hữu Công Giáo tại Nhật tăng trưởng rất chậm và hơn một lần các vị Giáo Hoàng khích lệ các hoạt động truyền giáo trực tiếp tại đây cho những người chưa biết Tin Mừng của Chúa Kitô (SD 20-3-2015)

G. Trần Đức Anh OP –  Vatican Radio

 

Đức Thánh Cha tái khẳng định lập trường chống án tử hình

Đức Thánh Cha tái khẳng định lập trường chống án tử hình

VATICAN. Sáng ngày 20-3-2015, ĐTC đã tiếp kiến phái đoàn của Ủy ban quốc tế chống án tử hình và nhân dịp này ngài tái khẳng định lập trường của Giáo Hội Công giáo theo đó ngày nay án tử hình là điều không thể chấp nhận được.

Trong sứ điệp, ĐTC ca ngợi, cám ơn và khích lệ những người thiện chí đang dấn thân để trong thế thế giới không còn án tử hình nữa, đồng thời ngài nhấn mạnh rằng:

”Ngày nay, án tử hình là điều không thể chấp nhận được, cho dù tội của người bị kết án có nặng đến đâu đi nữa. Án này là một sự xúc phạm đến đặc tính bất khả xâm phạm của sự sống và phẩm giá con người, và nó trái ngược với ý định của Thiên Chúa về con người và xã hội, về nền công lý từ bi, và ngăn cản sự chu toàn bất kỳ mục tiêu chính đáng của các án phạt. Án tử hình không thực thi công lý cho các nạn nhân, nhưng chỉ nuôi dưỡng sự trả thù.”

ĐTC cũng viết rằng, ”đối với một nhà nước pháp quyền, án tử hình là một thất bại, vì nó buộc Nhà Nước phải giết người nhân danh công lý… Án tử hình đánh mất mọi sự hợp pháp vì sự tuyển chọn thiếu sót của hệ thống hình luật và đứng trước sự kiện có thể có sai lầm trong việc xử án. Công lý loài người là điều bất toàn, và khi công lý không nhìn nhận mình có thể sai lầm, có thể biến công lý thành nguồn mạch sinh ra bất công. Với việc thi hành án tử hình, người ta chối bỏ cơ may cho người bị kết án được sửa chữa những thiệt hại đã gây ra, cơ may xưng thú biểu lộ sự hoán cải nội tâm, và thống hối là cánh cửa dẫn đến sự hối hận và đền bù, hầu tiến đến cuộc gặp gỡ lòng từ bi yêu thương và chữa lành của Thiên Chúa”.

ĐTC cũng nói đến sự kiện một số chế độ độc tài và những nhóm cực đoan, thường dùng án tử hình để tiêu diệt những người đố lập chính trị, thiểu số và tất cả những thành phần bị họ coi là ”nguy hiểm” hoặc là một đe dọa cho quyền bính của họ.. Sau cùng, án tử hình là điều trái ngược với cảm thức nhân đạo và lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa là đức tính phải là mẫu gương cho nền công lý của con người”.

ĐTC nhận xét rằng ”Ngày nay, không những có các phương thế để đàn áp tội ác một cách hữu hiệu mà không cần tước bỏ vĩnh viễn cơ may chuộc tội của kẻ đã phạm tội ác (Xc Evang. vitae, 27), nhưng người ta còn phát huy một sự nhạy cảm lớn ơn về luân lý đối với giá trị sự sống con người, tạo nên thái độ càng ngày càng có nhiều người chống án tử hình và dư luận quần chúng ủng hộ những biện pháp nhắm bãi bỏ hoặc ngưng áp dụng án tử hình (Toát yếu Đạo lý xã hội của Hội Thánh, n.405) (SD 20-3-2015)

G. Trần Đức Anh OP –  Vatican Radio

 

Tổng thư ký LHQ chào mừng cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha

Tổng thư ký LHQ chào mừng cuộc viếng thăm của Đức Thánh Cha

NEW YORK. Tổng thư ký LHQ, Ông Ban Ki Moon, chào mừng cuộc viếng thăm của ĐTC Phanxicô tại trụ sở LHQ ở New York sáng ngày 25-9-2015.

Tuyên bố hôm 18-3-2015, Ông Ban Ki Moon gọi cuộc viếng thăm của ĐTC là một phần quan trọng trong năm lịch sử, LHQ mừng kỷ niệm 70 năm thành lập, và trong đó các quốc gia thành viên sẽ đề ra những quyết định lớn về việc phát triển dài hạn, sự thay đổi khí hậu, tương lai hòa bình và an sinh của nhân loại.

Trong cuộc viếng thăm, ĐTC sẽ phát biểu trước Đại hội đồng LHQ và sẽ có cuộc gặp gỡ song phương với Tổng thư ký LHQ, Vị Chủ tịch Đại hội đồng, và sẽ tham dự một cuộc gặp gỡ các nhân viên của LHQ.

Ông Tổng thư ký LHQ tin tưởng rằng cuộc viếng thăm của ĐGH Phanxicô sẽ khích lệ cộng đồng quốc tế gia tăng gấp đôi nỗ lực đảm bảo nhân phẩm cho tất cả mọi người, qua sự thăng tiến công bằng xã hội, tinh thần bao dung và sự cảm thông giữa mọi dân tộc trên thế giới”.

Cuộc viếng thăm của ĐTC tại trụ sở LHQ nằm trong khuôn khổ chuyến viếng thăm của ngài tại Hoa Kỳ, với những trạm dừng tại Washington, New York và Philadelphia, nơi sẽ diễn ra Đại hội kỳ 8 các gia đình Công Giáo thế giới. Theo dự kiến, ĐTC sẽ gặp các gia đình chiều ngày thứ bẩy 26-9 và chủ sự thánh lễ bế mạc đại hội sáng chúa nhật hôm sau, 27-9-2015.

Hồi tháng 2 vừa qua, Chủ tịch Hạ nghị viện Hoa Kỳ, ông John Boehner, thuộc đảng cộng hòa bang Ohio, loan báo: ĐTC Phanxicô sẽ phát triển trong phiên họp chung của Quốc hội lưỡng viện Mỹ vào ngày 24-9-2015 và ngài sẽ là vị Giáo Hoàng đầu tiên làm như vậy.

Tổng giáo phận Washington cho biết sẽ đón tiếp ĐTC, nhưng chưa loan báo ngày chính xác. Trên chuyến bay từ Philippines về Roma ngày 19-1-2015, ĐTC cho biết ngài sẽ tôn phong hiển thánh cho chân phước Junipero Serra OFM tại Vương cung thánh đường Đức Mẹ Vô Nhiễm ở thủ đô Washington.

ĐGH Phaolô 6 đã viếng thăm và phát biểu tại Đại hội đồng LHQ hồi năm 1965, tiếp đến là ĐGH Gioan Phaolô 2 vào năm 1979 và 1995. Sau cùng là ĐGH Biển Đức 16 hồi năm 2008 (CNS 18-3-2015)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

Đức Hồng Y O’Brien từ bỏ quyền lợi và đặc ân

Đức Hồng Y O'Brien từ bỏ quyền lợi và đặc ân

VATICAN. ĐHY Keit O'Brien từ bỏ các quyền lợi và đặc quyền của tước vị Hồng Y.

Trong thông cáo công bố hôm 20-3-2015, Đức Hồng Y Angelo Sodano, Niên trưởng Hồng Y đoàn cho biết ”ĐTC đã chấp nhận việc từ bỏ các quyền lợi và đặc quyền của tước vị Hồng Y theo các khoản giáo luật 349, 353 và 356 do ĐHY Keith Michael Patrick O'Brien, nguyên TGM giáo phận Saint Andrews và Edinburg, Ecosse, đệ trình, sau thời gian dài cầu nguyện. Với biện pháp này, ĐTC bày tỏ mối quan tâm mục tử với tất cả các tín hữu của Giáo Hội tại Ecosse và khuyến khích họ tiếp tục hành trình canh tân và hòa giải trong niềm tín thác.”

ĐHY O'Brien năm nay 77 tuổi. Ngày 18-2-2013, ĐTC Biển Đức 16 đã nhận đơn từ chức TGM giáo phận Saint Andrews và Edinburg của ĐHY. Sau đó ĐHY cũng loan báo không tham dự mật nghị bầu Giáo Hoàng tiếp đó và đã nhận thực rằng: ”Có những lúc lối cư xử của tôi về tính dục ở dưới mức độ cần phải có trong tư cách là linh mục, TGM và Hồng Y”. Rồi ĐHY xin lỗi những người ngài xúc phạm, Giáo hội Công Giáo và nhân dân Ecosse”.

Ngày 15-5-2013, Phòng báo chí Tòa Thánh cho biết, với sự đồng ý của ĐTC Phanxicô, ĐHY rời Ecosse trong vài tháng để canh tân tinh thần, cầu nguyện và thống hối. Mọi quyết định liên quan đến số phận tương lai của ĐHY sẽ được thỏa thuận với Tòa Thánh”.

Với quyết định được thông báo ngày 20-3-2015 trên đây, ĐHY O'Brien tiếp tục là Giám Mục và là Hồng Y, nhưng không còn các quyền lợi và đặc quyền của tước vị Hồng Y, nghĩa là không tham dự các công nghị của Hồng Y đoàn, không tham dự việc bầu Giáo Hoàng, và không còn là cố vấn cho Đức Giáo Hoàng.

Trong thông cáo được Văn phòng thông tin của Tổng giáo phận Saint Andrews và Edinburg công bố sau khi tin trên đây, ĐHY O'Brien tái xin lỗi và bày tỏ sự đau buồn sâu xa vì hành động của mình trong quá khứ, đồng thời nói thêm rằng: ”Tôi cám ơn Đức Thánh Cha Phanxicô vì sự săn sóc hiền phụ của Ngài đối với tôi và những người mà tôi đã làm thương tổn bằng bất cứ cách nào. Tôi sẽ tiếp tục không thi hành vai trò nào trong đời sống công khai của Giáo Hội tại Ecosse và dành phần còn lại của đời tôi sống ẩn dật, cầu nguyện đặc biệt cho Tổng giáo phận Saint Andrews và Edinburg, cho Ecosse và những người mà tôi đã làm thương tổn cách nào đó” (SD 20-3-2015)

 G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

ĐHY Tauran kết thúc chuyến viếng thăm tại Ivory Coast

ĐHY Tauran kết thúc chuyến viếng thăm tại Ivory Coast

ROMA. ĐHY Jean Louis Tauran, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn, tái lên án những kẻ giết người nhân danh Thiên Chúa và kỳ thị tôn giáo.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong thánh lễ ngày 16-3-2015 tại Nhà thờ chính tòa Yamoussoukro ở thủ đô nước Ivory Coast bên Phi châu. ĐHY cho biết ngài muốn chia sẻ lập trường này với tất cả các tín hữu, ”đặc biệt là với các bạn Hồi giáo của chúng ta trong lúc này, đang thấy tôn giáo của họ bị những người vô tôn giáo và vô luật lệ xuyên tạc”.

Trong bài giảng, ĐHY nhấn mạnh đến sự cần thiết phải có một cuộc đối thoại chân thành, trước tiên giữa các tín hữu Kitô, tiếp đến giữa các tín hữu Kitô và Hồi giáo: đối thoại về cuộc sống và về linh đạo, giúp chúng ta công bố đức tin và nhìn thấy tất cả những gì tích cực liên kết chúng ta và chúng ta có thể dùng để phục vụ xã hội như một hạt giống nhỏ đang tăng trưởng”. Đối với ĐHY, cần làm việc trước tiên nơi những người trẻ, dạy họ nhìn nhận ”những gì là tốt ở trong các tôn giáo khác và trong xã hội”.

Trong bài giảng, ĐHY Tauran nhấn mạnh rằng ”chiến tranh nảy sinh từ chính nơi tâm hồn con người”, những cũng tại nơi đó ”nảy sinh hòa bình”. Vì thế đây không phải là lúc nản chí thất vọng, nhưng đúng hơn là lúc kiên trì. Hãy để Chúa Kitô giải thoát chúng ta khỏi mọi sợ hãi, lo lắng, và những cay đắng”.

ĐHY Jean Louis Tauran đến viếng thăm Côte d'Ivoire từ ngày 13 đến 17-3-2015. Trong ngày cuối cùng, ngài đã gặp tổng thống Alassane Ouattara vào ban sáng, và gặp gỡ các vị lãnh đạo tôn giáo vào ban chiều tại thành phố Abidjan. LM Miguel Ángel Ayuso Guixot, dòng thánh Comboni, người Tây Ban Nha, Tổng thư ký Hội đồng Tòa Thánh đối thoại liên tôn, cũng hiện diện tại cuộc gặp gỡ này.

Lên tiếng trong dịp này, Cha Guixot cho biết Giáo Hội Công Giáo tôn trọng các tín đồ của mọi tôn giáo và ngài mời gọi các tín hữu Kitô cũng như không Kitô hãy học cách thông truyền các giá trị có khả năng uốn nắn con người nội tâm. Điều này chỉ có thể trong một bầu không khí tự do, tạo điều kiện dễ dàng cho những chọn lựa của mỗi người, nhất là tự do tìm kiếm chân lý”.

Cha Guixot cũng ghi nhận rằng ”Nơi trung tâm của mỗi tôn giáo, có một sứ điệp huynh đệ và hòa bình. Các tín hữu có thể trở thành những người kiến tạo hòa bình xã hội” nếu họ có khả năng không coi những khác biệt như những đe dọa, nhưng như những điều phong phú. Vì thế cần đi xa hơn thái độ bao dung mà thôi, nhưng còn phải đi tới một chọn lựa căn bản dựa trên sự tôn trọng, yêu thương và cảm thông (Oss.Rom. 18-3-2015)

 G. Trần Đức Anh, O.P – Vatican Radio

Đức Hồng Y Parolin kết thúc viếng thăm Bạch Nga

Đức Hồng Y Parolin kết thúc viếng thăm Bạch Nga

ROMA. Hôm 16-3-2015, ĐHY Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, đã trở về Roma, sau 4 ngày viếng thăm tại Cộng hòa Bạch Nga (Belarus). Trước đó, hôm chúa nhật 15-3-2015, ĐHY đã chủ sự thánh lễ cho các tín hữu tại Nhà thờ chính tòa giáo phận thủ đô Minsk.

Trong bài giảng, ĐHY Parolin cho biết ”ĐTC Phanxicô muốn đến đây giữa anh chị em, nhưng hoàn cảnh không cho phép ước muốn này được thực hiện. Vì thế, ngài ủy thác cho tôi nhiệm vụ chuyển đến anh chị em tất cả lòng quí mến của ngài đối với dân tộc Bạch Nga, và đặc biệt là các anh chị em Công Giáo. ĐGH biết rõ anh chị em đã trải qua những thời điểm thực sự khó khăn.”

ĐHY nói: Cả trong thời kỳ gần đây, ”các linh mục đã bị phát lưu, các nhà thờ bị phá hủy, các cộng đoàn bị phân tán, trong khi một chiến dịch tuyên truyền có tổ chức qui mô được phát động nhắm xóa bỏ hình ảnh Thiên Chúa ra khỏi tâm hồn các tín hữu. Tai ương mà anh chị em phải chịu thật là bao la.. ĐTC cúi mừng trước lịch sử đau thương ấy”.

ĐHY Quốc vụ khanh Tòa Thánh nói thêm rằng ”Bao nhiêu tăm tối vây quanh chúng ta, nhưng những ngày này, tôi đã nghe những tường thuật và gặp gỡ những người đã củng cố tôi trong đức tin.. Những người đã phản đối, đã nổi lên phản kháng, đứng trước những lạm dụng và bạo lực.. Ngày nay, cuộc chiến đấu chống lại những thần tượng nhỏ muốn chiếm chỗ của Thiên Chúa, chống lại những ảo tưởng làm giàu dễ dàng, sự đánh mất ý thức về điều thiện và điều ác, và cả sự dửng dưng.. Anh chị em thân mến, ĐGH ủy cho tôi nói với anh chị em rằng, qua những đau khổ anh chị em đã chịu nhân danh đức tin, anh chị em là những hoa đẹp nhất trong vườn Giáo Hội và chúng tôi đang cần anh chị em. Chúng tôi không thể mất anh chị em và không để anh chị em lẻ loi”.

Trong những ngày viếng thăm Bạch Nga, ĐHY Parolin đã gặp tổng thống Aleksander Lukaschenko hôm 13-3-2015 cũng như các đại diện chính quyền và các GM nước này. Ngoài ra ngài đã đặt viên đá đầu tiên xây tòa Sứ Thần Tòa Thánh tại thủ đô Minsk, và hội kiến với vị thủ lãnh Giáo Hội Chính Thống tại Bạch Nga là Đức TGM Pawel.

Trong số 10 triệu dân tại Bạch Nga, có khoảng 1 triệu 500 ngàn tín hữu Công Giáo và là tôn giáo lớn thứ hai tại nước này sau Giáo Hội Chính Thống. Bạch Nga đang bị Liên hiệp Âu Châu và Hoa kỳ cô lập vì họ không chấp nhận chính sách của tổng thống Lukaschenko và coi ông là ”nhà độc tài cuối cùng ở Âu Châu”.

Hồi năm 2008, tổng thống Lukaschenko đã thỏa thuận với ĐHY Quốc vụ khanh bấy giờ là ĐHY Tarcisio Bertone về các cuộc thương thảo để tiến tới một hiệp định giữa Bạch Nga và Tòa Thánh. Nhưng các cuộc thương thảo bị khựng lại vì sự chống đối của Giáo hội Chính Thống chiếm đa số dân tại nước này. (Apic 15-3-2015)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Thánh Giuse, người của Thiên Chúa

 Thánh Giuse, người của Thiên Chúa

ST JOSEPH NOVENA

Trong năm phụng vụ, Giáo Hội dành hai ngày lễ mừng kính thánh cả Giuse: ngày 19/3 lễ trọng kính thánh Giuse và 1/5 lễ thánh Giuse Thợ. Ngoài ra, Giáo Hội còn dành cả tháng Ba để tôn kính Ngài. Tại sao? Xin thưa: vì thánh Giuse có một vị trí rất quan trọng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, đồng thời Ngài là mẫu gương tuyệt hảo cho các tín hữu noi theo.

Hôm nay mừng lễ trọng của thánh Giuse bạn Đức Trinh Nữ, chúng ta không chỉ dừng lại ở việc chiêm ngắm và ngưỡng mộ thánh Giuse. Nhưng điều quan trọng hơn đó là chúng ta học được điều gì nơi thánh nhân ? Tôi thấy có ba điểm rất đặc biệt mà chúng ta có thể học từ Ngài, đó là sự công chính, tính nhạy bén và kiên định. Có thể nói đây ba đức tính nổi bật của Thánh Giuse.

1- Thánh Giuse, người công chính

Trong nhà nguyện của học viện thánh Phaolô ở Rôma, có hình thánh Giuse và bên cạnh có chữ: Ecce Homo jutus – đây là người công chính. Người công chính trở thành tước hiệu riêng của thánh Giuse. Phúc Âm của thánh Mátthêu gọi thánh cả Giuse là “người công chính”.

Theo Kinh Thánh, người công chính là người biết kính sợ Thiên Chúa, người luôn trung thành tuân giữ luật Chúa. Người công chính cũng là người trung tín, hài hòa và yêu thương tha nhân, người sống theo lương tâm ngay thẳng của mình, và biết chu toàn bổn phận của mình cách chu đáo khôn ngoan. Thánh Giuse đã sống tất cả những phẩm chất đó trong tương quan với Thiên Chúa và với tha nhân.

Tin Mừng hôm nay minh chứng điều đó, khi phải đối diện với một hoàn cảnh rất khó xử, thánh Giuse phát hiện ra Đức Maria đã có thai trước khi hai người về với nhau (x. Mt 1,16-18). Chúng ta thử đặt mình trong hoàn cảnh của thánh Giuse để hiểu được những khó khăn mà Ngài phải đối diện: Giuse phát hiện ra rằng Đức Mẹ có thai, mà tác giả bào thai đó không phải là của mình. Đối với luật Do thái, khi phát hiện một người bạn đời ngoại tình như thế, thì phải ném đá cho đến chết. Vì nó nghịch với đạo lý của Thiên Chúa. Thánh Giuse phải ở trong một tình cảnh rất khó xử. Ngài suy nghĩ, cân nhắc, chọn lựa, và cuối cùng tìm ra giải phải “đào vi thượng sách”, âm thầm rút lui là tốt nhất. Phải là người công chính lắm mới có sự bình tĩnh và khôn ngoan để vừa trung thành luật Chúa vừa không làm tổn hại đến người bạn đời của mình.

Nhưng Tin Mừng kể tiếp, đang khi định bỏ trốn, thì Thiên Thần Chúa hiện đến trong giấc mơ và giải thích cho Giuse biết: “Này ông Giuse, con cháu Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,20-23). Giuse bỏ ý riêng mà tuân theo ý Thiên Chúa và làm theo lời Thiên Thần truyền. Ngài đón nhận Maria về nhà mình để chương trình cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện. Giuse đúng là người công chính, trung thành với Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Vì thế, Ngài được gọi là người công chính của Thiên Chúa.

2- Thánh Giuse là người nhạy bén

Kinh Thánh kể về việc gia đình Thánh Gia gặp khó khăn, thánh Giuse được thiên thần báo trong giấc mơ: “Hãy chỗi dậy đem Hài nhi và mẹ Ngài mà trốn qua Ai Cập (Mt 2,13). Chúng ta suy nghĩ xem: Thiên Thần không hiện ra các tỏ tường, giữa ban ngày để nói với Giuse, nhưng chỉ báo trong giấc mơ. Nhưng Giuse đã đón nhận được ý của Thiên Chúa và lên đường đưa Hài Nhi và Người trốn sang Ai Cập. Điều này minh chứng rằng thánh Giuse phải là người rất nhạy bén với thánh ý Thiên Chúa mới làm được như thế. Giuse phải là người có cặp mắt đức tin rất sáng mới nhận ra tiếng Chúa. Một khi đã xác định đó là ý Chúa muốn, Giuse thực hiện như lời Thiên Thần báo.

Ngày hôm nay khi sống trong thời đại toàn cầu hóa, chúng ta có nguy cơ bị chìm ngập trong các thông tin của điện thoại, internet, tivi, radio, báo chí v.v… Có quá nhiều thông tin và tiếng ồn ào khác nhau làm cho chúng ta trở nên bận rộn, mất khả năng thinh lặng để phân định thánh ý của Thiên Chúa trong cuộc sống của mình. Chúng ta có nguy cơ đánh mất khả năng nhạy bén với tiếng của Thiên Chúa hay “những dấu chỉ của Thiên Chúa” gửi đến với chúng ta.

Vì thế, chúng ta được mời gọi hãy học nơi thánh cả Giuse về sự biết nhạy bén để lắng nghe tiếng Chúa giữa bao tiếng ồn ào khác của cuộc sống hôm nay. Chúng ta hãy học nơi thánh Giuse về sự mau mắn nhận biết thánh ý của Thiên Chúa, những hoạt động của Ngài và mau mắn thi hành trong đời sống chúng ta.

3- Thánh Giuse, người rất kiên định

Việc thực thi thánh ý của Thiên Chúa luôn đòi hỏi phải trả giá và phải đối diện với những khó khăn. Thời đó, chưa có ô tô, máy bay, tàu hỏa như hôm nay, phương tiện đi lại rất khó khăn, phải di chuyển bằng lừa, ngựa qua sa mạc, thời tiết rất khắc nhiệt. Nhưng Giuse bất chấp mọi khó khăn, không hề bỏ cuộc, vẫn kiên trì, kiên định và thực hiện cho đến cùng lời Chúa căn dặn theo kế hoạch của Thiên Chúa.

Trong cuộc sống mỗi người, khi thi hành một sứ vụ mà Chúa và Giáo Hội giao phó, chúng ta thường hăng hái khi “thuận buồm xuôi gió”, nhưng lại rất dễ thất vọng, nãn chí, bỏ cuộc khi phải đối diện với những khó khăn, thử thách. Chúng ta hãy học nơi thánh Giuse đức tính này để chúng ta biết kiễn nhẫn và kiên định trong sứ vụ của mình và cố gắng chu toàn sứ vụ đó theo sự an bài của Thiên Chúa.

Như thế, sự công chính, tính nhạy bén và sự kiên định của thánh Giuse là những nhân đức sáng ngời mà mỗi người kitô hữu chúng ta cần học và rèn luyện để có thể trở thành một người công chính trước mặt Thiên Chúa và tha nhân. Nhờ lời bầu cử đắc lực của Thánh Giuse, xin Chúa chúc lành cho tất cả mỗi người chúng ta!


Lm. Phêrô Nguyễn Văn Hương

Đức Thánh Cha gửi thư cho các Giám Mục Nigeria

Đức Thánh Cha gửi thư cho các Giám Mục Nigeria

VATICAN. ĐTC liên đới với Giáo Hội Công Giáo tại Nigeria và khích lệ toàn thể các tín hữu tại đây tiếp tục dấn thân kiến tạo hòa bình và trợ giúp những người đau khổ.

Trên đây là nội dung thư ĐTC gửi các GM Nigeria được công bố hôm 17-3-2015, trong đó ngài đề cao Nigeria như một đại quốc của Phi châu với hơn 160 triệu dân cư, có thể giữ một vai trò hàng đầu không những ở Phi châu nhưng còn trên toàn thế giới nữa. Trong những năm gần đây, Nigeria đã tăng trưởng mạnh về kinh tế và được coi như một thị trường quan trọng không những về các nguồn tài nguyên thiên nhiên, nhưng còn vì tiềm năng thương mại nữa. Tuy nhiên, ĐTC ghi nhận rằng ”Nigeria đang gặp phải những khó khăn trầm trọng, trong đó có những hình thức cực đoan và thái quá, dựa trên căn bản chủng tộc, xã hội và tôn giáo. Nhiều người Nigeria bị giết, bị thương và tàn tật, bị bắt cóc và mất hết mọi sự, kể cả phẩm giá và các quyền của họ. Các tín hữu Kitô cũng như Hồi giáo đều chịu chung số phận vì tay những kẻ miệng thì tuyên xưng là mộ đạo, nhưng chúng lạm dụng tôn giáo để biến tôn giáo thành một ý thức hệ để phục vụ cho những tư lợi, thống trị và gây chết chóc.

Trong bối cảnh đó, ĐTC bày tỏ sự gần gũi với các GM và tất cả những người đang chịu đau khổ, hằng ngày ngài cầu nguyện cho họ. Đồng thời ĐTC khuyến khích toàn thể Giáo Hội tại Nigeria trở thành những người xây dựng bình. Ngài viết:

"Hòa bình là một sự dấn thân hằng ngày, can đảm và chân thực, để cổ võ hòa giải, thăng tiến những kinh nghiệm chia sẻ, bắc những nhịp cầu đối thoại, phục vụ những người yếu thế nhất và bị bỏ rơi. Nói tắt một lời, hòa bình hệ tại xây dựng một ”nền văn hóa gặp gỡ”.

ĐTC ca ngợi ”Giáo Hội tại Nigeria không ngừng làm chứng về sự tiếp đón, lòng từ bi và tha thứ. Và làm sao không nhắc đến các LM, tu sĩ nam nữ, các thừa sai và giáo lý viên, giữa bao nhiêu hy sinh khôn tả, vẫn không bỏ rơi đoàn chiên của mình, nhưng ở lại để phục vụ họ, như những người tốt lành trung thành loan báo Tin Mừng.

Và ĐTC kết luận rằng: ”Anh em thân mến trong hàng GM: với lòng kiên trì và không nản chí, anh em hãy tiến bước trên con đường hòa bình (Xc Lc 1,79). Hãy tháp tùng các nạn nhân! Hãy cứu giúp người nghèo! Hãy giáo dục người trẻ! Hãy thăng tiến một xã hội công bằng và liên đới hơn!”

Từ lâu, Nigeria bị tổ chức khủng bố Boko Haram hoành hành. Nhóm này tuyên bố liên đới với cái gọi là Nhà Nước Hồi giáo (IS) ở Syria, Iraq và Lybia.

Hôm 16-3-2015, Liên HĐGM miền tây Phi châu, gọi tắt là CEREO, cảnh giác rằng oán thù và nghi kỵ mà nhóm Boko Haram gieo rắc ở miền bắc Nigeria có nguy cơ kéo dài trong nhiều năm trời kể cả sau khi nhóm này không còn nữa. Theo các GM, nơi căn cội sinh ra nhóm Boko Haram có sự tham ô của giới lãnh đạo Nigeria (SD 17-3-2015)

 G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha tiếp kiến các Giám Mục Bosni Erzegovine

Đức Thánh Cha tiếp kiến các Giám Mục Bosni Erzegovine

VATICAN. ĐTC khuyến khích các GM Cộng hòa Bosni Erzegovine tiếp tục nâng đỡ các tín hữu muốn ở lại quê hương, tăng cường việc mục vụ xã hội.

 Ngài đưa ra những lời khích lệ trên đây trong buổi tiếp kiến sáng ngày 16-3-2015, dành cho 6 GM Bosni Erzegovine thuộc 4 giáo phận về Roma hành hương viếng mộ hai thánh Tông đồ Phêrô Phaolô và thăm Tòa Thánh. Đây cũng là quốc gia sẽ được ĐTC đến viếng thăm vào ngày 6-6 tới đây.

 Trong bài huấn dụ trao cho các GM, ĐTC nhắc đến mối quan tâm của các GM về hiện tượng xuất cư của nhiều tín hữu Công Giáo ở Bosni Erzegovine do hoàn cảnh khó khăn, và cũng có những tín hữu đã tản cư trong thời kỳ chiến tranh, mà không hồi hương được vì thiếu công ăn việc làm. ĐTC bày tỏ tình liên đới của ngài và của Giáo hội đối với các GM và nói rằng: ”Tôi khuyến khích anh em đừng bỏ qua năng lực nào để nâng đỡ những người yếu, giúp đỡ những người có ước muốn hợp pháp và lương thiện ở lại nơi quê cha đất tổ của họ, đáp ứng sự đói khát tinh thần của những người tin nơi các giá trị trường tồn, xuất phát từ Tin Mừng, những giá trị qua bao thế kỷ đã nuôi dưỡng đời sống các cộng đoàn của anh em”.

 ĐTC cũng mời gọi các cộng đoàn Công Giáo ở Bosni Erzegovine hãy cởi mở, phản ảnh ánh sáng Tin Mừng trong thế giới, và đừng đóng khung trong các truyền thống cao thượng của mình. Trái lại hãy ra khỏi vòng đai của mình.. kiên vững trong đức tin và được lời cầu nguyện nâng đỡ, sốing và loan báo sự sống mới của Chúa Kitô, Đấng cứu độ mỗi người”.

 Giáo hội Công Giáo tại Bosni Erzegovine chiếm 15% dân số tức là gần 450 ngàn tín hữu Công Giáo trên tổng số 5 triệu 340 ngàn dân, trong đó 40% theo Hồi giáo, tiếp đến là Chính Thống Serbi chiếm 31% (SD

 G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha lên án bách hại Kitô hữu tại Pakistan

Đức Thánh Cha lên án bách hại Kitô hữu tại Pakistan

VATICAN. ĐTC mạnh mẽ lên án vụ khủng bố tự sát chống hai thánh đường Kitô tại thành phố Lahore, Pakistan, chúa nhật 15-3 vừa qua.

 15 người chết và 78 người bị thương trong vụ khủng bố tự sát chống hai thánh đường Kitô, một Công Giáo và 1 Tin Lành, tại khu phố Youhanabad trong thành Lahore. Thuộc khu phố này có khoảng 200 ngàn tín hữu Kitô và quen được gọi là ”thành thánh Gioan”.

 Trong buổi đọc kinh truyền tin trưa chúa nhật 15-3-2015, ĐTC Phanxicô đã mau lẹ lên tiếng về vụ khủng bố này và kêu gọi chấm dứt các cuộc bách hại các tín hữu Kitô. Ngài nói:

 ”Tôi đau buồn, rất đau buồn khi hay tin những vụ tấn công khủng bố ngày hôm nay (15-3) chống lại hai thánh đường ở thành phố Lahore, Pakistan, làm cho nhiều người chết và bị thương. Đó là các nhà thờ Kitô giáo. Các tín hữu Kitô bị bách hại. Các anh chị em chúng ta bị đổ máu chỉ vì là Kitô hữu. Trong khi cam đoan cầu nguyện cho các nạn nhân và gia đình họ, tôi cầu xin Chúa, khẩn cầu Chúa là nguồn mọi thiện hảo, ban ơn hòa bình và hòa hợp cho đất nước Pakistan. Ước gì cuộc bách hại này chống các tín hữu Kitô, mà thế giới đang tìm cách giấu diếm, được chấm dứt và có được an bình”.

 Nhóm Taleban ở Pakistan tên là Jammat-ul-Ahrar tự nhận là thủ phạm vụ khủng bố này. Theo cảnh sát, có 2 người tình nghi đã bị dân chúng tấn công và giết chết. Ký giả Riaz Ahmed cho biết đã thấy 2 thi hài bị cháy đen tại một ngã tư. Vụ nổ chỉ cách nhau vài phút tại hai thánh đường gần nhau, trong khu phố có đông dân cư là tín hữu Kitô: tại thánh đường thánh Gioan Công Giáo lúc ấy đang diễn ra thánh lễ Chúa nhật với sự tham dự của 800 tín hữu. Tại Nhà thờ Tin Lành có khoảng 1 ngàn tín hữu. Hai tên khủng bố tự sát đã cho bom nổ tung ở lối vào thánh đường. Các thanh niên Công Giáo giữ an ninh ở cổng thánh đường đã hy sinh mạng sống nhờ đó tránh được thảm họa lớn hơn cho các tín hữu.

 Ủy ban Công lý và Hòa bình thuộc HĐGM Pakistan đã tố giác Nhà chức trách nước này thiếu sót trầm trọng và ngày càng xảy ra những vụ các nhân viên cảnh sát Pakistan đồng lõa với những kẻ sát nhân hoặc trở thành cánh tay của những kẻ cực đoan.

 Ủy ban cho biết ”Giáo xứ Công Giáo Youhanabad đã từng xin chính quyền và cảnh sát gia tăng an ninh vì đã nhận được những lời đe dọa gần đây, nhưng các nhân viên an ninh hiện diện rất ít. Thay vì chu toàn nhiệm vụ canh chừng, họ thường xem Tivi các trận đấu banh Cricket. Hậu quả của sự lơ là này là nhiều tín hữu Kitô bị thiệt mạng. Đứng trước những vụ bạo hành chống Kitô hữu thường xảy ra như thế, các GM Pakistan kêu gọi chính quyền hãy có ”ý chí chính trị” chặn đứng các tên khủng bố.

 Tình trạng đó cũng giải thích tại sao dân chúng phẫn nộ, phản đối và hành hung 2 người tình nghi sau vụ khủng bố.

 Trong những ngày trước đây, cảnh sát ở Lahore đã tra tấn và sát hại một thanh niên Kitô vô tội. Đó là anh Zubair Masih, 25 tuổi. Tội duy nhất của anh ta là con của bà góa Aysha Bibi, một góa phụ Kitô bị người chủ là Abdul Jabar, một người Hồi giáo, cáo về tội ăn trộm.

 Bà ta bị đánh đập và lăng mạ, nhưng không thú tội. Toàn gia đình bà bị bắt và dẫn đến trụ sở cảnh sát. Tại đây cảnh sát tiếp tục đánh đập, bà mẹ Aysha bị đánh gẫy cánh tay, rồi tất cả được trả tự do ngoại trừ anh Zubair. Hôm sau, cảnh sát trả lại anh ta ở trong tình trạng sắp chết trước nhà bà mẹ. Khi anh được đưa vào nhà thương, các bác sĩ chỉ còn xác nhận anh Zubair đã chết. (SD, Asia News 15-3-2015)

 G. Trần Đức Anh OP – Vatican Raio

Tình yêu của Thiên Chúa nhưng không và vô hạn

Tình yêu của Thiên Chúa nhưng không và vô hạn

Thiên Chúa yêu thương chúng ta với tình yêu nhưng không và vô hạn. Thập giá Chúa Kitô là bằng chứng tột đỉnh tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta, và dấu chỉ thánh thiện và hữu hiệu nhất của tình yêu đó là bí tích Thánh Thể.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật hôm qua tại quảng trường thánh Phêrô.

Mở đầu bài huấn dụ ngài nói: Phúc Âm hôm nay tái đề nghị với chúng ta các lời Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô: “Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một” (Ga 3,16). Khi nghe các lời này, chúng ta hướng cái nhìn của con tim lên Chúa Giêsu Chịu Đóng Đanh và cảm thấy trong chúng ta  rằng Thiên Chúa yêu thương chúng ta, yêu thương chúng ta thật sự và yêu thương chúng ta biết bao! ĐTC nói:

Đó là kiểu diễn tả đơn sơ nhất tóm gọn toàn Tin Mừng, toàn đức tin, toàn thần học: Thiên Chúa yêu thương chúng ta với tình yêu nhưng không và vô hạn. Tình yêu ấy Thiên Chúa chứng minh nó trước hết trong việc tạo dựng, như phụng vụ loan báo trong kinh nguyện Thánh Thể 4: “Cha đã tác thành vũ trụ để đổ tình thương của Cha xuống trên tất cả mọi tạo vật và khiến chúng vui hưởng ánh sáng huy hoàng của Cha”. Ở nguồn gốc thế giới chỉ có tình yêu tự do và nhưng không của Thiên Chúa Cha. Thánh Ireneo viết rằng: “Thiên Chúa đã không tạo dựng nên Ađam vì Ngài cần đến con người, nhưng để có ai đó mà ban các ơn phúc” (Adversus haereses, IV 14,1). Và Kinh nguyện Thánh Thể 4 viết tiếp: “Và khi, vì bất phục tùng, con người đã mất tình nghĩa với Cha, Cha đã không bỏ mặc con người trong quyền lực sự chết, nhưng trong lòng thương xót Cha đã đến gặp gỡ mọi người”. Như trong việc tạo dựng cả trong các chặng tiếp theo của lịch sử cứu độ nổi bật lên tình yêu nhưng không của Thiên Chúa: Chúa chọn dân Người không phải vì họ xứng đáng, nhưng chính vì họ là dân bé nhỏ nhất trong tất cả mọi dân tộc. Và khi đến thời viên mãn, mặc dầu con người đã nhiều lần bẻ gẫy giao ước , Thiên Chúa, thay vì bỏ rơi họ, đã ký kết với họ một dây cột buộc mới, trong máu Chúa Giêsu – mối dây của giao ước mới vĩnh cửu – mà không có gì có thể bẻ gẫy được. Thánh Phaolô nhắc cho chúng ta nhớ: “Thiên Chúa giầu lòng thương xót và rất mực yêu thương chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì tội lỗi chúng ta, Người cũng đã cho chúng ta được sống lại với Đức Kitô” (Ep 2, 4). Đức Thánh Cha giải thích thêm điểm này như sau:

Thập giá Chúa Kitô là bằng chứng tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta: Đức Giêsu đã yêu thương chúng ta cho tới cùng” (Ga 13,1), nghĩa là không phải chỉ cho tới phút cuối cùng của cuộc sống trần gian, nhưng cho tới mức tột đỉnh của tình yêu. Nếu trong việc tạo dựng Thiên Chúa Cha đã trao ban bằng chứng tình yêu vô biên của Người bằng cách ban cho chúng ta sự sống, thì trong cuộc khổ nạn của Con Ngài Ngài đã ban cho chúng ta bằng chứng của các bằng chứng: Người đã đến để đau khổ và chết cho chúng ta. Sau cái chết và sự sống lại của Đức Giêsu thánh Phaolô nói “tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ trên con tim chúng ta qua Chúa Thánh Thần đã được ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Chúa Thánh Thần hoạt động trong Giáo Hội và qua Giáo Hội bảo đảm ký ức sống động của Chúa Kitô và Người hoạt dộng khắp mọi nơi, cả ngoài Giáo Hội nữa, bằng cách làm cho các giá trị nhân bản đích thực lớn lên. Thần Khi của tình yêu làm cho chúng ta có khả năng yêu mến Thiên  Chúa và các anh chị em khác. Dấu chỉ thánh thiện và hữu hiệu nhất của tình yêu này là bí tích Thánh Thể, tưởng niệm lễ Vượt Qua của Chúa Giêsu: mỗi khi chúng ta cử hành nó, là chúng ta sống lại biến cố Núi Sọ, tột đỉnh lịch sử tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại.

Xin Mẹ Maria là Mẹ của lòng thương xót, đặt để trong con tim chúng ta xác tín rằng chúng ta được Thiên Chúa yêu thương. Xin Mẹ gần gũi chúng ta trong những lúc khó khăn và ban cho chúng ta các tâm tình của Con Mẹ, để cho lộ trình mùa chay của chúng ta là kinh nghiệm của ơn tha thứ, sự tiếp đón và tình bác ái.

Tiếp đến ĐTC đã đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin ĐTC đã bầy tỏ sự gần gũi của ngài với người dân đảo Vanuatu trong Thái Bình Dương bị bão lớn. Ngài nói: Tôi cầu nguyện cho những người đã chết, cho những người bị thương và không nhà cửa. Tôi xin cám ơn những ai đã lập tức phát động việc cứu trợ các nạn nhân.

Ngài đã đặc biệt chào các nhóm tín hữu đến từ  Granada Tây Ban Nha, cũng như từ Mannheim Đức, và các đoàn hành hương các giáo phận Perugia, Pordenone, Pavia, giáo xứ thánh Giuse Roma, và từ giáo phận Piacenza Bobbio. ĐTC cũng chào các bạn trẻ Serravalle Scrivia, Rosolina và Verdellino Zingonia đang chuẩn bị lãnh bí tích Thêm Sức, cũng như các bạn trẻ giáo phận Lodi và người trẻ thuộc hạt Romana Vittoria Milano về Roma cử hành nghi thức hứa theo Chúa Giêsu. Ngài cũng chào các bạn trẻ giúp lễ tỉnh  Besana vùng Brianza và các nhóm thiện nguyện tham dự cuộc biểu tình “Cùng nhau cho công ích”. Ngài chúc mọi người một ngày Chúa Nhật an lành và xin tất cả đừng quên cầu nguyện cho ngài.

Linh Tiến Khải

Tại sao “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”?

 Tại sao “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”?

Sách Dân Số (21, 4b-9) kể chuyện, dân Do thái đi trong sa mạc, họ kêu trách Thiên Chúa và ông Môsê rằng : “Tại sao lại đưa chúng tôi ra khỏi đất Ai cập, để chúng tôi chết trong sa mạc, một nơi chẳng có bánh ăn, chẳng có nước uống? …”. Vì thế, Thiên Chúa đã cho rắn độc bò ra cắn chết nhiều người. Sau đó dân hối lỗi chạy đến với Môsê và ông đã cầu khẩn cùng Chúa. Thiên Chúa thương xót, đã truyền cho Môsê đúc một con rắn đồng treo lên giữa sa mạc, và bất cứ ai, hễ bị rắn cắn mà nhìn lên con rắn đồng ấy thì được chữa lành.

Bài Tin Mừng, trong cuộc đối thoại với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu khẳng định:  Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.
 
Lời Chúa trong sách Dân Số và trong Tin Mừng Gioan, qua hình ảnh “Con Rắn”, sẽ đưa chúng ta đi xuyên suốt lịch sử cứu độ, khởi đi từ kinh nghiệm phạm tội trong sa mạc (Ds 21,6), trở về với thời điểm khởi đầu của sự sống (St 3), sau đó đi đến ngôi vị của Đức Kitô (Ga 3,14) và vươn xa tới tận thời cánh chung (Kh 12,7-10).

Con rắn cám dỗ Eva và bà đã sa ngã thua cuộc, để lại cho nhân loại tội tổ tông truyền. Con rắn đồng ông Môsê treo lên trong sa mạc giúp cứu sống người bị rắn độc cắn. Bà Eva nhìn lên và nghe theo lời con rắn “phán”. Dân Do thái nhìn lên con rắn đồng và nghe theo Lời Chúa truyền. Chúng ta nhìn lên Thánh Giá Chúa Kitô sẽ được sự sống và ân sủng chứa chan.

Dịp hành hương Thánh Địa, chúng tôi có lên núi Nebo bên đất nước Jordanie. Chiêm ngắm tác phẩm điêu khắc Thánh giá theo hình con rắn, biểu tượng cho con rắn đồng ngày xưa được Môsê dựng nên, nhìn về Thánh địa và dâng lễ tại nhà nguyện trên núi.

1/ Núi Nebo
 
Núi Nebo là một dãy núi ở Vương quốc Jordanie, cao khoảng 817m. Cựu ước đã đề cập đến nơi này. Trên núi Nebo, Thiên Chúa đã cho Môsê nhìn về Đất Hứa. Từ đỉnh núi nhìn bao quát bức tranh toàn cảnh về Thánh Địa và thành phố bờ Tây sông Giođan là Giêricô, thậm chí vào một ngày rất đẹp trời người ta có thể nhìn thấy cổ thành Giêrusalem.

Theo chương 34 của sách Đệ Nhị Luật, Môsê đã đi lên núi Nebo từ đồng bằng Môáp đến đỉnh Pisgah đối diện với Giêricô để nhìn về Đất Hứa.Giavê phán với Môsê: Đó là đất Ta đã thề với Abraham, ysaac và Giacop rằng: Ta sẽ ban nó cho dòng giống ngươi! Ta đã cho ngươi thấy tận mắt, nhưng ngươi sẽ không qua đó! . Và Môsê đã chết trong xứ Môab. Người ta đã chôn cất ông trong thung lũng, ở xứ Môab, trước mặt Bet-pơor, nhưng không biết được mộ ông cho đến ngày nay.(Đnl 34,4-6).

Theo truyền thống Kitô giáo, Môsê đã được chôn cất trên núi này, tuy nhiên người ta vẫn không xác định được nơi chôn cất ông. Một vài truyền thống Hồi giáo cũng khẳng định điều tương tự, nhưng ngôi mộ của Môsê thì họ cho là ở Maqam El- Nabi Musa nằm về phía nam cách Giêricô 11 km và về phía đông cách Giêrusalem khoảng 20km trong hoang địa Giuđêa. Các học giả tiếp tục tranh luận xem ngọn núi hiện nay được gọi là là Nebo có phải là ngọn núi ngày xưa được đề cập trong bộ Ngũ kinh của Cựu ước không.

Theo sách Maccabê (2 Mcb, 2,4-7): Tiên tri Giêrêmia đã giấu Nhà tạm và Hòm Bia Giao Ước trong một cái hang trên núi Môsê đã lên và được chiêm ngắm cơ nghiệp của Thiên Chúa.

Ngày 20/03/2000, Đức Gioan Phaolô II đã đến núi Nebo trong cuộc hành hương Thánh địa. Ngài đã trồng một cây ô liu bên cạnh nhà thờ theo phong cách Byzantine như là một biểu tượng cho hòa bình.

Ngày 9/5/2009, Đức Bênêđictô XVI đã đến thăm địa danh này, đọc bài diễn văn ở đây và ngài nhìn về thành Giêrusalem từ đỉnh núi Nebo.

Nghệ sĩ người Ý, Giovanni Fantoni đã thực hiện tác phẩm điêu khắc Thánh giá theo hình con rắn. Đây là biểu tượng cho con rắn đồng ngày xưa được Môsê làm theo lệnh của Chúa để cứu sống người bị rắn cắn (Ds 21,4-9) và là thánh giá trên đó Chúa Giêsu bị đóng đinh (Ga 3,14) .

Trên đỉnh cao nhất của ngọn núi mang tên Syagha, người ta khám phá ra di tích ngôi nhà thờ và một tu viện vào năm 1933. Ngôi Nhà thờ được xây dựng lần đầu vào nửa bán thế kỷ thứ IV để kỷ niệm nơi Môsê qua đời. Thiết kế nhà thờ theo phong cách một Vương cung Thánh đường. Nó được mở rộng vào cuối bán thế kỷ thứ V và được xây dựng lại năm 597. Ngôi Nhà thờ đầu tiên được nhắc đến trong bản báo cáo về một cuộc hành hương của một người phụ nữ tên Aetheria vào năm 394. Người ta đã tìm thấy 6 ngôi mộ trống rỗng từ những phiến đá tự nhiên nằm dưới sàn khảm đá của nhà thờ.         
      
Trong ngôi nhà nguyện hiện đại được xây dựng để bảo địa danh này và cung cấp nơi thờ phượng, người ta có thể nhìn thấy thấy những di tích của những sàn nhà khảm đá từ nhiều thời kỳ khác nhau. Một trong những bức tranh khảm đá lâu đời nhất là một tấm ghép với những hình chữ thập có viền hiện nay được đặt ở phía đầu Đông của bức tường phía Nam.

2/ Tại sao lại treo con rắn?
 
Trong trình thuật về Tội Nguyên Tổ (St 3,1-7), lời dụ dỗ của con rắn đã làm cho Evà và Adam nghi ngờ Thiên Chúa : Thiên Chúa nói rằng, ăn trái cây đó thì chắc chắn sẽ chết, nhưng con rắn nói: chẳng chết chóc gì đâu!  Tin vào lời con rắn, đồng nghĩa với việc cho rằng Thiên Chúa nói dối ! Đó là cho rằng, Thiên Chúa lừa dối con người, vì Ngài không muốn chia sẻ sự sống của mình; đó là nghĩ rằng, Ngài tạo dựng con người để bỏ mặc con người trong sa mạc cuộc đời và nhất là cho số phận phải chết. Tin vào lời con rắn, chính là bị con rắn cắn vào người, chính là bị nó tiêm nọc đọc vào người. Và hậu quả là tương quan tình yêu giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với con người bị phá vỡ. Hậu quả tất yếu là chết chóc, như Thiên Chúa đã báo trước: Ngày nào ngươi ăn chắc chắn ngươi sẽ phải chết (St 2,17).

Dựa vào trình thuật Vườn Eden, chúng ta hiểu ra rằng, rắn độc mà sách Dân Số nói đến chính là hình ảnh diễn tả sự nguy hại chết người của thái độ nghi ngờ Thiên Chúa : kế hoạch cứu sống, khi gặp khó khăn lại bị coi là kế hoạch giết chết. Nghi ngờ Thiên Chúa đó là để cho mình bị rắn cắn, là mang nọc độc vào người.

3/ Tại sao “Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy”?
 

Trong Vương cung Thánh đường Thánh Ambrôsiô ở Milan, có 2 cột đá thật ấn tượng và giàu ý nghĩa; “cột rắn“: một con rắn bằng đồng thời Byzantine vào thế kỷ thứ X được đặt trên đỉnh một cột ngắn, đối diện bên kia có “cột thập giá”.

Sách Dân Số (21,9) là một lời tiên báo rất huyền nhiệm về Đấng Cứu Thế, về mầu nhiệm Thâp giá, nơi Đức Kitô là Con Người được “giương cao”. Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu coi cái chết của mình như là một sự tôn vinh, tôn vinh Tình Yêu của Chúa Cha, một Tình Yêu vô bờ bến, một Tình Yêu mãnh liệt “đến nỗi Chúa Cha đã ban Con Một cho thế gian, để những ai tin vào Người Con thì khỏi phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16). Đồng thời cũng là tôn vinh Tình Yêu của Chúa Giêsu, một Tình Yêu đã hy sinh mạng sống vì những người mình yêu, một hy lễ dâng lên Chúa Cha và cũng là sự tự hiến cho loài người, trở nên lương thực nuôi sống chúng ta. Chúa Giêsu “chết để cho chúng ta được sống”.

Trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu ngay từ những lời nói đầu tiên đã đặt mầu nhiệm Thập Giá trong tương quan trực tiếp với hình ảnh con rắn biểu tượng của Tội và Sự Dữ : Như ông Môsê đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao như vậy, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời.
 
Một bên là con rắn bị giương cao. Một bên là Đức Kitô được giương cao trên cây thập giá.Trong Cuộc Thương Khó, Đức Kitô sẽ tự nguyện thế chỗ cho con rắn.Theo Thánh Phaolô: Đức Giêsu tự nguyện trở nên “giống như thân xác tội lội” (Rm 8, 3) và Người “đồng hóa mình với tội” (2Cr 5, 21 ; Gl 3, 13). Tội có bản chất là ẩn nấp, khó nắm bắt, giống như con rắn, nhưng đã phải hiện ra nguyên hình nơi thân xác nát tan của Đức Kitô : “tội để lộ chân tướng và cho thấy tất cả sức mạnh tội lỗi của nó” (Rm 7,13). Thập Giá Đức Kitô mặc khải cho loài người hình dạng thật của Tội. Chính vì thế mà trong Tin Mừng theo thánh Máccô, Đức Giêsu dạy, (chứ không phải báo trước) cho các môn đệ về cuộc Thương Khó của Người (Mc 8, 31).

Chúng ta được mời gọi nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh trên Thánh Giá để nhìn thấy:

– Thân thể nát tan của Người vì roi vọt, kết quả của lòng ghen ghét, của lòng ham muốn, của sự phản bội, của sự bất trung, và của những lời tố cáo lên án vô cớ, của vụ án gian dối.

– Đầu đội mạo gai của Người tượng trưng cho những lời nhạo báng, diễu cợt trên ngôi vị; chân tay của Người bị đinh nhọn đâm thủng và ghim vào giá gỗ; hình ảnh này cho thấy con người đã đánh mất nhân tính và hành động theo thú tính; cạnh sườn của Người bị đâm thủng thấu đến con tim. Sự Dữ luôn đi đôi với bạo lực và bạo lực luôn muốn đi tới tận cùng là hủy diệt. Nhưng đồng thời cũng ở nơi đây, trên Thập Giá, tình yêu, lòng thương xót, sự thiện, sự hiền lành và cả sự sống của Thiên Chúa cũng đi tới tận cùng!

4/ Tại sao “nhìn lên” có khả năng chữa lành?
 
Theo lời của Đức Chúa, Môsê đã treo một con rắn bằng đồng lên cột gỗ và ai nhìn lên thì được chữa lành. Hình phạt bị rắn độc cắn là rất nặng nề, còn ơn chữa lành thật nhẹ nhàng: nhìn lên thì được sống.

Nhìn lên Đức Kitô chịu đóng đinh: “Đấng họ đã đâm thâu” (Ga 19, 37) với lòng tin chúng ta đón nhận ơn tha thứ và được chữa lành.

Thánh Giá Đức Kitô chịu đóng đinh được các giáo phụ gọi là Cây Sự Sống vì đã mang đến cho nhân loại Sự Sống của Thiên Chúa.

Thánh Giá mang lại cho nhân loại Ơn Tha Thứ của Thiên Chúa. Sự bất tuân của Ađam đã mang đến án phạt và sự chết cho toàn thể nhân loại. Giờ đây sự vâng phục của Chúa Giêsu mang lại Ơn Tha Tội của Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại. Vì sự vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá của Chúa Giêsu, Chúa Cha đã tha hết mọi tội lỗi cho nhân loại. Ơn tha thứ đã được ban một cách tràn đầy và cho mọi người, không trừ một ai. Ơn Tha Thứ ấy phát xuất từ Tình Yêu của Chúa Cha. Tình Yêu lớn hơn tội lỗi. Tình Yêu khỏa lấp muôn vàn tội lỗi. Chúa Giêsu chịu đóng đinh và chịu chết trên Thánh Giá biểu lộ Gương Mặt đích thực của Chúa Cha giàu lòng thương xót.

Thánh Giá mạc khải Tình Yêu của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha và đối với nhân loại chúng ta. Chúa Giêsu yêu mến Chúa Cha đến nỗi sẵn sàng hy sinh mọi sự vì Chúa Cha, dâng hiến sự sống mình lên Chúa Cha. Thánh Giá cũng biểu lộ Tình Yêu của Chúa Giêsu đối với chúng ta: không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì những người mình yêu.
 
Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện, vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.

Nhìn lên Thánh Giá, chúng ta yêu mến và tôn thờ Chúa Cứu Thế. Trong xã hội tiêu thụ và hưởng thụ ngày nay, bóng tối của quyền lực, tiền của, danh vọng, lạc thú đang che mờ bóng thánh giá. Con người đang lao mình vào bóng tối bằng mọi giá. Xã hội hôm nay cần phải được ánh sáng của Thánh Giá soi dẫn. Từ Thánh Giá Ðức Kitô, tình thương chúc phúc thế gian, sự sống chan chứa cho lòng người. Trong Mùa Chay, đặc biệt trong những ngày Tuần Thánh sắp tới, chúng ta hãy năng nhìn lên Thánh Giá, đó là địa chỉ mạc khải tình thương của Thiên Chúa và là suối nguồn ơn cứu độ. Nhìn lên Thánh Giá với niềm tin vào tình yêu tha thứ, tình yêu vô bờ bến của Đấng Chịu Đóng Đinh, chúng ta được dồi dào ân sủng và được sự sống đời đời.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An