17,000 cặp đính hôn sẽ mừng ngày Tình yêu Valentine với Đức Thánh Cha

17,000 cặp đính hôn sẽ mừng ngày Tình yêu Valentine với Đức Thánh Cha

WHĐ (09 tháng 02-2014) – Vào ngày Valentine 14 tháng Hai sắp tới, hơn 17,000 cặp đính hôn sẽ gặp Đức Thánh Cha tại Quảng trường Thánh Phêrô. Cuộc gặp gỡ do Hội đồng Toà Thánh về Gia đình tổ chức, dự định diễn ra tại Thính đường Phaolô VI, nhưng con số ghi danh đã vượt quá dự kiến của ban Tổ chức, nên theo đề nghị của Đức Thánh Cha, cuộc gặp gỡ được tổ chức tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Chủ đề “Niềm vui của lời ưng thuận suốt đời” được các đôi trên thế giới đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân nhiệt tình ủng hộ. Họ ghi danh tại Văn phòng Mục vụ gia đình trong giáo phận của mình, tại Văn phòng thư ký của các phong trào, hiệp hội giáo dân hoặc qua email của Hội đồng Toà Thánh về Gia đình [events@family.va]. Thời hạn ghi danh đã được gia hạn đến ngày 12-02.

Cuộc gặp gỡ Đức Thánh Cha sẽ bắt đầu lúc 11 giờ bằng một bài suy niệm, giới thiệu các chứng từ; và Đức Thánh Cha sẽ đến gặp mọi người vào khoảng giữa trưa. Theo Đức giám mục Vincenzo Paglia, Chủ tịch Hội đồng Toà Thánh về Gia đình, sáng kiến ​​này nằm trong khuôn khổ chuẩn bị cho Đại hội chung Ngoại thường lần thứ ba của Thượng Hội đồng Giám mục vào tháng Mười 2014 về những thách đố mục vụ đối với gia đình trong bối cảnh Phúc-Âm-hoá.

(Theo Vatican Radio)

Minh Hòa – HĐGMVN

Võ sĩ samurai Nhật đang được xem xét tôn phong thánh

Võ sĩ samurai Nhật đang được xem xét tôn phong thánh

Andrea Gagliarducci cho National Catholic Register/CNA/EWTN

Takayama Ukon, võ sĩ samurai người Nhật ở thế kỷ 16 chấp nhận đi sống lưu vong chứ không chịu từ bỏ đạo Công giáo, đang được xem xét tôn phong thánh vì lòng trung thành với Chúa Kitô và Giáo Hội.

Hội Đồng Giám Mục Nhật Bản đã đệ đơn dài 400 trang lên Thánh Bộ Phong Thánh xin tôn phong chân phước cho võ sĩ samurai này vào năm 2013.

Cuộc sống của Takayama là tấm gương về “lòng trung thành tuyệt vời với ơn gọi Kitô hữu, kiên trì giữ vững đức tin bất chấp mọi khó khăn”, linh mục dòng Tên Anton Witwer, trưởng thỉnh nguyện viên dòng Tên, phát biểu với CNA.

Takayama sinh năm 1552, ba năm sau khi nhà truyền giáo dòng Tên là Thánh Phanxicô Xaviê truyền giáo đến Nhật. Khi ngài 12 tuổi, cha ngài trở lại đạo Công giáo, và Ukon được linh mục dòng Tên Gaspare di Lella rửa tội và đặt tên là Justo.

Gia đình Takayama là daimyo, thành viên thuộc tầng lớp quý tộc cầm quyền thời phong kiến đứng thứ hai sau shogun trong thời trung cổ và cận đại ở Nhật. Daimyo nắm giữ nhiều đất đai rộng lớn và được quyền huy động quân đội và thuê võ sĩ samurai.

Nhờ có địa vị được kính trọng, gia đình Takayama có thể hỗ trợ các hoạt động truyền giáo ở Nhật, làm người bảo vệ các Kitô hữu Nhật và các nhà truyền giáo dòng Tên. Theo cha Witwer, họ ảnh hưởng đến việc trở lại đạo của hàng chục ngàn người Nhật.

Năm 1587, khi Takayama 35 tuổi, thủ tướng Nhật Toyotomi Hideyoshi bắt đầu bách hại Kitô hữu, trục xuất các nhà truyền giáo và khuyến khích người Công giáo Nhật từ bỏ đức tin.

Trong khi nhiều thành viên daimyo chọn cách từ bỏ đức tin Công giáo, Takayama và cha mình quyết định từ bỏ đất đai và danh dự để giữ đức tin.

Cha Witwer kể Takayama “không muốn chống lại các Kitô hữu khác, và điều này đã khiến ngài sống một cuộc sống nghèo khổ, vì khi võ sĩ samurai không tuân theo lời của  ‘cấp trên’, sẽ mất tất cả mọi thứ mình có”.

Ngài kể Takayama “chọn cách sống nghèo khổ để trung thành với đời sống Kitô hữu. Trong những năm sau đó, ngài được những người bạn quý tộc bảo vệ và có thể sống một cuộc sống tốt hơn”.

“Nhiều người cố thuyết phục Takayama bỏ đạo, vì ngài là quý tộc và là một người nổi tiếng và bởi vì họ không muốn giết người Nhật. Những kẻ bách hại cảm thấy giết Kitô hữu nước ngoài dễ hơn, còn giết Kitô hữu Nhật thì khó”, cha Witwer giải thích.

Năm 1597, Toyotomi ra lệnh hành quyết 26 người Công giáo, cả người nước ngoài lẫn người Nhật; họ đã bị xử tử vào ngày 5-2.

Mặc dù đứng trước mối đe dọa như vậy, Takayama vẫn không chịu từ bỏ Giáo Hội, ngài chọn cách sống đời Kitô hữu cho đến khi qua đời. Khi shogun Tokugawa Ieyasu cấm Kitô giáo hoàn toàn vào năm 1614, Takayama bỏ đi sống lưu vong.

Ngài dẫn đầu một nhóm 300 người Công giáo sang Philippines, và họ định cư tại Manila. Ngài đến đây vào tháng 12, và qua đời vào ngày 4-2 năm sau, do yếu sức vì cuộc bách hại ở Nhật Bản.

“Từ khi Takayama chết trong lúc sống lưu vong, vì yếu sức do bị ngược đãi ở quê nhà”, cha Witwer giải thích, “quá trình phong chân phước cho ngài giống như một vị tử đạo”.

Nếu Takayama được chấp nhận là một người tử đạo, ngài sẽ không cần có phép lạ trước khi được phong chân phước.

Nguồn: National Catholic Register

UCANEWS VN

Kitô hữu môn đệ truyền giáo là muối đất và ánh sáng thế gian

Kitô hữu môn đệ truyền giáo là muối đất và ánh sáng thế gian

Ơn gọi của Kitô hữu môn đệ thừa sai là muối đất và là ánh sáng thế gian, là đén cháy sáng để cuộc sống thánh thiện của chúng ta trao ban ”hương vị” cho các môi trường sống khác nhau và bảo vệ chúng khỏi bị hư thối.

Kính thưa qúy vị, thưa các bạn, Đức Thánh Cha đã nói như trên trong buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 9 tháng 2-2014 với hàng chục ngàn tín hữu tự tập tại quảng trường Thánh Phêrô.

Đề cập tới bài Phúc Âm Chúa Nhật hôm qua kể lại lời Chúa Giêsu nói với các môn đệ: ”Các con là muối đất… Các con là ánh sáng thế gian” (Mt 5,3.14), Đức Thánh Cha nói: Điều này khiến cho chúng ta hơi ngạc nhiên một chút, nếu chúng ta nghĩ tới những người đang đứng trước Chúa Giêsu là ai. Họ là những người đánh cá, những người đơn sơ. Nhưng Chúa nhìn họ với con mắt của Thiên Chúa, và người ta hiểu khẳng định của Ngài như là hậu qủa của các Mối Phúc Thật. Ngài muốn nói rằng: nếu các con có tinh thần nghèo khó, có con tim trong sạch, có lòng thương xót… thì các con sẽ là muốn đất và ánh sáng thế gian. Để hiểu các hình ảnh này một cách tốt đẹp hơn. chúng ta chú ý tới Luật Lệ Do thái truyền phải bỏ một chút muối trên mọi lễ vật dâng cho Thiên Chúa, như dấu chỉ của giao ước. Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa ánh sáng như sau:

Thế rồi ánh sáng, đối với dna Israel, là biểu tượng của mạc khải cứu thế chiến thăng bóng tối của dân ngoại. Như vậy các kitô hữu, là dân Israel mới, nhận lãnh một sứ mệnh đối với tất cả mọi người: với đức tin và với tình bác ái họ có thể hướng dẫn, thánh hóa và làm cho nhân loại trở thành phong phú. Tất cả chúng ta những người đã được rửa tội, chúng ta là các môn đệ thừa sai và được mời gọi trở thành một phúc âm sống động trong thế giới: với cuộc sống thánh thiện chúng ta sẽ trao ban ”hương vị” cho các mội trường khác nhau, và bảo vệ chúng khỏi thối rữa, như muối làm vậy. Và chúng ta sẽ đem ánh sáng của Chúa Kitô với chứng tá của một tình bác ái tinh tuyền. Nhưng nếu các kitô hữu chúng ta đánh mất đi hương vị và tắt ngúm, chúng ta dập tắt sự hiện diện là muối và ánh sáng, bởi vì chúng ta đánh mất đi sự hữu hiệu. Sứ mệnh trao ban ánh sáng cho thế giới đẹp đẽ biết bao! Đó là một sứ mệnh mà chúng ta có. Nó đẹp. Và cũng thật đẹp duy trì ánh sáng mà chúng ta đã nhận được từ Chúa Giêsu, gìn giữ nó và duy trì nó. Kitô hữu phải là một người chiếu sáng, mang ánh sáng, luôn luôn troa ban ánh sáng. Một ánh sáng không phải của mình, nhưng là món quà của Thiên Chúa, là món quà của Chúa Giêsu. Đức Thánh Cha khẳng định thêm:

Nếu Kitô hữu dập tắt ánh sáng này, cuộc sống của họ không có ý nghĩa; đó là một tín hữu Kitô chỉ có danh thôi, mà không mang ánh sáng, một cuộc sống vô nghĩa. Nhưng bây giờ tối muốn hỏi anh chị em, anh chị em muốn sống thế nào? Như một cái đèn cháy sáng hay một cái đèn tắt? Cháy sáng hay tắt? Anh chị em muốn sống thế nào? Tín hữu trả lời ”cháy sáng”, nhưng hơi nhỏ, Đức Thánh Cha nói ”ở đây người ta chả nghe gì cả”. Tín hữu la to hơn: ”cháy sáng”. Ngài nói tiếp: Đèn cháy sáng nhé! Chính Thiên Chúa cho chúng ta ánh sáng này và chúng ta trao nó cho người khác. Đèn cháy sáng đó là ơn gọi kitô của chúng ta.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc kinh truyền tin và ban phép lành cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha nhắc cho mọi người biết ngày 11 tháng 2 này là lễ Đức Mẹ Lộ Đức và cũng là ”Ngày quốc tế các bệnh nhân”. Đức Thánh Cha nói đây là dịp thuận tiện để đặt các anh chi em bệnh tật vào trung tâm của cộng đoàn, cầu nguyện cho họ và với họ, gần gũi họ. Sứ điệp cho ngày này được gợi hứng bởi một kiểu nói của thánh Gioan: Đức tin và tình bác ái: ”Cả chúng ta nữa chúng ta cũng phải hiến mạng sống cho các người anh em” (1 Ga 3,16). Một cách đặc biệt chúng ta có thể noi gương Chúa Giêsu đối với mọi loại người đau yếu: Chúa săn sóc tất cả, chia sẻ nỗi khổ đau của họ và rộng mở con tim cho niềm hy vọng. Rồi Đức Thánh Cha cám ơn các nhân viên y tế trên toàn thế giới. Ngài nói công việc của anh chị em thật qúy báu! Xin cám ơn công việc qúy báu của anh chị em rất nhiều. Họ gặp gỡ nơi các bệnh nhân mỗi ngày không phải chỉ các thân xác ghi dấu sự giòn mỏng, nhưng các bản vị con người mà họ cống hiến sự chú ý và các câu trả lời thỏa đáng. Phẩm giá con người không bao giờ bị giản lược vào các khả thể hay năng khiếu của nó, và nó không giảm thiểu, khi chính con người yếu đuối, tàn tật và cần giúp đỡ. Tôi cũng nghĩ tới các gia đình, nơi việc săn sóc ai đau yếu là điều bình thường; nhưng đôi khi các tình hình có thể nặng nề hơn… Có rất nhiều người viết thư cho tôi và hôm nay tôi muốn bảo đảm một lời cầu nguyện cho tất cả các gia đình đó, và tôi nói với họ: Anh chị em đừng sợ hãi sự giòn mỏng! Đừng sợ hãi sự giòn mỏng. Hãy giúp đỡ nhau với tình yêu thương và anh chị em sẽ cảm thấy sự hiện diện ủi an của Thiên Chúa.

Thái độ quang đại và kitô đối với các bệnh nhân là muối đất và ánh sáng thế gian. Xin Đức Trinh Nữ Maria trợ giúp chúng ta thực thi điều đó, và xin Mẹ chiếm được an bình và an ủi cho mọi người đang đau đớn.

Trong những ngày này Thế Vận Hội mùa đông cũng đang diễn ra tại Sochi bên Nga. Tôi muốn gửi lời chào tới các người tổ chức và tất cả các lực sĩ tham dự với lời cầu chúc nó là một lễ hội của thể thao và tình bạn. Tiếp đến ngài chào nhiều nhóm khác nhau hiện diện tại quảng trường, trong đó có nhóm các nữ thần học gia đang tham dự một đại hội tại Roma. Đức Thánh Cha cũng bầy tỏ sự gần gũi của ngài và cầu nguyện cho những người đang khổ đau vì các thiên tai tại nhiều nước khác nhau, kể cả ở Roma. Trước khi kết thúc buổi đọc Kiinh Truyền Tin Đức Thánh Cha còn lập lại câu hỏi tín hữu muốn là đèn cháy sàng hay đèn bị tắt rồi nói: Kitô hữu đem ánh sáng. Họ là một chiếc đèn cháy sáng. Hãy luôn tiến bước với ánh sáng của Chúa Giêsu.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Muối và ánh sáng (2)

Muối và ánh sáng (2)

Sau một thời gian dài học hỏi và tu luyện, người học trò mới cất tiếng hỏi thầy mình:

– Thưa thầy, đâu là sự khác biệt giữa kiến thức và giác ngộ?

Thầy mỉm cười và ôn tồn giải thích:

– Khi có kiến thức, giống như con có “ánh sáng” soi đường con đi. Nhưng khi con giác ngộ, chính con sẽ trở thành “ánh sáng” soi đường cho người khác.

Bạn thân mến!

Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng mời gọi ta trở nên “Ánh Sáng và Muối Đất”. Đó cũng là lệnh truyền cấp bách mà Chúa Giêsu gởi đến mỗi người chúng ta hôm nay.

“Chính anh em là muối cho đời”. (Mt. 5,13) Muối là một sản phẩm không thể thiếu trong đời sống con người. Muối vừa làm phân bón cho đất đai màu mỡ; vừa làm gia vị cho các món ăn thêm thơm ngon đậm đà; vừa bảo quản thực phẩm cho khỏi hư thối. Khi muối muốn ướp cho “mặn đời”, muối phải biết chấp nhận hòa tan, phải biết “mất đi” cho chính mình để hoá thân trong chất mặn, để hiến dâng cho đời hương vị thơm ngon, mặn nồng của quảng đại, của yêu thương và tha thứ …

“Chính anh em là ánh sáng cho trần gian”(Mt.5:13). Đây là lời mời gọi tuyệt vời dành cho người Kitô, bởi lẽ chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga.1:5). Chỉ Đức Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga.8:12). Vậy ta muốn trở thành ánh sáng như Đức Giêsu, ta phải ở gần Ngài: gần đèn thì ta được toả sáng.

Ánh sáng không thiên vị một ai, không thích người này và cũng không chê người kia. Ánh sáng của mặt trời lan tỏa khắp nơi, chiếu sáng mọi người và mọi nhà. Ánh sáng của người Kitô cũng vậy,“ánh sáng của anh em phải ở trên cao, vượt trên mọi danh vọng, tiền tài, lạc thú. Không phải để khoe khoang, tự kiêu, nhưng là để tôn vinh Cha, Đấng ngự trên trời” (Mt.5:16).

Ánh sáng của cây nến tuy nhỏ bé nhưng cũng đủ toả sáng cả một căn phòng, làm cho bóng tối phải lùi bước. Một khi ánh sáng của ngọn nến bừng lên, đó cũng là lúc ngọn nến bị đốt cháy, bị tan biến đi. Người Kitô cũng vậy, phải mất đi cho chính mình, phải tan biến đi để “Ánh Sáng Chúa Kitô“ được loan toả khắp nơi, khắp mọi nhà, khắp mọi tâm hồn.

Khi bị đốt cháy, ngọn nến nhận sức nóng từ ngọn lửa và cho đi ánh sáng. Người Kitô trong thế giới hôm nay cũng phải giống như vậy. Nhưng trong suy tư thinh lặng, tôi tự hỏi lòng mình: “Tôi đang nhận điều gì trong cuộc sống hôm nay? Và tôi sẽ cho đi những gì cho người anh em xung quanh tôi?”

Vì tôi là muối nhạt nên thế giới này vô vị.

Vì tôi là đèn hết dầu, nên thế giới còn nhiều bóng tối.

Thế giới này sẽ mang bộ mặt mới nếu tôi thực thi lời mời gọi của Chúa Giêsu trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay: “Anh em là muối cho đời …Anh em là ánh sáng cho trần gian”.

Veritas Radio

Lạy Chúa Giêsu!

Xin giúp con lắng nghe tiếng Chúa

và nỗ lực thực thi Lời Ngài trong cuộc sống của con hôm nay. Amen!

NHÂN CHỨNG

NHÂN CHỨNG

Chủ đề: Thiên Chúa là Chúa của mọi người, yêu thương mọi người. (Mt 15,22)

Rebecca Manley Pippert viết một câu chuyện hay và hứng khởi về một người thanh niên khác thường.

Bill đang trong năm cuối đại học. Anh thông minh, một người tín hữu Kitô mới, và có chút khác biệt với các sinh viên khác. Suốt bốn năm, tủ quần áo của anh chỉ có một chiếc áo thung T-shirt, quần jean, và không có giầy.

Bên kia đường, đối diện với trường là một nhà thờ cổ kính, giáo dân tham dự là những người ăn mặc chỉnh tề.

Một ngày Chúa Nhật kia, Bill đi vào cửa chính. Nghi thức đã bắt đầu; Bill chậm rãi bước vào lối đi ở giữa để tìm một chỗ trống.

Khi anh bước gần đến hàng đầu, hiển nhiên là không còn chỗ trống. Do đó Bill ngồi bệt xuống sàn ngay đằng trước bục giảng.

Đây là điều chỉ có thể chấp nhận trong một phòng ngủ đại học, nhưng thật khó trong một nhà thờ cổ kính. Bạn có thể cảm thấy người ta nhìn anh chăm chăm. Ngay cả vị mục sư cũng ngừng giảng, không biết phải nói gì hay làm gì.

Ngay lúc đó, một trưởng lão khoảng tám mươi tuổi – trong bộ vét cáo cạnh và ông chống gậy – ông từ cuối nhà thờ bước đến chỗ anh Bill ngồi trên sàn.

Mọi cặp mắt đổ dồn về ông trưởng lão. Chiếc gậy của ông gõ nhịp theo từng bước chân. Ông là một người đạo đức, tóc bạc, trang nghiêm, lịch thiệp, được mọi người tôn trọng. Làm thế nào một người lớn tuổi và chững chạc như ông lại có thể hiểu được một sinh viên như Bill?

Khi trưởng lão này đến chỗ Bill ngồi, mọi người như nín thở. Điều ông sắp làm là một việc không béo bở gì, nhưng phải được thi hành. Ngay cả mục sư cũng ngừng giảng cho đến khi trưởng lão này chấm dứt công việc.

Nhìn xuống Bill, ông trưởng lão thả cây gậy rơi xuống sàn. Sau đó, thật khó khăn, ông ngồi xuống bên cạnh Bill. Ông muốn anh cảm thấy được chào đón và không chỉ thờ phượng một mình.

Khi mục sư lấy được bình tĩnh, ông nói với giáo đoàn với một giọng đầy xúc động.

“Điều mà tôi chuẩn bị để giảng cho anh chị em, anh chị em sẽ không bao giờ nhớ. Nhưng điều mà anh chị em đã thấy, anh chị em sẽ không bao giờ quên.” (Theo “Out of the Saltshakers” của Rebecca Manley Pippert).

Câu chuyện này thật thích hợp với bài Phúc Âm hôm nay, trong đó Chúa Giêsu nói:

Không ai đốt đèn rồi rồi lấy thùng úp lại, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời.

Một số người nói rõ rằng có ba động lực giải thích tại sao người ta làm điều tốt – tỉ như trưởng lão này đã làm: niềm vui, sự thiết thực, hay tình yêu thuần túy. Chúng ta hãy nhìn đến từng điểm: trước hết, niềm vui.

Trong Christmas Carol, Charles Dickens diễn tả cách Ebenezer Scrooge đáp ứng với dân chúng sau khi ông hoán cải. Dickens nói:

Ông ta đi nhà thờ… và âu yếm vỗ đầu các trẻ em và nói chuyện với những người ăn xin… và thấy rằng mọi thứ đều đem lại cho ông niềm vui. Ông chưa bao giờ mơ tưởng… rằng có điều gì… có thể đem cho ông hạnh phúc nhiều như vậy.

Chúng ta cũng cảm thấy như vậy khi tình nguyện làm việc trong cộng đoàn, trong nơi phát đồ ăn, hay trong những trung tâm hưu dưỡng.

Và như thế động lực đầu tiên khiến người ta làm điều tốt là vì họ cảm thấy sung sướng. Nó đem cho họ niềm vui.

Động lực thứ hai tại sao người ta thi hành điều tốt là vì sự thiết thực. Tôi nhớ Lyndon Johnson có lần nói, “Hãy yêu thương kẻ thù, vì một ngày kia quý vị sẽ cần đến họ như những người bạn.” Hiển nhiên đó là một động lực thiết thực.

Một thí dụ sẽ minh họa thêm nữa. Martin Niemoller là một mục sư Lu-tê-rân. Khi Đức Quốc Xã nắm quyền, lúc đầu, ông do dự không dám lên tiếng. Khi ông lên tiếng, ông bị bắt và bị cầm tù. Ông nói trong một phát biểu nổi tiếng mà sau này được viết trong Hồ Sơ Quốc Hội Hoa Kỳ:

Khi Đức Quốc Xã đến diệt người cộng sản, tôi đã không lên tiếng vì tôi không phải là một người cộng sản. Khi họ đến giết người Do Thái, tôi đã không lên tiếng bởi vì tôi không phải là một người Do Thái… Sau đó họ đến để giết người Công Giáo, và tôi đã không lên tiếng bởi vì tôi là một người Tin Lành. Sau cùng họ đến để giết tôi… và vào lúc ấy, không còn ai để lên tiếng thay cho tôi.”

Như thế lý do thứ hai để làm điều tốt thì thiết thực: Nếu tôi muốn người khác giúp tôi, tôi phải giúp họ.

Điều này đưa chúng ta đến lý do sau cùng: tình yêu thuần túy: là lý do mà vị trưởng lão đó đã ngồi bệt trên sàn với anh sinh viên. Có lẽ ông không tìm niềm vui trong công việc đó, cũng chẳng có gì nhiều để Bill làm lại cho ông. Ông làm điều đó chỉ vì nó đúng. Ông muốn anh Bill cảm thấy được chào đón và được đối xử một cách thương mến.

Ông Phil Donahue có một nhận xét thích thú về việc thi hành điều tốt. Ông nhận xét rằng người ta tự ý thi hành điều tốt thường sau ba giai đoạn.

Thứ nhất, có giai đoạn vui thích. Đó là khi người ta nói, “Tôi thích làm điều này. Tại sao tôi đã đợi khá lâu mà không bắt tay vào?” Kế đến, đó là giai đoạn không khoan dung. Đó là khi họ nói, “Người nào không tham dự vào, người ấy không thực sự là một Kitô Hữu.”

Sau cùng, có giai đoạn thực tế. Đó là khi họ bỗng dưng nhận ra rằng sự tham dự của họ chỉ tạo được một vết nhỏ trong những khó khăn của thế giới. Tại giai đoạn này, các thánh được phát sinh.

Như thế điều khích lệ dân chúng làm điều tốt lành thì theo một khuôn khổ giống như điều Donahue đã nói về sự quyết tâm.

Trước hết, đó là vui thích. Nó làm chúng ta cảm thấy sung sướng. Thứ hai, đó là tính thiết thực. Nếu chúng ta giúp người khác, họ sẽ giúp chúng ta. Sau cùng, đó là vì tình yêu thuần túy. Đó là lý do tại sao vị trưởng lão đã giúp anh Bill.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu được cho là của Thánh Y Nhã.

Lạy Chúa, xin hãy dậy con trở nên độ lượng.

Hãy dạy con
phục vụ Chúa vì Ngài đáng được như vậy;
biết cho đi mà không tính toán;
chiến đấu mà không để ý đến các thương tích;
lao nhọc mà không tìm sự nghỉ ngơi;
làm việc mà không tìm phần thưởng,
Ngoại trừ được biết rằng con đang thi hành thánh ý Chúa.

LM. Mark Link, SJ

Muối và ánh sáng

Muối và ánh sáng

“Các con là muối đất” (Mt 5,13)

Đời sống tín hữu phải là một cuộc đời có sự sống, sự sống thật, trong cái thân xác dễ hư, dễ thối, dễ ươn ỉnh nầy. Sự sống thật là sự sống của Thiên Chúa mà mỗi tín hữu đã lãnh nhận trong bí tích Thánh Tẩy. Và đế giữ được sự sống ấy cho đến ngày sau cùng, các tín hữu phải được ướp bằng chính Chúa Kitô. Chính nhờ đức tin vào Chúa Kitô, niềm cậy trông và lòng yêu mến Chúa Giêsu Kitô mà mỗi tín hữu được sống trong sự sống của Thiên Chúa. Như vậy, trong khi yêu cầu các môn đệ “các con là muối đất’ thì chính Chúa Giêsu đã là muối ướp chúng ta cho chúng ta khỏi hư thối, giữ cho chúng ta sự sống thật, sự sống đời đời.

Chúa Giêsu ướp chúng ta bằng những hạt muối là Lời dạy của Chúa, là chính cuộc sống hiến tế của Ngài trong Thánh Thể.

Ngày đầu năm mới, mỗi gia đình nhận được Lộc Xuân là những câu Lời Chúa, không phải là nhận thêm những hạt muối mới để ướp cuộc đời chúng ta luôn tươi, luôn mới, luôn tràn đầy sức sống trong năm mới đó sao?

Ngôi Lời đã hoá thân thành nhục thể, và có thể nói, đã hoá thân thành muối cho đời. Hạt muối Giêsu mặn nồng tình yêu với Chúa Cha, với nhân loại, mặn nồng một niềm tin tưởng phó thác vào tay Cha, mặn nghĩa mặn tình với những con người cùng khổ, tội lỗi… nhờ “vâng ý Cha” mà trao hiến chính Thánh Thể của mình cho con người, trở nên tấm bánh bẻ ra nuôi sống con người.

Đến lượt chúng ta, khi đã được hạt muối Chúa Giêsu Thánh Thể ướp mặn, ướp cho tươi mới, chúng ta lại trở nên những hạt muối mới, những hạt muối mặn nồng tình yêu Chúa Giêsu để ướp bao tâm hồn khác sống trong sự sống của Thiên Chúa. Sứ mệnh của Chúa Giêsu được chuyển giao cho chúng ta, để chúng ta duy trì sự sống của Thiên Chúa trong chúng ta và trên trần gian này cho đến ngày tận thế.

Như vậy, nếu không để cho Lời Chúa và Thánh Thể Chúa ướp chúng ta, nói cách khác, không kết hiệp và sống mật thiết với Lời và Thánh Thể của người, hẳn chúng ta là những hạt muối nhạt nhẽo, bị vứt đi cho người ta chà đạp.

“Các con là ánh sáng trần gian” (Mt 5,14)

Cũng thế, một ý tưởng chuyển giao thứ hai của Chúa Giêsu trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay, khi ta nhận được ánh sáng của Thiên Chúa qua Chúa Giêsu, cũng là lúc chúng ta phải chiếu sáng như những vì sao ở giữa thế gian: “Sự sáng của các con phải chiếu dọi để thiên hạ nhìn thấy việc lành các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời.” (Mt 5,16).

Nếu bài dạy của Chúa Giêsu trên núi, là hiệp nhất trọn vẹn, là kết hiệp trọn vẹn với Chúa Giêsu chí thánh chí thiện, là kết hợp với Con Thiên Chúa, để được Nước Thiên Chúa, thì chính việc thực hiện các mối phúc thật ấy sẽ như ánh sáng muôn đời, sẽ là ánh sáng chiếu soi, ánh sáng làm chứng cho thiên hạ biết rằng có một Nước Thiên Chúa đang ngự trị ở trần gian.

Điều Chúa Giêsu cẩn trọng dặn dò chúng ta là “để thiên hạ nhìn thấy việc lành các con làm mà ngợi khen Cha các con ở trên trời”. Việc lành toả sáng để danh Chúa được cả sáng, chứ không phải để danh mình được cả sáng.

Không thể gọi là Kitô hữu Công giáo nếu không đem niềm vui cứu độ đến cho mọi người. Việc “đem niềm vui cứu độ đến cho mọi người”, thiết tưởng, đến nay đã có nhiều người thi hành, nhưng, đem niềm vui đến cho nhiều người để danh Cha được cả sáng, thì có lẽ, phải cần xem lại.

Sứ mạng đặc biệt

Thánh Phaolô khẳng định về sứ mạng hạt muối, ánh sáng nhờ Chúa Giêsu Kitô: “Phần anh em, chính nhờ Thiên Chúa mà anh em được hiện hữu trong Ðức Kitô Giêsu, Ðấng đã trở nên sự khôn ngoan của chúng ta, sự khôn ngoan xuất phát từ Thiên Chúa, Ðấng đã làm cho anh em trở nên công chính, đã thánh hoá và cứu chuộc anh em.” (x. Cr 1,30).

Sứ mạng ấy là ơn gọi đặc biệt trước mắt Thiên Chúa, trong thân phận nhỏ bé tầm thường. “Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô, mà là Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá. Vì thế, khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.” (1 Cr 2,1-5).

Lời thư Thánh Phaolô gửi Côrintô, cách nào đó, đã nói lên cho mỗi người niềm vinh dự được là muối đất, là ánh sáng của Nước Thiên Chúa.

Chu toàn sứ mạng

Sứ mạng rất đặc biệt của thân phận hạt muối, thân phận ngọn đèn sáng giữa bão tố phong ba, được Lời Chúa CN 5 TN A định hướng cho mỗi chúng ta qua Lời Tiên tri Isaia rằng “chia cơm cho người đói, rước vào nhà những người nghèo không nơi trú ngụ; thấy ai mình trần thì cho áo che thân, không ngoảnh mặt làm ngơ trước người anh em cốt nhục” (Is 58,7).

Giáo Hội là Mẹ chúng ta, đã khôn ngoan hướng dẫn Tám Mối Phúc Thật thành việc cụ thể của chứng nhân Nước Thiên Chúa, của hạt muối, của ánh sáng qua “mười bốn mối thương người”: Cho kẻ đói ăn. Cho kẻ khát uống. Cho kẻ rách rưới ăn mặc. Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc. Cho khách đỗ nhà. Chuộc kẻ làm tôi. Chôn xác kẻ chết.

Lấy lời lành mà khuyên người. Mở dạy kẻ mê muội. An ủi kẻ âu lo. Răn bảo kẻ có tội. Tha kẻ dễ ta. Nhịn kẻ mất lòng ta. Cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

Lạy Chúa, muối của con đã nhạt vì lòng mến Chúa Chúa Giêsu đã bị các thực tại trần thế hấp dẫn cuốn hút. Ánh sáng của chúng con mờ dần đi, vì chúng con không chịu kết hiệp với Chúa, chúng con lìa xa ánh sáng Chúa.

Xin cho chúng con biết mến yêu Chúa nồng nàn hơn và nồng nàn yêu Chúa hơn yêu việc của Chúa. Amen.

PM. Cao Huy Hoàng

Muối cho đời

Muối cho đời

Trong những dịp cuối năm, các bản tổng kết tình hình đều đánh giá cao những đóng góp của Giáo hội đặc biệt trong lãnh vực giữ gìn đạo đức xã hội. Nơi nào có đồng bào Công giáo sinh sống, tệ nạn xã hội không có hoặc có rất ít. Nghe những nhận định trên, tôi rất vui vì thấy anh chị em tín hữu đang sống đúng tinh thần trở thành muối cho đời như lời Chúa dạy trong bài Tin Mừng hôm nay.

Khi nói đến muối Chúa Giêsu có ý dạy các môn đệ về cách thế hiện diện trong xã hội.

Đó là một hiẹn diện khiêm nhường

Hạt muối thật bé nhỏ. Chẳng ai chú ý tới sự hiện diện của nó. Bên cạnh thịt, cá, rau cỏ, muối chỉ đóng vai phụ. Người ta trưng bày những món ăn đắt tiền. Người ta giới thiệu những món ăn cầu kỳ. Không thấy ai trưng bày muối. Chẳng có ai giới thiệu muối trong bữa tiệc lớn. Xét về giá trị kinh tế, muối chẳng đáng giá bao nhiêu. Đó là một hiện diện quên mình.

Muối có đó nhưng không ai thấy muối. Không chỉ vì muối bé nhỏ khiêm nhường mà vì muối phải tan biến đi. Phải tan biến đi muối mới có tác dụng. Muối ướp vào thịt cá mà không tan đi thì không thấm được vào thớ thịt, thớ cá, không giữ cho thịt tươi cá tốt được. Muối gia giảm vào cá kho, thịt rim, nước canh mà không tan đi thì khi ăn phải, người ta sẽ nhăn mặt bỏ đi. Chỉ khi tan biến đi, hoà tan vào thịt, cá, rau cỏ, muối mới có ích lợi. Muối phải hiện diện nhưng lại phải tiêu huỷ đi thì mới có ích.

Đó là một hiện diện tích cực

Tuy bé nhỏ khiêm nhường và vắng mặt, nhưng hiện diện của muối là một hiện diện tích cực. Tích cực vì góp phần bảo trì thực phẩm khỏi hư thối, vì nâng phẩm chất món ăn. Tích cực vì là một thành phần hầu như không thể thiếu trong các món ăn. Tuy không thấy và không nói ra, nhưng ai cũng ngầm hiểu trong mỗi món ăn đều có muối.

Khi dùng muối làm hình ảnh minh hoạ, chắc chắn Chúa Giêsu cũng muốn cho các môn đệ của Người có những đặc tính của muối.

Người muốn các môn đệ của Người sống giữa nhân loại như muối ở trong thức ăn. Người muốn các môn đệ của Người hiện diện thật kiêm nhường như những hạt muối bé nhỏ. Người muốn các môn đệ của Người hiến thân mình cho nhân loại như những hạt muối hòa tan trong thực phẩm.

Nhưng để sự hiện diện bé nhỏ khiêm nhường mang yếu tố tích cực, các môn đệ phải giữ được vị mặn của muối.

Vị mặn, đó là lòng yêu mến Chúa mặn nồng, là tình yêu tha nhân mặn mà, là sống tinh thần Tám Mối Phúc như Chúa dạy trong bài Tin Mừng tuần trước.

Giữ được vị mặn của Phúc Âm và hiện diện âm thầm trong phục vụ quên mình, người môn đệ Chúa sẽ thực sự góp phần bảo vệ nền đạo đức của xã hội. Dù không muốn, họ vẫn trở thành ánh sáng soi trần gian.

Lạy Chúa, Chúa tin tưởng con, nên đã gọi con là muối trần gian. Xin cho lòng con yêu mến Chúa tha thiết, để đem cho đời hương vị tình yêu. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1- Bạn nghĩ gì về hình ảnh hạt muối?
2- Làm muối, dễ hay khó?
3- Bạn đã bao giờ cảm thấy niềm vui được chìm đi để anh em được nổi nang chưa?

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Dụ ngôn hạt muối

Dụ ngôn hạt muối

Hạt muối Bé nói với hạt muối To: “Em đến chia tay chị, em sắp được hòa trong đại dương”. Muối To trố mắt: “Em dại quá, sao lại để đánh mất mình như thế. Em muốn thì em cứ làm, chị không điên!“.

Muối To thu mình co quắp lại, nhất định không để biển hòa tan. Muối To lên bờ, sống trong vuông muối. Nó vẫn ngạo nghễ, to cứng và nhìn chúng bạn bé tí ti đầy khinh khỉnh. Thu hoạch, nông dân gạt nó ra ngoài, xếp vào loại phế phẩm, còn những hạt muối tinh trắng kia được đội lên đầu, hay bê bên lưng rồi đóng vào bao sạch đẹp… Lần đầu tiên nó thấy mình bị xúc phạm!

Sau một thời gian lăn lóc hết xó chợ này đến xó chợ khác, cuối cùng người ta cho nó vào nồi cám heo. Phải hóa thân phục vụ cho lũ heo dơ bẩn này ư? Nó tủi nhục ê chề! Lòng kiêu hãnh không cho phép nó “tế thân” cho lũ heo hạ tiện. Nó thu mình co cứng hơn mặc cho nước sôi trăm độ cũng không lấy được, dù là cái vảy da của nó.

Khi rửa máng heo, người ta phát hiện nó, và chẳng cần nghĩ suy, ném nó ra đường lộ. Người người qua lại đạp lên nó!

Hạt muối là để hòa tan. Hạt Muối phải chịu tan biến chính mình mới thể hiện giá trị đích thực của hạt muối. Muối đã lạt và không còn khả năng hòa tan thì cũng bị quên lãng hay vứt bỏ ta đường cho người qua lại dẫm đạp mà thôi!

Con người không được sống cho chính mình. Con người phải biết dấn thân, hòa nhập với xã hội mới thể hiện vai trò giá trị của mình trong cộng đồng. Nhân loại cũng bỏ rơi những con người lười biếng, vô dụng, thiếu trách nhiệm với gia đình và xã hội. Muối đã lạt thì vứt đi. Con người lạt tình người, lạt trách nhiệm sẽ trở nên vô dụng và bị bị lãng quên.

Chúa Giê-su mời gọi người tín hữu phải biết hòa tan trong cuộc đời. Như hạt muối hòa tan trong môi trường để ướp mặn cuộc đời. Như ánh sáng hòa tan trong không gian để xua tan bóng tối. Muối và ánh sáng đều phải chịu tan biến mới sinh ích cho con người. Là người ky-tô hữu cũng phải hòa tan cuộc đời mình trong dòng chảy tình yêu để mang lại sức sống cho con người.

Chính Chúa Giê-su đã chấp nhận hòa tan chính mình trong dòng chảy của cuộc đời. Ngài đã trở nên mọi sự cho mọi người. Ngài đã sống để dâng hiến và phục vụ con người trong yêu thương hết mình như thánh Gioan đã nói: “Ngài đã yêu thì yêu cho đến cùng”. Đỉnh cao của hòa tan là chấp nhận tiêu hao chính mình “như hạt lúa chịu mục nát để sinh nhiều bông trái”.

Năm nay Giáo hội mời gọi chúng ta “Phúc âm hóa” là dịp nhắc lại vai trò của người tín hữu giữa dòng đời. Là người tín hữu phải đem muối Phúc âm thẩm thấu vào trong thế gian. Là người tín hữu phải đem ánh sáng của Phúc âm dẫn dắt con người hôm nay đi trong chân lý. Thế nhưng, ở đâu dó vẫn có những tín hữu thiếu gia vị của tình yêu, thiếu cả gương sáng gây ô uế môi trường và gây gương xấu cho tha nhân. Ở đâu đó vẫn có những nhóm giáo dân thường co cụm chính mình mà ít cởi mở, thân thiện với tha nhân. Đó là lý do mà Giáo hội không thực sự có gía trị trong cộng đồng nhân loại. Làm sao Giáo hội có thể phúc âm hóa môi trường khi mà người tín hữu để muối đã lạt qua cách sống đạo hời hợt, đôi khi còn thiếu gia vị của tình yêu? Làm sao mà Giáo hội có thể Phúc âm hóa khi mà chính người ky-tô hữu vẫn còn làm gương xấu của gian dâm, của cờ bạc, rượu chè…

Ước gì đời sống của chúng ta luôn là lời ngợi ca và tôn vinh Chúa. Một đời sống thấm nhuần lời Chúa để đem tin mừng thẩm thấu vào trong thế gian. Một đời sống công bình bác ái như những ngọn đèn hải đăng thắp sáng trong bóng đêm của xã hội đầy bất công và hận thù. Một cuộc sống đi vào lòng nhân thế để phủ đầy ánh sáng của Phúc âm và hơi ấm của Tin mừng.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn hoàn thành đời mình như muối mặn, như ánh sáng hòa tan cho thế gian sức nóng và tràn ngập ánh sáng của Tin mừng. Amen.

LM. Jos Tạ Duy Tuyền

Đức Thánh Cha tiếp kiến 97 Giám Mục Ba Lan

Đức Thánh Cha tiếp kiến 97 Giám Mục Ba Lan

VATICAN. ĐTC Phanxicô khích lệ các GM Ba Lan tăng cường tình đoàn kết, gia tăng giúp đỡ những người ly dị, đẩy mạnh việc săn sóc giới trẻ, gia tăng mục vụ ơn gọi và đào tạo linh mục.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến chung dành cho 97 GM Ba Lan sáng hôm 7-2-2014, nhân dịp các vị kết thúc tuần lễ hành hương viếng mộ hai Thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô và thăm Tòa Thánh.

ĐTC nhắc lại lời nhắn nhủ của Đức Gioan Phaolô 2 sắp được phong hiển thánh về tầm quan trọng của sự hiệp thông tinh thần và mục vụ giữa các GM: ”Sự đoàn kết của các vị Chủ Chăn trong đức tin, đức ái, trong việc giảng dạy và quan tâm chung đối với thiện ích của các tín hữu, chính là điểm tham chiếu cho toàn thể cộng đoàn Giáo Hội và cho bất kỳ ai đang tìm kiếm một hướng đi chắc chăn trong hành trình thường nhật, trên những nẻo đường của Chúa. Anh em thân mến, ước gì không một điều nào hoặc một ai có thể du nhập những chia rẽ giữa anh em!”.

ĐTC cảm tạ Chúa vì bao nhiêu điểm tích cực và tiềm năng lớn lao về đức tin, về sự cầu nguyện, đức ái và đời sống thực hành Kitô trong Giáo Hội tại Ba Lan. Nhưng ngài cũng nhắc đến một số sa sút trong nhiều khía cạnh của đời sống Kitô, đòi các vị Chủ Chăn phải phân định, tìm hiểu nguyên nhân và đề ra những cách thức để đương đầu với những thách đố mới, ví dụ quan niệm về một thứ tự do vô giới hạn, thái độ bao dung đố kỵ hoặc nghi kỵ đối với chân lý, hoặc sự khó chịu vì sự chống đối chính đáng của Giáo Hội đối với chủ thuyết duy tương đối đang lan tràn.

ĐTC đặc biệt lưu ý các GM Ba Lan về gia đình và ngài phê bình sự kiện ngày nay hôn nhân thường bị coi như một hình thức thỏa mãn tình cảm mà người ta có thể kiến tạo bằng bất cứ cách nào và thay đổi theo sự nhạy cảm của mỗi người (Evangelium gaudium, 66). Ngài nói: ”Đáng tiếc là quan điểm đó cũng ảnh hưởng trên tâm thức của các tín hữu Kitô, khiến họ dễ dàng ly dị hoặc chia lìa nhau. Các vị Chủ Chăn được mời gọi tự hỏi làm thế nào để trợ giúp những người sống trong tình trạng ấy, để họ không cảm thấy bị loại khỏi lòng từ bi của Thiên Chúa, khỏi tình yêu thương huynh đệ của các tín hữu Kitô và sự quan tâm chăm sóc của Giáo Hội đối với phần rỗi của họ; tự hỏi về cách thức làm sao để giúp họ đừng bỏ đức tin và giúp con cái họ được tăng trưởng trong kinh nghiệm trọn vẹn của Kitô giáo”.

Trong chiều hướng trên đây, ĐTC cổ võ việc huẩn bị hôn nhân, giúp họ vượt thắng những khó khăn, thử thách, lòng ích kỷ, bằng cách tha thứ cho nhau, chữa lành những gì có nguy cơ bị hư hỏng và đừng rơi vào cảm bẫy của não trạng vứt bỏ”.

ĐTC khuyến khích đẩy mạnh việc dạy giáo lý cho người trẻ, không phải chỉ gia tăng kiến thức đạo, nhưng đặc biệt huấn luyện về đức tin được sống thực như một quan hệ trong đó ta cảm thấy niềm vui vì được yêu thương và có thể yêu thương”.

Sau cùng, ĐTC mời gọi các GM đặc biệt tìm hiểu nguyên nhân sự sa xút ơn gọi nữ tu tại Ba Lan, và tìm phương thức đáp ứng, giúp các LM sống quan hệ bản thân với vị Mục Tử Nhân Lành, có tinh thần truyền giáo nồng nhiệt, đẩy mạnh các hoạt động chăm sóc người nghèo túng, người thất nghiệp vô gia cư, các bệnh nhân và những người bị bỏ rơi (SD 7-2-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Giám Đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh phê bình Ủy ban Liên Hiệp Quốc

Giám Đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh phê bình Ủy ban Liên Hiệp Quốc

VATICAN. Cha Lombardi, Giám Đốc Phòng báo chí Tòa Thánh, mạnh mẽ phê bình Ủy ban LHQ về các quyền trẻ em, đi quá thẩm quyền của mình và can thiệp vào giáo huấn đạo lý và luân lý của Giáo Hội Công Giáo.

Trong bản những nhận xét kết thúc, được công bố hôm 5-2-2014, Ủy ban LHQ về các quyền trẻ em, gồm 18 người, đã đòi Tòa Thánh phải cách chức ngay các giáo sĩ bị tố cáo lạm dụng tính dục trẻ em và giao nạp họ cho nhà chức trách dân sự, mở văn khố, công bố các văn kiện tài liệu về những giáo sĩ bị cáo đã phạm tội lạm dụng tính dục, và cho rằng cho đến nay Tòa Thánh đã che đậy những tội ác này, khiến cho các thủ phạm tiếp tục phạm tội mà không bị trừng phạt. Ủy ban cũng đề nghị Tòa Thánh thay đổi giáo huấn về phá thai, ngừa thai, đồng tính luyến ái.

Trong thông cáo công bố hôm 7-2-2014, Cha Lombardi nói: ”Những nhận xét của Ủy ban theo nhiều hướng dường như đi quá các thẩm quyền của mình và xen mình vào chính các lập trường đạo lý và luân lý của Giáo Hội Công Giáo, đưa ra những chỉ dẫn liên hệ tới sự thẩm định luân lý về việc ngừa thai và chính việc phá thai, hoặc giáo dục trong gia đình, hoặc quan điểm về tính dục con người, dưới ánh sáng quan điểm ý thức hệ của Ủy ban về tính dục.”

Cha Lombardi cũng tố giác Ủy ban LHQ dành sự chú ý tối đa tới những tổ chức phi chính phủ vốn nổi tiếng có thiên kiến chống Công Giáo và Tòa Thánh, mà không để ý tới lập trường của Tòa Thánh, là thành viên ký kết hiệp ước về các quyền trẻ em. Thực vậy, các tổ chức phi chính phủ ấy (ONG) có đặc tính là không muốn nhìn nhận những gì đã được thực hiện tại Tòa Thánh và trong Giáo Hội Công Giáo trong những năm gần đây, qua việc nhìn nhận những sai lầm, canh tân các qui luật, phát triển các biện pháp huấn luyện và phòng ngừa. Không có hoặc rất ít tổ chức nào đã làm nhiều như Tòa Thánh. Người ta không hề thấy trong văn kiện của Ủy ban sự kiện tích cực ấy.

LM Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh kêu gọi dư luận đừng nói là sự đụng độ giữa Tòa Thánh và LHQ, vì Tòa Thánh vẫn ủng hộ LHQ một cách mạnh mẽ và chính các vị lãnh đạo cấp cao của LHQ nhiều lần bày tỏ sự quí chuộng đối với sự ủng hộ của Tòa Thánh, đặc biệt qua những lần mời các vị Giáo Hoàng viếg thăm và phát biểu tại Đại hội đồng LHQ.

Ủy ban LHQ về các quyền trẻ em chỉ là một bộ phận nhỏ, nhóm họp hai lần một năm để kiểm điểm việc áp dụng Hiệp ước quốc tế về các quyền trẻ em nơi các nước thành viên.

Cha Lombardi nhận xét rằng ”giọng điệu, sự phát triển và quảng cáo mà Ủy ban dành cho văn kiện những nhận xét về Tòa Thánh chắc chắn là điều không bình thường đối với thể thức thông thường đối với các nước khác đã ký Hiệp Ước. Việc làm này khiến cho Tòa Thánh trở thành một đối tượng của những sáng kiến và sự chú ý của giới truyền thông tai hại một cách bất công, và vì thế người ta có lý do chính đáng để phê bình nặng nề đối với Ủy ban này” (SD 7-2-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Nữ hoàng Elizabeth sẽ viếng thăm Đức Thánh cha Phanxicô vào ngày 3 tháng 4 – 2014

Nữ hoàng Elizabeth sẽ viếng thăm Đức Thánh cha Phanxicô vào ngày 3 tháng 4 – 2014

Nữ hoàng Elizabeth sẽ viếng thăm Đức Thánh cha Phanxicô vào ngày 3-4 thumbnail

Nữ hoàng sẽ có chuyến viếng thăm lịch sử Đức Thánh cha trong năm nay, và cuộc hội kiến này được cho là “thân mật” vì nữ hoàng sẽ viếng thăm nhà trọ của Đức Thánh cha chứ không phải Dinh Tông tòa.

Chuyến công du nước ngoài đầu tiên trong vòng 3 năm nay của nữ hoàng sẽ chứng kiến bà viếng thăm Đức Thánh cha tại Vatican trong một cuộc hội kiến có khả năng bỏ qua truyền thống.

Tân Tổng Giám mục Justin Welby của Canterbury đã hội kiến Đức Thánh cha Phanxicô, vị giáo hoàng nổi tiếng ghét hình thức.

Được biết thay vì tiếp nữ hoàng tại căn hộ giáo hoàng, Đức Thánh cha sẽ đón bà đến nhà trọ của ngài.

Chuyến viếng thăm này sẽ làm tăng thêm mối quan hệ giữa hai Giáo hội Anh giáo và Công giáo và sẽ được 4 triệu người Công giáo Rôma nồng nhiệt hoan nghênh.

Cuộc hội kiến này chắc chắn sẽ khác hẳn với chuyến viếng thăm Vatican năm 1980 của nữ hoàng, khi đó bà là nữ hoàng Anh đầu tiên có chuyến viếng thăm nhà nước đến đây. Bà cũng là người đầu tiên tiếp đón Đức Giáo hoàng khi Đức Gioan Phaolô II viếng thăm London năm 1982.

Đức Thánh cha có phòng tại Domus Sactae Marthae, nhà trọ 5 tầng do các nữ tu quản lý. Tại đây người ta thường thấy ngài tự nấu mì ống, hay ăn trong căng tin. Chính tại nơi đây hai người chắc chắn sẽ có cuộc hội kiến lịch sử.

Nữ hoàng sẽ viếng thăm Đức Thánh cha vào tháng 4, ngay trước ngày sinh nhật lần thứ 88 của bà và sau khi Đức Thánh cha biệt kiến Tổng thống Barack Obama.

Nguồn: The Telegraph

UCANEWS VN

Mở cửa nghĩa trang cổ bên dưới Vatican

Mở cửa nghĩa trang cổ bên dưới Vatican

Eric J Lyman cho Religion News Service từ Vatican

Mở cửa nghĩa trang cổ bên dưới Vatican thumbnail

Bức họa tiết tại nghĩa trang người La Mã cổ Via Triumphalis thế kỷ thứ nhất bên dưới Vatican

Vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, một triền đồi cỏ phía bắc nay là Quảng trường Thánh Phêrô được dùng làm nơi chôn cất những người La Mã địa phương.

Khu mộ địa vẫn được sử dụng dù trải qua nhiều trận lũ bùn và lở tuyết, cho đến đầu thế kỷ thứ tư sau Công Nguyên, khi công việc xây dựng Vương cung Thánh đường Thánh Phêrô bắt đầu và hơn 1,000 ngôi mộ bị chôn vùi. Sau đó, nó bị lãng quên khi công việc xây dựng thành phố Vatican xung quanh phát triển.

Cứ như thế cho đến thập niên 1950, khi kế hoạch xây dựng một bãi đỗ xe trên phần đất chưa phát triển, người ta phát hiện một phần nhỏ nghĩa trang khoảng 10,000 mét vuông. Đó là lúc công việc khai quật bắt đầu.

Đến bây giờ, đã trải qua hai thế hệ và tiêu tốn hàng trăm ngàn đô la, Vatican sẵn sàng mở cửa cho công chúng xem những khám phá bên trong.

Nghĩa trang người La Mã cổ Via Triumphalis minh họa những thay đổi trong truyền thống mai táng và sự tiến hóa từ một thủ đô ngoại giáo thành một thành phố Kitô giáo trong những ngày đầu tiên nhất. Những người giám sát nói một số nhỏ những người chôn ở đây, không quá 50 trong số 1,000 ngôi mộ, có thể thuộc về các Kitô hữu tiên khởi.

“Khu vực này liên tục được tái tạo từ khi thành lập vào thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên đến khoảng năm 300 hay 320 sau Công Nguyên,” Giandomenico Spinola, nhà khảo cổ chuyên về các thời kỳ Hy Lạp và La Mã và là người phụ trách khu mộ địa Vatican cho biết.

Những trận lũ bùn và lở tuyết đã giúp bảo tồn rất nhiều thứ bên dưới. Nhiều vật dụng trong nghĩa trang được gìn giữ tốt một cách khác thường. Một số bức tượng đá cẩm thạch vẫn còn các dấu sơn; hài cốt một đứa trẻ cho thấy hàm răng còn ngậm siết một đồng xu ở giữa theo truyền thống mai táng thời bấy giờ.

Nguồn: Near St. Peter’s, an ancient burial site opens to the public

UCANEWS VN

Tấn công nhà thờ bằng lựu đạn, sáu người bị thương

Tấn công nhà thờ bằng lựu đạn, sáu người bị thương

Phóng viên ucanews.com từ thành phố Zamboanga, Philippines

Ít nhất sáu người bị thương hôm Chủ Nhật sau khi hai người đàn ông đi xe gắn máy ném lựu đạn vào nhà thờ Công giáo thành phố Zamboanga, miền nam Philippines, nơi được biết có nhiều hoạt động của phiến quân Hồi giáo.

Nhà chức trách cho biết, hai người đàn ông chưa xác định thực hiện vụ tấn công trong khi khoảng 30 cư dân cao tuổi đang nhóm họp vào sáng Chủ Nhật.

Những người đàn ông sau đó chạy trốn vào trung tâm thành phố, báo cáo cảnh sát cho biết. Chưa rõ động cơ cuộc tấn công tại thành phố nơi hơn 70 phần trăm là Kitô giáo và chưa đến một phần tư là Hồi giáo trong khu vực bị tàn phá bởi bạo lực chia rẽ trong những thập kỷ gần đây.

Trung tâm Hành động Nhân quyền Mindanao lên án vụ việc, nói rằng đó “không chỉ vi phạm luật nhân đạo trong nước và quốc tế, mà còn ngăn cản chúng ta trong việc xây dựng một xã hội đa nguyên, đón nhận lẫn nhau và lại châm thêm dầu vào ngọn lửa xung đột”.

Mặc dầu chính phủ đã ký thỏa thuận hòa bình mang tính bước ngoặt với Mặt trận Hồi giáo Mindanao tuần trước, các nhóm phiến quân Hồi giáo vẫn hoạt động tại miền nam Philippines.

Hôm thứ Bảy, một phóng viên truyền hình và một người quay phim trong số 12 người bị thương trong một vụ nổ bên đường tại Datu Saudi Ampatuan, tỉnh Maguindanao. Quân chính phủ đổ lỗi do các chiến binh tự do Hồi giáo Bangsamoro gây ra trận chiến kéo dài cả tuần nay.

UCANEWS VN

Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Phanxicô Nhân Ngày Quốc Tế Giới Trẻ 2014

Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Phanxicô Nhân Ngày Quốc Tế Giới Trẻ 2014

“Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:3)

Các bạn trẻ thân mến,

Buổi gặp gỡ mà chúng ta đã có ở Rio de Janeiro nhân Ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ 28 vẫn còn ghi dấu đậm trong trí nhớ của tôi: Đó là một buổi lễ lớn của niềm tin và tình huynh đệ! Những người dân Brazil tuyệt vời đã đón tiếp chúng ta với những cánh tay rộng mở, hệt như tượng Chúa Kitô Cứu Chuộc nhìn xuống từ đồi Corcovado, trên dải đất thơ mộng của bãi biển Copacabana. Trên bãi biển, Đức Giêsu đã lặp lại vời mọi gọi của Người muốn từng người chúng ta trở thành những môn đệ truyền giáo, khám phá ra nơi ấy một kho tàng quý báu cho cuộc sống của chúng ta và chia sẻ sự phong phú ấy cho người khác xa gần, kể cả những người ở những vùng ngoại biên xa xôi về địa lý và về tính hiện sinh của thời đại chúng ta.

Điểm dừng tiếp theo trên cuộc hành hương giới trẻ liên lục địa sẽ là ở Krakow vào năm 2016. Như một cách thức đồng hành với nhau trên chuyến hành trình, trong ba năm tiếp, tôi muốn suy tư với các bạn về Các Mối Phúc Thật trong Tin Mừng theo thánh Matthêu (5:1-12). Năm nay chúng ta sẽ bắt đầu với việc suy tư về Mối Phúc thứ nhất: “Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5:3). Đối với năm 2015, tôi đề nghị là: “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa (Mt 5:8). Và năm 2016, chủ đề của chúng ta là: “Phúc cho ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5:7)

  1. Sức mạnh mang tính cách mạng của Các Mối Phúc

Chúng ta thường cảm nghiệm thấy một niềm vui khôn tả khi đọc và suy tư về Các Mối Phúc! Đức Giêsu đã công bố những điều này trong bài giảng lớn đầu tiên của mình, tại biển hồ Galilê. Có một đám người đông đảo, vì thế Đức Giêsu phải đứng trên núi để giảng dạy các môn đệ. Đó là lý do tại sao, Các Mối Phục cũng được gọi là “Bài Giảng Trên Núi”. Trong Kinh Thánh, núi được xem như là nơi mà Thiên Chúa mặc khải chính mình. Qua việc rao giảng trên núi, Đức Giêsu mặc khải chính mình như là một bậc thầy thiêng liêng, một Môse mới. Ngài nói với chúng ta điều gì? Ngài nói với chúng ta về con đường dẫn đến sự sống, con đường mà chính Ngài cũng sẽ đi qua. Hơn hết, chính Ngài là con đường, và Ngài giới thiệu con đường này như còn lối đi dẫn tới hạnh phúc đích thực. Xuyên suốt cuộc sống của mình, từ lúc hạ sinh trong chuồng bò ở Bêlem đến cái chết trên thập giá và sự phục sinh, Đức Giêsu luôn là hiện thân của Các Mối Phúc. Tất cả lời hứa của Vương Quốc Thiên Chúa được kiện toàn trong Ngài.

Khi công bố Các Mối Phúc, Đức Giêsu mời gọi chúng ta hãy theo Ngài và đi với Ngài trên hành trình tình yêu, hành trình duy nhất dẫn tới cuộc sống vĩnh cửu. Đây không phải là một hành trình dễ dàng, tuy nhiên Thiên Chúa hứa sẽ ban cho chúng ta ân sủng và Ngài không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Chúng ta đối diện với rất nhiều thử thách trong cuộc sống: nghèo đói, đau buồn, sỉ nhục, chiến đấu cho công bình, bắt bớ, khó khăn hoán cải hàng ngày, nỗ lực giữ lòng trung tín với lời mời gọi nên thánh và nhiều điều khác. Nhưng nếu chúng ta mở cửa cho Đức Giêsu, để cho ngài đi vào trong lịch sử chúng ta, nếu chúng ta chia sẻ niềm vui và nỗi buồn với Ngài, chúng ta sẽ cảm nghiệm được sự bình an và một niềm vui mà chỉ có Thiên Chúa, Đấng là tình yêu miên viễn, mới có thể trao ban.

Các mối phúc của Đức Giêsu mang chúng ta đến một cuộc cách mạng mới, một kiểu mẫu hạnh phúc ngược lại với những gì thường được các phương tiện truyền thông và lối nghĩ thịnh hành thông truyền. Lối suy nghĩ trần tục sẽ cho là điên rồ khi Thiên Chúa trở nên một trong chúng ta và chết trên thập giá! Theo cái luận lý của thế giới này, những ai mà Đức Giêsu tuyên bố là có phúc được xem, “những người chịu mất mát”, những người yếu thế. Cái được xem là vinh quang phải là thành công bằng mọi giá, sự giàu có, đỉnh cao quyền lực và được người khác nhìn nhận mình.

Các bạn trẻ thân mến, Đức Giêsu thách thức chúng ta hãy đáp lại lời mời gọi hướng đến sự sống của Ngài và quyết định đâu là con đường mà chúng ta muốn đi để có được niềm vui đích thực. Đây là một thách đố to lớn của đức tin. Đức Giêsu thẳng thắn hỏi các môn đệ là liệu họ có thật sự muốn theo Ngài không hay họ thích một con đường khác (x. Ga 6:67). Simon Phêrô đã dũng cảm đáp lại rằng: “Thưa Thầy, bỏ Thầy chúng con biết đến với ai? Chỉ có Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 6:68). Nếu các bạn cũng có thể nói “vâng” với Đức Giêsu, cuộc sống của các sẽ trở nên ý nghĩa và sinh nhiều hoa trái.

  1. Can đảm để có hạnh phúc

Nhưng “Phúc thay” có nghĩa là gì (trong tiếng Hy Lạp makarioi)? Được chúc phúc, nghĩa là có được hạnh phúc. Hãy nói cho tôi biết: các bạn có thực sự muốn được hạnh phúc không? Những khi chúng ta bị lôi kéo bởi những ảo tưởng có vẻ là hạnh phúc, chúng ta đang liều mình tự hài lòng với những cái nhỏ bé, với một chút ý tưởng “vụn vặt” của cuộc sống. Hãy mở ra với những cái lớn hơn! Hãy mở con tim mình ra! Như chân phước Piergiorgio Frassati có lần đã nói “sống mà không có niềm tin, không có gia tài để bảo vệ, không có nguồn nâng đỡ trong cuộc chiến trường kỳ bảo vệ chân lý: đó không phải là sống, chỉ là tồn tại cho qua ngày. Chúng ta đừng bao giờ chỉ tồn tại cho qua ngày, nhưng hãy sống” (Thư gửi I.Bonini, 27.2.1925). Trong bài giảng vào ngày lễ phong chân phước cho ngài (20.5.1990), Đức Gioan Phaolo II đã gọi ngài là “con người của các Mối Phúc” (AAS 82 [1990], 1518).

Nếu các bạn thật sự mở ta cho những rung động sâu thẳm nhất của con tim mình, các bạn sẽ nhận ra rằng có một khao khát cháy bỏng về niềm hạnh phúc và điều này cho phép các bạn loại trừ và gạt bỏ tất cả những gì “kém giá trị” chung quanh các bạn. Khi chúng ta tìm kiếm thành công, thỏa mãn và sở hữu theo kiểu ích kỷ, và chúng ta hướng những điều đó đến các thần tượng, có thể chúng ta sẽ có những khoảng khắc phấn chấn, một cảm giác thỏa mãn thăng hoa, nhưng rốt cuộc, chúng ta trở thành nô lệ, bị lôi kéo phải đi tìm để có hơn nữa. Thật là một điều đáng buồn khi thấy một bạn trẻ “có tất cả” nhưng lại yếu ớt.

Khi viết cho những người trẻ, thánh Gioan đã dạy bảo họ rằng: “Anh em là những người ạnh mẽ; lời Thiên Chúa ở lại trong anh em và anh em đã thắng ác thần.” (1Ga 2:14). Những bạn trẻ nào chọn lựa Đức Kitô là những con người mạnh mẽ: họ được lời Người nuôi dưỡng và họ không cần phải “nhồi nhét” mình với những điều khác! Hãy có dũng lực để đi ngược dòng! Hãy có dũng lực để có hạnh phúc đích thực! Nói không với nền văn hóa phù du, hời hợt và loại trừ, một nền văn hóa cho rằng bạn không thể mang lấy trách nhiệm và không thể đối mặt với những thử thách lớn lao của cuộc sống.

  1. Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó…

Mối phúc đầu tiên, chủ đề cho Ngày Quốc Tế Giới Trẻ sắp tới, nói rằng những ai có tinh thần nghèo khó thì được phúc phúc vì Nước Trời là của họ. Khi mà có quá nhiều người đang chịu khổ do hệ quả của cuộc khủng hoảng tài chính, thật là lạ khi nối kết nghèo khổ với hạnh phúc. Làm sao chúng ta có thể xem nghèo đói là một mối phúc?

Trước hết, chúng ta hãy cố hiểu ý nghĩa của từ “tinh thần nghèo khó”. Khi Con Thiên Chúa làm người, Ngài chọn cho mình con đường nghèo khó và tự hủy ra không. Như Thánh Phaolô nói trong thư gửi cho các tín hữu Philipphê: “

Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Ðức Kitô Giêsu. Ðức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. (Pl 2:5-7). Đức Giêsu là Thiên chúa trút bỏ hết mọi vinh quang. Ở đây chúng ta thấy chọn lựa trở nên nghèo hèn của Thiên Chúa: ngài giàu sang nhưng đã trở nên nghèo để làm cho chúng ta trở nên giàu có nhờ cái nghèo của Người ( x. 1Cor 8:9). Đây là mầu nhiệm mà chúng ta chiêm ngắm nơi hang đá khi chúng ta thấy Con Thiên Chúa nằm trong máng cỏ, và sau đó là trên thánh giá, nơi sự tự hủy của Người đạt đến đỉnh cao nhất.

Tính từ ptochós (nghèo) của tiếng Hy lạp không chỉ có nghĩa đơn thuần mang tính vật chất. Nó có nghĩa là “một người hành khất”. Cần phải liên kết nó với ý niệm anawim của người Do Thái, nghĩa là “người nghèo của Thiên Chúa”, nói đến sự thấp bé, ý thức những giới hạn và điều kiện mang tính hiện sinh của riêng con người. Một anawin luôn tin tưởng vào Thiên Chúa và họ biết rằng họ có thể bám vào Người.

Như thánh Teresa Hài Đồng Giêsu đã thấy rõ, qua việc nhập thể, Đức Giêsu đã đến giữa chúng ta như một người hành khất nghèo, cầu xin tình thương của chúng ta. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nói về con người là một “người hành khất trước mặt thiên Chúa (số 2559) và lời cầu nguyện là sự gặp gỡ giữa khao khát của Thiên Chúa với khao khát của chúng ta (số 2560).

Thánh Phanxicô Assisi cũng đã hiểu rõ bí mật của Mối Phúc dành cho người nghèo trong tinh thần. Thật vậy, khi Đức Giêsu nói với ngài thông qua người cùi và tượng khổ nạn, thánh nhân đã nhận ra sự cao cả của Thiên Chúa và điều kiện thập bé của mình. Trong lời cầu nguyện của mình, Người Nghèo thành Assisi đã dùng nhiều giờ để hỏi Thiên Chúa: “Ngài là ai? Con là ai?” Ngài đã từ bỏ một cuộc sống giàu có và thảnh thơi để kết hôn với “Bà Chúa Nghèo”, để noi gương Đức Giêsu và theo sát mặt chữ Tin Mừng. Thánh Phanxicô đã sống trong sự noi gương Đức Kitô trong khó nghèo và trong tình yêu dành cho người nghèo – đối với ngài, hai điều này nối kết chặt chẽ với nhau – giống như hai mặt của một đồng tiền.

Các bạn có thể hỏi tôi: Một cách cụ thể chúng ta có thể làm gì để làm cho tinh thần nghèo khó trở thành một lối sống, một cách cụ thể trong cuộc sống của riêng chúng ta? Tôi sẽ trả lời qua ba điều.

Trước hết, hãy cố gắng tự do với những của cải vật chất. Thiên Chúa kêu gọi chúng ta sống một đời sống theo Tin Mừng, được đánh dấu bằng sự giản dị, bằng việc từ bỏ khao khát sống nền văn hóa tiêu thụ. Nghĩa là chỉ tìm kiếm những gì thiết yếu và học cách cởi bỏ khỏi mình những gì không cần thiết vây quanh chúng ta. Chúng ta hãy học cách tách ra khỏi những sở hữu và tôn sùng bạc tiền và những chi tiêu hoang phí. Chúng ta hãy đặt Đức Giêsu lên trên hết. Ngài có thể giải phóng chúng ta khỏi những thứ tôn thờ ngẫu tượng là những cái biến chúng ta thành nô lệ cho nó. Hãy đặt niềm tín thác vào Thiên Chúa, hỡi các bạn trẻ thân mến! Ngài biết và yêu chúng ta, và Ngài không bao giờ lãng quên chúng ta. Cũng giống như việc Ngài đã chăm lo cho hoa huệ ngoài đồng thế nào (x. Mt 6:28), thì Ngài cũng đảm bảo rằng chúng ta không thiếu cái gì. Cũng như để vượt qua cuộc khủng hoảng tài chính, cần phải sẵn sàng thay đổi lối sống và tránh những phung phí quá đáng. Cũng như chúng ta cần sự can đảm để được hạnh phúc, chúng ta cũng cần sự can đảm để sống giản dị.

Thứ hai, nếu chúng ta sống mối phúc này, tất cả chúng ta cần trải nghiệm cuộc hoán cải trong cách thức chúng ta nhìn đến người nghèo. Chúng ta phải quan tâm đến họ và nhạy cảm trước những nhu cầu thiêng liêng và vật chất của họ. Những bạn trẻ thân mến, tôi trao phó các bạn, một cách đặc biệt, nhiệm vụ phục hồi lại tình liên đới nơi trọng tâm của văn hóa con người. Đối mặt với những hình thức nghèo đói cũ và mới – thất nhiệm, di dân và nghiện ngập dưới nhiều hình thức – chúng ta có nhiệm phục phải cảnh giác và thận trọng, tránh những cám dỗ giữ thái độ lãnh đạm. Chúng ta phải nhớ đến tất cả những người cảm thấy mình không được yêu mến, những ai không có niềm hy vọng cho tương lai và những ai buông xuôi cuộc sống do nhụt chí, thất vọng hay sợ hãi. Chúng ta phải học cách ở bên cạnh người nghèo, chứ không chỉ buông ra những hùng biện về người nghèo! Chúng ta hãy đi ra để nhìn họ, nhìn vào đôi mắt họ và lắng nghe họ. Người nghèo cho chúng ta một cơ hội cụ thể để nhìn thấy chính Đức Giêsu, và đụng chạm đến thân xác đau khổ của Người.

Tuy nhiên – và đây là điểm thứ ba – người nghèo không chỉ là người là chúng ta bố thí cho cái gì đó. Họ có nhiều điều để cho chúng ta và dạy chúng ta. Các bạn đã học được bao nhiêu từ khôn ngoan của người nghèo! Hãy suy nghĩ về điều này: vài trăm năm trước, một vị thánh, thánh Benedict Joseph Labré, người đã sống trên các ngã đường ở Rôma nhờ của bố thí mà ông nhận được, trở thành một người hướng dẫn thiêng liêng cho tất cả mọi loại người, kể cả những người chức cao vọng trọng và các linh mục. Theo một cách thức rất thực, người nghèo là thầy dạy của chúng ta. Họ cho chúng ta thấy rằng giá trị của con người không được đo lường bằng sở hữu của người ấy hay bằng số tiền họ có trong ngân hàng. Một người nghèo, một người thiếu đi của cải vật chất, vẫn luôn có nhân phẩm của mình. Người nghèo có thể dạy chúng ta rất nhiều về sự khiêm nhường và lòng tín thác vào Thiên Chúa. Trong dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế (x. Lc 18:9-14), Đức Giêsu đã đặt người thu thuế như một kiểu mẫu vì sự khiêm nhường và thái độ thừa nhận mình là một tội nhân của ông. Người góa phụ dâng cúng 2 đồng bạc cho đền thờ là một ví dụ về lòng quảng đại cho những ai hầu như không có gì nhưng đã cho đi những gì mình có (Lc 21:1-4)

       4…. Vì nước trời là của họ

Đề tài trọng tâm của Tin Mừng là Nước Thiên Chúa. Đức Giêsu là Vương Quốc của Thiên Chúa nơi con người; ngài là Emmanuel, Thiên-Chúa-Ở-Cùng-Chúng-Ta. Và chính nơi cõi lòng con người mà Vương quốc, vương quyền của Thiên Chúa bám rễ và lớn lên. Nước Thiên Chúa vừa là món quà, vừa là lời hứa. Nó đã được ban cho chúng ta nơi Đức Giêsu, nhưng nó chưa đi đến sự kiện toàn. Đó là lý do vì sao chúng ta cầu nguyện Kinh Lạy Cha mỗi ngày: “Nước Cha trị đến”.

Có một sự nối kết rất gần gũi giữa nghèo khó với việc Tin Mừng hóa, giữa đề tài của Ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần trước –“Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thầy!” (Mt 28:19) – và chủ đề của năm nay: “Phúc thay ai có tinh thần nghèo khó vì nước trời là của họ” (Mt 5:3). Thiên Chúa muốn một Giáo Hội nghèo khó truyền giảng tin mừng cho người nghèo. Khi Đức Giêsu sai nhóm mười hai đi rao giảng, Ngài nói với họ: “Đừng sắm vàng, bạc, hay tiền đồng để giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày hay cầm gậy, vì thợ thì đáng được nuôi ăn” (Mt 10:9-10). Sự nghèo khó mang tính tin mừng là một điều kiện cơ bản để lan truyền nước Thiên Chúa. Những diễn tả niềm vui tự nhiên và tuyệt đẹp nhất mà tôi đã thấy trong đời mình chính là với người nghèo, những người chỉ có một chút ít để nắm giữ. Tin Mừng hóa trong thời đại chúng ta sẽ chỉ có thể diễn ra như là hệ quả của việc lan tỏa niềm vui đến cho người khác.

Chúng ta đã thấy rằng Mối Phúc khó nghèo trong tinh thần làm nên tương quan của chúng ta với Thiên Chúa, với của cải vật chất và với người nghèo. Bằng những ví dụ và lời nói của Đức Giêsu trước mắt chúng ta, chúng ta nhận ra là mình cần phải được hoán cải biết bao nhiêu, để luận lý “là hơn nữa” vượt trên luận lý “sở hữu hơn nữa”. Các thánh có thể giúp chúng ta hiểu tốt nhất ý nghĩa sâu sắc của Các Mối Phúc. Lễ phong thánh cho Đức Gioan Phaolô II, sẽ diễn ra vào Chúa Nhật thứ II Phục Sinh, sẽ là một sự kiện đánh dấu một niềm vui to lớn. Ngài sẽ là đấng bảo trợ cao cả cho các Ngày Giới Trẻ Thế Giới mà chính ngài đã khởi sự và luôn ủng hộ. Trong sự hiệp thông với các thánh, ngài sẽ luôn là một người cha và người bạn của tất cả các bạn.

Tháng tư này cũng là tháng kỷ niệm 30 năm việc trao Thánh Giá Năm Thánh Cứu Chuộc cho người trẻ. Hành vi biểu tượng này của Đức Gioan Phaolô II là sự bắt đầu cho chuyến hành hương giới trẻ to lớn đi khắp năm châu. Những lời của ngài vào dịp Chúa Nhật Phục Sinh năm 1984, vẫn còn đọng mãi: “Các bạn trẻ thân mến, vào dịp kết thúc Năm Thánh, tôi trao cho các bạn một dấu chỉ của Năm Thánh: thánh giá Đức Kitô! Hãy mang nó đến với thế giới như một biểu tượng của tình yêu Đức Chúa Giêsu dành cho con người, và công bố cho mọi người rằng chỉ trong Đức Kitô, Đấng đã chết và phục sinh từ cõi chết, chúng ta mới có thể tìm thấy ơn cứu độ và sự cứu chuộc.

Các bạn thân mến, bài ca Magnificat, bài ca tán dương của mẹ, người có tinh thần nghèo khó, cũng là một bài ca của những ai sống các mối phúc. Niềm vui của Tin Mừng trỗi lên từ một con tim mà, trong sự khó nghèo của nó, đã vui mừng và kinh ngạc trước những công trình của Chúa, như trái tim của Mẹ chúng ta, Đấng là muôn thế hệ sẽ khen là “diễm phúc “(x. Lc 1:48). Nguyện xin Mẹ Maria, Mẹ của người nghèo và là vì sao của viện Tân Phúc Âm hóa giúp chúng ta sống Tin Mừng, giúp chúng ta sống các mối phúc và có được sự can đảm để luôn được hạnh phúc.

Từ Vatican, ngày 21.1.2014, lễ thánh Agnese, Trinh Nữ, Tử Đạo

Chuyển ngữ: Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Công bố Sứ Điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Quốc Tế giới trẻ 2014

Công bố Sứ Điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Quốc Tế giới trẻ 2014

VATICAN. ĐTC Phanxicô mời gọi các bạn trẻ sống tinh thần thanh bần: tự do đối với những của cải vật chất, quan tâm săn sóc người nghèo, và học hỏi sự khôn ngoan nơi họ.

Ngài đưa ra lời nhắn nhủ trên đây trong Sứ điệp công bố hôm 6-2-2014, nhân Ngày Quốc Tế giới trẻ sẽ được cử hành cấp Giáo Hội địa phương vào chúa nhật lễ lá 13-4-2014 tới đây với chủ đề ”Phúc cho ai có tinh thần thanh bần vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3).

Đây là bước đầu trong 3 chặng trên hành trình tiến về Ngày Quốc Tế giới trẻ sẽ được cử hành ở cấp hoàn cầu vào năm 2016 tới đây tại Cracovia, Ba Lan. Đề tài ngày Quốc Tế giới trẻ năm tới, 2015, là ”Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8) và sau cùng năm 2016 sẽ có chủ đề là ”Phúc cho ai có lòng thương xót vì họ sẽ được xót thương” (Mt 5,7).

Trong sứ điệp, sau khi đề cao sức mạnh cách mạng của các Mối Phúc trong Tin Mừng, ĐTC mời gọi các bạn trẻ hãy can đảm đi ngược dòng, tìm kiếm hạnh phúc chân thực, mở rộng con tim tìm kiếm những sự cao cả, và đừng hài lòng với cuộc sống tầm thường, nhỏ bé. ”Các bạn đừng chấp nhận văn hóa tạm thời, hời hợt và loại bỏ, không làm cho các bạn có khả năng lãnh nhận trách nhiệm và đương đầu với những thách đố lớn của cuộc sống!”.

ĐTC đặc biệt giải thích ý nghĩa mối phúc thanh bần, và nêu rõ 3 điểm giúp các bạn trẻ sống Mối Phúc này một cách cụ thể:

Trước tiên, ”các bạn hãy cố gắng giữ thái độ tự do đối với sự vật. Chúa kêu gọi chúng ta sống cuộc sống Tin Mừng, với tinh thần điều độ, không chiều theo văn hóa tiêu thụ. Cố gắng tìm kiếm những gì thiết yếu, học cách từ bỏ bao nhiêu thứ dư thừa và vô ích, bóp nghẹt chúng ta. Chúng ta hãy từ bỏ sự ham hố sở hữu của cải, con tiền bạc như thần tượng, rồi phung phí!.. Hãy đặt Chúa Giêsu ở chỗ đứng thứ nhất, Ngài có thể giải thoát chúng ta khỏi những thứ thần tượng biến chúng ta thành nô lệ. Hỡi các bạn trẻ, hãy tín thác nơi Thiên Chúa! Ngài biết chúng ta, yêu thương và không bao giờ quên chúng ta…”

Thứ hai là hoán cải đối với người nghèo. Chúng ta phải chăm sóc họ, nhạy cảm đối với những nhu cầu tinh thần và vật chất của họ. Các bạn trẻ có nghĩa vụ đặc biệt là đặt tình liên đới ở trung tâm nền văn hóa của con người. Đứng trước những hình thức nghèo đói mới mẻ, như nạn thất nghiệp, xuất cư, bao nhiêu thứ nghiện ngập, chúng ta có nghĩa vụ tỉnh thức và ý thức, khắc phục cám dỗ dửng dưng lãnh đạm. Chúng ta cũng hãy nghĩ đến những người không cảm thấy được yêu thương, không có hy vọng tương lai, từ khước dấn dân trong cuộc sống vì nản chí, thất vọng, sợ hãi. Chúng ta phải học ở với người nghèo. Đừng làm đầy miệng chúng ta bằng những lời đẹp đẽ về người nghèo! Hãy gặp gỡ họ, nhìn tận mắt họ và lắng nghe họ. Người nghèo đối với chúng ta là cơ hội cụ thể để gặp chính Chúa Kitô, động chạm đến thân mình đau khổ của Ngài”.

Thứ ba là những người nghèo không phải chỉ là những người chúng ta trao tặng, giúp đõ, nhưng họ cũng có rất nhiều điều trao và dạy cho chúng ta. Chúng ta có thể học được nhiều điều nơi sự khôn ngoan của người nghèo! Các bạn hãy nghĩ đến một vị thánh ở thế kỷ 18, Benedetto Giuseppe Labre, đã ngủ trên đường phố Roma, sống bằng của bố thí của dân chúng, đã trở thành cố vấn tinh thần của bao nhiêu người, trong đó có cả những nhà quí tộc và giám chức. Theo một nghĩa nào đó, người nghèo giống như thầy của chúng ta. Họ dạy chúng ta rằng một người có giá trị không phải vì những gì họ sở hữu. Một người nghèo, tuy thiếu thốn vật chất, nhưng vẫn giữ nguyên phẩm giá của họ. Người nghèo có thể dạy chúng ta rất nhiều về sự khiêm nhường và lòng tín thác nơi Thiên Chúa” (SD 6-2-2014).

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Thánh Thể là bí tích của tình yêu thương, diễn tả tột đỉnh hành động cứu độ của Thiên Chúa

Thánh Thể là bí tích của tình yêu thương, diễn tả tột đỉnh hành động cứu độ của Thiên Chúa

Thánh Thể là bí tích của tình yêu thương làm nảy sinh ra lộ trình của đức tin, sự hiệp thông và chứng tá kitô. Cùng với bí tích Rửa Tội và Thêm Sức nó làm thành suối nguồn cuộc sống của chính Giáo Hội.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu trong buổi gặp gỡ chung sáng thứ tư 5-2-2014.

Tham dự buổi tiếp kiến cũng có 90 Giám Mục Ba Lan đang viếng mộ các thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô và thăm Tòa Thánh. Sáng thứ tư 5-2-2014 trời Roma mưa khá lớn, nhưng nhiều tín hữu vẫn can đảm mặc áo mưa hay che dù kiên nhẫn tham dự buổi tiếp kiến. Nhiều người chạy vào trú dưới hai cánh hành lang của quảng trường và từ đó theo dõi buổi tiếp kiến trên hai màn truyền hình khổng lồ. Nhưng khi thấy xe díp của Đức Giáo Hoàng đi qua các lối chính chào dân chúng, họ lại chạy ra.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha trình bầy giáo lý về Bí tích Thánh Thể, là bí tích trung tâm của ”việc khai tâm kitô”. Đức Thánh Cha nói: điều chúng ta trông thấy khi tụ tập nhau cử hành bí tích Thánh Thể, khiến cho chúng ta trực giác được điều chúng ta sắp sống. Và ngài giải thích ý nghĩa các yếu tố của việc cử hành như sau:

Ở trung tâm không gian dành cho viỆc cử hành có bàn thờ, là một cái bàn phủ khăn, và điều này khiến chúng ta nghĩ tới một bữa tiệc. Trên bàn có thánh giá ám chỉ rằng trên bàn thờ đó được cử hành hiến tế của Chúa Kitô: chính Người là lương thực thiêng liêng mà chúng ta nhận dưới hình bánh và rượu. Bên cạnh bàn thờ có giá sách, nghĩa là nơi công bố Lời Chúa: điều này ám chỉ rằng chúng ta tụ họp nhau ở đây để lắng nghe Chúa nói qua Thánh Kinh, và như thế lương thực mà chúng ta lãnh nhận cũng là Lời Người.

Lời và Bánh trong Thánh Lễ trở thành một, như trong Bữa Tiệc Ly, khi tất cả các lời của Chúa Giêsu, tất cả các dấu chỉ Người đã làm, được cô đọng trong cử chỉ bẻ bánh và dâng chén, diễn tả trước hiến tế thập giá, và trong các lời: ”Các con hãy cầm lấy, hãy ăn, này là Mình Thầy… Hãy cầm lấy, hãy uống, này là Máu Thầy”. Cử chỉ của Chúa Giêsu đã làm trong Bữa Tiệc Ly là lời tạ ơn tột cùng Thiên Chúa Cha vì tình yêu của Người, vì lòng thương xót của Người. ”Tạ ơn” trong tiếng Hy lạp gọi là ”Eucharistia”. Đó, tại sao từ Eucaristia tóm tắt tất cả cử chỉ ấy, là cử chỉ của Thiên Chúa và cũng là của con người, cử chỉ của Chúa Giêsu Kitô, là Thiên Chúa thật và là Người thật.

Như vậy, việc cử hành Thánh Thể hơn là một bữa tiệc thường: đó là việc tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa Giêsu, mầu nhiệm chính của ơn cứu độ. ”Tưởng niệm” không chỉ có nghĩa là nhớ lại, mà muốn nói rằng mỗi khi chúng ta cử hành Bí Tích này là chúng ta tham dự vào mầu nhiệm cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô. Đức Thánh Cha quảng diễn thêm về Bí tích Thánh Thể như sau:

Bí tích Thánh Thể là tột đỉnh hành động cứu độ của Thiên Chúa: thật thế, khi trở thành bánh bẻ ra cho chúng ta, Chúa Giêsu tuôn đổ trên chúng ta tất cả lòng xót thương và tình yêu của Người, đến độ canh tân con tim, cuộc sống, và kiểu tương quan của chúng ta với Người và các anh chị em khác.

Chính vì thế mà bình thường khi chúng ta tới gần Bí tích này, chúng ta nói ”lãnh nhận sự hiệp thông”, “làm sự hiệp thông”. Trong quyền năng của Chúa Thánh Thần, sự tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể khiến cho chúng ta đồng hình đạng với Chúa Kitô trong cách thế duy nhất và sâu xa, bằng cách làm cho chúng ta hưởng nếm trước ngay từ bây giờ sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa Cha, là đặc tích của bữa tiệc thiên quốc, nơi cùng với tất cả các Thánh chúng ta sẽ có niềm vui không thể tưởng tượng nổi chiêm ngưỡng Thiên Chúa mặt giáp mặt.

Anh chị em rất thân mến, chúng ta sẽ không bao giờ cảm tạ Chúa đủ vì ơn Người ban cho chúng ta với bí tích Thánh Thể. Đó là một ơn thật lớn lao và vì thế thật là quan trọng đi tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật, đi lễ không phải chỉ để cầu nguyện, mà để nhận sự Hiệp Thông, nhận lấy bánh là Mình của Chúa Giêsu Kitô, cứu rỗi chúng ta, tha tội cho chúng ta, kết hiệp chúng ta với Thiên Chúa Cha. Thật là đẹp, khi làm điều này. Và mỗi Chúa Nhật chúng ta hãy đi Lễ, bởi vì đó chính là ngày sống lại của Chúa. Vì vậy Chúa Nhật quan trọng đối với chúng ta đến thế. Và với bí tích Thánh Thể chúng ta cảm thấy sự tùy thuộc vào Giáo Hội, vào dân Chúa, vào thân mình của Chúa, vào Chúa Giêsu Kitô. Và chúng ta sẽ không bao giờ ngừng tiếp nhận tất cả giá trị và sự phong phú của nó. Như thế, chúng ta hãy xin cho Bí tích này có thể tiếp tục duy trì sống động sự hiện diện của Người trong Giáo Hội và nhào nặn các cộng đoàn của chúng ta trong tình bác ái và sự hiệp thông, theo con tim của Thiên Chúa Cha. Và điều này được thực hiện trong suốt cuộc sống, nhưng nó được bắt đầu với việc rước lễ lần đầu. Thật là quan trọng việc các trẻ em chuẩn bị tốt cho việc Rước Lễ lần đầu, và ước chi đừng có trẻ em nào không làm điều đó, bởi vì đó là bước đầu tiên của việc thuộc về Chúa Giêsu Kitô một cách mạnh mẽ, sau bí tích Rửa Tội và bí tích Thêm Sức.

Đức Thánh Cha đã chào tín hữu hiện diện tại quảng trường và chúc mọi người những ngày hành hương tươi vui. Chào các tín hữu và các Giám Mục Ba Lan Đức Thánh Cha nói: Anh em thân mến xin hãy chuyển lời chào thăm của tôi tới các linh mục, tu sĩ, giáo dân nam nữ và toàn dân Ba Lan. Tôi bảo đảm với anh em lời cầu nguyện của tôi cho anh em và những người Chúa trao phó cho sự săn sóc của anh em. Xin anh em cũng hãy cầu nguyện cho tôi. Xin Chúa chúc lành cho anh em và Giáo Hội tại Ba Lan.

Ngoài ra, Đức Thánh Cha cũng chào một nhóm Giám Muc tham dự một cuộc họp do cộng đoàn thánh Egidio tổ chức, và các linh mục đang tham dự tuần hội học về việc đào tạo nhân bản các ứng viên linh mục, do Đại học giáo hoàng Thánh Giá tổ chức. Ngài cầu chúc chuyến viếng thăm mộ thánh Phêrô là dịp canh tân dấn thân truyền giáo và loan báo Tin Mừng, cách riêng cho những người rốt hết và những người nghèo.

Ngài cũng chào các sĩ quan và binh sĩ Lữ đoàn Sassari và hiệp hội các khách sạn. Ban quân nhạc của Lữ đoàn đã trình tấu nhiều bài tạo bầu khí tươi vui hùng tráng cho buổi tiếp kiến.

Chào các người đau yếu Đức Thánh Cha nói vì trời mưa nên họ tụ tập trong đại thính đường Phaolô VI và ngài đã gặp họ trước khi bắt đầu buổi tiếp kiến. Đức Thánh Cha nhắc cho mọi người biết hôm qua là lễ nhớ thánh nữ Agata trinh nữ tử đạo. Ngài cầu mong nhân đức anh hùng của thánh nữ giúp các bạn trẻ hiểu tầm quan trọng sự trong sạch của đức khiết tịnh. Ngài xin thánh nữ giúp các anh chị em đau yếu chấp nhân thánh giá trong sự kết hiệp thiêng liêng với Thánh Tâm Chúa Kitô. Đức Thánh Cha nhắn nhủ các cặp vợ chồng mới cưới hiểu biết vai trò của nữ giới trong cuộc sống gia đình.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Tòa Thánh phê bình Ủy ban LHQ về các quyền trẻ em

Tòa Thánh phê bình Ủy ban LHQ về các quyền trẻ em

VATICAN. Tòa Thánh ngạc nhiên về những nhận xét kết luận của Ủy ban LHQ về các quyền trẻ em, được công bố hôm 5-2-2014 tại Genève, trong đó Ủy ban mạnh mẽ cáo buộc Tòa Thánh về vấn đề giáo sĩ lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên. Cơ quan này của LHQ quả quyết rằng Tòa Thánh tiếp tục vi phạm Hiệp ước về các quyền trẻ em, đồng thời cũng phê bình Vatican về lập trường liên quan đến đồng tính luyến ái, ngừa thai và phá thai.

Trong bản những nhận xét kết thúc Ủy ban về các quyền trẻ em đòi Tòa Thánh phải cách chức ngay các giáo sĩ bị tố cáo lạm dụng tính dục trẻ em và giao nạp họ cho nhà chức trách dân sự.

Ủy ban gồm 18 chuyên gia cũng yêu cầu Tòa Thánh phải mở văn khố, công bố các văn kiện tài liệu về những giáo sĩ bị cáo đã phạm tội lạm dụng tính dục, và cho rằng cho đến nay Tòa Thánh đã che đậy những tội ác này, khiến cho các thủ phạm tiếp tục phạm tội mà không bị trừng phạt.

Trong buổi điều trần ngày 16-1-2014 tại Genève, Đại diện Tòa Thánh cho biết vấn đề xử lý các giáo sĩ phạm tội về phương diện hình luật thuộc thẩm quyền của nhà chức trách tư pháp của mỗi quốc gia nơi đương sự cư ngụ hoặc là công dân, với sự cộng tác của giáo quyền địa phương.

Đức TGM Silvano Tomasi

Trong cuộc phỏng vấn dành cho phái viên Sergio Centofanti của Đài Vatican, cùng ngày 5-2-2014, Đức TGM Silvano Maria Tomasi, Quan sát viên thường trực của Tòa Thánh tại LHQ ở Genève, đã bác bỏ những lời cáo buộc đó và nói rằng:

– Ủy ban Hiệp ước về các quyền của con người đã chính thức công bố hôm nay (5-2-2013) các kết luận và đề nghị với các nước được cứu xét trong khóa họp thứ 65 và gồm có Congo, Đức, Tòa Thánh, Bồ đào nha, Liên bang Nga và Yemen. Ấn tượng đầu tiên của tôi là: cần phải đợi, đọc kỹ lưỡng và phân tích chi tiết những gì các thành viên (18) Ủy ban này đã viết. Nhưng phản ứng đầu tiên của tôi là ngạc nhiên, vì khía cạnh tiêu cực của văn kiện mà nó gây ra. Dường như những kết luận trong văn kiện này đã được chuẩn bị trước khi có cuộc gặp gỡ giữa Ủy ban và phái đoàn Tòa Thánh (ngày 16-1-2014 tại Genève). Phái đoàn đã trình bày các câu trả lời chi tiết rõ ràng về nhiều điểm, và tiếc là những câu trả lời đó đã không được ghi lại trong Văn kiện kết thúc này, hoặc ít là dường như các câu trả lời của phái đoàn Tòa Thánh đã không được cứu xét nghiêm túc. Thực tế là văn kiện kết thúc có vẻ như hầu như không được cập nhật gì, không đề ý gì đến những điều đã được thực hiện trong những năm gần đây trên bình diện Tòa Thánh, với những biện pháp được thẩm quyền của Quốc gia thành Vatican trực tiếp đề ra, và tại các nước khác nhau do các HĐGM đưa ra. Vì thế, tài liệu kết luận của Ủy ban LHQ thiếu một viễn tượng đúng đắn và không được cập nhật. Thực tế là đã có một loạt những thay đổi về phía Công Giáo để bảo vệ các trẻ em, mà tôi thấy khó tìm được ở cùng một mức độ dấn thân trong các tổ chức hoặc trong các nước khác. Đây là một sự kiện hiển nhiên không thể xuyên tạc được!

H. Làm sao Tòa Thánh trả lời chính xác cho mỗi lời cáo buộc của Ủy ban LHQ?

Đ. Không thể trả lời trong vòng 2 phút cho tất cả những lời khẳng định được đưa ra một cách rất sai trái trong Văn kiện kết luận của Ủy ban LHQ. Với tư cách là một thành viên, một quốc gia đã ký kết Hiệp ước, Tòa Thánh sẽ trả lời: Tòa Thánh đã phê chuẩn Hiệp ước và muốn tuân giữ Hiệp ước đó trong tinh thần và trong chữ viết, không du nhập thêm những thêm thắt ý thức hệ hoặc những áp đặt đi ra ngoài chính Hiệp ước. Ví dụ: trong lời tựa, Hiệp ước nói về việc bảo vệ sự sống và bênh vực trẻ em trước và sau khi sinh ra; trong khi đó thì Ủy ban lại đề nghị Tòa Thánh hãy thay đổi lập trường về vấn đề phá thai! Dĩ nhiên, khi một trẻ em bị giết rồi thì không còn quyền nữa! Vì thế tôi thấy đó thực là một điều trái ngược với những mục tiêu cơ bản của Hiệp Ước là bảo vệ các trẻ em. Ủy ban này đã không làm điều có lợi cho LHQ, khi tìm cách du nhập và đòi Tòa Thánh phải thay đổi giáo huấn không thể thương lượng được của mình! Vì thế, quả là buồn khi thấy Ủy ban LHQ đã không hiểu rõ bản chất và chức năng của Tòa Thánh, tuy Tòa Thánh đã nói rõ với Ủy ban quyết định của mình thi hành những yêu cầu của Hiệp ước về các quyền của trẻ em, nhưng còn xác định rõ và bảo vệ trước tiên các giá trị căn bản làm cho việc bảo vệ trẻ em trở nên thực sự và hữu hiệu.

H. Thoạt đầu LHQ nói rằng Vatican đã đáp ứng tốt đp hơn các nước khác về việc bảo vệ các trẻ vị thành niên. Vậy nay điều gì đã xảy ra?

Đ. Trong phần dẫn nhập của Phúc trình kết thúc có nhìn nhận sự rõ ràng trong các câu trả lời của Tòa Thánh được gửi về Ủy ban; Tòa Thánh không tìm cách tránh né một yêu cầu nào của Ủy ban, theo sự hiển nhiên hiện có, và khi không có thông tin ngay, thì chúng tôi hứa sẽ cung cấp các tin tức đó trong tương lai, theo các chỉ thị của Tòa Thánh, như tất cả các chính phủ khác đã làm. Vì thế, chúng tôi thấy cuộc gặp gỡ ngày 16-1-2014 có vẻ là một cuộc đối thoại xây dựng và tôi nghĩ rằng cần phải tiếp tục như vậy. Vì thế, giữa cảm tưởng về cuộc đối thoại trực tiếp của phái đoàn Tòa Thánh với Ủy ban, và văn bản kết luận cùng những đề nghị mà Ủy ban công bố, chúng tôi muốn nói rằng có lẽ văn bản những kết luận này đã được viết từ trước và không phản ảnh phần đóng góp và sự rõ ràng, ngoại trừ một vài điều được thêm vào một cách vội vã. Vì thế, chúng tôi phải tiếp tục trình bày giải thích về các lập trường của Tòa Thánh, trả lời cho những câu hỏi còn tồn đọng, làm sao để mục tiêu cơ bản mà người ta muốn đạt tới là sự bảo vệ trẻ em có thể đạt được. Người ta nói là có 40 triệu vụ lạm dụng trẻ em trên thế giới. Rất tiếc là một số trường hợp ấy, – tuy là với tỷ lệ rất nhỏ, so với những gì xảy ra trên thế giới, – cũng liên hệ tới những người của Giáo Hội. Và Giáo Hội đã trả lời và đã phản ứng, và tiếp tục làm như thế! Chúng ta phải nhấn mạnh về chính sách minh bạch này, không dung thứ sự lạm dụng, vì dù chỉ có một vụ lạm dụng trẻ em mà thôi thì cũng là một điều quá nhiều rồi!

H. Vậy điều gì có thể xảy ra?

Đ. Có lẽ các tổ chức phi chính phủ quan tâm với việc bảo vệ đồng tính luyến ái, hôn nhân đồng phái và những vấn đề khác, chắc chắn là họ có những nhận xét cần trình bày và một cách nào đó đã củng cố một đường hướng ý thức hệ.

Thông cáo của Phòng Báo Chí Tòa Thánh

Trong thông cáo công bố sáng ngày 5-2-2014, Phòng báo chí Tòa Thánh cũng lấy làm tiếc vì Ủy ban LHQ về các quyền của trẻ em toan tính can thiệp vào giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về phẩm giá con người và trong việc thi hành tự do tôn giáo:

”Vào cuối khóa họp thứ 65, Ủy ban về các quyền trẻ em đã công bố những nhận xét kết thúc về việc cứu xét các phúc trình của Tòa Thánh và 5 quốc gia đã ký kết Hiệp ước về các quyền trẻ em là Congo, Đức, Bồ đào nha, Liên bang Nga và Yemen.

Theo những thủ tục dự kiến dành cho các nước ký Hiệp Ước, Tòa Thánh ghi nhận những nhận xét kết luận về các bản phúc trình của mình, các nhận xét đó sẽ được cứu xét và nghiên cứu kỹ lưỡng trong sự tôn trọng hoàn toàn Hiệp Ước trong các lãnh vực khác nhau được Ủy ban trình bày, chiếu theo công pháp và thực hành quốc tế cũng như để ý đến cuộc thảo luận trao đổi với Ủy ban ngày 16-1 vừa qua.

Tuy nhiên, Tòa Thánh lấy làm tiếc vì thấy trong một số điểm của những quan sát kết thúc có một toan tính can thiệp vào giáo huấn của Giáo Hội Công Giáo về phẩm giá con người và trong việc thực thi tự do tôn giáo. Bản nhận xét của Ủy ban đã phê bình giáo huấn Công Giáo về đồng tính luyến ái, ngừa thai và phá thai.

Tòa Thánh tái khẳng định quyết tâm bênh vực và bảo vệ các quyền của trẻ em, phù hợp với các nguyên tắc được Hiệp ước về các quyền trẻ em thăng tiến, và theo các giá trị luân lý và tôn giáo được đạo lý Công Giáo.”

G. Trần Đức Anh O.P chuyển ý

Haiti bốn năm sau ngày động đất

Haiti bốn năm sau ngày động đất

Phỏng vấn bà Maria Vittoria Rava, chủ tịch tổ chức phi chính quyền Rava, về công tác cứu trợ nhân dân Haiti

Bốn năm đã trôi qua kể từ khi Haiti bị động đất, khiến cho 230 ngàn người chết và hơn một triệu người mất hết nhà cửa phải sống cảnh màn trời chiếu đất.

Người dân Haiti lại càng phải khốn khổ hơn vì hai trận bão lớn xảy ra sau đó. Các tai ương này đã đánh gục nền kinh tế vốn đã èo ọt của người dân hòn đảo này và đã gây ra nhiều trận dịch kiết lỵ, cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người khác, đặc biệt là các trẻ em.

Thảm cảnh của người dân Haiti xem ra đã bị thế giới lãng quên, nhưng cuộc khủng hoảng này vẫn tiếp tục cật vấn lương tâm mọi người.

Như đã biết, lúc 16 giờ 53 phút ngày 12 tháng Giêng năm 2010, một trận động đất mạnh 7 chấm theo thước Richter đã tàn phá đảo Haiti, khiến cho 230 ngàn người thiệt mạng và hơn một triệu người trở thành dân tị nạn với hai bàn tay trắng, vì đã mất mất hết nhà cửa và gia tài sản nghiệp. Thủ đô Port-au-Prince biến thành một đống gạch vụn đổ nát, kể cả dinh tổng tổng thống và các dinh thự của chính quyền cũng sụp đổ. Hàng trăm ngàn xác chết bị kẹt dưới các tòa nhà đổ nát, hay nằm nhiều ngày sau đó trên các đường phố, mà không được ai chôn cất.

Tình hình của các thành phố và làng mạc xa xôi còn thê thảm hơn nữa, vì các toán cứu trợ đã chỉ có thể tới giúp dân chúng nhiều tuần sau đó. Trận động đất đã khiến cho các cầu, đường lộ và hầm bị sập, đất bị lở, khiến cho việc lưu thông hoàn toàn bị gián đoạn. Hai trận bão càn quét Haiti sau đó đã khiến cho tình trạng sống của dân chúng càng thê thảm hơn. Ngoài cảnh nhà cửa bị tàn phá đổ nát, hàng chục ngàn xác chết rải rác khắp nơi, còn có hàng ngàn trẻ em mồ côi lang thang thất thểu vô định trên các đường phố, và hàng ngàn người bị chết vì dịch tả.

Nhân dân Haiti, một quốc gia nghèo nhất thế giới, đã phải đương đầu với một thảm cảnh to lớn vượt qúa mọi sức lực của họ. Một phong trào liên đới quốc tế đã được phát động nhưng đã không thành công trong việc vực dậy một đất nước hoàn toàn kiệt quệ. Và ngày nay, bốn năm đã trôi qua kể từ sau cuộc động đất kinh hoàng ấy, Haiti vẫn là một đống đổ nát hoang tàn và cảnh hỏa ngục vẫn còn đó.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn bài phỏng vấn bà Maria Vittoria Rava, chủ tịch tổ chức phi chính qyuyền Rava, về công tác cứu trợ Haiti. Tổ chức Rava đã hiện diện tại Haiti từ 27 năm nay và điều khiển một loạt các dự án trợ giúp phát triển tại đây.

Hỏi: Thưa bà Rava, tình hình tại Hati hiện nay ra sao, có còn khó khăn hay không?

Đáp: Tình hình vẫn luôn luôn rất khó khăn. Cũng rất khó diễn tả bằng lời nói, bởi vì chỉ khi tới Haiti thì người ta mới nhận thức được tình hình của quốc gia xó xỉnh này của trái đất, nơi chỉ có các đống rác, các đổ vỡ và tuyệt vọng.

Không có gì thay đổi, trong nghĩa những người đã mất nhà cửa hiện nay vẫn không có nhà ở: họ sống dưới lều bạt, hay trong các nhà vá víu tạm bợ bằng đủ mọi vật liệu mà họ tìm được… Đã không có việc tái thiết đất nước.

Hỏi: Chúng ta nhớ cuộc tranh đua liên đới quốc tế được phát động ngay sau khi trận động đất xảy ra tại Haiti: Nó có đem lại vài kết qủa nào không thưa bà, hay đã chỉ là các lời hứa suông không được thực hiện?

Đáp: Điều mà tôi có thể nói đó là thí dụ như trong trường hợp của chúng tôi, tất cả những gì lạc quyên được đều đã được sử dụng cho các công tác cứu trợ ngay lập tức, chứ không cần phải đợi nhiều năm. Nó đã mang lại kết qủa, mà mỗi lần qua Haiti đều khiến cho tôi ngạc nhiên. Đã có hàng ngàn trẻ em được giúp đỡ mỗi ngày. Chúng là các trẻ em mồ côi sau trận động đất đã sống lang trang trên các đường phố và không nơi nương tựa, vì cha mẹ và người thân đã chết hết. Nói chung chắc chắn đã có vài cơ quan không hoạt động tốt. Tôi không phải là người có bổn phận nói lên điều này, bởi vì chúng tôi chỉ là một cái ”bàn đạp nhỏ”, nhưng với tất cả số tiền mà người ta đã quyên góp được, chia ra cho mỗi đầu người trong số hàng triệu dân Haiti, thì có thể làm một cài gì nhiều hơn nữa, rất nhiều hơn nữa.

Nhân dân Haiti đáng được hưởng điều đó, vì họ rất muốn vươn lên và làm lại cuộc sống. Khi bạn cho họ một cơ may, một dịp tốt, một công việc, họ biết tận lực và phục hồi. Tôi trông thấy điều này nơi các bạn trẻ, mà tôi biết và chúng tôi theo dõi với các học bổng cấp cho họ. Thật là không thể tin được, và rất cảm động: mỗi khi trở về nhà tôi đều nghĩ: chúng tôi đã làm được quá ít.

Hỏi: Các việc cấp thiết nhất hiện nay rất tiếc liên quan tới các trẻ em. Tổ chức của bà đã can thiệp một cách cụ thể như thế nào trong lãnh vực này?

Đáp: Các dự án của chúng tôi tập trung vào việc trợ giúp các trẻ em. Lý do cũng là vì các em rất thiếu dinh dưỡng, và đây cũng là lý do khiến cho nhiều em phải chết. Thiếu nước, thiếu vệ sinh, thiếu cả nước trong lành để uống. Chúng tôi có một trung tâm chống bệnh kiết lỵ. Trung tâm này được thành lập sau trận dịch kiết lỵ đầu tiên, mỗi năm tiếp đón 20,000 bệnh nhân và dĩ nhiên là luôn luôn đầy các trẻ em, là những người giòn mỏng yếu đuối nhất và các em là những người đầu tiên phải chết, nếu không được chuyền nước. Và mỗi khi có mưa là bệnh dịch tả lại gia tăng. Thế rồi chúng tôi cũng có nhà thương nhi đồng Thánh Damiano, là nhà thương nhi đồng duy nhất tại Haiti, hằng năm đã săn sóc cho 80,000 trẻ em: có các em được săn sóc trong một ngày, có các em phải nhập viện vì các trường hợp khẩn cấp, có các em khác nữa nhập viện để được giải phẫu, có các em được săn sóc vì bị ung thư. Chúng tôi cũng có một khu vực sản khoa dành cho các bà mẹ và các trẻ em sinh sau khi xảy ra trận động đất, bởi vì vài nhà thương ít ỏi đều đã sụp đổ hết. Vì thế nhà thương thánh Damiano là điểm quy chiếu của toàn nước Haiti. Nhà thương của chúng tôi nhận được sự hỗ trợ của các bác sĩ nhà thương Buzzi ở Milano, Nhà thương Chúa Hài Đồng Roma và nhà thương Di Ponte tỉnh Varese. Các chuyên viên của các nhà thương nói trên đã cộng tác với chúng tôi bằng cách cống hiến cho chúng tôi các khả năng chuyên môn của họ. Đây là một kích thích để thành lập nhiều nhà thương thánh Damiano khác. Thế rồi chúng tôi cũng có các nhà mồ côi tại Kenscoff gần nhà thương thánh Damiano và nhà Trẻ thơ thánh Anna ở Saint Louis, là nơi chúng tôi tiếp đón 2.000 trẻ em vô gia đình, nơi các em được yêu thương săn sóc và giáo dục trong tình yêu và niềm vui. Chúng tôi đã có thể tiếp đón các em nhờ hệ thống nhận nuôi trẻ em mồ côi từ xa, với sự đóng góp tài chánh của rất nhiều các cha mẹ nuôi. Vào dịp lễ Giáng Sinh năm 2013 nhiều cha mẹ nuôi đã chọn tới nghỉ tại nhà này.

Hỏi: Tổ chức Rava không chỉ trợ giúp người dân Haiti, nhưng cũng tạo công ăn việc làm cho 1.600 người nữa, có đúng thế không thưa bà?

Đáp: Vâng đúng thế. Đây là điều đẹp nhất và lần nào cũng khiến cho tôi cảm động. Đây là điều chúng tôi đã thực hiện tại Francisville với ”Thành phố nghề nghiệp”, nơi chúng tôi dậy nghề cho các thanh thiếu niên và là nơi chúng tôi trú ngụ mỗi khi tới Haiti. Nó là một khách sạn nhỏ gọi là ”Biệt thự Francesca”, nơi chúng tôi ngủ nghỉ bằng cách trả mỗi ngày 25 mỹ kim. Tại khách sạn này có các trẻ em bụi đời làm việc như là những nhân viên giúp việc và các em được trả lương. Có rất nhiều kiểu tạo cho các em một công việc làm. Giáng Sinh vừa qua tôi đã ăn trưa với một vài em được một số vị hảo tâm Italia cho học bổng để các em theo học tại đại học. Biết bao nhiêu lần người ta cảm động, vì các trẻ em chiếm đa số tại Haiti, và các em bị chết vì tật bệnh và thiếu dinh dưỡng.

Số trẻ em tử vong rất cao. Và khi bạn được một trẻ em bé bỏng như vậy ôm chặt lấy mình, thì bạn bị chinh phục ngay. Nhưng cả khi bạn có trước mặt một thanh niên 20 tuổi đi nữa, nhìn đôi mắt của họ chất chứa dấu ẩn các câu chuyện không thể tin được. Có khi họ đã mất tất cả gia đình trong trận động đất cách đây bốn năm, nhưng họ vẫn còn có ý chí phấn đấu vươn lên và dấn thân xây dựng. Họ đã ghi danh theo học đại học và thi đậu qua kỳ sát hạch, mà bên Italia các người trẻ có đủ mọi điều kiện thuân lợi trong cuộc sống cũng còn than là khó. Bên Haiti này các kỳ thi sát hạch đó lại còn khó hơn biết bao nhiêu, bởi vì có rất ít chỗ trong ngành Y khoa của đại học Haiti. Nhưng các bạn trẻ này đã muốn thắng vượt các chướng ngại đó và chọn con đường khó. Khi tôi hỏi họ: “Sao? các kỳ thi như thế nào, có khó không? Có vất vả không?” Và bạn có thể tưởng tượng ra hoàn cảnh sống thiếu thốn khó khăn trăm bề của họ. Họ đâu có nhà cửa và ghế salong để ngồi thoải mái nghỉ mệt vào buổi chiều đâu. Thế nhưng họ trả lời: ”Không, không khó, không mệt, không vất vả. Tôi đang theo đuổi giấc mơ của tôi. Từ khi tôi gia nhập đại học, tất cả chỉ là một con đường xuống dốc dễ dàng!”

(RG 12-1-2014)

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Giáo Hội và thế giới rất cần sự hiện diện của những người sống đời thánh hiến

Giáo Hội và thế giới rất cần sự hiện diện của những người sống đời thánh hiến

Giáo Hội và thế giới rất cần sự hiện diện của những người sống đời thánh hiến. Các người thánh hiến là dấu chỉ của Thiên Chúa trong các môi trường cuộc sống khác nhau, họ là men giúp một xã hội lớn lên công bằng và huynh đệ hơn

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên trong buổi đọc Kinh Truyền Tin chung tới tín hữu và du khách hành hương trưa Chúa Nhật 2-2-2014, lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ và cũng là Ngày Quốc Tế Đời Thánh Hiến.

Trước đó lúc 10 giờ sáng ngài đã chủ sự thánh lễ trong Đền Thờ Thánh Phêrô. Ngày Quốc Tế Đời Thánh Hiến đã do Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thành lập và cử hành lần đầu tiên năm 1997 nhằm mục dích cảm tạ Chúa vì ơn gọi đời thánh hiến, đánh giá ngày càng cao hơn chứng tá của các tu sĩ nam nữ chọn sống ba lời khấn phúc âm, và là dịp để mọi người sống đời thánh hiến canh tân quyết tâm dâng mình cho Chúa. Cùng đồng tế với Đức Thánh Cha có Đức Hồng Y João Bras de Aviz, Tổng trưởng bộ các dòng tu và hiệp hội tông đồ, Đức Tổng Giám Mục José Rodriguez Carballo Tổng thư ký, vài nhân viên của Bộ, cha Nicholas Pachón, Chủ tịch Hiệp hội các Bề trên tổng quyền, cha Luigi Gaetano Chủ tịch hiệp hội các Bề trên cả Italia.

Thánh lễ mở đầu với cuộc rước với sự tham dự của 25 nam tu sĩ và 25 nữ tu, đại diện cho mọi lứa tuổi của đời thánh hiến, cũng như các tu sĩ và bề trên đại diện cho mọi chức vụ của dòng tu và tu hội. Mỗi người trên tay cầm một cây nến biểu tượng cho Chúa Kitô là ánh sáng thế gian và cho ơn gọi của đời thánh hiến là ánh sáng chiếu soi trần gian.

Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha nói:

Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thờ cũng được gọi là lễ của sự gặp gỡ: gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và dân Người. Khi Đức Maria và thánh Giuse đem con vào Đền Thờ Giêrusalem, thì xảy ra cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và dân người được đại diện bởi hai cụ già Simeong và Anna. Đây cũng là cuộc gặp gỡ bên trong lịch sử của dân Chúa, một cuộc gặp gỡ giữa các người trẻ là Đức Marria và ông Giuse và các người già là ông Simeong và ban Anna. Trình thuật Phúc âm cho thấy cha mẹ Chúa Giêsu tươi vui tuân giữ và đi theo các luật lệ của Thiên Chúa. Thánh sử Luca nhấn mạnh sự kiện hai người già được Thánh Thần Chúa hướng dẫn. Và Thánh Gia gặp gỡ hai người dại diện này của dân thánh Chúa trong Đền Thờ. Chúa Giêsu ở trung tâm. Chính Người chuyển động tật cả, lôi kéo các người này và người kia đến Đền Thờ, là nhà của Cha Người. Đó là cuộc gặp gỡ giữa sự vâng phục của người trẻ và lời tiên tri của người già. Việc tuân giữ luật lệ được chính Thần Khí linh hoạt, và lời tiên tri di chuyển trên con đường do Luật Lệ vạch ra. Ai tràn đầy Thần Khí bằng Mẹ Maria? Ai ngoan ngoãn với hoạt động của Thần Khí bằng Mẹ?

Đời thánh hiến cũng là một cuộc găp gỡ với Chúa Giêsu: chính Người được Mẹ Maria và thánh Giuse đem đến cho chúng ta, và chúng ta được Thánh Thần hướng dẫn bước tới với Người. Người ở trung tâm và di chuyển tất cả, Người lôi kéo chúng ta đến Đền Thánh, nơi chúng ta có thể gặp gỡ, nhận biết, tiếp đón và ôm lấy Người. Chúa Giêsu đến gặp chúng ta trong Giáo Hội, qua đặc sủng xây nền của một dòng tu. Cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa Kitô đã thành hình trong Giáo Hội qua đặc đủng của một chứng nhân nam nữ của Người. Sự kiện này khiến cho chúng ta kinh ngạc và làm cho chúng ta tạ ơn Chúa. Cả trong đời thánh hiến người ta cũng sống cuộc gặp gỡ giữa người trẻ và người già, giữa sự tuân giữ và lời tiên tri. Chúng ta đừng coi hai thực tai này chống đối nhau. Hãy để Chúa Thánh Thần linh hoạt cả hai, và dấu chỉ của cuộc găp gỡ đó là niềm vui: niềm vui của sự tuân giữ, bước đi trong một luật sống và niềm vui được Thần Khí hướng dẫn, không bao giờ cứng nhắc, không bao giờ khép kín, nhưng luôn luôn rộng mở cho tiếng Chúa, nói, mở ra và hướng dẫn.

Lúc 12 giờ trưa Đức Thánh Cha đã xuất hiện tại cửa sổ Dinh Tông Tòa để dọc kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn hữu và du khách hành hương tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô. Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đề cao tần quan trọng của đời sống thánh hiến đối với Giáo Hội. Ngài nói trình thuật Phúc Âm kể lại biến cố dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh theo luật lệ Do thái là một hình ảnh ý nghĩa diễn tả việc hiến dâng cuộc sống mình cho Thiên Chúa của những người noi gương Chúa Giêsu đồng trinh, khó nghèo và vâng lời, Đấng được thánh hiến của Thiên Chúa Cha. Áp dụng cho mọi kitô hữu Đức Thánh Cha nói:

Sự dâng hiến chính mình cho Thiên Chúa liên quan tới mọi kitô hữu, bởi vì tất cả chúng ta đươc thánh hiến cho Người qua bí tích Rửa Tội. Tất cả chúng ta được mời gọi dâng mình cho Thiên Chúa Cha với Chúa Giêsu và như Chúa Giêsu, biến cuộc đời chúng ta trở thành một món qùa quảng đại, trong gia đình, trong công việc làm, trong việc phụng sự Giáo Hội, trong các công tác bác ái thương xót. Nhưng việc thánh hiến đó được sống một cách đặc biệt bởi các tu sĩ, đan sĩ và giáo dân tận hiến giữa đời, mà với việc tuyên xưng các lời khấn họ thuộc vè Thiên Chúa một cách trọn vẹn và triệt để. Việc tùy thuộc Chúa cho phép những người sống một một cách đích thực cống hiến một chứng tá đặc biệt cho Tin Mừng Nước Thiên Chúa. Hoàn toàn được thánh hiến cho Thiên Chúa, họ hoàn toàn được trao phó cho các anh em khác để đem ánh sáng Chúa Kitô tới nơi đâu có bóng tối dầy đặc, và phổ biến niềm hy vọng trong các con tim mất tin tưởng. Đức Thánh Cha giải thích thêm về đời thánh hiến như sau:

Các người thánh hiến là dấu chỉ của Thiên Chúa trong các môi trường cuộc sống khác nhau, họ là men giúp một xã hội lớn lên công bằng và huynh đệ hơn, lời tiên tri chia sẻ với các người bé nhỏ nghèo hèn… Mỗi một người thánh hiến là một ơn của Thiên Chúa trên đường đi. Cần có các sự hiện diện này biết bao nhiêu, cho việc củng cố và canh tân dấn thân phổ biến Tin Mừng, cho việc giáo dục kitô, cho việc bác ái đối với các người cần được trợ giúp, cho việc cầu nguyện chiên niệm, cho dấn thân đào tạo nhân bản và tinh thần cho người trẻ và các gia đình, và cho dấn thân cho công lý và hòa bình trong gia đình nhân loại. Giáo Hội và thế giới cần đến chứng tá này của tình yêu và lòng thương xót Chúa. Vì thế cần đánh gía cao với lòng biết ơn các kinh nghiệm của đời sống thánh hiến và đào sâu việc hiểu biết các đặc sủng và nền tu đức khác nhau. Cần phải cầu nguyện để người trẻ trả lời ”có” với Chúa là Đấng gọi họ tân hiến cho Người để phục vụ các anh em chị em khác một cách vô vị lợi. Chình vì các lý do đó nên năm 2015 sẽ là Năm của đời thánh hiến. Ngay từ bây giờ chúng ta hãy phó thác sáng kiến này cho sự bầu cử của Đức Trinh Nữ Maria và Cha Thánh Giuse, như là cha mẹ Chúa Giêsu đã là những người đầu tiên được thánh hiến bởi Chúa và thánh hiến cuộc sống các Ngài cho Người.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha nhắc tới Ngày cho sự sống được Hội Đồng Giám Mục Italia phát động cử hành Chúa Nhật hôm qua về đề tài ”Sinh ra tương lai”. Ngài khích lệ các hiệp hội, các phong trào và trung tâm văn hóa dấn thân bảo vệ và thăng tiến sự sống. Cùng với các Giám Mục ngài tái nhấn mạnh rằng: ”Mọi con cái là gương mặt của Chúa là Đấng yêu thương sự sống, là ơn cho gia đình và cho xã hội” (Sứ điệp cho Ngày sự sống lần thứ 36). Mỗi người đều được mời gọi yêu thương và thăng tiến sự sống, đặc hiệt sự sống của những người yếu đuối cần được chú ý săn sóc, từ lòng mẹ cho tới khi kết thúc trên traí đất này. Đức Thánh Cha cũng chào Đức Hồng Y Giám quản và những người dấn thân linh hoạt Ngày sự sống trong giáo phận Roma, cũng như các giáo sư đại học đã tổ chức các cuộc hội thảo về các vấn đề sinh sản nhân dịp này.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Thánh Cha gửi 414 gia đình đi truyền giáo

Đức Thánh Cha gửi 414 gia đình đi truyền giáo

VATICAN. Đức Thánh Cha Phanxicô gửi 414 gia đình thuộc Con đường Tân Dự Tòng đi truyền giáo tại nhiều nước trên thế giới.

Nghi thức trao Thánh Giá truyền giáo đã diễn ra trong buổi tiếp kiến của ĐTC sáng ngày 1-2-2014 tại Đại thính đường Phaolô 6 dành cho 8 ngàn thành viên Con đường Tân Dự Tòng.

Con đường này là một phương pháp do Ông Kiko Arguello và bà Carmen Hernander người Tây Ban Nha, đề xướng hồi năm 1967 tại khu ngoại ô thủ đô Madrid, nhắm giúp các tín hữu tái khám phá ơn gọi của bí tích rửa tội qua hành trình tân dự tòng.

Tham dự cuộc gặp gỡ với ĐTC có 11 Hồng Y và hơn 50 GM các nước, những người khởi xướng và các vị trách nhiệm Con đường Tân Dự Tòng, các vị giám đốc của 100 đại chủng viện thừa sai ”Mẹ Đấng Cứu Chuộc” (Redemptoris Mater) thuộc Con đường này ở các nơi trên thế giới, các LM đã được đào tạo trong các chủng viện thuộc Con đường Tân dự Tòng ở Âu Châu cũng như các chủng sinh đang được huấn luyện, các toán giáo lý viên lưu động quốc tế và các vị trách nhiệm các cộng đoàn đầu tiên ở Tây Ban Nha và Italia.

Đặc biệt có 414 gia đình được ĐTC sai đi truyền giáo, trong đó có 174 gia đình sẽ thuộc 40 cứ điểm mới truyền giáo cho dân ngoại, như ở Trung Quốc, Ấn độ, Việt Nam, Mông Cổ, Đông Âu và Bắc Âu, thêm vào số 52 cứ điểm đã hiện hữu. Trong buổi tiếp kiến còn có 900 người con của tất cả các gia đình hiện diện. Ngoài ra cũng có hơn 100 gia đình đã đi truyền giáo ở nhiều nơi trên thế giới.

Phần lớn các gia đình được ĐTC sai đi hôm 1-2-2014 là người Tây Ban Nha và Italia. Mỗi cứ điểm truyền giáo gồm 4 gia đình, một LM và 1 phụ tá tháp tùng, thường là một giáo dân hoặc một chủng sinh, một nữ tu cao niên và 3 chị trẻ cộng tác vào sứ vụ truyền giáo cho dân ngoại.

Trong bài huấn dụ, ĐTC nhiệt liệt cám ơn niềm vui đức tin cũng như lòng nhiệt thành làm chứng tá Kitô của các thành viên Con đường Tân Dự Tòng, đồng thời ngài nhắn nhủ họ 3 điều:

– Thứ I là hết sức quan tâm kiến tạo và bảo tồn tình hiệp thông trong các Giáo Hội địa phương nơi họ đến hoạt động. Con đường có đoàn sủng và sức năng động riêng. Điều này có nghĩa là đặt mình lắng nghe đời sống của các Giáo Hội nơi anh chị em được các vị phụ trách gửi tới, đề cao giá trị những điều phong phú của địa phương, nếu cần thì chịu đau khổ vì những yếu đuối của họ, đồng hành như một đoàn chiên duy nhất dưới sự lãnh đạo của các vị Mục Tử của Giáo Hội địa phương.

– Thứ hai là đặc biệt chú ý đến bối cảnh văn hóa nơi các gia đình anh chị em đi tới hoạt động. Đây là những môi trường nhiều khi rất khác biệt với môi trường xuất xứ của anh chị em.. Điều rất quan trọng là cố gắng học các nền văn hóa anh chị em gặp, biết nhận ra nhu cầu Tin Mừng hiện diện ở mọi nơi, và cả hoạt động mà Chúa Thánh Linh đã thực hiện trong đời sống và lịch sử của mỗi dân tộc.

– Thứ ba là hãy chăm sóc nhau với tình yêu thương, đặc biệt là những người yếu thế nhất. Con đường Tân Dự Tòng, trong tư cách là một hành trình khám phá bí tích rửa tội của mình, là một con đường nhiều đòi hỏi, trên đó một anh chị em có thể gặp những khó khăn bất ngờ. Trong những trường hợp ấy, sự thực thi lòng kiên nhẫn và lòng từ bi từ phía cộng đoàn chính là dấu chỉ sự trưởng thành trong đức tin. Không thể cưỡng bách tự do của mỗi người, và phải tôn trọng các sự chọn lựa của người quyết định tìm kiếm bên ngoài Con đường Tân Dự Tòng, những hình thức khác của đời sống Kitô giúp họ tăng trưởng trong việc đáp lại tiếng gọi của Chúa.

Con đường Tân Dự Tòng hiện nay có mặt ở 124 quốc gia 5 châu, thuộc 1,479 giáo phận với 20,432 cộng đoàn hiện diện trong 6,272 giáo xứ. Con đường này cũng có 100 đại chủng viện giáo phận thừa sai Mẹ Đấng Cứu Chuộc với 2.300 đại chủng sinh giáo phận đang chuẩn bị tiến lên chức linh mục; 1.880 linh mục giáo phận đã xuất thân từ các đại chủng viện đó, hơn 1 ngàn gia đình đang thi hành sứ vụ truyền giáo tại 93 quốc gia và 92 cứ điểm truyền giáo cho dân ngoại (SD 1-2-2014)

G. Trần Đức Anh O.P – Vatican Radio