Giáo hội khải hoàn: Lễ Các Thánh Nam Nữ

 Giáo hội khải hoàn: Lễ Các Thánh Nam Nữ

Chúa Giêsu đến trần gian không để thiết lập một vương quốc tại thế trần, nhưng để thiết lập một vương quốc vĩnh cửu cho phàm nhân tại một nơi vĩnh cửu. Đó là vương quốc “TÌNH YÊU”, thật vậy để được vào vương quốc nầy, đòi hỏi con người phải có một tấm thẻ thông hành đặc biệt, đó là tấm “THẺ TÌNH YÊU”.

Thật vậy, vương quốc vĩnh cửu phải là một vương quốc không có khổ đau, vương quốc không có khổ đau tất nhiên phải là một vương quốc dựa trên TÌNH YÊU. Vinh quang nơi vương quốc nầy không phải là vinh quang của trần thế, không có chổ đứng, chổ ngồi như trần gian, cũng không có chổ dựa, vì vương quốc ấy không có sự mất thăng bằng, nên không sợ té, sợ ngã.

Vương quốc ấy là một giáo hội viên mãn, còn được gọi là gíao hội chiến thắng,giáo hội ấy đã vượt qua những gian truân và đã trung thành với sứ mạng của mình, một sứ mạng của tình yêu.

Mọi thành phần được vào vương quốc ấy, được gọi là các Thánh, các ngài đủ mọi thành phần nhưng chỉ có hai giới tính là nam và nữ, nên gọi là các Thánh nam nữ.

Các Thánh nam nữ là những Kitô hữu, những người có niềm tin vào Đức Giêsu- Kitô, không phân biệt cấp bậc địa vị, chủng tộc ,sang hèn, lớn nhỏ. Vinh quang của vương quốc ấy không ai biết được, trừ Thiên Chúa và những kẻ mà Thiên Chúa cho biết. Như vậy , các Thánh nam nữ mà Giáo Hội mừng kính trọng thể hôm nay, là những người đang được hưởng phúc vinh quang ấy. Họ là những người đủ mọi dân nước, đủ mọi thành phần, tuổi tác (Kh 7,9-10), quy phục trước ngai vàng và “Con Chiên”. Họ là những người mà thánh Gioan gọi là : “con Thiên Chúa”.Thật vậy, Đức Giêsu- Kitô, Đấng đã cứu chuộc họ, Đấng đã dẫn đầu trong vương quốc sự thật,và tình yêu. Nhưng vương quốc ấy là vương quốc khổ nạn cho đến chết và phục sinh vinh hiển. Có nghĩa là vương quốc của Đức Kitô là vương quốc tử nạn và phục sinh. Không thể có phục sinh nếu như không có tử nạn, cũng vậy, nếu như không có tử nạn thì không có phục sinh , vì hai mầu nhiệm nầy là một đối với Đấng Cứu Thế, vì tử nạn là điều kiện để được phục sinh. Nhưng đồng thời phục sinh cũng là điều kiện để được tử nạn, vì khi đã sống lại là sống cho Thiên Chúa, nên chi tử nạn là chết cho tội lỗi, và chỉ chết một lần

Thật vậy, Thiên Chúa.đã yêu thương và ban cho thế gian một “Người Con” để ai tin vào “Người Con” đó, thì không phải chết nhưng được sống đời đời.( Ga 3, 16).

Quả thật, đây là trọng tâm của vấn đề. Phàm nhân, ai cũng phải chết, không những chết về mặt thể xác, mà còn phải chết về mặt tâm linh nữa, đó là án phạt tội nguyên tổ, nếu như Thiên Chúa không yêu thương và xóa giải bởi “ Một Con Người”, nhưng Người Con ấy chính là một Ngôi Vị của Thiên Chúa, đã mang lấy án phạt của nhân loại là sự chết, Người đã làm Người, trong kiếp phàm nhân, và đã chết cho phàm nhân, nghĩa là Người đã mang lấy cuộc tử nạn của phàm nhân. Và nhờ đó án phạt phải chết được gỡ bỏ, vì Người không chết bởi tội mà Người chết vì tình yêu, vì thế, Người đã phục sinh.

Phục sinh là mầu nhiệm của sự sống. Vì Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống, Vì vậy, người đã thiết lập một vương quốc vĩnh cửu cho những ai Tin vào người, gọi là ơn cứu độ.

Ơn cứu độ hay một dòng dõi mới, tinh tuyền không tỳ ố, đó là tiêu chuẩn dành cho những phàm nhân trung tin với Thiên Chúa. Như vậy, tâm linh của những phàm nhân nầy đang sống cùng Thiên Chúa, nhưng về mặt thân xác, họ cũng đang đợi chờ một sự phục sinh trọn vẹn.

Như vậy, Giáo Hội tại thế mới là những con người còn đang sống cả thể xác lẫn tâm linh, giai đoạn nầy đối với giáo hội lữ hành là một ân huệ vô cùng lớn lao của Thiên Chúa. Họ đang sống giữa hiện tại và quá khứ cùng hướng về tương lai.

Như vậy theo giáo lý của Hội Thánh Công Giáo, thì Giáo Hội có ba thành phần, thành phần giáo hội lữ hành (tại thế), khải hoàn (chiến thắng), thanh luyện (khổ đau).

Do vậy, tháng cuối của năm phụng vụ, giáo hội dành ra để tưởng nhớ những linh hồn đang chịu thanh luyện, họ cũng đủ mọi thành phần như giáo hội lữ hành và giáo hội khải hoàn. Vì giáo hội nói chung chỉ có hai thành phần là giáo sĩ và giáo dân.Nhưng ngày đầu tháng 11 là ngày để mừng kính tất cả những linh hồn đang hiện diện trong vinh quang cuả Thiên Chúa.( dù thân xác chờ ngày khải hoàn).Tức toàn thể các Thánh dù được tuyên hay chưa.

Hội Thánh Công Giáo, là một giáo hội hiệp thông, vì vậy, mọi thành phần dù ở hoàn cảnh nào cũng được xem là duy nhất. Giáo Hội lữ hành là thành phần chủ chốt, vì là thành phần ở giữa, thành phần còn cả hồn và xác, là thành phần có cơ hội lập công, một mặt luôn hướng về Trời, dưới Thiên Chúa là các Thánh, vì vậy cùng với việc phụng thờ Thiên Chúa, phụng vụ của giáo hội cũng hướng tới các Thánh. Vì đây là thành phần ưu tuyển của giáo hội, giáo hội lữ hành luôn hướng tới các ngài vì các ngài là gương sáng,dẫn dắt cho giáo hội trần thế, vì xưa kia các ngài là những thành phần như chúng ta.

Mọi Kitô hữu nói chung được Thánh hóa nhờ ân sũng của Thiên Chúa, họ được nên thánh cách chung nhờ vào Bí Tích Thánh Tẩy, họ được gia nhập và thông phần vào Thiên Tính của Đức Giêsu- Kitô Con Thiên Chúa làm Người. Trở nên một Hội Thánh hữu hình, ở trần gian để làm chứng cho Tin Mừng của Đức Kitô, nhưng bằng nhiều cách họ đã chiến đấu anh dũng ,hay bại trận là do bởi chính họ, trong quá trình còn hiện hữu trong thân xác, họ có cơ hội để làm chứng cho Tin Mừng.

Vì vậy có vô số các Thánh, là những người đã bước vào đau khổ thân xác, để chịu sự thanh luyện cho linh hồn, và trong thời gian thanh luyện các ngài như vàng trong lửa. Và lửa tình yêu, lửa huyền siêu đã đốt cháy những con tim trần gian của họ để trở nên những con tim Nước Trời rạng ngời ân sũng. Và như thế, là vô số những con người bị thiêu đốt bởi “lửa ấy”, Như trên bàn thờ giáo hội không thể tuyên phong đầy đủ. Vì vậy, hôm nay là ngày tuyên phong chung cho tất cả thành phần giáo hội khải hoàn.

Bên cạnh đó, Hội Thánh không quên những thành phần đang chịu thanh luyện mà cầu nguyện cho họ, vì lửa thanh luyện cũng chính là lửa tình yêu.

Tóm lại ba thành phần của Giáo Hội Công giáo là một, chỉ có mọt con đường duy nhất muốn được vào vương quốc vĩnh cửu của Đức Kitô thì phải bước vào con đường đau khổ cùng với cuộc tử nạn của Người rồi mới được vào vinh quang phục sinh, nếu ai chưa được tử nạn với Đức Kitô, thì họ chưa được vào dự tiệc trong vinh quang của Người.

Tuy ba thành phần, nhưng một nhiệm thể duy nhất, đó là Đức Kitô chịu tử nạn và phục sinh. Vì vậy trần gian là nơi thanh luyện tích cực, khác với nơi thanh luyện bị động đó là nơi thành phần khổ đau đang chịu. Vì vậy, có nhiều định nghĩa về các thánh, nhưng có một định nghĩa dễ hiểu hơn là : Thánh là những người đã chịu thanh luyện ở trần gian. Sự thanh luyện nầy đã được nhìn nhận bởi những công thức của Tin Mừng.

Tiêu biểu là tám mối phúc thật hay còn gọi là Hiến Chương Nước Trời.

– Sự nghèo khó được chúc phúc
– Sự hiền lành được chúc phúc
– Sự khóc lóc, sầu muộn được chúc phúc
– Sự khao khát được chúc phúc
– Sự xót thương được chúc phúc
– Sự trong sạch được chúc phúc
– Sự hòa bình được chúc phúc
– Sự chịu bách hại được chúc phúc.

Tại sao những điều bất hạnh lại được kể là phúc, bởi vì những sự ấy được Thiên Chúa đền bù, sự gì phàm nhân cho là bất hạnh, thì trở nên sự thanh luyện trước Thánh Nhan Thiên Chúa và Thiên Chúa chúc phúc cho những điều ấy.Sự đền bù xứng đáng cũng là sự công bằng của luật tự nhiên cũng như siêu nhiên.

Như vậy, ai thực thi được một trong tám mối phúc, mà can trường chiến đấu, thì họ được thanh luyện và tất nhiên họ được vào nơi được chúc phúc, để hợp cùng Thần Thánh trên Thiên Quốc ngợi ca Thiên Chúa. Vương quốc chịu đau khổ là gồm tóm những mối phúc, chính Chúa Giêsu đã nêu ra và là những ngọn lửa thanh luyện nên những con người được gọi là Thánh, vì họ được nên Thánh nhờ sự gian luyện thánh thiện.

Thiên Chúa là Đấng công minh, không thiên tư tây vị ai, ai yêu mến Thiên Chúa và thực thi Lời dạy của Ngài thì được vào chốn vinh quang, chứ không phải những kẻ kêu : “Lạy Chúa ,lạy Chúa mà được vào Nước Trời… ” ( Mt 7,21).

P. Trần Đình Phan Tiến (Đạo Binh Đức Mẹ)

Hai chiều kích cá nhân và cộng đoàn của đức tin

Hai chiều kích cá nhân và cộng đoàn của đức tin

Đức Tin có tính cách cá nhân vì là một hành động riêng tư trong tận cùng thẳm con người, nhưng cũng có chiều kích cộng đoàn vì là hành động của Giáo Hội, nơi phát xuất, thông truyền và vun trồng đức tin.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên với tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 31 tháng 10-2012.

Tuy trời Roma mưa rả rích, cũng đã có có khoảng 30.000 tín hữu hiện diện tại quảng trường. Họ đến từ các nước Âu châu và Bắc Mỹ cũng như từ các nước xa xôi như Malaysia, Brasil, Argentina, Mêhicô, Sao Tome và Principe..

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã giải thích hai chiều kích cá nhân và cộng đoàn của đức tin. Ngài nói:

Hành động đức tin là một hành động tuyệt đối cá nhân, xảy ra trong nơi sâu thẳm nhất và ghi dấu một sự đổi hướng, một sự hoán cải cá nhân: chính cuộc sống của tôi nhận được sự thay đổi. Nhưng hành động tin của tôi không phải là kết qủa suy tư cô độc của tôi, nó không phải là sản phẩm tư tưởng của tôi, nhưng là hoa trái của một tương quan, của một cuộc đối thoại, trong đó có việc lắng nghe, tiếp nhận và trả lời. Đó là việc thông truyền với Đức Giêsu, là Đấng làm cho tôi ra khỏi cái ”tôi” đóng kín trong mình để rộng mở cho tình yêu của Thiên Chúa Cha. Nó giống như một sự tái sinh trong đó tôi khám phá ra mình không chỉ kết hiệp với Chúa Giêsu, mà với tất cả những người đã và đang đi trên cùng con đường ấy. Và sự tái sinh bắt đầu với bí tích Rửa Tội tiếp tục trong suốt cuộc đời. Trong phụng vụ Rửa Tội vị cử hành đưa ra ba câu hỏi tín hữu ở số nhiều có tin vào Thiên Chúa Cha, toàn năng, vào Đức Giêsu Kitô con duy nhất của Người và vào Chúa Thánh Thần không. Và cả ngày nay nữa câu trả lời ở số ít là ”Tôi tin”. Tôi không thể xây dựng đức tin cá nhân của tôi trong một cuộc đối thoại với Đức Giêsu, bởi vì đức tin được Thiên Chúa ban cho tôi qua một cộng đoàn tin là Giáo Hội, và tôi được tháp nhập vào đám đông tín hữu, trong một sự hiệp thông không chỉ có tính cách xã hội học, mà đâm rễ sâu trong tình yêu vĩnh cửu của Thiên Chúa, và trong Chính Người là sự hiệp thông của Chúa Cha, Con và Thánh Thần là Tình Yêu ba ngôi.

Tiếp tục hài huấn dụ Đức Thánh Cha nói: Trong thánh lễ Chúa Nhật, khi đọc kinh ”Tôi tin kính” chúng ta diễn tả trong ngôi thứ nhất, nhưng tuyên xưng chung đức tin duy nhất của Giáo Hội. Cái ”tôi tin” ấy hiệp nhất với cái tôi tin của một ca đoàn mênh mông trong thời gian và trong không gian, trong đó từng người cộng tác vào một bản hòa âm nhiều bè của đức tin.

Sách Giáo Lý Công Giáo nói rõ: ”Tin” là một cử chỉ giáo hội. Đức tin của Giáo Hội đi trước, sinh ra, nâng đỡ và dưỡng nuôi đức tin của chúng ta. Giáo Hội là Mẹ của tất cả mọi tín hữu. ”Không ai có thể nói có Thiên Chúa là Cha, nếu không có Giáo Hội là Mẹ” (Thánh Cipriano) (s. 181). Đức tin nảy sinh từ Giáo Hội, dẫn tới Giáo Hội và sống trong Giáo Hội. Đây là điều quan trọng cần phải nhớ.

Vào lúc khởi đầu khi Chúa Thánh Thiện hiện xuống trên các môn đệ với quyền năng, như kể trong sách Công Vụ các Tông Đồ (Cv 2,1-13), Giáo Hội khai sinh nhận đựơc sức mạnh để thực thi sứ mệnh Chúa phục sinh trao phó: đó là phổ biến khắp nơi trên trái đất Tin Mừng Nước Thiên Chúa, và như thế dẫn đưa mọi người tới gặp gỡ Chúa, tới đức tin cứu độ. Các Tông Đồ vượt thắng mọi sợ hãi trong việc rao giảng những gì các vị đã nghe, đã thấy, đã kinh nghiệm với Chúa Giêsu. Nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần, các vị bắt đầu nói các thứ tiếng mới, công khai loan báo mầu nhiệm mà các vị đã là chứng nhân. Sách Công Vụ kể lại diễn văn thánh Phêrô nói trong chính ngày Lễ Ngũ Tuần, trong đó thánh nhân công bố nòng cốt đức tin kitô: Đấng đã làm ơn cho tất cả mọi người, đã được Thiên Chúa chứng thực bởi các điềm thiêng dấu lạ lớn lao, đã bị đóng đanh trên thập giá và giết chết, nhưng Thiên Chúa đã cho Người sống lại từ cõi chết đặt Người làm Chúa. Với Người chúng tôi đã được bước vào ơn cứu độ vĩnh viễn do các ngôn sứ loan báo, và ai kêu cầu danh Người thì sẽ được cứu rỗi (x. Cv 2,17-24).

Khi nghe các lời của thánh Phêrô nhiều người cảm thấy được mời gọi, sám hối tội lỗi mình, được rửa tội và nhận lấy Thánh Thần (x. Cv 2,37-41). Con đường của Giáo Hội khởi đầu như thế, và Giáo Hội là cộng đoàn loan báo điều đó trong thời gian, là Dân của Thiên Chúa, được xây dựng trên giao ước mới nhờ máu Chúa Kitô. Và các thành phần của Giáo Hội không tùy thuộc một nhóm xã hội hay chủng tộc đặc biệt nào, mà là những người nam nữ đến từ mọi quốc gia và nền văn hóa.

Đó là một dân ”công giáo”, nói các thứ tiếng mới, rộng mở một cách đại đồng và tiếp nhận tất cả mọi người, vượt ngoài mọi biên giới, đạp đổ mọi ngăn cách. ”Ở đây không còn Hy lạp hay Do thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Chúa Kitô là tất cả trong mọi người” (Cl 3,11). Đức Thánh Cha giải thích thêm điểm này như sau:

Như thế, ngay từ đầu Giáo Hội là nơi của đức tin, nơi của việc thông truyền đức tin, nơi trong đó, qua bí tích Rửa Tội ta được dìm mình vào trong Mầu Nhiệm Vượt Qua của cái Chết và sự Phục Sinh của Chúa Kitô, Đấng giải thoát chúng ta khỏi tù ngục của tội lỗi, trao ban cho chúng ta sự tự do là con cái, và dẫn đưa chúng ta vào trong sự hiệp thông của Thiên Chúa Ba Ngôi, vào trong Sự Sống của Người là Tình Yêu. Đồng thời chúng ta được chìm ngập trong sự hiệp thông với các anh chị em khác, với toàn Thân Mình Chúa Kitô, và được kéo ra khỏi sự cô lập của chúng ta. Công Đồng Chung Vaticăng II nhắc cho chúng ta biết điều này khi viết: ”Thiên Chúa muốn cứu rỗi và thánh hóa con người, không phải một cách cá nhân và không có liên hệ gì giữa họ, nhưng muốn thành lập giữa họ một dân, nhận biết Người trong sự thật và trung thành phục vụ Người” (LG, 9).

Trong lễ nghi Rửa Tội, sau khi từ bỏ sự dữ chúng ta lập lại lời ”Tôi tin” vào các sự thật nòng cốt của đức tin, và vị chủ sự tuyên bố: ”Đây là đức tin của chúng ta, đây là đức tin của Giáo Hôi và chúng ta vinh hạnh tuyên xưng đức tin đó nơi Chúa Kitô Giêsu, Chúa chúng ta”.

Đức tin là nhân đức đối thần, được Thiên Chúa ban cho, nhưng được Giáo Hội thông truyền dọc dài lịch sử… Có một dây xích cuộc sống không gián đoạn của Giáo Hội, của việc loan báo Lời Chúa, của việc cử hành các Bí Tích, tới với chúng ta, gọi là Truyền Thống. Nó trao ban cho chúng ta sự chắc chắn rằng những gì chúng ta tin là sứ điệp bắt nguồn từ Chúa Kitô, đã được các Tông Đồ giảng dậy. Nhân tố nòng cốt của lời loan báo nguyên thủy là biến cố cái Chết và sự Phục sinh của Chúa, từ đó nảy sinh ra toàn gia tài đức tin, được Giáo Hội truyền lại tinh tuyền, từ thế hệ này sang thế hệ kia… Thánh Kinh chứa đựng Lời Chúa, Truyền Thống Giáo Hội giữ gìn và thông truyền Lời ấy một cách trung thành, để cho con người thuộc mọi thời đại có thể đạt đến các tài nguyên vô tận của nó, và được phong phú nhờ các kho tàng ơn thánh của nó.

Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: Trong cộng đoàn giáo hội đức tin lớn lên và trưởng thành. Tân Ước dùng từ ”các thánh” để ám chỉ các kitô hữu. Điều này có nghĩa là những người đã lãnh nhận và sống đức tin nơi Chúa Kitô được mời gọi trở thành một điểm tham chiếu cho tất cả những người khác, bằng cách đặt để họ trong sự tiếp cận với Con Người và Sứ Điệp của Chúa Giêsu, Đấng mạc khải gương mặt của Thiên Chúa hằng sống. Điều này cũng có giá trị đối với chúng ta: khi một kitô hữu để cho đức tin của Giáo Hôi hướng dẫn và uốn nắn, thì dù có các yếu đuối, các hạn hẹp và khó khăn, họ trở thành như một cánh cửa mở ra cho ánh sáng của Thiên Chúa hằng sống, tiếp nhận ánh sáng đó và thông truyền cho thế giới. Trong Thông điệp ”Sứ mệnh Đấng Cứu Thế” Đức Chân phước Gioan Phaolô II khẳng định rằng: ”Việc truyền giáo canh tân Giáo Hội, làm cho đức tin và căn tính kitô được mạnh mẽ, trao ban niềm hăng say và các lý do mới. Đức tin được vững mạnh khi được cho đi” (s. 2).

Việc truyền giáo mới, được thảo luận trong Thượngơ Hội Đồng Giám Mục vừa qua, dựa trên sự tín thác nơi sáng kiến của Thiên Chúa, trên xắc tín rằng Người vô cùng nhân lành và quan phòng, Người đồng hành, hướng dẫn và nâng đỡ từng người trong chúng ta và toàn cộng đoàn giáo hội trên con đường của mình, Người không bao giờ bỏ rơi dân Người, trái lại như Mục Tử Nhân Lành Người dẫn đưa nó tới quê hương thiên quốc với hoạt động quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nhưng mỗi kitô hữu phải dấn thân để là người thông truyền đức tin, không phải bằng việc nói và hành động nhân danh mình, nhưng nhờ sức mạnh của đức tin duy nhất của gia đình Thiên Chúa là Giáo hội. Chính trong nghĩa đó thánh Phaolô khuyên tín hữu Ephêxô luôn luôn duy trì sự hiệp nhất. Mọi chia rẽ trong việc tuyên xưng đức tin là một cú đánh gây thương tích cho chính Thân Mình của Chúa Kitô là Giáo Hội Người. Khuynh hướng phổ biến ngày nay liệt đức tin vào lãnh vực riêng tư đi ngược lại bản chất của đức tin. Chúng ta cần Giáo Hội để xác nhận đức tin của chúng ta và để sống kinh nghiệm các ơn của Chúa: Lời Người, các Bí Tích, sự nâng đỡ của ơn thánh và chứng tá tình yêu… Trong một thế giới trong đó chủ nghĩa cá nhân xem ra điều khiển các tương quan giữa con người với nhau, bằng cách khiến cho chúng ngày càng giòn mỏng hơn, đức tin mời gọi chúng ta là Giáo Hôi, là những người đem tình yêu và sự hiệp thông của Thiên Chúa đến cho toàn nhân loại.

Đức Thánh Cha đã chào tín hữu bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Chào các bạn trẻ, người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới, ngài nhắc cho mọi người biết rằng mùng một tháng 11 là lễ Các Thánh, ngày lễ mời gọi tất cả mọi người nên thánh. Đức Thánh Cha cầu chúc các bạn trẻ thực hiện các khát vọng của họ trong Các Mối Phúc Thật của Tin Mừng. Ngài khích lệ các người đau yếu vác thánh gia với Chúa Kitô để nên thánh, và nhắn nhủ các cặp vợ chồng mới cưới biết dành chỗ cho lời cầu nguyện để cuộc sống gia đình của họ trở thành con đường nên thánh.

Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất kinh Lạy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải – Vietvatican
 



Nguyên văn Sứ điệp Thượng HĐGM thế giới thứ 13 gửi Cộng đoàn Dân Chúa

Nguyên văn Sứ điệp Thượng HĐGM thế giới thứ 13 gửi Cộng đoàn Dân Chúa

Anh chị em,
”Nguyện chúc anh chị em ân sủng và bình an của Thiên Chúa, là Cha chúng ta, và của Chúa Giêsu Kitô” (Rm 1,7). Là những GM từ toàn thế giới, nhóm họp theo lời mời của GM Roma là Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16, để suy tư về ”việc tái truyền giảng Tin Mừng để thông truyền đức tin”, trước khi trở về các Giáo Hội địa phương, chúng tôi muốn ngỏ lời với tất cả anh chị em, để nâng đỡ và hướng dẫn việc phục vụ Tin Mừng trong các bối cảnh khác nhau, nơi mà chúng ta đang sống để làm chứng tá.

1. Như người phụ nữ xứ Samaria nơi giếng nước

Chúng ta hãy để cho mình được một trang Phúc Âm soi sáng: đó là cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với người phụ nữ xứ Samaria (Xc Ga 4,5-42). Không có người nào, trong cuộc sống, mà không ở cạnh một giếng nước với chiếc vò rỗng, như người phụ nữ xứ Samaria ấy, với hy vọng được thỏa mãn ước muốn sâu xa nhất trong tâm hồn, chỉ có ước muốn ấy mới có thể mang lại ý nghĩa trọn vẹn cho cuộc sống. Ngày nay có nhiều giếng nước trước cơn khát của con người, nhưng cần phân định để tránh các thứ nước ô nhiễm. Cần định hướng rõ ràng việc tìm kiếm, để không rơi vào tình trạng thất vọng, có thể gây tai hại.
Như Chúa Giêsu bên giếng nước Sicar, Giáo Hội cũng cảm thấy phải ngồi cạnh những người nam nữ thời nay, để làm cho Chúa hiện diện trong cuộc sống của họ, nhờ đó họ có thể gặp Chúa, vì chỉ mình Ngài mới là nước ban sự sống vĩnh cửu đích thực. Chỉ có Chúa Giêsu có khả năng đọc nơi thẳm sâu tâm hồn chúng ta và mạc khải cho chúng ta sự thật về chúng ta. Người phụ nữ xứ Samaria đã thú nhận với những người đồng hương rằng: ”Người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm”. Và lời loan báo này – có kèm theo câu hỏi dẫn vào đức tin: ”Phải chăng ông ấy là Đức Kitô?” – chứng tỏ ai đã nhận được sự sống mới từ cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu, thì đến lượt mình, họ không thể không trở thành người loan báo sự thật và hy vọng cho tha nhân. Người phụ nữ tội lỗi hoán cải trở thành sứ giả của ơn cứu độ và dẫn cả dân thành về với Chúa Giêsu. Từ sự đón nhận chứng từ, dân chúng sẽ tiến đến kinh nghiệm bản thân về cuộc gặp gỡ: ”Không phải vì những lời của bà mà chúng tôi tin, nhưng vì chính chúng tôi đã được nghe và biết rằng ông này thực là Đấng Cứu Thế”.

2. Tái truyền giảng Tin Mừng

Dẫn đưa những người nam nữ ngày nay đến cùng Chúa Giêsu, gặp gỡ Ngài, đó là một điều cấp thiết liên hệ tới tất cả mọi miền trên thế giới. Thực vậy, khắp nơi đều cảm thấy nhu cầu hồi sinh đức tin, vì đức tin đang có nguy cơ bị lu mờ trong những bối cảnh văn hóa cản trở không cho đức tin trở nên sâu xa hơn nơi bản thân, cản trở sự hiện diện của đức tin trong xã hội, nội dung minh bạch và những thành quả đi kèm của đức tin.
Đây không phải là bắt đầu lại từ đầu, nhưng – với tâm hồn tông đồ của thánh Phaolô, Ngài đã từng nói: ”Khốn cho tôi nếu tôi không loan báo Tin Mừng!” (1 Cr 9,16) – vấn đề ở đây là tháp nhập vào hành trình dài công bố Tin Mừng – ngay từ những thế kỷ đầu tiên của kỷ nguyên Kitô giáo cho đến nay, qua dòng lịch sử và kiến tạo những cộng đồng tìn hữu ở mọi nơi trên thế giới. Dù lớn hay nhỏ, các cộng đồng ấy đều là thành quả sự tận tụy của các thừa sai và không thiếu những vị tử đạo, thành quả của bao thế hệ chứng nhân của Chúa Giêsu mà chúng ta nhớ đến họ với lòng biết ơn.

Bối cảnh văn hóa và xã hội thay đổi kêu gọi chúng ta phải làm cái gì mới: đó là sống một cách mới mẻ kinh nghiệm cộng đồng của chúng ta về đức tin, và việc loan báo, nhờ công trình rao giảng Tin Mừng ”mới mẻ về lòng nhiệt thành, trong các phương pháp và trong những lối diễn tả” (Gioan Phaolô II, Diễn văn trước Đại hội XIX của Celam, Port-au-Prince, 9-3-1983, n.3), như Đức Gioan Phaolô 2 đã nói; một công trình rao giảng Tin Mừng – như ĐGH Biển Đức 16 đã nhắc nhở, ”chủ yếu hướng tới những người, tuy đã được rửa tội, nhưng đang xa lìa Giáo Hội, và sống không hề tham chiếu luân lý Kitô giáo (…), để giúp họ tái gặp gỡ Chúa, là Đấng duy nhất làm cho cuộc sống chúng ta được ý nghĩa sâu xa và an bình; để giúp tái khám phá đức tin, là nguồn mạch ân sủng mang lại vui mừng và hy vọng trong đời sống bản thân, gia đình và xã hội” (Biển Đức XVI, bài giảng thánh lễ trọng thể khai mạc Thượng HĐGM XIII, Roma 7-10-2012).

3. Gặp gỡ bản thân với Chúa Giêsu Kitô trong Giáo Hội

Trước khi đề cập đến những hình thức của công trình tái truyền giảng Tin Mừng ấy, chúng tôi thấy cần nói với anh chị em, trong niềm xác tín sâu xa rằng đức tin xác định mọi sự trong tương quan mà chúng ta thiết lập với Chúa Giêsu, Đấng đến gặp chúng ta trước. Công trình tái truyền giảng Tin Mừng hệ tại tái đề nghị với tâm trí, nhiều khi bị xao lãng và hoang mang, của con người ngày nay, nhất là với chính chúng ta, vẻ đẹp và sự mới mẻ ngàn đời của cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô. Chúng tôi mời tất cả anh chị em hãy chiêm ngắm tôn nhan Chúa Giêsu Kitô, hãy đi vào mầu nhiệm cuộc sống của Ngài, Đấng đã hiến thân vì chúng ta cho đến tận thập giá, cuộc sống của Ngài được Chúa Cha tái khẳng định như một hồng ân trong cuộc phục sinh từ cõi chết, và được thông ban cho chúng ta nhờ Thánh Linh. Nơi Chúa Giêsu, mầu nhiệm tình thương của Thiên Chúa Cha đối với toàn thể gia đình nhân loại được tỏ lộ. Ngài không muốn để cho chúng ta ở trong quyền tự quyết giả tạo. Đúng hơn Ngài hòa giải chúng ta với Ngài trong một giao ước tình thương được đổi mới.
Giáo Hội là không gian mà Chúa Kitô trao tặng trong lịch sử nơi chúng ta có thể gặp gỡ Ngài, vì Ngài đã ủy thác cho Giáo Hội Lời Ngài, bí tích rửa tội làm cho chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa, Mình và Máu Ngài, ơn tha thứ tội lỗi, nhất là trong bí tích hòa giải, kinh nghiệm về tình hiệp thông
phản ánh chính mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, và sức mạnh của Thánh Linh tạo nên tình bác ái đối với tất cả mọi người.
Chúng ta cần thành lập những cộng đoàn hiếu khách, trong đó tất cả những người ở ngoài lề tìm được nhà của họ, được những kinh nghiệm hiệp thông cụ thể, với sức mạnh nồng nhiệt của tình yêu – ”Hãy xem họ yêu thương nhau dường nào!” (Tertuliano, Hộ giáo, 39,7) -, tình yêu thu hút được cái nhìn ngưỡng mộ của con người thời nay. Vẻ đẹp của đức tin phải rạng ngời, đặc biệt trong các hoạt động phụng vụ thánh, nhất là trong thánh lễ Chúa nhật. Thực vậy chính trong các buổi cử hành phụng vụ, Giáo Hội biểu lộ khuôn mặt hoạt động của Thiên Chúa và làm cho ý nghĩa của Tin Mừng trở nên hữu hình, trong lời nói và cử chỉ.
Chính chúng ta là người có nghĩa vụ làm cho kinh nghiệm về Giáo Hội trở nên cụ thể, khả dĩ cảm nghiệm được, chúng ta có nghĩa vụ gia tăng các giếng nước để mời gọi con người ngày nay đang khát, đến gặp gỡ Chúa Giêsu; chúng ta phải cung cấp những ốc đảo trong các sa mạc của cuộc sống. Các cộng đoàn Kitô có nhiệm vụ như thế, và trong đó, mỗi môn đệ của Chúa đều được ủy thác việc làm chứng tá không thể thay thế được, để Tin Mừng có thể gặp gỡ cuộc sống của mọi người; để được vậy chúng ta phải có đời sống thánh thiện.

4. Những dịp gặp Chúa Giêsu và lắng nghe Kinh Thánh

Có người sẽ hỏi làm sao thi hành được tất cả điều đó. Đây không phải là phát minh những chiếm thuật mới, như thể Tin Mừng là một sản phẩm cần tung ra trên thị trường các tôn giáo, nhưng là tái khám phá những cách thức nhờ đó, qua biến cố của Chúa Giêsu, con người đến gần Ngài và được Ngài kêu gọi, để thực hành những thể thức ấy trong hoàn cảnh thời nay.
Ví dụ chúng ta hãy nhớ đến sự tích thánh Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan được Chúa Giêsu gọi hỏi khi họ làm việc, hoặc như ông Giakêu đã có thể tiến từ tình trạng tò mò đến sự chia sẻ nồng nhiệt bữa ăn với Thầy, như viên Quan Bách Quân La Mã đã xin sự can thiệp của Chúa khi một người thân của ông bị yếu đau, như người mù bẩm sinh đã kêu cầu Chúa như vị giải thoát ông khỏi tình trạng bị gạt ra ngoài lề, như bà Marta và Maria đã thấy lòng hiếu khách trong gia cư và trong tâm hồn của họ được tưởng thưởng nhờ sự hiện diện của Chúa. Chúng ta có thể tiếp tục giở lại những trang sách Tin Mừng cũngnhư những kinh nghiệm truyền giáo của các tông đồ trong Giáo Hội sơ khai, chúng ta có thể khám phá những phương thế khác nhau và những hoàn cảnh trong đó cuộc sống con người được cởi mở đối với sự hiện diện của Chúa Kitô.
Việc siêng năng đọc Kinh Thánh, – được soi sáng nhờ Truyền Thống của Giáo Hội là người trao cho chúng ta Kinh Thánh và là người giải thích chính thức, – không những là một hành trình cần thiết để biết nội dung Tin Mừng, nghĩa là biết con người của Chúa Giêsu trong bối cảnh lịch sử cứu độ, nhưng còn giúp khám phá những không gian gặp gỡ với Chúa, tìm ra thể thức thực sự phù hợp với Tin Mừng, được ăn rễ trong những chiều kích cơ bản của đời sống con người như: gia đình, công ăn việc làm, tình bạn, cảnh nghèo và những thử thách trong cuộc sống, v.v..

5. Rao giảng Tin Mừng cho chính chúng ta và sẵn sàng hoán cải

Nhưng chúng ta không bao giờ được nghĩ rằng việc tái truyền giảng Tin Mừng không liên can trước tiên với chính chúng ta. Trong những ngày này, nơi các GM chúng tôi, nhiều lần có những tiếng nói được gióng lên nhắc nhở rằng để có thể rao giảng Tin Mừng cho thế giới, thì trước tiên Giáo Hội cần đặt mình trong tư thế lắng nghe Lời Chúa. Lời mời gọi rao giảng Tin Mừng được diễn tả qua lời kêu gọi hoán cải.

Chúng ta hãy tin chắc rằng chúng ta phải là những người trước hết cần phải hoán cải, cần phải trở về với quyền năng của Chúa Kitô, là Đấng duy nhất có thể đổi mới mọi sự, nhất là đổi mới cuộc sống nghèo nàn của chúng ta. Với lòng khiêm tốn chúng ta phải nhìn nhận rằng sự nghèo nàn và yếu đuối của các môn đệ Chúa Giêsu, đặc biệt là nơi các thừa tác viên của Ngài, đè nặng trên uy tín của việc truyền giáo. Chắc chắn các GM chúng tôi là những người đầu tiên ý thức rằng chúng ta không bao giờ có thể xứng đáng với ơn gọi và mệnh lệnh của Chúa để loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Chúng ta phải biết khiêm tốn nhìn nhận sự dễ tổn thương của chúng ta đối với những vết thương của lịch sử và không do dự nhìn nhận những tội lỗi cá nhân của chúng ta. Nhưng chúng ta cũng xác tín rằng sức mạnh của Thánh Thần Chúa có thể canh tân Giáo Hội của Ngài và làm cho chiếc áo của Giáo Hội được rạng người, nếu chúng ta để cho Chúa uốn nắn. Cuộc sống của bao nhiêu vị thánh chứng tỏ điều đó, việc tưởng niệm và kể lại cuộc sống của các vị là một phương thế ưu tiên trong công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng.
Giả sử sự đổi mới ấy được phó thác cho sức riêng của chúng ta, thì chúng ta có lý do nghiêm trọng để nghi ngờ, nhưng sự hoán cải, cũng như việc rao giảng Tin Mừng trong Giáo Hội chủ yếu không đến từ con người yếu đuối như chúng ta, nhưng đúng hơn từ chính Thánh Linh của Chúa. Sức mạnh và sự chắc chắn của chúng ta hệ tại điều này là sự ác không bao giờ có tiếng nói cuối cùng, trong Giáo Hội cũng như trong lịch sử: ”Tâm hồn các con đừng sao xuyến và đừng sợ hãi” Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Ngài như thế (Ga 14,27).

Công trình tái truyền giảng Tin Mừng dựa trên niềm xác tín thanh thản ấy. Chúng ta tín thác nơi sự soi sáng và nơi sức mạnh của Thánh Linh, Đấng sẽ dạy chúng ta những gì chúng ta phải nói và điều chúng ta phải làm, cả trong những lúc khó khăn nhất. Vì thế, nghĩa vụ của chúng ta phải khắc phục sợ hãi bằng đức tin, chiến thắng sự hèn nhát bằng niềm hy vọng, và sự dửng dưng lãnh đạm bằng tình yêu.

6. Nắm bắt những cơ hội mới để truyền giảng Tin Mừng trong thế giới ngày nay.

Lòng can đảm thanh thản ấy cũng ảnh hưởng đến cái nhìn của chúng ta về thế giới ngày nay. Chúng ta không cảm thấy nhát sợ vì những hoàn cảnh chúng ta đang sống. Thế giới chúng ta đầy những mâu thuẫn và thách đố, nhưng vẫn là công trình tạo dựng của Thiên Chúa. Thế giới này tuy bị tổn thương vì sự ác, nhưng vẫn luôn được Thiên Chúa yêu thương. Thế giới này là một cánh đồng trong đó có thể canh tân việc gieo vãi Lời Chúa để tái mang lại hoa trái.

Không có chỗ đứng cho sự bi quan trong tâm trí những người biết rằng Chúa đã chiến thắng sự chết và Thánh Linh của Chúa hoạt động mạnh mẽ trong lịch sử. Với lòng khiêm tốn và quyết tâm, một thái độ đến từ xác tín sự thật sau cùng sẽ chiến thắng, chúng ta đến với thế giới này và muốn thấy trong đó một lời mời gọi của Thiên Chúa trở thành chứng nhân về Danh Thánh của Ngài. Giáo Hội chúng ta sinh động và, với niềm can đảm của đức tin và chứng tá của bao nhiêu con cái mình, Giáo Hội đương đầu với những thách đố do lịch sử đề ra.

Chúng ta biết rằng trong trần thế, chúng ta phải chiến đấu cam go chống lại các ”Vương thần và quyền thần”, ”những ác thần” (Ep 6,12). Chúng ta không tránh né những vấn đề mà các thách đố ấy đề ra, nhưng chúng không làm cho chúng ta khiếp sợ. Điều này được áp dụng trước tiên cho những hiện tượng hoàn cầu hóa, chúng phải là những cơ may để chúng ta để mở rộng sự hiện diện của Tin Mừng. Cũng vậy đối với những cuộc di dân: mặc dù có những gánh nặng đau khổ trong biến cố này, và qua đó, chúng ta chân thành đón tiếp những người di dân như những anh chị em, các cuộc di dân ấy cũng là những cơ hội để mở rộng đức tin và kiến tạo tình hiệp thông trong các hình thái khác nhau, như đã xảy ra trong quá khứ. Sự tục hóa, – và cả cuộc khủng hoảng do sự bá quyền của chính trị và Nhà Nước gây ra,- cũng đòi Giáo Hội phải suy nghĩ lại sự hiện diện của mình trong xã hội, nhưng không từ bỏ sự hiện diện ấy. Nhiều hình thức mới của nạn nghèo đói đang mở ra những môi trường chưa từng đó cho việc phục vụ bác ái: việc loan báo Tin Mừng đòi Giáo Hội phải ở với người nghèo và đón nhận những đau khổ của họ như Chúa Giêsu. Cả trong những hình thức khắc nghiệt nhất của thuyết vô thần và bất khả tri, chúng ta cũng có thể nhận ra trong đó, tuy là dưới những hình thức mâu thuẫn, không phải một sự trống rỗng, nhưng như một sự nhung nhớ, một sự mong chờ câu trả lời thích hợp.

Đứng trước những vấn nạn mà nền văn hóa thịnh hành đang đề ra cho đức tin và Giáo Hội, chúng ta canh tân lòng tín thác nơi Chúa, với xác tín chắc chắn rằng trong những bối cảnh đó, Tin Mừng mang ánh sáng và có khả năng chữa lành mọi yếu đuối của con người. Không phải chúng ta là người thi hành việc tái truyền giảng Tin Mừng, nhưng là chính Thiên Chúa, như ĐGH đã nhắc nhở chúng ta: ”Lời đầu tiên, sáng kiến đích thực, hoạt động thực sự đến từ thiên Chúa và chỉ khi nào chúng ta tháp nhập vào sáng kiến ấy của Chúa, chỉ khi nào chúng ta cầu khẩn sáng kiến ấy của Chúa, thì chúng ta mới có thể trở thành những người rao giảng Tin Mừng – với Chúa và trong Chúa” (ĐTC Biển Đức 16, suy niệm trước phiên khoáng đại đầu tiên của Thượng HĐGM thế giới kỳ thứ 13, Roma 8-10-2012)

7. Rao giảng Tin Mừng, gia đình và đời sống thánh hiến

Ngay từ lần rao giảng Tin Mừng đầu tiên, việc thông truyền đức tin từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã tìm được môi trường tự nhiên là gia đình, trong đó phụ nữ có một vai trò rất đặc biệt, nhưng không vì thế mà hình ảnh và trách nhiệm của người cha bị giảm sút. Trong gia đình, các dấu hiệu đức tin, sự thông truyền những chân lý đầu tiên, việc dạy cách cầu nguyện, chứng tá thành quả của tình yêu đã được ghi đậm vào cuộc sống của các thiếu nhi và thiếu niên, trong bối cảnh sự chăm sóc mà mỗi gia đình dành cho việc tăng trưởng của con cái. Tuy có những khác biệt về hoàn cảnh địa lý, văn hóa và xã hội, tất cả các GM tại Thượng HĐGM đều tái khẳng định vai trò thiết yếu của gia đình trong việc thông truyền đức tin. Việc tái truyền giảng Tin Mừng là điều không thể có được nếu không nhìn nhận một trách nhiệm trong việc loan báo Tin Mừng cho các gia đình và nếu không nâng đỡ các gia đình trong trách vụ giáo dục.

Chúng ta không thể làm ngơ sự kiện này là ngày nay gia đình, vốn được hình thành trong hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, làm cho họ trở nên ”một thân thể” (Mt 19,6), cởi mở đối với sự sống, đang gặp những yếu tố khủng hoảng ở khắp nơi, gia đình bị vây bủa bằng những kiểu sống làm cho gia đình bị thiệt thòi, bị các chính sách xã hội lơ là, và mặc dù gia đình là tế bào căn bản của xã hội, nhưng lại không luôn luôn được tôn trọng trong nhịp sống của mình và không được chính cộng đoàn Giáo Hội nâng đỡ trong những công tác của gia đình. Nhưng chính điều đó thúc đẩy chúng tôi nói rằng chúng ta phải đặc biệt chăm sóc gia đình và sứ mạng của Giáo Hội trong xã hội và trong Giáo Hội, phát triển những hành trình tháp tùng trước và sau hôn nhân. Chúng tôi cũng muốn bày tỏ lòng biết ơn đói với bao nhiêu đôi vợ chồng và các gia đình Kitô, qua chứng tá đang tỏ cho thế giới thấy một kinh nghiệm hiệp thông và phục vụ, vốn là mầm mống của một xã hội huynh đệ và an bình hơn.

Chúng tôi cũng nghĩ đễn những hoàn cảnh gia đình và những cuộc sống chung trong đó không phản ánh hình ảnh hiệp nhất và yêu thương trọn đời mà Chúa đã dạy chúng ta. Có những cặp sống chung mà không có mối liên hệ bí tích hôn phối; càng ngày càng có nhiều gia đình bất hợp lệ được xây dựng sau khi các hôn phối trước bị thất bại; những hoàn cảnh đau thương trong đó việc giáo dục con cái về đức tin cũng bị tổn thương. Với tất cả những người ấy chúng tôi muốn nói rằng tình thương của Chúa không bỏ rơi một ai, và cả Giáo Hội cũng yêu thương họ và là nhà tiếp đón tất cả mọi người, họ vẫn là phần tử của Giáo Hội, cho dù họ không thể lãnh nhận bí tích giải tội và Thánh Thể. Các cộng đồng Công Giáo hãy đón tiếp những người sống trong tình cảnh ấy và nâng đỡ hành trình hoán cải và hòa giải của họ.

Đời sống gia đình là nơi đầu tiên trong đó Tin Mừng gặp gỡ cuộc sống thường nhật và chứng tỏ khả năng biến đổi những điều kiện cơ bản của cuộc sống trong chân trời yêu thương. Nhưng điều không kém phần quan trọng đối với chứng tá của Giáo Hội, đó là chứng tỏ cuộc sống trong thời gian này có một sự kết thúc vượt xa hơn lịch sử con người và tiến đến sự hiệp thông vĩnh cửi với Thiên Chúa. Với người phụ nữ xứ Samaria, Chúa Giêsu không chỉ tự giới thiệu Ngài là Đấng ban sự sống, nhưng còn là vị ban ”sự sống vĩnh cửu” (Ga 4,14). Hồng ân của Thiên Chúa mà đức tin làm cho hiện diện, không phải chỉ là một lời hứa hẹn các điều kiện tốt đẹp hơn ở trần thế này, nhưng còn là lời loan báo rằng ý nghĩa tối hậu của cuộc sống chúng ta đi xa hơn trần thế này, trong sự hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa, Đấng đang chờ đợi chúng ta vào cuối thời gian.

Có những chứng nhân đặc biệt trong Giáo Hội và trong thế giới về chân trời đời sau của cuộc sống con người, họ là những người Chúa kêu gọi sống thời thánh hiến, một cuộc sống hoàn toàn dâng hiến cho Chúa trong việc thực thi đức thanh bần, khiết tịnh và vâng phục, họ là dấu chỉ một thế giới mai hậu tương đối hóa mọi thiện hảo đời này. Thượng HĐGM này cám ơn các anh chị em vì lòng trung thành với ơn gọi của Chúa và vì sự đóng góp đã và đang dành cho sứ mạng của Giáo Hội; Thượng HĐGM cũng nhắn nhủ các anh chị em ấy hãy hy vọng trong những hoàn cảnh không dễ dàng đối với họ trong thời đại biến chuyển ngày nay; chúng tôi cũng mời gọi anh chị em trở thành những chứng nhân và là những người cổ võ công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng trong các môi trường khác nhau của cuộc sống mà đoàn sủng của mỗi hội dòng đặt họ vào.

8. Cộng đồng Giáo Hội và nhiều tác nhân truyền giảng Tin Mừng

Công cuộc rao giảng Tin Mừng không phải là nghĩa vụ độc quyền của một cá nhân hay nhóm nào trong Giáo Hội, nhưng là của cộng đồng Giáo Hội, trong đó có đầy đủ các phương thế để gặp gỡ Chúa Giêsu: Lời Chúa, các bí tích, tình hiệp thông huynh đệ, việc phục vụ bác ái, sứ mạng. Trong viễn tượng ấy nổi bật là vai trò của giáo xứ, như sự hiện diện của Giáo Hội tại nơi con người sinh sống, ”như giếng nước của làng” – thành ngữ mà Đức Gioan 23 thích sử dụng, từ giếng nước ấy mọi người có thể giải khát, tìm được sự tươi mát của Tin Mừng. Không thể từ bỏ giáo xứ, tuy rằng những hoàn cảnh đổi thay có thể đòi hỏi giáo xứ phải được phân thành những cộng đoàn Kitô nhỏ, hoặc thiết lập những quan hệ cộng tác trong những bối cảnh mục vụ rộng lớn hơn. Chúng tôi cảm thấy cần phải nhắn nhủ các giáo xứ hãy kèm theo việc chăm sóc mục vụ truyền thống cho Dân Chúa bằng những hình thức truyền giáo mới như công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng đòi hỏi. Các giáo xứ cũng phải được thấm đượm những hình thức khác nhau của lòng đạo đức bình dân.

Trong giáo xứ sứ vụ của LM như người cha và là mục tử của dân Chúa, vẫn có tính chất chủ yếu. Các GM tại Thượng HĐGM này bày tỏ với tất cả các LM lòng biết ơn và sự gần gũi huynh đệ vì công việc không dễ dàng của các vị và mời gọi các Linh Mục hãy cũng cố chặt chẽ hơn mối liên hệ trong hàng linh mục giáo phận, đào sâu đời sống thiêng liêng và thực hiện việc thường huấn để có thể đương đầu với những thay đổi.

Cạnh các linh mục, cũng cần phải nâng đỡ sự hiện diện của các phó tế, cũng như hoạt động mục vụ của các giáo lý viên và bao nhiêu thừa tác viên khác và những người linh hoạt thuộc lãnh vực loan báo và huấn giáo, đời sống phụng vụ, phục vụ bác ái. Những hình thức khác trong việc tham gia và đồng trách nhiệm của giáo dân nam nữ cũng phải được cổ võ. Chúng tôi không bao giờ cám ơn cho đủ lòng tận tụy của họ trong nhiều công tác của các cộng đoàn chúng tôi. Chúng tôi cũng xin tất cả hãy đặt sự hiện diện và phục vụ Giáo Hội của họ trong viễn tượng tái truyền giảng Tin Mừng, chăm lo sao cho mình được huấn luyện về mặt nhân bản và Kitô, đào sâu kiến thức đức tin và sự nhạy cảm đối với các hiện tượng văn hóa thời nay.

Về các giáo dân, cần phải đặc biệt nói đến những hình thức khác nhau của các hội đoàn cũ và mới, cùng với những phong trào Giáo Hội, và các cộng đoàn mới, tất cả đều diễn tả các hồng ân phong phú mà Chúa Thánh Linh ban cho Giáo Hội. Chúng tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với những người sống và dấn thân dưới nhiều hình thức trong Giáo Hội, đồng thời nhắn nhủ họ hãy trung thành với đoàn sủng của mình và hiệp thông với Giáo Hội một cách đầy xác tín, đặc biệt trong bối cảnh các Giáo Hội địa phương.

Làm chứng cho Tin Mừng không phải là đặc ân của một ai. Chúng tôi vui mừng nhìn nhận sự hiện diện của bao nhiêu người nam nữ đang làm chứng cho Tin Mừng bằng cuộc sống giữa lòng thế giới. Chúng tôi cũng nhìn nhận họ nơi nhiều anh chị em tín hữu Kitô, những người tuy chưa được hiệp nhất trọn vẹn, nhưng cũng được ghi dấu bí tích rửa tội và là những người rao giảng Tin Mừng. Trong những ngày này chúng tôi đã có những kinh nghiệm cảm động khi được nghe những tiếng nói của bao vị trách nhiệm thế giá của các Giáo Hội và Cộng đoàn Giáo Hội Kitô về lòng khao khát của họ đối với Chúa Kitô và sự tận tụy của họ trong việc loan báo Tin Mừng. Họ cũng xác tín rằng thế giới đang cần một công trình tái truyền giảng Tin Mừng. Chúng tôi cảm tạ Chúa vì sự hiệp nhất này trong sự cần thiết của sứ vụ truyền giáo.

9. Đ người trẻ có thể gặp Chúa Kitô

Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến người trẻ, vì họ là thành phần quan trọng trong hiện tại cũng như trong tương lai của nhân loại và Giáo Hội. Các GM không hề bi quan về người trẻ. Tuy có lo âu về họ, nhưng chúng tôi không bi quan. Lo âu vì bao nhiêu cuộc tấn công mạnh mẽ của thời đại ngày nay đang chĩa vào người trẻ; nhưng chúng tôi không bi quan, nhất là vì tình yêu của Chúa Kitô là điều làm lịch sử chuyển động sâu xa, nhưng cũng vì chúng tôi nhận thấy nơi những người trẻ của chúng ta những khát vọng sâu xa về sự chân chính, về sự thật, tự do, lòng quảng đại, và chúng tôi xác tín rằng Chúa Kitô là câu trả lời thích hợp cho những khát vọng ấy.

Chúng tôi muốn nâng đỡ người trẻ trong cuộc tìm kiếm của họ và chúng tôi khuyến khích các cộng đoàn của chúng tôi hãy lắng nghe, đối thoại và can đảm không chút dè dặt đáp lại những hoàn cảnh khó khăn của người trẻ. Chúng tôi muốn các cộng đoàn của chúng tôi tận dụng chứ không phải loại bỏ sức mạnh lòng nhiệt huyết của người trẻ; chiến đấu cho họ chống lại những sai lầm và những mưu toan ích kỷ của các quyền lực thế gian, muốn phá tán nghị lực của người trẻ và phung phí lòng hăng say của người trẻ để thủ lợi riêng, tước bỏ khỏi người trẻ mọi ký ức tốt đẹp về quá khứ và mọi dự phóng sâu xa về tương lai.

Thế giới người trẻ là một lãnh vực tái truyền giảng Tin Mừng đòi nhiều cố gắng những cũng nhiều triển vọng, như nhiều kinh nghiệm vẫn chứng tỏ, từ những kinh nghiệm của nhiều người trẻ trong những Ngày Quốc Tế giới trẻ, cho tới những kinh nghiệm âm thầm hơn nhưng không kém phần thu hút, như những kinh nghiệm về đời sống thiêng liêng, việc phục và truyền giáo. Cần nhìn nhận một vai trò tích cực của người trẻ trong công cuộc truyền giảng Tin Mừng, nhất là trong thế giới của chính người trẻ.

10. Tin Mừng trong cuộc đối thoại với văn hóa và kinh nghiệm nhân bản và với các tôn giáo.

Việc tái truyền giảng Tin Mừng quy trọng tâm vào Chúa Kitô và vào sự quan tâm chăm sóc con người, để mang lại một cuộc gặp gỡ thực sự với Chúa. Nhưng chân trời của việc truyền giảng này bao la như thế giới và không đóng khung trong một kinh nghiệm nhân trần nào. Điều này có nghĩa là nó đặc biệt vun trồng cuộc đối thoại với các nền văn hóa, với niềm tín thác rằng có thể tìm được trong mỗi nền văn hóa ”những hạt giống của Lời” như các Giáo Phụ đã nói. Đặc biệt việc tái truyền giảng Tin Mừng cần có một liên minh được đổi mới giữa đức tin và lý trí, với xác tín rằng đức tin có khả năng đón nhận mọi thành quả của một lý trí lành mạnh, biết cởi mở đối với siêu việt và có sức sửa chữa những giới hạn và mâu thuẫn mà lý trí có thể rơi vào. Đức tin không khép kín cái nhìn cả khi đứng trước những vấn nạn đau thương trước sự hiện diện của điều ác trong cuộc sống và trong lịch sử con người, kín múc ánh sáng hy vọng từ cuộc Phục sinh của Chúa Kitô. Cuộc gặp gỡ giữa đức tin và lý trí cũng nuôi dưỡng sự dấn thân của cộng đoàn Kitô trong lãnh vực giáo dục và văn hóa. Các tổ chức giáo dục và nghiên cứu – như các trường học và đại học – chiếm một chỗ đặc biệt trong lãnh vực này. Hễ nơi nào trí tuệ con người được phát triển và được giáo dục, thì Giáo Hội đều vui mừng mang kinh nghiệm của mình và phần đóng góp của mình cho việc huấn luyện con người toàn diện. Trong bối cảnh này cần dành đặc biệt sự chăm sóc các trường và các đại học Công Giáo, trong đó sự cởi mở đối với siêu việt – là đặc tính của mỗi hành trình chân thực về văn hóa và giáo dục, – phải được viên mãn nhờ cuộc gặp gỡ với biến cố Chúa Giêsu Kitô và Giáo Hội của Ngài. Các GM cũng bày tỏ lòng biết ơn đối với những người dấn thân trong lãnh vực ấy, nhiều khi với những điều kiện khó khăn.

Việc rao giảng Tin Mừng đòi chúng ta phải đặc biệt quan tâm đến thế giới truyền thông xã hội, nhất là các phương tiện truyền thông mới, là nơi qui tụ nhiều cuộc sống, nhiều vấn nạn và mong đợi. Đó là nơi mà lương tâm con người thường được đào luyện và là nơi mà dân chúng trải qua nhiều thời giờ và sống cuộc sống của họ. Đó là một cơ hội mới để đến với tâm hồn con người.

Một lãnh vực đặc biệt cho cuộc gặp gỡ giữa đức tin và lý trí ngày nay là cuộc đối thoại với kiến thức khoa học. Kiến thức này không hề xa lạ với đức tin, vì nó biểu lộ nguyên lý tinh thần mà Thiên Chúa đã đặt trong các thụ tạo của Ngài. Nó cũng cho chúng ta thấy các cơ cấu hợp lý của của công trình tạo dựng. Khi khoa học và kỹ thuật không chủ trương khép kín nhân loại và thế giới trong một chủ thuyết duy vật khô cằn, thì chúng trở thành một đồng minh quí giá làm cho đời sống được nhân bản hơn. Chúng tôi cũng đặc biệt cám ơn những người dấn thân trong lãnh vực tế nhị này của tri thức. Chúng tôi muốn cám ơn những người nam nữ dấn thân trong một biểu thức khác của thiên tài con người, đó là nghệ thuật dưới những hình thức khác nhau, từ những hình thức cổ nhất cho đến những hình thức mới nhất. Chúng tôi nhìn nhận trong các tác phẩm nghệ thuật của họ có một con đường đầy ý nghĩa biểu lộ linh đạo trong lúc họ cố gắng thể hiện sự thu hút của con người đối với thẩm mỹ. Chúng tôi biết ơn, khi các nghệ sĩ, qua các tác phẩm mỹ thuật của họ, diễn tả vẻ đẹp của tôn nhan Chúa và của các thụ tạo của Chúa. Con đường mỹ thuật là một con đường đặc biệt hữu hiệu trong công trình tái truyền giảng Tin Mừng.

Ngoài các tác phẩm nghệ thuật, mọi hoạt động của con người cũng thu hút sự chú ý của chúng ta, như một cơ hội qua đó, con người cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa. Chúng tôi muốn nhắc nhở cho giới kinh tế và lao động một vài điều nảy sinh từ ánh sáng Tin Mừng: để giải thoát lao công khỏi những điều kiện nhiều khi làm cho nó trở thành gánh nặng không thể chịu nổi, và một tương lai bấp bênh bị đe dọa vì nạn thất nghiệp của giới trẻ; tiếp đến cần đặt con người ở trung tâm sự phát triển kinh tế; nghĩ về sự phát triển này như một cơ hội để nhân loại được tăng trưởng trong công lý và sự hiệp nhất. Nhân loại biến đổi thế giới nhờ lao công và họ cũng được kêu gọi bảo tồn sự toàn vẹn của công trình sáng tạo do ý thức trách nhiệm đối với các thế hệ mai sau.
Tin Mừng cũng soi sáng đau khổ do bệnh tật gây ra. Các tín hữu Kitô phải giúp các bệnh nhân cảm thấy Giáo Hội gần gũi với những người bệnh tật. Các tín hữu Kitô phải cám ơn tất cả những người đang chăm sóc họ với khả năng nghề nghiệp và tình người.

Một lãnh vực trong đó ánh sáng Tin Mừng có thể và phải chiếu tỏa rạng ngời để soi sáng những bước chân của nhân loại, đó là chính trị. Chính trị đòi phải dấn thân vô vị lợi và chân thành chăm sóc công ích trong niềm tôn trọng hoàn toàn đối với phẩm giá con người, từ lúc mới được thụ thai cho đến lúc chết tự nhiên, tôn trọng gia đình dựa trên hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, bảo vệ tự do nghiên cứu; thăng tiến tự do tôn giáo; loại bỏ những nguyên nhân gây ra bất công, bất bình đẳng, kỳ thị, kỳ thị chủng tộc, bạo lực, đói kém và chiến tranh. Các tín hữu Kitô hoạt động trong chính trị cũng được yêu cầu nêu chứng tá rõ ràng và sống giới răn bác ái.
Sau cùng, Giáo Hội coi những người thuộc các tôn giáo khác như những người đối tác tự nhiên. Chúng ta rao giảng Tin Mừng vì chúng ta xác tín về chân lý Chúa Kitô, chứ không phải để chống lại một ai. Tin Mừng của Chúa Giêsu là an bình và vui tươi, và các môn đệ của Chúa vui mừng nhìn nhận những gì là chân thực và tốt lành mà tinh thần tôn giáo của nhân loại có thể nhận thấy trong thế giới do Thiên Chúa tạo dựng và điều ấy được biểu lộ trong nhiều tôn giáo khác nhau.

Cuộc đối thoại giữa tín đồ các tôn giáo nhắm đóng góp cho hòa bình, loại bỏ mọi thái độ cực đoan và tố giác mọi bạo lực chống lại các tín hữu, bạo lực ấy chính là vi phạm trầm trọng các quyền con người. Các Giáo Hội trên toàn thế giới, liên kết trong kinh nguyện và tình huynh đệ đối với những anh chị em đau khổ và yêu cầu những ai nắm giữ vận mệnh các dân tộc hãy bảo tồn quyền của mọi người được tự do chọn lựa và tuyên xưng và làm chứng tá về tín ngưỡng của mình.

11. Kỷ niệm Công đồng chung Vatican 2 và nhắc đến Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo trong Năm Đức Tin

Trên con đường do công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng mở ra, chúng ta cũng có thể cảm thấy như thể ở trong một sa mạc, giữa những nguy hiểm và thiếu những điểm tham chiếu. Trong bài giảng thánh lễ khai mạc Năm Đức Tin, ĐTC Biển Đức 16 đã nói về một ”sự sa mạc hóa tinh thần” đang lan rộng trong những thập niên gần đây, nhưng ngài cũng khích lệ chúng ta và nói rằng ”chính từ kinh nghiệm về sa mạc, từ sự trống rỗng ấy, chúng ta có thể tái khám phá niềm vui đức tin, tầm quan trọng sinh tử đối với chúng ta. Trong sa mạc chúng ta tái khám phá giá trị của những gì là thiết yếu cho cuộc sống” (Bài giảng thánh lễ khai mạc Năm Đức Tin, Roma 11-10-2012). Trong sa mạc, như người phụ nữ xứ Samaria, chúng ta tìm nước và tìm một cái giếng để kín nước uống: phúc cho ai gặp được Chúa Kitô tại đó!

Chúng ta cám ơn ĐTC vì hồng ân Năm Đức Tin, là chiếc cổng quí giá dẫn vào hành trình tái truyền giảng Tin Mừng. Chúng ta cũng cám ơn ngài vì đã gắn liền Năm Đức Tin với sự nhắc nhớ trong niềm biết ơn 50 năm khai mạc Công Đồng Vatican 2. Giáo huấn căn bản của Công Đồng cho thời đại chúng ta ngày nay đang chiếu tỏa rạng ngời trong Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo. Sách này, một lần nửa, được đề xướng như điểm tham chiếu chắc chắn về đức tin, 20 năm sau khi sách được công bố. Những kỷ niệm ấy thật quan trọng, giúp chúng ta tái khẳng định lòng gắn bó với giáo huấn của Công Đồng và quyết tâm của chúng ta tiếp tục thực thi trọn vẹn giáo huấn ấy.

12. Chiêm ngắm mầu nhiệm và đứng về phía người nghèo

Trong viễn tượng đó, chúng tôi muốn chỉ cho mọi các tín hữu hai biểu thức đức tin đặc biệt quan trọng đối với chúng tôi để làm chứng cho đức tin trong việc tái truyền giảng Tin Mừng.

Biểu thức thứ I là hồng ân và kinh nghiệm về sự chiêm niệm. Một chứng tá mà thế giới coi là đáng tin cậy chỉ phát xuất từ một chiêm ngắm mầu nhiệm Thiên Chúa, là Cha, Con và Thánh Linh, và chỉ phát xuất từ một sự thinh lặng sâu thẳm như một cung lòng đón nhận Lời cứu độ duy nhất. Chỉ có sự thinh lặng cầu nguyện như thế mới có thể tránh cho lời cứu độ khỏi bị mất hút giữa những tiếng ồn ào tràn ngập thế giới.

Giờ đây, chúng tôi cám ơn tất cả những người nam nữ đang tận hiến cuộc sống cho việc cầu nguyện và chiêm niệm trong các đan viện và các am ẩn sĩ. Những lúc chiêm niệm ấy cũng cần được xen lẫn với cuộc sống thường nhật của dân chúng: đó là những không gian trong tâm hồn, nhưng cũng là những không gian thể lý, nhắc nhớ chúng ta về Thiên Chúa; những cung thánh nội tâm và đền thờ bằng gạch đá, những những ngã tư đường, giúp chúng ta khỏi bị mất hút trong làn sóng các kinh nghiệm; những cơ hội trong đó mọi người có thể thể cảm thấy mình được đón nhận, kể cả những người chưa biết rõ mình tìm kiếm ai và điều gì.

Một biểu tượng khác nói chứng tỏ tính chất đích thực của việc tái truyền giảng Tin Mừng là khuôn mặt của người nghèo. Đặt mình cạnh những người bị thương tổn vì cuộc sống không phải chỉ là một sự tập luyện xã hội, nhưng trước tiên là một hành vi tinh thần. Vì trong khuôn mặt của người nghèo có phản ánh chính tôn nhan của Chúa Kitô: ”Tất cả những gì anh em làm cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Thầy đây, tức là anh em làm cho Thầy” (Mt 25,40).

Cần dành một chỗ ưu tiên trong các cộng đoàn chúng ta cho người nghèo, một nơi không loại trừ ai nhưng muốn là một phản ánh cách thức Chúa Giêsu gắn bó với họ. Sự hiện diện của người nghèo trong các cộng đoàn chúng ta thật là mạnh mẽ huyền nhiệm: sự hiện diện như thế thay đổi con người hơn cả những diễn văn, dạy lòng trung thành, giúp chúng ta hiểu cuộc đời mong manh, và xin cầu nguyện; tóm lại đó là sự hiện diện dẫn chúng ta đến cùng Chúa Kitô.

Đàng khác, cử chỉ bác ái cũng đòi phải có một sự dấn thân cho công lý đi kèm, với lời kêu gọi liên hệ tới mọi người, nghèo cũng như giàu. Vì thế giáo huấn xã hội của Hội Thánh cũng là thành phần của hành trình tái truyền giảng Tin Mừng, cũng như việc huấn luyện các tín hữu Kitô dấn thân phục vụ cộng đồng nhân loại trong đời sống xã hội và chính trị.

13. Ngỏ lời với các Giáo Hội tại các miền trên thế giới

Các GM tụ họp tại Thượng HĐGM này nhìn tất cả các cộng đồng Giáo Hội rải rác trên thế giới. Đây là một cái nhìn gồm tóm tất cả vì ơn gọi gặp gỡ Chúa Kitô là duy nhất, nhưng không quên những khác biệt.
Các GM tại Thượng HĐGM dành mối quan tâm đặc biệt đầy tình huynh đệ và biết ơn đối với anh chị em thuộc các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, là những người thừa kế công cuộc truyền bá Tin Mừng đầu tiên, – một kinh nghiệm được bảo tồn với lòng yêu mến và trung thành, – và các Giáo Hội Đông Phương hiện diện ở Đông Âu. Ngày nay Tin Mừng lại đến nơi anh chị em như một sự tái truyền giảng Tin Mừng qua đời sống phụng vụ, huấn giáo, kinh nguyện thường nhật trong gia đình, chay tịnh, tình liên đới giữa các gia đình, sự tham gia của giáo dân vào đời sống các cộng đoàn và đối thoại với xã hội. Tại nhiều nơi, các Giáo Hội của anh chị em bị thử thách và sầu muộn, qua đó Giáo Hội chứng tỏ sự tham phần vào thập giá của Chúa Kitô; một số tín hữu buộc lòng phải xuất cư. Nếu duy trì sinh động sự kết hiệp với các cộng đồng nguyên quán, họ có thể góp phần vào việc chăm sóc mục vụ và công cuộc rao giảng Tin Mừng tại các nước đón nhận họ. Xin Chúa tiếp tục chúc lành cho lòng trung thành của anh chị em. Ước gì tương lai của anh chị em được ghi đậm nét bằng sự tự do tuyên xưng và thực hành đức tin trong an bình và tự do tôn giáo.

Và hỡi anh chị em là những tín hữu Kitô đang sống tại các nước Phi châu, chúng tôi nhìn về anh chị em và bày tỏ lòng biết ơn vì việc làm chứng tá Tin Mừng của anh chị em, nhiều khi trong những hoàn cảnh sống khó khăn. Chúng tôi khuyên nhủ anh chị em hãy tái đẩy mạnh công cuộc truyền giáo đã nhận lãnh trong thời kỳ cách đây không xa, hãy xây dựng Giáo Hội như gia đình của Thiên Chúa, củng cố căn tính của gia đình, hỗ trợ sự dấn thân của các LM và các giáo lý viên, đặc biệt trong những cộng đoàn Kitô nhỏ. Chúng tôi khẳng định sự cần thiết phải phát huy cuộc gặp gỡ của Tin Mừng với các nền văn hóa cổ kính và mới mẻ. Chúng tôi cũng mong đợi và mạnh mẽ kêu gọi giới chính trị và các chính quyền tại nhiều nước Phi châu, trong sự cộng tác với tất cả những người thiện chí, hãy thăng tiến các quyền cơ bản của con người và giải thoát Phi châu khỏi bạo lực và những cuộc xung đột đang còn hoành hành tại đây.

Các GM thuộc Công nghị này cũng mời gọi anh chị em tín hữu Kitô Bắc Mỹ hãy vui mừng đáp lại lời mời gọi tái truyền giảng Tin Mừng, đồng thời, với lòng biết ơn, chúng tôi nhìn các cộng đoàn của anh chị em, tuy mới được thiết lập tương đối gần đây, nhưng đã mang lại những thành quả quảng đại về đức tin, đức mến và truyền giáo. Anh chị em cần nhìn nhận rằng nhiều biểu thức văn hóa hiện hành tại các nước thuộc đại lục của anh chị em ngày nay thật xa lạ với Tin Mừng. Cần hoán cải, từ đó nảy sinh một sự dấn thân không đưa anh chị em ra ngoài các nền văn hóa của mình, nhưng để anh em sống giữa các nền văn hóa ấy để cống hiến cho mọi người ánh sáng đức tin và sức mạnh của sự sống. Trong khi anh chị em đón nhận những người nhập cư và người tị nạn tại những đất nước quảng đại của anh chị em, anh chị em cũng hãy sẵn sàng mở cửa nhà mình cho đức tin. Trung thành với những cam kết được đề ra trong Thượng HĐGM Mỹ châu, anh chị em hãy liên đới với Mỹ châu la tinh trong công trình trường kỳ rao giảng Tin Mừng trên toàn Mỹ Châu.

Cũng với tâm tình biết ơn như thế, Thượng HĐGM ngỏ lời với các Giáo Hội tại Mỹ châu la tinh và Caraibí. Điều gây ấn tượng mạnh là, qua dòng lịch sử, những hình thức đạo đức bình dân đã được phát triển tại các quốc gia của anh chị em, và vẫn còn ăn rễ sâu nơi tâm hồn của nhiều người, tiếp đến là những hình thức phục vụ bác ái và đối thoại với các nền văn hóa. Nay, đứng trước nhiều thách đố hiện tại, trước tiên là nạn nghèo đói và bạo lực, Giáo Hội tại Mỹ châu la tinh và Caraibí được khích lệ sống trong tình trạng truyền giáo trường kỳ, loan báo Tin Mừng với niềm hy vọng và vui tươi, thành lập những cộng đoàn gồm các môn đệ thừa sai đích thực của Chúa Giêsu Kitô, chứng tỏ trong sự dấn thân của các con cái mình cách thức Tin Mừng có thể là nguồn mạch của một xã hội mới mẻ, công bằng và huynh đệ. Cả tình trạng có nhiều tôn giáo cũng đặt trắc nghiệm các Giáo Hội của anh chị em và đòi phải canh tân việc loan báo Tin Mừng.

Cả anh chị em là những tín hữu Kitô ở Á châu, chúng tôi cũng muốn gửi một lời khích lệ và nhắn nhủ. Là một thiểu số trong một đại lục qui tụ gần 2 phần 3 dân số thế giới, sự hiện diện của anh chị em là một hạt giống phong phú, được phó thác cho quyền năng của Chúa Thánh Linh, hạt giống ấy tăng trưởng trong việc đối thoại với các nền văn hóa khác nhau, với các tôn giáo cổ kính, với vô số người nghèo. Mặc dù nhiều khi bị gạt ra ngoài lề xã hội, và bị bách hại tại nhiều nơi, Giáo Hội tại Á châu, với đức tin kiên vững, là một sự hiện diện quí giá của Tin Mừng Chúa Kitô, loan báo công lý, sự sống và sự hài hòa. Hỡi các tín hữu Kitô Á châu, xin anh chị em hãy cảm nhận sự gần gũi huynh đệ của các tín hữu Kitô thuộc các nước khác trên thế giới, họ không thể quên rằng, tại đại lục của anh chị em, tại Thánh Địa, Chúa Giêsu đã sinh và, đã sống, chịu chết và sống lại.

Các GM cũng gởi lời cám ơn và hy vọng tới các Giáo Hội tại Âu Châu, ngày nay đang chịu trào lưu tục hóa mạnh mẽ và nhiều khi có tính chất gây hấn, Giáo Hội tại đây phần nào vẫn còn bị thương tích vì những thập niên dài do các chế độ theo ý thức hệ thù nghịch với Thiên Chúa và con người. Chúng tôi nhìn quá khứ với lòng biết ơn, nhưng cả hiện tại trong đó trong đó Tin Mừng đã kiến tạo tại Âu châu những biểu thức và kinh nghiệm đặc thù về đức tin, – nhiều khi tràn đầy sự thánh thiện -, những biểu thức và kinh nghiệm ấy thật là quan trọng đối với việc rao giảng Tin Mừng trên toàn thế giới: đó là những tư tưởng thần học phong phú, những biểu thức khác nhau và đoàn sủng, những hình thức đa dạng phục vụ bác ái dành cho người nghèo, những kinh nghiệm sâu xa về chiêm niệm, sự sáng tạo một nền văn hóa nhân bản đã góp phần xác định phẩm giá con người và xây dựng công ích. Hỡi các tín hữu Kitô Âu Châu quí mến, ước gì những khó khăn hiện nay không làm cho anh chị em nản chí, trái lại anh chị em có thể coi chúng như một thách đố cần phải vượt qua và là một cơ hội để loan báo Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài một cách vui tươi và sinh động hơn.

Sau cùng, các GM tại Thượng Hội đồng chào thăm các dân tộc ở Châu Đi dương đang sống dưới sự bảo vệ của Thánh Giá miền nam, và cám ơn anh chị em vì chứng tá về Tin Mừng của Chúa Giêsu. Chúng tôi cầu nguyện cho anh chị em để, như người phụ nứ xứ Samaria nơi giếng nước, anh chị em cũng cảm thấy nồng nhiệt khao khát một đời sống mới và có thể lắng nghe Lời Chúa Giêsu nói: “Ước gì con nhận biết hồng ân của Thiên Chúa!” (Ga 4,10). Anh chị em cũng hãy cảm thấy mạnh mẽ quyết tâm rao giảng Tin Mừng và làm cho Chúa Giêsu được biết đến trong thế giới ngày nay. Chúng tôi nhắn nhủ anh chị em hãy gặp Chúa trong đời sống thường nhật của mình, lắng nghe Ngài và qua kinh nguyện và suy niệm, anh chị em được ơn để có thể nói: ”Chúng tôi biết Vị này thực là Đấng Cứu thế” (Ga 4,42).

14. Ngôi sao của Mẹ Maria soi sáng sa mạc

Khi kết thúc kinh nghiệm hiệp thông giữa các GM toàn thế giới và cộng tác với sứ vụ của Đấng Kế Vị Thánh Phêrô, chúng tôi nghe thấy dư âm mệnh lệnh của Chúa Giêsu dành cho các tông đồ như một mệnh lệnh rất thời sự: ”Các con hãy ra đi và làm cho mọi dân nước trở thành môn đệ (..). Này đây Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19.20). Sứ vụ này của Giáo Hội không chỉ dành cho một miền địa lý, nhưng đi sâu vào tận thẳm sâu của tâm hồn con người thời nay, đưa họ trở lại gặp gỡ với Chúa Giêsu, Đấng Hằng sống hiện diện trong các cộng đoàn chúng ta.

Sự hiện diện này làm cho tâm hồn chúng ta tràn đầy niềm vui. Với lòng biết ơn vì những hồng ân đã nhận lãnh từ Chúa trong những ngày này, chúng tôi xướng lên bài ca chúc tụng: ”Linh hồn tôi ngợi khen Chúa (..) Chúa đã làm cho tôi những điều trọng đại” (Lc 1,46.49). Những lời này của Mẹ Maria cũng là những lời của chúng ta: qua dòng lịch sử, Chúa đã làm những điều trọng đại cho Giáo Hội của Ngài ở các nơi trên thế giới và chúng tôi chúc tụng Chúa, với xác tín rằng Ngài sẽ không quên nhìn đến sự nghèo hèn của chúng ta để dương cánh tay mạnh mẽ của Ngài trong thời đại ngày nay, nâng đỡ chúng ta trên con đường tái truyền giảng Tin Mừng.

Hình ảnh Mẹ Maria hướng dẫn chúng ta trên cuộc hành trình. Như ĐTC Biển đức 16 đã nói, hành trình này giống như một lộ trình trong sa mạc; chúng ta biết phải tiến qua đó mang theo mình những điều thiết yếu: đó là sự đồng hành của Chúa Kitô, sự thật của Lời Chúa, Bánh Thánh Thể nuôi dưỡng chúng ta, tình hiệp thông của cộng đoàn và sự thúc đẩy của đức bác ái. Đó là nước giếng làm cho sa mạc nở hoa. Và như các ngôi sao chiếu sáng hơn trong đêm đen của sa mạc, ánh sáng của Mẹ Maria, là Ngôi Sao của công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng, cũng chiếu sáng trong bầu trời hành trình của chúng ta. Chúng ta tin tưởng phó thác bản thân cho Mẹ.

G. Trần Đức Anh OP chuyển dịch

Vietvatican

Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Nhân Ngày Thế Giới Di Dân Và Tị Nạn

Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Nhân Ngày Thế Giới Di Dân Và Tị Nạn

“Cuộc Lữ Hành của Đức Tin và Hy Vọng” là chủ đề được Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 chọn nhân dịp kỷ niệm lần thứ 99 ngày Thế giới Di Dân và Tị Nạn (2013). Thánh lễ này sẽ được tổ chức vào Chúa Nhật, ngày 13 tháng 1 năm 2013. Sau đây là toàn bộ sứ điệp của Đức Thánh Cha.

Anh chị em thân mến!

Công đồng Vaticano II trong Hiến Chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay đã nhắc nhở rằng “Giáo Hội đồng tiến với toàn thể nhân loại” ( số 40). Do đó, “vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (Ibid, số 1). Tôi tớ Chúa, Đức Phaolo VI đã nhắc lại những lời này khi ngài gọi Giáo hội là một “chuyên gia về nhân loại” (expert in humanity) (Populorum Progressio, 13); và Chân Phước Gioan Phaolô II cũng làm điều tương tự khi ngài trình bày rằng, con người “là con đường mà Giáo hội phải đi để hoàn thành sứ mệnh của mình…con đường do chính Chúa Ki-tô vạch ra” (Enc. Centesimus annus, 53). Tiếp bước các vị tiền nhiệm, trong Thông Điệp Caritas In Veritate – Bác Ái Trong Chân Lý, tôi đã nhấn mạnh rằng: “Chân lý đầu tiên là toàn thể Giáo hội, khi rao giảng, cử hành Bí tích Thánh Thể và hoạt động trong bác ái, trong toàn thể bản chất và hoạt động của mình, phải nhằm vào việc thúc đẩy sự phát triển toàn vẹn con người” (số 11). Giờ đây, tôi đang nghĩ về hàng triệu người nam và người nữ, vì những lý do khác nhau, đã trải qua những kinh nghiệm di dân. “Di dân quả là một hiện tượng đáng báo động vì số đông những người di dân, vì những vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa và tôn giáo mà hiện tượng di dân đặt ra, và vì những thách đố bi thảm mà hiện tượng này đặt ra cho các cộng đồng quốc gia và quốc tế” (ibid, số 62), vì “mỗi người di tản là một nhân vị, có những quyền lợi bất khả xâm phạm mà mọi người phải tôn trọng trong mọi hoàn cảnh” (ibid).

Vì lý do này, tôi đã chọn để dâng hiến ngày Di Dân Thế Giới năm nay với chủ đề: “Di dân: cuộc lữ hành của đức tin và hy vọng.” Cùng với những cử hành đánh dấu 50 năm khai mạc Công đồng Vaticanô II và 60 năm công bố về Tông huấn 'Gia đình xa cách' (Exsul Familia, 1952), thì đây cũng là thời điểm mà toàn thể Giáo hội đang long trọng cử hành Năm Đức Tin cũng như can đảm đón nhận những thách đố trong sứ mạng Tân Phúc Âm hóa.

Đức tin và hy vọng là những yếu tố không thể tách rời trong trái tim của những người di dân, những người có một khao khát thẳm sâu về đời sống tốt hơn nên và cố gắng để bỏ lại sau lưng mình sự vô vọng của một tương lai không hứa hẹn. Trong suốt hành trình của mình, nhiều người trong số họ được nuôi dưỡng bởi một sự tín thác sâu xa vào Thiên Chúa, Đấng chưa bao giờ từ bỏ con mình. Sự xác tín này sẽ phần nào làm vơi đi nỗi đau của sự chia ly và rời bỏ, và thậm chí còn trao cho họ niềm hy vọng vào một ngày nào đó họ sẽ trở về chính quê hương của mình. Đức tin và hy vọng là những tài sản quý giá mà những người di dân mang theo mình, họ biết rằng với chúng, họ có thể “đối diện với hiện tại, một hiện tại cho dẫu là đầy bi kịch, nhưng vẫn có thể được sống và được đón nhận nếu nó dẫn chúng ta đến một mục tiêu, nếu chúng ta chắc chắn về mục tiêu này, và nếu mục tiêu này đủ lớn để minh chứng cho hành trình của chúng ta” (Spe Salvi, 1).

Trong địa hạt rộng lớn của việc di dân, Giáo hội đã diễn tả sự quan tâm mẫu tử của mình trong những cách thế khác nhau. Một mặt, nơi những người di dân, Giáo hội thường phải chứng kiến tình trạng nghèo khó và những đau khổ lớn lao gắn liến với việc di dân, và kèm theo đó là những trạng huống đầy đau khổ và bi kịch. Điều này đã thúc đẩy Giáo hội thiết lập các chương trình nhắm đến việc đáp những nhu cầu cấp bách ngang qua sự trợ giúp đầy quảng đại của các nhân cũng như các tổ chức: các tổ chức và phong trào thiện nguyện, các tổ chức của các giáo phận cũng như các giáo xứ trong sự hợp tác với tất cả những người thiện chí. Giáo hội cũng làm việc để nhấn mạnh đến những khía cạnh tích cực của nó, về những tiềm năng cũng như những nguồn lực mà việc di dân mang lại. Cùng với những đường hướng này, các chương trình và các trung tâm đón tiếp người di dân được thiết lập để giúp đỡ và nâng đỡ những người di dân, những người tìm kiếm nơi ở mới và những người tị nạn, giúp họ hội nhập trọn vẹn vào trong một bối cảnh xã hội và văn hoá mới mà không xao nhãng chiều kích tôn giáo, vốn là một yếu tố nền tảng trong đời sống của mọi người. Thật vậy, chính vì chiều kích tôn giáo này mà Giáo hội, được uỷ thác bởi Đức ki-tô, phải dấn thân và quan tâm một cách đặc biệt đến sứ mạng này: đây được xem là nhiệm vụ quan trọng và đặc biệt nhất của Giáo hội. Đối với các Kitô hữu đến từ nhiều nơi khác nhau trên thế giới, việc lưu tâm đến chiều kích tôn giáo cũng bao hàm việc đối thoại đại kết và việc quan tâm đến các cộng đoàn mới. Trong khi đó, đối với Tín hữu Công Giáo, bên cạnh các điều khác, bên cạnh thiết lập một cơ cấu mục vụ mới thì cũng cần diễn tả lòng kính trọng đối với các nghi lễ khác nhau để khích lệ việc tham gia trọn vẹn vào đời sống cộng đoàn Giáo hội địa phương. Việc thăng tiến đời sống con người thường gắn liền với sự hiệp thông về đời sống thiêng liêng, một chiều kích mở ra một sự hoán cải đích thực và mới mẻ hướng đến Thiên Chúa, Đấng cứu độ duy nhất của thế giới (Porta Fidei, 6). Giáo hội thường trao ban những món quà quý giá khi Giáo hội hướng dẫn con người gặp gỡ Đức ki-tô, một cuộc gặp gỡ mở ra con đường tới một niềm hy vọng chắc chắn và giá trị.

Trong khi quan tâm đến nhu cầu những người di dân và tị nạn, Giáo hội và các tổ chức thuộc Giáo hội tránh việc chỉ đơn thuần cung cấp các dịch vụ đức ái. Những người di dân và tị nạn được mời gọi để đẩy mạnh tiến trình hội nhất đích thực vào trong một xã hội nơi mà họ sẽ là các thành viên hoạt động tích cực và có trách nhiệm đối với ích chung, đồng thời đóng góp một cách đầy sáng tạo và chia sẻ một cách đúng đắn các quyền cũng như nghĩa vụ trong xã hội đó. Những người di dân mang theo mình một cảm thức về sự tin tưởng và hy vọng. Cảm thức này đã truyền cảm hứng và nâng đỡ họ trên hành trình tìm kiếm một đời sống tốt đẹp hơn, chứ họ không chỉ đơn thuần tìm cách thăng tiến về điều kiện tài chính, xã hội cũng như chính trị. Thật đúng khi nói rằng, kinh nghiệm của người di dân khởi đi từ nỗi sợ, một cách đặc biệt khi họ phải gánh chịu cảnh bắt bớ hay bạo lực, và trong nỗi đau thương này họ đã phải lìa bỏ gia đình và tài sản mà mình đã sở hữu để đảm bảo sự sinh tồn của mình. Tuy vậy, những đau thương và những mất mát lớn lao và đôi lúc thậm chí còn là một sự mất định hướng trước một tương lai bất định, tất cả điều này cũng không thể hủy diệt được ước mơ xây dựng một cuộc sống mới nơi một quốc gia mới với niềm hy vọng và can đảm. Thực vậy, những người di dân tin tưởng rằng họ sẽ gặp được sự đón nhận, sự liên đới và trợ giúp. Họ tin tưởng rằng họ sẽ gặp được những người biết cảm thông với nỗi thống khổ và thảm kịch của người khác. Thông qua những con người mà họ gặp gỡ, họ cũng sẽ nhận ra được những giá trị và nguồn sống mới. Họ sẽ mở ra để chia sẻ vật chất cũng như tình người với những người nghèo túng và những người thiếu may mắn. Thật quan trọng để nhận ra rằng, “Tình liên đới nhân loại đem lại lợi ích cho chúng ta, đồng thời cũng là một bổn phận” (Caritas in Veritate, số 43).

Cho dẫu vẫn còn đó những khó khăn, nhưng những người di dân và tị nạn sẽ kinh nghiệm được những mối tương quan mới mẻ và sự chào đón khi họ có thể làm phong phú quốc gia mà họ đến với những kỹ năng nghề nghiệp, những di sản xã hội và văn hóa của mình. Họ cũng sẽ là những chứng nhân cho đức tin, một sự làm chứng mang lại một nguồn năng lượng và một sức sống mới cho các cộng đoàn Ki-tô hữu truyền thống, đồng thời mời gọi người khác gặp gỡ Đức Kitô và tiến tới việc biết đến Giáo hội.

Chắc chắn mỗi quốc gia có quyền đặt quy định đối với những người di dân, và ban hành những chính sách đã được những đòi hỏi chung về công ích chi phối, nhưng phải đảm bảo là luôn tôn trọng nhân phẩm con người. Quyền của con người đối với việc di dân, (như được mời gọi trong Hiến Chế Mục Vụ của CĐ Vaticano II, số 65) là những quyền đã được đặt ra giữa những quyền cơ bản của con người. Quyền ấy cho phép con người được định cư bất cứ nơi nào mà họ xét thấy là có cơ hội tốt nhất để hiện thực hóa hết những khả năng, khát vọng và hoạch định của họ. Tuy nhiên, trong bối cảnh chính trị xã hội hiện nay, thậm chí trước cả quyền di cư, thì cũng cần tái khẳng định lại quyền không phải di cư, nghĩa là được ở lại nơi quê nhà, như Chân Phước Gioan Phao-lô II đã nói: “Quyền cơ bản của con người là được sinh sống nơi chính quê hương mình. Song những quyền này chỉ trở nên hữu hiệu khi những yếu tố bắt người ta phải di cư luôn được kiểm soát” (Huấn từ tại Công Nghị Thế Giới lần 4 về Chăm Sóc Mục Vụ cho Người Di Dân và Người Tị Nạn, 9 tháng 10-1998).

Kỳ thực ngày nay chúng ta có thể thấy rằng nhiều cuộc di dân là hậu quả từ sự bất ổn kinh tế, từ sự thiếu các nhu yếu phẩm đến các thiên tai, chiến tranh và bất ổn xã hội. Thay vì di cư là một cuộc lữ hành đầy tín thác, tin tưởng và hy vọng, thì những cuộc di cư có nguyên nhân như vừa nêu lại trở nên việc bất khả kháng vì sinh tồn, trong đó những con người nam cũng như nữ xuất hiện giống như những nạn nhân hơn là những người có trách nhiệm đối với quyết định di cư của mình.

Hậu quả là, trong khi một vài người di cư đạt được địa vị xã hội và có mức sống khấm khá hơn, cộng với sự hòa nhập tốt vào môi trường xã hội mới mà họ nhập vào, thì vẫn còn đó biết bao người khác bị sống bên lề xã hội, thường bị tước đoạt các quyền cơ bản con người, hoặc bị đẩy vào những hình thức đối xử tệ hại đối với quốc gia mà họ nhập cư.

Tiến trình hội nhập phải kéo theo các quyền và nghĩa vụ, để ý và quan tâm đến đời sống hợp nhân phẩm của những người di cư, để họ có được một cuộc sống xứng đáng, và đến lượt họ, họ cũng được mời gọi để quan tâm đến những giá trị mà xã hội sở tại đã đang cung ứng cho họ. Về phương diện này chúng ta không thể bỏ qua vấn nạn những người nhập cư trái phép, một vấn nạn gây nhức nhối hơn khi nhập cư trái phép dưới hình thức bóc lột và buôn bán con người, cách riêng là phụ nữ và trẻ em.

Những tội ác này rõ ràng phải bị tố cáo và lên án. Trong khi những chính sách di dân có trật tự chưa thể gàn gắn được những vết thương trong những rạn nứt về biên giới, thì những pháp chế nghiêm khắc hơn chống lại việc di cư bất hợp pháp và việc chấp nhận các phương thức đón nhận những người nhập cư, sẽ phần nào giảm thiểu số người di dân trở thành mồi ngon của những hình thức bóc lột người như thế. Có một nhu cầu cấp thiết cần đến sự can thiệp có cấu trúc đa phương vì sự phát triển của các nước xuất cư, cần đến các biện pháp đối phó hữu hiệu nhắm đến việc giải trừ nạn buôn bán người, cần đến những chương trình toàn diện hoạch định những lối nhập cư hợp pháp, và cần sự cởi mở nhiều hơn đối với việc cứu xét những trường hợp đang cầu cứu đến sự bảo vệ nhân đạo hơn là tị nạn chính trị. Ngoài việc pháp chế phù hợp, cũng cần đến một nỗ lực bền bỉ và kiên trì để đào tạo não trạng và lương tâm. Trong tất cả điều này, điều quan trọng là phải tăng cường và phát triển sự hiểu biết và hợp tác lẫn nhau giữa Giáo Hội và các tổ chức khác, những tổ chức cống hiến cho sự thăng tiến vì sự phát triển hội nhất con người. Trong viễn tượng Ki-tô giáo, công tác nhân đạo và xã hội phải kín múc sức mạnh từ sự trung thành với Phúc Âm, trong sự nhận biết, “Ai theo Chúa Kitô, Con Người hoàn hảo, kẻ ấy sẽ được trở nên người hơn” (Gaudium et Spes, 41).

Anh chị em di dân và tị nạn quý mến! Tôi mong cho Ngày Thế Giới Người Di Dân và Tị Nạn sẽ giúp anh chị em làm mới lại niềm tín thác và hy-vọng của mình vào Thiên Chúa, Đấng luôn ở bên cạnh anh chị em! Hãy tận dụng tối đa mọi cơ hội để đến gặp gỡ Ngài và để nhìn ngắm dung nhan của Ngài trong những hành vi thiện hảo mà anh chị em đã đón nhận trong suốt cuộc lữ hành di trú của mình. Hãy vui lên, vì Thiên Chúa luôn ở cạnh bên, và cùng với Ngài anh chị em có thể vượt qua được mọi chướng ngại và khó khăn trong cuộc hành trình. Hãy làm giàu (hãy giữ lấy!) những chứng tá về sự mở ra lẫn sự chấp nhận mà nhiều người đã hiến tặng cho anh chị em. Bởi lẽ “cuộc đời thì giống như cuộc hải hành trên biển khơi lịch sử, thường khi tối mịt và lắm bão tố. Sống là một cuộc hải hành mà trong đó ta luôn mong ngóng những vì sao sáng chỉ hướng. Những vì sao sáng đích thực cho cuộc đời chúng ta chính là những người đã sống đàng lành. Họ chính là ánh sáng của niềm hy-vọng. Hẳn nhiên Chúa Giê-su là ánh sáng đích thực, Ngài là mặt trời soi tỏ hết thẩy bóng đêm lịch sử. Tuy vậy để vươn đến được thứ ánh sáng đích thực là chính Chúa Giê-su, chúng ta cũng cần đến những tia sáng gần hơn từ những người đã nhận và chiếu tỏa ánh sáng của Ngài, và do đó mà họ có thể hướng dẫn chúng ta dọc suốt cuộc hành trình của mình (Spe Salvi, 49).

Tôi xin phó dâng từng người trong anh chị em cho Đức Nữ Trinh Ma-ri-a Rất Thánh. Mẹ là dấu chỉ về niềm hy-vọng chắc chắn và niềm an ủi. Mẹ là “ánh sao dẫn đường”, là Đấng mà với sự hiện diện tình mẫu tử của mình, Mẹ rất gần gũi với từng người chúng ta trong mọi khoảnh khắc cuộc đời. Với hết tấm chân tình, tôi xin ban Phép Lành Tòa Thánh cho hết thảy anh chị em.

Tại Vatican, ngày 12 tháng 10 năm 2012.

Vietvatican
Nguyễn Minh Triệu (SJ), chuyển ngữ

Thánh lễ kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới lần thứ XIII

Thánh lễ kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới lần thứ XIII

Lúc 9 giờ rưỡi sáng Chúa Nhật hôm qua Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã chủ sự thánh lễ trong đền thờ thánh Phêrô kết thúc Thượng Hội Đồng Giám Mục lần thứ XIII. Cùng đồng tế với Đức Thánh Cha có hàng chục Hồng Y và các Tổng Giám Mục và Giám Mục nghị phụ, trong đó có Đức Cha Nguyễn Năng, Giám Mục Phát Diệm, và Đức Cha Vũ Duy Thống, Giám Mục Phan Thiết. Tham dự thánh lễ có khoảng 10,000 tín hữu và du khách hành hương.

Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha đã khai triển ý nghĩa phép lạ Chúa Giêsu cho người mù thành Giêricô được sáng mắt, lồng khung trong đề tài tái truyền giảng Tin Mừng, đã được các nghị phụ thảo luận trong Thượng Hồi Đồng Giám Mục.

Phép lạ chữa anh mù Bartimeo có thế đứng quan trọng trong cấu trúc Phúc Âm thánh Marcô. Nó được đặt ở cuối phần gọi là ”chuyến lên Giêrusalem”, nghĩa là cuộc hành hương cuối cùng của Chúa Giêsu về Thành Thánh, để tham dự lễ Vượt Qua, trong đó cuộc khổ nạn, cái chết và sự phục sinh chờ đợi Người.

Để lên Giêrusalem từ thung lũng Giọcđan Chúa Giêsu đi ngang qua thành Giêricô, và cuộc gặp gỡ với anh mù xảy ra, khi Người ra khỏi thánh phố. Tất cả Phúc Âm thánh Marcô là một lộ trình đưc tin, được khai triển từ từ theo trường học của Chúa Giêsu. Các môn đệ là các tác nhân đầu tiên của lộ trình khám phá đó, nhưng cũng có những người khác có vai trò đáng kể, trong đó có cả anh mù Bartimeo nữa. Phép lạ chữa anh là phép lạ cuối cùng Chúa Giêsu làm trước khi bước vào cuộc khổ nạn. Và không phải tình cờ việc chữa lành một người có đôi mắt đã mất đi ánh sáng. Đức Thánh Cha nêu bật ý nghĩa biểu tượng của anh mù Bartimeo như sau:

Anh diễn tả người cần ánh sáng của Thiên Chúa, ánh sáng của đức tin, để thực sự hiểu biết thực tại và bước đi trên con đường cuộc sống. Điều nòng cốt là nhận biết mình mù lòa, cần đến ánh sáng ấy, nếu không ta sẽ mù luôn mãi (x. Ga 9,39-41).

Anh ta đã không mù từ lúc mới sinh, nhưng đã mất đi khả năng nhìn thấy. Anh là người đã mất đi ánh sáng và ý thực được điều đó, nhưng đã không mất niềm hy vọng. Anh biết tiếp nhận khả thể gặp Chúa Giêsu và tin tưởng nơi Người để được chữa lành. Thật thế, khi nghe biết Chúa Giêsu đi ngang qua trên đường, anh kêu lên: ”Lậy Đức Giêsu, con vua Đavít, xin thương xót tôi!” và anh lập lại lời kêu xin mạnh hơn. Và khi Chúa Giêsu gọi anh lại và hỏi anh muốn gì nơi Người, anh thưa: ”Lậy Thầy, xin cho tôi lại thấy”. Bartimeo diễn tả người nhận biết bệnh tật của mình và kêu lên Chúa, tin tưởng được chữa lành. Lời kêu xin của anh đơn sơ, chân thành và gương mẫu, giống như lời kêu xin của người thu thuế ”Lậy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13), lời cầu ấy đã đi vào trong truyền thống lời cầu kitô. Trong cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, được sống với đức tin, anh mù Bartimeo có được trở lại ánh sáng đã mất, và với nó là phẩm giá tràn đầy của mình: anh đứng dậy và đi trở lại con đường, mà từ lúc đó có một người hướng dẫn là Đức Giêsu, và anh đi cùng một con đường Đức Giêsu đi. Thánh sử không nói gì về Bartimeo nữa, nhưng nơi anh thánh sử giới thiệu với chúng ta ai là người môn đệ: đó là người theo Chúa Giêsu trên đường với ánh sáng đức tin.

Tiếp tục bài giảng Đức Thánh Cha nói thánh Agostino đã suy tư và đưa ra một nhận xét rất đặc biệt về gương mặt của anh mù Bartimeo, nó cũng có ý nghĩa đối với chúng ta ngày nay : đó là sự kiện thánh sử Marcô không chỉ kể tên của người được sáng mắt mà cả tên của cha anh ta nữa, anh là Bartimeo con của Timeo. Và thánh nhân kết luận rằng anh ta là một nhân vật đã từ một cuộc sống rất phong phú rơi xuống sự bần cùng, và điều kiện bần cùng của anh được mọi người biết tới: anh không chỉ mù lòa, mà còn là người ăn mày bên vệ đường nữa.

Việc giải thích này mời gọi chúng ta suy tư về sự kiên có các sự phong phú qúy báu,không phải là vật chất, mà chúng ta có thể mất. Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:

Trong viễn tượng này, anh mù Bartimeo có thể diễn tả những người sống trong các vùng đất xưa kia đã được truyền giảng Tin Mừng, nơi ánh sáng đức tin đã suy yếu đi, họ đã xa rời Thiên Chúa, và không coi Người quan trọng đối với cuộc sống của họ nữa. Vì thế họ là những người đã mất đi một sự giầu có lớn; họ đã rơi xuống từ một phẩm giá cao trọng, không phải phảm giá kinh tế hay quyền lực trần gian, nhưng là phẩm giá kitô; họ đã mất đi định hướng vững chắc của cuộc sống và đã trở thành những người ăn mày ý nghĩa cuộc sống, thường khi một cách vô thức. Họ là biết bao nhiêu người cần được tái truyền giảng Tin Mừng, nghĩa là cần có một cuộc gặp gỡ mới với Chúa Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, là Đấng có thể tái mở đôi mắt cho họ và chỉ đường cho họ. Phúc Âm mà phụng vụ hôm nay đề nghị có một ý nghĩa đặc biệt đối với chúng ta, những người trong các ngày qua đã đương đầu với sự cấp thiết tái loan báo Chúa Kitô, tại những nơi ánh sáng đức tin đã suy yếu, ở những nơi lửa của Thiên Chúa, như lửa hỏa lò, cần được tái nhóm, để là lửa sinh động trao ban ánh sáng và hơi ấm cho cả nhà.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đề cập tới ba khía cạnh của việc tái truyến giảng Tin Mừng. Thứ nhất nó liên quan tới toàn cuộc sống Giáo Hội và công tác mục vụ bình thường, cần được linh hoạt bởi lửa của Chúa Thánh Thần để đốt cháy con tim tín hữu. Thượng Hội Đồng Giám Mục đã đề ra ba đường hướng mục vụ. Thứ nhất cần phải đồng hành và chuẩn bị cho tín hữu lãnh nhận các bí tích khai tâm là Rửa Tội, Thêm Sức và Thánh Thể. Bí tích sám Hối, bí tih của lòng thương xót Chúa, cũng quan trọng. Lời Chúa mời gọi mọi kitô hữu nên thánh đi qua lộ trình của các bí tích ấy.

Thứ hai việc tái truyền giảng Tin Mừng gắn liền với sứ mệnh đến với dân ngoại. Giáo Hội có nhiệm vụ rao giảng Tin Mừng loan báo Sứ điệp cứu độ cho những ai chưa nhận biết Chúa Kitô. Có biềt bao nhiêu môi trường tại Á châu, Phi chậu và Đại dương châu, trong đó dân chúng chờ đợi được loan báo Tin Mừng. Vì thế cần phải cầu xin Chúa Thánh Thần để Người dấy lên trong Giáo Hội năng động truyền giáo mới, với các tác nhân là các nhân viên mục vụ và giáo dân. Việc loan báo Tin Mừng cũng cần thiết đối với các nước đã đươc truyền giáo xưa kia. Tất cả mọi người đều có quyền hiểu biết Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng của Người. Vì thế mọi kitô hữu linh mục, tu sĩ và giáo dân nam nữ đều có nhiệm vụ loan báo Tin Mừng.

Điểm thứ ba liên quan tới các tín hữu đã lãnh bí tích Thánh Tẩy, nhưng không sống các đòi buộc của nó, đặc biệt tại các nước bị tục hóa nhất. Giáo Hội đặc biệt chú ý đến họ, để giúp họ tái gặp gỡ Chúa Giêsu Kitô và tái khám phá ra niềm vui của đức tin và thực hành đạo trở lại trong các cộng đoàn. Ngoài các phương pháp truyền thống, Giáo Hội cũng tìm sử dụng các phương pháp mới, với các ngôn ngữ mới thích hợp với các nền văn hóa khác nhau của thế giới, trong việc đề nghị chân lý của Chúa Kitô, với thái độ đối thoại và tình bạn bắt nguồn từ Thiên Chúa tình yêu, qua các đại hội như ”Sân của dân ngoại”, sứ mệnh truyền giáo đại lục vv…

Các lời nguyện giáo dân đã được đọc bằng các thứ tiếng Ý, Ba Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, A rập và Tchèques. Trong phần hiệp lễ Đức Thánh Cha đã trao Mình Thánh Chúa cho một số tín hữu, trong khi 50 linh mục đã cho tín hữu rưởc lễ.

Lúc 12 giờ Đức Thánh Cha đã ra cửa sổ phòng làm việc của ngài để đọc kinh Truyền Tin chung với mấy chục ngàn tín hữu tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô. Đức Thánh Cha đã bầy tỏ tình liên đới với các nạn nhân của trận bão lớn càn quét các nước Cuba, Haiti, Giamaica và quần đảo Bahamas, khiến cho nhiều người chết và gây ra các thiệt hại to lớn. Đức Thánh Cha bầy tỏ sự gần gũi của ngài, ngài cầu nguyện cho các nạn nhân và kêu gọi tình liên tới của mọi người để làm vơi nhẹ nỗi khổ đau cho gia đình các nạn nhân và cứu trợ hàng ngàn người gặp nạn.

Trước đó, trong bài huấn dụ ngắn Đức Thánh Cha đã cảm tạ Chúa đã cho mọi người sống kinh nghiệm vẻ đẹp là Giáo Hội giữa thế giới này với các mệt nhọc và hy vọng của nó. Ngài đã tóm tắt thành qủa của Thượng Hội Đồng Giám Muc như sau:

Ngay từ bây gìơ chúng ta có thể nói rằng từ Thượng Hội Đồng Giám Mục này nảy sinh ra dấn thân canh tân tinh thần trong chính Giáo Hội, để có thể canh tân tinh thần thế giới bị tục hóa. Và việc canh tân này sẽ bắt nguồn từ việc tái khám phá ra Chúa Giêsu Kitô, từ sự thật, ơn thánh và gương mặt là Người và là Thiên Chúa của Người, trên đó rạng ngời mầu nhiệm siêu việt của Thiện Chúa.

Đức Thánh Cha nói: trong ba tuần các nghị phụ đã đương dầu với việc tái truyền giảng Tin Mừng. Toàn thể Giáo Hội đã hiện diện và bị lôi cuốn vào dấn thân này. Thượng Hội Đồng Giám Mục là thời điểm mạnh mẽ của sự hiệp nhất giáo hội. Nó càng ý nghĩa hơn nhân dịp kỷ niệm 50 năm khai mở Công Đồng Chung Vaticăng II và bắt đầu Năm Đức Tin. Đức Gioan XXIII và Đức Phaolô VI đã giúp chúng ta hiểu rằng việc tái truyền giảng Tin Mừng là năng động phát triển trong Giáo Hội, đặc biệt từ thập niên 1950 khi các nước cựu kitô trở thành ”vùng truyền giáo”… Chúng ta hãy phó thác cho Đức Trinh Nữ Maria các hoa trái công việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục vừa mới kết thúc. Xin Mẹ là Ngôi Sao của việc tái truyền giảng Tin Mừng dạy đỗ và giúp chúng ta can đảm và tươi vui đem Chúa Kitô tới với tất cả mọi người.

Sau cùng Đức Thánh Cha đã cất kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiển Khi – Vietvatican

XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY

 XIN CHO CON ĐƯỢC THẤY

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN NĂM B (28/10/2012)
[Gr 31,7-9; Dt 5,1-6; Mc 10,46-52]
Lạy Chúa là Ánh Sáng, xin chữa lành đôi mắt mù loà của chúng con.

Bao nhiêu người trông nắng có nắng, cầu mưa có mưa, cho ruộng lúa được mùa, cho giàn bông xinh tươi muôn sắc, cho vườn cây sum suê quả ngọt, cho biển mặn cá đầy khoang, tôm đầy thúng, mực đầy nan. Họ đã nhìn thấy những mùa vàng bội thu trên đồng, trên vườn, trên biển. Nhưng người đời vẫn huênh hoang tự hào: “Bàn tay tay làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm”! Không thấy bóng dáng Thiên Chúa và không tin mọi sự đều là kỳ công của Người.

Năm hạn hán đồng khô hồ cạn, mất mùa trắng mắt, biển cả vắng con tép con còng, vườn cây trái trăng sâu sia đèo điếc, thế là người đời xoay sang chống cằm trách trời ác đức, trách đất vô tâm, trách quỷ trách thần không thương tình phù hộ. Càng không nhắc đến bóng dáng Thiên Chúa và cũng chẳng tin là quyền phép của Người.

Sinh được một cháu trai đầu lòng, to nặng, hình dáng tuấn tú khôi ngô, cái mặt giống cha, con mắt giống ông nội, cả nhà hân hoan mừng rỡ, khen nức khen nở con dâu nhà mình biết chửa, biết đẻ. Không hề có một câu khen mừng Thiên Chúa đã làm điều kỳ diệu lắm thay!

Hết con so đến con rạ, bà mụ vườn chào thua, khoa sản trên bệnh viện huyện chào thua phải chạy lên khoa sản tỉnh, cũng chào thua, thôi thì phải đưa gấp vào thành phố. “Biết tướng này sẽ ra sao mà tốn kém quá thể!” Sinh được đứa cháu rạ ọp òi, nhẹ ký, nhỏ người, con gái. Cả tháng sau chưa thấy ông bà nội đến thăm! Trách móc hờn giận lung tung. Con dâu bị chê chửi là không biết ở biết ăn, quỷ tha ma bắt!

Công trình của Chúa khắp nơi nơi: từ thiên nhiên hùng vĩ, đến vũ trụ bao la, đến cả con kiến đen bé nhỏ, đến vi sinh vật li ti. Mắt người đời nhìn thấy được mọi thứ, mà không nhận ra có Đấng Tác Sinh, lại còn bô bô luôn miệng “cái gì cũng tự nhiên mà có”! Đến cả sự hiện diện của chính mình trên trần gian này mà người vô thần cũng cho là bởi vật chất mà ra, có ông thuỷ tổ là một… con khỉ!

Có thời tồi tệ hơn nữa, học sinh sinh viên được dạy: “Con người ta hiện diện trên đời này là kết quả của sự vui chơi mà đàn ông với đàn bà, giống đực với giống cái đã tận hưởng”. Giá trị tình yêu và hôn nhân bị kéo xuống ngang hàng với chuyện tự nhiên của con vật. Mắt con người không mù rồi đó sao?

2.000 năm Ánh Sáng đã đến trần gian mà con người vẫn còn chìm trong u tối. Càng tưởng mình vĩ đại, văn minh bởi sức riêng của mình, con người càng ngủ vùi mê mệt trong cái vực sâu u tối mà con người tự tạo nên.

Chúa Giêsu Kitô là Ánh Sáng. Ngài đem Ánh Sáng của Thiên Chúa đến. Ánh Sáng ấy là chính Ngài đã Mạc Khải cho con người biết có Thiên Chúa là Cha, là Con, là Thánh Thần, quyền năng, khôn ngoan, yêu thương con người. Toàn bộ Tin Mừng là mạc khải về Tình Yêu và Ơn Cứu Độ dành cho những ai Tin vào Con Thiên Chúa, là Đức Giêsu Kitô. Đức Tin là một hồng ân Chúa ban cho hết thảy mọi người. Có người khiêm tốn nhận hồng ân ấy. Còn người kiêu căng thì không. Người nhận hồng ân Đức Tin thì con mắt được ánh sáng Chúa mở ra để nhìn thấy điều mà lâu nay con mắt loài người có nhìn cũng không thấy:

Thấy công trình của Thiên Chúa mà tin kính, ngợi khen, chúc tụng, tri ân. Công trình của Ngài ngay trước mắt chúng ta trong mọi sự hiện hữu, ngay trong con người chúng ta, và trong cả những điều sẽ đến với chúng ta trên đường đời.

Thấy mình là vật mọn phàm hèn trước Thiên Chúa Toàn Năng. Thấy mình là loài thọ tạo mỏng giòn, yếu đuối, lại hay kiêu ngạo tày trời. Thấy mình là kẻ thọ ơn đã không biết đáp đền thế nào cho cân xứng lại còn bội nghĩa vong ân khi theo đường lối kẻ gian tà mà bất tín bất trung.

Thấy mình được Chúa yêu thương. Người quan phòng gìn giữ mình trong mọi tình huống cuộc đời, dẫu là gian nan đau khổ, an nhàn thư thái, hay cả những xót xa bất ngờ đều có thể nhìn ra được tình thương của Chúa.

Thấy nhu cầu của đồng loại mà biết sẻ chia. Từ cơm bánh của nuôi phần xác đến niềm vui của Đức Tin mang lại, đều có thể chia sẻ cho nhau, chia sẻ lời kinh nguyện, chia sẻ lòng Tin, lòng Mến, lòng Cậy…

Thấy và phân biệt được đâu là lẽ phải, là chân lý, là sự thiện nên làm, đâu là điều sai trái, là bất công gian tà, là sự ác độc mà nên tránh. Bao lâu người ta còn chấp nhận để những sự ác song hành với sự thiện, mà không chịu trừ khử nó đi, thì bấy lâu vẫn còn là kẻ mù quáng đi giữa ban ngày.

Thấy và nhìn ra sự hiện diện của Chúa trong anh em đồng loại, nhìn ra vẻ đẹp tốt lành tự nhiên của các tôn giáo bạn, nhìn ra được những giá trị nhân văn nơi những ý hướng ngay lành nhắm đến phát triển con người toàn diện, nhìn ra được thiện chí của những người giác ngộ sự mê lầm của mình…

Ôi, còn bao nhiêu điều mà một Kitô Hữu phải nhìn thấy bằng con mắt đã được Chúa Giêsu chữa cho lành nhờ ân sủng và Lời Chúa:

– Thấy sự chết là lối vào của sự sống ngàn thu mà tạ ơn Thiên Chúa.
– Thấy thất bại là cái búa đập tan tành cái tôi kiêu ngạo trong ta mà tạ ơn Chúa
– Thấy đau khổ là đường đưa đến vinh quang hạnh phúc mà tạ ơn Chúa.
– Thấy bức bách, nhục mạ, khinh khi là Thánh Giá, là ơn Cứu Chuộc mà tạ ơn Chúa.
– Thấy mỗi lần từ bỏ những sự phù vân vì Chúa Kitô, là mỗi lần nhận lại niềm vui bình an vĩnh cửu, chắc chắn…

Hôm nay, người mù mang tên Bartimê kia đã tìm được ánh sáng nhờ Tin vào Chúa Giêsu đầy lòng thương xót (x. Mc 10,46-52).

Hôm nay, cùng là ngày mỗi chúng ta kiểm tra lại con mắt Đức Tin của mình, xin Chúa chữa lành sự mù loà tăm tối trong lòng mình.
 
Lạy Cha giàu lòng thương xót, chúng con tin rằng xưa trong Cựu Ước, Thiên Chúa đã giải thoát Dân Chúa khỏi kiếp nô lệ, lưu đày và dẫn đưa tất cả kẻ đui mù, què quặt về Đất Hứa, không loại trừ ai (x. Gr 31,7-9), đến thời Chúa Giêsu, Người lại đã thương xót cho anh mù Bartimê được nhìn thấy. Xin Cha cho chúng con có lòng tin, lòng khát khao, và lòng khiêm tốn để quỳ xin Cha chữa lành đôi mắt tâm linh mù loà của chúng con. Amen.

 
PM Cao Huy Hoàng

MÙ THÀNH SÁNG – SÁNG HOÁ MÙ!

 MÙ THÀNH SÁNG – SÁNG HOÁ MÙ!

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN NĂM B (28/10/2012)
[Gr 31,7-9; Dt 5,1-6; Mc 10,46-52]

Bài Tin Mừng hôm nay (Mc 10, 46-52) trình thuật phép lạ Đức Giê-su chữa lành một người mù ở Giê-ri-khô. Anh tên là Ba-ti-mê, con ông Ti-mê. Có một điều rất đáng lưu ý là khi anh kêu to lên: "Lạy ông Giê-su, Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!" thì liền bị đám người Pha-ri-sêu quát nạt, bảo anh ta im đi. Đám người Pha-ri-sêu này là ai mà hống hách vậy? Họ chính là nhóm người cùng với nhóm Xa-đốc bị thánh Gio-an Tẩy giả gọi là “rắn độc” (“Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêu và phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng: "Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” – Mt 3, 7). Họ sợ Đức Giê-su có thêm cơ hội làm phép lạ khiến Người nổi tiếng và có ảnh hưởng trên dân chúng nhiều hơn. Họ muốn độc quyền chiếm lĩnh cảm tình của cộng đồng. Hành động đó nào có khác chi nòi rắn độc!
 
Đáng lẽ  đám người Pha-ri-sêu này (cùng với nhóm Xa-đốc) phải hiểu được rằng họ “… là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội. Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối; mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy” (Dt 5, 1-3). Nhưng họ đã không làm thế – không muốn Đức Giê-su có ảnh hưởng trong xã hội vì lời giảng dạy và những phép lạ của Người – mà còn muốn truyền nọc độc từ nơi họ sang người khác. Gọi họ là rắn độc là quá đúng. Trước những con rắn độc ấy, đáng lẽ anh mù phải sợ, vì họ có quyền thế về tôn giáo. Họ có thể – nói theo kiểu hiện đại – “dứt phép thông công” anh ngay lập tức, khiến anh bị cô lập giữa những người đồng đạo và đời anh đã khốn khổ sẽ càng thêm khốn khổ. Nhưng anh đã không sợ hãi và càng kêu lớn tiếng hơn: "Lạy Con vua Đa-vít, xin dủ lòng thương tôi!" Sự can đảm ấy của anh đã được Đức Giê-su chúc lành: "Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu anh!" Và thế là “Tức khắc, anh ta nhìn thấy được và đi theo Người trên con đường Người đi.”
 
Chợt nhớ tới một lần khác, Đức Giê-su chữa lành cho một người mù bẩm sinh (Ga 9, 1-41). Cũng lại là đám người Pha-ri-sêu tra vấn, vặn hỏi bệnh nhân (kể cả cha mẹ anh ta nữa) đủ điều, và cuối cùng trục xuất anh ra khỏi hội đường (“dứt phép thông công” đấy!). Nghe tin ấy, Đức Giê-su gặp lại anh mù, Người hỏi: "Anh có tin vào Con Người không?" Anh hỏi lại: "Thưa Ngài, Đấng ấy là ai để tôi tin?" Đức Giê-su trả lời: "Anh đã thấy Người. Chính Người đang nói với anh đây." Anh nói: "Thưa Ngài, tôi tin." Rồi anh sấp mình xuống trước mặt Người" (Ga 9, 35-38). Căn cứ trên sự kiện hiển nhiên đó, Đức Ki-tô khẳng định: "Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy, và kẻ xem thấy lại nên đui mù!" (Ga 9, 39). Lời nói này "chạm nọc" đám người Pha-ri-sêu, khiến họ "có tật thì giật mình", liền ngớ người ra và hỏi lại: "Thế ra cả chúng tôi cũng đui mù hay sao?" khiến “Đức Giê-su bảo họ: "Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: "Chúng tôi thấy", nên tội các ông vẫn còn!" (Ga 9, 40-41).
 
Rõ ràng Đức Ki-tô muốn cho đám người Pha-ri-sêu biết rằng nếu phạm tội vì không biết đó là tội – phạm tội do vô tình (vì bị mù, không xem thấy) – thì không cấu thành tội; còn nếu đã biết đó là tội – đã dám tư xưng là "Chúng tôi thấy" – mà còn cố ý phạm, thì mới thực sự là có tội. Như thế thì cũng chẳng khác nào nói: Anh mù vì tin mà được sáng mắt, nhưng nhóm người Pha-ri-sêu mắt vẫn sáng, nhưng không tin, nên cũng chẳng khác kẻ đui mù. “Thấy mà không thấy – không thấy mà thấy”, đó là một nghịch lý trong cuộc sống, nhưng lại là “chuyện thường ngày ở huỵện”. Trường hợp thánh Phao-lô với biến cố Đa-mát là một minh hoạ sống động: Khi còn sáng mắt (thể lý) nhưng vì nhiễm phải giáo lý sai lầm của Pha-ri-sêu nên Sao-lô cũng chẳng khác chi người mù (mù nội tâm). Đến khi bị ánh sáng chói loà làm mù mắt (mù thể lý) ở Đa-mát thì lại là lúc được sáng mắt sáng lòng (tâm linh). Cuối cùng, cả mù thể lý lẫn mù nội tâm đều được chữa lành và trở thành một Tông đồ dân ngoại kiệt xuất Phao-lô.
 
Thật là thú vị! Những người "sáng mắt" thuộc Kinh Thánh làu làu, từng đứng trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy, lúc nào cũng huênh hoang "chúng ta là môn đệ của ông Mô-sê", thì lại không biết gì về Con Người đã được ông Mô-sê (nhờ được Thiên Chúa mạc khải) tiên báo ("Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đã nói với ông Mô-sê; nhưng chúng ta không biết ông Giê-su ấy bởi đâu mà đến." – Ga 9, 28-29). Trong khi đó, một anh mù từ lúc mới sinh (chắc chắn không được học hành và giả thử có được học thì cũng chẳng tới đâu) lại biết về Thiên Chúa còn hơn cả đám người sáng mắt ("Kể cũng lạ thật! Các ông không biết ông ấy bởi đâu mà đến, thế mà ông ấy lại là người đã mở mắt tôi! Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy. Xưa nay chưa hề nghe nói có ai đã mở mắt cho người mù từ lúc mới sinh. Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì" – Ga 9, 30-33). Chẳng cần lý luận đanh thép, lý thuyết sâu xa, mà chỉ căn cứ vào thực tế (anh được chữa khỏi bệnh mù), mà anh mù đã khiến đám Pha-ri-sêu lâm vào thế bí, phát khùng ("Họ đối lại: "Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mày lại muốn làm thầy chúng ta ư?" – Ga 9, 34), và đành giở chiêu quyền lực trục xuất anh khỏi hội đường! Thế đấy! Như vậy thì ai sáng, ai mù thực sự đây?
 
Chung quy thì cũng chỉ vì vấn đề cốt tuỷ:  đức tin. Anh mù được chữa lành bởi anh tin vào Con Người; mà cũng không phải chỉ riêng anh, tất cả những người bệnh hoạn, tật nguyền đến với Đức Ki-tô đều được chữa lành vì “Đức tin của anh em đã chữa lành anh em”. Còn đám người Pha-ri-sêu thì mù vẫn hoàn mù, bởi họ không tin vào Con Nguời, mà chỉ tin vào những giáo lý sai lầm như thánh Phao-lô trước biến cố Đa-mát vậy. Nói đi nói lại không gì bằng mượn chính ngay lời người mắc bệnh mù nội tâmvà được chữa lành, để minh hoạ: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng. Vậy anh em hãy ăn ở như con cái ánh sáng; mà ánh sáng đem lại tất cả những gì là lương thiện, công chính và chân thật. Anh em hãy xem điều gì đẹp lòng Chúa. Đừng cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối, phải vạch trần những việc ấy ra mới đúng. Vì những việc chúng làm lén lút, thì nói đến đã là nhục rồi. Nhưng tất cả những gì bị vạch trần, đều do ánh sáng làm lộ ra; mà bất cứ điều gì lộ ra, thì trở nên ánh sáng. Bởi vậy, có lời chép rằng: Tỉnh giấc đi, hỡi người còn đang ngủ! Từ chốn tử vong, trỗi dậy đi nào! Đức Ki-tô sẽ chiếu sáng ngươi!” (Ep 5, 8-14).
 
Ôi! Lạy Chúa! Cảnh người mù kêu cầu Chúa chữa lành, bị bọn người Pha-ri-sêu quát nạt, tra vấn vặn hỏi đủ điều, vẫn hằng xảy ra trong thế giới hôm nay. Là những người theo Chúa, nhưng chúng con vẫn còn mê ngủ, vẫn luôn “cộng tác vào những việc vô ích của con cái bóng tối , mà chẳng thấy được ánh sáng của Lời Chúa. Chúng con chẳng muốn quan tâm tới những người nghèo khổ, bệnh tật, những kẻ bị áp bức bất công, mà chỉ thích bắt chước những người Pha-ri-sêu chú trọng đến những hình thức hào nhoáng bên ngoài (những cái áo loè loẹt, những bộ vó sặc sỡ…), và nhất là bo bo thủ cựu với những quan niệm hủ hoá lỗi thời… Phải chăng chúng con thiếu đức tin và nghèo tình thương? Và cũng chính vì thế mà chúng con mắt vẫn sáng, tai vẫn thính, miệng vẫn nói năng lưu loát, nhưng lại thực sự là những kẻ đui mù câm điếc tâm linh.
 
Ôi! “Lạy Chúa, Chúa muốn cho mọi người nhận biết Chúa chính là lẽ sống của mình, và Chúa không hề bỏ rơi con cái Chúa. Xin ban cho các anh chị em yếu đau bệnh tật và đang gặp hoạn nạn có thêm nghị lực để phấn đấu. Giữa cơn đau khổ, xin cho họ nghiệm thấy rằng có Chúa luôn luôn ở kề bên nhờ những anh chị em hết tình nâng đỡ và nhờ niềm trông cậy họ đặt nơi Đức Ki-tô. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen” (Lời nguyện Nhập lễ, lễ cầu cho bệnh nhân).

JM. Lam Thy ĐVD

Đức tin là một ơn của Thiên Chúa, nhưng cũng là một hành động tự do sâu xa của con người

Đức tin là một ơn của Thiên Chúa, nhưng cũng là một hành động tự do sâu xa của con người

Đức tin là một ơn của Thiên Chúa, nhưng cũng là một hành động tự do sâu xa của con người, tín thác nơi Thiên Chúa, là Đấng yêu thương nó.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trước hơn 40.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư 24 tháng 10-2012 tại quảng trường thánh Phêrô. Ngoài các đoàn hành hương Bắc Mỹ và Âu châu có các đoàn hành hương Á châu như Indonesia, Nhật Bản, và Philippines. Từ Phi châu có đoàn hành hương Nigeria. Từ châu Mỹ Latinh có các đoàn hành hương Panama, Mexico và Argentina.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài ý nghĩa của đức tin kitô trong thời đại ngày nay. Trong một thế giới trong đó khoa học và kỹ thuật đã mở ra các chân trời không thể nghĩ tới cho tới cách đây ít lấu, tin có nghĩa là gì? Đức Thánh Cha đã nhận định tình hình ngày nay như sau:

Ngày nay cùng với nhiều dấu chỉ sự thiện, gia tăng chung quanh chúng ta một sa mạc tinh thần nào đó. Từ vài biến cố mà chúng ta biết tin tức ngày nay, đôi khi người ta có cảm tưởng rằng thế giới không đi tới việc xây dựng một cộng đoàn huynh đệ và hòa bình hơn. Các tư tưởng về tiến bộ và hạnh phúc cho thấy các bóng đen của chúng. Mặc dù sự cao cả của các khám phá khoa học và các thành công của kỹ thuật, con người ngày nay xem ra đã không trở thành thực sự tự do và nhân bản hơn. Vì vẫn còn có các hình thức khai thác, lèo lái, bạo lực áp bức và bất công… Thế rồi có một loại văn hóa đã giáo dục con người chỉ di chuyển trên chiều ngang của các sự vật, của cái có thể làm được, chỉ tin nơi những gì nó thấy, và sờ mó được với bàn tay của nó.

Tuy nhiên, đàng khác cũng gia tăng số những người cảm thấy lạc hướng, và trong việc tìm kiếm họ đi xa hơn viễn tượng hàng ngang của thực tại. Họ sẵn sàng tin vào tất cả và cái trái nghịch của nó. Chính trong bối cảnh này nổi lên vài vấn nạn nền tảng, cụ thể như: sống có ý nghĩa gì? Có một tương lai cho con người, cho chúng ta và các thế hệ mới hay không? Phải hướng các lựa chọn tự do của chúng ta để thành công và hạnh phúc theo hướng nào? Cái gì chờ đợi chúng ta bên kia ngưỡng cửa của cái chết?

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha khẳng định rằng thế giới của việc kế hoạch hóa, của sự đo lường chính xác và của thực nghiệm, tắt một lời sự hiểu biết của khoa học, tuy quan trọng đối với cuộc sống con người, nhưng không đủ. Chúng ta không chỉ cần bánh vật chất, mà còn cần tình yêu thương, ý nghĩa và niềm hy vọng, một nền tảng và một vùng đất vững chắc giúp sống với một ý nghĩa đích thực, cả trong cuộc khủng hoảng, trong các đêm tối, các khó khăn và các vấn đề thường ngày nữa. Đức tin trao ban cho chúng ta điều đó: nó là sự tin tưởng tín thác nơi Thiên Chúa, Đấng trao ban cho tôi một sự chắc chắn khác, không kém vững vàng hơn sự chắc chắn đến từ sự tính toán chính xác của khoa học.

Đức tin không chỉ là một sự đồng ý đơn sơ thông minh của con người đối với các sự thật về Thiên Chúa. Nó là một cử chỉ, qua đó tôi tín thác một cách tự do nơi một vì Thiên Chúa là Cha yêu thương tôi. Nó là việc gắn bó với một Đấng trao ban cho tôi niềm hy vọng và sự tin tưởng. Với sự gắn bó ấy chúng ta ý thức được rằng chính Thiên Chúa đã tự tỏ lộ ra nơi Đức Kitô, đã cho thấy gương mặt của Người và thực sự sống gần gũi với từng người trong chúng ta. Còn hơn thế nữa, Thiên Chúa đã mạc khải tình yêu vô biên của Người đối với từng người trong chúng ta: trên thập giá, Đức Giêsu thành Nagiarét, Con Thiên Chúa làm người, cho chúng ta thấy một cách rạng ngời nhất tình yêu đó đạt tới mức độ tự hiến hoàn toàn chính mình. Với mầu nhiệm của Cái Chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô, Thiên Chúa xuống tới tột cùng trong nhân tính của chúng ta để nâng cao nó lên với Người. Đức tin là tin vào tình yêu ấy của Thiên Chúa, tình yêu không thuyên giảm trước cái gian ác của con người, trước sự dữ và cái chết, nhưng có khả năng biến đổi mọi hình thức nô lệ, bằng cách trao ban khả năng cứu rỗi. Và Đức Thánh Cha định nghĩa đức tin như sau:

Như thế tin là găp gỡ Thiên Chúa, Đấng nâng đỡ tôi và ban cho tôi lời hứa của một tình yêu không thể phá hủy, tình yêu không chỉ khát khao, mà còn trao ban sự vĩnh cửu. Tin là tín thác nơi Thiên Chúa với thái độ của một trẻ em, biết rõ rằng tất cả các khó khăn, các vấn đề của nó được yên hàn trong mẹ nó. Khả thể cứu rỗi đó nhờ đức tin là một ơn Thiên Chúa cống hiến cho tất cả mọi người. Trong cuộc sống thường ngày của chúng ta đầy các vấn đề và tình trạng đôi khi thê thảm, chúng ta phải năng suy niệm hơn về sự kiện tin theo tinh thần kitô có nghĩa là tin tưởng phó thác cho ý nghĩa sâu thẳm nâng đỡ chúng ta và thế giới, ý nghĩa mà chúng ta không thể tự ban cho mình, mà chỉ có thể lãnh nhận như một ơn, và nó là nền tảng giúp sống mà không sợ hãi. Và sự chắc chắn giải thoát và trấn an đó của đức tin chúng ta phải có khả năng loan báo bằng lời nói và cho thấy bắng cuộc sống kitô của chúng ta.

Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: Tuy nhiên, mỗi ngày chúng ta cũng thấy nhiều người thờ ơ hay khước từ tiếp nhận lời loan báo này. Vào cuối Phúc Âm thánh Marcô Chúa Giêsu khẳng định ”Ai tin và được rửa tội sẽ được cứu rỗi, nhưng ai không tin sẽ bị kết án” (Mc 16,16). Sự tin tưởng nơi Chúa Thánh Thần phải thúc đẩy chúng ta luôn ra đi rao giảng Phúc Âm, can đảm làm chứng cho đức tin. Nhưng ngoài khả thể trả lời tích cực cho ơn đức tin, cũng còn có nguy cơ khước từ Tin Mừng, không chấp nhận cuộc gặp gỡ sinh động với Chúa Kitô. Trong một chú giải dụ ngôn người gieo giống thánh Agostino đã đặt vấn nạn này và nói: ”Chúng ta nói, chúng ta ném và gieo vãi hạt giống. Có những người khinh rẻ, có những người trách mắng, có những người chế nhạo. Nếu chúng ta sợ họ, chúng ta sẽ chẳng còn có gì để gieo vãi nữa, và ngày gặt hái chúng ta sẽ không thu lượm được gì. Vì thế ước gì hạt giống đến từ đất tốt” (Discorsi sulla disciplina cristiana, 13,14; PL 40,677-678). Như thế, sự khước từ không thể làm cho chúng ta nản lòng. Như là kitô hữu chúng ta làm chứng cho thửa đất phì nhiêu ấy: tuy có các giới hạn, nhưng đức tin của chúng ta cho thấy có thửa đất tốt, nơi hạt giống Lời Chúa sinh bông hạt dồi dào của sự công chính, hòa bình và tình yêu thương, của nhân loại mới, của ơn cứu độ.

Nhưng từ đâu con người kín múc được tâm trí cởi mở ấy để tin nơi Thiên Chúa, là Đấng đã trở thành hữu hình nơi Đức Giêsu Kitô chết và sống lại, để tiếp nhận ơn cứu rỗi của Người, và để Người và Tin Mừng của Người hướng dẫn và là ánh sáng cho cuộc đời? Chúng ta có thể tin nơi Thiên Chúa vì Người đã tới gần chúng ta và đánh động chúng ta, bởi vì Chúa Thánh Thần, ơn của Đấng Phục Sinh, khiến cho chúng ta có khả năng tiếp nhận Thiên Chúa hằng sống. Như thế, đức tin trước hết là một ơn siêu nhiên của Thiên Chúa. Công Đồng Chung Vaticăng II khẳng định rằng: ”Để được niềm tin này cần có ân sủng của Thiên Chúa đi trước giúp đỡ và sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần: Ngài thúc đẩy và quy hướng con tim về cùng Thiên Chúa, mở mắt lý trí và ban cho mọi người cảm thấy sự dịu ngọt khi đón nhận tin theo chân lý” (Dei Verbum 5).

Trong nền tảng con đường đức tin của chúng ta có phép Rửa Tội, là bí tích trao ban cho chúng ta Chúa Thánh Thần, bằng cách làm cho chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa trong Đức Kitô, và ghi dấu việc gia nhập cộng đoàn đức tin, trong Giáo Hội. Ta không tự mình mà tin, không có ơn của Thánh Thần. Và ta không tin một mình, mà cùng tin với các anh chị em khác. Từ khi được rửa tội trở đi mỗi tín hữu được mời gọi sống trở lại và biến việc tuyên xưng đức tin ấy thành của mình cùng với các anh chị em khác. Đức Thánh Cha nói thêm như sau:

Đức tin là ơn của Thiên Chúa, nhưng cũng là cử chỉ tự do của con người một cách sâu xa nữa. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo nói rõ rằng: ”Không thể tin mà không có ơn thánh và các trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần. Nhưng cũng không kém thật tin là một hành động thật sự nhân bản. Nó không trái nghịch với sự tự do cũng như với trí thông minh của con người” (s. 154). Trái lại, nó bao hàm và nâng cao chúng lên, trong một sự đánh cá cuộc sống giống như một cuộc xuất hành của sự tự do: ra khỏi chính mình, ra khỏi các an ninh, các lược đồ trí tuệ của minh, để tín thác nơi hoạt động của Thiên Chúa, là Đấng chỉ cho chúng ta con đường đạt sự tự do đích thật, đạt căn tính là người của chúng ta, đạt niềm vui thật của con tim, đạt hòa bình với tất cả mọi người. Tin là tín thác, trong sự tự do hoàn toàn và với niềm vui, nơi chương trình quan phòng của Thiên Chúa trong lịch sử, như tổ phụ Abraham, như Đức Maria thành Nagiarét. Khi ấy đức tin là một sự đồng ý, qua đó tâm trí chúng ta nói lên tiếng ”vâng” với Thiên Chúa, bằng cách tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Chúa. Và tiếng ”vâng” ấy biến đổi cuộc sống, mở đường cho nó tiến tới ý nghĩa tràn đầy, và như vậy khiến cho nó được mới mẻ, phong phú niềm vui và hy vọng đáng tin.

Thời đại ngày nay đòi hỏi các kitô hữu được Chúa Kitô nắm bắt, và trưởng thành trong đức tin nhờ sự quen thuộc với Thánh Kinh và các Bí Tích, như một cuốn sách mở rộng kể lại kinh nghiệm sống mới trong Chúa Thánh Thần, kể lại sự hiện diện của Thiên Chúa, Đấng nâng đỡ chúng ta trên đường đời và mở ra cho chúng ta sự sống bất tận.

Đức Thánh Cha đã chào các tín hữu bằng các thứ tiếng Pháp, Anh, Đức, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ba Lan, Arab, Croatia, Tiệp Khắc và Ý rồi cất kinh Lạy Cha và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Linh Tiến Khải
 

 

Hoãn lại chuyến đi của Phái đoàn Tòa Thánh tại Siria

Hoãn lại chuyến đi của Phái đoàn Tòa Thánh tại Siria

VATICAN. ĐHY Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, thông báo chuyến đi của Phái đoàn Tòa Thánh và các nghị phụ tại Siria được hoãn lại đến sau Thượng HĐGM hiện nay.

Lên tiếng sáng ngày 23 tháng 10-2012 trong phiên khoáng đại thứ 19 của Thượng HĐGM, ĐHY Bertone nói:
”Thứ ba 16 tháng 10 vừa qua, trước công nghị GM này, tôi đã thông báo quyết định của ĐTC gửi một phái đoàn đến Damasco để bày tỏ tình liên đới của Ngài và của Thượng HĐGM cũng như của toàn thể Giáo Hội với dân chúng tại Siria từ lâu đang phải sống trong tình trạng đau khổ bi thảm, đồng thời bày tỏ sự gần gũi tinh thần của chúng ta với anh chị em tín hữu Kitô tại Siria, cũng như khích lệ những người đang dấn thân tìm kiếm một giải pháp tôn trọng các quyền lợi và nghĩa vụ của tất cả mọi người.

”Sáng kiến này đã có tiếng vang lớn, không những tại Roma này hoặc tại Siria, nhưng cả trên cấp độ quốc tế, và nhận được sự hưởng ứng tích cực.

”Trước tiên tôi muốn thông báo cho anh chị em rằng tiếp theo đó, vấn đề tiếp tục được nghiên cứu và chuẩn bị cho cuộc viếng thăm, mặc dù có những biến cố bi thảm xảy ra trong những ngày qua.

”Như đã biết, có một ước muốn nồng nhiệt biểu lộ sự gần gũi của Tòa Thánh và Giáo Hội hoàn vũ qua một Phái đoàn đến Damasco trong thời gian và theo thể thức đã được loan báo trước, sau khi đã được xác định dưới ánh sáng những cuộc tiếp xúc và chuẩn bị đang được thực hiện. Xét vì tình trạng trầm trọng, nên cuộc viếng thăm sẽ được hoãn lại, có lẽ là sau khi Thượng HĐGM kết thúc, như thế sẽ có vài thay đổi trong thành phần của Phái đoàn, cũng vì công việc của các nghị phụ.

”Số tiền do các nghị phụ đóng góp cùng với số tiền do Tòa Thánh tặng sẽ được gửi tới Siria, sau Thượng HĐGM này, như một cử chỉ huynh đệ liên đới với toàn thể dân chúng tại Siria.

”Sự dấn thân cầu nguyện vẫn được tiếp tục, lời cầu nguyện luôn được Chúa lắng nghe và tôi mời gọi quí vị hiệp với chúng tôi trong niềm tín thác được đổi mới.

Danh sách thống nhất các đề nghị

Trong phiên họp, trước sự hiện diện của ĐTC và dưới quyền chủ tọa của ĐHY Laurent Monsengwo, TGM Kinshasa Congo, ĐHY Donald Wuerl, Tổng tường trình viên, và vị Tổng thư ký đặc biệt là Đức TGM Pierre-Marie Carré, TGM Montpellier, đã trình bày danh sách duy nhất các đề nghị đã được đúc kết trong ngày hôm trước. Danh sách đó được phát cho các nghị phụ để nghiên cứu riêng và chuẩn bị những gì cần tu chính. Các vị có thể trình bày trong các phiên họp nhóm.

Tiếp đến, các vị tiến hành việc bầu cử vòng hai để chọn 12 thành viên của Hội đồng hậu Thượng HĐGM hiện nay vì vòng đầu không có nghị phụ nào hội đủ đa số tuyệt đối để đắc cử. Cùng với 3 vị sẽ được ĐTC bổ nhiệm, Hội đồng này có nhiệm vụ tiếp nối công việc sau đó của Thượng HĐGM thế giới kỳ thứ 13, trợ giúp ĐTC soạn thảo Tông Huấn, cũng như chuẩn bị cho Thượng HĐGM thế giới kỳ thứ 14 trong tương lai.

Sau công việc trên đây, các nghị phụ lại họp trong 12 nhóm nhỏ cho đến trưa và cả ban chiều để chuẩn bị sửa chữa các đề nghị.

Các đề nghị này sẽ được bỏ phiếu chung kết trong phiên khoáng đại thứ 22 sáng thứ bẩy, 27 tháng 10 tới đây, để sau đó đệ lên ĐTC, ngài sẽ dựa vào đó để soạn Tông Huấn hậu Thượng HĐGM này. (SD 23-10-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

Sinh hoạt Thượng HĐGM thế giới kỳ thứ 13: 22-10-2012

Sinh hoạt Thượng HĐGM thế giới kỳ thứ 13: ngày 22-10-2012

VATICAN. Thượng HĐGM thế giới kỳ thứ 13 ”bước vào giai đoạn” thầm lặng nhất: suy tư, soạn thảo để đưa ra những đề nghị cụ thể.

Trọn ngày 22 tháng 10-2012, gần 260 nghị phụ Thượng HĐGM thứ 13 không nhóm họp, nhưng các vị tường trình viên của 12 nhóm nghị phụ đã họp cả sáng lẫn chiều với Đức TGM Eterovic Tổng thư ký Thượng HĐGM thế giới, và Đức Cha Pierre-Marie Carré, TGM giáo phận Monpellier, Tổng thư ký đặc biệt của Thượng HĐGM này, để đúc kết các đề nghị do các nhóm đề ra thành một danh sách duy nhất, hầu đệ trình toàn thể các nghị phụ trong phiên khoáng đại thứ 19 vào sáng thứ ba 23 tháng 10-2012.

Trong khi đó, Phái đoàn Tòa Thánh gồm 7 vị do ĐHY Laurent Monsenwo, TGM Kinshasa, Chủ tịch thừa ủy của Thượng HĐGM và trong đó có Đức cha Nguyễn Năng, đang chuẩn bị lên đường sang thăm Siri. Tuy nhiên, tình hình địa phương trở nên căng thẳng hơn với các cuộc khủng bố tại các khu vực Kitô giáo, nên cho đến hôm 22 tháng 10, người ta chưa biết ngày lên đường của Phái đoàn.

Vài bài phát biểu

Sau đây chúng tôi xin gửi đến quí vị ý kiến của một số tham dự viên Thượng HĐGM hiện, được giới báo chí đặc biệt chú ý.

 

  • Anh Tommaso Spinelli 23 tuổi, là người trẻ nhất tại Thượng HĐGM hiện nay. Anh thuộc Văn phòng giáo lý của giáo phận Roma và chuyên dạy giáo lý cho người trẻ dự tòng. Anh cầu mong có những linh mục vững chắc và can đảm.

Trong bài tham luận, anh Spinelli nói với các nghị phụ: ”Công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng cần có chất lượng: cần việc huấn giáo có bề dầy, biết nói một cái gì nghiêm túc đối với cuộc sống chúng ta, và nhất là cần những chứng tá cuộc sống Kitô có bề dầy, chứng tỏ bằng sự kiện sự vững chắc. Nhất là vì ngày nay các gia đình bị chia rẽ và thường từ bỏ vai trò giáo dục của mình, nên cần có những linh mục chứng tỏ cho người trẻ sự trung thành với ơn gọi và khả năng chọn lựa một cách sống khác, đẹp đẽ hơn so với những gì xã hội đề nghị. Nhưng điều làm con lo âu là những nhân vật có bề dầy như thế đang trở thành thiểu số. LM không còn tin tưởng nơi tầm quan trọng của sứ vụ mình thực hiện, đánh mất đoàn sủng và văn hóa. Con thấy các linh mục chiều theo tư tưởng thịnh hành thời nay. Và điều đó con cũng thấy trong các buổi cử hành phụng vụ, qua đó người ta tìm những gì là độc đáo, khiến phụng vụ trở thành vô nghĩa. Thưa các LM, con xin các cha tìm lại can đảm là chính mình, là LM đích thực, và nơi nào mà các cha đề nghị cho người trẻ chân lý đức tin không chút sợ hãi, thì người trẻ chúng con sẽ theo các cha. Những lời của thánh Phêrô cũng là những lời của người trẻ chúng con: ”Lạy Chúa chúng con biết theo ai bây giờ? Chỉ mình Thầy mới có những lời ban sự sống đời đời”. Và chúng con khao khát vô biên những gì là vĩnh cửu, là chân thực. Vì thế, con đề nghị:

Thứ I: tăng cường việc đào tạo linh mục, không những về linh đạo nhưng cả về văn hóa nữa. Quá nhiều khi chúng con thấy những linh mục đã đánh mất vai trò là những thầy dậy văn hóa đã từng làm cho các vị trở thành quan trọng cho toàn thể xã hội. Ngày nay, nếu chúng ta muốn được tin cậy và hữu ích, thì chúng ta cần có những dụng cụ văn hóa tốt.

Thứ II là tái khám phá sách Giáo lý của Hội Thánh Công Giáo trong đặc tính Công đồng của sách này: đặc biệt là phần thứ nhất của mỗi thiên, trong đó các văn kiện Công đồng soi sáng các đề tài truyền thống. Thực vậy, sách giáo lý đã khôn ngoan đặt trước phần giải thích kinh Tin Kính một phần được gợi hứng từ Hiến Chế Dei Verbum (Lời Chúa), trong đó có giải thích cái nhìn duy nhân vị về mạc khải, … Phần thứ I của mỗi thiên của sách Giáo Lý là điều cơ bản vì con người ngày nay cảm thấy đức tin như một cái gì có liên hệ gần gũi với họ và có khả năng mang lại câu trả lời cho những vấn nạn sâu xa nhát của họ.

Thứ III, là phụng vụ: quá nhiều khi phụng vụ bị lơ là và làm mất tính chất thánh thiêng. Cần đặt phụng vụ ở trung tâm của cộng đồng giáo xứ cũng như địa phương.
 

  • Tu Huynh Alvaro Antonio Rodriguez Echeverría, người Costa Rica, Bề trên Tổng quyền dòng Sư Huynh các trường Công Giáo, trong bài phát biểu, đã đặc biết đề cao tầm quan trọng của giới trẻ. Thầy nói:

”Bản thân con, con nghĩ rằng các thế hệ trẻ, không phân biệt đại lục hoặc những khác biệt văn hóa, phải là lãnh vực hoạt động ưu tiên của công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng, không những như những người thụ động lãnh nhận, trái lại như những tác nhân tích cực, như lời Đức Gioan Phaolô 2 quả quyết rằng người trẻ là những tông đồ tốt nhất cho giới trẻ. Sự hiện diện của người trẻ và một lời của họ trong Thượng HĐGM này có lẽ giúp chúng ta có một cái nhìn sáng suốt hơn về tương lai.

Về phần chúng ta, điều quan trọng là biết thế giới người trẻ và nỗ lực hội nhập văn hóa nơi họ. Biết những nhu cầu, lo âu, băn khoăn, khát mong và hy vọng của họ, trao tặng họ Phúc Âm luôn luôn là Tin Mừng. Điều quan trọng là khởi hành từ cuộc sống, vì người trẻ không quan tâm tới sứ điệp Kitô nếu sứ điệp này được trình bày cho lý trí họ như một ý thức hệ, được áp đặt từ bên ngoài một cách độc đoán, hoặc khởi hành từ những nguyên tắc tách rời khỏi đời sống thực tế. Vì thế, vai trò chính yếu của chúng ta là giúp mỗi người trẻ cảm thấy được yêu mến, quí chuộng, được chúc phúc và cảm thấy mình là quan trọng và cần thiết cho tha nhân.

Việc tái truyền giảng Tin Mừng cho người trẻ của chúng ta và cho những người tháp tùng họ phải là một lời kêu gọi trở về với Tin Mừng và khám phá rằng nòng cốt đức tin của chúng ta là một cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô dẫn tới một cộng đoàn các môn đệ. Sứ mạng của chúng ta đối với người trẻ là trở thành những người đồng hành với họ trong cuộc tìm kiếm, là những nhà hướng đạo khiêm tốn giúp khá phá một con và mang lại một ý nghĩa cho cuộc sống. Thay vì là những thầy dậy từ trên cao hoặc là những người phán xét và lên án từ bên ngoài,chúng ta được kêu gọi trở thành anh chị tháp tùng từ bên trong. Người trẻ là một tin vui cho thế giới, nhưng chúng ta phải tự hỏi làm thế nào để Tin Mừng của Chúa Giêsu là tin vui đối với họ. Trong một thời đại như ngày nay trong đó người trẻ đang tìm một cái gì hơn nữa và cởi mở đối với linh đạo, chún gta phải giáo dục họ gặp gỡ Thiên Chúa trong thẳm sâu tâm hồn họ, có sức làm đầy sự trống rỗng trong cuộc sống và giúp họ như Chúa Giêsu đã làm, nhìn thực tại và cảm động trước thực tại đó và dấn thân trong một hoạt động biến đổi.
 

  • ĐHY Antonio Maria Vegliò, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh mục vụ di dân và người lưu động, trong bài tham luận tại Thượng HĐGM, đã nhấn mạnh đến khía cạnh tích cực của hiện tượng di dân như một cơ hội đầy ý nghĩa đối với công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng, vì môi trường này có những người nam nữ, già trẻ, trải qua những kinh nghiệm mạnh mẽ về cuộc sống, với những dự phóng, tình trạng bất an và đau khổ, làm nổi bật những vấn nạn cấp thiết nhất về đời sốgn của họ và họ cảm thấy cần phải mang lại một ý nghĩa cho cuộc sống thường nhật của họ. Đứng trước những vấn nạn sâu xa, đức tin được coi như câu trả lời giải thích được những vấn nạn ấy, soi sáng và làm cho chúng được tràn đầy ý nghĩa, và Chúa Kitô xuất hiện như chìa khóa tuyệt hải để đọc cuộc sống con người.

ĐHY Vegliò cho biết Hội đồng Tòa Thánh mục vụ di dân và người lưu động muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của hiện tượng di dận, và toàn thể lãnh vực lưu động của con người. Lãnh vực này mang lại cho Giáo Hội những cơ hội mới để rao giảng Tin Mừng. Đối với những người không biết Chúa Kitô và định cư tại những nước có truyền thống Kitô giáo, có một thách đố được đề ra đó là làm sao trình bày cho những người di dân huấn giáo Kitô. Đàng khác, những người di dân đã được rao giảng Tin Mừng tại quốc gia nguyên quán họ có nhu cầu cần được tháp tùng về mục vụ, giúp họ duy trì đức tin kiên vững, trong khi họ cũng có thể trở thành những người rao giảng Tin Mừng.

Hiện tượng di dân cũng đặt vấn đề cho cả các cộng đoàn tiếp cư, bó buộc họ không những phải xét lại những đề nghị rao giảng Tin Mừng, nhưng còn thử thách chính niềm tin của các phần tử của mình, đặc biệt là trong lúc phải loan báo đức tin cho tha nhân.

Do quan hệ không thể tách rời giữa lòng mến Chúa và yêu người, sự hiện diện của những người lưu động cũng đòi Giáo Hội phải có một câu trả lời liên đới, câu trả lời này đồng thời cũng có đặc tính rao giảng Tin Mừng, vì đức bác ái ”là loan báo và làm chứng về đức tin” (ĐTC Biển Đức 16, Caritas in veritate, n.15). Lãnh vực đau khổ và liên đới chính là một môi trường để đối thoại với thế giới và làm chứng tá về đức tin, nơi mà đức bác ái là dụng cụ cơ bản để tái truyền giảng Tin Mừng.

Thách đố chính là làm sao biết dung hợp và liên kết hai khía cạnh không thể tách rời, đó là sự rao giảng Tin Mừng một cách minh nhiên và thăng tiến con người, tránh thu hẹp hoạt động của chúng ta vào một trong hai, hoặc chỉ hài lòng với việc làm chứng tá âm thầm hoặc chỉ rao giảng Tin Mừng một cách hiểu ngậm.

Thực vậy nơi những nhân viên mục vụ thuộc lãnh vực này, càng ngày người ta càng ý thức rằng mối quan tâm về xã hội và việc loan báo Tin Mừng đích thị đều thuộc về sứ vụ được ủy thác cho họ.

Trong bối cảnh sự di động của con người, cả các cuộc hành hương cũng là một cánh đồng thuận lợi cho việc tái truyền giảng Tin Mừng. Trong những thập niên gần đây chúng ta đã ý thức về khả thể này, đi từ việc thực hành những việc sùng mộ đến một nền mục vụ hành hương, khám phá thấy rằng cuộc hành hương trở thành một cơ hội để canh tân đức tin và cũng có thể là dịp truyền giảng Tin Mừng lần đầu tiên. Theo nghĩa đó, tôi nhấn mạnh 5 ý tưởng có thể được đào sâu: trước tiên cần sử dụng khả năng thu hút đến hành hương tại Đền thánh; tiếp đến chúng ta cần chăm sóc việc mục vụ đón tiếp, đáp những theo những câu hỏi nảy sinh từ tâm hồn người hành hương, để ý điều này là đề nghị của chúng ta phải trung thành với đặc tính Kitô của cuộc hành hương, không thu hẹp, và sau cùng là giúp tín hữu hành hương khám phá rằng hành trình của họ có một mục đích rõ ràng.

Vì tất cả những điều đó, hiện tượng di động hiện nay của con người chắc chắn là một cơ hội Chúa ban để loan báo Tin Mừng trong thế giới ngày nay.

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican
 

 

Ý Nghĩa Của Tin Mừng (Evangelium) – Bài Suy Niệm Của Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16

Ý Nghĩa Của Tin Mừng (Evangelium) – Bài Suy Niệm Của Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16

Trong dịp khai mạc Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới lần thứ 13, Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 đã chia sẻ một bài Suy niệm với các tham dự viên tham dự hội nghị. Với một tri thức uyên thâm về nhiều lĩnh vực, Đức Biển Đức 16 đã phân tích rất sâu sắc ý nghĩa của từ ngữ Tin Mừng (Evangelium), và ngang qua việc suy niệm về Tụng ca "Nunc, Sancte, nobis Spiritus," Ngài đã làm nổi bật bản chất của sứ mạng truyền giáo, đó là công trình của Thiên Chúa, được Thiên Chúa khởi sự và chỉ có Ngài mới có thể làm cho nó nên trọn; nhưng đồng thời Ngài cũng mời gọi sự cộng tác của con người. Con người cộng tác trước hết ngang qua lời tuyên xưng đức tin, một lời tuyên xưng được cắm rễ sâu trong tận con tim và được tuyên xưng ra ngoài môi miệng và kế đến là để Thánh Linh thắp lên ngọn lửa đức ái trong trái tim mình để có thể làm bùng cháy ngọn lửa nơi tha nhân. Sau đây là bản dịch nguyên văn của bài suy niệm này.

Thưa anh chị em,
Hôm nay, trong bài suy niệm của mình tôi sẽ đề cập đến từ ngữ Tin Mừng "Evangelium" "euangelisasthai" (cf. Lk 4:18). Trong Thượng Hội Đồng này, chúng ta muốn hiểu rõ hơn điều Thiên Chúa muốn nói với chúng ta và điều gì chúng ta có thể và sẽ phải làm. Bài suy niệm của tôi chia làm hai phần: trước hết là việc phản tỉnh về ý nghĩa của những từ ngữ này; sau đó, tôi sẽ nỗ lực để giải thích bài Tụng ca "Nunc, Sancte, nobis Spiritus," trong trang thứ 5 của cuốn Sách Nguyện.

Từ ngữ “Tin Mừng” (Evangelium, euangelisasthai) có một lịch sử rất xa xưa. Từ này xuất hiện trong tác phẩm của Homer: đó là lời loan tin chiến thắng, tin tốt lành, tin vui, tin hạnh phúc. Về sau, từ ngữ “Tin Mừng” này xuất hiện trong Isaia Đệ Nhị (cf Is 40,9), như một tiếng nói loan truyền niềm vui từ Thiên Chúa; tiếng nói ấy cho thấy rằng Thiên Chúa đã không lãng quên con người, rằng Thiên Chúa có vẻ như đã rút lui khỏi lịch sử nhưng thật ra Ngài vẫn có đó và vẫn luôn hiện diện. Thiên Chúa vẫn đầy sức mạnh, Ngài trao ban niềm vui và mở toang cánh cửa lưu đày. Sau đêm dài của thời lưu đày, ánh sáng của Ngài lại xuất hiện để giúp cho dân Ngài có thể trở về để làm mới lại lịch sử của những điều tốt lành, lịch sử của tình yêu. Như vậy, trong bối cảnh của Tin Mừng Hóa, ta thấy sự xuất hiện của ba từ ngữ: dikaiosyne, eirene, soteria (công chính, hòa bình và cứu độ). Tại Nazaret Đức Giê-su đã sử dụng lời của Isaia, khi Ngài nói về “Tin Mừng” mà Ngài mang đến lúc này cho những người bị loại trừ, bị giam cầm, bị áp bức và những người nghèo khổ.

Tuy nhiên, để hiểu được ý nghĩa của từ “Tin Mừng” trong Tân Ước, ngoài những ý nghĩa mà sách Isaia Đệ Nhị đã mở ra, cũng cần để ý đến cách sử dụng từ này trong Đế Quốc Roma, khởi đi từ Hoàng đế Augusto. Thời ấy, thuật ngữ “Tin Mừng” được dùng để chỉ về một lời hay một sứ điệp của Hoàng Đế. Vì thế, đây là sứ điệp mang lại sự tốt lành: là một sự đổi mới thế giới, là tin cứu độ. Hơn nữa, vì là sứ điệp của Hoàng Đế nên nó có sức mạnh và quyền lực, nó là sứ điệp cứu độ, canh tân và chữa lành. Các sách Tân Ước đã thu nhận nghĩa này. Thánh Luca đã minh nhiên so sánh Hoàng Đế Augusto với Hài Nhi được sinh ra ở Belem: “Tin Mừng” chính là lời của Hoàng Đế, một vị Vua đích thực của thế giới. Vị Vua đích thực này đã tỏ mình ra và đã nói với chúng ta. Và sự kiện này tự nó là một ơn cứu độ. Thật vậy, đau khổ lớn nhất của con người thời ấy cũng như con người ngày nay đó là nỗi nghi vấn: Đằng sau cái vẻ thinh lặng của vũ trụ, đằng sau những đám mây mù của lịch sử, liệu có một Thiên Chúa hay chăng? Và nếu có, vị Thiên Chúa này có biết chúng ta, có liên quan gì đến chúng ta không? Vị Thiên Chúa này có phải là một Đấng tốt lành không? Và những điều tốt lành có chút ảnh hưởng gì trong thế giới này chăng?… Đấy là những chất vấn thường gặp, cả ở ngày xưa cũng như ngày nay. Nhiều người tự hỏi: phải chăng Thiên Chúa chỉ là một giả thiết? Ngài có phải là một thực tại không? Tại sao chúng ta không nghe thấy Ngài? “Tin Mừng” có nghĩa là: Thiên Chúa đã phá vỡ sự thinh lặng, Thiên Chúa đã nói và có Thiên Chúa. Sự kiện này tự bản chất đã là ơn cứu độ: Thiên Chúa biết chúng ta, Ngài yêu thương chúng ta và Ngài đã đi vào lịch sử nhân loại. Đức Giê-su là Ngôi Lời của Thiên Chúa, Thiên Chúa ở với chúng ta và tỏ cho chúng ta thấy tình yêu thương của Ngài, Ngài cũng đã chịu đau khổ với chúng ta cho đến chết và đã sống lại. Đây chính là Tin Mừng. Thiên Chúa đã nói, Ngài không còn là một Đấng vô danh, nhưng đã tỏ mình ra, và đây chính là ơn cứu độ.

Giờ đây, câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Thiên Chúa đã nói, đã phá vỡ sự thinh lặng và đã tỏ mình ra, nhưng làm sao chúng ta có thể truyền đạt điều này cho con người trong thế giới ngày nay để nó trở thành hồng ân cứu độ? Tự nó, việc Thiên Chúa nói với con người đã là cứu độ, là sự cứu chuộc. Nhưng làm sao con người biết được? Với tôi, điều này dường như là một câu hỏi nhưng đồng thời cũng là một đòi hỏi, một lệnh truyền cho chúng ta: chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời bằng cách suy niệm bài Tụng ca "Nunc, Sancte, nobis Spiritus". Câu đầu tiên nói rằng: "Dignàre promptus ingeri nostro refusus, péctori", nghĩa là: chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần ngự đến trong chúng ta và với chúng ta. Nói cách khác, chúng ta không làm nên Giáo Hội, chúng ta chỉ có thể công bố điều Chúa Thánh Thần đã thực hiện. Giáo Hội không khởi đi từ những việc làm của chúng ta, nhưng với “việc làm” và “lời nói” của Thiên Chúa. Cũng vậy, không phải sau vài cuộc hội họp rồi các Tông Đồ tuyên bố: bây giờ chúng tôi muốn lập nên Giáo hội, dưới dạng thức của một quốc hội lập hiến, rồi cùng nhau viết ra hiến chương. Không, các ngài đã cầu nguyện, và trong cầu nguyện các ngài chờ đợi, vì biết rằng chỉ có Thiên Chúa mới có thể sáng tạo ra Giáo hội và Thiên Chúa là tác nhân đệ nhất. Nếu Thiên Chúa không hành động, những điều chúng ta làm chỉ là của chúng ta và không bao giờ nên trọn. Chỉ có Thiên Chúa làm chứng rằng chính Ngài đã nói và Ngài tiếp tục cất lời. Lễ Hiện Xuống là điều kiện khai sinh Giáo hội: chỉ bởi vì Thiên Chúa đã hành động trước, các Tông đồ mới có thể hành động cùng với Ngài, và cùng với sự hiện diện của Ngài thực hiện những gì Ngài thực hiện. Thiên Chúa đã nói, và việc “đã nói” này chính là sự hoàn thiện cho Đức tin, nhưng nó cũng luôn ở thì hiện tại. Sự hoàn thiện của Thiên Chúa không chỉ là quá khứ, vì dù nó là quá khứ đích thực nhưng cũng mang nơi mình hiện tại và tương lai. Thiên Chúa đã nói, nghĩa là Ngài còn tiếp tục nói. Như khi xưa, chính nhờ vào sáng kiến của Thiên Chúa mà Giáo hội khai sinh và Tin Mừng có thể được biết đến, thì ngày nay, chỉ Thiên Chúa mới có thể khởi sự và chúng ta chỉ có thể cộng tác. Khởi đầu phải luôn đến từ Thiên Chúa. Vì thế, khi chúng ta bắt đầu những công việc quan trọng mỗi ngày bằng việc cầu nguyện, đấy không chỉ là một công thức đơn thuần, nhưng là điều chính đáng hợp với thực tế. Chỉ khi nào Thiên Chúa khởi sự, thì hành trình của chúng ta mới trở nên khả thi, sự cộng tác của chúng ta – và luôn chỉ là sự cộng tác – không hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định của chúng ta. Do đó, thật quan trọng khi nhận biết rằng, lời đầu tiên, sáng kiến đích thực, và những hoạt động đúng nghĩa chỉ đến từ Thiên Chúa. Phần chúng ta, chỉ ngang qua việc tháp mình vào trong sáng kiến của Thiên Chúa và chỉ bằng việc nài xin ân sủng của Ngài, chúng ta mới có thể trở nên những nhà rao giảng Tin Mừng với Ngài và trong Ngài. Thiên Chúa luôn khởi sự, chỉ có Ngài mới có thể làm nên lễ Hiện Xuống và làm khai sinh Giáo Hội. Chỉ có Ngài mới có thể vén mở thực tại về chính mình cho chúng ta, hiện hữu với chúng ta. Dẫu vậy, vị Thiên Chúa này cũng muốn chúng ta tham dự vào hoạt động của Ngài, để các hoạt động đó trở nên những hoạt động mang tính thần nhân tương hợp, nghĩa là được làm bởi Thiên Chúa nhưng có sự dự phần của chúng ta và hiện hữu của chúng ta.

Vì thế, sứ mạng Tân Phúc Âm Hóa của chúng ta phải luôn là một sự cộng tác với Thiên Chúa, ở lại cùng với Thiên Chúa, đặt nền tảng trên việc cầu nguyện và sự hiện diện đích thực của Ngài.

Giờ đây, hoạt động của chúng ta, nối tiếp những gì mà Thiên Chúa đã khởi sự, có thể được diễn tả trong câu thứ hai của bài Tụng ca: "Os, lingua, mens, sensus, vigor, confessionem personent, flammescat igne caritas, accendat ardor proximos". Ở đây, trong câu thứ hai, chúng ta thấy hai danh từ xác định, “tuyên xưng” (confessio) trong câu thứ nhất và “đức ái” (caristas) trong câu thứ hai. “Tuyên xưng” và “đức ái” là hai cách thế mà trong đó Thiên Chúa lôi cuốn chúng ta, làm cho chúng ta hành động với Ngài, trong Ngài, cho con người và cho những thụ tạo của Ngài. Những động từ được thêm vào: trước hết là động từ “personent”, và sau đó là “caritas”, được diễn giải bằng những từ ngữ như ngọn lửa, sự nhiệt thành, thắp lên, bùng cháy.

Trước hết chúng ta cùng xem xét cụm từ “confessio personent”. Niềm tin có một nội dung: Thiên Chúa thông truyền chính mình Ngài, nhưng chủ từ “Tôi” (I) của Thiên Chúa được thực sự mạc khải trong hình ảnh Đức Giê-su và được giải thích trong việc “tuyên xưng”, vén mở cho chúng biết về việc sinh hạ nhờ sự thụ thai đồng trinh của Ngài, về cuộc khổ nạn, về Thập giá và Phục Sinh. Thiên Chúa mạc khải chính mình một cách trọn vẹn nơi Người Con: Đức Giê-su là Ngôi Lời, là nội dung đích thực được diễn tả trong lời “tuyên xưng”. Như vậy, bước đầu tiên là chúng ta phải đi vào trong lời “tuyên xưng”, và để cho lời “tuyên xưng” thấm nhuần một cách cá vị trong chúng ta và qua chúng ta.

Ở đây chúng ta cần phải xem xét một điểm nhỏ trên khía cạnh triết học. “Confessio” thời Tiền Kitô Giáo Latinh không phải là “confessio” nhưng là “proffessio”: đây là một sự trình bày tích cực về thực tại. Thực vậy, từ ngữ confessio đề cập đến một tình huống diễn ra trong toà án. Trong một phiên toà thường có một ai đó mở lòng mình ra và tuyên thệ. Nói cách khác trong bối cảnh Kitô giáo latinh, từ “confession” thay thế từ “professio”, mang yếu tố chứng tá để làm chứng cho đức tin trong những thời điểm thù nghịch, làm chứng thậm chí trong những trạng huống đau khổ và nguy hiểm đến tính mạng. Việc tuyên xưng đức tin của các Kitô hữu hàm chứa một cách thiết yếu sự sẵn sàng chịu khổ đau. Với tôi điều này rất quan trọng. Trong bản chất của lời “tuyên xưng” trong Kinh Tin Kính của chúng ta luôn hàm chưa một thái độ sẵn sàng trước đau khổ, và thậm chí là từ bỏ mạng sống mình. Chính thái độ này giúp cho việc tuyên xưng trở nên khả tín hơn bao giờ hết. Việc “tuyên xưng” không phải là một điều gì có thể từ bỏ dễ dàng, nhưng hàm chứa cả việc từ bỏ mạng sống mình và chấp nhận đau khổ. Đây đích thực là một sự minh xác của đức tin. Việc “tuyên xưng” cũng không chỉ là một từ ngữ được nói ra, nhưng nó vượt qua cả sự đau khổ và cái chết. Để sống lời “tuyên xưng” ấy, dù có phải chịu đau khổ hay chịu chết thì cũng đáng. Người nào làm việc “tuyên xưng” như thế sẽ minh chứng rằng quả thật những gì mà người ấy tuyên xưng còn có giá trị hơn cả sự sống: lời tuyên xưng ấy chính là sự sống, là một kho báu, một viên ngọc quý vô giá. Chính trong chiều kích chứng nhân của từ “tuyên xưng” mà chúng ta tìm thấy chân lý: chân lý là minh chứng cho chính mình, rằng có phải chịu đau khổ vì chân lý ấy thì cũng xứng đáng, rằng chân lý ấy mạnh hơn cả cái chết. Lời tuyên xưng ấy minh chứng rằng điều tôi nắm giữ trong tay mình chính là chân lý, chân lý mà tôi hằng chắc chắn, rằng tôi đảm nhận sự sống của mình bởi vì tôi tìm thấy sự sống trong lời tuyên xưng ấy.

Bây giờ chúng ta hãy xét xem lời “tuyên xưng” này phải thấm nhuần vào nơi nào: "Os, lingua, mens, sensus, vigor". Từ thư của thánh Phaolo gửi tín hữu Roma, chúng ta biết rằng lời tuyên xưng đức tin nằm trong trái tim và trên môi miệng. Lời tuyên xưng phải nằm sâu thẳm trong trái tim ta, nhưng cũng được tuyên xưng công khai; niềm tin được cưu mang trong trái tim cần phải được công bố. Niềm tin chưa vào giờ chỉ là điều của con tim, nhưng còn phải được thông truyền và cần phải được tuyên xưng trước mắt toàn thế giới. Vì thế, chúng ta phải học để được bước sâu vào trong tâm điểm của lời tuyên xưng, để nhờ đó, con tim của chúng ta sẽ được định hình. Từ trong con tim này, cùng với một lịch sử lâu dài của Giáo hội, chúng ta sẽ tìm thấy lời tuyên xưng và sự khích lệ của lời tuyên xưng ấy. Lời này soi dẫn cho hiện tại của chúng ta, và chúng ta thấy rằng lời tuyên xưng của chúng ta chỉ là một.

Mens”: sự tuyên xưng không chỉ là điều thuộc trái tim và miệng lưỡi, mà con thuộc về lý trí. Sự tuyên xưng cần phải được đón nhận và suy tư bằng lý trí, để nhờ đó, đụng chạm đến người khác. Như thế, sự tuyên xưng cũng luôn hàm nghĩa rằng suy tưởng của tôi cũng đã thực sự được bám rễ trong lời tuyên xưng này.

Sensus”: không là điều hoàn toàn trừu tượng và duy lý, lời tuyên xưng phải được thấm nhuần trong các giác quan của cuộc đời chúng ta. Thánh Bernard of Clairvaux với cho chúng ta rằng: trong mạc khải và trong lịch sử cứu độ, Thiên Chúa đã ban cho các giác quan của chúng ta khả năng chiêm ngắm, đụng chạm, và cảm nến mạc khải. Thiên Chúa không còn chỉ là một thực tại thiêng liêng, nhưng Ngài đã đi vào thế giới của các giác quan, và như thế, các giác quan của chúng ta phải được lấp đầy bởi sự cảm nếm này, bởi vẻ đẹp của Lời Thiên Chúa, một thực tại chân thực.

Vigor”: là sức mạnh sống động của sự hiện hữu chúng ta và cũng là sức mạnh hợp lý của một thực tại. Với toàn bộ sức sống cũng như sức mạnh của mình, chúng ta phải được thấm nhuần bởi việc tuyên xưng. Việc tuyên xưng này phải được cá vị hóa (personare). Giai điệu của Thiên Chúa phải tấu khúc dạo đầu cho trọn vẹn cuộc hiện hữu của chúng ta.

Như thế, có thể nói rằng lời “tuyên xưng” là phần thứ nhất của Tin Mừng hóa, và “đức ái” là yếu tố thứ 2. Lời tuyên xưng không phải là một khái niệm trừu tượng nhưng là đức ái, là tình yêu. Chính trong cách thế này mà lời tuyên xưng thực sự là sự phản chiếu của chân lý thần linh, một chân lý không thể tách rời tình yêu. Bằng những từ rất mạnh, bản tụng ca miêu tả tình yêu này: ấy là sức mạnh, là ngọn lửa, làm bùng cháy những ngọn lửa khác. Có một khao khát cháy bỏng của chúng ta cần phải lớn lên nhờ niềm tin, và phải được chuyển thành ngọn lửa của đức ái. Đức Giê-su nói với chúng ta: “Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong lửa ấy đã bùng lên”(Lc 12,49). Giáo phụ Origen đã thông chuyển cho chúng ta lời ấy của Đức Giê-su: “Bất cứ ai gần tôi, là gần ngọn lửa”. Người Ki-tô hữu không được phép là kẻ thơ ơ lãnh đạm. Sách Khải Huyền nói với chúng ta rằng điều nguy hiểm nhất đối với người Kitô hữu không phải là việc nói không, nhưng là việc đồng ý một cách lãnh đạm. Chính sự lãnh đạm hủy hoại Ki-tô giáo. Đức tin phải trở nên như một ngọn lửa tình yêu trong chúng ta, một ngọn lửa thực sự làm bùng cháy trọn vẹn cuộc đời chúng ta, trở nên một khao khát lớn lao trong chúng ta, và như thế nó cũng làm bùng cháy ngọn lửa nơi tha nhân. Đây là cách thế của việc Tin Mừng Hoá: "Accéndat ardor proximos": chân lý phải trở nên đức ái trong tôi, và đức ái này sẽ trở nên ngọn lửa làm bùng cháy nơi tha nhân. Chỉ ngang qua việc thắp lên nơi anh chị em mình ngọn lửa của đức ái mà công cuộc Tin Mừng hoá và sự hiện diện của Tin Mừng mới thực sự được lớn lên. Khi đó Tin Mừng không còn là một từ ngữ đơn thuần, nhưng là một thực tại đã được sống.

Thánh Luca tường thuật với chúng ta rằng vào ngày lễ Hiện Xuống, vào ngày khai sinh của Giáo hội, Chúa Thánh Thần là ngọn lửa biến đổi thế giới, ngọn lửa dưới hình thức lưỡi lửa. Nghĩa là dù đây là một ngọn lửa nhưng đồng thời cũng là một thực tại hữu lý và thánh thiêng, và con người có thể hiểu được. Ngọn lửa này được nối kết với tư tưởng, với “mens”. Chính ngọn lửa lý tính này (sobria ebretas) làm nên đặc tính của Kitô giáo.

Chúng ta biết rằng lửa hiện diện ngay từ buổi bình minh của văn hoá nhân loại; lửa chính là ánh sáng, là hơi ấm và là sức mạnh để biến đổi. Văn minh nhân loại khởi đi từ việc con người tìm được phương pháp để tạo ra lửa. Với một ngọn lửa con người có thể huỷ diệt, nhưng cũng có thể biến đổi và canh tân. Ngọn lửa của Thiên Chúa là ngọn lửa làm biến đổi, ngọn lửa của khao khát, ngọn lửa dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa; đồng thời đấy cũng là ngọn lửa huỷ hoại nhiều điều trong chúng ta. Trên tất cả, ngọn lửa này làm biến đổi, canh tân và sáng tạo nên những sự mới mẻ trong con người, biến con người nên ánh sáng trong Thiên Chúa.
Cuối cùng chúng ta hãy cầu nguyện để lời “tuyên xưng” được bám rễ sâu xa trong tâm hồn chúng ta và trở nên một ngọn lửa làm bùng cháy nơi tha nhân. Nhờ đó, ngọn lửa của sự hiện diện của Thiên Chúa và sự mới mẻ của việc Thiên Chúa ở cùng chúng ta trở nên thự sự hữu hình và trở nên nguồn sức mạnh cho hiện tại lẫn tương lai của chúng ta.

Chuyển Ngữ và Giới thiệu: Nguyễn Minh Triệu SJ  (Vietvatican)

TUẦN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Từ 10-15 đến 10-21-2012

TUẦN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Từ 10-15 đến 10-21-2012

Trích từ Xuân Bích VN

 

Ngày càng thêm chứng cứ sách giấy cói “Vợ Chúa Giêsu” là giả mạo.

-Toà án Ấn Độ : việc cầu nguyện trong các nhà ở là tự do, không cần có phép.

-Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin cho biết sẽ không còn đàm phán với SSPX

-Bổ nhiệm mới.

Người đứng đầu các HĐGM chào mừng Giải Nobel cho Liên Minh Châu Âu.

Thêm một thiếu niên Pakistan đối mặt cáo  buộc [tội] báng bổ.

Kitô hữu nên học hỏi tín đồ Hồi giáo về ước ao truyền bá đức tin.

Hai linh mục song sinh được “thuyền nhân người Việt” truyền cảm hứng.

-Rahner và Ratzinger bị phái Lefèbvre quy là “dị giáo” trong thời kỳ CĐ Vatican II.

Vị trí của học thuyết xã hội Giáo Hội.

Đức Thánh Cha tiếp các bậc kỳ cựu của Công Đồng.

Sẽ sớm phong chân phước cho Đức Thánh Cha Phaolô VI.

Video về sự tăng trưởng của Hồi giáo làm bùng lên tranh luận tại Thượng Hội Đồng.

-Chứng cứ bác bỏ những đồn đoán rằng Đức Gioan-Phaolô I bị giết.

Hội Kinh Thánh Mỹ dự tính triển lãm Kinh Thánh lớn chưa từng có ở Vatican.

Linh mục ăn chơi bỏ trốn với 1 triệu Euros và người đàn bà đã kết hôn.

Giám Mục Trung Quốc thách thức những người tham dự Thượng Hội Đồng.

Đức thánh Cha tin tưởng rằng Châu Âu sẽ tìm lại được đức tin.

Hướng tới một ngày Phục Sinh chung cho Công Giáo và Chính Thống.

– Đức Thánh Cha cử phái đoàn gồm 7 vị giáo phẩm đến Damas.

Roma yêu cầu người đứng đầu Đạo Binh Chúa Kitô từ chức.

Quá nhiều tín hữu Công giáo không biết những khái niệm căn bản đức tin.

(Xin xem chi tiết . . . TUẦN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO Từ 10-15 đến 10-21-2012 )

Sinh hoạt Thượng HĐGM thế giới XIII: 19-10-2012

Sinh hoạt Thượng HĐGM thế giới XIII: 19-10-2012

VATICAN. Sáng 19 tháng 10-2012, Thượng HĐGM thế giới kỳ thứ 13 đã nhóm phiên khoáng đại thứ 17, trước sự hiện diện của ĐTC và 253 nghị phụ, để nghe các đại diện của 12 nhóm tường trình về kết quả các cuộc thảo luận trong hai phiên họp nhóm sáng và chiều thứ năm 18 tháng 10-2012.

Theo các bài tường trình, các nhóm nhỏ đã theo các phương pháp khác nhau trong các cuộc thảo luận, nhưng tất cả đều nhắm một mục tiêu là mang lại hy vọng cho một thế giới đang bị khủng hoảng, trong một thế giới tân tiến, nhưng đồng thời lại vắng bóng và nhớ nhung Thiên Chúa. Vậy Giáo Hội phải làm gì? Trước tiên cần xét mình xem: nếu nói về tái truyền giảng Tin Mừng, phải chăng vì các tín hữu Kitô đã đánh mất một cái gì đó, một cái gì mà Giáo Hội không biết cống hiến? Đàng khác, để rao giảng Tin Mừng, thì trước tiên phải là người được đón nhận Tin Mừng. Từ đó, các nhóm nghị phụ mạnh mẽ kêu gọi trở về với bí tích thống hối.

Một điểm được lưu ý nhiều, đó là đối thoại đại kết và liên tôn: đối thoại đại kết làm cho việc rao giảng Tin Mừng đáng tin cậy, đối thoại liên tôn, nhất là dự trên ý thức sâu xa về Kinh Thánh và các chứng tá cuộc sống sẽ giúp phổ biến Lời Chúa ngay tại các nước Hồi giáo.

Ngoài ra, chúng ta không thể không biết tới cuộc khủng sâu đậm của gia đình: gia đình là nòng cốt của việc rao giảng Tin Mừng, cần phải được nâng đỡ, khích lệ các bậc cha mẹ như những người đầu tiên giảng dạy giáo lý cho con cái. Các GM cũng tái khẳng định tầm quan trọng của bí tích hôn phối.

Trong viễn tượng này, cần dành chỗ đừng cho cả các ông bà; có các nghị phụ đề nghị thiết lập thừa tác vụ 'đọc sách' (lectorato) Kinh Thánh. Tuy nhiên, đề nghị thiết lập thừa tác vụ giáo lý viên vẫn còn gây tranh luận, mặc dù nhiều nghị phụ đề cao vai trò của các giáo lý viên, -cũng như tất cả các giáo dân – trong việc tái truyền giảng tin Mừng.

Một điểm đặc biệt liên quan đến các chính trị gia Công giáo cũng được nói đến: các GM nói họ phải sống hợp với đức tin, và không thể có thái độ thỏa hiệp, trái lại cần để cho lương tâm ngay thẳng và những giá trị không thể thương lượng hướng dẫn. Trong bối cảnh đó, các nghị phụ đề nghị tái đẩy mạnh các hoạt động công lý và hòa bình, theo giáo huấn xã hội của Hội Thánh, và để sự ưu tiên dành cho người nghèo làm cho việc rao giảng Tin Mừng đáng được tin cậy, cũng như kiến tạo những ốc đảo thực sự trong đó con người gặp gỡ Thiên Chúa.

Các nhóm nghị phụ cũng đã thảo luận về các vấn đề khác như: các phương tiện truyền thông, duyệt lại việc huấn giáo và thực hành các bí tích khai tâm, suy tư về hiện tượng hoàn cầu hóa, các giáo xứ và các cộng đoàn nhỏ…
Cuối phiên họp ban sáng, Đức TGM Eterovic, Tổng thư ký Thượng HĐGM thế giới, thông báo một tài khoản được mở tại ngân hàng Vatican (IOR) để các nghị phụ đóng góp cho việc cứu trợ các nạn nhân và Giáo hội tại Siria.

– Ban chiều, từ lúc 4 giờ rưỡi, các nghị phụ và dự thính viên lại họp trong các nhóm nhỏ để đưa ra các đề nghị cụ thể. Các vị phải hoàn tất công việc này để trao danh sách các đề nghị cho Văn phòng Tổng thư ký Thượng HĐGM vào lúc 7 giờ tối.

Trong phiên họp khoáng đại thứ 18 vào sáng thứ bẩy 20 tháng 10-2012, Công nghị GM sẽ nghe trình bày dự thảo Sứ điệp của Thượng HĐGM gửi cộng đồng dân Chúa, và thảo luận để sửa chữa văn kiện này.

Ngoài ra, các vị cũng tiến hành việc bầu các thành viên Hội đồng của Thượng HĐGM 13 gồm 15 thành viên, trong đó có 12 vị do các nghị phụ bầu lên và 3 vị do ĐTC bổ nhiệm.

Trong khi đó, báo chí vẫn tiếp tục nhắc đến các bài phát biểu của các dự thính viên được trình bày trong những ngày qua.

– Chẳng hạn, lần đầu tiên một đôi vợ chồng được lên tiếng phát biểu tại Công nghị GM thế giới hiện nay, đó là Ông Bà Marc và Florence de Leyritz, người Pháp, là những người đã giới thiệu và cổ võ Hiệp Hội Alpha ở Pháp. Ông Bà đã học được phương pháp này từ một giáo xứ Anh giáo ở Anh quốc cách đây 10 năm.

Tiến trình Alpha là một dụng cụ đại kết dành cho các giáo xứ và các văn phòng tuyên úy, gồm có 10 bữa ăn mở rộng cho mọi người. Tiến trình này do giáo dân linh hoạt, giúp gợi lên ý nghĩa cuộc sống và tôn giáo qua những câu chuyện và tiếp xúc thường nhân. Cho đến nay đã có 140 ngàn người ở Pháp tham dự tiến trình này.

Trong bài phát biểu tại Thượng HĐGM, ông bà Marc và Florence de Leyritz đề cao tầm quan trọng của việc huấn luyện các LM và GM về những thẩm quyền mới trong lãnh vực mục vụ. Họ nói:

”Chúng con đã sáng nghĩ ra những chương trình huấn luyện giúp các LM và GM về việc điều khiển mục vụ trong viễn tượng những nhu cầu mới về thẩm quyền có liên hệ tới việc tái truyền giảng Tin Mừng. .. Chúng con xác tín rằng ta không thể quan niệm Giáo Hội khác với một cộng đoàn đang học nghề, trong đó cần họp nhau để lắng nghe Lời Chúa, để tăng trưởng trong đức tin, để được đào luyện như những môn đệ, và thi hành việc cai quản mục vụ theo tinh thần hoàn toàn hợp Tin Mừng'.

Theo ông bà Leyritz, cí có những vì mục tử biết phối hợp 3 tiến trình lớn của công cuộc truyền giảng Tin Mừng, đó là hoán cải, huấn luyện các môn đệ và ra đi truyền giáo. Cần giúp các vị phát huy khả năng điều hành việc mục vụ với phương pháp tiếp cận có tổ chức và có hệ thống, đồng thời giúp các vị nhìn nhận tiềm năng truyền giáo của giáo dân”.

– Một giáo dân khác lên tiếng tại Thượng HĐGM là ông Michel Roy, Tổng thư ký tổ chức Caritas quốc tế. Ông mong muốn Giáo Hội nhìn nhận tính chất rao giảng Tin Mừng của rất nhiều hoạt động được thực thi để phục vụ bác ái.

Ông Roy nói: ”Bác ái phải là một yếu tố cơ cấu trong chính bản chất của Giáo Hội, nếu Giáo Hội muốn thực sự là người rao giảng Tin Mừng”. Theo Ông Thượng HĐGM này đẩy mạnh được công trình tái truyền giảng Tin Mừng nếu mang lại cho các tổ chức Caritas những đường hướng tích cực về việc quan tâm săn sóc cần dành cho việc huấn luyện và linh đạo trong các hoạt động từ thiện bác ái.

Lập trường của ông Michel Roy cũng phản ánh điều mà ĐHY Robert Sarah, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum, Đồng Tâm, trong bài phát biểu hôm 12-10 trước đó. ĐHY nói: ”Sứ vụ bác ái bao quát của Giáo Hội biểu lộ cho thế giới thấy sức mạnh không thể cưỡng lại và sức sinh động mạnh mẽ của sứ điệp Chúa Kitô.. Hoạt động mục vụ bác ái của chúng ta là một phương thế lớn lao để rao giảng Tin Mừng, đối với những người cung cấp cũng như những người nhận lãnh những việc phục vụ của chúng ta” (Apic 18-10-2012).

G. Trần Đức Anh OP
 



Thánh Kateri Tekakwitha – Bông huệ của dân Mohawk

Thánh Kateri Tekakwitha – Bông huệ của dân Mohawk

1656-1680

Tìm Chúa

Ngày 21.10.2012 tới đây tại Rôma, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI sẽ tuyên thánh cho một thiếu nữ 24 tuổi người da đỏ ở Bắc Mỹ, hoa trái của hoạt động truyền giáo của các thừa sai và tử đạo Dòng Tên.

Tiểu sử của chị được hai cha Dòng Tên người Pháp là Pierre CholenecClaude Chauchetière, phụ trách giáo điểm Kahnawake, soạn thảo ngay sau khi chị qua đời. Chị sinh năm 1656 tại làng Ossernenon, ngày nay là Auriesville, trong thung lũng Mohawk, tiểu bang New York, Hoa Kỳ.

Thung lũng Mohawk (đỏ) Miền bắc tiểu bang New York của Hoa Kỳ, phía đông hồ Ontario, gần biên giới Canada

Vào thời của chị, hầu hết các dân tộc bản địa ở khu vực Băc Mỹ còn bán khai. Chẳng hạn họ giết và ăn thịt người. Cha chị là Kenneronkwa, một thủ lãnh Mohawk, thuộc sắc dân Iroquois, thù nghịch với sắc dân Algonquin sống trên lãnh thổ Canada ngày nay, và rất ghét đạo. Mẹ chị là Tagaskouita thuộc sắc dân Algonquin, theo đạo Công Giáo, sinh trưởng và được học với các thừa sai Dòng Tên ở vùng Trois-Rivieres, trên đất Canada hiện nay. Trong một trận tấn công của dân Mohawk, bà bị bắt đem về làng Ossernenon cùng với một số người khác. Tại đây, bà kết hôn với viên thủ lãnh ngoại giáo. Hai người sinh được một con gái và một con trai. Lúc còn rất nhỏ, chị được mẹ kể chuyện về Chúa Giêsu và dạy đọc kinh. Năm chị 4 tuổi, một cơn dịch giết chết nhiều người trong vùng, trong đó có cha mẹ và em trai của chị. Bản thân chị bị rỗ mặt và mắt rất kém. Mồ côi, chị được cậu và hai dì nuôi dưỡng, theo thói quen mẫu hệ của dân Mohawk.

Sau trận dịch, cậu chị thay cha làm thủ lãnh, đưa dân làng đến định cư ở Caughnawaga, cách làng cũ gần 10 km, hiện nay là Fonda. Như các thiếu nữ Mohawk khác, chị được học may vá thêu thùa, kể cả làm dây thắt lưng bằng da thú. Chị học dệt chiếu, đan giỏ và hộp bằng sậy hay cói.  Chị thông thạo chế biến thức ăn từ thú săn được hay từ nông sản. Chị cũng tham gia trồng tỉa hay nhổ cỏ theo thời vụ. Tóm lại, chị được dạy để trở nên một phụ nữ đảm đang trong gia đình. Có một điều hơi khác thường: người ta thấy cô bé Tekakwitha thường hay vào rừng một mình, không biết tại sao. Chị không quên những gì mẹ đã dạy: chị thích ở một mình để nhớ lại những điều mẹ kể và đọc các kinh mẹ dạy. Năm 13 tuổi, theo thói quen trong làng, chị được thúc giục lấy chồng, nhưng chị không chịu. Đây là điều lạ thường đối với các cô gái Mohawk.

Thời ấy dân Mohawk vừa thù nghịch với dân Algonquin vừa thù nghịch với người Pháp ở Canada. Tuy nhiên, họ suy yếu sau nhiều cuộc chiến và nhiều trận dịch. Năm 1673, cha Lamberville đến dựng một nhà nguyện ở đó, vừa để giúp những người đã có đạo vừa để truyền giáo cho những người chưa theo đạo. Cậu của chị vốn ghét đạo nhưng phải chấp nhận vì sợ người Pháp. Chị đến nhà nguyện đọc kinh, dự lễ và học giáo lý. Lễ Phục Sinh năm 1674, chị được rửa tội với thánh danh Kateri, tức là thánh nữ Catarina.

Sau khi gia nhập Hội Thánh, chị bị chống đối mạnh mẽ từ gia đình đến dân làng. Hằng ngày chị bị trẻ em chế diễu và nhiều khi bị ném đá. Vì chị dành ngày Chúa nhật để đi lễ và học giáo lý, không làm việc, nên gia đình không cho ăn. Chị bị đe dọa nếu không bỏ đạo sẽ bị đánh và giết. Vừa để tránh những hoạt động thù nghịch, vừa muốn hoàn toàn dâng mình cho Chúa, theo lời khuyên của cha phụ trách giáo điểm, 6 tháng sau ngày được rửa tội, chị cùng với mấy người quen trốn nhà, đi bộ hơn 2 tháng, vượt rừng vượt suối, băng qua hơn 320km đến giáo điểm Thánh Phanxicô Xavier Sault Saint-Louis theo cách gọi của người Pháp, hay Kahnawake theo cách gọi của thổ dân, ngay cạnh thành phố Montreal. Giáo điểm này được các thừa sai Dòng Tên thành lập để truyền giáo cho dân Algonquin. Vào lúc thánh Kateri Tekakwitha đến, đời sống đạo ở giáo điểm đã khá ổn định. Chị đến ở nhà dài của bà Anastasia Tegonhatsiongo, một người bạn thân của mẹ chị, bên bờ sông SaintLaurent. Cùng ở với bà Anastasia có một vài thiếu nữ khác: họ sống với nhau như một cộng đoàn nữ tu, nhưng không có tổ chức chi hết.

Thuộc trọn về Chúa

Kahnawake (đỏ) ở phía nam sông Saint-Laurent, phía đông hồ Saint-Louis bên kia sông là Montreal, thành phố đông dân thứ nhì ở Canada hiện nay

Kahnawake, ngay lập tức đời sống của chị được mọi người khen ngợi. Chị chăm chỉ đến nhà thờ đọc kinh dự lễ, nhiều khi ở một mình trước Chúa Giêsu Thánh Thể lâu giờ. Chị siêng năng lần hạt Mân Côi và lúc nào cũng đeo tràng hạt ở cổ. Chị hiền lành, ít nói, chăm làm, hay giúp đỡ người khác. Lễ Giáng Sinh năm 1677, chị được rước lễ lần đầu.

Khẩu hiệu của chị Kateri là: “Ai sẽ cho tôi biết điều gì đẹp lòng Chúa nhất để tôi thực hiện?” Ngoài các việc đạo đức, chị thường xuyên thăm viếng và giúp đỡ những người già cả và đau yếu trong làng. Chị cũng chỉ bảo các em bé về giáo lý và cầu nguyện theo như chị hiểu. Một thú vui của chị là trồng những cây Thánh Giá bằng gỗ trong rừng để nhắc nhở mình cũng như mọi người về việc cầu nguyện.

Cả ở Kahnawake, áp lực về hôn nhân vẫn còn. Ngày 25.3.1679, sau khi hỏi ý kiến cha phụ trách, chị tuyên khấn trọn đời sống khiết tịnh. Đây là điều chưa từng có trong các thổ dân địa phương. Chị muốn thuộc riêng và thuộc trọn về Chúa Giêsu. Cha Cholenec thuật lại lời chị: “ Con đã suy nghĩ kỹ rồi. Con đã quyết định từ lâu rồi. Con muốn hiến thân trọn vẹn cho Chúa Giêsu, con của Mẹ Maria. Con chọn Người làm chồng, và chỉ mình Người cưới con làm vợ thôi.”  Các cha đề nghị với các phụ nữ đạo đức một vài việc hãm mình nhỏ, không ngờ họ đi xa hơn nhiều. Do lòng đạo đức và quan niệm riêng, bà Anastasia hướng dẫn chị cũng như những người khác làm nhiều việc khổ chế để đền tội cho dân tộc mình và cầu nguyện cho dân tộc mình theo đạo.

Trong số những người bạn cùng sống ở nhà dài với chị có Maria Têrêxa Tegaiaguenta. Hai người gặp nhau lần đầu vào mùa xuân năm 1678. Vì lòng đạo đức, cả hai cùng bắt đầu bí mật đánh tội. Cha Cholenec sau này cho biết là mỗi lần họ dùng dây tua đánh tội từ 1000 đến 1200 cái. Chị Kateri đã thực hành như vậy hằng ngày cho đến chết. Một chị khác tên là Maria Skarichions cho biết về đời sống và hoạt động của các nữ tu. Họ quyết định cùng nhau xin cha phụ trách cho lập một dòng nữ. Các cha Dòng Tên cho là chưa thích hợp nên ngăn cản. Khi chị Maria Têrêxa rời nhóm, chị Kateri trở thành “thủ lãnh” của nhóm. Chị thường khuyên: (1) Hãy can đảm, bất chấp những lời nói của những người không có đạo; (2) Vững tin là chúng ta sống đẹp lòng Chúa và tôi sẽ giúp chị khi tôi lên với Chúa; (3) Đừng bao giờ bỏ việc khổ chế.

Làng Kahnawake hiện nay

Tượng thánh Kateri Tekakwitha ở đền Thánh Anna tại Baupré, Canada

Vì thường xuyên hãm mình và khổ chế, sức khỏe của chị Kateri suy giảm nhanh chóng. Đến Tuần Thánh năm 1680, chị kiệt sức. Cha Cholenec thuật lại buổi chiều thứ tư Tuần Thánh:

“3 giờ chiều, chuông nhà nguyện đổ để tập họp cộng đoàn, vì nhiều người muốn có mặt khi chị tắt thở. Chị thấy mọi người hiện diện đông đủ. Mọi người quỳ gối cầu nguyện. Sau nửa giờ ngắn ngủi, chị nói những lời cuối cùng: ‘Iesos! Wari!’ (Giêsu! Maria!) Rồi chị hơi nhép miệng bên phải. Chị ra đi như thể nhẹ nhàng chìm vào giấc ngủ và một lúc lâu chúng tôi chưa biết chị còn sống hay đã chết. Ít phút trước 4 giờ, khuôn mặt chị biến đổi trở nên rất xinh đẹp, tươi cười và rạng rỡ… Chị đã từ giã dân làng để lại hương thơm đức hạnh và thánh thiện. Mấy tiếng sau, trong lễ đưa chân, tôi nhắc mọi người về kho báu Chúa đã tặng cộng đoàn… Chị Kateri đã chết như chị đã sống, nghĩa là một vị thánh. Ai cũng tiên đoán một người đã sống như vậy thì sẽ chết thế nào, vì chị đầy ơn Chúa Thánh Thần…”

 Trên mộ chị Kateri, các cha phụ trách cho ghi dòng chữ: “Bông hoa xinh đẹp nhất xưa nay nở giữa dân da đỏ”. Cha Chauchetiere cho xây một nhà nguyện gần mộ chị. Từ năm 1684, khách hành hương bắt đầu đến cầu nguyện với chị.

Một cô gái da đỏ bán khai sống ở Bắc Mỹ vào thế kỷ 17 có một sứ điệp gửi cho chúng ta sống trong thế kỷ 21? Dường như giữa ngài với chúng ta không có một liên hệ nào. Tuy nhiên, trong một thế giới tục hóa, giữa bao nhiêu tiến bộ khoa học và ký thuật vẫn đầy mâu thuẫn này, hình như khuôn mặt đơn sơ và thánh thiện của ngài vẫn có thể thu hút và gợi hứng cho những người đang đi tìm một cuộc sống có ý nghĩa, xây dựng một thế giới công bình và hòa bình.

Tượng thánh Kateri Tekakwitha ở

Vương Cung Thánh Đường Chính Tòa giáo phận Santa Fe, Mêhicô

***

GM. Cosma Hoàng văn Đạt (SJ)

Nguồn: Dongten.net

 

 

Hình ảnh Đại lễ khai mạc năm Đức Tin GH Việt Nam và cao điểm Năm Thánh 80 năm GP Thanh Hóa

Hình ảnh Đại lễ khai mạc Năm Đức Tin GH Việt Nam và Cao điểm Năm Thánh 80 Năm GP Thanh Hóa

Sáng 12.10.2012, tại trung tâm giáo phận Thanh Hóa đã diễn ra ba sự kiện lớn không chỉ cho giáo phận Thanh Hóa mà cho toàn thể giáo hội Việt Nam: Khánh thành Trung tâm mục vụ, Đại lễ cao điểm Năm Thánh kỷ niệm 80 năm thành lập giáo phận Thanh Hóa, và đặc biệt là Khai mạc Năm Đức Tin của giáo hội Việt Nam.
Không khí tại  trung tâm giáo phận Thanh Hóa vào sáng sớm 12.10
 
 
Nhà thờ Chính Tòa
 
 
 
Tòa giám mục
 
 
 
Hàng rào danh dự xung quanh hồ cho đoàn rước đồng tế
 
 
 
 
 
Rực rỡ sắc màu
Khánh thành Trung tâm mục vụ: Công trình mừng sinh nhật thứ 80 của giáo phận Thanh Hóa, một Trung tâm mục vụ đã được hoàn thành. Và hôm nay, vinh dự được chính Đức cha Chủ tịch HĐGM Việt Nam làm phép thánh hóa.
 
 
 
 
 
 
 
Rước vào thánh lễ:
 
 
Đoàn rước bắt đầu từ Trung tâm mục vụ, vòng quang hồ và tiến về lễ đài Chính Tòa
 
 
Đội cồng chiêng giáo xứ Phong Ý
 
 
 
Quý cha, quý thầy và các đoàn thể trên đường rước
 
 
Bảng tên 26 giáo phận cùng với cộng đoàn Công giáo Việt Nam hải ngoại
 
 
 
Quý Đức cha trong cuộc rước đang tiến ra từ Trung tâm mục vụ, các thiên thần tháp tùng
 
 
 
Đoàn rước vòng quang hồ …
 
 
…tiến về lễ đài giáo xứ Chính Tòa
 
 
 
Đoàn đồng tế tiến lên lễ đài
 
Làm phép lễ đài mới: Cùng với Trung tâm mục vụ, lễ đài mới tại giáo xứ Chính Tòa đã hoàn thành đúng dịp và trong thánh lễ hôm nay cũng được chính Đức cha Chủ tịch HĐGM Việt Nam làm phép. 
 
 
 
 
Nghi thức Khai mạc Năm Đức Tin 2012-2013 cho giáo hội Việt Nam: Năm Đức Tin đã được Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI khai mạc vào hôm qua 11.10 tại Vatican cho toàn thể giáo hội Hoàn Vũ. Và hôm nay đây, Năm Đức Tin cho giáo hội Việt Nam cũng chính thức được khai mạc.
 
 
Công bố tông huấn Năm Đức Tin của ĐTC Bênêđictô XVI 
 
 
Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh đánh hồi trống hiệu triệu
 
 
Đức Tổng giám mục Hà Nội Phêrô tuyên bố khai mạc Năm Đức Tin
 
 
Ba Đức Tổng đại diện cho ba giáo tỉnh mở cửa Năm Đức Tin
 
 
Năm Đức Tin của giáo hội Việt Nam đã chính thực được khai mạc
 
 
Bóng bay mang theo cờ logo Năm Đức Tin có tên 26 giáo phận cùng với cộng đoàn Công giáo Việt Nam hải ngoại
 
 
 
 
Đức TGM Leopoldo Girelli đốt đuốc Đức Tin
 
Thánh lễ diễn ra long trọng:
 
 
Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh chào mừng và giới thiệu các đấng bề trên thượng cấp của giáo hội Việt Nam và quý quan khách
 
 
 
 
Đức cha Chủ tịch HĐGM chủ sự thánh lễ đồng tế
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Giáo dân đông đảo khiến khuôn viên giáo xứ không thể chứa hết, họ cùng hiệp thông thánh lễ qua những màn hình trực tiếp
 
 
Cung nghinh Lời Chúa
 
 
Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên – Giám mục Hải Phòng giảng lễ
 
 
 
 
Dâng lễ vật với trang phục và của lễ đại diện, đặc trưng cho ba giáo tỉnh
 
 
 
 
 
 
 
Cha Tổng đại diện Phêrô Vũ Tiến Phúc biểu lộ lời tri ân cảm tạ mọi thành phần dân Chúa
 
 
 
Đức TGM Leopoldo Girelli ban huấn từ
 
 
 
Đức TGM chủ tịch HĐGM Việt Nam có lời chia sẻ với cộng đoàn…
 
 
 
Và ban phép lành toàn xá, khép lại thánh lễ trọng thể với những sự kiện lớn hôm nay
 
Những tiết mục vũ cộng đồng tại TGM chào mừng Năm Đức Tin, mừng đại lễ cao điểm Năm Thánh 80 năm giáo phận:
 
 
 
 
 
 
 
 

Đức Thánh Cha nhắc nhở từ bỏ lòng quyến luyến của cải

Đức Thánh Cha nhắc nhở từ bỏ lòng quyến luyến của cải

VATICAN. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin với 30 ngàn tín hữu trưa chúa nhật 14 tháng 10-2012, ĐTC Biển Đức 16 nhắc nhở các tín hữu về lời kêu gọi của Chúa Giêsu về sự từ bỏ lòng quyến luyến của cải.

Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, ĐTC giải thích về bài Tin Mừng chúa nhật thứ 28 thường niên năm B về sự tích người giàu có hỏi Chúa Giêsu xem mình còn phải làm gì để được sự sống đời đời. Ngài nói:

Anh chị em thân mến,

”Tin Mừng Chúa nhật hôm nay (Mc 10,17-30) có đề tài chính là sự giàu có. Chúa Giêsu dạy rằng đối với một người giàu có thật là khó vào Nước Thiên Chúa, nhưng không phải là không có thể; thực vậy, Thiên Chúa có thể chinh phục con tim của một người có nhiều của cải và thúc đẩy họ sống liên đới và chia sẻ với những người túng thiếu, với những người nghèo và như vậy họ sống theo tiêu chuẩn trao ban. Như thế, họ đi theo con đường của Chúa Giêsu Kitô, Đấng vốn giàu sang, nhưng đã trở nên nghèo vì anh em, để anh em trở nên giàu có nhờ cái nghèo của Ngài”, như thánh Phaolô đã viết (2 Cr 8,9).

”Như thường xảy ra trong các Sách Phúc Âm, tất cả đều khởi hành từ một cuộc gặp gỡ: cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với một người kia ”có nhiều của cải” (Mc 10,22). Ông là người ngay từ thời còn trẻ vẫn trung thành tâm giữ mọi giới răn của Luật Chúa, nhưng chưa tìm được hạnh phúc đích thực; và vì thế, ông ta hỏi Chúa Giêsu xem cần phải làm gì ”để được sự sống đời đời” (v. 17). Một đàng cũng như mọi người, ông ta bị cuộc sống sung mãn thu hút; nhưng đàng khác, ông ta quen cậy dựa vào sự giàu sang của mình, ông nghĩ rằng cả sự sống đời đời cũng có thể thủ đắc được một cách nào đó, có lẽ chỉ cần tuân giữ một giới răn đặc biệt. Chúa Giêsu đón nhận ước muốn sâu xa nơi người ấy – và thánh sử Phúc Âm nhận xét – Ngài nhìn người ấy với cái nhìn trìu mến: cái nhìn của Thiên Chúa (Xc v.21). Nhưng Chúa Giêsu cũng hiểu đâu là điểm yếu của người ấy: đó chính là sự quyến luyến với gia sản giàu có của ông; và vì thế, Ngài đề nghị ông phân phát hết tài sản cho người nghèo, nhờ đó, kho tàng của ông, và con tim của ông, không còn ở trên mặt đất nữa, nhưng ở trên trời, và ngài nói thêm: ”Anh hãy đến đây mà theo tôi!” (v. 22). Nhưng người ấy, thay vì đón nhận lời mời gọi của Chúa, thì lại buồn rầu bỏ đi (Xc v.23), vì không rời bỏ nổi những của cải giàu sang của mình, những của mà không bao giờ chúng có thể mang lại cho ông ta hạnh phúc và sự sống vĩnh cửu”.

”Và bấy giờ Chúa Giêsu nêu lên một giáo huấn cho các môn đệ – và cho cả chúng ta ngày nay: ”Thật là khó khăn dường nào đối với những người có nhiều của cải, vào được Nước Thiên Chúa!” (v.23). Khi nghe những lời này, các môn đệ ngỡ ngàng; và họ càng kinh ngạc hơn khi Chúa Giêsu nói thêm: ”Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu có vào Nước Chúa”. Nhưng khi thấy họ kinh ngạc, Chúa nói: ”Điều ấy không thể đối với con người, nhưng không phải không thể đối với Thiên Chúa! Vì tất cả đều có thể đối với Thiên Chúa” (Xc vv.24-27). Thánh Clemente thành Alessandria bình luận như sau: ”Dụ ngôn dạy những người giàu có đừng lơ là đối với phần rỗi của họ như thể họ đã bị kết án, và cũng không được vất của cải xuống biển, và đừng lên án sự giàu sang như là cạm bẫy và thù nghịch đối với cuộc sống, nhưng họ phải học cách sử dụng giàu sang và tìm kiếm được sự sống” (Quale ricco si salverà?, 27, 1-2). Lịch sử Giáo Hội đầy những tấm gương của những người giàu có, đã dùng tài sản của mình theo tinh thần Phúc Âm, và họ cũng đạt tới sự thánh thiện. Chúng ta chỉ cần nghĩ đến thánh Phanxicô, thánh nữ Elisabeth xứ Hungari, hoặc thánh Carlo Borromeo. Xin Đức Trinh Nữ Maria, là Tòa Đấng Khôn ngoan, giúp chúng ta vui mừng đón nhận lời mời gọi của Chúa Giêsu, để được cuộc sống sung mãn.

Chào thăm và nhắn nhủ

Sau khi ban phép lành cho các tín hữu, ĐTC nhắc đến lễ phong chân phước hôm thứ bẩy, 13-10-2012, tại Praha, thủ đô cộng hòa Tiệp, cho Cha Federico Bachstein và 13 anh em cùng dòng Phanxicô. ”Các vị bị giết hại vào năm 1611 vì đức tin. Đó là những chân phước đầu tiên của Năm Đức tin, và là những vị tử đạo: các ngài nhắc nhở chúng ta rằng tin nơi Chúa Kitô cũng có nghĩa là sẵn sàng chịu đau khổ với Chúa và cho Chúa..

Trong lời chào bằng tiếng Pháp, ĐTC nói: Vào đầu Năm Đức Tin này, Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu. Chúng ta đừng sợ sống và công bố niềm xin của chúng ta nơi Thiên Chúa. Ngày nay cũng vậy, sống cho Chúa Kitô đòi chúng ta phải thực hiện những chọn lựa, nhiều khi khó khăn, nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa tháp tùng và trợ giúp chúng ta làm điều thiện, vì ơn thánh của Chúa luôn đi trước chúng ta. Trong tháng Mân Côi này, chúng ta hãy hướng về Mẹ Maria. Mẹ đã biết đón nhận và sống Lời Chúa. Chúng ta cũng hãy phó thác cho mẹ các gia đình chúng ta và mọi tham dự viên Thượng HĐGM đang tụ họp tại đây để suy tư và trao đổi về việc tái Truyền Giảng Tin Mừng!

Khi chào các tín hữu nói tiếng Anh, ĐTC nói: Trong Năm Đức Tin này, giống như người đàn ông trong bài Tin Mừng hôm nay, ước gì chúng ta có can đảm hỏi Chúa xem điều gì chúng ta có thể làm hơn nữa, nhất là cho những người nghèo, người đơn độc, bệnh tật và đau khổ”.

Bằng tiếng Ba Lan, ĐTC nhắc đến sự kiện chúa nhật hôm qua tại Ba Lan và các giáo xứ Ba Lan trên thế giới, có cử hành Ngày Đức Giáo Hoàng với khẩu hiệu ”Đức Gioan Phaolô 2 – Vị Giáo Hoàng của gia đình”. Tôi cám ơn anh chị em vì dấu chỉ hiệp nhất này với Tòa Thánh, vì lời cầu nguyện của anh chị em và sự nâng đỡ dành cho các bạn trẻ được học bổng của Quỹ Ngàn Năm Mới, chuẩn bị cho ngày này. Tôi cầu mong trong mỗi gia đình Ba Lan được ngọn lửa nồng nhiệt của đức tin, của sự thiện và tình thương theo tinh thần Tin Mừng”.

Bằng tiếng Sloveni, ĐTC chào thăm các tín hữu đến từ miền Dob pri Damzalah về Roma hành hương nhân dịp kỷ niệm 250 năm xây dựng nhà thờ giáo xứ, như một dấu chỉ biết ơn vì hồng ân đức tin. Tôi cầu mong rằng ngày nay thánh đường của anh chị em cũng được đông chật tín hữu và tâm hồn của anh chị em luôn được tràn đầy ơn thánh và được củng cố trong sự thiện.

G. Trần Đức Anh OP
 

 

MẦU NHIỆM CỦA SỰ SỐNG

MẦU NHIỆM CỦA SỰ SỐNG

Con người rất thông minh, có thể chi phối, có thể điều khiển được gần như mọi sự trong cuộc đời này nhưng hoàn toàn bất lực trước sự sống. Con người có thể làm cho tăng thêm tuổi thọ, kéo dài sự sống thêm một thời gian nhưng đến ngày đến giờ đã "định" không ai có thể kéo dài thêm được nữa, cho dẫu chỉ một chút thời gian.

Cách đây không lâu, các giáo sư cũng như chủng sinh thuộc địa phận Xuân Lộc phải ngậm ngùi tiễn biệt một người con rất ưu tú của Giáo Hội về nhà Cha.

Ngài ra đi ở cái tuổi không còn trẻ nhưng cũng chưa quá già. Hết sức đặc biệt là Ngài đã cất công đi học ở phương xa để hấp thụ những môn thánh học về giúp cho quê nhà nhưng thời gian dạy học đó quá ngắn. Nhiều nỗ lực để giành lại sự sống cho một linh mục học hành chăm chỉ và siêng năng đều phải nhường chỗ cho chứng bệnh Ngài đang mang và tiếc thương ngậm ngùi tiễn biệt.

Mới đây thôi, một tin buồn cho Giáo Hội nói chung và cách riêng cho Giáo phận Bắc Ninh, cũng một cha giáo khá giỏi phải ra đi. Ngài lớn tuổi hơn cha giáo Xuân Lộc một chút nhưng thời gian giảng dạy của Ngài cũng chẳng được bao lâu.

Và, cũng hết sức ngậm ngùi đến với giáo phận Buôn Ma Thuột khi phải tiễn biệt một linh mục khá trẻ, với 40 tuổi đời và 3 năm linh mục. Nhiều và rất nhiều giáo dân cũng như linh mục và tu sĩ tiễn biệt cha trẻ này về nơi an nghỉ cuối cùng.

Không hề quen biết, chưa một lần gặp gỡ nhưng đứng trước sự ra đi của các cha như thế không khỏi để lại những nghĩ suy.

Sự sống là như thế đó, thật mỏng dòn và mong manh dù người đó là ai đi chăng nữa. Phận người quá mong manh dù đó là linh mục, tu sĩ, giáo dân hay cả giáo hoàng, giám mục, chủ tịch hay tổng thống của một nước. Có những người đang ở độ tuổi của làm việc, của nghiên cứu, của phục vụ nhưng đành phải để lại mọi sự đang dang dở.

Lời nguyện chiều thứ Sáu trong giờ Kinh Phụng Vụ tuần III như thế này : "Biết bao người hôm nay lìa thế – xin nhớ lại cái chết nhục nhằn của Chúa trên thập tự".

Biết bao người hôm nay lìa thế ! Biết bao nhiêu người lìa thế cũng có biết bao người sinh ra trong cõi nhân sinh này. Ngày sinh cũng như ngày lìa thế của mỗi người không ai biết được ngoài Thiên Chúa, tin hay không đó là chuyện của mỗi người. Ta đang cầu nguyện cho "biết bao người" nhưng ngày nào đến lượt ta làm sao ta biết được. Hoàn toàn không ai biết được, sự sống là như vậy đó.

Tôi có cơ may gần gũi với cha già, ngài là niên trưởng hiện tại trong anh em. Đã cố gắng và tận tình chữa chạy, một ngày kia bác sĩ cho về để chờ ngày lo hậu sự. Theo như lời bác sĩ nói thì xuất viện chỉ được dăm ba hôm. Và, mọi người đều chuẩn bị đến cái ngày lìa thế của ngài như lời của bác sĩ. Thế nhưng, một tuần trôi qua, hai tuần trôi qua nhưng sức khỏe của ngài dần hồi phục. Dĩ nhiên là không được như ngày trước vì cha già hoàn toàn sống phụ thuộc vào máy móc cũng như những hỗ trợ của y khoa. Đứng trước cảnh tình như thế và đứng trước lương tâm cũng như luân lý, nào ai dám ra tay quyết định sự sống của người anh em, của một con người.

Và, cũng có một cha già khác nằm dài trên giường bệnh non kém chục năm. Ngài vẫn còn sống nhưng chỉ hoàn toàn như đời sống thực vật. Hiện tại ngài vẫn được chăm sóc hết sức đặc biệt và kỹ càng qua người con tinh thần cũng như nhiều người khác nữa.

Không biết cha già kéo dài được bao lâu nữa nhưng quả thật sự sống vẫn là điều gì đó hết sức mầu nhiệm với con người.

Mỗi ngày còn được hít khí trời, mỗi ngày còn mở mắt nhìn mặt người cho dù người đó ta ít mến kém thương đi chăng nữa đó vẫn là hồng ân và là quà tặng của Thiên Chúa.

Hãy sống, hãy chia sẻ quà tặng mầu nhiệm của sự sống mỗi ngày ta có được từ ân ban của Chúa.

Hãy sống, hãy làm điều gì đó cho anh chị em đồng loại dẫu là một việc hết sức nhỏ nhoi như một lời kinh, như một lời cầu nguyện hay là một ly nước lã cho người đang đói khát ở cạnh bên ta.

Sự sống mầu nhiệm lắm ! Hãy yêu quý, hãy trân trọng mỗi ngày ta có được.

Anmai, CSsR

CÁI KÉT SẮT

CÁI KÉT SẮT

Tác giả Ba Chuông, có truyện rất ngắn mang tên: “Cái két sắt” như sau:

“Ông H. mới giàu lên vài năm nay, nhờ vợ ông có cả trăm mối lái Hàn, Trung, Việt buôn bán thịnh đạt. Ông xây nhà lớn vào bậc nhất ở một thị trấn kể là nhỏ nhất. Thiết kế trong nhà mới xây có một chỗ để két sắt. Ông nghe nói có cả ngàn mặt hàng két sắt đựng tiền trên thị trường. Có những két sắt hiện đại đề phòng kẻ trộm từ xa; két sắt có con mắt phân biệt người thân, người lạ; có két sắt sử dụng bằng dấu vân tay…

Cuối cùng, ông chọn mua một két sắt sử dụng bằng dấu vân tay đắt tiền và cho xây âm trong tường luôn. Ông nói với mọi người rằng: “Như thế mới bảo đảm. Chẳng có thằng nào dám rớ tới ông”.

Sau đó chỉ một tuần, trong khi uống rượu, lên giọng giàu có dạy đời, ông H. bị mấy tay anh chị đập cho giập nát hai bàn tay. Đi bệnh viện hai tuần. Mất dấu vân tay. Vợ ở nhà đập két sắt lấy hết tiền đi rồi.

Hình như bà H. đứng tên nhà, đất. Và nghe nói tất cả đã sang tên cho thằng tình nhân Trung Quốc rồi.

Cái két sắt thật là an toàn ! Thật là bảo đảm muôn năm !”

Ở đời, có quá nhiều người cho mình là khôn ngoan, đến nỗi có thể nói: ai cũng cho mình là khôn ngoan, nhưng thử hỏi: được mấy người tìm cho ra Đức Khôn Ngoan đích thực ? Hay chỉ là loại khôn ranh ma mãnh kiếm chác vơ vét về cho mình tất cả uy tín, danh dự, quyền lực, công sản, tư sản, bất chấp công lý, công bằng, bất chấp nhân quyền, nhân đạo, nhân ái, rồi khư khư ôm chặt lấy những thứ phù du ấy mà ước, mà tưởng sống muôn năm để tận hưởng cho thỏa lòng tham lam vô tận.

Vâng, người trần gian là thế: quí chuộng những gì thuộc về trần gian như là mình sẽ mãi mãi ở lại trong trần gian này. Sự giàu có, uy tín, danh dự, quyền lực, sắc đẹp, tiền của… đều là những thứ phù du và được cất giữ trong cái tôi phù du mỏng mảnh, cái tôi tội lỗi, tối tăm, tồi tàn, tồi tệ, mà người ta cứ tưởng là cái két sắt bền vững muôn năm. Như thế là khôn ngoan sao ?

Lời Chúa trong sách Khôn Ngoan hôm nay dạy: “Đem so sánh sự giàu sang với sự khôn ngoan, tôi kể sự giàu sang như không”.

Sự giàu sang mà gọi là hư không thì thật là uổng công cho bao người cắm cúi cất công cả đời đi tìm cái hư không ấy.

Người thanh niên trong bài Tin Mừng hôm nay một đàng là muốn sống đời đời, nhưng không muốn buông bỏ, chia sẻ những gì không thuộc về cõi sống đời đời.

Chúa Giêsu nhìn anh ta mà thương. Thương vì anh ta lành, nhưng chưa khôn. Bởi anh có khát vọng sống đời đời nhưng không dám buông bỏ cái phù vân. Hóa ra, anh đi xin thuốc trường sinh bất tử để trường sinh bất tử ở đời này mà tận hưởng của đời này, chứ không xin trường sinh bất tử ở đời sau ! Thế thì nếu Chúa Giêsu bảo: “Ngươi chỉ thiếu một điều, là ngươi hãy đi bán tất cả gia tài, đem bố thí cho người nghèo khó và ngươi sẽ có một kho báu trên trời, rồi đến theo Ta”, thì trường sinh bất tử còn ý nghĩa gì đối với anh ta nữa ?

Thật đáng tiếc ! Cả bạn, và tôi, cả chúng ta cũng không khác gì anh ấy bao nhiêu đâu. Muốn sống đời đời để mà tận hưởng của cải trần gian này, vì ta đang có cái để tận hưởng đấy sao ? Chúa Giêsu cũng đang to nhỏ với chúng ta bao lần về cách nhìn nhận chân giá trị của những sự đời này, và dặn dò hãy dùng tiền của đời này mà mua lấy Nước Thiên Đàng mai sau.

Thế mà, có những chuyện đời thường gặp:

“Không có tiền góp cho các em vui Trung Thu đâu nhé. Ông không thấy sao. Mới đó mà em xuống sắc lắm rồi. Cần phải đi thẩm mỹ viện gấp gấp”.

“Mình còn phải xây tường rào mất cả trăm triệu, ông bày đặt hứa với Cha Sở cúng kiếng, đóng góp làm chi. Ông kiếm tiền mà cúng đi. Tôi không biết”.

“Em mới mất cái xe… Để cái xe máy trong nhà. 2g sáng thì còn, 3g thì mất. Xe không đáng là bao, nhưng lại là phương tiện để chở cha mẹ già đi Lễ. Em rất tiếc. Cha em thì bảo: mấy đứa xì ke không có xì ke chích hút tiế,p lỡ nó bất đắc kỳ tử không kịp ăn năn tội thì sao. Thôi, cho nó có cái qua ngày và may ra, có thời gian mà sám hối, trở về với Chúa con ạ. Cha mẹ đi xe ôm được mà”.

Và còn bao nhiêu lần ta từ chối cho đi những gì ta đang có. Không vì mình giàu hay mình nghèo, mà chỉ vì mình quá khắng khít với của cải phù vân ấy.

Lời Chúa hôm nay muốn mời gọi chúng ta trước tiên hãy tìm kiếm Đức Khôn Ngoan và sống theo Đức Khôn Ngoan ấy. Chúa Giêsu bảo “đến theo ta” là theo Giáo Lý của Chúa, theo cách sống của Chúa, theo Con Đường, theo Sự Thật, theo Sự Sống của Chúa Giêsu. Ấy chính là tìm được sự khôn ngoan đích thực.

Thánh Phaolô xác quyết: “Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do Thái hay Hy Lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa.Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người” ( 1Cr, 24 – 25 ).

Và một khi đã theo Chúa Giêsu Kitô rồi, hẳn là chúng ta phải học hiểu Giáo Lý của Ngài, để nên giống Ngài và mặc lấy cái nhìn của Ngài mà nhìn nhận mọi sự ở đời này chẳng có gì là muôn năm cả, không có gì tồn tại cả, và chỉ có duy nhất một Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, cùng với Chúa Cha và Thánh Thần sẽ là Vĩnh Cửu, là tồn tại muôn đời. Và chỉ những ai tin vào Chúa Giêsu và sống theo Lời Ngài dạy, mới được trường tồn với Ngài mà thôi.

Nơi Đức Giêsu, đựng cả kho tàng trường sinh bất tử và vĩnh cửu cho chúng ta. Cái két sắt nào có thể đựng cả và thế gian này đi nữa, cũng sẽ phải han gỉ hư nát đi, nhưng Đức Kitô gìn giữ chúng ta tồn tại muôn đời, vì chính Ngài cứu chúng ta ra khỏi sự hư nát ấy.

Lạy Chúa, “xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan. Xin dạy chúng con biết đếm ngày giờ, để chúng con luyện được lòng trí khôn ngoan” ( Tv 89 ) là sống kết hiệp khắng khít với Lời, Thánh Thể và Thánh Giá Chúa Giêsu từng giây phút. Amen.

 PM. CAO HUY HOÀNG, 12 tháng 10-2012

Đức Thánh Cha khai mạc Năm Đức Tin

Đức Thánh Cha khai mạc Năm Đức Tin

VATICAN. Sáng ngày 11 tháng 10-2012, ĐTC Biển Đức 16 đã chủ sự thánh lễ cùng với 400 Hồng Y và GM thế giới, để khai mạc Năm Đức Tin.

Buổi lễ cũng là dịp kỷ niệm đúng 50 năm khai mạc Công đồng chung Vatican 2, và 20 năm công bố Sách Giáo Lý Công Giáo.

Trong số 400 vị đồng tế với ĐTC có 80 Hồng y, 15 nghị phụ đã từng tham dự Công Đồng Vatican 2 (trong số 70 vị còn sống), 8 vị Thượng phụ và thủ lãnh của các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, 191 TGM và GM, ngoài ra có 104 vị Chủ tịch HĐGM trên thế giới. Hiện diện tại buổi lễ với chỗ danh dự trên lễ đài đặc biệt có Đức Thượng Phụ Bartolomaios I, Giáo Chủ Chính Thống Constantinople và cũng là vị thủ lãnh danh dự chung của toàn Chính Thống giáo; tiếp đến là Đức Giáo Chủ Anh giáo, Rowan Williams, TGM Canterbury. Ngoài ra có hơn 20 ngàn tín hữu, trong đó có đông đảo các LM và tu sĩ, đặc biệt là sinh viên nam nữ của nhiều Đại học Giáo Hoàng ở Roma.

Cảnh tượng 400 vị GM đồng tế đi rước từ giữa quảng trường tiến lên lễ đài gợi lại hình ảnh cách đây nửa thế kỷ hàng ngàn nghị phụ cũng đi rước như thế tiến vào Đền thờ để cử hành thánh lễ khai mạc Công Đồng do Đức Gioan 23 chủ sự.

Một nghi thức khác nhắc lại Công Đồng, đó là cuộc rước Sách Thánh đặt lên ngai cạnh bàn thờ. Ngai giá sách này cũng đã được dùng trong Công Đồng, được đặt tại trung tâm Đền thờ trong khóa họp, để nói lên sự kiện chính Lời Chúa chủ tọa và hướng dẫn Công Đồng.



Bài giảng của Đức Thánh Cha

Trong bài giảng thánh lễ, ĐTC đã gợi lại biến cố khai mạc Công đồng chung Vatican 2 và ảnh hưởng của Công Đồng trên Giáo Hội, đồng thời cũng liên kết biến cố này với Năm Đức Tin mà ngài ấn định từ ngày 11 tháng 10 hôm qua, đến chúa nhật 24-11 năm tới. Ngài nói:

”Năm Đức Tin mà chúng ta khai mạc hôm nay gắn liền với toàn thể hành trình của Giáo Hội trong năm 50 năm qua, từ Công Đồng, qua Giáo Huấn của vị Tôi Tớ Chúa Đức Phaolô 6, Người đã ấn định Năm Đức Tin vào năm 1967, cho đến Đại Năm Thánh 2000, qua đó Chân Phước Gioan PHaolô 2 đã tái đề nghị với toàn thể nhân loại Chúa Giêsu Kitô là Đấng Cứu Thế duy nhất, hôm qua, hôm nay và mãi mãi..

”Công Đồng Vatican 2 đã không muốn đặt đề tài đức tin trong một văn kiện chuyên biệt. Nhưng Công Đồng đã hoàn toàn được linh hoạt nhờ ý thức và ước muốn có thể nói là phải tái chìm đắm trong mầu nhiệm Kitô để có thể tái đề nghị hữu hiệu cho con người ngày nay. Về điểm này Vị Tôi Tớ Chúa Phaolô 6 đã nói như sau 2 năm sau khi bế mạc Công Đồng: ”Tuy Công Đồng không đích thị bàn về đức tin, nhưng Công Đồng nói về đức tin trong mỗi trang, nhìn nhận đặc tính chủ yếu và siêu nhiên của đức tin, giả thiết đức tin phải toàn vẹn và mạnh mẽ, và kiến tạo các đạo lý của mình trên đức tin. Chỉ cần nhắc lại vài lời khẳng định của Công Đồng (…) để thấy rõ tầm quan trọng thiết yếu mà Công Đồng, phù hợp với truyền thống đạo lý của Giáo Hội, dành cho đức tin, đức tin chân chính, có nguồn mạch là Chúa Kitô và qua trung gian của Huấn quyền Hội Thánh” (Giáo lý buổi tiếp kiến chung ngày 8-3-1967).



ĐTC Biển Đức cũng nhắc lại cảm nghiệm bản thân của ngài: ”trong Công Đồng có một sự căng thẳng cảm động đối với nghĩa vụ chung là làm cho chân lý và vẻ đẹp của đức tin được rạng ngời trong thời đại chúng ta ngày nay, không hy sinh đức tin cho những đòi hỏi của hiện tại và cũng không gắn chặt đức tin với quá khứ: trong đức tin có vang dội hiện tại vĩnh cửu của Thiên Chúa, Đấng vượt lên trên thời gian và chỉ có thể được chúng ta đón nhận trong hiện tại không thể lập lại. Vì thế, tôi thấy rằng điều quan trọng nhất, đặc biệt là trong dịp kỷ niệm đầy ý nghĩa như hiện nay, cần phải khơi dậy trong toàn thể Giáo Hội sự căng thẳng tích cực ấy, sự khao khát nồng nhiệt tái loan báo Chúa Kitô cho con người ngày nay.”

ĐTC nhận xét rằng: ”Nhưng để đà thúc đẩy nội tâm này hướng đến sự tái truyền giảng Tin Mừng không phải chỉ là lý tưởng và không lẫn lộn, cần làm sao để sự thúc đẩy ấy dựa vào một nền tảng cụ thể và chính xác và nền tảng này chính là những văn kiện của Công Đồng Vatican 2, trong đó nó được biểu lộ. Vì thế, tôi đã nhiều lần nhấn mạnh về sự cần thiết phải trở về với văn bản của Công Đồng – để tìm ra tinh thần đích thực trong đó, – và tôi đã lập lại rằng gia sản đích thực của Công Đồng chung Vatican 2 là ở trong các văn kiện. Sự tham chiếu các văn kiện Công Đồng giúp tránh được những thái cực hoài tưởng lỗi thời hoặc thái độ chạy về đàng trước, đồng thời cũng giúp lãnh hội sự mới mẻ trong sự tiếp tục. Công Đồng không tạo ra điều gì mới về đức tin, cũng không muốn thay thế những gì cổ kính. Đúng hơn, Công Đồng quan tâm làm sao để cũng đức tin ấy tiếp tục được sống trong thời nay, tiếp tục là một đức tin sinh động trong một trong một thế giới đang biến chuyển.

”Nếu chúng ta tiến theo hướng đi đích thực mà Chân phước Gioan 23 muốn đề ra cho Công Đồng chung Vatican 2, chúng ta có thể thực hiện hướng đi đó trong Năm Đức Tin này, trong hành trình duy nhất của Giáo Hội muốn tiếp tục đào sâu hành trang đức tin mà Chúa Kitô đã ủy thác. Các nghị phụ Công Đồng muốn tái trình bày đức tin một cách hữu hiệu; và sở dĩ các vị cởi mở đối thoại trong tin tưởng với thế giới hiện đại là vì các vị chắn chắn về đức tin của mình, về đá tảng vững chắc trên đó họ dựa vào. Trái lại, trong những năm sau đó, nhiều người đã đón nhận não trạng thịnh hành mà không phân định, đặt lại vấn đề chính những nền tảng của kho tàng đức tin mà rất tiếc là họ không còn cảm thấy là của họ trong chân lý của họ.

”Sở dĩ hôm nay Giáo Hội đề nghị một Năm Đức Tin mới và tái truyền giảng Tin Mừng, không phải để cử hành một kỷ niệm, nhưng vì Giáo Hội đang cần Năm Đức Tin hơn cả cách đây 50 năm! Và câu trả lời cần đáp lại nhu cầu ấy cũng là câu trả lời mà các vị Giáo Hoàng và các nghị phụ mong muốn và được chứa đựng trong các văn kiện Công Đồng. Cả sáng kiến thành lập một Hội đồng Tòa Thánh thăng tiến việc tái truyền giảng Tin mừng cũng ở trong viễn tượng ấy. Tôi đặc biệt cám ơn Hội đồng này vì sự dấn thân đặc biệt cho Năm Đức Tin. Đâu là ý nghĩa một cuộc sống, một thế giới không có Thiên Chúa, thời Công Đồng người ta đã có thể biết từ một vài trang bi thảm của lịch sử, nhưng giờ đây rất tiếc là chúng ta thấy nó xảy ra hằng ngày chung quanh chúng ta. Đó là một sự trống rỗng đang lan tràn. Nhưng chính từ kinh nghiệm về sa mạc, từ sự trống rỗng ấy, chúng ta có thể tái khám phá niềm vui đức tin, tầm quan trọng sinh tử của đức tin đối với chúng ta. Trong sa mạc người ta tái khám phá giá trị của những gì là thiết yếu để sống; cũng thế trong thế giới ngày này có vô số những dấu chỉ, thường được diễn tả trong một hình thức mặc nhiên hoặc tiêu cực, về sự khao thát Thiên Chúa, về ý nghĩa tối hậu của cuộc sống. Và trong sa mạc, đặc biệt cần những người có đức tin, qua chính cuộc sống của họ, chỉ cho chúng ta con đường về Đất Hứa và giữ vững niềm hy vọng. Đức tin được sống thực mở rộng tâm hồn cho Ơn Thánh Chúa, là Đấng giải thoát khỏi thái độ bi quan. Ngày nay hơn bao giờ hết, rao giảng Tin Mừng có nghĩa là làm chứng một cuộc sống mới, được Thiên Chúa biến đổi, và chỉ đường.

“Bài đọc thứ I trích từ sách Huấn Ca nói với chúng ta về sự khôn ngoan của người du hành (Xc Hc 34,9-13): hành trình là biểu tượng cuộc sống và người lữ hành khôn ngoan là người đã học nghệ thuật sống và có thể chia sẻ với anh chị em mình – như vẫn xảy ra với các tín hữu hành hương theo con đường Santiago de Compostela, hoặc trên những con đường khác, không phải tình cờ mà các cuộc hành hương này tái thịnh hành trong những năm gần đây. Làm sao mà bao nhiêu người ngày nay cảm thấy cần phải đi hành hương theo những con đường ấy? Phải chăng tại đó họ tìm được, hoặc ít là trực giác được ý nghĩa cuộc sống của chúng ta trên trần thế? Đó cũng là cách thức chúng ta có thể áp dụng cho Năm Đức Tin: đó là một cuộc lữ hành trong sa mạc của thế giới ngày nay, trong đó ta chỉ mang theo mình những gì là thiết yếu: không gậy, không bao bị, không bánh và không tiền bạc, không mang theo hai áo dài, như Chúa nói với các Tông Đồ khi sai họ đi giảng đạo (Lc 9,3), như Tin Mừng và đức tin của Giáo Hội, mà các Văn kiện Công Đồng Vatican 2 diễn tả một cách rạng ngời, cũng như Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo công bố cách đây 20 năm diễn tả.

Và ĐTC kết luận rằng ngày 11 tháng 10-1962 là lễ kính Đức Maria Chí Thánh Mẹ Thiên Chúa. Chúng ta phó thác cho Mẹ Năm Đức Tin, như tôi đã làm cách đây một tuần khi đến hành hương tại Loreto. Xin Đức Trinh Nữ Maria luôn chiếu sáng như ngôi sao trên con đường tái truyền giảng Tin Mừng. Ước gì Mẹ giúp chúng ta thực hành lời nhắn nhủ của Thánh Phaolô: ”Hãy để cho Lời Chúa Kitô ngự trị nơi anh chị em trong sự phong phú của Lời. Với mọi khôn ngoan anh chị em hãy dạy dỗ và nhắn nhủ nhau.. Và bất kỳ anh chị em làm hãy trong lời nói và công việc, tất cả hãy xảy ra nhân danh Chúa Giêsu, nhờ Người mà cảm tạ Thiên Chúa Cha” (Cl 3,16-17)

Đc Thượng Phụ Bartolomaios

Cuối thánh lễ, Đức Thượng Phụ Bartolomaios đã lên tiếng phát biểu. Ngài nhắc đến những ảnh hưởng tích cực của Công đồng chung Vatican 2 về đại kết Kitô, và gợi lại kinh nghiệm bản thân của ngài về Công Đồng, khi còn là một sinh viên trẻ học tại Giáo Hoàng Học Viện Đông phương ở Roma, và ngài cũng đích thân tham dự vài khóa họp đặc biệt của Công Đồng. Đức Thượng Phụ nói: ”Chúng tôi đã chứng kiến tận mắt các GM cảm nghiệm với một ý thức mới về giá trị của truyền thống và đức tin ”được thông truyền cho các thánh một lần cho tất cả ” (Giuda 1,3). Đó là một thời kỳ đầy triển vọng, nhiều hy vọng ở bên trong cũng như bên ngoài Giáo Hội Công Giáo.
Đức Thượng Phụ nhắc đến những tiến bộ cụ thể trong việc đối thoại thần học giữa Công Giáo và Công Giáo, và bao nhiêu thành quả khác của Công Đồng, và ngài nói đến nỗ lực chung mà Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống có thể thực hiện được.

Ngài nói với ĐGH: ”Hiền Huynh quí mến, sự hiện diện của chúng ta ở đây có nghĩa và đánh dấu sự dấn thân chung của chúng ta cùng làm chứng cho sứ điệp cứu độ và chữa lãnh cho anh chị em nhỏ bé nhất của chúng ta: những ngừơi nghèo khổ, bị áp bức, bị gạt ra ngoài lề thế giới được Thiên Chúa tạo dựng. Chúng ta hãy bắt đầu những kinh nguyện cho hòa bình và an sinh của anh chị em Kitô chúng ta đang sống tại Trung Đông. Trong cái lò bạo lực hiện nay, sự phân cách và chia rẽ đang gia tăng giữa các dân nước, ước gì tình thương và ước muốn hòa hợp mà chúng ta đang tuyên bố ở đây, cũng như sự cảm thông và chúng ta tìm kiếm bằng đối thoại và tôn trọng lẫn nhau, trở thành mẫu mực cho thế giới chúng ta. Ước gì nhân loại có thể giơ tay ra cho người khác, và chúng ta có thể cùng nhau làm việc để khắc phục đau khổ của các dân tộc khắp nơi, đặc biệt là nơi họ đang chịu đau khổ vì đói khát, thiên tai, bệnh tật và chiến tranh, mà rốt cục chúng ảnh hưởng đến cuộc sống của tất cả chúng ta”.

Trao sứ đip Công Đồng

Sau khi ban phép lành kết thúc, ĐTC đã diễn lại một cử chỉ đã được thực hiện khi bế mạc Công Đồng chung Vatican 2: Đức Phaolô 6 đã trao 7 Sứ điệp gửi Dân Chúa.

ĐTC Biển Đức 16 cũng trao 7 Sứ điệp ấy cho các đại diện của cộng đồng nhân loại: vị Niên trưởng và Phó niên trưởng đoàn ngoại giao cạnh Tòa Thánh và 5 đại sứ năm châu lên nhận Sứ điệp, đại diện cho các chính phủ. Tiếp đến là đại diện của giới khoa học và trí thức, nghệ sĩ, các ký giả, phụ nữ, công nhân, di dân, giới trẻ, và cả một người tàn tật ngồi trên xe lăn nữa.

G. Trần Đức Anh OP

ĐTC. BÊNÊĐÍCTÔ XVI VÀ NĂM ĐỨC TIN

 ĐTC. BÊNÊĐÍCTÔ XVI VÀ NĂM ĐỨC TIN

Lời giới thiệu:

Năm Đức Tin được Đức Thánh Cha Bênêdictô XVI khởi xướng qua việc công bố Tông Thư Tự Sắc Porta Fidei (Cánh Cửa Đức Tin) trong đó Ngài nói rõ lý do, mục đích và những hướng dẫn cho việc cử hành năm Đức Tin.

Năm Đức Tin bắt đầu từ ngày 1 tháng 10 năm 2012 – kỷ niệm 50 năm công đồng Vatican II và 25 năm xuất bản cuốn Giáo Lý Công Giáo – cho đến ngày 14 tháng 11 năm 2013, dịp lễ Chúa Kitô Vua. Trọng tâm là động viên Kitô hữu tái khám phá đức tin của mình để tìm lại “niềm vui và sự hăng hái tìm gặp Đức Kitô,” đồng thời đối diện với chủ nghĩa tục hoá và những thách đố khác đang làm khủng hoảng đức tin của nhiều Kitô hữu.

Nói chuyện với thành viên Thánh Bộ Tín Lý ngày 27 tháng 1 năm 2012, ĐTC Bênêdictô XVI nói đến “hiện nay tại nhiều nơi, đức tin có nguy cơ bị dập tắt, như một ngọn lửa đang tàn” vì “những khủng hoảng đức tin sâu xa, nhất là mất dần ý thức tôn giáo” trong đời sống.

Năm Đức Tin nhấn mạnh đến chưong trình Tân Phúc Âm hoá, một nổ lực đã được khai tâm từ thời ĐTC Gioan Phaolô II, nhằm củng cố đức tin cho Kitô hữu, nhất là những người “đã đánh mất căn tính của mình,” và rao giảng cho thế giới biết sự cần thiết phải có Thiên Chúa trong đời sống xã hội.

Trong Năm Đức Tin, chúng ta sẽ có dịp học hỏi nhiều về đức tin Công giáo mà chúng ta đã lãnh nhận. Như tiêu đề của Tự Sắc Porta Fidei- Cánh Cửa Đức Tin, nhắc nhở mọi Kitô hữa đã bước qua ngưỡng cửa đức tin là bí tích rửa tội, giờ đây cần mở lại cánh cửa đó để đón nhận luồng gió mới của Chúa Thánh Thần khai sáng tâm trí và hâm nóng lại nhiệt tình sống đạo.

Trong bài viết đầu tiên của loạt bài về Năm Đức Tin, chúng ta cùng nhau tìm hiểu về nguyên nhân và động lực (có tính cách cá nhân) thúc đẩy ĐTC Bênêdictô XVI công bố năm Đức Tin này.

Bênêdictô XVI Đối Thoại Với Thế Giới Hiện Đại

Là một chuyên viên (peritus) trẻ cho các nghị phụ tại công đồng Vatican II, là một thần học gia trong những năm hậu Công Đồng, là Bộ Trưởng thánh bộ Tín Lý Đức Tin trong 25 năm, ĐTC Bênêdictô đã tỏ ra dè dặt trong vấn đề đối thoại với thế giới hiện đại. Hiến chế mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay, có tên là Vui Mừng và Hy Vọng – Gaudium et Spes- được xem là văn kiện mở đường cho những đối thoại giữa Giáo hội và thế giới, và được nhiều thần học gia lấy làm điểm xuất phát cho phong trào “đem đạo vào đời” hay “Thiên Chúa nhập thể để Giáo hội nhập thế”.

Nhưng ĐTC Bênêdictô không hoàn toàn đồng nhất với tư tưởng diễn dịch đó. Ngược lại, Ngài có nhiều thắc mắc và cẩn trọng khi suy tư về Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng. Trong nhiều bài viết và phát biểu, ĐTC Bênêdictô cho là cách giải thích của nhiều thần học gia đưong thời về Hiến Chế này là sai lầm, hoặc vì họ hiểu sai lạc, hoặc vì họ cắt nghĩa bản văn không đúng với bối cảnh của nó. ĐTC Bênêdictô đã nhiều lần nhắc nhở các thần học gia cần đọc Hiến Chế này không như một bản văn độc lập, nhưng chung với những văn kiện khác cúa Công Đồng, nhất là Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen gentium – Ánh Sáng Muôn Dân để thấy rõ những gì Thánh Công Đồng muốn dạy, và để soi tỏ những yếu tố chưa rõ ràng trong Hiến Chế Gaudium et Spes.

Chính thần học gia trẻ J. Ratzinger (ĐTC Bênêdictô) đóng vai trò chủ động trong việc soạn bản thảo cho Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng này. Trong thảo luận, Ngài đưa ra những tiềm năng nguy hiểm mà nhiều nghị phụ, và nhất là các thần học gia bấy giờ, quá lạc quan và phấn khởi khi nói đến đối thoại với thế giới hiện đại. Qua cái nhìn nhân chủng học và vũ trụ học của Teihard de Chardin (một thần học gia Pháp có ảnh hưởng lớn thời bấy giờ), một số các nghị phụ và các chuyên viên cố vấn (peritus) đã quá vội vàng đồng hoá niềm hy vọng Kitô hữu với niềm tin của thế giới hiện đại qua những tiến bộ của con người, nghĩa là, Giáo Hội không còn đối nghịch với “Đời” vì cả hai cùng nhắm đến một mục đích cao cả là phục vụ công ích cho con người và xã hội.

J. Ratzinger cho rằng đây chính là yếu điểm “đơn sơ” của các nhà thần học cắt nghĩa Hiến Chế với sự nhầm lẫn giữa thành quả khoa học và hy vọng Kitô giáo. Ngài sợ họ tập trung quá nhiều và mầu nhiệm nhập thể (Thiên Chúa làm Người), mà quên đi mầu nhiệm Thập Giá (Đức Kitô chết vì không cùng một quan điểm về Chân Lý và Luân Lý với thế giới Ngài sống).

Chúng ta có thể nói được rằng với ĐTC Bênêdictô XVI, Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng không là giấy phép tùy tiện cho những đối thoại liên tục giữa Giáo Hội với thế giới hiện đại, mà là những cảnh báo về tiêu chuẩn hạn chế cần quan tâm trong những đối thoại đó.[1]

Với ĐTC Bênêdictô, đối thoại với thế giới chỉ thật sự đồng nhất khi thế giới (mà danh từ Việt Nam tinh khéo gọi là Thế Gian) được tinh lọc, thánh hoá.[2]

Ratzinger cũng đã nhiều lần nói đến sự cần thiết tái khám phá Công Đồng Vatican II khi Ngài công khai phê bình sự cởi mở của Công Đồng đã bị nhiều thần học gia diễn dịch sai lạc.[3] Theo Ratz¬inger, thế giới hiện đại rõ ràng không cùng quan điểm với Giáo Hội khi bàn về Chân Lý, về Thiên Chúa, quan niệm Tội, Đúng- Sai v.v…

Vì thế, Kitô hữu cần tái khám phá căn tính mình “trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian” (Jn 17:14-16).

Bênêdictô XVI và Hiện Trạng Âu Châu

Từ khi làm giáo hoàng, Bênêdictô XVI tiếp tục ưu tư của vị tiền nhiệm ĐTC John Paul II, đã nhiều lần lên tiếng về khủng hoảng đức tin Công Giáo nói riêng, và đức tin Kitô giáo nói chung, ở châu Âu.[4] Theo thống kê về con số, Kitô hữu vẫn gia tăng ở Á Châu và Phi Châu, nhưng con số những người hoặc công khai từ chối đức tin Kitô giáo, hoặc không sống đức tin Kitô giáo, ngày càng nhiều ở Châu âu và Bắc Mỹ. Các nhà thờ vắng bóng giáo dân. Họ không muốn đề cập đến tôn giáo trong học đường hay ngoài xã hội. Ở nước Đức, nhiều Kitô hữu rút tên mình ra khỏi danh sách đóng thuế cho nhà thờ, vì họ tự hỏi tại sao lại đóng thuế cho nhà thờ khi họ không còn tin nữa.

Bên cạnh đó, mức sinh sản của người Âu Châu thấp. Họ nghĩ đến hưởng thụ cá nhân và không nghĩ đến tương lai có con cái hay cho con cái. Ngay cả khi chết, nhiều người không muốn chôn cất theo nghi thức tôn giáo cổ truyền tốn kém, mà chỉ rải tro trên những nơi họ muốn.

Âu châu tục hoá thật sự đang trở lại thời kỳ vô thần, không theo nghĩa là không tin có Thiên Chúa, nhưng theo một dạng vô thần mới ở đó con người sống không cần Thiên Chúa, và nếu có Thiên Chúa thì Ngài cũng không ảnh hưởng gì đến đời sống con người.

Khi không tin vào Thiên chúa, con người lần mò tìm kiểm cho mình một đối tượng làm căn bản cho giá trị đạo đức và trật tự xã hội. Về mặt sinh hoạt, khi Thiên Chúa và tôn giáo không giải đáp được những nhu cầu hiện tại của con người, họ đặt hy vọng vào khoa học kỹ thuật, một Vị Cứu Tinh mới của họ.

Đức Giáo hoàng lên tiếng rằng khủng hoảng Âu Châu gắn liền với khủng hoảng Giáo Hội. Với nền văn hoá Hậu Hiện Đại tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, đặt nặng quyền của con người hơn là nghĩa vụ của họ đối với tha nhân, ĐTC Bênêdictô XVI đã cảnh cáo rằng con người đang tự tiêu diệt mình vì tính ích kỷ, khi con người là đối tượng mà xã hội phục tùng hơn là phục tùng xã hội. ĐTC Bênêdictô còn khẳng định rằng chỉ có một giải pháp cho khủng hoảng hiện tại là Âu Châu cần quay về với nguồn gốc Kitô giáo của mình.

Khủng Hoảng Triết Lý Nhân Bản Dẫn Đến Khủng Hoảng Đức Tin

Việc ĐTC Bênêdictô XVI quan tâm cách đặc biệt đến tình trạng đức tin và sống đạo của Âu Châu đã quá rõ ràng. Cho đến ngày nay Âu Châu vẫn đóng vai trò then chốt cho nền tảng đức tin và các sinh hoạt của Giáo hội. Dù con số giáo dân ở Á Châu và Phi Châu đang gia tăng, nhưng ảnh hưởng về đời sống đạo vẫn còn lệ thuộc vào tư tưởng Âu Châu rất nhiều.

Khi lên ngôi giáo hoàng và chọn tên Bênêdictô, Đức Thánh Cha đương nhiệm không chỉ muốn nhắc đến vị tiền nhiệm Bênêdictô XV (1914-1918) người có công hạn chế thiệt hại thế chiến thứ nhất chia rẽ âu châu, mà Ngài còn nhắm đến thánh Bênêdictô, đấng sáng lập dòng Biển Đức và là quan thầy của Âu Châu vì những đóng góp của thánh nhân cho di sản Kitô giáo không thể chối cãi được trong văn hoá Âu châu.[5]

Âu châu đang gặp khủng hoảng với chính những giá trị đã tạo ra nó, và đang bị thoái hoá vì chính những giá trị đó bị hiểu sai lạc.

Khủng hoảng phát xuất từ thành quả Tự Do và Dân Chủ trong xã hội. Tự Do (freedom), một tiến bộ của xã hội, đã bị giáng cấp xuống thành quyền tự quyết cho chính cá nhân mình. Tự Do hiểu theo lối cá nhân chủ nghĩa tùy tiện này hoàn toàn tiêu cực và trống rỗng. Dân Chủ (democracy), một thành quả của nhân loại, được coi như một lá chắn (hay bùa hộ mạng) bảo vệ cho Tự Do cá nhân qua việc trưng cầu ý muốn của đa số. Nói cách khác, trong xã hội, con người đòi quyền tự do tuyệt đối cho mình, và họ dùng lá bùa Dân Chủ để bảo vệ các quyền căn bản này. Ví dụ, Tự Do luyến ái, đồng tính, phá thai, trợ tử, vô thần… được bảo vệ bởi hiến pháp của một đất nước dân chủ.

ĐTC Bênêdictô nhấn mạnh rằng Tự Do và Dân Chủ là những món quà tuyệt vời của nhân loại, nhưng nếu không bị ràng buộc bởi mục đích tìm công phúc cho xã hội và tìm chân lý, chúng sẽ trở thành những nguyên tắc trống rỗng, dẫn đến hình thành chủ nghiã tương đối (relativism), chủ nghiã hư vô (nihilism), chủ nghĩa yếm thế (cynicism), và kết qủa là con người “ngây thơ” cổ động cho một văn hoá sự chết mà họ cho là phục vụ cho lợi ích (hưởng thụ) của họ.[6]

Theo Ratzinger, Âu châu không chịu rút ra bài học từ sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản, áp dụng phương thức tự quyết (self-determination) cho mình mà không cần Thiên Chúa hay tôn giáo như một yếu tố bảo đảm tính khách quan của Chân Lý, của Tự Do, của Luân Lý Đúng-Sai. Chủ nghĩa cộng sản dùng vũ lực chính phủ (khác với các nước khác dùng lá phiếu Dân Chủ) để củng cố thêm quyền tự định đoạt này.[7]

Theo ĐTC Bênêdictô, Âu Châu đang rối loạn với những hệ tư tưởng lẫn lộn mà không có một hướng đi rõ ràng, ngoại trừ điều mà nhiều người cho là “tín lý bất khả ngộ” của xã hội, đó là: tự do cá nhân cần phải được tôn trọng (tuyệt đối).

Khi quyền tự quyết (tự do cá nhân) được cổ võ mà thiếu cơ sở luân lý hay sự đồng thuận về luân lý, con người sẽ rơi vào tình trạng hổn loạn dẫn đến tự hủy diệt. Ví dụ, khoa học đã thành công Tạo Sinh Vô Tính (cloning) chó, mèo, dê, cừu… Vậy việc gì ngăn cản những khoa học gia điên rồ rồi đây sẽ tạo ra những con người trong phòng thí nghiệm với mục đích cá nhân, hay các nhà độc tài tạo ra con người với mục đích quân sự?

Vậy đâu là nền móng Luân Lý- Đạo Đức của xã hội? ĐTC Bênêdictô trả lời là Sự Thật, vì như Chúa Giêsu nói “Sự Thật sẽ giải thoát chúng ta” (Jn 8:32). Chính Chúa Giêsu Kitô là Sự Thật (Jn 24:6). Vì thế, Ngài là nền tảng Luân Lý-Đạo Đức cần có của xã hội.

Triết lý Âu Châu ngày nay lặp lại tư tưởng thời Phục Hưng, cho rằng Sự Thật là sản phẩm của xã hội được quyết định bởi đa số (nhiều người thì đúng, ít người thì sai). Với Bênêdictô, Chân Lý và Tự Do không là sản phẩm con người mà là quà tặng con người đón nhận. Chân Lý được Thiên Chúa mặc khải trong lịch sử, và chính nó trở thành nền tảng Luân Lý của con người khi Thiên Chúa ban cho con người khả năng nhận thức và áp dụng Chân Lý đó trong từng hoàn cảnh sống của xã hội dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Nghĩa là, Chân Lý và Luân Lý là giới răn Thiên Chúa truyền ban, không phải là lựa chọn do con người đặt ra và làm chủ. Kết qủa của một xã hội tự tạo Chân Lý hay tiêu chuẩn Đạo Đức bằng ý kiến đa số hay ý của kẻ mạnh sẽ dẫn đến một xã hội phi lý, phi luân lý, và diệt vong.

ĐTC Bênêdictô thực sự chất vất và ưu tư về sự khập khểnh trong tương quan giữa Khoa Học Kỹ Thuật và Gía Trị Đạo Đức con người ngày nay khi Âu Châu loại bỏ Thiên Chúa ra ngoài hiến pháp và đời sống thường ngày của họ.

Đây cũng là lí do mà những xã hội khác (Phi Châu, Á Châu và các nước Hồi Giáo) đã lên án lối sống thác loạn và loại trừ tiêu chuẩn sống của Âu châu như một mẫu mực cho đời sống con người.[8]

ĐTC Bênêdictô kêu gọi mọi Kitô hữu cần ý thức “chống lại trào lưu thế giới”, can đảm “lội ngược dòng” để rao giảng tin mừng Chúa Kitô và đem lại đức tin cho Âu Châu, một giải pháp duy nhất cứu họ khỏi diệt vong.

Kết Luận

Năm Đức Tin cần thiết, trước hết và trên hết, là cho sự sống còn của Âu Châu. Theo ĐTC Bênêdictô, khủng hoảng Châu Âu là sự xung đột giữa Tin hay Không Tin, giữa hệ tư tưởng Lý Luận Luân Lý dựa trên Thiên Chúa là Đấng Bảo Đảm cho tính tuyệt đối của nó, và hệ tư tưởng Tuyền Duy Lý xuất phát từ sau thời Phục Hưng, hưng thịnh nhất là sau thế kỷ 17. Âu Châu đang chối bỏ căn tính của mình khi loại Thiên Chúa và giá trị Kitô giáo ra khỏi những luật lệ chính trị quốc gia, với mục đích tạo một xã hội tục hoá trong đó con người có thể đứng lại với nhau và sống công bằng mà không cần Thiên Chúa.

Giải pháp duy nhất cho khủng hoảng này là quay trở về với Đức Tin Kitô giáo. ĐTC Bênêdictô XVI nói: “Lúc này đây, Âu châu và thế giới cần đến sự hiện diện của Thiên Chúa… Là những Kitô hữu, chúng ta có trách nhiệm duy trì sự hiện diện của Thiên Chúa trên thế giới, vì chỉ có sự hiện diện này mới có sức mạnh gìn giữ con người khỏi tự huỷ hoại chính mình.”[9]

Đây chính là mệnh lệnh Chúa Giêsu nói với tất cả chúng ta: “các con là ánh sáng thế gian… là muối cho đời” (Mt 5:23-26).

Lm. Mátthêu Nguyễn Khắc Hy

—————————-

Chú thích:

[1] Bất đồng đưa đến chia rẽ giữa những thần học gia sau công đồng. Năm 1972, Joseph Ratzinger cùng với Hans Urs von Balthasar, Karl Lehmann, Henri de Lubac và những thần học gia khác xuất bản nguyệt san thần học Communio thay thế cho nguyệt san Concilium mà họ cho là quá cấp tiến, và “muốn thiết lập một hệ thống giáo huấn thứ hai”. Xem “Nicht ich habe mich geändert, sondern die Andern”, trong Joseph Ratzinger, Zur Lage des Glaubens: Ein Gespräch mit Vittorio Messori (Munich/Zurich/Vienna: Neue Stadt, 1985), p. 16.

[2] ĐTC Benedict XVI dùng động từ “trừ tà” để chỉ việc thanh luyện này trong thế gian trong bài viết “Angesichts der Welt von heute”, in Dogma und Verkündigung, (1973) p. 201.

[3] J. Ratzinger có những phê bình tiêu cực khi thấy một số các thần học gia cấp tiến (như Edward Schillebeeckx và cụ thể là Johann Baptist Metz khai thác thần học chính trị của ông) cho là họ theo tinh thần Vatican II khi giới thiệu tư tưởng hậu-Marxist vào trong thần học suy niệm của họ. Với Ratz¬inger, hiểu như vậy về Gaudium et spes là sai khi nói đến những cởi mở và hợp thời của công đồng, vì Giáo Hội sẽ không bao giờ ngừng tiến trình hội nhập với xã hội. Xem Joseph Ratzinger, “Der Katholizismus nach dem Konzil—Katholische Sicht”, in Auf Dein Wort hin. 81. Deutscher Katholikentag (Paderborn: Bonifacius, 1966), pp. 245–266; “Der Weltdienst der Kirche. Auswirkungen von Gaudium et spes im letzten Jahrzehnt”, in Internationale katholische Zeitschrift Vol. 4 (1975), pp. 439–454.

[4] J. Ratzinger, Values in a Time of Upheaval, (Ignatius press, 2006) p. 145.

[5] Xem bài phát biểu buổi triều yết của ĐTC Benedict XVI ngày 27 tháng 4 năm 2005 với giáo dân.

[6] Văn hoá sự chết được tìm thấy trong việc sử dụng ngày càng nhiều các chất hoá học (như thuốc phiện) để hưng phấn con người. Bên cạnh đó, thanh niên Âu Châu sống hiện tại mà sợ tương lai. Họ thường trì hoãn việc lập gia đình, nếu không nói là không muốn có gia đình vì thêm khó khăn. Xem J. Ratzinger, Values in a Time of Upheaval, p. 140.

[7] J. Ratzinger, Europe: Today and Tomorrow, (Ignatius Press, 2007) p. 67ff.

[8] Các nước Hồi Giáo ngày càng củng cố căn tinh tôn giáo của họ (đôi khi với phương thức cực đoan) là câu trả lời cho ảnh hưởng Âu Châu mà họ không chấp nhận cho con cái họ sau này. J. Ratzinger, Values in a Time of Upheaval, p. 138-139.

[9] J. Ratzinger, Values in a Time of Upheaval, p. 165.