TÒA THÁNH KỆU GỌI CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ CHỐNG LẠI VIỆC BUÔN BÁN VŨ KHÍ BẤT HỢP PHÁP VÀ TRỢ GIÚP CÁC NẠN NHÂN CHIẾN TRANH

TÒA THÁNH KỆU GỌI CỘNG ĐỒNG QUỐC TẾ CHỐNG LẠI VIỆC BUÔN BÁN VŨ KHÍ BẤT HỢP PHÁP VÀ TRỢ GIÚP CÁC NẠN NHÂN CHIẾN TRANH

NEW YORK: Đức Tổng Giám Mục Francis Chullikat, Quan sát viên thường trực của Tòa Thành cạnh các tổ chức Liên Hiệp Quốc, đã kêu gọi cộng đồng quốc tế chống lại việc buôn bán khí giới bất hợp pháp và trợ giúp các nạn nhân chiến tranh.

Đức Cha Chullikat đã đưa ra lời kêu gọi trên đây trong bài tham luận đọc tại phiên họp của Liên Hiệp Quốc về Thỏa hiệp buôn bán vũ khí, kết thúc ngày 27 tháng 7-2012 tại New York. Vị đại diện của Tòa Thánh nhấn mạnh rằng không thể coi vũ khí như là các hàng hóa bình thường khác và Tòa Thánh xác tín rằng Thỏa hiệp về việc buôn bán các vũ khí có thể tao ra sự khác biệt đối với hàng triệu người, nạn nhân của việc bán vũ khí đạn dược vô luật lệ vô trách nhiệm, và mua vũ khí và đạn dược bất hợp pháp từ phía các kẻ tội phạm. Đức Cha Chullikat cầu mong rằng mục đích cuối cùng của Thỏa hiệp nói trên là việc giải trừ thị trường quốc tế buôn bán vũ khí.

Đức Cha cũng nêu bật rằng việc buôn bán vũ khí bất hơp pháp có các hệ lụy tiêu cực đối với sự phát triển, nền hòa bình, luật nhân đạo và các quyền con người. Đức Cha nói: Khí giới không thể được so sánh với các hàng hóa trao đổi khác trên các thị trường quốc gia và quốc tế. Cần phải có sự điều hợp đặc biệt có khả năng phòng ngừa, chống trả và nhổ tận gốc rễ việc buôn bán vũ khí và đạn dược bất hợp pháp và vô trách nhiệm. Để được như thế, cần phải có sự dấn thân của tất cả mọi thành viên của cộng đoàn quốc tế, từ các quốc gia cho tới các tổ chức quốc tế, từ các tổ chức phi chính quyền cho tới các tổ chức tư nhân.

Vị đại diện Tòa Thánh cũng liệt kê ra một loạt các biện pháp cần thi hành, trong đó có sự cộng tác giữa các quốc gia, việc thực sự kiểm soát khí giới loại nhẹ, một sự trong sáng hơn trong việc buốn bán khí giới hợp pháp. Đức Tổng Giám Mục Chullikat cũng đặc biệt chú ý tới các nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang. Họ cần được các chính quyền trợ giúp và tái hội

nhập vào cuộc sống xã hội và kinh tế. Và Đức Cha than phiền về sự bất lực trong việc thăng tiến một nền văn hóa hòa bình. Theo Đức Cha cần phải có các sáng kiến giáo dục và các chương trình giúp gia tăng ý thức về việc loại trừ vũ khí và phải lôi kéo tất cả mọi giai tầng xã hội vào cuộc, kể cả các tổ chức tôn giáo. Tòa Thánh luôn dấn thân hàng đầu trong việc thăng tiến hòa bình và chống lại nền văn hóa bạo lực và tội phạm. Sau cùng Đức Cha Chullikat nhấn mạnh rằng việc chấp nhận một thỏa hiệp mạnh mẽ và hữu hiệu về việc buôn bán vũ khí sẽ là một dấu chỉ quan trong diễn tả ý chí chính trị của các chính quyền để bảo đảm hòa bình, công bằng, ổn định và thịnh vượng trên thế giới (SD RG 27-7-2012)

Linh Tiến Khải

Tình hình hôn nhân và ơn gọi tại Anh Quốc

Tình hình hôn nhân và ơn gọi tại Anh Quốc

Phỏng vấn Đức Cha John Arnold, Giám Mục phụ tá tổng giáo phận Westminster.

Trong các ngày này con mắt của toàn thế giới đổ dồn về Luân Đôn, nơi Thế Vận Hội sẽ khai diễn ngày 27 tháng 7-2012 và sẽ kéo dài cho tới ngày 12tháng 8-2012.

Với sự hiện diện của hàng chục ngàn lực sĩ điền kinh, và gần 5 triệu giới hâm mộ đến từ khắp nơi trên thế giới vừa để theo dõi các trận tranh tài vừa để du lịch, Anh Quốc sẽ thu vào khoảng 16 tỷ bảng Anh. Đây là một số tiền lớn, bù đắp cho ngân sách quốc gia, đặc biệt trong tình trang khủng hoảng kinh tế tài chánh trầm trọng hiện nay.

Các Giáo Hội Kitô, đặc biệt là công giáo và anh giáo, cũng dấn thân đảm trách việc phục vụ các nhu cầu tinh thần của các lực sĩ điền kinh và du khách. Đây cũng là dịp để Giáo Hội công giáo duyệt xét lại một số thách đố mà Giáo Hội đang phải đương đầu.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn bài phỏng vấn Đức Cha John Arnold, Giám Mục phụ tá tổng giáo phận Westminster trong thủ đô Luân Đôn. Hồi trung tuần tháng 7 này Đức Cha đã sang Roma để chủ sự thánh lễ truyền chức Phó Tế cho một số tiến chức thuộc trường Đấng Đáng Kính Beda, và đã dành cho phóng viên Ann Schneider bài phỏng vấn về tình hình Giáo Hội công giáo Anh Quốc và vùng Galles.

Hỏi: Thưa Đức Cha, hiện nay bên Anh quốc ngưi ta đang bàn tán sôi nổi về hôn nhân. Đặc biệt là chính quyền Anh đang đòi định nghĩa lại hôn nhân, và muốn thừa nhận hôn nhân của những ngưi đồng phái tính. Giáo Hội có vai trò nào trong cuộc thảo luận này? Và Đức Cha trình bầy vấn đề này trên bình diện mục vụ như thế nào?

Đáp: Giáo Hội công giáo có một vai trò rất quan trọng trong việc cứng rắn duy trì giáo huấn liên quan tới bí tích hôn nhân giữa một người nam và một người nữ, là nền tảng của xã hội. Điều mà chúng tôi phải chấp nhận trong lúc này là chúng tôi là thiểu số nhỏ trong nước, nhưng chúng tôi thực sự có điều gì đó để hãnh diện về sự hiểu biết về hôn nhân, và chúng tôi đã thăng tiến điều đó. Tôi không nghĩ là có điều gì hiếu chiến về chuyện này, vì nó chỉ đơn sơ tạo ra các lý luận.

Chúng tôi đang tìm kiếm một sự hiểu biết chung và khiến cho nó lớn lên. Vì thế chúng tôi phải thăng tiến ý nghĩa về hôn nhân, trước hết với các cộng đoàn của chúng tôi, giúp tín hữu xác tín về quan niệm công giáo về hôn nhân và thần học hôn nhân, và thực thi xác tín đó trong các giáo xứ bằng cách gia tăng việc chuẩn bị hôn nhân, gia tăng việc cử hành cho các cặp vợ chồng cưới nhau, thăng tiến đời sống hôn nhân của họ theo chiều hướng này. Tôi nghĩ đây là phương thế tốt nhất giúp thăng tiến hôn nhân.

Rất tiếc là chính quyền Anh quốc đã bắt đầu cuộc thăm dò ý kiến liên quan tới cách thức tốt nhất để giới thiệu hôn nhân đồng phái, thay vì thảo luận trước xem có nên giới thiệu nó hay không. Nhưng tôi hy vọng chính quyền không hấp tấp trong vấn đề này, vì nó có các hậu qủa không lường trước được.

Có nhiều người hiểu ý niệm công giáo về hôn nhân. Nhưng cũng có nhiều người công giáo đã chỉ chấp nhận ý niệm đó mà không bao giờ suy tư nghiêm chỉnh về ý nghĩa của nó. Vì thế chúng tôi phải cố gắng rất nhiều để giúp họ hiểu giáo lý Giáo Hội đã giảng dậy từ trước tới nay.

Hỏi: Thưa Đức Cha, tình hình ơn gọi linh mục tu sĩ tại Anh quốc hiện nay ra sao. Giáo Hội có các sáng kiến nào nhằm thăng tiến ơn gọi hay không?

Đáp: Trong các năm gần đây chúng tôi đã chứng kiến cảnh giảm sút ơn gọi linh mục tu sĩ, nhưng từ năm năm qua ơn gọi bắt đầu có trở lại, tuy không nhiều lắm, nhưng gia tăng đều đặn. Trong giáo phận của tôi mỗi năm có 9-10 sinh viên gia nhập chủng viện. Và đây là dấu chỉ rất tốt. Tôi nghĩ cũng có các sinh viên gia nhập chủng viện sau một thời gian chuẩn bị trước. Dĩ nhiên, nó không như cách đây 30 năm, khi người trẻ muốn vào chủng viện và được chấp nhận ngay mà không có ai đặt vấn đề. Ngày nay có nhiều phân định và chuẩn bị hơn, trước khi các sinh viên được gia nhập chủng viện. Và tôi nghĩ mọi chuyện xem ra tốt đẹp hơn. Thực tế mà nói, mỗi giáo phận đều có một linh mục đặc trách việc thăng tiến ơn gọi. Đây là điều rất lành mạnh và đem lại kết qủa tốt.

Dĩ nhiên là chúng tôi đã có di vật từ chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI, đó là lại có người chú ý tới ơn gọi. Và trông thấy sự kiện này thật là điều tuyệt diệu. Nhưng chúng tôi không được tự mãn. Chắc chắn đây không phải là tình hình của thập niên 1960, là thời gian chúng tội có nhiều ơn gọi nhất. Nhưng tôi nghĩ rằng có việc tái khám phá ra ơn gọi, tái đinh nghĩa ơn gọi linh mục là gì, để người trẻ biết mình được mời gọi và được chuẩn bị sống cuộc sống nào.

Hỏi: Đức Cha vừa nói về sự chú ý tới ơn gọi theo sau chuyến viếng thăm mục vụ của Đức Thánh Cha Biển Đức XVI tại Anh quốc hồi năm 2010. Chuyến viếng thăm ấy có sinh thêm hoa trái nào khác nữa hay không, thưa Đức Cha?

Đáp: Một cách đặc biệt trong diễn văn Đức Thánh Cha nói với các giới chức chính trị, kỹ nghệ thương mại tại thính đường Westminster, ngài đã kêu gọi nói chuyện trong môi trường xã hội, trong đó Giáo Hội cần phải có tiếng nói và tìm ra các con đường phát triển tốt đẹp nhất trước mắt, vì đó là lợi ích của chúng ta. Đức Thánh Cha nói rằng Giáo Hội có thể góp phần mình, và tôi nghĩ ngài đã nói lên điều này một cách hòa hoãn và dễ thương đến độ có nhiều người vẫn coi chúng tôi như là tiếng nói có suy tư, thì giờ đây hiểu rằng nó thật đáng được lắng nghe. Như thế tôi rất là lạc quan: chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha để lại trong xã hội chúng tôi hiệu qủa lâu dài.

Hỏi: Chăng còn bao lậu nữa Năm Đức Tin sẽ bắt đầu. Giáo Hội tại Anh quốc đã đưa ra các sáng kiến nào để cử hành năm này thưa Đức Cha?

Đáp: Chúng tôi coi lời mời gọi của Đức Thánh Cha là điều rất nghiêm chỉnh trên bình diện Hội Đồng Giám Mục Anh quốc. Các Giám Mục đã đề ra nhiều sáng kiến khác nhau. Riêng trong giáo phận của tôi thì chúng tôi đã chia Năm Đức Tin thành bốn chặng, mỗi chặng nhấn mạnh trên một khía cạnh của việc sống đức tin. Chặng thư nhất là để khám phá đức tin: khi mời gọi tín hữu sống đức tin và đến với đức tin chúng tôi mời gọi họ điều gì? Chặng thứ hai chú ý tới các bí tích. Chúng ta cử hành đức tin như thế nào đây? Chặng thứ ba sẽ là sống đức tin như thế nào trong xã hội và để lại ảnh hưởng nào trong xã hội vì đức tin mà chúng ta có. Chặng thứ bốn sẽ dành riêng cho việc vun trồng tinh thần tu đức cá nhân, hiểu biết và cầu nguyện.

Các giáo phận đã có các cách thức khác nhau trong việc cử hành Năm Đức Tin, nhưng mọi giáo phận đều khích lệ tín hữu lợi dụng cơ may này để đào sâu đức tin của mình bằng bất cứ cách nào. Chúng tôi cũng chú ý để không chất thêm gánh nặng cho cuộc sống vốn đã rất bận rộn của tín hữu. Chúng tôi chỉ mời gọi họ làm những gì có thể, mỗi người theo hoàn cảnh và cuộc sống riêng của mình.

Hỏi: Thưa Đức Cha, Anh quốc đang chuẩn bị cho Thế Vận Hội 2012 sắp bắt đu. Dĩ nhiên đây là một biến cố đi. Nhưng các cuc thi đấu có thể đưc dùng để truyến bá đc tin như thế nào?

Đáp: Trước hết Giáo Hội đã huy động và bố trí các linh mục tuyên úy chung quanh các làng Thế Vận Hội để đáp ứng các nhu cầu tinh thần của các lực sĩ điền kinh, và Giáo Hội hy vọng rằng sự hiện diện của các vị có thể trợ giúp họ. Chúng tôi cũng khích lệ các lực sĩ nói về ảnh hưởng của đức tin đối với các cuộc thi đấu các môn sở trường của họ. Nhiều người đã rất là quảng đại, nhận lời tới nói chuyện với giới trẻ về sự định đoạt và tận tụy trong các sinh hoạt thể thao thể dục, đặc biệt dưới ánh sáng đức tin. Vì giáo phận của chúng tôi tiếp đón nhiều lực sĩ điền kinh như vậy nên đây là một cơ may rất lớn cho các giáo xứ địa phương tiếp đón hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới quy tụ về thủ đô Luân Đôn để theo dõi các trận tranh tài điền kinh. Trong số đó chắc chắn là có nhiều tín hữu công giáo tìm tham dự các buổi cử hành các bí tích trong thời gian họ lưu lại Luân Đôn. Và đây là cơ may rất lớn. Vâng, Thế Vận Hội là biến cố đời, nhưng chúng tôi cũng đã dùng thời gian 50 ngày trước khi Thế Vận Hội khai diễn như thời gian cổ võ hàa bình, và đó cũng là mục đích của 50 ngày sau khi Thế Vận Hội kết thúc, theo một truyền thống đã có từ lâu. Sự hòa bình ấy không chỉ kết thúc với các sinh hoạt, nhưng tìm cách thăng tiến đối thoại và thảo luân với các nhóm khác nhau, đang theo đuổi cùng mục đích nhưng trong các cách thức khác nhau.

Tôi nghĩ Thế Vận Hội sẽ có kết qủa tốt. Nó đang đem lại rất nhiều việc nặng nhọc, nhưng xem ra hứa hẹn rất nhiều.

Hỏi: Thế Giáo phận của Đc Cha đang đưa ra các chuẩn bị nào đ đ đầu cho Thế Vận Hội?

Đáp: Một cách đặc biệt các giáo xứ gần với các nơi tranh giải có giờ chầu Thánh Thể, và việc giải thích cho các du khách ý nghĩa của sinh hoạt này trong giáo xứ. Các giáo xứ cũng sắp đặt giáo dân thay phiên nhau chào đón du khách. Thật khó mà biết được sẽ có những ai tới và họ cần những gì. Nhưng tôi nghĩ thái độ rộng mở tổng quát cho khả thể có du khách tham dự Thế Vận Hội tới thăm; và việc có thể nói chuyện với họ về đức tin của chúng tôi cũng là một điều tốt rồi.

(ZENIT 16-7-2012)

Linh Tiến Khải

GIÁO HỘI ẤN ĐỘ CẦU NGUYỆN CHO TỔNG THỐNG TÂN CỬ VÀ GÓP PHẦN XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC

GIÁO HỘI ẤN ĐỘ CẦU NGUYỆN CHO TỔNG THỐNG TÂN CỬ VÀ GÓP PHẦN XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC

MUMBAI: Giáo Hội Công giáo Ấn Độ chào mừng tổng thống tân cử Pranab Mukherjee, và tái khẳng định sự dấn thân của mình trong việc góp phần thăng tiến đất nước.

Đức Hồng Y Oswald Gracias, Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ấn Độ, đã bầy tỏ như trên trong thư gửi vị tổng thống thứ 13 của Ấn Độ. Nhân danh Giáo Hội Công Giáo Đức Hồng Y chúc mừng tân tổng thống, và cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho tân tổng thống và đất nước Ấn Độ. Giáo Hội hy vọng có thể cộng tác với chính quyền trong việc phát huy các giá trị của nền văn minh sự sống, hòa hợp, đối thoại và sự toàn vẹn của cuộc sống công cộng. Đức Hồng Y Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ấn cũng nhân dịp này duyệt qua một số sinh hoạt hoàn toàn vô vị lợi của Giáo Hội trong việc thăng tiến cuộc sống của người dân Ấn. Trong khắp nước Ấn Độ, Giáo Hội đã luôn luôn hoạt động cho dân nghèo. 60% các trường của Giáo Hội là trong các vùng thôn quê. Giáo Hội cũng thăng tiến giáo dục cho trẻ nữ và mở nhiều trường cho nữ sinh tại nông thôn. Nữ giới là giai tầng bị thiệt thòi và nghèo nàn nhất trong xã hội.

Trên bình diện y tế Giáo Hội cũng đảm trách việc thăng tiến sức khỏe cho dân nghèo và những người bị gạt bỏ ngoài lề xã hội, đặc biệt cho dân quê và các bộ lạc. Hiện nay Giáo Hội điều hành 788 nhà thương, nhiều trạm phát thuốc và trung tâm tâm thần, trại phong cùi, các trung tâm cho bệnh nhân lao phổi, Sida và các bệnh nhân trong giai đoạn cuối đời, không phân biệt chủng tộc và tôn giáo. Liên quan đến việc thăng tiến nền văn minh sự sống Đức Hồng Y yêu cầu chính quyền bảo vệ các trẻ nữ chống lại tệ nạn giết các bào thai nữ rất thịnh hành tại Ấn. Giáo Hội cũng tham gia vào nhiều chương trình phát triển nhằm thăng tiến an sinh cho dân, và hy vọng chính quyền có các biện pháp đối phó với nạn gian tham hối lộ. Trong lãnh vực đối thoại liên tôn Giáo Hội cũng thăng tiến đối thoại với mọi tôn giáo khác về mọi lãnh vực cuộc sống xã hội. Sau cùng Giáo Hội cầu xin cho Ấn Độ củng cố nền văn minh sự sống, hòa bình, hòa hợp và đối thoại trong nhiệm kỳ của tổng thống Mukherjee (ASIANEWS 23-7-2012)

Linh Tiến Khải

TỔ CHỨC CARITAS QUỐC TẾ BÁO ĐỘNG NẠN ĐÓI ĐE DỌA 18 TRIỆU NGƯỜI TRONG VÙNG SAHEL

TỔ CHỨC CARITAS QUỐC TẾ BÁO ĐỘNG NẠN ĐÓI ĐE DỌA 18 TRIỆU NGƯỜI TRONG VÙNG SAHEL

ROMA: Ngày 25 tháng 7-2012 Ông Ryan Worms, thuộc tổ chức Caritas Quốc Tế đã mạnh mẽ tố cáo trước dư luận quốc tế nạn đói đang đe dọa 18 triệu người trong vùng Sahel.

Ông cho biết từ nhiều tháng qua dân chúng trong vùng không còn lương thực dự trữ nữa, và họ gặp rất nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thực phẩm để nuôi trẻ em. Cuộc khủng hoảng thực phẩm càng trầm trọng hơn với chiến cuộc tại Mali, và nó đe dọa 18 triệu người trong các nước Mauritania, Sénégal, Gambia, Mali, Burkina Faso, NIger, Camerun và Tchad.

Tổ chức Caritas Quốc Tế kêu gọi công đồng quốc tế, các chính quyền và tổ chức nhân đạo trợ giúp các dân tộc vùng này đang phải gánh chịu rất nhiều khổ đau. Dân chúng trong vùng Sahel thiếu thực phẩm vì nạn hạn hán kèo dài và nạn sa mạc lan tràn. Hiên nay Caritas quốc tế đang trợ giúp thực phẩm cho 700.000 người, nhưng còn rất nhiều việc phải làm. Cho tới nay tín hữu công giáo đã trợ giúp 11 triệu mỹ kim, nhưng còn cần những số tiền lớn hơn nữa mới mong cứu sống được nhiều người.

Trong tuần qua Liên Hiệp Quốc đã báo động một trận dịch tả đang tới trong vùng, khiến cho tình hình của các trẻ em và người tị nạn Mali càng thê thảm hơn. Đã có 700 người chết trong vùng Tây và Trung Phi châu, và số người bị dịch tả đã lên tới 27.000. Mùa mưa tới khiến cho việc cứu trợ trở nên khó khăn tại Niger và Burkina Faso. Caritas quốc tế đang tập trung nỗ lực vào việc cứu sống trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ.

Song song là chiến dịch phân phát hạt giống cho nông dân địa phương để gieo trong mùa mưa, và trợ giúp lương thực cho họ. Thêm vào đó là chương trình ”làm việc để có thực phẩm hay tiền”, giúp người dân vỡ đất trồng trọt và làm hệ thống dẫn thủy nhập điền. Họ được trả lương bằng tiền hay thực phẩm (ZENIT 25-7-22012)

Linh Tiến Khải
 

ĐỨC THÁNH CHA CHIA BUỒN VỚI ĐỨC HỒNG Y JAIME ORTEGA TỔNG GIÁM MỤC LA HABANA VÀ GIA ĐÌNH ÔNG OSWALDO PAYA SARDINHAS

ĐỨC THÁNH CHA CHIA BUỒN VỚI ĐỨC HỒNG Y JAIME ORTEGA TỔNG GIÁM MỤC LA HABANA VÀ GIA ĐÌNH ÔNG OSWALDO PAYA SARDINHAS

VATICAN: Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã gửi điện tín chia buồn với Đức Hồng Y Jaime Ortega Tổng Giám Mục La Habana và thân nhân hai ông Osvaldo Sardinhas và Harold Cepero Escalante, qua đời trong một tai nạn xe hơi ngày 22-7-2012.

Điện tín đã được trong thánh lễ an táng ông Osvaldo tại nhà thờ chính tòa La Habana, do Đức Hồng Y Jaime Ortega chủ sự ngày 24 tháng 7-2012.

Trong diện tín mang chữ ký của Đức Tổng Giám Mục Angelo Becciu, Phụ tá Quốc Vu Khanh Tòa Thánh, Đức Thánh Cha chia buồn với thân nhân và cầu xin Thiên Chúa cho những người đã chết được nghỉ yên đời đời và an ủi những ai đang phải đau buồn vì sự chia ly này. Ngài khẩn nài sự chở che của Đức Mẹ Bác Ái Mỏ Đồng và xin ơn thánh Chúa xuống tràn đầy trên tất cả và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Ông Osvaldo Paya Sardinhas đã là nhà chính trị bất đồng chính kiến nổi tiếng tại Cuba. Là tín hữu công giáo sống đạo nhiệt thành năm 1987 ông thành lập Phong trào Giải phóng Kitô và đương đầu với nhà nước cộng sản độc tài Cuba.

Ông nổi tiếng vì đã tổ chức Dự án Varela thu thập 25.000 chữ ký yêu cầu nhà nước Cuba bảo đảm quyền tự do ngôn luận và tự do hội họp cũng như thành lập nền dân chủ đa đảng. Ông qua đời vì tai nạn xe hơi ngày 22 tháng 7-2012.

Trong thông cáo chính quyền cho biết xe chở ông tông vào một cây bên đường vì tài xế đã chạy quá tốc độ. Nhưng thân nhân và bạn bè của ông yêu cầu điều tra nội vụ vì nghi ngờ ông bị mưu sát. Rất đông người đã tới tham dự thánh lễ an táng, đặc biệt là những người bất đồng chính kiến. Đã xảy ra xô sát với cảnh sát và có 50 người bị bắt khi nhiều người đã lớn tiếng đả đảo nhà nước cộng sản độc tài Cuba (SD 24-7-2012)

Linh Tiến Khải

LINH MỤC TADEUSZ WOJDA ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH LÀM PHÓ TỔNG THƯ KÝ BỘ TRUYỀN GIÁO

LINH MỤC TADEUSZ WOJDA ĐƯỢC CHỈ ĐỊNH LÀM PHÓ TỔNG THƯ KÝ BỘ TRUYỀN GIÁO

VATICAN: Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã chỉ định Linh Mục Tadeusz Wojda, thuộc Hiệp hội Tông đồ công giáo, làm Phó tổng thư ký Bộ Truyền Giáo. Cho tới nay cha là chủ sự của Bộ.

Đức Cha Savio Hàn Đại Huy Tổng thư ký Bộ Truyền giáo đã loan tin này cho các linh mục tu sĩ nam nữ và giáo dân nhân viên của Bộ trong buổi đọc kinh Truyền Tin chung trưa 24 tháng 7-2012. Cha Wojda thay thế Linh Muc Massimo Cenci, thuộc Hội Truyền giáo nước ngoài Milano PIME, qua đời đột ngột ngày 11 tháng 5-2012 (FIDES 24-7-2012).

Linh Tiến Khải

SỨ ĐIỆP GỬI NGÀY QUỐC TẾ DU LỊCH CỦA HỘI ĐỒNG TÒA THÁNH MỤC VỤ CHO NGƯỜI DI CƯ VÀ LƯU ĐỘNG

SỨ ĐIỆP GỬI NGÀY QUỐC TẾ DU LỊCH CỦA HỘI ĐỒNG TÒA THÁNH MỤC VỤ CHO NGƯỜI DI CƯ VÀ LƯU ĐỘNG

VATICAN: Trong sứ điệp công bố ngày 24 tháng 7-2012 cho Ngày Quốc Tế Du Lịch 27 tháng 9-2012 Hội Đồng Tòa Thánh cho người di cư và lưu động đã khích lệ mọi người thay đổi tấm thức và kiểu sống, cũng như tôn trọng các nền văn hóa địa phương và bảo vệ môi sinh.

Sứ điệp mang chữ ký của ĐHY Antonio Maria Vegliò, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh đặc trách mục vụ cho người di cư và lưu động. Ngày Quốc Tế Du Lịch năm nay có đề tài là ”Du lịch, và năng lượng có thể chịu đựng được: các máy đẩy của sự phát triển có thể chịu đựng nổi”. Nó trùng hợp với ”Năm quốc tế năng lượng có thể chịu đựng nổi 2012”, do Liên Hiệp Quốc phát động nhằm cải thiện việc cung cấp năng lượng đáng tin cậy, với giá cả hợp lý, có giá trị trên bình diện kinh tế, chấp nhân được trên bình diện xã hội và hữu lý trên bình diện môi sinh.

Sứ điệp nhắc tới hiện tượng du lịch ngày càng gia tăng trên thế giới với 1 tỷ người trong năm 2012 và 2 tỷ người trong năm 2030. Cùng với việc tiêu thụ qúa độ các tài nguyên và năng lượng cũng như số lượng rác rưởi khổng lồ, du lịch gây ra các hậu qủa rất trầm trọng trên môi sinh. Vì thế cần phải làm tất cả những gì có thể để thích ứng với các điều kiện thay đổi khí hậu và giảm lượng thán khí thải vào trong không trung. Tuy đã có các tiến bộ, nhưng vẫn còn có rất nhiều việc phải làm. Chính vì thế Hội Đồng Tòa Thánh mục vụ cho người di cư và lưu động muốn góp phần mình vào nỗ lực này vì xác tín rằng Giáo Hội có một trách nhiệm đối với thụ tạo và phải bầy tỏ trách nhiệm ấy cả nơi công cộng nữa.

Dĩ nhiên, Giáo Hội không có bổn phận đưa ra các giải pháp kỹ thuật cụ thể, nhưng cho thấy rằng sự phát triển không thể bị giản lược vào các chiều kích kỹ thuật, chính trị, hay kinh tế. Giáo Hội muốn đồng hành với sự phát triển này với vài định hướng luân lý đạo đức nhấn mạnh rằng mọi phát triển phải luôn luôn phục vụ con người và phục vụ công ích. Thật thế, trong sứ điệp gửi hội nghị quốc tế về du lịch hồi tháng 4 năm nay 2012 tại Cancun bên Mêhicô, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã nhấn mạnh tầm quan trọng ”soi sáng hiện tượng này với giáo thuyết xã hội của Hội Thánh, bằng cách thăng tiến một nền văn hóa du lịch có luân lý đạo đức và trách nhiệm, giúp đạt tới việc tôn trọng phẩm giá của con người và của các dân tộc, có thể đến với mọi người, công bằng, có thể chịu đựng nổi và tôn trọng môi sinh”.

Để được như thế trước hết cần nỗ lực giáo dục thăng tiến việc thay đổi tâm thức, để có các kiểu sống mới và đạt tới nghệ thuật chung sống, biết tôn trọng giao ước giữa con người và thiên nhiên, đặc biệt trong mùa hè. Ngoài ra cũng cần phải vun trồng luân lý đạo đức trách nhiệm và cẩn trọng, ý thức được hậu qủa các hành động của mình. Đức Thánh Cha cũng nhắc cho biết rằng: ”Kiểu con người đối xử với thiên nhiên phản ánh kiểu nó đối xử với chính mình và ngược lại. Điều này nhắc nhở xã hội ngày nay phải duyệt xét kiểu sống của mình một cách nghiêm chỉnh. Trong nhiều phần của thế giới kiểu sống này nghiêng về chủ thuyết hưởng lạc, tiêu thụ, và thờ ơ trước các tai ương bắt nguồn tứ đó”. Cần phải biết sống thanh đạm hơn, giảm bớt và cải tiến việc sử dụng năng lượng… Bảo vệ môi sinh là một thách đố đối với toàn nhân loại. Tôn trọng thiện ích chung là một bổn phận chung phổ quát. Do đó cần có sự cộng tác của tất cả mọi cơ cấu và nhân viên liên hệ trong ngành du lịch cũng như các chính quyền và cộng đoàn địa phương.

Sau cùng du lịch cũng là dịp tốt để rao truyền Tin Mừng và giới thiệu Chúa Kitô với con người ngày nay (SD 24-7-2012)

Linh Tiến Khải

ĐỨC THÁNH CHA KHÍCH LỆ CÁC TU HỘI ĐỜI LÀ CẦU NỐI GIỮA GIÁO HỘI VÀ THẾ GIỚI

ĐỨC THÁNH CHA KHÍCH LỆ CÁC TU HỘI ĐỜI LÀ CẦU NỐI GIỮA GIÁO HỘI VÀ THẾ GIỚI

VATICAN: Trong sứ điệp gửi các tham dự viên đại hội các các tu hội đời đang diễn ra tại Assisi cho tới ngày 26 tháng 7-2012, Đức Thánh Cha Biển Đức XVI khích lệ các tu hội đời can đảm chu toàn nhiệm vụ là cầu nối giữa Giáo Hội và thế giới.

Sứ điệp do Đức Hồng Y Tarcisio Bertone Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh ký có đoạn viết: Các tu hội đời bao gồm các người nam nữ được thánh hiến có cái nhìn sâu rộng và là chứng tá tốt lành trong lịch sử. Trong một thời đại đặt ra các vấn nạn sâu rộng cho cuộc sống và đức tin, khi nhìn lên Chúa Thánh Thần, các người thánh hiến có thể theo đuổi ơn gọi riêng của mình là sống giữa thế giới và lãnh nhận tất cả gánh nặng và các ước mong với một cái nhìn nhân loại ngày càng trùng hợp với cái nhìn của Thiên Chúa. Chính như thế mà họ vén mở cho thấy sứ mệnh quan trọng của họ trong Giáo Hội là trợ giúp Giáo Hội thực hiện sự hiện diện của mình trong lòng thế giới, để qua nền thần học lịch sử, là phần của việc rao truyền Tin Mừng, con người ngày nay có thể tìm ra cái nhìn thực sự tự do và hòa bình trên thế giới mà họ đang cần tới.

Đức Thánh Cha mời gọi thành viên các tu hội đời hãy là cây cầu nối liền Giáo Hội với thế giới, và sống trong dấu chỉ của sự hỗ tương, để Giáo Hội góp phần khiến cho con người và lịch sử của nó trong thế giới được nhân bản hơn, và để thế giới giúp Giáo Hội hiểu biết chính mình hơn và sống sứ mệnh của mình cách tốt đẹp hơn. Đức Thánh Cha đã đề ra ba đường hướng đặc biệt mà các tu hội đời phải chú ý: thứ nhất là sự tận hiến hoàn toàn cho cuộc gặp gỡ cá nhân với tình yêu Thiên Chúa, thứ hai là cuộc sống thiêng liêng nhằm dẫn đưa mọi sự về với Chúa Kitô, được dưỡng nuôi trong lời cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa để xây dựng niềm hy vọng và sự tin tưởng, và thứ ba là việc đào tạo giáo dục sống khôn ngoan giúp luôn ý thức được tính chất trung tâm của con người và sự cao cả của Thiên Chúa. Chính kiểu văn hóa này khiến cho giáo dân và giáo sĩ có khả năng để cho mình được cật vấn bởi thế giới ngày nay và dấn thân phân định lịch sử dưới ánh sáng Lời Hằng Sống.

Đại hội của các tu hội đời tại Assisi có đề tài là ”Lắng nghe tiếng Chúa trong các luống cầy lịch sử: tính cách đời nói với sự thánh hiến”. Đại hội nằm trong đường hướng của Năm Đức Tin và việc tái truyền giảng Tin Mừng cho thế giới tây âu (RG 24-7-2012)

Linh Tiến Khải

Sự kiện Giáo hội Việt Nam tuần qua

Sự kiện Giáo hội Việt Nam tuần qua

July 20, 2012 

UCAN Việt Nam,

Sự kiện thu hút dư luận trong nước và thế giới nhiều nhất là hàng trăm ngàn giáo dân từ 20 giáo hạt trong giáo phận Vinh tụ họp cầu nguyện cho các giáo dân bị người của chính quyền đánh đập không cho tham dự Thánh lễ tại nhà nguyện giáo điểm Con Cuông. Mỗi nơi có từ 4.000 tới 20.000 người tham dự Thánh lễ đặc biệt này.

Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp đồng tế cùng với Đức Cha Phaolô Maria Cao Đình Thuyên, và các linh mục tại nhà thờ Chính tòa. Ngài cũng nhắn nhủ cộng đoàn:

“Trong mọi hoàn cảnh, người môn đệ Chúa Giêsu phải can trường đối diện với những khó khăn, phải can trường bảo vệ niềm tin. Tuy nhiên, đừng bao giờ đánh mất tính hiền hòa, yêu thương và những gì căn bản của đạo Công giáo mà Chúa đã dạy”.

Giáo dân cầu nguyện cho chính quyền biết tôn trọng nhân phẩm và quyền tự do tôn giáo, và mưu cầu công ích.

Hôm 17-7, Đức cha Hợp đến thăm hỏi, động viên chị Maria Ngô Thị Thanh đang nằm điều trị tại phòng khám đa khoa Xã Đoài.

Chị Thanh, 34 tuổi, mẹ của bốn đứa con thuộc xứ Chính Yên, bị đám côn đồ đánh trọng thương ở đầu khi cố ngăn chặn đám côn đồ hành hung và ngăn cản linh mục Gioan Baotixita Nguyễn Đình Thục dâng lễ tại nhà nguyện.

Trong cuộc gặp gỡ hơn 300 chức việc tại nhà thờ Đức An ở thành phố Pleiku, Đức cha Michael Hoàng Đức Oanh của giáo phận Kontum kêu gọi chức việc phải sẵn sàng giũ bỏ chức vụ xã hội để phục vụ cộng đoàn.

“Tôi không ngăn cấm chức việc vào đảng, vào chức vụ xã hội, đã từng có trong hàng ngũ tu sĩ vào ủy ban đoàn kết Công giáo kết cuộc không phục vụ gì cho giáo hội mà còn cản trở, để rồi chính bản thân mình cuối cùng không có một định hướng, cuộc sống cứ ngơ ngơ ngác ngác. Tôi yêu cầu ai trong chức việc vào đảng, vào chức vụ xã hội hãy trả lại nhiệm vụ chức việc để người khác đảm trách.

Chức việc là người đứng đầu trong giáo xứ thì phải lên tiếng nói thẳng, nói thật những gì không có lợi cho giáo xứ, giáo phận, giáo hội dù có đụng chạm đến linh mục đến tu sĩ cũng phải nói. Phải để cho chức vụ của anh chị em đang đảm nhiệm phục vụ Giáo Hội một cách công bằng, không e ngại và sẵn sàng hy sinh để bảo vệ đức tin và làm chứng cho Đức Kitô”.

Liên quan việc đào tạo linh mục, khoảng 80 nhà đào tạo linh mục và phụ trách ơn gọi từ các đại chủng viện, giáo phận và dòng đã kết thúc khóa thường huấn "Hướng đến sứ vụ, đào tạo chính mình và đào tạo người khác có khả năng phân định" dài hai tuần hôm 15/7 tại Tòa Giám mục Đà Lạt.

 

Đức cha Ma vẫn còn bị quản thúc dù chính quyền đã ngưng điều tra

Đức cha Ma vẫn còn bị quản thúc dù chính quyền đã ngưng điều tra

July 23, 2012 

Phóng viên ucanews.com từ Thượng Hải China 

Đức cha Ma vẫn còn bị quản thúc dù chính quyền đã ngưng điều tra thumbnail

Chủng viện Sheshan ở Thượng Hải

Chính quyền địa phương đã kết thúc điều tra lễ tấn phong giám mục Đức cha phụ tá Thaddeus Ma Daqin của Thượng Hải, người đã tuyên bố từ bỏ các chức vụ trong Hội Công giáo yêu nước Trung Quốc (CCPA), theo các nguồn tin hôm 20 tháng 7.

Nhưng Bắc Kinh vẫn chưa đưa ra tuyên bố nào về Đức cha Ma và người ta nghi ngờ ngài bị cấm thi hành thừa tác vụ giám mục ngay sau lễ phong chức hôm 7 tháng 7.

Tin cho biết đức cha 45 tuổi bị quản thúc tại chủng viện Sheshan, ngoại ô Thượng Hải mặc dù blog của ngài được cập nhật hai lần trong tuần trước.

Chính quyền đã hỏi cung hơn 100 linh mục và nữ tu trong giáo phận không tham dự lễ tấn phong về lý do tại sao họ không tham dự, ý kiến của họ về lễ tấn phong và lời phát biểu của Đức cha Ma trong Thánh lễ, các nguồn tin kể. Một số linh mục đồng tế Thánh lễ cũng bị phỏng vấn nhiều lần và đã kết thúc vào cuối tuần trước.

Tòa Thánh bổ nhiệm Đức cha Ma làm giám mục phụ tá nhưng chính quyền Trung Quốc công nhận ngài là "giám mục phó".

Một linh mục thuộc giáo phận Thượng Hải yêu cầu giấu tên nhận xét Đức cha Ma phải ở lại trong chủng viện vô thời hạn. Vị linh mục dẫn lời các quan chức nói việc ngài trở về "phụ thuộc vào động thái của ngài và phản ứng của người Công giáo".

CCPA và Hội đồng Giám mục Giáo hội Trung Quốc (BCCCC) nói lễ phong chức này "bị nghi ngờ vi phạm nghiêm trọng các quy định của BCCCC". Đức cha Ma là giám mục ‘công khai’ đầu tiên trong những năm gần đây công khai thông báo trong lễ tấn phong giám mục ý định từ bỏ các chức vụ trong CCPA.

Kinh cầu Thánh Giuse bằng chữ Hán phồn thể do linh mục người Bồ Đào Nha Emmanuel Diaz (1574-1659), thừa sai dòng Tên đến Trung Quốc vào thế kỷ 17 dịch, được đăng trên blog của Đức cha Ma hôm 19 tháng 7.

Phần chú thích bên dưới viết Đức cha Ma vui mừng khi tìm thấy bản kinh cổ gắn liền với các câu Kinh thánh. Bài viết so sánh kinh này với bản kinh được dùng hiện nay và nói: "Các tín hữu có thể chọn một trong hai bản kinh để cầu nguyện riêng".

Những thông tin cập nhật trên blog này an ủi những ai quan tâm Đức cha Ma, ngài rất giỏi văn chương Trung Quốc, nguồn tin nói. Nhưng một vài bình luận bên dưới bài đăng hôm thứ Năm tuần trước nghi ngờ không biết bài này là của đức cha hay ai khác.

Lần đăng tải đầu tiên từ khi ngài mất tích là hôm thứ Hai, hôm đó năm bài thơ của linh mục Simon Xaverius Wu Yushan (1632-1718) được tải lên. Cha Wu là một trong các linh mục bản xứ đầu tiên của Trung Quốc. Bức tranh được ký tên "Thaddy Ma" bằng tiếng Anh.

Sau lễ tấn phong Đức cha Ma, tên blog của ngài đã đổi từ "Notes of a Shanghai priest " thành " Notes of Shanghai’s least servant ", cách người ta gọi các giám mục, ám chỉ Đức cha Ma.

SỨ ĐIỆP ĐỨC THÁNH CHA GỬI ĐẠI HỘI LẦN THỨ 11 CỦA PHONG TRÀO QUỐC TẾ TU ĐỨC GIA ĐÌNH ”EQUIPES NOTRE DAME” BÊN BRASIL

SỨ ĐIỆP ĐỨC THÁNH CHA GỬI ĐẠI HỘI LẦN THỨ 11 CỦA PHONG TRÀO QUỐC TẾ TU ĐỨC GIA ĐÌNH ”EQUIPES NOTRE DAME” BÊN BRASIL

VATICAN: Đức Thánh Cha Biển Đức XVI khuyến khích các cặp vợ chồng kitô hãy là gương mặt tươi cười và hiền dịu của Giáo Hội và là các sứ giả tốt lành và có sức thuyết phục nhất cảu vẻ đẹp tình yêu được nâng đỡ và dưỡng nuôi bởi đức tin.

Đức Thánh Cha đã đưa ra lời khích lệ trên đây trong sứ điệp gửi đại hội lần thứ 11 của phong trào tu đức hôn nhân ”Equipes Notre Dame” đang diễn ra bên Brasil cho tới ngày 26 tháng 7-2012. Trong sứ điệp do Đức Hồng Y Tarcisio Bertone Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh ký, Đức Thánh Cha không dấu diếm các vấn đề và các khó khăn mà hôn nhân và gia đình gặp phải trong môi trường xã hội tục hóa ngày nay. Nhưng chính trong môi trường ấy các đôi vợ chồng kitô phải loan báo các sự thật nền tảng của tình yêu nhân loại và ý nghĩa sâu xa của nó. Vì như Đức Phaolô VI đã nói: tình yêu của một người nam và một người nữ, nụ cuời của một trẻ em, sự bình an trong gia đình, tất cả đều phản ánh một tình yêu khác: tình yêu của Thiên Chúa.

Dĩ nhiên lý tưởng này xem ra qúa cao nhưng chính ở đây phong trào tu đức hôn nhân ”Equipes Notre Dame” đã góp phần khích lệ các cặp vợ chồng lãnh nhận các bí tích, và đưa ra các đề nghị đơn sơ cụ thể giúp họ sống tinh thần tu đức hôn nhân trong cuộc sống thường ngày. Đức Thánh Cha đã đưa ra một đề nghị cụ thể khác đó là dấn thân ngồi lại với nhau và đối thoại giữa các đôi vợ chồng với tất cả sự chân thành liên quan tới các vấn đề quan trọng nhất của cuộc sống lứa đôi. Sự đối thoại này càng cần thiết hơn nữa trong một thế giới bị thống trị bởi chủ nghĩa cá nhân, duy hoạt động, vội vã và lo ra như thế giới ngày nay. Nó giúp tránh các hiểu lầm thường gây ra các đổ vỡ không thể chữa lành được. Đức Thánh Cha cũng nhắc nhở rằng các giáo huấn của Công Đồng Chung Vatican II đã cống hiến cho Giáo Hội một gương mặt canh tân giá tri tình yêu và cuộc sống hôn nhân và gia đình.

Phong trào tu đức hôn nhân đã do Linh Muc Henri Caffarel, người Pháp thành lập năm 1939. Đại hội lần thứ XI đang điễn ra bên Brasil với sự tham dự của hơn 7.000 thành viên và 400 linh mục cộng thêm hơn 700 thiện nguyện viên đến từ khắp nơi trên thế giới (RG 22-7-2012)

Linh Tiến Khải

PHỦ QUỐC VỤ KHANH TOÀ THÁNH PHẢN BÁC CÁC TỐ CÁO SAI LẠC CỦA BÁO CHÍ LIÊN QUAN TỚI VỤ RÒ RỈ TÀI LIỆU CỦA TÒA THÁNH

PHỦ QUỐC VỤ KHANH TOÀ THÁNH PHẢN BÁC CÁC TỐ CÁO SAI LẠC CỦA BÁO CHÍ LIÊN QUAN TỚI VỤ RÒ RỈ TÀI LIỆU CỦA TÒA THÁNH

VATICAN: Hôm 23 tháng 7-2012 Phủ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh đã mạnh mẽ phản bác các lời tố cáo ba nhân vật Tòa Thánh là tòng phạm trong vụ ăn cắp các tài liệu mật của Đức Thánh Cha, do nhật báo Die Welt tung ra và được nhật báo La Republica lấy lại hầu như y nguyên.

Phủ Quốc Vụ Khanh khẳng định rằng các giải thích hoàn toàn sai lạc và vô căn cứ của hai nhật báo nói trên xúc phạm tới danh dự của những người đã trung thành phục vụ Đức Thánh Cha từ bao năm nay. Sự kiện các kết quả cuộc điều tra vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền công bố không hợp thức hóa việc phổ biến các giải thích và giả thuyết vô căn cứ và sai lạc. Và công chúng có quyền không bị lèo lái bởi loại thông tin như thế.

Linh Mục Lombardi phát ngôn viên Tòa Thánh cũng phản ứng rất mạnh mẽ chống lại nhật báo Ý La Republica. Bài báo cho rằng ba nhân viên Tòa Thánh là Đức Hồng Y Paolo Sardi, Đức Tổng Giám Mục Josef Clemens và bà Ingrid Stampa đồng trách nhiệm trong vụ lấy các tài liệu mật. Cha Lombardi nói rằng sự kiện ba vị này đã được hỏi cung trong cuộc điều tra không có nghĩa là họ bị nghi ngờ. Vì thế thật là một sự kiện hết sức trầm trọng ném các nghi ngờ đó trên những người đáng tôn trọng, đã tận tụy dấn thân phục vu Đức Thánh Cha trong nhiều năm trời.

Cha Lombardi cũng định nghĩa là ”giả hình” khẳng định ”đã làm vì nhiệm vụ” đọc thấy trong bài viết. Cha Lombardi xác định rằng việc thay đổi nhiệm vụ trong trường hợp của Đức Hồng Y Sardi là vì ngài đã 75 tuổi và kết thúc nhiệm vụ tại Phủ Quốc Vụ Khanh, bà Stampa thì vẫn tiếp tục làm việc trong Phủ Quốc Vụ Khanh. Và việc Đức Tổng Giám Mục Clemens, Thư ký Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo dân từ nhiều năm qua, nhận được một lá thư của Đức Thánh Tha như miêu tả trong nhật báo Die Welt và được nhật báo La Republica gián tiếp nói đến, là sai lạc.

Cha Lombardi minh xác rằng tất cả các tin đồn thất thiệt do nhật báo La Republica đăng tải trong thời gian qua liên quan tới vụ ông quản gia Paolo Gabriele lấy tài liệu của Đức Thánh Cha, đều sai lạc, bịa đặt và không dựa trên bất cứ sự kiện có thật nào. Các độc giả của một trong những nhật báo phổ biến nhất Italia có quyền được thông tin khách quan, đúng đắn và được tôn trọng (RG 23-7-2012)

Linh Tiến Khải

Kẻ dữ gieo vãi chiến tranh; Thiên Chúa tạo dựng hòa bình

Kẻ dữ gieo vãi chiến tranh; Thiên Chúa tạo dựng hòa bình

Kẻ dữ gieo vãi chiến tranh; Thiên Chúa tạo dựng hòa bình. Kẻ dữ luôn tìm phá hỏng công trình của Thiên Chúa, bằng cách gieo vãi chia rẽ trong trái tim con người, giữa thân xác và linh hồn, giữa con người và Thiên Chúa, trong các tương quan liên bản vị, xã hội, quốc tế và cả giữa con người và thụ tạo. Nhưng Thiên Chúa muốn trao ban cho con người sự sống tràn đầy và hạnh phúc.

Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã khẳng định như trên trong buổi đọc Kinh Truyền Tin tại sân nhà nghỉ mát Castel Gandolfo với 2.000 tín hữu và du khách hành hương trưa Chúa Nhật 22-7-2012. Trong số các nhóm hành hương cũng có một vài tín hữu đến từ Thụy Sỹ và Việt Nam.

Trong hài buấn dụ Đức Thánh Cha đã quảng diễn đề tài Thiên Chúa là Mục Tử của nhân loại. Ngài giải thích ý nghĩa hình ảnh này như sau:

Điều này có nghĩa là Thiên Chúa muốn cho chúng ta sự sống, Người muốn hướng dẫn chúng ta tới các đồng cỏ tốt tươi, nơi chúng ta có thể được dưỡng nuôi vàn nghỉ ngơi. Thiên Chúa không muốn chúng ta bị hư mất và chết đi, nhưng muốn chúng ta đạt mục đích của con đường đời là sự sống tràn đầy. Đó là điều mà mọi cha mẹ đều muốn cho con cái mình: thiện ích, hạnh phúc và thành đạt. Trong Phúc Âm hôm nay Chúa Giêsu tự giới thiệu như Mục Tử của đoàn chiên lạc nhà Israel. Cái nhìn của Người trên đám đông là một cái nhìn có thể nói là ”mục tử”. Chẳng hạn Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay nói rằng: ”khi xuống thuyền Chúa Giêsu trông thấy một đám đông dân chúng, Người cảm thương họ, bởi vì họ như chiên không có chủ chăn, và Người bắt đầu dậy đỗ họ rất nhiều điều” (Mc 6,34). Chúa Giêsu nhập thể Thiên Chúa Mục Tử với kiểu giảng dậy của Người và với các việc Người làm, bằng cách chữa lành các ngươi đau yếu và tội lỗi, săn sóc những người đã bị hư mất” (x. Lc 19,10, để đem họ tới chỗ an ninh trong tình xót thương của Thiên Chúa Cha.

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Trong số các chiên lạc mà Chúa Giêsu đã cứu vớt cũng có một phụ nữ tên là Maria, gốc làng Madgala, trên bờ hồ Galilea, và gọi là Maria Madalena. Hôm nay là lễ nhớ bà trong lịch phụng vụ của Giáo Hội. Thánh sử Luca nói rằng Chúa Giêsu đã đuổi bẩy qủy dữ ra khỏi bà (x. Lc 8,2), nghĩa là Người cứu bà khỏi sự nô lệ hoàn toàn của kẻ dữ. Đức Thánh Cha giải thích sự chữa lành hoàn toàn ấy qua công trình của Chúa Giêsu như sau:

Sự chữa lành ấy hệ tại nơi một sự bình an đích thực, hoàn toàn, hoa trái của sự hòa giải con người trong chính mình, và trong tất cả mọi tương quan của nó: với Thiên Chúa, với tha nhân và với thế giới. Thật vậy, kẻ dữ luôn tìm phá hỏng công trình của Thiên Chúa, bằng cách gieo vãi chia rẽ trong trái tim con người, giữa thân xác và linh hồn, giữa con người và Thiên Chúa, trong các tương quan liên bản vị, xã hội, quốc tế và cả giữa con người và thụ tạo. Kẻ dữ gieo rắc chiến tranh; Thiên chúa tạo dựng hòa bình. Còn hơn thế nữa, như thánh Phaolô khẳng định, Chúa Kitô là hòa bình của chúng ta, Đấng đã liên kết hai dân tộc thành một, bằng cách phá đổ bức tường ngăn cách chia rẽ họ, nghĩa là sự thù ghét, nhờ thân xác của Người” (Ep 2,14). Để chu toàn công trình hòa giải triệt để ấy, Chúa Giêsu Mục Tử Nhân Lành, đã phải trở thành Chiên Con, ”Chiên Con Thiên Chúa… Đấng gánh tội trần gian” (Ga 1,29). Chỉ như thế Người đã có thể thực hiện lời hứa tuyệt diệu của Thánh Vịnh: ”Vâng, lòng lành và sự trung thành cụa Chúa sẽ đồng hành với con, mọi ngày trong suốt cuộc đời, con sẽ ở trong nhà Chúa, những ngày tháng những năm dài triền miện” (Tv 23, 6).

Các bạn thân mến, các lời này khiến cho con tim của chúng ta rung động, bởi vì chúng diễn tả ước mong sâu thẳm nhất của chúng ta, chúng nói lên những gì được làm nên cho chúng ta: đó là sự sống, sự sống vĩnh cửu! Chúng là các lời của người, như bà Maria Madalena, đã sống kinh nghiệm về Thiên Chúa trong cuộc đời mình và hiểu biết niềm an bình của Chúa. Đó là các lời đích thật hơn bao giờ hết trên miệng lưỡi của Đức Trinh Nữ Maria, Đấng đã luôn luôn sống trong các đồng cỏ Trời Cao, nơi Chiên Con Muc Tử đã chăn dắt Người. Xin Mẹ Maria, Mẹ Chúa Kitô, hòa bình của chúng ta, cầu cho chúng ta!

Tiếp đến Đức Thánh đã cất Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã nhắc tới Thế Vận Hội Quốc Tế lần thứ 30 sắp khai diễn vào ngày 27 tháng 7 này tại thủ độ Luân Đôn bên Anh quốc và nói: Thế Vận Hội Quốc Tế là biến cố thể thao lớn nhất thế giới, trong đó có các lực sĩ điền kinh của rất nhiều quốc gia tham dự, và như thế nó cũng mang một giá trị biểu tượng mạnh mẽ. Vì thế Giáo Hội công giáo nhìn nó với cảm tình và sự chú ý. Chúng ta hãy cầu nguyện để cho các cuộc tranh giải tại Luân Đôn là một kinh nghiệm thực sự của tình huynh đệ giữa các dân tộc trên trái đất theo ý muốn của Thiên Chúa.

Chào tín hữu bằng tiếng Anh Đức Thánh Cha nói: Tôi rất xúc động vì bạo lực vô nghĩa xảy ra tại Aurora bên Denver, Hoa Kỳ; và đau buồn vì sự mất mát nhân mạng trong tai ương đắm phà mới xảy ra gần Zanzibar bên Tanzania. Tôi xin chia sẻ nỗi buồn thương của các gia đình và bạn bè của các nạn nhân và những người bị thương, đặc biệt là các trẻ em. Tôi bảo đảm gần gũi với anh chị em trong lời cầu nguyện, và ban phép lành cho anh chị em như bảo chứng sự ủi an và sức mạnh trong Chúa phục sinh.

Chào các tín hữu nói tiếng Pháp Đức Thánh Cha nói: Trong cuộc sống thường giao động và qúa nhanh chóng này, chúng ta hãy theo Chúa Giêsu là Đấng mời gọi chúng ta theo Người đi vào trong sự tĩnh lặng. Trong mùa hè chúng ta hãy chấp nhận theo Người vì Người canh giữ chúng ta như canh giữ các chiên không người chăn. Với sự trợ giúp của Đức Trinh Nữ Maria, anh chị em hãy đến gặp gỡ Con Mẹ, Người là Đấng duy nhất có thể tái trao ban cho chúng ta các sức mạnh cần thiết cho cuộc sống thường ngày.

Linh Tiến Khải

CHÚA GIÊSU CHĂM SÓC CHỦ CHĂN LẪN ĐOÀN CHIÊN

 CHÚA GIÊSU CHĂM SÓC CHỦ CHĂN LẪN ĐOÀN CHIÊN

Câu đầu của đoạn Phúc Âm ngắn ngủi hôm nay thuật lại cho chúng ta việc các Tông Đồ từ các miền truyền giáo trở về và thuật lại cho Chúa Giêsu kết quả những gì các vị đã đạt được: "Các Tông Đồ tựu họp chung quanh Chúa Giêsu và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm và mọi điều các ông đã dạy " (Mc 6, 30). Thuật lại sự việc vừa kể, Thánh Marco có ý đặt  liên hệ đoạn Phúc Âm hôm nay với những gì chúng ta đã đọc hôm Chúa Nhật vừa qua, trong cùng chương 6. Hôm đó Thánh Marco cho chúng ta biết là Chúa Giêsu gọi Nhóm Mười Hai, ban cho các ông quyền trừ quỷ và sai đi thành nhóm từng hai nguời một  (Mc 6, 7).
 
Sau phần khởi đầu làm bối cảnh diễn tả các Tông Đồ trở về sau những ngày đi truyền giáo, Thánh Marco thuật lại biến cố xảy ra trong đoạn Phúc Âm hôm nay và được chia làm hai phần:
 
– phần đầu, câu 31-32, phần đặc biệt lưu ý đến Chúa Giêsu và các Tông Đồ: "Người bảo các ông: chính anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thời giờ mà ăn nữa" (Mc 6, 31-32).
– phần thứ hai, phần lưu ý đặt trọng tâm đến Chúa Giêsu và đoàn lủ dân chúng: "Ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy họ nhiều điều" (Mc 6, 36).
 
Đọc câu dẫn nhập, chắc chắn ai trong chúng ta cũng đặc biệt chú ý đến danh từ " Tông Đồ " (Hy Lạp, apóstolos, có nghĩa là " được sai đi " ), đây là lần duy nhứt trong cả Phúc Âm Thánh Marco, danh từ " Tông Đồ, được sai đi ", được dùng để nói về các môn đệ mà Thánh Marco thường đề cập đến: "Các Tông Đồ tựu hợp chung quanh Chúa Giêsu,…". Dùng từ ngữ "các Tông Đồ" ("những người được sai đi rao giảng Phúc Âm", chắc chắn Thánh Marco có ý nhắc lại biến cố được đề cập đến Chúa Nhật vừa qua, lúc Chúa Giêsu " gọi Nhóm Mười Hai và sai đi ": "Người gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu "sai đi " từng hai người một. Người ban cho các ông quyền trừ qủy" (Mc 6, 7).
 
Đặt trọng tâm vào phận vụ " được sai đi " ( Tông Đồ) vừa kể, Thánh Marco lưu ý chúng ta đọc Phúc Âm Ngài, để tâm đến phận vụ, quyền năng của các Tông Đồ hơn là đến địa vị môn đệ, những kẻ đi theo Chúa, thường được Phúc Âm đề cập đến. Và vì các Tông Đồ, những người được sai đi để rao giảng Phúc Âm, thi hành động tác của các Vị nhứt là sau khi Chúa Phục Sinh và Thăng Thiên, thi hành phận vụ truyền giáo của các Vị, nói lên đặc tính sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời, dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần…" (Mt 28, 20).
 
Nhấn mạnh đến sứ mạng "được sai đi " của các Tông Đồ còn được thể hiện rõ hơn nữa, vì Chúa Giêsu không những bắt đầu" sai đi từng hai người một " , mà con trang bị cho các Vị  " quyền giảng dạy quyền trừ qủy " (Mc 6, 7. 12). Và rồi vì danh từ " Tông Đồ " là danh từ quen thuộc, thường được dùng trong các Cộng Đồng Giáo Hội tiên khởi, để diễn tả động tác của Giáo Hội,  như vậy việc dùng danh từ vừa kể trong Phúc Âm, Thánh Marco có ý nói lên cho chúng ta động tác của các Tông Đồ, của Giáo Hội cũng chính là động tác truyền giáo của Chúa Giêsu.
 
Các Tông Đồ, Giáo Hội được Chúa Giêsu " sai đi " rao giảng Phúc Âm, chiến thắng ác qủy xấu xa, thù địch và hảm hại con người, để giải thoát con người bằng chính quyền năng của Chúa Giêsu, " ban cho các ông quyền trừ qủy". Quyền năng rao giảng Tin Mừng và trừ diệt qủy dữ đó cho thấy kết quả, dân chúng nhận ra và đi theo các Tông Đồ: "Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng còn thời giờ mà ăn nữa" (Mc 6, 31), điều mà trước đó chỉ xảy ra đối với Chúa Giêsu: "Người trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được" (Mc 3, 20).
 
Kể lại cùng một kết quả, "dân chúng kẻ lui người tới quá đông" đối với các môn đệ, cũng như đối với Chúa Giêsu trước đó, Thánh Marco có ý nói cho chúng ta các Tông Đồ cũng dùng chính uy quyền và quyền năng của Chúa Giêsu mà giảng dạy và trừ quỷ. Như vậy quyền năng của các Tông Đồ là chính quyền năng của Chúa Giêsu. Trong Giáo Hội của các Tông Đồ chúng ta có quyền năng giảng dạy của các Vị, quyền năng của Chúa Giêsu, bảo đảm cho đức tin chúng ta là đức tin được nguyên vẹn trao lại cho chúng ta, những gì Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta để sống thông hiệp với Chúa và được cứu rỗi: "Con tin có Giáo Hội duy nhứt, thánh thiện, công giáo và tông truyền…" (Kinh Tin Kính), là vậy.
 
Còn nữa, lời Chúa Giêsu khuyên bảo các Tông Đồ, sau cuộc hành trình truyền giáo mệt nhọc hãy " lánh riêng ra một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi dôi chút " cũng nói lên cách hành xử của các Vị phù hợp theo thói quen của Chúa Giêsu: "Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó" (Mc 1, 35). Nêu lên tư tưởng đó, Thánh Marco có chỉ cho chúng ta thấy được sự đồng nhứt các động tác truyền giáo của các Tông Đồ và của Chúa Giêsu. Các Tông Đồ tiếp tục sứ mạng truyền giáo duy nhứt của Chúa Giêsu, tác động bằng uy tín và quyền năng của Người, theo phương thức được Người dạy bảo cho.  
 
1 – Lời khuyên bảo của Chúa Giêsu: " Anh em hãy lánh riêng ra một nơi thanh vắng, mà nghỉ ngơi đôi chút…" ( Mc 6, 32) có thể hiểu theo nghĩa đen, liên quan đến việc lấy sức lại sau những hoạt động mệt nhọc tại địa bàn truyền giáo. Nhưng văn mạch của câu văn được tiếp nối sau đó với hình ảnh của Chúa Giêsu là Mục Tử thương yêu đoàn chiên: "Ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy đám người rất đông thì chạnh lòng, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều" (Mc 6, 34), cũng như liền sau đó,  biến cố vì thương yêu đoàn lủ theo Người đến xế chiều không có gì ăn, Người làm phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều để nuôi nấng ( Mc 6, 35-44), làm cho chúng ta dễ liên tưởng đến những gì nội dung Thánh Vịnh 23 muốn nói lên cùng một bối cảnh.
 
Câu 2 của Thánh Vịnh 23 được Giáo Hội dùng trong Phụng Vụ như câu hát đối đáp ( responsoriale) để nói lên tâm tình chăm sóc của Thiên Chúa là mục tử đối với dân Ngài, cho đoàn chiên của Ngài tĩnh dưỡng, nghỉ ngơi, vững chắc và no đủ: "Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu gì. Trong đồng cỏ xinh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi" (Ps 23, 1.3). Như vậy động từ "nghỉ ngơi " của câu Phúc Âm Mc 6, 34 vừa nhắc đến ở trên, cũng là động từ " nằm nghỉ " (Hy Lạp, anapauso) của Thánh Vinh 23 chúng ta vừa đọc, nói lên trạng thái thanh thoảng, bình an bên ngoài và nội tại trong tâm hồn, diễn tả cử chỉ chăm lo và tình thương của Chúa Giêsu đối với các Tông Đồ, khi Người bảo các Vị đi nghỉ ngơi, hình ảnh thảnh thơi và tự do của ơn  cứu rỗi Ngài đem đến cho các Vị và kế đến giao cho các Vị tiếp tục công việc của Ngài đem đến cho đoàn chiên.
 
Động từ "nằm nghỉ " ( anapauso) của Thánh Vịnh 23 cũng có cùng ý nghĩa với những gì Chúa Giêsu kêu gọi mọi người hãy đến với Ngài, để được yên tĩnh, thanh thoảng và cứu rỗi trong Phúc Âm Thánh Matthêu: "Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng" (Mt 11, 28). Hiểu như vậy, chúng ta thấy lời khuyên của Chúa Giêsu đối với các Tông Đồ sau chuyến đi truyền giáo, không những là nghỉ tĩnh dưỡng vật chất thể xác, yên tỉnh quân bình lại tinh thần cũng như cảm xúc của công việc mệt nhọc, mà còn nghỉ để vượt thắng mọi khó khăn, mệt mỏi và âu lo về cuộc sống mà chỉ có Chúa mới bồi dưỡng cho được.
 
2 – Trong phần hai của đoạn Phúc Âm, như đã nói, Thánh Marco chú ý đến mối tương quan giữa Chúa Giêsu và đoàn lủ dân chúng, cách Chúa hành xử như là Mục Tử Nhân Lành thương yêu chiên: "Chúa Giêsu thấy đám người rất đông, thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt " (Mc 6, 34). Có lẽ câu Phúc Âm vừa kể được Thánh Marco ghi lại liên tưởng đến câu nói của Thiên Chúa trong sách Dân Số, trruyền lệnh cho Moisen đặt Josué thay thế ông để hướng dẫn dân Chúa: "Người ấy sẽ ra vào trước chúng và dẫn chúng ra vào, để cộng đồng của Thiên Chúa đừng giống như đoàn chiên không người chăn dắt      (Nm 27, 17).
 
Cựu Ước khi nói về dân Chúa, thường đề cập đến các vị thủ lãnh, các vị vua, bị khiển trách về cách hành xử vô trách nhiệm của họ đối với dân. Đó là những gì sách tiên tri Geremia thuật lại, và chúng ta đã được nghe ở bài đọc thứ nhất: "Khốn thay những mục tử làm cho đoàn chiên ta chăn dắt phải thất lạc và tan tác…, chính các ngươi làm cho đoàn chiên ta phải tan tác; các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm gì đến chúng. Nầy Ta sẽ để ý đến các hành vi gian ác của các ngươi và trừng phạt các ngươi… " (Ger 23, 1-2).
 
Qua những gì sách tiên tri Geremia ghi lại, chúng ta thấy được lòng chăm lo của Thiên Chúa đối với dân Người, sai thủ lãnh, vua quan đến để hướng dẫn, lo lắng chăm sóc cho dân, Nhưng họ hành xử tắc trách, ích kỷ và vô trách nhiệm, " chính các ngươi làm cho đoàn chiên ta phải tan tác, thất lạc". Trước thảm trạng đó của đàn chiên, dân Người, Thiên Chúa hứa sẽ can thiệp bằng cách trước tiên chính Người hành xử như là Mục Tử lo lắng quy tựu chiên lại: "Chính Ta sẽ quy tựu đoàn chiên Ta còn sót lại,  từ khắp mọi miền Ta đã xua chúng đến, Ta sẽ đưa chúng về đồng cỏ của chúng; chúng sẽ sinh sôi nẩy nở thật nhiều" (Ger 23, 3). Và sẽ thiết lập những mục tử mới: "Ta sẽ cho xuất hiện các mục tử để lãnh đạo chúng; họ sẽ chăn dắt chúng. Chúng sẽ không còn phải hãi hùng kinh khiếp và bị bỏ rơi nữa" (Ger 23, 4 ).
 
3 – Và cùng với lời hứa vừa kể của Thiên Chúa, thiết lập mục tử mới cho chiên, tiên tri Geremia thêm lời sấm của Chúa có liên quan đến Đấng Cứu Thế, xuất thân từ họ tộc David,  đem đến cho loài người công lý của Thiên Chúa hay ban cho chúng sự cứu rỗi: "Nầy, sẽ tới những ngày – sấm ngôn Thiên Chúa – Ta sẽ làm nảy sinh cho  nhà David một chồi non chính trực. Vị vua lên ngôi trị vì sẽ là người khôn ngoan tài giỏi trong xứ sở, vua sẽ thi hành những điều chính trực công minh. Thời bấy giờ Giuda sẽ được cứu thoát, Israel được sống yên lành. Danh hiệu người ta sẽ tặng vua ấy là: Thiên  Chúa công chính của chúng ta" (Ger 23, 5-6).
 
Trên nền tảng Cựu Ước vừa kể, chúng ta hiểu được nỗi "chạnh lòng thương " của Chúa Giêsu đối với đoàn lủ dân chúng đi theo Người, không những chỉ là xúc động, cảm tình đơn sơ của con người đứng trước tình trạng đáng thương của người khác, mà là lòng thương xót đầy tràn của Thiên Chúa, chăm lo và thương yêu đoàn chiên của Người: "Ta sẽ cho xuất hiện các mục tử để lãnh đạo chúng; họ sẽ chăn dắt chúng; chúng sẽ không còn phải hãi hùng, kinh khiếp và bị bỏ rơi " (Ger 23, 4).
 
Hiểu như vậy, diển tả Chúa Giêsu " chạnh lòng thương " đối với đám đông đi theo Ngài, Thánh Marco có ý xác nhận Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Chúa Giêsu đến để đem lại cho con người công lý của Thiên Chúa, nhưng không phải bằng động tác lãnh đạo, cai trị của các vị quân vương, mà đúng hơn là một vị Thầy, đến để dạy dỗ, chỉ bảo phải trái cho dân. Tư tưởng vừa kể hợp với ý niệm của Thánh Vịnh 23, xin Chúa ban cho một vị mục tử duy nhứt và chăm lo cho đoàn chiên, hướng dẫn con người trên đường ngay nẻo chánh: "Người dẫn tôi trên đường ngay, nẻo chánh, vì danh dự của Người " (Ps 23, 3).
 
4 – Như vậy, đứng trên bình diện tường thuật diễn biến, phần hai (Mc 6, 33-34) và phần đầu ( Mc 6, 31-32) của đoạn Phúc Âm hôm nay có vẻ tương phản nhau.
Sự hiện diện của đoàn lủ quá động đảo ( Mc 6, 33-34) đã làm cho Chúa Giêsu và các Tông Đồ không thể thực hiện đưọc những gì đã dự tính: "Quả thế, kẻ tới người lui quá đông, nên các ông cũng chẳng có thời giờ ăn uống nữa" (Mc 6, 31-32). Nhưng suy nghĩ kỷ hơn, cả hai phần của đoạn Phúc Âm đều gặp được sự hoà hợp trong con người Chúa Giêsu, Đấng mà Thánh Marco có ý xác nhận với những ai đọc Phúc Âm hôm nay: Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, Đấng thương yêu dân Ngài, đến để đem lại an bình, " nghỉ ngơi ", công chính và ơn cứu rỗi.
 
Thực tại vừa kể được Chúa Giêsu, Đấng Cứu Thế đem đến, không thể chỉ được giới hạn dành riêng cho một số ít ( Mười Hai Tông Đồ, ở riêng nghỉ ngơi với Chúa Giêsu), mà còn phải được ban phát cho nhiều người, "Chúa Giêsu thấy đám người rất đông thì chạnh lòng thương…Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều". Cũng vậy đức công chính của Thiên Chúa và ơn cứu rỗi không thể chỉ được hạn hẹp dành cho dân Israel, mà còn dành cho cả dân ngoại, cho hết mọi người. Đó là những gì Thánh Phaolồ viết cho các tín hữu Epheso, chúng ta được nghe ở bài dọc hai: "Thật vậy, chính Người là bình an của chúng ta. Người đã liên kết đôi bên, dân Do Thái và dân ngoại, thành một. Người đã hy sinh thân mình để phá đỗ bức tường ngăn cách là sự thù ghét…Như vậy, khi thiết lập hòa bình, Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhứt, nơi chính bản thân Người" (Eph 2, 14-15).
 
Ngoài ra hai đoạn văn của Phúc âm hôm nay cũng cho chúng ta thấy, mối lo âu khuyên cúa Tông Đồ "ra đi đến một nơi thanh văng mà nghỉ ngơi" (Mc 6, 31), cũng do cùng một mục đích thúc đẩy " thấy đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt" (Mc 6, 34). Nghỉ ngơi để lấy lại nghị lực, rồi đây các Tông Đồ cũng sẽ đảm nhận trách nhiệm mục tử đối với " đám người rất đông…không người chăn dắt ".
 
Trong cùng một tâm tình vừa kể với Chúa Giêsu, chúng ta cũng phải biết chăm lo, thương yêu và cầu nguyện cho các vị chủ chăn của chúng ta.

 
Nguyễn Học Tập

VIỆC CẦN LÀM NGAY

VIỆC CẦN LÀM NGAY
 
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN NĂM B (22/07/2012)
[Gr 23,1-6; Ep 2,13-18; Mc 6,30-34]

“Nghỉ ngơi một chút”
 
Sau khi được sai đi, và ra đi, các tông đồ trở về thuật lại cho Chúa nghe về những thành quả và niềm vui đạt được. Các ông tưởng là Chúa Giêsu sẽ một câu khích lệ cho khoái chí, thì Ngài lại bảo: "Các con hãy lui vào nơi vắng vẻ mà nghỉ ngơi một chút".
 
“Nghỉ ngơi một chút”. Thiết tưởng đây là cách khích lệ đầy ưu ái của Chúa Giêsu dành cho các tông đồ. Ngài mời gọi các tông đồ hãy tìm một trạng thái “tĩnh” sau một thời gian “động”. Tình trạng “tĩnh” ấy là:
 
– Thoát ra khỏi cái ồn ào của thành công
– Không bị cuốn vào sức hút của thành công
– Không nối dài kế hoạch nào nữa, mà là buông bỏ tất cả để nghỉ ngơi.
 
Trạng thái tĩnh này có thể gọi được là một sự nghỉ ngơi an bình trong Chúa, nơi ấy, không còn chút bận tâm, ưu phiền và không còn cả niềm hãnh diện thường tình của những người thành đạt. Đôi khi chúng ta lầm tưởng rằng nỗi buồn của thất bại làm chúng ta mất bình an và niềm vui của sự thành công mang lại cho chúng ta hạnh phúc. Nhưng thật ra, cả hai, niềm vui và nỗi buồn theo tính loài người ấy đều phản ảnh một trạng thái tự ti hay tự mãn do cái tôi của lòng kiêu ngạo.
 
Việc cần làm ngay
 
Tôi không dám nghĩ là may mắn nhưng “tạ ơn Chúa cho còn sống” sau lần nhồi máu cơ tim tháng 9 năm 2010. Những ngày nằm ở bệnh viện, có một bác sĩ  khuyên tôi: “Có một việc cần làm ngay là không làm gì cả”. Tôi mới hiểu ra: “không làm gì cả” cũng là một việc cần thiết và cấp bách trong đời hiểu theo nghĩa: “nghỉ ngơi một chút”.
 
Nếu về mặt thể lý, trạng thái tĩnh giúp phục hồi sức khỏe, thì về mặt thiêng liêng, việc nghỉ ngơi một chút, để lòng không xao động bởi buồn hay vui, thất bại hay thành công, vừa nói lên niềm tín thác cậy trông, vừa là niềm bình an trong Chúa và đem lại cho chúng ta nguồn sinh lực dồi dào hơn.
 
Quả vậy, là người yêu mến Chúa và thi hành việc của Chúa, cần có những phút tĩnh hay “phút lắng cách tự nguyện trong cuộc đời, dẫu đau thương đã đầy hay niềm vui bỗng vơi. Vẫn cứ lắng vì rất rất cần phải lắng. Lắng chỉ để nghe mà không nói một lời.
 
Cần có những phút vắng tự nguyện trong cuộc đời, dẫu niềm thương nỗi nhớ cứ khôn nguôi. Vẫn cứ vắng vì rất cần phải vắng. Vắng để ngộ ra bên ta có một người. Cũng cần có những phút trắng tự nguyện trong cuộc đời, dẫu vạn sắc màu vàng xanh đỏ tím đương lên ngôi. Vẫn cứ trắng vì rất cần phải trắng. Trắng để thương thân một kiếp đời.
 
Hẳn là trong cuộc đời, sẽ có hồi không tự nguyện lắng cũng phải lắng, không tự nguyện trống vắng cũng phải đành rất vắng, không tự nguyện trắng tay cũng đành còn tay trắng. Vậy nếu ngay hôm nay, tôi không tự nguyện tập trầm mình tĩnh tại trầm lắng trong khiêm hạ, không tự nguyện cô đơn một mình đối diện với Chúa trong phút tương giao huyền nhiệm, không buông bỏ tất cả trong thoáng tan biến cả ý thức lẫn tấm thân mình thì sẽ khó lòng mà chấp nhận chuyện gì sẽ xảy đến trong đời.
 
Một linh mục về hưu, một bà phước xế bóng, một giáo dân liệt lào hẳn đã cảm nghiệm được phút lắng, vắng, trắng không ước ao vẫn xảy đến. Nhưng nếu đã được chuẩn bị bằng cách “nghỉ ngơi một chút” trong Chúa từng ngày, từng phút trong đời, thì phút về hưu hay xế bóng, phút bệnh hoạn hay lâm chung vẫn là phút tuyệt vời trong cuộc tình huyền nhiệm giữa Thiên Chúa và con người. Gần nhất, cuộc sống của những người bị giam cầm, cụ thể Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn văn Thuận, cho thấy việc nghỉ ngơi một chút bằng cách tự nguyện lắng, vắng, trắng trong Chúa hằng ngày là cần thiết đến mức nào để chấp nhận được Chúa huấn luyện khi Chúa muốn.
 
“Nghỉ ngơi một chút” hẳn đã là kim chỉ nam cho nhiều vị thánh sống kết hiệp với Chúa, múc lấy nguồn sinh lực của Chúa, mặc lấy ý thức và ước muốn của Chúa, và thực hiện cuộc sống của mình theo thánh ý Chúa.
 
“Nghỉ ngơi một chút” là cần thiết, nhưng một chút là bao nhiêu thời gian? Bởi trong chúng ta cũng không thiếu cảnh một chút nghỉ ngơi mà kéo dài năm này qua năm kia.
 
Tin mừng cho thấy một chút nghỉ ngơi của các tông đồ được tính bằng thời gian quá ngắn trên thuyền với Chúa Giêsu thôi. “Lúc ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy dân chúng thật đông, thì động lòng thương, vì họ như đàn chiên không người chăn, và Người dạy dỗ họ nhiều điều”.
 
Công việc của Chúa Giêsu cũng liên tục, nhưng Ngài vẫn dành những phút lắng để kết hiệp với Chúa Cha, để lắng nghe Cha, và múc lấy nguồn sinh lực nơi Cha. Nguồn sinh lực mới nơi Chúa Cha giúp Chúa Giêsu thấy “việc cần làm ngay” sau phút nghỉ ngơi ngắn ngủi: “thương đoàn chiên không người chăn” và Chúa đã bắt tay vào việc cần làm ngay mới là “dạy dỗ họ nhiều điều”.
 
Nguyện xin ban cho chúng con những mục tử yêu mến Chúa, sống bằng sinh lực của Chúa Giêsu và sẵn sàng thí mạng mình vì đoàn chiên Ngài. Xin cho các tín hữu Chúa biết nghỉ ngơi một chút trong Chúa hằng ngày để được mặc lấy ý muốn, tấm lòng của Chúa mà tiếp tục sứ mạng loan báo Tin Mừng cho tha nhân. A men

 
PM. Cao Huy Hoàng

Tội lỗi trong xã hội ngày nay

Tội lỗi trong xã hội ngày nay

Phỏng vấn Đức Hồng Y Georges Cottier

Từ nhiều thập niên qua tục hóa lan tràn trong xã hội đã khiến cho rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ, đánh mất đi ý thức về tội lỗi trong cuộc sống con người. Có rất nhiều tội nặng như phá thai, trợ tử, lèo lái lãnh vực truyền sinh, dùng các phôi thai người để lấy tế bào gốc rồi hủy hoại các phôi thai, bất công xã hội, vi phạm các quyền con người, tạo ra các chiến tranh xung khắc để buôn bán khí giới vv… đã trở thành chuyện bình thường được tán thành, bênh vực hay gián tiếp chấp nhận. Đây là một trong các thách đố rất lớn đối với công tác tái rao giảng Tin Mừng trong thế giới ngày nay, cách riêng trong các quốc gia Tây Âu có nền văn hóa kitô, nhưng đang đánh mất đi đức tin và các giá trị kitô của mình.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bản bài phỏng vấn Đức Hồng Y Georges Cottier, 90 tuổi, dòng Đa Minh, nguyên thần học gia Phủ Giáo Hoàng về đề tài này.

Hỏi: Thưa Đức Hồng Y, Đc Gioan Phaolô II đã nhiều lần nhân danh Giáo Hội xin lỗi về các tội tín hữu kitô đã phạm trong quá khứ đối với nhiều thành phần khác nhau trong xã hội. Nhân loại ngày nay đang làm gì để phải xin lỗi ngày mai, thưa Đức Hồng Y?

Đáp: Trước hết là tất cả vấn đề tầm thường hóa phá thai và không tôn trọng can thiệp vào vài lãnh vực liên quan tới phôi thai người. Đây là các tội trọng, mà chúng ta có nguy cơ phải trả giá mắc mỏ. Như qúy vị biết, ngày nay chúng ta có thể trông thấy phái tính của bào thai còn trong lòng mẹ, và tại một vài quốc gia, nơi người dân có tâm thức thích con trai hơn con gái, người ta tìm loại bỏ các bào thai gái. Và giờ đây các nước ấy rơi vào tình trạng mất quân bình thiếu gái thừa trai nghiêm trọng. Thái độ sống tháo thứ buông thả trong lãnh vực tính dục dẫn đưa con người tới tội xúc phạm đến tha nhân, trong trường hợp ở đây là các phụ nữ và trẻ em, trở thành nạn nhân của kỹ nghệ tình dục.

Hỏi: Thế còn có thứ tội nào khác nữa không thưa Đức Hồng Y?

Đáp: Có, còn có nạn chế tạo và buôn bán vũ khí nữa. Người ta đã cố gắng nhiều, nhưng tiến trình chế tạo và buôn bán khí giới vẫn không chấm dứt. Khi xảy ra chiến tranh bên Phi châu, thì có rất nhiều nạn nhân vô tội, nhưng mọi vũ khí đều được chế tạo tại các hãng xưởng các nước Tây Âu của chúng ta cũng như bên Nga và Trung Quốc. Thế rồi còn có tình trạng của nền kinh tế ngày nay, khoan nhượng với một số cảnh bần cùng và nhiều điều khác nữa. Tương lai sẽ rất nghiêm khắc đối với chúng ta.

Hỏi: Thế Giáo Hội công giáo đã trả lời các vấn đ này như thế nào thưa Đức Hồng Y?

Đáp: Giáo Hội công giáo đã luôn luôn chống lại các tội này, nhưng Giáo Hội chiến đấu với các phương tiện phúc âm, bằng việc giảng dậy và với một số các sáng kiến. Và tôi xin nói rằng ”sự thiện hữu hiệu hơn sự dữ”, mặc dù bề ngoài xem ra cho thấy ngược lại. Lý do là vì sự thiện không được trông thấy. Nó được thi hành trong thinh lặng, nó giống như hình ảnh mà Chúa Giêsu đã dùng liên quan tới hạt lúa rơi vào lòng đất và lớn lên từ từ một cách tự nhiên. Nhưng sự dữ thì ồn ào và để lại chết chóc tàn phá, kể cả cái chết trong linh hồn. Chúng ta đã tiến bộ nhiều kể từ đệ nhị thế chiến tới nay. Kinh nghiệm thế chiến kinh khủng đến nỗi giờ đây chúng ta có thái độ hòa bình, rộng mở cho đối thoại, đó là kết qủa của Công Đồng Chung Vaticăng II.

Hỏi: Thưa Đức Hồng Y, Công Đng cũng đã thay đi thái độ của chúng ta đối với chiến tranh, có đúng thế không?

Đáp: Vâng, đúng thế. Trước hai thế chiến, các thần học gia đã có một nền thần học về chiến tranh chính đáng, đưa tới hậu qủa nặng nề, bao gồm các điều quái gở và cả quyền lực của các phương tiện nữa, như việc chế tạo bom nguyên tử vv… Giờ đây chúng ta thấy rằng chiến tranh không còn là giải pháp nữa. Tôi đang nói tới chiến tranh tân tiến hiện nay. Nhưng đã xảy ra điều gì? Công Đồng đã được khai mở, và lập tức có Thông điệp Hòa Bình dưới thế của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII. Thế rồi có diễn văn Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đọc trước Liên Hiệp Quốc, và trong thời Công Đồng nhóm họp Giáo Hội đã phát triển giáo lý về hòa bình chứ không chiến tranh nữa, và kết qủa là sứ điệp cho Ngày Hòa bình thế giới cử hành vào ngày mùng 1 tháng giêng hàng năm. Đó là toàn bộ suy tư về hòa bình rất là hay đẹp và là một phần đóng góp mới mẻ của Giáo Hội.

Hỏi: Đức Hồng Y có nghĩ rằng có vài lãnh vực của Giáo Hội trong đó li có thái độ thiếu sót không, và sau này ai sẽ phải xin lỗi?

Đáp: Có, chúng ta sẽ xem thấy và nó có thể xảy ra. Tôi sẽ không nói là Giáo Hội như Chúa Kitô muốn Giáo Hội là, nhưng các thành phần hay các lãnh vực của thế giới kitô. Dĩ nhiên là có các thành kiến, chẳng hạn như sự thờ ơ đối với người nghèo từ phía các môi trường giàu có. Đây là điều không đúng đắn. Thế rồi còn có việc phân chia tài nguyên bất công, sự khoan nhượng đối với một số luật lệ bất công, và việc sử dụng bạo lực như chúng ta đã thấy, nhưng đó không phải là Giáo Hội. Và thí dụ như trong các tài liệu mới đây, có việc nhấn mạnh đến nền dân chủ. Nhưng dân chủ có nghĩa là gì? Nó không chỉ là bỏ phiếu, nhưng là việc tham gia của con người như là các bản vị.

Hỏi: Chúng ta thấy có sự bất tuân phục Giáo Hội trong vài lãnh vực, chẳng hạn như ở Bắc âu. Tại sao lại sinh ra tất cả các chuyện này? Có phải đó là kiểu nghĩ rằng như vậy thì dân chúng sẽ tới nhà thờ không thưa Đức Hồng Y?

Đáp: Không. Tôi nghĩ rằng các phong trào phản kháng trong Giáo Hội đã luôn luôn hiện hữu, và sau năm 1968 thì chúng trở thành thường xuyên hơn tại Âu châu và Bắc Mỹ. Có các nhóm đưa ra các đòi hỏi thật qúa điên khùng. Và cũng có vài phong trào muốn các linh mục phụ nữ. Và như thế Giáo Hội phải lượng định các ơn cho nam giới và nữ giới, nhưng mỗi phái tính trong ơn gọi của mình. Thật là đáng suy tư, khi thấy các đòi hỏi này thường đi kèm với việc khước từ bản tính nhân loại. Tất cả mọi ”chuyện thuộc tính này”, trong đó sau cùng thì khác biệt phái tính là một sự kiện văn hóa chứ không phải là một sự kiện tự nhiên. Tự nhiên là con đường cho ơn gọi của mọi người, dù là nam hay là nữ.

Hỏi: Giáo Hội đã luôn luôn đề cập tới điều này, có phải thế không thưa Đức Hồng Y?

Đáp: Theo truyền thống đến từ Chúa Kitô, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã rất là rõ ràng. Ngài nói: Không thể có việc truyền chức linh mục cho nữ giới, bởi vì Giáo Hội không cảm thấy có khả năng đụng tới một điều nào đó mà chính Chúa Kitô đã nêu gương. Và người ta trả lời rằng Chúa Kitô đã thích ứng với thời của Người, nhưng tôi nghĩ là câu trả lời không giá trị lắm, bởi vì Đức Trinh Nữ, là người đã luôn luôn có vị thế ở trung tâm Giáo Hội, đã không có các nhiệm vụ của linh mục. Đó là một ơn gọi khác. Thật là hay khi thấy nhiều người thuộc phong trào nữ quyền muốn phụ nữ làm linh mục, đang thực sự suy nghĩ trong thứ ngôn ngữ của quyền bính. Và đó là điều sai lầm, khiến cho Đức Giáo Hoàng đã lập đi lập lai nhiều lần mới đây rằng chức linh mục là một việc phục vụ chứ không phải một quyền, và điều này thay đổi mọi chuyện rất nhiều.

Hỏi: Thế thì có các hệ lụy nào khác không thưa Đức Hồng Y?

Đáp: Có, việc linh mục lập gia đình, là một hệ lụy bắt nguồn từ các đòi hỏi đầu tiên của Phong trào tinh lành cải cách, cho phép các linh mục có vợ. Nhưng Phúc Âm không dễ dàng. Nó chính xác, bởi vì nó dẫn đưa tới một kết thúc lớn lao. Niềm vui phúc âm không phải là xã hội tiêu thụ, nó là niềm vui của Thiên Chúa. Có một sự thích hợp tinh thần sâu xa với ý muốn độc thân trong Giáo Hội theo lễ nghi Latinh. Và nó đem lại nhiều hoa trái tinh thần mà chúng ta không được đánh mất đi.

Hỏi: Thưa Đức Hồng Y, nhưng mà một linh mục có gia đình không chỉ là một người chồng, mà cũng là một ngươi cha nữa chứ?

Đáp: Ơn gọi là cha gia đình không phải là một ơn gọi nhỏ bé. Ngày nay nó có nhiều tính cách tinh thần, và tôi không biết nó có luôn luôn thích hợp hay không. Nhưng ít nhất Giáo Hội tin rằng khi một Giám Mục được tấn phong, thì ngài được coi như là phu quân của giáo phận mình. Và cũng có cái gì tương tự như thế đối với hàng giáo sĩ giáo phận. Như vậy có một kho tàng tinh thần trong đó mà Giáo Hội không thể từ bỏ được. Có một vài Giám Mục đặt vấn đề độc thân linh mục, và làm như thế không phải là một tội. Vấn đề này cần phải được nghiên cứu tìm hiểu. Có các hệ lụy cần phải nói đến trong việc tái truyền giảng Tin Mừng.

Hỏi: Đức Hồng Y có muốn nhắn gửi sứ điệp nào cho các thế hệ trẻ bắt đầu sống ơn gọi của họ trong Giáo Hội như là linh mục tu sĩ nam nữ hay như nhng người dâng hiến đời mình cho Giáo Hội như Đức Hồng Y đã làm hay không?

Đáp: Tôi sẽ nói điều mà Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đang nói hiện nay và đó là một từ mà ngài lập đi lập lại trong các diễn văn của ngài: đó là ”niềm vui”. Tôi muốn nói cùng điều này với các linh mục tu sĩ và những người dâng hiến cuộc đời cho Chúa và cho Giáo Hội. Hãy sống nó với niềm vui, với lòng hăng say, và trung thành với Phúc Âm, bởi vì nhiệm vụ phụng sự của họ cũng là một chứng tá. Và chứng tá là cuộc sống phúc âm. Không cần phải sáng chế ra điều gì cả, vì Tin Mừng đã cho chúng ta mọi sự rồi.

(ZENIT 16-7-2012)

Linh Tiến Khải

TUẦN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO (16 đến 22 tháng 7-2012)

TUẦN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO (16 đến 22 tháng 7-2012)

“Chúng ta hãy cứu các Kitô hữu” – Biểu tình ở Roma 18 tháng 7/2012.

-Suy tư về người khuyết tật nhân dịp Thế Vận Hội.

-Cộng đoàn Ấn Độ lớn mạnh nhờ “MỘT NẮM GẠO”.

-Thượng phụ Đại Kết tái khẳng định cam kết với sự Hiệp Nhất Kitô giáo.

Đâu là tác phẩm đầu tiên bằng tiếng Latinh do một Kitô hữu viết?

Quốc Hội Séc (Tiệp Khắc) thông qua luật hoàn trả các tài sản Giáo Hội.

Tân Bề Trên Tổng Quyền Dòng Thánh Linh(*), Cha John Fogarty.

Chủ đề Ngày Thế Giới Hoà Bình 2013 : PHÚC THAY AI XÂY DỰNG HOÀ BÌNH.

Chân Phước Mẹ Têrêxa Calcutta làm Quan Thầy Hạt Phủ Doãn Tông Toà Robe.

Các lãnh đạo Chính Thống Nga, Công Giáo Ba Lan thúc đẩy hoà giải giữa 2 quốc gia.

Những cải cách Dòng Carmel của Thánh Têrêxa có thể áp dụng được ngày nay.

-Linh mục ở Philadelphia dính vào buôn bán hàng đa cấp bị bãi chức.

Tín hữu Công giáo tập họp ủng hộ ĐGM Ma.

GM Fellay chỉ trích Tân Tổng Trưởng Thánh Bộ Tín Lý Đức Tin.

Lãnh đạo LCWR trả lời phê phán của Vatican.

Đài tưởng niệm độc nhất ở Roma tôn vinh các Đấng tử vì đạo mới.

Hoa Kỳ: Đêm “các Thánh”biến mất.

Nghị sĩ Israel xé nát bản in Tân Ước.

Bác bỏ lời kêu gọi của ĐHY về trưng cầu ý dân đối với hôn nhân đồng tính.

Giới chức về Tín Lý HĐGM Hoa Kỳ bình luận về Higgs Boson.

Mười tân LM được truyền chức ở Indonesia.

Nhà tâm lý học Brasil bị cấm tự xưng là Kitô hữu.

Quê hương Đức Wojtyla phản đối buổi nhạc Madonna.

-Vatican thay đổi hình dạng hàng giáo phẩm đất nước Châu Phi với những cuộc tấn phong Giám Mục.

Ở tuổi 92, vị LM cao tuổi nhất đang làm việc của New York vẫn tráng kiện.

“Giải thưởng Ratzinger” lần thứ 2 được trao trong kỳ Thượng Hội Đồng Giám Mục.

200 triệu nạn nhân “giết người vì giới tính” .

Tranh luận về phụng vụ “uỷ mị” ở Thánh Lễ bế mạc Đại Hội Thánh Thể.

Hôn nhân đồng tính và sự bóc lột phụ nữ.

Không thoả hiệp về ý nghĩa của hôn nhân.

Báo Osservatore Romano được in ở Hoa Kỳ.

Bạo lực gia tăng chóng mặt ở Ba-Tây – 24 trẻ em bị giết mỗi ngày.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                    

(Xin xem tiếp chi tiết . . .   TUẦN TIN GIÁO HỘI CÔNG GIÁO 16 đến 22 tháng 7 2012)

    

CUỘC BỎ PHIẾU BẰNG CHÂN LỊCH SỬ – DI CƯ 1954

CUỘC BỎ PHIẾU BẰNG CHÂN LỊCH SỬ DI CƯ 1954

Khi nói tới (QUỐC HẬN), người Việt tự do và nhất là các bạn trẻ thường hay nghĩ ngay tới ngày 30 tháng 4. Nhưng ngoài ra, ngày 20 tháng 7 cũng chính là ngày QUỐC HẬN, ngày mà đất nước VIỆT NAM bị chia cắt bởi thực dân Pháp và cộng sản Hà nội đã ký kết với nhau qua hiệp định Genève. Ngay sau khi Hiệp định Genève vừa được ký kết, ngày 22 tháng 7 -1954 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm và   đồng bào tuyên cáo cực lực phản đối, đã treo cờ rũ toàn quốc để tang việc chia đôi đất nước.

Hậu quả việc chia cắt đất nước gây nên cảnh hàng trăm ngàn gia đình ly tán: Con mất cha, vợ phải xa chồng, anh chị em mỗi người một ngã… Trong số hơn 1 triệu người di cư vào niềm Nam có khoảng gần 700.000 giáo dân khi ra đi chỉ mang theo ảnh tượng Chúa, Đức Mẹ và Thánh giá là tài sản quý giá nhất luôn mang bên mình, cùng đức tin là hành trang duy nhất trong cuộc sống mới để thờ phượng Thiên Chúa nơi miền Nam tự do.

  (Xin xem tiếp . . .  CUỘC BỎ PHIẾU BẰNG CHÂN LỊCH SỬ – DI CƯ 1954 )

ĐỨC THÁNH CHA GỬI SỨ ĐIỆP CHO CÁC THAM DỰ VIÊN ĐẠI HỘI MỤC VỤ MỸ GỐC PHI CHÂU VÀ QUẦN ĐẢO CARAIBI LẦN THỨ XI

ĐỨC THÁNH CHA GỬI SỨ ĐIỆP CHO CÁC THAM DỰ VIÊN ĐẠI HỘI MỤC VỤ MỸ GỐC PHI CHÂU VÀ QUẦN ĐẢO CARAIBI LẦN THỨ XI

GUAYAQUIL: Đức Thánh Cha khích lệ các kitô hữu Mỹ gốc Phi châu đào sâu suy tư về các giá trị văn hóa, lịch sử và các truyền thống của mình để có thể luôn luôn giới thiệu Chúa Kitô như là câu trả lời đích thật cho các vấn nạn sâu thẳm nhất của con người.

Đức Thánh Cha đã đưa ra lời khích lệ trên đây trong sứ điệp gửi các tham dự viên đại hội Mỹ gốc Phi châu và quần đảo Caraibi lấn thứ XII, nhóm tại Guayaquil bên Ecuador trong các ngày 13 đến 20 tháng 7 năm 2012 với đề tài ”Mục vụ Mỹ gốc phi châu và quần đảo Caraibi và tài liệu Aparecida. Các thách đố và hy vọng trong Giáo Hội và xã hội”.

Trong sứ điệp do Đức Hồng Y Tarcisio Bertone Quốc Vụ Khanh ký, Đức Thánh Cha gửi lời chào thân ái đến mọi tham dự viên đại hội và cầu chúc họ được nhiều ơn của Chúa Thánh Thần, là Đấng làm cho mọi nền văn hóa nên phong phú bằng cách thanh tẩy chúng và khiến cho nhiều mầm giống mà Ngôi Lời nhập thể đã đặt để trong đó hướng tới Tin Mừng. Đức Thánh Cha gửi tới các Giám Mục và các cộng sự viên cũng như các dân tộc, đôi khi bị gạt bỏ bên lề và ít được chú ý, một phép lành toà thánh đặc biệt của ngài.

(SD 18-7-2012)

Linh Tiến Khải

Một số kỷ niệm liên quan tới Công Đồng Chung Vatican II

Một số kỷ niệm liên quan tới Công Đồng Chung Vatican II

Phỏng vấn Đức Hồng Y Jorge Maria Mejia Cách đây 50 năm, Công Đồng Chung Vaticăng II đã khai mở với sự tham dự của 2.540 người, gồm các nghị phụ, các chuyên viên và đại diện của các Giáo Hội anh em. Trong số các chuyên viên tham dự Công Đồng cũng có một linh muc trẻ tuổi người Argentina: đó là linh mục Jorge Maria Mejia, hiện nay là Hồng Y. Đức Hồng Y Mejia đã là người đi tiên phong trong việc đối thoại với các anh em Do thái, và là người hiểu biết nền văn hóa Do thái sâu rộng. Là bạn thân của cha Henri de Lubac và bạn học cùng thời với Đức Gioan Phaolo II tại Đại học giáo hoàng Angelicum.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới quý vị và các bạn bài phỏng vấn Đức Hồng Y về một số các kỷ niệm thời công đồng.

Hỏi: Thưa Đức Hồng Y, vào thời khai mạc Công Đồng Hồng Y đã được chỉ định làm chuyên viên của Công Đng như thế nào?

Đáp : Hồi tháng 11 năm 1963 Công Đồng bắt đầu khóa họp thứ hai. Một hôm Đức Cha Juan Giaquinta đem cho tôi một phong bì của tòa Tổng Giám Mục Buenos Aires và cho tôi biết là Phủ Quốc Vụ Khanh TòaThánh chỉ định tôi làm chuyên viên của Công Đồng. Tôi rất ngạc nhiên, vì cho tới lức đó tôi đặc trách các chuyện khác như nguyệt san công giáo Argentina Criterio. Thú thật công việc của ông Đồng đòi hỏi nhiều năng lực lắm. Tôi đã là một trong các chuyên viên ít ỏi của châu Mỹ Latinh. Trong chỗ dành riêng cho các chuyên viên, tôi đã gặp nhiều nhân vật nổi tiếng, trong đó có cha Henri de Lubac, mà tôi đã tiếp xúc để viết luận án thần học tại đại học giáo hoàng Angelicum, cha Jorge Arturo Medina Estevez, sau này trở thành Hồng Y Tổng trưởng Bộ Phụng Tự, và cha Egidio Viganò, sau này là Tổng quyền dòng Don Bosco Salesien. Dĩ nhiên là cũng có thần học gia trẻ tuổi người Đức là Joseph Ratzinger nữa.

Trong số các tài liệu công đồng đã ảnh hưởng sâu đậm trên cuộc đời linh mục của tôi có tài liệu về Đại kết Unitatis Redintegratio, và tài liệu về các tôn giáo không kitô Nostra Aetate. Tôi được giao cho nhiệm vụ tiếp xúc với các nghị phụ Argentina và Uruguay, mà tôi đã quen biết trước Công Đồng Vatican II. Chúng tôi hội họp thường xuyên với nhau, và từ các cuộc họp đó đã nảy sinh ra các đề nghị và yêu cầu được trình bầy trước các nghị phụ.

Hỏi: Thưa Đức Hồng Y, đâu đã là phần đóng góp của các nghị phụ châu Mỹ Latinh cho Công Đồng?

Đáp : Như quý vị có thể tưởng tượng ra, đóng góp đã có thứ tự và trong một nghĩa nào đó nó đa diện. Điều tôi có thể nhần mạnh là phần đóng góp của Đức Hồng Y tương lai Eduardo Francisco Pironio đối với tài liệu về tông đồ giáo dân Apostolicam actuositatem. Ngài đã nắm vai trò định đoạt trong việc soạn thảo tài liệu này. Ảnh hưởng của vị Giám Mục người Argentina này đã rất lớn nhờ kinh nghiệm và sự hiểu biết sâu xa của ngài đối với phong trào Công Giào Tiến Hành tại Argentina. Nổi bật là việc bảo vệ sự nghèo khó trong Giáo Hội từ phía tất cả các Giám Mục Argentina. Người đã mạnh mẽ trình bầy đề tài này là vị Giám Mục trẻ tuổi của giáo phận Nueve de Julio, sau này trở thành Hồng Y, đó là Đức Cha Antonio Quarracino, người Italo Argentina.

Một trong những tranh luận sôi nổi giữa các nghị phụ là việc tái phục hồi chức Phó tế vĩnh viễn như trong thời Giáo Hội khai sinh. Ở đây uy tín mục vụ của Đức Tổng Giám Mục Lima Giáo chủ Peru, Đức Cha Juan Landaszuri Ricketts, dòng Phanxico, đã khiến cho phần lớn các nghị phụ chấp nhận tài liệu. Các Giám Mục châu Mỹ Latinh cũng đóng góp nhiều cho đề tài Giàm Mục đoàn.

Hỏi: Đức Hồng Y có nhớ xảy ra vụ đng độ nào giữa các nghị phụ hay không?

Đáp : Mặc dù Đức Giào Hoàng Phaolo VI đã cố gắng để đi đến chỗ đồng nhất bỏ phiếu cho các tài liệu, nhưng đã luôn luôn xảy ra các vụ đụng độ liên quan tới các từ hay các định nghĩa nhỏ. Bầu khí trở thành sôi bỏng, chẳng hạn như lần Đức Hồng Y Joseph Frings của tổng giáo phận Koeln tố cáo Thánh Văn Phòng, tức Bộ Giáo Lý Đức Tin, là quá bàn giấy rườm rà và độc quyền liên quan tới các công việc của Công Đồng. Đó đã là bài phát biểu rất mạnh mẽ chống lại Đức Hồng Y Ottaviani. Đức Hồng Y Ottaviani đã rất xúc động và đã trả lời, nhưng không được hữu hiệu và hùng hồn bằng vị Hồng Y Đức.

Hỏi : Thế các đung độ và các tranh luận ấy có ảnh hường gì trên việc soạn thảo các tài liệu quan trọng của Công Đòng không thưa Đức Hồng Y?

Đáp : Việc xảy ra các đụng độ và các tranh luận giữa các nghị phụ không phải là một bí mật gì. Đặc biệt khi liên quan tới các đề tài tế nhị và định đoạt như đối thoại đại kết hay đối thoại với các tôn giáo không kitô với tài liệu Nostra Aetate. Người ta nhận ra ngay hai khuynh hướng bảo thủ và cởi mở, bào thủ như Đức Cha Ernesto Ruffini và cởi mở như Đức Cha Agostino Bea. Nhưng Công Đồng đã thực sự bị chia rẽ hay rách nát trong việc soạn thảo tài liệu Dignitatis Humanae. Có những vị mạnh mẽ bênh vực tự do tôn giáo, điển hình như Đức Tổng Giám Mục Chicago Albert Gregory Meyer, qua đời khi Công Đồng kết thúc. Rồi tôi không thể quên sự kiên nhẫn vô bờ của Đức Tổng Giám Mục Bruges Emiel Joseph De Smedt để có thể đi đến một lược đồ được giàn xếp khiến cho các nghị phụ hay tranh luận nhất là các nghị phụ Tây Ban Nha và Italia cũng phải chấp nhận. Vụ này cũng khiến cho tôi tận mắt chứng kiến và khâm phục tài ngoại giao khéo léo của vị thư ký Công Đồng là Đức Cha Pericle Felici, người Ý.

Hỏi: Có người cho rằng văn bản bị các nghị phụ đưa ra nhiều nhận định và lắm lúc bị chỉ trich nhiều nhất là Hiến chế mục vụ Gaudium et Spes, có đúng thế không thưa Đức Hồng Y?

Đáp : Trong khi soạn thảo tài liệu, vài Giám Mục Argentina và cả chính tôi nữa, chúng tôi lo lắng vì sự kiện văn bản không chú ý đủ tới sự dữ, tội lỗi và sự hiện diện của ma quỷ trong thế giới. Vài nhận xét của chúng tôi đã được tiếp nhận và đưa vào trong văn bản. Người ta đã nhận ra, nhất là trong giai đoạn sau công đồng, sự lạc quan quá đáng mà tài liệu đề nghị với các tín hữu, khi không nhấn mạnh trên các quấy phá của sự dữ và nhiều điều không trong sáng. Điều khiến cho tôi chú ý đó là các phê bình của ghế giới tin lành, mà tôi thường xuyên tiếp xúc. Tôi vẫn còn nhớ câu nói của một người bạn Methodist: “Văn bản này có quá nhiều rộng mở và quá nhiều lạc quan”. Trong văn bản này thiếu thần học gia Karl Barth”. Cho đến nay đề tài vẫn còn là đối tượng chú ý của nhiều thần học gia.

Hỏi: Trong thời công đng Đức Hồng Y cũng gặp lại bạn hoc cũ tại đại học giáo hoàng Angelicum là Đc Cha Karol Wojtyla. Đức Hồng Y có kỷ niệm nào về ngài?

Đáp: Tôi nhớ ngài đã là vị Giám Mục phụ tá Cracovia, và là gương mặt nổi bật trong Công Đồng. Và tôi nhớ là các phát biểu của ngài trong ủy ban thu hẹp họp tại Ariccia để soạn thảo văn bản của tài liệu Gaudium et Spes tương lai đã được tiếp nhận. Tôi đã ghi chép những gì ngài nói. Tôi nhớ ngài là vị Giám Mục đầu tiên nói rằng Công Đồng phải chú ý tới giới trẻ của các thế hệ sẽ đến sau. Từ trực giác này tôi nghĩ rằng ngài đã chuẩn bị cho các Ngày quốc tế giới trẻ sau này, khi ngài lên làm Giáo Hoàng. Tôi có gặp lại ngài trong một phiên họp khoáng đại của Văn phòng thư ký hiệp nhất các tín hữu kitô, ít lâu sau khi ngài được bầu làm Giáo Hoàng. Và ngài chào tôi như sau: “Đây là ông bạn thời đại học của tôi, là người biết thần học của thánh Toma nhiều hơn tôi”. Tôi đỏ mặt vì mắc cỡ. Và tôi nhớ là Đức Gioan Phaolo II tiếp tục gọi tên rửa tội của tôi là Jorge, cả khi ngài đặt tôi làm Hồng Y. Và tôi nhớ là tình bạn của chúng tôi đã không hề thay đổi, cả khi ngài được bầu làm Giáo Hoàng.

Hỏi: Ngày nay có người chủ trương gạt bỏ Công Đồng Chung Vatican II ra một bên. Riêng Đức Hòng Y thì Đức Hồng Y nghĩ sao?

Đáp : Tôi lấy lại bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI nói hồi tháng 12 năm 2005 và kiểu đọc Công Đồng của ngài: Công Đồng Chung Vatican II là một viên đá đánh dấu huấn quyền chính thức của Giáo Hội và cũng có gia trị như của Công Đồng Chung Vatican I, Công Đồng Chung Ephexo hay các Công Đồng Chung khác do các Giao Hoàng triệu tập. Nó đã là một biến cố thuộc truyền thống của Giáo Hội và mỗi một văn bản, tuyên ngôn hay hiến chế của nó đều mời gọi chúng ta khám phá ra gương mặt thật của Giáo Hội. Một biến cố vẫn còn có tất cả tầm quan trọng ngôn sứ của nó đối với các tín hữu và thế giới ngày nay.(Avvenire 9-5-2012)

Linh Tiến Khải