Đức Giám mục Blaire kêu gọi mạnh mẻ để chống lại các công ty “Payday Loans” trong bức Thư gửi cho cơ quan Bảo Vệ Tài Chính cho Người Tiêu Thụ.

Đức Giám mục Blaire kêu gọi mạnh mẻ để chống lại các công ty “Payday Loans” trong bức Thư gửi cho cơ quan Bảo Vệ Tài Chính cho Người Tiêu Thụ.

14 tháng 11 2013

WASHINGTON – Người dân lao đông vất vả để tự nuôi bản thân mình và gia đình phải được bảo vệ từ những người cho vay tiền, mà những công ty này luôn khai thác bóc lột trong sự không ổn định tài chính của người vay tiền. Đức Giám mục Stephen E. Blaire của Stockton, California, Chủ tịch Ủy ban Tư pháp về nước và phát triển con người của Hội nghị của Hoa Kỳ Giám mục Công giáo ( HĐGMHK ) đã nói như vậy.

Bức thư ngày 13 tháng 11 gởi cho Richard Cordray, giám đốc điều hành cơ quan Bảo vệ tài chính cho người tiêu thụ, Đức Giám mục Blaire nói rằng các công ty payday thường " tạo ra nhiều cách thức để trả nợ rất khó khăn, bắt đầu làm cho người vay mắc nợ nhiều, rồi tiếp tục châm thêm vào và làm cho tài chánh của họ trầm trọng, chứ không phải làm giảm đi. " Người dân lao động có thể vay từ payday loans, với một lệ phí, tương đương với số tiền lương sắp lãnh của họ. Thanh toán số tiền vay đầy đủ là cho lần lãnh lương sắp tới. Payday thường dùng định kỳ là 2 tuần .

Đức Giám mục Blaire nói rằng, Giáo lý Giáo hội Công giáo cảnh báo chống lại sự lợi dụng trong lúc khó khăn là đồng nghĩa với hành vi trộm cắp. Các Toát yếu Học thuyết Xã hội của Giáo Hội nói rằng " mặc dù sự tìm kiếm lợi nhuận công bằng là chấp nhận được trong hoạt động kinh tế và tài chính , phương thức cho vay nặng lãi là bị lên án về mặt đạo đức. "

Hãy nhận thức như thế nào sự tai hại từ các công ty payday loans cho những người sống trong nghèo đói, nhiều người thụ hưởng trợ cấp của hội Vận Động Công Giáo cho Phát Triển Nhân Loại (Catholic Campaign for Human Development, CCHD) đã chiến đấu để bảo vệ người tiêu thụ , chẳng hạn như đặt giới hạn về tiền lời và lệ phí mà người cho vay payday có thể tính phí tổn. Hàng năm sẽ có cuộc quyên tiền trong các giáo xứ trên toàn nước Hoa Kỳ vào những ngày cuối tuần 23-ngày 24 tháng 11, tuần trước lễ Tạ Ơn. Số tiền này sẽ dành cho cơ quan CCHD của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.

 Đức Giám mục Blaire nói thêm, " những người nghèo và lao động đáng thương xứng đáng được nhiều cách lựa chọn trong lúc vay tiền mà họ có thể trả kịp thời và bảo đảm  tài chính dài hạn của họ, chứ không phải trả nợ theo nhiều định kỳ. "

Đức Giám mục Blaire kết thúc nhiệm kỳ là chủ tịch của Hội Ðồng Giám Mục Tư pháp Quốc gia và Phát triển Nhân loại ngày 14 tháng 11 và được thay thế bởi Đức Tổng Giám Mục Thomas G. Wenski ở Miami .

Nguồn: HĐGMHK

Thái Trọng

Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm chính thức Tổng thống Cộng hòa Italia

Đức Thánh Cha Phanxicô viếng thăm chính thức Tổng thống Cộng hòa Italia

VATICAN. Sáng ngày 14 tháng 11-2013, ĐTC Phanxicô đã đến viếng thăm chính thức tổng thống Giorgio Napolitano tại điện Quirinale, đáp lễ cuộc viếng thăm chính thức của Tổng thống tại Vatican hồi tháng 6 năm nay.

Điện Quirinale là dinh của Đức Giáo Hoàng trong 300 năm trời, cho đến ngày 20 tháng năm 1870, khi quân Italia chiếm nước Tòa Thánh và thống nhất bán đảo Italia.

ĐTC Phanxicô là vị Giáo Hoàng thứ 6 đến viếng thăm tại điện Quirinale và đây là lần thứ 3 ngài gặp Tổng thống Giorgio Napolitano. Ông năm nay đã 88 tuổi và đã mãn 7 năm làm tổng thống. Nhưng hồi tháng 4 năm nay, trước tình thế nguy kịch của đất nước, theo lời khẩn khoản của các đảng phái chính trị, ông đã nhận lời làm nhiệm kỳ hai.

Tháp tùng ĐTC trong cuộc viếng thăm sáng hôm qua có 11 người, đứng đầu là Đức TGM Angelo Becciu, Phụ tá Quốc vụ khanh Tòa Thánh, vì Đức TGM Quốc vụ khanh Pietro Parolin còn dưỡng bệnh cho đến thứ bẩy 16-11-2013. Ngoài ra có Đức TGM Ngoại trưởng Tòa Thánh Dominique Mamberti, ĐHY Chủ tịch Phủ Thống đốc Vatican, ĐHY Chủ tịch HĐGM Italia và ĐHY Giám quản Roma.

Đến điện Quirinale vào lúc gần 11 giờ, ĐTC đã được Tổng thống chào đón nồng nhiệt, trước đoàn quân danh dự, với quốc thiều Vatican và Italia được trổi lên. Tiếp đó, ĐTC và Tổng thống đã hội kiến riêng trong thư phòng, trong khi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Italia, Ông Nicola Letta, và một số vị Bộ trưởng trao đổi với phái đoàn Tòa Thánh do Đức TGM Becciu hướng dẫn.

Tiếp đến là nghi thức trao đổi tặng vật, và ĐTC chào thăm các vị Chủ tịch Thượng Viện, Hạ Viện và tòa bảo hiến của Italia, trước khi viếng nhà nguyện Đức Mẹ Truyền Tin.

Sau đó vào lúc quá 12 giờ trưa, tại sảnh đường Đại Lễ, trước sự hiện diện đông đảo của các quan chức chính quyền và phái đoàn Tòa Thánh, Tổng thống Napolitano đã đọc diễn văn chính thức chào mừng ĐTC.

Ông tái bày tỏ tâm tình gần gũi và quí mến, đồng thời nhận xét rằng ”Quan niệm của Ngài về Giáo Hội và đức tin đã được chuyển đến tất cả mọi người, dù là tín hữu hay không có tín ngưỡng, qua những lời đơn sơ và mạnh mẽ của Ngài. Điều gây ấn tượng mạnh nơi chúng tôi là sự vắng bóng mọi thái độ giáo điều..”

Tổng thống nói đến những khăn, bầu không khí căng thẳng giữa các lực lượng chính trị khác nhau, và ông nhận xét rằng nhiều lời của ĐGH có thể soi sáng cho xã hội Italia trong bối cảnh này, đặc biệt là tinh thần đối thoại. Cũng vậy đối với tệ nạn tham ô hối lộ.

Diễn văn ca Đức Thánh Cha

Trong diễn văn chính thức, ĐTC chân thành cám ơn Tổng Thống cũng như quốc dân Italia, ngài nhắc lại những quan hệ và sự cộng tốt đẹp giữa Italia và Tòa Thánh, đồng thời ngài kêu gọi bênh vực gia đình. ĐTC nói:

Thưa tổng thống!

Với lòng biết ơn sâu xa, hôm nay tôi đáp lễ cuộc viếng thăm nồng nhiệt mà tổng thống đã dành cho tôi ngày 8 tháng 6 năm nay tại Vatican. Tôi cám ơn Tổng thống vì những lời chào mừng, nói lên tâm tình của nhân dân Italia.
Theo thói quen định chế về quan hệ giữa Italia và Tòa Thánh, cuộc viếng thăm này của tôi khẳng định tình trạng rất tốt đẹp trong quan hệ với nhau, và hơn nữa việc làm này cũng muốn diễn tả một dấu hiệu thân hữu. Thực vậy trong 8 tháng đầu tiên của tôi trong sứ vụ Phêrô, tôi đã cảm nghiệm được từ phía Tổng Thống bao nhiêu cử chỉ quan tâm. Những cử chỉ đó tiếp nối nhiều cử chỉ mà Tổng Thống đã dần dần biểu lộ trong nhiệm kỳ 7 năm đầu tiên đối với vị tiền nhiệm của tôi là Đức Biển Đức 16. Trong lúc này đây tôi muốn nghĩ đến Ngài với lòng quí mến, nhớ lại cuộc viếng thăm của Người tại điện Quirinale, dinh mà trong dịp đó Người gọi là ”căn nhà biểu tượng của tất cả mọi người dân Italia” (diễn văn 4-10-2008).

Khi đến viếng thăm Tổng Thống tại nơi này, với bao nhiêu biểu tượng và lịch sử, trong tinh thần, tôi muốn gõ cửa nhà của mỗi người dân tại đất nước này, nơi có căn cội gia đình trần thế của tôi, và trao tặng cho mọi người lời có sức chữa lành và luôn luôn mới mẻ của Phúc Âm.

Khi nghĩ lại thời điểm nổi bật trong quan hệ giữa Nhà Nước Italia và Tòa Thánh, tôi muốn nhắc đến việc đưa các Hiệp định Laterano và thỏa ước duyệt lại Hiệp định ấy vào trong Hiến pháp của Cộng hòa Italia. Trong vài tuần nữa là kỷ niệm 30 năm Thỏa Ước này. Ở đây chúng ta có một khuôn khổ vững chắc để tham chiếu về pháp lý, hầu có một sự phát triển trong sáng các quan hệ giữa Giáo Hội và Nhà Nước tại Italia, khuôn khổ này phản ánh và hỗ trợ sự cộng tác thường nhất để phục vụ con người, nhắm mưu công ích, trong sự phân biệt các vai trò và lãnh vực hoạt động của mỗi bên.

”Có bao nhiêu vấn đề mà chúng ta cùng quan tâm và những câu trả lời có thể là giống nhau. Thời điểm hiện nay mang đậm ảnh hưởng cuộc khủng khoảng kinh tế, đòi nhiều nỗ lực cơ cực để vượt qua, và trong số những hậu quả đau thương của cuộc khủng hoảng ấy, có tình trạng không có đủ công ăn việc làm. Cần gia tăng nỗ lực để thoa dịu những hậu quả của nó và để đón nhận cũng như củng cố mọi dấu phục hồi.

Nghĩa vụ đầu tiên của Giáo Hội là làm chứng về lòng từ bi của Thiên Chúa và khích lệ những câu trả lời liên đới để mở ra một tương lai hy vọng; vì nơi nào hy vọng gia tăng thì cũng có nhiều nghị lực được tăng trưởng và sự dấn thân để kiến tạo một trật tự xã hội và dân sự nhân bản hơn, công bằng hơn, và nảy sinh những tiềm năng mới để phát triển dài hạn và lành mạnh.

Những cuộc viếng thăm mục vụ đầu tiên mà tôi được thực hiện tại Italia vẫn còn gây ấn tượng mạnh trong tâm trí tôi. Trước tiên tại đảo Lampedusa, tôi đã gặp gỡ gần kề sự đau khổ của những người vì chiến tranh hoặc vì lầm than, phải xuất cư trong những điều kiện nhiều khi tuyệt vọng; và tại đảo đó tôi đã gặp chứng tá đáng ca ngợi của bao nhiêu người đang xả thân trong việc đón tiếp. Rồi tôi nhớ đến cuộc viếng thăm tại Cagliari, để cầu nguyện trước Ảnh Đức Mẹ Bonaria; và cuộc viếng thăm tại Assisi, để tôn kính vị Thánh bổn mạng của Italia, mà tôi đã chọn tên thánh nhân. Ở những nơi ấy tôi cũng đụng chạm được một cách cụ thể những vết thương ngày nay đang đè nặng trên bao nhiêu người.

Nơi trung tâm của những hy vọng và khó khăn xã hội, có gia đình. Với một xác tín được đổi mới, Giáo Hội tiếp tục cổ võ sự dấn thân của tất cả mọi người, cá nhân cũng như các tổ chức, để nâng đỡ gia đình, là nơi đầu tiên trong đó con người được thành hình và lớn lên, trong đó ta học các giá trị và gương mẫu làm cho các giá trị đó đáng tín nhiệm. Gia đình cần sự ổn định và tính chất có thể nhận diện được của các quan hệ hỗ tương, để triển khai hoàn toàn nghĩa vụ không thể thay thế được và chu toàn sứ mạng. Trong khi gia đình dành các năng lực của mình để phục vụ Giáo Hội, gia đình yêu cầu được quí chuộng, đánh giá cao, và bảo vệ.
Và ĐTC kết luận rằng:

Thưa Tổng thống, trong hoàn cảnh này, tôi muốn bày tỏ mong ước, được hỗ trợ bằng lời cầu nguyện: ước gì Italia, kín múc từ gia sản phong phú của mình với các giá trị dân sự và tinh thần, biết tái tìm được sự sáng tạo và hòa hợp cần thiết cho sự phát triển hài hòa, thăng tiến công ích và phẩm giá của mỗi người, và đóng góp phần của mình cho hòa bình và công lý trong bối cảnh quốc tế.

Sau cùng, tôi cũng đặc biệt liên kết với lòng quí chuộng và yêu mến mà nhân dân Italia dành cho Tổng thống, và tái cầu chúc tổng thống những điều tốt đẹp nhất để chu toàn nghĩa vụ cao cả của Tổng Thống. Xin Thiên Chúa bảo vệ Italia và tất cả mọi người dân nước này.

Gặp các nhân viên và gia đình

Sau khi trao đổi diễn văn, ĐTC được Tổng thống hướng dẫn đến thăm Nhà Nguyện Paolina trong Điện Quirinale, rồi gặp gỡ 200 người gồm các nhân viên, gia đình và con cái của họ.

Đây là lần đầu tiên trong một cuộc viếng thăm của vị Giáo Hoàng tại dinh Quirinale có một cuộc gặp gỡ như vậy. Trong dịp này ĐTC nhắn nhủ các nhân viên tại Phủ Tổng Thống rằng:

”Qua công việc của anh chị em, nhiều khi âm thầm nhưng quí giá, anh chị em tiếp xúc với những biến cố thông thường và ngoại thường, đánh dấu hành trình của một quốc gia. Một số người trong anh chị em có cơ hội tiếp cận những vấn đề xã hội, gia đình và con người, mà các công dân tin tưởng gửi đến Tổng Thống. Tôi cầu chúc anh chị em luôn có một tinh thần hiếu khách, và cảm thông đối với tất cả mọi người. Rất cần có những người dấn thân với khả năng chuyên môn và với tinh thần nhân đạo, cảm thông, với sự quan tâm liên đới đặc biệt với những người yếu thế nhất. Tôi khuyến khích anh chị em đừng nản chí trong những khó khăn, và luôn sẵn sàng nâng đỡ tha nhân”.

Cuộc viếng thăm của ĐTC tại dinh tổng thống Italia kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ. Sau nghi thức tiễn biệt, Ngài đã trở về Vatican lúc gần 1 giờ trưa.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Chủ tịch tiểu ban của Hội Ðồng Giám Mục Phản ứng việc xác định lại hôn nhân ở Hawaii

Chủ tịch tiểu ban của Hội Ðồng Giám Mục Phản ứng việc xác định lại hôn nhân ở Hawaii

WASHINGTON – Tổng Giám Mục Salvatore Cordileone tại San Francisco, Chủ tịch tiểu ban các giám mục Hoa Kỳ  về khuyến khích và bảo vệ hôn nhân (Subcommittee for the Promotion and Defense of Marriage), trả lời ngày hôm nay để dự luật được thông qua bởi cơ quan lập pháp Hawaii và thống đốc đã ký sắc lệnh để xác định lại việc hôn nhân .

"Quyết định ở Hawaii là đáng thất vọng và cho thấy sự cần thiết phải xây dựng lại một nền văn hóa của các gia đình của quốc gia chúng ta, " Đức Tổng Giám Mục Cordileone nói. "Thay đổi ý nghĩa của hôn nhân trong pháp luật không thúc đẩy lợi ích chung hoặc bảo vệ quyền lợi đích thực . "

" Khi đề cập đến các gia đình ", Đức Tổng Giám Mục nói, " Đức Thánh Cha Phanxicô đặt nó theo cách này:" Tôi nghĩ việc đầu tiên và quan trọng nhất của sự kết hợp bền vững của người đàn ông và người phụ nữ trong hôn nhân. " Vấn đề của hôn nhân có tư cách trong pháp luật là thúc đẩy các quyền lợi của trẻ em là có một người mẹ và một người cha. Chỉ người đàn ông và đàn bà lập gia đình với nhau mới có thể tạo ra được. Câu hỏi chúng ta cần phải tự hỏi mình là thế này: Làm thế nào chúng ta có thể thật sự biện minh cho một điều luật mà theo nguyên tắc không cho trẻ em quyền lợi này "

Đức Tổng Giám Mục Cordileone nói thêm, " những lời cầu nguyện của tôi là với nhiều người đã giúp bảo vệ hôn nhân ở Hawaii trong tinh thần bác ái và chân lý, và bằng cách đó, giúp bảo vệ một nền văn hóa của gia đình. Những nỗ lực của họ đã không vô ích, sẽ là nhân chứng và luôn  tiếp tục đơm hoa kết trái . "

Nguồn: HĐGMHK

Thái Trọng

 

Bề trên tổng quyền dòng Camêlô bị bắt vì tội bắt cóc

Bề trên tổng quyền dòng Camêlô bị bắt vì tội bắt cóc

November 13, 2013 

Cindy Wooden cho Catholic Herald

Bề trên tổng quyền dòng Camêlô bị bắt vì tội bắt cóc thumbnail

Cảnh sát Ý vừa bắt giữ bề trên tổng quyền dòng Camêlô vì nghi ngờ bắt cóc sau khi người ta cho rằng ngài cố gắng ngăn chặn hai linh mục cùng dòng phản đối việc bầu cử ngài tham dự tổng tu nghị của dòng.

Linh mục Renato Salvatore, người được tái cử tại một tu nghị hồi tháng Năm, và năm người đàn ông khác bị cảnh sát Ý bắt giữ tuần này.

“Rất ngạc nhiên và đau đớn khi chúng tôi biết tin bề trên tổng quyền của mình đã bị cảnh sát bắt giữ để làm rõ những nghi vấn liên quan những sự việc được gắn cho ngài” – linh mục Paolo Guarise, tổng đại diện dòng, nói trong thông cáo.

“Chúng tôi đang sống giây phút này trong cầu nguyện và chắc chắn rằng sự việc có thể sẽ được làm sáng tỏ”, cha Guarise cho biết.

Theo tin tức báo chí Ý, cha Salvatore bị cáo buộc đã sắp xếp cho những người mạo danh là thành viên của cảnh sát câu lưu và thẩm vấn hai linh mục cùng dòng nhằm ngăn cản họ tham dự tổng tu nghị và bỏ phiếu chống lại việc ngài tái cử.

Cảnh sát cho rằng cha Salvatore đang làm việc với một chuyên gia tài chính người Ý – người này đã bị điều tra nhiều lần nhưng chưa bị kết tội giao dịch tài chính mờ ám – để bảo vệ các hợp đồng tại một bệnh viện của dòng gần Naples.

Nguồn: Catholic Herald

UCANEWS Vietnam

Đức Thánh Cha giải thích về bí tích rửa tội

Đức Thánh Cha giải thích về bí tích rửa tội

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến chung 60 ngàn tín hữu hành hương sáng thứ tư, 13 tháng 11-2013, ĐTC Phanxicô đã giải thích ý nghĩa và tầm quan trọng của bí tích rửa tội đối với đời sống Kitô.

Giờ khai mạc chính thức được ấn định vào lúc 10 giờ rưỡi, nhưng từ 9 giờ, Quảng trường đã có hơn 60 ngàn, và lúc 10 giờ thiếu 10, ĐTC đã vào quảng trường trên chiếc xe díp màu trắng mui trần, tiến qua các lối đi để chào thăm các tín hữu. Rất nhiều người lợi dụng dịp này để trao thư cho Ngài; có những người tung khăn quàng hoặc quà tặng vào chiếc xe díp của ngài. Cũng có những người muốn đổi chiếc mũ chỏm màu trắng, nhưng ngài cầm lấy mũ ấy do tín hữu trao, đội vào đầu vài giây, rồi trao lại cho họ như kỷ vật.

Lên đến lễ đài trên thềm đền thờ, ĐTC làm dấu Thánh Giá, chính thức khai mạc buổi tiếp kiến. Các giám chức đọc một đoạn thư thánh Phaolô gửi tín hữu Roma bằng 5 thứ tiếng nói về phép rửa tội.

Bài giáo lý

Trong bài giáo lý tiếp đó, ĐTC quảng diễn về đề tài rút từ câu kinh Tin Kính: ”Tôi tin sự tha tội: bí tích rửa tội”. Sau khi chào thăm mọi người, ĐTC nói:

”Trong kinh Tin Kính chúng ta vẫn đọc mỗi ngày chúa nhật để tuyên xưng đức tin, chúng ta khẳng định: ”Tôi tin có một phép rửa để tha tội”. Đây là lần duy nhất trong kinh Tin Kính nói minh thị về một bí tích. Thực vậy, bí tích rửa tội là ”cánh cửa” dẫn vào đức tin và đời sống Kitô. Chúa Giêsu Phục Sinh đã để lại cho các Tông Đồ lệnh truyền này: 'Các con hãy đi khắp thế gian và công bố Tin Mừng cho mọi thụ tạo. Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu thoát” (Mc 16,15-16). Sứ mạng của Giáo Hội là loan báo Tin Mừng và tha tội qua bí tích rửa tội. Nhưng chúng ta hãy trở lại lời Kinh Tin Kính. Câu nói có thể được chia làm 3 phần: “tôi tin”; ”một phép rửa”; ”để tha tội”.

1. Thứ I: ”tôi tin”. Điều này có nghĩa là gì? Đây là từ ngữ long trọng và cho thấy tầm quan trọng rất lớn của đối tượng, nghĩa là bí tích rửa tội. Thực vậy, khi tuyên xưng lời này, chúng ta khẳng định căn tính đích thực của chúng ta là con cái Thiên Chúa. Có thể nói, Bí tích rửa tội là thẻ căn cước của Kitô hữu, là giấy khai sinh của họ. Đó là giấy khai sinh của Giáo Hội. Tất cả anh chị em đều biết ngày sinh của mình. Anh chị em mừng sinh nhật, tất cả đều mừng như thế. Nhưng tôi hỏi một câu mà có lần tôi đã hỏi: ai trong anh chị em nhớ ngày mình được rửa tội là ngày nào? Xin giơ tay lên! Không nhiều lắm. Khi về nhà anh chị em hãy hỏi xem mình được rửa tội ngày nào nhé! Hãy tìm đi, vì đó là ngày sinh nhật thứ hai! Ngày anh chị em sinh ra trong Giáo hội. Hãy tìm hiểu và cảm tạ Chúa vì Ngài mở cho chúng ta cửa vào Giáo Hội của Chúa trong ngày chúng ta lãnh nhận bí tích rửa tội. Chúng ta hãy tìm hiểu ngay ngày hôm nay.

Đồng thời, niềm tin của chúng ta nơi sự tha tội được gắn liền với bí tích rửa tội. Bí tích Thống Hối hay phép giải tội giống như một phép rửa tội thứ hai, luôn tham chiếu bí tích thứ nhất, để củng cố và đổi mới bí tích ấy. Theo nghĩa này, ngày chúng ta chịu phép rửa tội là khởi điểm của một con đường rất đẹp, một con đường tiến về Thiên Chúa, kéo dài trong cuộc sống, một con đường hoán cải liên tục được nâng đỡ nhờ bí tích Thống Hối. Và anh chị em hãy nghĩ điều này: khi chúng ta đi xưng tội, xưng những yếu đuối của chúng ta, tội lỗi của chúng ta, chúng ta đi xin Chúa Giêsu tha thứ, nhưng chúng ta cũng đi canh tân bí tích rửa tội nhờ sự tha thứ ấy. Cũng giống như chúng ta mừng ngày chịu phép rửa mỗi khi chúng ta đi xưng tội vậy. Như thế việc xưng tội không phải là ngồi trong một phòng tra tấn, nhưng là một đại lễ để mừng ngày chịu phép rửa tội. Bí tích giải tội dành cho những ngừơi đã chịu phép rửa tội! Bí tích ấy giữ cho chiếc áo trắng phẩm giá Kitô của chúng ta được thanh sạch.

2. Yếu tố thứ hai: ”một phép rửa duy nhất”. Thành ngữ này gợi lại lời thánh Phaolô: ”Một Chúa duy nhất, một đức tin, một phép rửa duy nhất” (Ep 4,5). Từ ”battesimo”, phép rửa tội, nghĩa đen là ”dìm mình”, và thực vậy, bí tích này là một sự dìm mình thiêng liêng thực sự trong cái chết của Chúa Kitô, từ đó ta sống lại với Ngài như những thụ tạo mới (Xc Rm 6,4). Đây là một sự tẩy rửa tái sinh và soi sáng. Tái sinh vì nó thực hiện một sự sinh ra từ nước và Thánh Linh, nếu không có sự tái sinh này, thì không ai có thể được vào Nước Trời (Xc Ga 3,5). Soi sáng vì qua phép rửa tội, con người được tràn đầy ơn thánh của Chúa Kitô, ”là ánh sáng đích thực soi chiếu mỗi người” (Ga 1,9) và xua tan bóng đêm của tội lỗi. Và vì thế trong lễ nghi chịu phép rửa, có trao cho cha mẹ một cây nến sáng, để nói lên sự soi sáng ấy. Bí tích rửa tội soi sáng chúng ta từ bên trong với ánh sáng của Chúa Giêsu. Do hồng ân ấy, người chịu phép rửa được kêu gọi trở thành ”ánh sáng” cho anh chị em mình, đặc biệt là những người còn ở trong bóng tối và không thấy tia sáng ở chân trời cuộc sống của họ.

Chúng ta hãy cố gắng tự hỏi: phép rửa tội, đối với tôi, là một sự kiến quá khứa, mà tôi không bao giờ nghĩ đến, hay là một thực tại sinh động, có liên hệ tới hiện tại của tôi, trong mọi lúc? Thỉnh thoảng tôi có nghĩ đến hồng ân tôi đã nhận lãnh, đến sự kết hiệp sâu xa với Chúa Giêsu, Đấng đã hiến mình vì tôi hay không? Trong những lúc tăm tối, cả trong nội tâm, khi tôi cảm thấy gánh nặng của khó khăn và tội lỗi của tôi, tôi có nhớ rằng mình đã được chịu phép rửa hay không? Tôi có phó thác cho tình thương của Chúa Kitô Đấng đang ngự trong thẳm sâu con người của tôi hay không?

3. ”Sau cùng, tôi xin nhắc sơ qua yếu tố thứ ba: ”để tha thứ tội lỗi”. Trong bí tích rửa tội, tất cả các tội lỗi được tha thứ, tội nguyên tổ cũng như tất cả các tội lỗi cá nhân, cũng như mọi hình phạt của tội lỗi. Với phép rửa tội, cánh cửa được mở ra cho một đời sống mới thực sự, không còn bị đè nén vì gánh nặng của quá khứ tiêu cực, nhưng cảm thấy được vẻ đẹp và sự tốt lành của Nước Trời. Đây là một sự can thiệp quyền năng của lòng từ bi Chúa trong đời sống chúng ta để cứu thoát chúng ta. Nhưng sự can thiệp cứu độ này không loại bỏ sự yếu đuối trong bản tính loài người của chúng ta, tất cả chúng ta đều yếu đuối, tất cả đều là ngừơi tội lỗi, và sự can thiệp ấy không tước bỏ trách nhiệm của chúng ta phải xin tha thứ mỗi khi chúng ta lầm lẫn! Điều này thật là đẹp. Tôi không thể chịu phép rửa tội hai lần, ba lần, bốn lần, nhưng tôi có thể đi xưng tội, canh tân ơn bí tích rửa tội. Như thể chúng ta chịu bí tích rửa tội thứ hai vậy. Chúa Giêsu rất tốt lành, không bao giờ ngài mệt mỏi trong việc tha thứ cho chúng ta. Anh chị em hãy nhớ rõ điều đó. Bí tích mở cho chúng ta cánh cửa Giáo Hội. Hãy tìm ngày mình chịu phép rửa. Và cả khi cánh cửa này hơi bị khép kín vì sự yếu đuối của chúng ta, vì tội lỗi chúng ta, phép giải tội lại mở cửa đó ra, vì phép giải tội cũng giống như bí tích rửa tội thứ hai, tha thứ tất cả và soi sáng cho chúng ta để tiến bước với ánh sáng của Chúa. Chúng ta hãy vui mừng tiến bước như thế. Vì chúng ta phải vui sống với Chúa Giêsu Kitô và đó là một ân phúc của Chúa.

Chào thăm các tín hữu

Sau bài giáo lý trên đây, các giám chức và LM tại Tòa Thánh đã lần lượt tóm tắt ý chính bài huấn giáo của ĐTC, cũng như dịch những lời chào của ngài từ tiếng Ý sang các ngôn ngữ chính.

Chào các tín hữu nói tiếng Pháp, ĐTC nhắc đến các tín hữu từ Pháp và Thụy Sĩ, cùng với các LM từ Cộng hòa dân chủ Congo, đồng thời ngài nhắc nhở rằng trong trọn cuộc sống của anh chị em, đừng để cho căn cước Kitô của anh chị em bị đánh cắp mất.

Khi chào các phái đoàn bằng tiếng Ý, ĐTC đặc biệt nhắc đến các tín hữu đến từ Massa Marittima và Piombino do Đức GM Ciattini hướng dẫn về Roma hành hương nhân dịp Năm Đức Tin. Ngài cũng nói rằng: Tôi thân ái chào thăm thân nhân của các nạn nhân ở Nassiriya, được Đức TGM Giám hạt quân đội Italia, Marcianò, hương dẫn, nhân dịp tưởng niệm 10 năm vụ khủng bố tại Irak. Vụ khủng bố này đã làm cho 19 hiến binh Italia bị thiệt mạng. 140 thân nhân của họ đã hiện diện tại buổi tiếp kiến.

ĐTC nói thêm rằng: ”Tôi thân ái nghĩ đến các bạn trẻ, các đôi vợ chồng mới cưới, các bệnh nhân, đặc biệt là nhóm các bệnh nhân bị những thứ bệnh hiếm ở Italia, cùng với Đức TGM Zimowski, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh mục vụ các nhân viên y tế; tiếp đến là một Liên hiệp những người mù ở Vibo Valentia, với ĐGH Renzo.”

ĐTC không quên nhắc nhở rằng: ”Trong những ngày tháng 11 này, Phụng vụ kính nhớ lễ cung hiến Vương cung thánh đường thánh Gioan ở khu vực Laterano và Đền thờ thánh Phêrô và Đền thờ thánh Phaolô. Tôi cầu chúc tất cả những người đến hành hương tại Roma, có thể củng cố mối liên hệ với Thành của Các Tông Đồ và niềm vui được thuộc về Giáo Hội Công Giáo”.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

 

Đức Tổng Giám Mục Kurtz được bầu làm Chủ tịch Giám Mục Hoa Kỳ và Đức Hồng Y DiNardo là Phó Chủ tịch.

Đức Tổng Giám Mục Kurtz được bầu làm Chủ tịch Giám Mục Hoa Kỳ  và Đức Hồng Y DiNardo là Phó Chủ tịch.

BALTIMORE – Đức Tổng Giám Mục Joseph E. Kurtz của Louisville, Kentucky, 67 tuổi được bầu làm chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ ( HĐGMHK ) ngày 12 tháng 11 năm 2013, tại thành phố Baltimore. Đức Tổng Giám Mục Kurtz đã từng là phó chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục từ năm 2010. Ngoài ra Đức Hồng Y Daniel N. DiNardo, 64 tuổi của Galveston-Houston được bầu làm phó chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ.

Đức Tổng Giám Mục Kurtz và Đức Hồng Y DiNardo được bầu vào nhiệm kỳ ba năm và thay thế cho Đức Hồng Y Timothy M. Dolan của New York và Đức Tổng Giám Mục Kurtz. Về tân chủ tịch và phó chủ tịch bắt đầu từ ngày cuối của Đại hội đồng , 14 tháng 11 năm 2013.

Đức Tổng Giám Mục Kurtz đã được bầu làm chủ tịch với số phiếu là 125. Đức Hồng Y DiNardo được bầu làm phó chủ tịch (lần thứ ba), số phiếu là 147-87 so với Đức Tổng Giám Mục Charles J. Chaput , OFM Cap . , Philadelphia.

Chủ tịch và phó chủ tịch được bầu theo đa số từ một danh sách các 10 ứng cử viên được đề cử . Nếu không có chủ tịch hoặc phó chủ tịch được chọn sau vòng bỏ phiếu thứ hai , vòng bầu thứ ba được thực hiện, sẽ chọn hai người cao phiếu nhất của cuộc bỏ phiếu lần thứ hai để bầu.

Đức Tổng Giám Mục Kurtz được sinh ra ngày 18 Tháng 8 năm 1946 , và thụ phong linh mục tại Allentown, Pennsylvania ngày 18 tháng ba năm 1972. Ông trước đây từng là giám mục của Knoxville, Tennessee from 1999-2007 trước khi được bổ nhiệm vào Louisville. Đức Hồng Y DiNardo được sinh ra ngày 23 tháng năm 1949, và thụ phong linh mục của Pittsburgh vào ngày 16 tháng sáu năm 1977. Ông trước đây từng là giám mục của thành phố Sioux, Iowa, từ 1998-2004 trước khi được bổ nhiệm làm phụ tá giám mục, sau đó trở thành Tổng giám mục, Galveston-Houston. Đức Thánh Cha Benedict XVI đã phong chức Hồng Y vào năm 2007, ông trở thành vị Hồng Y đầu tiên của tiểu bang Texas .

Các giám mục cũng đã bầu chọn Đức Tổng Giám Mục George J. Lucus của Omaha làm Chủ tịch Ủy ban Giáo dục Công giáo với số phiếu 141-93, hơn George V. Murry , SJ , của Youngstown, Ohio. Đức Tổng Giám mục Lucas, người đã phục vụ như chủ tịch tạm thời của Ủy ban kể từ tháng 5 năm 2013 sau cái chết của Đức Giám mục Joseph P. McFadden, sẽ bắt đầu nhiệm kỳ mới của ông vào lúc kết thúc đại hội cuối tuần này.

Các giám mục cũng đã chọn các Chủ tịch cho năm ủy ban Hội Ðồng Giám Mục khác . Chủ tịch mới đắc cử sẽ bắt đầu nhiệm kỳ ba năm của họ trong một năm, vào lúc kết thúc Đại hội đồng giám mục mùa thu năm 2014. Đó là:

     • Phụ tá TGM  Bernard A. Hebda của Newark, New Jersey, cho Ủy ban về các vấn đề Giáo luật và Giáo Hội quản trị (Committee on Canonical Affairs and Church Governance) với số phiếu 167-70, hơn Đức Giám mục Joseph N. Perry, giám mục phụ tá của Chicago .

     • Giám mục Mitchell T. Rozanski , phụ giám mục Baltimore , cho Ủy ban về các vấn đề liên tôn toàn cầu (Committee on Ecumenical and Interreligious Affairs) với số phiếu 130-105, hơn Giám mục Arthur L. Kennedy , giám mục phụ tá của Boston .

     • Tổng giám mục chỉ định – Leonard P. Blair Hartford, Connecticut , cho Ủy ban Truyền giáo và giáo lý (Committee on Evangelization and Catechesis) với số phiếu 135-98 hơn Đức Giám mục John O. Barres của Allentown , Pennsylvania.

     •Bishop Oscar Cantú của Las Cruces , New Mexico, cho Ủy ban Tư pháp Quốc tế và Hòa bình (Committee on International Justice and Peace) với số phiếu 126-110, hơn Giám mục David J. Malloy của Rockford , Illinois.

     • Giám Mục Edward J. Burns, Juneau, Alaska , đến Ủy ban về trẻ em và Bảo vệ thanh niên (Committee on Child and Youth Protection) với số phiếu 118-114, hơn Giám mục Robert J. Cunningham của Syracuse, New York .

Vào ngày 11, các giám mục sau đây đã được bầu vào hội đồng quản trị của Catholic Relief Services (CRS): Đức Giám mục William P. Callahan , OFM Conv ​​, La Crosse , Wisconsin , Đức Giám mục Frank Dewane của Venice , Florida, và Đức Giám mục B. Cirilo Flores . San Diego.

Cũng vào ngày 11, các giám mục sau đây đã được bầu vào hội đồng quản trị Pháp Lý Di Trú  Công giáo Inc ( CLINIC ) : giám mục Richard Garcia của Monterey , California , và Đức Tổng Giám Mục Thomas Wenski ở Miami .

Trong tháng 11 năm 2012 , Đức Hồng Y DiNardo được bầu làm chủ tịch Ủy ban Phụng tự với nhiệm kỳ bắt đầu từ tuần này . Từ khi được bầu làm phó chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục,  trách nhiệm lãnh đạo ủy ban không còn nữa. Đức Giám Mục Arthur J. Serratelli của Paterson, New Jersey sẽ thay thế vào ghế Ủy ban thay cho Đức Hồng Y DiNardo, bắt đầu từ ngày 14 tháng 11. Giám mục Serratelli đã được bầu chọn với số phiếu 114-112, hơn Đức Tổng Giám Mục Allen H. Vigneron của Detroit. Giám mục Serratelli trước đây là chủ tịch Ủy ban từ năm 2007-2010 .

Nguồn: Trích từ HĐGMHK

Thái Trọng phỏng dịch

MỘT ÂN NHÂN CỦA GIÁO HỘI MÀ ĂN CẮP CỦA NHÀ NƯỚC LÀ BẤT CÔNG

MỘT ÂN NHÂN CỦA GIÁO HỘI MÀ ĂN CẮP CỦA NHÀ NƯỚC LÀ BẤT CÔNG

Một người là ân nhân của Giáo Hội nhưng lại ăn cắp của Nhà Nước là « bất công/bất chính » và sống hai mặt. Người nào không hoán cải và « làm ra vẻ là Kitô hữu » sẽ làm tổn hại nhiều cho Giáo Hội.

Đó là những gì Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định trong thánh lễ ngày 11/11/2013 tại nhà nguyện thánh Mát-ta, khi lấy lại một trong những nét chủ đạo của các bài giảng của ngài : tội nhân, nhưng không biến chất. Đức Thánh Cha tố giác « một sự thối nát được bao bọc bởi vẻ bóng láng ».

Chúa Giêsu « không ngừng tha thứ và ngài khuyên chúng ta » làm như thế. Trong bài giảng của mình, Đức Thánh Cha Phanxicô đã dừng lại ở lời khuyến cáo của Chúa tha thứ cho người anh em hối cải của chúng ta, mà Tin Mừng hôm nay nói đến. Chúa Giêsu tha thứ nhưng, trong đoàn Tin Mừng này, Ngài cũng nói « Khốn cho kẻ gây cớ vấp phạm ». Ngài không nói về tội lỗi, nhưng về gương mù gương xấu. Nhưng đâu là sự khác nhau « giữa phạm tội và gây cớ vấp phạm/gây gương mù gương xấu » ?

« Sự khác nhau là : người phạm tội và hối cải, xin ơn tha thứ, nhìn nhận mình yếu đuối, cảm thấy mình là con cái Thiên Chúa, hạ mình và xin Chúa Giêsu cứu độ. Nhưng người gây gương mù gương xấu là gì ? Sự kiện là người ấy không hối cải. Kẻ ấy tiếp tục phạm tội, nhưng làm ra vẻ là Kitô hữu : một cuộc sống hai mặt. Và cuộc sống hai mặt của một người Kitô hữu còn làm tổn hại nhiều, tổn hại nhiều. « Nhưng tôi là một ân nhân của Giáo Hội ! Tôi móc hầu bao và tôi cho Giáo Hội ». Nhưng còn tay kia, tôi ăn cắp của Nhà Nước, của người nghèo : người ấy ăn cắp. Đó là một người « bất công/bất chính ». Đó là một cuộc sống hai mặt. Và người đó đáng – đây là Chúa Giêsu nói, chứ không phải tôi – bị người ta ném xuống biển. Ở đây Ngài không nói đến tha thứ ».

Đức Thánh Cha nhấn mạnh đó là bởi vì « người này đánh lừa/phỉnh phờ » người khác và « ở đâu có sự lừa dối/phỉnh phờ, ở đó không có Thánh Thần của Thiên Chúa. Đó là sự khác nhau giữa một tội nhân và một người biến chất ». Người « sống một cuộc đời hai mặt là một người biến chất ». Nó khác với người « phạm tội và muốn không phạm tội, nhưng do lòng yếu đuối » và « đi đến cùng Chúa » để xin Ngài tha thứ : « Chúa yêu thương người đó ! Ngài đồng hành với người đó, Ngài ở với người đó ».

« Và chúng ta phải tự nhủ mình là tội nhân, vâng, tất cả mọi người ở đây ! Chúng ta hết thảy đều là tội nhân. Biến chất, không. Người biến chất được dính chặt vào một tình trạng tự mãn, người ấy không biết khiêm nhường là gì. Chúa Giêsu đã nói với những người biến chất này : « Vẻ đẹp của những mồ mả tô vôi », dầu chúng có vẻ bên ngoài đẹp, nhưng ở bên trong họ đầy xương hôi thối. Và một Kitô hữu huênh hoang mình là Kitô hữu, nhưng lại không sống một cuộc đời Kitô hữu, là một trong những người biến chất này….Chúng ta hết thảy đều biết rõ ai đang sống trong tình trạng này và chúng ta biết tất cả sự xấu xa mà họ làm cho Giáo Hội ! Những Kitô hữu biến chất, những linh mục biến chất… Tất cả những sự xấu xa họ làm cho Giáo Hội ! Bởi vì họ không sống theo tinh thần Tin Mừng, nhưng theo tinh thần trần tục ».

Thánh Phaolô nói rõ ràng trong Thư gởi tín hữu Rôma : « Anh em đừng khuôn theo đời này », ngài muốn nói « anh em đừng đi vào trong những sơ đồ của thế gian này, trong những tham số của thế gian này ». Những sơ đồ « là tình trần tục đẩy ta đến chỗ sống cuộc sống hai mặt ».

« Một sự thối nát được bao bọc bằng sự bóng láng : đó là cuộc sống của người biến chất. Và Chúa Giêsu không chỉ gọi họ là « tội nhân », nhưng còn là « giả hình ».

Tý Linh  (Xuân Bích VN)

Theo ZENIT

Đức Hồng Y Dolan bên vực thành tích giám mục Hoa Kỳ về các vấn đề nghèo đói

Đức Hồng Y Dolan bên vực thành tích giám mục Hoa Kỳ về các vấn đề nghèo đói

BALTIMORE – New York Đức Hồng Y Timothy Dolan đã đồng ý vào thứ hai với cuộc gọi Đức Thánh Cha Phanxicô cho một mối quan tâm cao đối với người nghèo, nhưng đã tranh luận về ý tưởng mà các giám mục Hoa Kỳ đã không quan tâm nhiều đến vấn đề này.

"Đó là một kiên trì, kiên trì liên tục của các cuộc họp của hàng giám mục của chúng tôi từ khi thành lập vào năm 1917, " Đó là lời của Dolan, Chủ tịch mãn nhiệm của Hội Đồng Giám Mục Công Giáo, và cuộc họp trong tuần này để chọn nhà lãnh đạo mới cho giáo hội Hoa Kỳ .

Nhưng ĐHY Dolan nói với phóng viên ông đã đồng ý rằng Đức Giáo Hoàng Phanxicô đang yêu cầu các nhà lãnh đạo thậm chí còn "mạnh mẽ" hơn về vấn đề này.

Hội nghị các Giám mục, coi quản 69 triệu người Công giáo Hoa Kỳ hay khoảng một phần tư dân số, đã bị chỉ trích bởi một số nhóm Công giáo tự do cho là ít quan tâm đến vấn đề công bằng xã hội như nghèo đói hơn so với tấn công vấn đề hôn nhân đồng tính, phá thai và ngừa thai .

Các việc làm của giám mục là dưới xem xét kỷ lưỡng liên quan tới người nghèo trên thế giới được đưa ra bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô. Trong một cuộc phỏng vấn được công bố trong tháng chín, ĐTC Phanxicô nói rằng Giáo Hội không thể chỉ tập trung vào các vấn đề liên quan đến phá thai, hôn nhân đồng tính và ngừa thai, và phải trở thành đáng thương hơn hoặc có nguy cơ suy sụp " như một ngôi nhà giấy ."

Ông cũng nói rằng Giáo Hội đã "tự khóa chính mình  từ trong những việc nhỏ, trong những luật nhỏ nhen hẹp hòi " và không nên quá nghiêng về một phía để bị chỉ trích .

Trong bài phát biểu Đức Tổng Giám Mục Carlo Viganò vào ngày thứ Hai 11-11-2013, đại sứ của Vatican tại Hoa Kỳ, ĐTC Phanxicô muốn giám mục phải hòa điệu với dân chúng, " giám mục  mục vụ ", và không giám mục nào giảng dạy hoặc theo một thuyết tư tưởng đặc biệt (Ideology). "

Đức Thánh Cha cũng đã kêu gọi các giám mục để duy trì một lối sống " đặc trưng bởi sự đơn giản và sự thánh thiện " sống những gì họ rao giảng, (Lời chủa ĐTGM Carlo Vigano nói).

Trong cuộc họp, Đức Tổng Giám Mục  về hưu Joseph Fiorenza Galveston-Houston hỏi hội nghị " Hãy ghi nhận lại cũng như đang cố gắng để đạt được thành quả những gì Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã đưa ra trước cho chúng ta, là nhà thờ cho người nghèo và của người nghèo . "

Đức Giám mục Robert Lynch tại St Petersburg, Florida, cho biết sự chú ý của hội nghị đã tập trung trong những năm gần đây về các vấn đề  phiên dịch thánh lễ và  tự do tôn giáo, chẳng hạn như yêu cầu các bệnh viện và trường học Công giáo thực hiện bảo hiểm cung cấp các biện pháp ngừa thai, trong đó nghiêm cấm giáo lý nhà thờ.

Hội nghị Giám mục sẽ bầu ra một Chủ tịch và phó chủ tịch cho nhiệm kỳ ba năm vào thứ ba. Theo tin hành lang thì Đức Tổng Giám Mục Joseph Kurtz của Louisville, Kentucky, có nhiều triển vọng cho chức chủ tịch kế tiếp. ĐTGM Kurtz được xem như là một người bảo thủ đáng tin cậy, được nhiều người ưa thích và có nhiều ảnh hưởng.

Trong số các ứng cử viên phó chủ tịch là Đức Tổng Giám Mục Jose Gomez của giáo phận Los Angeles, Ngài là một người gốc Mexico rất thẳng thắn về vấn đề cải cách cho người di cư .

( Báo cáo của Mary Wisniewski ; Editing by Lisa Shumaker )

Thái Trọng phỏng dịch

ĐTC Chia buồn và kêu gọi giúp đở nạn nhân bảo Haiyan tại Phi Luật Tân

ĐTC Chia buồn và kêu gọi giúp đở nạn nhân bảo Haiyan tại Phi Luật Tân

VATICAN. ĐTC chia buồn với Philippines về thiên tai siêu bão Haiyan. Ngài kêu gọi quảng đại giúp đỡ các nạn nhân, và đóng góp 150 ngàn mỹ kim cho việc cứu trợ.

ĐTC đã bày tỏ tình liên đới với các nạn nhân trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa chúa nhật 10-11-2013 và Đức TGM Pietro Parolin Quốc vụ khanh Tòa Thánh cũng đã nhân danh ngài gửi điện đến Tổng Thống Benigno Aquino III, trong đó Đức TGM cho biết ”ĐTC Phanxicô rất đau buồn vì sự tàn phá và thiệt hại nhân mạng so siêu bão gây ra. Ngài chân thành liên đới với những người bị thương tổn vì thiên tai này và hậu quả sau đó. Ngài nghĩ đến những người đang khóc thương những người thân yêu bị thiệt mạng và những người bị mất gia cư. ĐTC cầu nguyện cho Philippines đồng thời khích lệ các chính quyền dân sự và các nhân viên cứu trợ cấp thời, đang giúp đỡ các nạn nhân bão này. Ngài cầu xin Chúa chúc lành, ban sức mạnh và ơn an ủi cho quốc dân Philippines.”

Hôm 11-11-2013, Hội đồng Tòa Thánh Cor Unum (Đồng Tâm) đã nhân danh ĐTC gửi giúp phần đóng góp đầu tiên là 150 ngàn mỹ kim, qua Giáo Hội tại Philippines để nâng đỡ các nạn nhân bão lụt. Cử chỉ này là sự biểu lộ cụ thể tâm tình gần gũi và liên đới của ĐTC.

Mặt khác, HĐGM Italia dành 3 triệu Euro để cứu trợ các nạn nhân bão Hayan ở Philippines.
Trong thông cáo công bố tại Roma, Đoàn Chủ tịch HĐGM Italia nhắc lại lời ĐTC Phanxicô trong buổi đọc kinh Truyền Tin trưa chúa nhật 10-11-2013. Ngài nói: ”Tôi muốn bày tỏ sự gần gũi với nhân dân Philippines và dân chúng tại miền này bị bão kinh khủng. Rất tiếc là con số các nạn nhân rất cao và thiệt hại rất lớn. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những người anh chị em chúng ta bị nạn, và tìm cách chuyển sự trợ giúp cụ thể của chúng ta cho họ”.

Đáp ứng tình liên đới đã được ĐTC Phanxicô bày tỏ, Đoàn Chủ tịch HĐGM Italia đã dành ngay ngân khoản 3 triệu Euro rút từ số tiền ”8 phần ngàn” (tiền các tín hữu đóng cho Giáo Hội) mang lại, để cứu trợ khẩn cấp.

Ngoài ra, LM Francesco Soddu, Giám đốc Caritas Italia, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự trợ giúp cụ thể và cấp thời. Giờ đây bão đó gây thiệt hại tại các nước khác nữa như Việt Nam và Lào. Caritas Italia đã dành 100 ngàn Euro cho việc cứu trợ khẩn cấp.

Cũng tại Italia, Quỹ Di dân của Công Giáo kêu gọi cầu nguyện và liên đới với những đau khổ và lo âu của Cộng đoàn Công Giáo Philippines tại Italia. Hiện nay có 150 ngàn người Philippines sinh sống và làm việc ở Italia, phần lớn là tín hữu Công Giáo. Roma có 34 ngàn và Milano có 35 ngàn người Philippines và là hai thành phố có cộng đoàn kiều dân này đông đảo nhất.

Theo thống kê sơ khởi có khoảng hơn 10 ngàn người thiệt mạng vì siêu bão tại Philippines, nhất là tại các đảo Leyte và Samar; 800 ngàn người phải di tản, phần lớn bị mất hết sản nghiệp và gia cư. Các nạn nhân khác ở cấp độ khác nhau vào khoảng hơn 9 triệu 500 ngàn người. Ngoài ra, sở khí tượng Philippines cho biết bão Zoraida sẽ thổi đến miền bắc thành phố Tacloban ở nước này với sức gió 50 cây số giờ.

Tổ chức Caritas của Công Giáo Thụy Sĩ đã dành 500 ngàn quan, tương đương với gần 550 ngàn mỹ kim để góp phần cứu trợ các nạn nhân siêu bão tại Philippines. Tổ chức bác ái Misereor của HĐGM Đức dành ngay ngân khoản 50 ngàn Euro để góp phần cứu trợ.

Hôm 11-11-2013 Đức TGM José Palma, Chủ tịch HĐGM Philippines cũng mời gọi các tín hữu toàn quốc cầu nguyện và quảng đại đóng góp để trợ giúp các nạn nhân (Tổng hợp 11-11-2013)

G. Trần Đức Anh OP

HỘI NGHỊ GIÁM MỤC CÔNG GIÁO HOA KỲ SẼ CHỌN NGƯỜI LÃNH ĐẠO MỚI

HỘI NGHỊ GIÁM MỤC CÔNG GIÁO HOA KỲ SẼ CHỌN NGƯỜI LÃNH ĐẠO MỚI

USCCB logo

BALTIMORE – Giám mục Công giáo Hoa Kỳ sẽ chọn các nhà lãnh đạo mới tại một hội đồng tại Baltimore Waterfront Marriott Hotel tuần này từ 11 đến 14 tháng 11 năm 2013 và có thể báo hiệu một hướng đi mới cho giáo hội Hoa Kỳ dưới sự ảnh hưởng theo đường lối của Đức Thánh Cha Phanxicô.

Hội nghị bắt đầu hôm thứ hai và hướng vào việc chọn lựa các nhà lãnh đạo mới cho Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ mà vẫn luôn tiếp tục phản đối mạnh mẽ vấn đề hôn nhân đồng tính và biện pháp ngừa thai của chương trình Obamacare, hoặc nâng cao để giúp đỡ người nghèo và người di dân cho Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh vào vấn đề công bằng xã hội.

Các nhà lãnh đạo mới cũng sẽ chuẩn bị cho " Thượng Hội Đồng đặc biệt" của các giám mục ở Rome để thảo luận về lời giáo huấn liên quan đến gia đình . Vatican đã yêu cầu các giám mục và các linh mục giáo xứ trên toàn thế giới về quan điểm của địa phương về hôn nhân đồng tính , ly dị và ngừa thai trước cuộc họp năm 2014 tháng Mười.

" Giám mục đã bị mắc kẹt trong một căn hầm chiến đấu với cuộc chiến tranh văn hóa ", Đây là lời nói của John Gehring , là người từng giữ chức vụ trong văn phòng truyền thông của hội nghị và bây giờ là giám đốc chương trình Đức tin Công giáo trong đời sống công cộng, một nhóm vận động tự do cho biết . " Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói rằng chúng ta có thể không chỉ được biết đến bởi những gì chúng tôi phản đối . "

Trong một cuộc phỏng vấn với một tạp chí Dòng Tên xuất bản trong tháng Chín, Đức Thánh Cha Francis cho biết Giáo Hội không thể khẳng định chỉ về các vấn đề liên quan đến phá thai , hôn nhân đồng tính và ngừa thai, và phải trở thành đáng thương hơn hoặc có nguy cơ sụp đổ, “giống như nhà giấy”

Russell Shaw , một nhà văn về các vấn đề Công giáo và một cựu phát ngôn viên cho hội nghị , nói rằng ông không nghĩ rằng các giám mục sẽ quay trở lại vấn đề xã hội như hôn nhân đồng tính và phá thai , chỉ cần như thánh Phanxicô đã tái khẳng định giáo huấn Giáo Hội về các đối tượng này . Nhưng họ có thể thay đổi cách nhìn của họ.

Ông Russell Shaw cũng nói rằng:

" Họ có thể làm cho một nỗ lực lớn hơn để gắn kết những gì họ nói về các vấn đề như thế với những thông điệp của việc có một giai điệu mục vụ nhiều hơn, đặt những gì họ nói về các câu hỏi của hôn nhân đồng tính trong bối cảnh mối quan tâm đích thực và mục vụ cho cùng một cặp vợ chồng quan hệ tình dục, ".

Hội Đồng Giám Mục  đã ủng hộ cho việc cải cách nhập cư và các chương trình chống đói nghèo dưới sự lãnh đạo của Đức Hồng Y Timothy Dolan, New York trong ba năm qua .

Nhưng đó là điều rất cực lực cổ võ hô hào về " tự do tôn giáo " – phản đối chính sách Obama bắt buộc các trường học Công giáo, các bệnh viện phải có bảo hiểm cung cấp các biện pháp tránh thai miễn phí mà bị cấm bởi Giáo Hội. Thúc đẩy quan tâm một số người Công giáo , những người cảm thấy các nhà lãnh đạo của giáo hội đã trở nên quá phù hợp với quyền chính trị .

“Đây là vấn đề nổi bật phía trước cho cuộc vận động chống lại hôn nhân đồng tính, phá thai và những liên quan đến việc ngừa thai”. Đây là lời nói của Cha Thomas Reese, là một nhà văn thuộc dòng Tên có ý kiến giống như ĐTC Phanxicô

Chủ tịch và phó chủ tịch được bầu từ một danh sách gồm 10 Tổng Giám Mục và Giám mục . Các ứng cử viên sau đây:

• Đức Tổng Giám Mục Gregory M. Aymond của New Orleans
• Đức Tổng Giám Mục Charles J. Chaput , OFM Cap . , Philadelphia
• Giám mục Blase J. Cupich của Spokane, Washington
• Đức Hồng Y Daniel N. DiNardo của Galveston-Houston
• Đức Tổng Giám Mục José H. Gomez của Los Angeles
• Đức Tổng Giám Mục Joseph E. Kurtz của Louisville, Kentucky
• Đức Tổng Giám Mục William E. Lori của Baltimore
• Tổng giám mục Dennis M. Schnurr của Cincinnati
• Tổng giám mục Allen H. Vigneron của Detroit
• Đức Tổng Giám Mục Thomas G. Wenski ở Miami

Chủ tịch và phó Chủ tịch Hội Đồng được bầu vào nhiệm kỳ ba năm , sẽ bắt đầu vào lúc kết thúc cuộc họp. Đức Hồng Y Timothy M. Dolan của New York và Đức Tổng Giám Mục Joseph E. Kurtz của Louisville, Kentucky, hoàn thành nhiệm kỳ của họ là chủ tịch và phó chủ tịch , tương ứng, tại thời điểm đó .

Hội Ðồng Giám Mục theo pháp luật quy định rằng các cuộc bầu cử tổng thống sẽ diễn ra từ đầu tiên trong danh sách 10 ứng cử viên. Sau cuộc bầu cử của Chủ tịch bằng đa số phiếu đơn giản , phó Chủ tịch được bầu từ chín ứng cử viên còn lại. Trong cả hai cuộc bầu cử , nếu một ứng cử viên không nhận được hơn một nửa số phiếu bầu trên lá phiếu đầu tiên , một cuộc bỏ phiếu thứ hai được thực hiện . Nếu lần thứ ba bỏ phiếu là cần thiết, sẽ chọn hai người cao phiếu nhất của cuộc bỏ phiếu lần thứ hai để bầu chọn ra Phó Chủ Tịch.

Tại cuộc họp, các giám mục cũng sẽ bỏ phiếu cho Chủ tịch Ủy ban Hội Ðồng Giám Mục về Giáo Dục Công Giáo , đồng thời bầu 5 chủ tịch cho ủy ban Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ và các thành viên hội đồng quản trị mới cho Hệ thống Pháp Lý Di Trú  Công giáo Inc. và Dịch Vụ Cứu Trợ Công Giáo -Catholic Relief Services.

Nguồn: Hội Đồng Giám Mục Công Giáo Hoa Kỳ và Reuters

Thái Trọng

Gặp Gỡ Đức Giáo Hoàng

Gặp Gỡ Đức Giáo Hoàng

VATICAN. Vào lúc 12h00, ngày 10 tháng 11, hàng người đã quy tụ tại quảng trường thánh Phêrô để gặp gỡ Đức Thánh Cha và nghe ngài giáo huấn.

Đức Thánh Cha đã dựa vào nội dung đoạn Tin Mừng CN 32TN để ban huấn từ. Ngài nói:

“Bài Tin Mừng của Chúa Nhật hôm nay trình bày cho chúng ta việc Chúa Giêsu tranh luận với những người phái Sa Đốc, những người chối bỏ việc phục sinh. Đây chính là vấn đề mà dựa vào đó họ chất vấn Đức Giêsu, đặt người vào thế khó giải quyết để chế nhạo niềm tin vào việc người chết sẽ sống lại. Họ bắt đầu bằng một tình huống tưởng tượng ra: "Một người phụ nữ có bảy đời chồng, lần lượt chết" và họ hỏi Đức Giêsu: "Người này sẽ là vợ của ai trong ngày kẻ chết sống lại?" Đức Giêsu, luôn hiền lành và kiên nhẫn, trước hết trả lời rằng cuộc sống sau cái chết không dựng vợ gả chồng như cuộc sống đời này. Cuộc sống vĩnh cửu là một cuộc sống khác, thuộc về một chiều kích khác nơi mà, giữa những điều khác, con người không còn lấy vợ lấy chồng nữa,vốn là điều gắn liền với ta ở cuộc sống tại thế này. Đức Giêsu còn nói thêm rằng những người sống lại sẽ giống như các thiên thần và sống ở một tình trạng khác mà bây giờ không thể trải nghiệm và tưởng tượng ra được. Đức Giêsu đã giải thích như thế.”

Sau đó, Đức Thánh Cha nói về mối dây hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa “Người là Chúa của ta”

“…Đức Giêsu tìm thấy bằng chứng về sự phục sinh trong trình thuật Môsê và bụi gai bốc cháy (x.Xh 3,1-6), Thiên Chúa tự mặc khải mình là Thiên Chúa của Abraham, Ixaac và Giacop. Danh xưng của Thiên Chúa có mối ràng buộc với tên của những người nam nữ mà Người dính dáng đến và mối gắn kết này mạnh hơn cả sự chết. Từ đó, Giêsu khẳng định với những người thuộc phái Sa Đốc rằng: "Thiên Chúa không là Thiên Chúa của người chết nhưng là của người sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống" (x. Lc 20,38) Và mối dây quyết định này, sự kết hiệp nền tảng này chính là Giêsu: chính là Sự Hiệp Thông, là Sự Sống và là Sự Phục Sinh, vì với tình yêu hiến tế, Ngài đã chiến thắng sự chết. Trong Giêsu, Thiên Chúa ban cho chúng ta sự sống vĩnh cửu, Người ban nó cho tất cả mọi người và tất cả những lời cảm tạ dâng lên Người đều chứa đựng một niềm hy vọng về một cuộc sống mới chân thực hơn cuộc sống này. Sự sống mà Thiên Chúa chuẩn bị cho chúng ta không là một sự tô điểm cho thực tại này, nhưng nó vượt qua sức tưởng tượng của chúng ta, vì Thiên Chúa luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên bởi tình yêu và lòng thương xót của Người.”

Đức Thánh Cha cũng giải thích thêm về quan niệm của chúng ta về cái chết. Không phải cái chết đón đầu chúng ta, nhưng là một sự sống mới, vĩnh cửu trong Thiên Chúa

“… Không phải từ cuộc sống này mà ta suy luận đến cuộc sống vĩnh cửu, nhưng là cuộc sống vĩnh cửu soi sáng và ban cho chúng ta niềm hy vọng nơi cuộc sống tại thế này. Nếu chúng ta chỉ nhìn bằng cặp mắt con người, chúng ta cũng sẽ nói rằng hành trình của con người đi từ sự sống đến cái chết. Đức Giêsu đã đảo ngược cái nhìn này và nói rằng cuộc hành trình của chúng ta là đi từ cái chết đến sự sống: một sự sống viên mãn! Vì thế, cái chết nằm ở sau, chứ không phải ở trước chúng ta. Phía trước chúng ta là một vị Thiên Chúa của kẻ sống, là một sự chiến thắng chung cuộc tội lỗi và cái chết, là khởi đầu của một kỷ nguyên mới của niềm vui và ánh sáng không bao giờ tàn. Nhưng ngay từ bây giờ, trên trái đất này, trong lời cầu nguyện, bí tích, tình huynh đệ, chúng ta có thể gặp gỡ Đức Giêsu và tình yêu của Người, và như thế chúng ta có thể nếm trước một chút gì đó sự sống phục sinh. Kinh nghiệm mà chúng ta đã có về tình yêu và lòng trung tín của Người sẽ bừng sáng lên như ngọn lửa trong con tim chúng ta và làm cho đức tin của chúng ta lớn lên hơn nữa trong sự phục sinh. Thực ra, nếu Thiên Chúa là Đấng trung tín và yêu thương, thì Người không thể giới hạn sự trung tín và yêu thương ấy trong thời gian được”

Sau kinh truyền tin, Đức Thánh Cha nhắc đến việc tôn phong chân phước của chị Maria Teresa Bonzel ở Đức. Ngài cho biết, chính Thánh Thể là nguồn mạch đã ban cho chị sức mạnh thiêng liêng để chị có thể dấn thân không mệt mỏi, phục vụ người những người yếu thế.
Ngài cũng bày tỏ sự gần gũi của mình đến nhân dân Philipin và đất nước này. Do ảnh hưởng của cơn bão, nhiều người đã chết và những tổn thất nghiêm trọng khác đi kèm theo. Ngài kêu gọi mọi người cùng cầu nguyện cho họ và giúp đỡ họ cách thiết thực.

Ngài cũng nói về biến cố 75 năm kỷ niệm sự kiện "Đêm thủy tinh" diễn ra vào tối 9 và 10 tháng 11 năm 1938, một cuộc bạo hành chống lại người Do Thái, các hội đường, tư gia, cửa hàng, đánh dấu một thảm kịch của cuộc thảm sát có tên là Holocaust. Ngài mời gọi mọi người cùng nâng đỡ và liên đới với các anh em Do Thái và cầu nguyện cùng Thiên Chúa giúp chúng ta biết nhìn về ký ức trong quá khứ với một sự tỉnh thức chống lại mọi hình thức ghen ghét và bất bao dung

Ngày hôm nay, ở Ý cũng là ngày lễ tạ ơn. Đức Thánh Cha bày tỏ sự hiệp thông với các Giám Mục với thế giới nông nghiệp, đặc biệt là với những người trẻ đã chọn việc lao tác trên đất đai. Ngài khuyến khích họ hãy cố gắng để không còn ai bị đói khát nữa.

Ngài cũng gửi lời chào đến các khách hành hương đến từ khắp nơi trên thế giới, các gia đình, giáo xứ, hiệp hội khác.

Phêrô Lê Hoàng Nam, SJ

CHẾT ĐỂ ĐƯỢC SỐNG LẠI

CHẾT ĐỂ ĐƯỢC SỐNG LẠI

Xác tín có đời sau

 Câu chuyện của người Mẹ và 7 bảy anh em trong sách 2 Macabe 7, 1-2.9-14  đã gửi đến cho chúng ta những xác tín về sự sống lại, về đời sau. Niềm xác tín ấy được soi sáng bởi Thánh Linh và cũng chính niềm xác tín quan trọng ấy đã giữ họ trung thành với Lề Luật của Thiên Chúa, qua truyền dạy của Moise: Không ăn thịt heo. Không phải họ không quí trọng thân xác, nhưng họ được linh hứng cho biết thân xác nầy được Chúa ban cho và dù có mất  đi dưới tay người phàm họ cũng sẽ lấy lại được. Họ “sẵn sàng thà chết hơn là vi phạm luật của cha ông” (c.2). Họ xác tín “Vua Vũ Trụ sẽ cho chúng tôi sống lại để hưởng sự sống đời đời” (c.9). Đối với họ , sự sống và tất cả những gì thuộc về sự sống ở đời nầy đều là của Chúa ban, và dù có mất đi, họ vẫn đặt hy vọng nhờ Thiên Chúa họ sẽ lấy lại được (c.11). Họ thà chết trong khi dựa vào Lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại (c.14).

Điểm ưu việt của đoạn sách nầy là : niềm xác tín Phục sinh vào thời kỳ Tin Mừng và Tin Mừng Phục sinh chưa xuất hiện.  Một cõi sống ở đời sau có thể nói là còn mơ hồ trong tâm tưởng loài người, thì bảy anh em đã tuyên tín về sự sống lại trước mặt vua chúa quan quyền thế gian. Dấu ấn mạc khải do Thánh Linh thật rõ nét và sống động đến nỗi người đời sau, những người đã tiếp nhận ánh sáng Tin mừng Chúa Giêsu và Tin Mừng Phục Sinh của Ngài, phải ngẫm nghĩ mà tự hổ thẹn về cách đón nhận và cách tuyên xưng niềm tin của mình.

 Đức tin không lý luận

 Không chỉ các người thuộc nhóm Sađốc, thời Chúa Giêsu, mà cả loài người, cả chúng ta nữa, cho đến hôm nay vẫn thích dùng cái lý trí nhỏ bé của mình mà suy luận về những mầu nhiệm cao siêu thuộc về Thiên Chúa, trong đó có Mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô và sự sống lại của thân xác chúng ta. Từ cái suy luận duy lý trí nảy sinh những ảo tưởng về một thực tại thuộc phạm vi Đức Tin. “ Vậy, trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy anh em đều lấy nàng làm vợ”.(Lc 20,33).  Một suy luận hoàn toàn con người thì còn gì là mầu nhiệm.

Câu tuyên tín “Tôi tin xác loài người ngày sau sẽ sống lại” bắt đầu bằng hai từ “Tôi tin”, cho thấy rằng lý trí của tôi không nhất thiết phải tham gia gì thêm nữa. Không phải là một đức tin mù quáng, nhưng là sự hy sinh của lý trí một cách chính đáng, để niềm tin của tôi không bị chao đảo lung lay hay thay đổi, vì với lòng khiêm tốn, tôi biết lý trí của tôi không thể làm điều vượt qua khả năng của lý trí.

Cơn cám dỗ về  đức tin là một cơn cám dỗ nguy hiểm nhất, do bởi thần kiêu ngạo dữ tợn nhất, luôn thúc bách lý trí ta lý luận không phải để chấp thuận, mà tìm mọi cách để từ chối, phản bác.

Nhóm Sađốc đã bị sập bẫy của Satan khi dùng những lý luận để bảo thủ cho mình cái chủ trương không có sự sống lại, không có đời sau. Những lý luận chỉ dựa trên những gì có thể thấy được, có thể sờ đụng, có thể trải nghiệm thực tiễn. Họ hiểu sự sống lại và đoàn viên trong Nước Thiên Chúa như là một thế giới  khác với thế giới hôm nay, nhưng giống y như thế giới hôm nay về mọi sinh hoạt con người.

Chúa Giêsu nói: “Con cái đời nầy cưới vợ lấy chồng, chứ những ai được xét là đáng hưởng hạnh phúc đời sau và sống lại từ cõi chết  thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng. Quả thật, họ không thể chết nữa, vì họ được ngang hàng với các thiên thần” (Lc 20,34-36)

Tôi nghĩ lời giải thích của Chúa Giêsu là một định tín. Chỉ có Đức Tin mới thấu đạt được, chứ không dễ chấp nhận theo lý luận con người. Không thể lấy một thực tại hữu hình, mà so sánh mới một thực tại vô hình; không thể lấy một sự đã trải nghiệm thực tiến đem so sánh với sự chưa trải nghiệm, mà sự chưa trải nghiệm ấy lại thuộc về tương lai của mỗi người, của nhân loại.

 Con đường dẫn đến cái chết để phục sinh

 Người tín hữu hôm nay có một ưu thế hơn anh em nhà Macabê vì nền tảng  niềm tin “xác loài người sẽ sống lại” được đặt vào “sự phục sinh của Chúa Giêsu”.

Chính vì tôi tin Chúa Giêsu Phục Sinh mà tôi cũng tin tôi sẽ được sống lại với người. Tôi không  nhất thiết phải dùng lý trí con người, suy luận, tưởng tượng hay hình dung sự sống lại ấy thế nào, sinh hoạt như thế nào. Tôi chỉ cần biết một điều là  để được Phục sinh với Chúa Giêsu, để sống lại như Ngài, tôi phải đi theo con đường của Ngài: “con đường dẫn đến cái chết để phục sinh”. Vì nếu không đi theo con đường của Ngài, tôi sẽ lao vào “con đường dẫn tới cái chết không phục sinh”.

Vậy con đường của Chúa Giêsu  là con đường khiêm hạ, con đường từ bỏ, con đường yêu thương phục vụ cho đến chết. Có thể tôi chưa thấy một người bằng xương bằng thịt phục sinh trở về để tôi hỏi người ấy về sinh hoạt của thế giới bên kia, nhưng tôi có thể thấy chung quanh tôi có những người sống trọn vẹn cho Thiên Chúa theo đường hướng của Chúa Giêsu khi họ từ bỏ tất cả cho vinh danh Chúa. Họ có thể chia sẻ cho tôi  những cảm nghiệm về sự sống đời sau mà họ đang có ngay ở đời nầy. Vâng chính họ đang sống trước mầu nhiệm phục sinh ngay ở dương gian nầy khi họ hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa và theo ý định của Ngài qua việc kết hiệp với Chúa Giêsu và đi theo con đường Chúa Giêsu đã vạch ra, “con đường dẫn đến cái chết để phục sinh”.

Lời Chúa hôm nay cho tôi thêm một cơ hội xác tín điều tôi vẫn tuyên xưng: “tôi tin xác loài người sẽ sống lại”, “ tôi tin một cuộc sống đời đời” và còn là cơ hội nhắc nhớ tôi không những phải hy sinh cái lý trí nhỏ bé của mình mà còn phải biết tránh “con đường dẫn tới cái chết không phục sinh”  để đi vào con đường của Chúa Giêsu, con đường từ bỏ, hy sinh, yêu thương, phục vụ… “con đường dẫn đến cái chết để phục sinh”.

Lạy Chúa, xin cho con yêu mến và tín thác hoàn toàn vào Chúa, xin cho con khát khao sống sự sống của Chúa, để không còn phải thắc mắc nào khác hơn là con luôn tự hỏi: “ Tôi có từ bỏ mọi sự để hoàn toàn thuộc về Chúa khi còn ở dương gian này hay chưa?”.

PM.Cao Huy Hoàng

Đức Thánh Cha tiếp kiến các bệnh nhân và những người tháp tùng

Đức Thánh Cha tiếp kiến các bệnh nhân và những người tháp tùng

VATICAN. ĐTC Phanxicô ca ngợi tổ chức Unitalsi ở Italia và khích lệ việc mục vụ cho các bệnh nhân trong các giáo xứ và hội đoàn.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng thứ bẩy 9-11-2013 tại Đại thính đường Phaolô 6 ở Nội Thành Vatican dành cho 7 ngàn người thuộc Hiệp hội toàn quốc Italia chuyên chở các bệnh nhân đến Lộ Đức và các Đền thánh quốc tế, gọi tắt là Unitalsi, nhân dịp kỷ niệm 110 năm thành lập.

Hiện diện tại buổi tiếp kiến cũng có một số HY, GM, các bệnh nhân, người khuyết tật và hàng ngàn người thuộc tổ chức Unitalsi tháp tùng và săn sóc họ.

Tổ chức này do Ông Giovanni Battista Tomassi thành lập sau khi được Đức Mẹ hoán cải ở Đền Thánh Đức Mẹ Lộ Đức và trở về Italia. Thực vậy, năm 1903, Ông bị bệnh nặng và đến Lộ Đức với ý định tự sát trước hang đá Đức Mẹ như một hành vi nổi loạn. Nhưng chính tại đó ông đã được ơn ánh sáng nội tâm và hiểu sâu rộng về giá trị sứ điệp Kitô. Hiện nay hàng chục ngàn người thiện nguyện, từ các bác sĩ, đến Italia, LM, tu sĩ, và giáo dân nam nữ, gia nhập tổ chức UNITALSI để giúp đỡ các bệnh nhân, đặc biệt trong các cuộc hành hương.

Lên tiếng tại buổi tiếp kiến, ĐTC ca ngợi sự dấn thân của hội Unitalsi cũng như của các thành viên và nhấn nạnh rằng: ”Hoạt động của anh chị em không phải chỉ là một công việc từ thiện, nhưng là một sự loan báo chân thực Tin Mừng bác ái, là một sứ vụ an ủi.. Như người Samaritano nhân lành, đứng trước sau khổ, anh chị em không ngoảnh mặt đi, trái lại, anh chị em tìm cách trở thành một cái nhìn đón nhận, một bàn tay thoa dịu và tháp tùng, một lời an ủi, một vòng tay thân ái dịu dàng. Anh chị em đừng nản chí vì những khó khăn và mệt nhọc, nhưng hãy tiếp tục dành thời gian, trao tặng nụ cười và tình thương cho các anh chị em khác đang cần đến. Ước gì mỗi bệnh nhân và những người mong manh có thể thấy nơi khuôn mặt của anh chị em tôn nhan của Chúa Giêsu và cả anh chị em cũng có thể nhận ra nơi người đau khổ thân xác của Chúa Kitô”.

Nhắc đến bối cảnh văn hóa và xã hội ngày nay có xu hướng che đậy sự yếu ớt và bệnh tật thể lý, để rồi có thái độ cam chịu hoặc gạt bỏ con người, ĐTC nói: ”Tổ chức Unitalsi được kêu gọi trở thành dấu chỉ ngôn sứ và đi ngược lại xu hướng trần tục đó, bằng cách giúp đỡ những người đau khổ trở thành người giữ vai chính trong xã hội, trong Giáo Hội và cả trong chính hội đoàn nữa. Để giúp bệnh nhân thực sự hội nhập vào trong cộng đồng Kitô và khơi dậy nơi họ cảm thức mạnh mẽ thuộc về Giáo Hội, cần có một nền mục vụ bao gồm mọi người trong các giáo xứ và hội đoàn. Vấn đề ở đây là thực sự đề cao giá trị sự hiện diện và chứng tá của những người yếu đau, không những như đối tượng việc loan báo Tin Mừng, nhưng như những chủ thể tích cực của hoạt động tông đồ này”.

Sau cùng, ĐTC nhắn nhủ các anh chị em bệnh nhân, đừng chỉ có mình là đối tượng của tình liên đới và bác ái của người khác, nhưng hãy hội nhập vào đời sống và sứ mạng của Giáo Hội, cầu nguyện, dâng đau khổ hằng ngày trong niềm kết hiệp với những đau khổ của Chúa Giêsu chịu đóng đanh để cứu độ thể giới, kiên nhẫn và vui tươi chấp nhận hoàn cảnh của mình.. Anh chị em đừng xấu hổ vì là một kho tàng quí giá của Giáo Hội”.

Tại buổi tiếp kiến, các em bé đã chào mừng ĐTC và trao tặng ngài một cuốn sách vĩ đại với những hình vẽ của các em.

Sau buổi tiếp kiến, ĐTC còn dành hàng tiếng đồng hồ để chào thăm các anh chị em bệnh nhân, những người khuyết tật và một số người thiện nguyện tháp tùng họ (SD 9-11-2013)


G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

TRẺ SINH ĐÔI

TRẺ SINH ĐÔI

“Chúng ta phải sống ở đời này theo một phương cách nhằm đảm bảo niềm vui vĩnh cửu ở đời sau.”

Có một bà mẹ mang thai đôi. Một đứa là gái, đứa kia là trai. Nhiều ngày tháng trôi qua, và chúng lớn dần. Khi càng lớn, chúng càng vui mừng ca hát: “Có được sự sống thật là vĩ đại!”

Cùng nhau chúng thám hiểm lòng mẹ. Khi chúng tìm thấy chiếc nhau của bà mẹ, chúng la lên vui sướng: “Mẹ thương chúng ta biết là chừng nào đến nỗi chia sẻ sự sống cho chúng ta!”

Không bao lâu, hai đứa ngày càng thay đổi đáng kể. Đứa con trai hỏi, “Thế nghĩa là gì?”

“Có nghĩa cuộc sống của chúng ta trong lòng mẹ sẽ chấm dứt,” đứa con gái trả lời.

“Nhưng mình không muốn rời lòng mẹ,” đứa con trai nói. “Mình muốn ở đây mãi.”

Đứa con gái trả lời, “Mình đâu có lựa chọn được. Nhưng mà biết đâu có đời sống sau khi sinh.”

“Làm sao được?” đứa con trai hỏi. “Chúng ta sẽ bị tách khỏi cái nhau của mẹ mình thì làm sao sống nổi? Hơn nữa, trong bụng mẹ có những chứng cớ rõ ràng là có những đứa sống trước mình, và chưa có đứa nào trở lại đây cho mình biết là có sự sống sau khi sinh. Không được đâu, đến đây là chấm dứt.”

Và rồi đứa con trai thấy tuyệt vọng, suy nghĩ. “Nếu đời sống trong bụng mẹ chấm dứt bằng cái chết, thì mục đích của đời sống đó là gì? Ý nghĩa của nó là gì? Có lẽ mình không có mẹ. Có lẽ mình chỉ bịa ra người mẹ để cảm thấy an tâm.”

“Nhưng chúng ta phải có một người mẹ,” đứa con gái nói. “Vì làm thế nào mà chúng ta vào đây được? Làm thế nào chúng ta sống được?”

Và rồi những ngày cuối cùng trong bụng mẹ đầy những thắc mắc và lo sợ.

Sau cùng, giây phút chào đời đã đến. Khi hai đứa mở mắt nhìn, chúng đã khóc vì sung sướng. Những gì chúng thấy còn hơn cả mơ ước.

Dĩ nhiên, câu chuyện trên chỉ là một ngụ ngôn. Nó so sánh đời sống ở thế giới này với đời sống trong lòng mẹ.

Cũng như hai đứa trẻ song sinh tự hỏi về đời sống sau khi sinh giống như thế nào thì chúng ta cũng tự hỏi về đời sống sau khi chết và thế giới ấy giống như gì.

Và cũng như đời sống sau khi sinh vượt quá những mơ ước của hai đứa song sinh thì đời sống sau khi chết cũng vượt quá ước mơ của chúng ta. Theo lời Thánh Phaolô:

Điều mà chưa ai từng thấy hay nghe biết, điều mà chưa ai dám nghĩ sẽ xảy ra, thì đó chính là điều mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Người” (1 Corinthians 2:9)

Chuyện ngụ ngôn của hai đứa song sinh thích hợp với các bài đọc hôm nay. Vì cả Phúc Âm và bài đọc một đều rõ ràng đối phó với sự sống sau khi chết.

Và vì thế, có lẽ thật thích hợp cho chúng ta để suy nghĩ về đề tài đó.

Một cách cụ thể, chúng ta có thể suy nghĩ về câu hỏi rất thực tế: Trong thế giới bận rộn này, làm sao một con người có thể sống theo một phương cách nào đó nhằm đảm bảo sự sống vĩnh cửu ở đời sau?

Câu hỏi này được đề cập đến trong một cuốn sách của Doris Lee McCoy có tựa đề là Megatraits: Twelve Traits of Successful People. (Vô Số Đặc Điểm: 12 Đặc Điểm của Người Thành Công).

Một trong những người mà cô McCoy phỏng vấn khi thực hiện cuốn sách là ông Peter Coors, chủ tịch ngành bia của công ty Adolph Coors.

Ông Adolph Coors từ nước Đức vào Mỹ dưới dạng hành khách đi tầu lậu vé. Ông đến Hoa Kỳ mà không có giấy thông hành, không một đồng xu, không có gì cả.

Từ một khởi đầu không ai dám nghĩ đến, ông đã sáng lập một trong những công ty thành công và giầu có nhất Hoa Kỳ.

Peter Coors là chắt của Adolph Coors. Khi cô McCoy hỏi ông Peter nghĩ gì về sự thành công, ông trả lời như sau:

“Sự thành công đối với tôi thật căn bản. Thứ nhất, khi cuộc đời tôi chấm dứt, sự thành công sẽ là đứng trước mặt Thiên Chúa, và cảm thấy rằng dù tôi có những lầm lỗi, tôi luôn luôn coi Thiên Chúa như tâm điểm của đời tôi.

“Thứ hai, sự thành công đối với tôi là có được một gia đình tốt đẹp và một hôn nhân tốt đẹp. Đó là một phần rất quan trọng của đời tôi.

“Thứ ba, sự thành công đối với tôi là, sau thời gian làm việc với công ty chấm dứt, tôi có thể nói rằng tôi đã giúp đỡ, không chỉ công ty, nhưng còn các nhân viên nữa.”

Ba nhận xét của ông Peter Coors bao gồm câu trả lời cho thắc mắc của chúng ta: Trong thế giới bận rộn này, làm sao một con người có thể sống theo một phương cách nào đó nhằm đảm bảo sự sống vĩnh cửu ở đời sau?

Thứ nhất, chúng ta phải sống ở đời này theo một phương cách mà sau khi chết, trước mặt Thiên Chúa, chúng ta đoan chắc rằng Thiên Chúa luôn luôn ở tâm điểm của đời sống chúng ta.

Thứ hai, chúng ta phải sống theo một phương cách mà, sau việc yêu mến Thiên Chúa, việc yêu mến gia đình chiếm địa vị ưu tiên trong đời sống.

Sau cùng, chúng ta phải sống ơn gọi của mình theo một phương cách không những tích cực góp phần cho ngành nghề và lãnh vực hoạt động nhưng còn cho những người mà chúng ta cùng làm việc.

Nếu chúng ta có thể thi hành như vậy, quả thật cuộc đời chúng ta đã sống theo một phương cách được cam đoan bởi lời hứa của Thánh Phaolô:

“Điều mà chưa ai từng thấy hay nghe biết, điều mà chưa ai dám nghĩ sẽ xảy ra, thì đó chính là điều mà Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Người”

Chúng ta hãy kết thúc với một bài thơ. Bài thơ này là một kết luận thực tế, thích hợp với những gì chúng ta vừa nói. Bài thơ mang tên “Dẫu Vậy.”

Con người thì vô lý, sai lầm, và ích kỷ,
Dẫu vậy hãy cố yêu thương họ!

Nếu bạn làm điều tốt, đời sẽ lên án bạn là vì nhiều ẩn ý.
Dẫu vậy hãy làm tốt cho họ!

Nếu bạn thành công, bạn sẽ có thêm những người giả dối và kẻ thù ghét bạn.
Dẫu vậy hãy thành công!

Những điều tốt bạn làm sẽ rơi vào quên lãng.
Dẫu vậy hãy làm tốt!

Sự thành thật và thẳng thắn khiến bạn dễ bị tổn thương.
Dẫu vậy hãy thành thật và thẳng thắn!

Những người vĩ đại với các tư tưởng vĩ đại có thể bị hạ nhục bởi những người ti tiện.
Dẫu vậy hãy nghĩ đến điều vĩ đại!

Những gì bạn bỏ công xây dựng cả năm có thể bị tiêu hủy sau một đêm.
Dẫu vậy hãy xây dựng!

Người ta thực sự cần được giúp đỡ nhưng họ có thể tấn công bạn nếu bạn giúp đỡ họ.
Dẫu vậy hãy giúp đỡ họ!

Bạn hết sức xây dựng thế giới và chỉ nhận được những đắng cay.
Dẫu vậy hãy hết sức trao ban cho thế giới
!

Cha Mark Link, S.J.

Đời Này và Đời Sau

Đời Này và Đời Sau

Bạn đã làm người được bao nhiêu năm?

Chết hết làm người, bạn dự định sẽ làm gì?

Sống và chết là điều mà mọi người đều nghĩ tới. Và hơn thế nữa, ý nghĩa và cùng đích của cuộc đời này luôn luôn là điều mà ta hằng quan tâm suy nghĩ. Ngay cả những người vô thần, dù không tin có cuộc sống ở đời sau, vẫn băn khoăn lo lắng cho những gì xảy ra sau khi ta chết: Lúc đó ta sẽ ra sao? Sẽ làm gì? Sẽ đi về đâu? Về cõi trường sinh vĩnh phúc, hay nơi trầm luân đời đời?

Bạn thân mến! Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay cũng nhắc đến đời sau, nơi mà con người không còn đói khát nên sẽ không cần ăn uống. Sẽ chẳng cần lấy vợ lấy chồng. Sẽ chẳng cần sinh con để nối dõi vì người ta không bao giờ chết nữa. Nhưng đời sau vẫn là một nhiệm mầu, vì chẳng ai tận mắt nhìn thấy đời sau, chẳng ai chụp hình quay phim được thiên đàng hay hỏa ngục. Người đã chết cũng chẳng bao giờ trở lại đời này để kể cho ta nghe về đời sau. Bởi thế, nhiều người không tin có đời sau. Đời sau là chuyện ở đâu đó, hoàn toàn xa lạ, cho nên con người bị cuốn hút bởi “tham sân si” của đời này, sống như thể chỉ có đời này, bám dính lấy đời này.

Thế nhưng, đời này được kết thúc bằng cái chết. Mọi người đều phải đi qua sự chết. Cái chết là cánh cửa mở ra cho con người đi vào cuộc sống mới ở đời sau. Nơi đó những người công chính không còn phải chết nữa, nhưng được sống lại, và sống đến muôn muôn đời.

Một số tôn giáo tin rằng đời người có nhiều kiếp. Giáo lý Công giáo khẳng định chỉ có một kiếp người, đó là cuộc đời ta đang sống. Chính cuộc đời duy nhất này định đoạt số phận của ta ở đời sau. Lúc đó ta sẽ ra sao? Sẽ đi về đâu? Về nơi trường sinh vĩnh phúc hay cõi trầm luân đời đời?

Chúng ta chỉ đi qua cuộc đời này một lần mà thôi, không có một cơ hội thứ hai để ta làm lại. Chính vì thế ta phải cố gắng nỗ lực sống hết mình trong cuộc đời này, để đời sau ta được sống lại với Thiên Chúa, vì “Ngài không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, và đối với Ngài, tất cả đều đang sống.” (Lc 20,38). Và đó cũng là cơ sở vững chắc cho ta mạnh dạn tuyên xưng đức tin trong kinh Tin Kính: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”.

Lời Chúa hôm nay đem lại cho ta bao niềm hy vọng. Hy vọng vì đời ta sẽ không đi trong bất định, không lạc vào hư vô, nhưng có một cùng đích là trở về với Thiên Chúa là cội nguồn của ta. Đời ta sẽ không chìm đắm trong đau khổ, nhưng sẽ vươn lên trong hạnh phúc; hạnh phúc được làm con cái Thiên Chúa, hạnh phúc được chia sẻ sự sống siêu nhiên của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Chúng ta tin tưởng vững vàng và hy vọng chắc chắn rằng: Cũng như Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì sau khi chết, người công chính cũng được sống mãi với Đức Kitô Phục sinh và Người sẽ cho họ sống lại ngày sau hết. (GLHTCG, số 989)

Lạy Chúa Giêsu, trần gian này quá đẹp khiến con mải mê, quên mình là lữ khách. Thiên đàng lại xa xôi, chẳng có chỗ trong lòng con. Con loay hoay vun quén cho đời sống cá nhân, như thể con sẽ sống mãi trong cuộc đời này. Xin khơi dậy trong con niềm khát khao những điều cao cả trên trời, và đừng để con mãn nguyện với những cái tầm thường nơi trần thế tạm bợ này. Amen.

Veritas Radio

CUỘC SỐNG MAI HẬU

CUỘC SỐNG MAI HẬU

Giáo lý của Chúa Giêsu dạy có sự sống lại. Tuy nhiên vào thời của Ngài, hai nhóm: nhóm Pharisêu và nhóm Sađucêô luôn đối nghịch nhau về quan điểm, lập trường. Nhóm Pharisêu là nhóm bảo thử, nhóm Sađucêô là nhóm cấp tiến không tin vào sự sống lại. Như thế họ đối nghịch với Chúa Giêsu và giáo lý của Ngài dạy. Nhóm Sađucêô hầu hết là giới giáo sĩ, giới lãnh đạo về mặt tôn giáo. Họ liên hệ với Chính quyền để hưởng lợi cá nhân.

Nhóm Sađucêô cho rằng chết là hết, ở đời phải tự do hưởng thụ. Sống cứ buông thả, cứ chơi bời và không cần gì phải lập công tích đức. Do đó, để đánh lừa dư luận, để gây khó dễ cho Chúa và để gây hỏa mù, gây niềm tin cho quần chúng, họ đã tự bầy ra một câu chuyện để gây thắc mắc, xin Chúa giải quyết cho họ. Họ dựa vào một điều luật của Môsê gọi là luật Lévirat để phịa ra một câu chuyện giả tưởng, buồn cười nhưng làm cho người khác có thể hiểu lầm. Theo luật Lévirát khi trong gia đình có một người anh em chết tuyệt tự, thì người em phải lấy chị dâu hoặc em dâu làm vợ, để nối dõi tông đường. Và họ hỏi Chúa như thế nếu có bảy anh em chết thì khi sống lại “người đàn bà góa bụa ấy là vợ của ai?”. Câu chuyện giả tưởng, không có thật này lại là dịp, là cơ hội để Chúa Giêsu giải thích cho mọi người về sự sống lại.

Ở đây, chúng ta quan tâm đến hai điểm giáo lý căn bản. Điểm thứ nhất: cuộc sống mai sau là cuộc sống của Thiên Chúa. Con người được sống trước Thánh Nhan Chúa, ca tụng Chúa như các thiên thần. Điểm thứ hai, cuộc sống sau này, cuộc sống mai sau là một cuộc sống hoàn toàn linh thiêng, cuộc sống Phục sinh nghĩa là cuộc sống hoàn toàn được đổi mới, cuộc sống linh thiêng như các thiên thần, cuộc sống như Chúa Phục sinh. Chúa Giêsu quả quyết có sự sống lại vì chính Ngài đã Phục sinh như lời Ngài đã nói trước. Chúa Giêsu xác quyết người sống lại sẽ giống như các thiên thần. Người sống lại ở Thiên Đàng không còn lấy vợ lấy chồng vì họ không còn sống thân xác như trước khi chết. Để trả lời cho các tín hữu Corintô, thánh Phaolô đã viết như sau : “cũng vậy về sự kiện kẻ chết sống lại : gieo xuống trong hư hoại, sống lại trong bất hoại; gieo xuống trong ô nhục, sống lại trong vinh quang; gieo xuống trong yếu đuối, sống lại trong quyền năng; gieo xuống là xác khí huyết, sống lại là xác thần thiêng” (1 Co 15, 42).

Để giải thích cho một số người đặt Môsê như một vị ngôn sứ cao cả, Chúa Giêsu đã đặt vấn đề và hỏi họ . Thánh Kinh đã cho thấy gì ? Khi Thiên Chúa hiện ra với Ông Môsê trong bụi gai bốc cháy nhưng không tiêu hao, Ngài đã phán : “Ta là Thiên Chúa của Abraham, Isaac, Giacóp”. Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống, chứ Ta đâu có phải Thiên Chúa của kẻ chết. Nhóm đó và nhiều người đã im lặng không nói được gì.

Các bài đọc, đặc biệt là bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta hay rằng : “Kẻ chết sẽ sống lại”. Chết không phải là hết.Cuộc sống ở trần gian chỉ là tạm bợ. Chết là đi vào cõi trường sinh, đi vào một cuộc sống mới. Như Chúa chết là để sống lại. Vậy, chúng ta là Kitô hữu, chúng ta chết là để sống lại. Chúng ta tin Ông bà Cha mẹ, những người thân yêu hay chính chúng ta chết là để sống lại. Đây là niềm tin, là niềm cậy trông, niềm hy vọng vì chết là bước vào cõi sống.

Xin mượn lời của Luc Fritz để kết luận bài chia sẻ này : …Bước vào thế giới của Thiên Chúa là đi vào một chiều kích khác.Chiều kích ấy đã thay đổi các điểm mốc : cái chết không còn nữa. Trong đó, thế giới của con người không bị phủ nhận, nhưng nó mang một chiều sâu, một sức sống mới. Sự Phục sinh của Đức kitô củng cố niềm hy vọng của chúng ta vào sự phục sinh của chính ta. Sự Phục sinh là sự sống viên mãn.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1. Nhóm Pharisêu là nhóm nào ?

2. Bè Sađucêô có tin sự sống lại ?

3. Chúa Giêsu đã trả lời thế nào với các nhóm ?

4. Chúng ta phải làm gì để củng cố niềm tin vào sự Phục sinh ?

5. Sự sống mai sau sẽ thế nào ?

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

ĐỜI SAU KHÁC ĐỜI NÀY

ĐỜI SAU KHÁC ĐỜI NÀY

Ðức Cha Fulton J. Sheen trong tác phẩm “Trên đỉnh caoThập Giá” đã kể rằng: Sau khi bị Thiên Chúa đuổi ra khỏi Ðịa Ðàng và gánh chịu hình phạt lao dịch, A-đam đã phải vất vả khổ cực tìm kiếm của ăn. Một lần kia, trên đường ra nương rẫy, A-đam vấp phải thân xác bất động của A-ben. A-đam nâng dậy vác con lên vai đưa về nhà đặt trong vòng tay E-và. Ông Bà lay gọi nhưng A-ben không đáp trả. Trước đây A-ben là đứa con ngoan, lanh lợi, không có trầm lặng như vậy. Ông Bà nâng tay A-ben lên, bàn tay lại rơi xuống đất bất động, trước đây A-ben không hề như thế. Ông Bà nhìn vào đôi mắt của con: lạnh lùng, trắng dã, vô tư một cách bí mật, trước đây đôi mắt của A-ben có vô tình như vậy bao giờ đâu. Ông Bà kinh ngạc, nỗi kinh ngạc tăng dần lên. Thế rồi hai Ông Bà chợt nhớ lời Thiên Chúa: “Ngày nào ngươi ăn trái cây này, ngươi sẽ phải chết“.

Cái chết của A-ben là cái chết đầu tiên của nhân loại. Khi Nguyên tổ phạm tội, Ðịa Ðàng đã đóng ngõ cài then. Ðau khổ và sự chết đã tràn vào thế giới và chảy dọc theo thời gian. Thiên Chúa đã sinh ra sự sống, nhưng tội lỗi đã khởi phát ra sự chết. Sống và chết là hai thái cực đối chọi nhau. Sự sống và sự chết đều là kỳ công của Thiên Chúa. Con người không thể làm ra được sự sống cũng không tài nào cản ngăn được sự chết. Thế giới càng văn minh thì Tử Thần càng xuất hiện dưới muôn hình vạn trạng khác nhau. Có cái chết êm đềm thư thái, có cái chết đau đớn khốn khổ, muốn chết không được, muốn sống không yên. Càng chạy trốn Tử Thần, thì Tử Thần càng đến gần. Càng tránh đau đớn thì đau đớn càng nhiều.

Ở mọi thời đại, cái chết vẫn là một mầu nhiệm thách thức lý trí con người. Tại sao con người lại phải chết ? Chết là gì ? Ðó luôn luôn là những câu hỏi làm xao xuyến tâm não con người trong mọi không gian và thời gian. Sự chết là một đề tài suy niệm phong phú. Mỗi tôn giáo, mỗi con người nhìn và hiểu một cách tuỳ theo quan niệm của mình, tuỳ theo niềm tin, tuỳ theo chọn lựa và thái độ cuộc sống.

Ðối với Ki-tô giáo chúng ta, Thiên Chúa là Chúa của sự sống, ý định của Người là thông ban sự sống chứ không phải sự chết. Vậy sự chết bởi đâu mà có ? Kinh Thánh trả lời rằng: sự chết là hậu quả của tội lỗi (Rm 5, 12; 6, 23). Nhưng Thiên Chúa “vì quá yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một của Ngài để những ai tin vào Người Con ấy sẽ không phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16) và lời tuyên bố của Chúa Giê-su trước khi làm cho La-da-rô sống lại là một trong những lời kỳ diệu nhất: “Thầy là sự sống lại và là sự sống”. Lời mặc khải này có nhiều người tin vào Chúa, nhưng cũng không ít người nghi ngờ, không tin.

Bài Phúc Âm hôm nay kể về phái Xa-đốc không tin có sự sống lại, họ đặt ra những vấn nạn vô lý để chất vấn Chúa Giê-su. Họ trích sách Ðệ nhị luật 25, 5-6 để hỏi Người: Nhà kia có 7 anh em trai. Người anh cả cưới vợ rồi chết không con. Theo luật Mô-sê, người em phải lấy chị goá để có con nối dõi, và cả 7 anh em đều chết không con. Khi sống lại, chị goá đó vợ sẽ là của ai ?. Họ đưa ra ví dụ mà chẳng thể xảy ra trong thực tế. Trong thế giới mai sau, bà vợ thuộc về ai trong số 7 ông chồng? Chẳng lẽ 7 ông đánh nhau để dành 1 bà trên thiên đàng? Kiểu lý luận hàm ẩn một quan niệm, thế giới mai sau cũng như hiện tại, nối dài hiện tại. Người Việt Nam cũng vậy, thói quen đốt vàng mã, đốt đôla, đốt xe honda, đốt nhà lầu…cho người cõi âm xài…Người ta tin rằng thế giới mai sau cũng giống như thế giới mình đang sống cho nên người đã chết cũng cần xe, cần tiền…

Chúa Giê-su trả lời với hai nét độc đáo: thế giới mai sau là một thế giới hoàn toàn khác, hoàn toàn được biến đổi, và sự sống mới hoàn toàn được bắt đầu từ hôm nay.

Ðời sau khác đời này. Người ta không lấy vợ gả chồng, không cần con nối dõi, nhưng sống như các thiên thần, chỉ lo phụng sự và ca ngợi Chúa. Ðời sau không còn bóng dáng của Thần Chết. Con người thoát khỏi quy luật thông thường của lẽ tử sinh. Toàn bộ con người cả xác lẫn hồn được sống lại. Thân xác tuy đã tan thành tro bụi theo thời gian, nhưng sẽ được biến đổi cách kỳ diệu để chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với linh hồn. Bởi vì: “Ðức Chúa là Thiên Chúa của Tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, đối với Người tất cả đều đang sống”.

Qua mầu nhiệm Thương Khó và Phục Sinh sắp tới, Ðức Giê-su sẽ hoàn tất mạc khải này. Ðức Giê-su đã chiến thắng sự chết bằng chính cái chết trên Thập Giá và Người đã sống lại để trao ban sự sống mới, sự sống của Ðấng Phục Sinh. Chính bởi sự yêu mến, vâng phục và dâng hiến nên cái chết của Chúa Ki-tô là một sự chiến thắng, bẻ gãy mũi nhọn của thần chết (1 Cr 15, 14). Thánh Phê-rô đã nói một cách sâu sắc: “Tội lỗi của chúng ta, chính Ðức Ki-tô đã mang vào thân thể, mà đưa lên cây thập giá, để một khi đã chết với tội lỗi, chúng ta được sống cuộc đời công chính” (1 Pr 2, 24).

Vì Ðức Giê-su đã thắng được những xao xuyến, thắng được những tuyệt vọng, nên Người đã biến cái hố thẳm hay biển cả mênh mông ngàn trùng xa cách giữa con người và Thiên Chúa thành biển cả tình thương liên kết hiệp nhất Thiên Chúa và loài người. Ðức Ki-tô đã trở nên con đường giao hoà và Thập Giá Ðức Ki-tô đã trở thành như chiếc thang nối liền trời và đất, kết hợp Thiên Chúa và loài người. Yếu tính sự chết đã được biến đổi. Sự chết không còn là tang tóc nữa mà đã trở thành Lễ Vượt Qua để tiến tới Vinh Quang Thiên Quốc. Từ nay Ðức Giê-su không còn lệ thuộc vào thân xác vật chất nữa, những gì thuộc về thân xác vật chất đều đã chết trên Thập Giá. Chúa Ki-tô đã được Thần Khí hoá (Rm 8, 11; 1 Pr 3, 18), và sự sống của Người thuộc về Thiên Chúa (Rm 6, 10).

Niềm tin vào Ðức Giê-su, Ðấng đã chết và sống lại là niềm tin cao cả nhất. Khi trái tim một người Ki-tô hữu ngừng đập thì chuông Nhà Thờ vang lên báo tin cho mọi người biết linh hồn một người đã được Chúa gọi về. Nghe chuông báo tử, mọi người đến tang gia để thăm viếng, phân ưu, đọc kinh cầu nguyện, tham dự nghi thức tẩm liệm, cùng đưa người chết đến Nhà Thờ. Linh cửu được đặt ngay trước Nhà Tạm của Chúa Giê-su. Cây nến Phục Sinh tượng trưng cho sự sống lại của Chúa và của những ai theo Người được thắp sáng lên đặt cạnh quan tài. Thánh Lễ được cử hành để hiệp thông cầu nguyện cho người chết, nói lên việc Giáo Hội trân trọng với cả xác chết. Ðại diện cho Giáo Hội là Linh Mục tiễn đưa người quá cố từ Nhà Thờ đến Ðất Thánh, làm phép huyệt để thánh hoá nơi người chết an nghỉ và nói lên niềm hy vọng tuyệt vời: “Chúng ta gởi thân xác người thân yêu ở lại đây, đợi ngày sống lại gặp nhau trên Thiên Ðàng.”

Sự chết và sự sống lại của Chúa Ki-tô không những đã chuộc lại được cho con người những gì nó đã mất vì tội lỗi, nhưng còn là một cuộc sáng tạo. Bởi vì nhờ sự chết và sống lại của Người mà nhịp cầu liên kết giữa Thiên Chúa và con người được nối lại và một tương quan mới được thiết lập, đó là tương quan Cha Con. Nhờ cuộc Thương Khó và Phục Sinh của Chúa Ki-tô, con người được tha thứ, được gội rửa sạch tội lỗi, khỏi án chết đời đời và trở nên con cái Thiên Chúa. Từ nay con người được gọi Thiên Chúa là Áp-ba, Cha ơi (Rm 8, 15).

Tin và sống trong ân tình của Chúa Ki-tô chính là chiến thắng sự chết, chính là đã mang trong mình mầm sống của sự sống đời đời: “Ai sống và tin vào Thầy thì sẽ không bao giờ chết” (Ga 11, 26; 1 Ga 3, 14). Không bao giờ chết chính là không bao giờ mất sự hiện hữu trong tương quan với Thiên Chúa, không bao giờ mất sự sống trong tương quan ân tình với Người. Niềm tin vào sự sống mai sau đem lại cho chúng ta niềm vui và hy vọng. Niềm tin ấy mang lại ý nghĩa cho cuộc đời và cho mọi sinh hoạt của chúng ta hôm nay. Niềm tin đó thôi thúc chúng ta sống theo Tin Mừng Chúa Giê-su. Niềm hy vọng ấy thôi thúc chúng ta hy sinh cầu nguyện nhiều hơn, siêng năng dâng lễ, làm việc lành phúc đức nhiều hơn trong tháng 11 nầy để cầu cho những người thân yêu và các tín hữu đã ra đi trước chúng ta được về quê trời vui hưởng hạnh phúc ngàn thu.

Thiên Chúa dựng nên con người để con người được hưởng hạnh phúc đời này và cả đời sau. Sống là một cuộc hành trình tiến về đời sau. Đừng mải mê với những hạnh phúc mau qua, những lạc thú chóng tàn mà quên đi cùng đích cuộc đời là gặp được Chúa. Hạnh phúc duy nhất và cũng là quan tâm duy nhất của người sống đời sau là được ở gần Chúa để phụng thờ Người.

Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa, và chúng con còn khắc khoải mãi cho đến khi được an nghỉ trong Chúa (Thánh Augustinô). Amen.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

ĐTC Phanxicô ôm hôn và cầu nguyện cho người bệnh dị dạng

ĐTC Phanxicô ôm hôn và cầu nguyện cho người bệnh dị dạng

POPE FRANCIS' GENERAL AUDIENCE

Đức Thánh Cha Phanxicô , tạm dừng một chút thời gian để cầu nguyện và đặt tay trên một người đàn ông với một chứng bệnh dị dạng . Người đàn ông nhẹ nhàng vùi đầu vào ngực của Đức Giáo Hoàng , nhiều khối u trên khuôn mặt có thể nhìn thấy được.

Cuộc gặp gỡ với người đàn ông ốm yếu xảy ra tại Vatican hôm thứ tư vào cuối buổi tiếp kiến ​​chung , trong đó có khoảng 50,000 người tham dự.

Hình ảnh của vòng tay của Đức Thánh Cha tại quảng trường Thánh Phêrô lan truyền khắp nơi trên phương diện truyền thông xã hội .

Ông Donna Hosie nói trên mạng xã hội rằng:

"Tôi là một người vô thần , nhưng tôi càng nghe về Đức Giáo Hoàng Phanxicô , tôi càng thích Ông ấy, "

Một số người nói Đức Thánh Cha Phanxicô là sống theo những lý tưởng theo tên gọi của mình, Thánh Phanxicô Assisi , một vị Thánh nổi bật, coi mình là một người đầy tớ cho người nghèo và thiếu thốn.

Tại sao vòng tay của Đức Giáo Hoàng là mạnh mẽ như vậy

POPE FRANCIS' GENERAL AUDIENCE

Kể từ khi là người lãnh đạo của 1.2 tỷ người Công Giáo trên thế giới , Đức Thánh Cha đã nêu bật sự cần thiết phải tiếp cận với những người nghèo khổ.

"Lạy Chúa , xin dạy chúng con bước ra ngoài bản thân mình , " đây là lời ĐTC tweet trong tháng Tám. " Xin dạy chúng con đi ra đường phố và biểu hiện tình yêu của chúng con . "

Một tháng sau, ĐTC cũng lập lại như vậy.

"Sự từ thiện chân chính đòi hỏi lòng can đảm: Hãy vượt qua nỗi sợ hãi, dùng bàn tay của mình để giúp đỡ những người đang cần đến ",.

Đức Thánh Cha đã kêu gọi sự tương tác cởi mở với mọi người trong tất cả các tầng lớp xã hội , đặc biệt là người nghèo yếu và dễ bị tổn thương.

Và ông đang thực hành giảng dạy ông những gì .

Người đàn ông Đức Giáo Hoàng an ủi bị mang bệnh neurofibromatosis. Các rối loạn di truyền gây ra đau đớn và hàng ngàn khối u mọc khắp cơ thể. Nó dẫn đến mất thính giác và thị lực , các biến chứng tim mạch , và mất chức năng  từ sự đè nén dây thần kinh do khối u.

Đây là điểm nổi bật mới nhất trong các cuộc gặp gỡ đáng nhớ đối với Đức Giáo Hoàng.

Thái Trọng

 

ĐỨC THÁNH CHA BỔ NHIỆM GIÁM MỤC GIÁO PHẬN ROCHESTER, NEW YORK

ĐỨC THÁNH CHA BỔ NHIỆM GIÁM MỤC GIÁO PHẬN ROCHESTER, NEW YORK

bishop salvatore

(Vatican Radio) Đức Thánh Cha Phanxicô đã bổ nhiệm Đức Giám Mục Salvatore Ronald Matano, người đứng đầu giáo phận Rochester, tiểu bang New York. Ông đã phục vụ Giám Mục tại Burlington, Vermont, cùng thời điểm được bổ nhiệm.

Giám mục Matano sinh năm 1946 ở Providence, Rhode Island, thụ phong linh mục vào năm 1971. Ông nhận bằng tiến sĩ trong giáo luật từ Đại học Giáo hoàng Gregorian vào năm 1972, và sau đó phục vụ việc giảng dạy và mục vụ giáo xứ trong giáo phận nhà của Providence, và nhiều nơi trong giáo phận khác nhau, bao gồm như tổng đại diện và điều phối viên của giáo triều. Ông cũng làm việc trong Tòa Khâm sứ Tòa Thánh tại Washington, DC.

Thánh lễ nhậm chức sẽ vào ngày 3 tháng 1 năm 2014, và là vị Giám mục thứ 9 của giáo phận Rochester.

Ngài được tấn phong Giám Mục vào năm 2005 và từng là Giám Mục phó của Burlington cho đến tháng mười của năm đó, khi ông bắt đầu làm giám mục. Ông là thành viên của Ủy ban Giáo lý Hoa Hội Đồng Giám Mục Kỳ.

Thái Trọng phỏng dịch

Đức Thánh Cha đề cao vai trò vị bảo hệ tại tòa án hôn phối

Đức Thánh Cha đề cao vai trò vị bảo hệ tại tòa án hôn phối

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng ngày 8-11-2013, dành cho các thành viên Tối Cao Pháp viện của Tòa Thánh, ĐTC đặc biệt đề cao vai trò của vị bảo hệ (difensor vincoli) trong các tòa án hôn phối của Giáo Hội.

Hiện diện tại buổi tiếp kiến có 55 người tham dự khóa họp toàn thể của Tối Cao Pháp viện Tòa Thánh về vai trò của vị bảo hệ, tức là người có nhiệm vụ làm mọi cách để bảo vệ mối dây hôn phối trong các vụ án xin tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Khóa họp được đặt dưới quyền chủ tọa của ĐHY Chủ tịch Raymond Burke, người Mỹ, và trong số các tham dự viên có 16 HY và 6 GM thành viên.

Lên tiếng tại buổi tiếp kiến, ĐTC đề cao một chức năng của Tối Cao Pháp Viện Tòa Thánh là giúp các tòa án trong toàn thể Giáo Hội chu toàn nhiệm vụ thi hành công lý của Giáo Hội cho các tín hữu. Tòa này cũng giúp đỡ các GM trong việc huấn luyện các chức sắc tư pháp thích hợp, trong đó có vị bảo hệ. Ngài nói:

”Vị bảo hệ chu toàn một chức năng quan trọng, đặc biệt trong các vụ án tuyên bố hôn nhân vô hiệu. Điều cần thiết là vị bảo hệ phải chu toàn phận vụ của mình một cách hữu hiệu, để giúp đạt tới sự thật trong phán quyết chung kết, mang lại thiện ích mục vụ cho các phe liên hệ”.

ĐTC nhắc đến Huấn thị ”Dignitas connubii” (Phẩm giá hôn nhân, số 56, 1-2; 279,1) và đặc biệt nhắc đến vai trò của vị bảo hệ trong các vụ án tuyên bố hôn nhân vô hiệu vì thiếu khả năng tâm lý. Trong một số tòa án, đây là lý do duy nhất thường được nại đến để tuyên bố hôn nhân kết ước bất thành.

Ngài nói: ”Vị bảo hệ nào muốn phục vụ tốt đẹp thì không thể chỉ đọc vội vã các văn kiện trong vụ án, hoặc trả lời cho có lệ theo kiểu bàn giấy và trống trống. Trong công tác tế nhị này, vị bảo hệ được kêu gọi tìm cách hòa hợp những qui định của bộ giáo luật và hoàn cảnh cụ thể của Giáo Hội và xã hội.. Khi trung thành chu toàn trọn vẹn nghĩa vụ của mình, vị bảo hệ không làm tổn thương quyền của vị thẩm phán tòa án Giáo Hội, vì vị thẩm phán là người duy nhất có quyền phán quyết về vụ án. Khi vị bảo hệ thi hành nghĩa vụ kháng án, kể cả tại tòa Thượng thẩm Rota ở Roma, để chống lại một phán quyết mà vị ấy thấy là làm thương tổn chân lý về mối giây hôn phối, nghĩa vụ của vị ấy không làm thương tổn nghĩa vụ của vị thẩm phán. Đúng hơn các thẩm phán có thể tìm được một trợ lực cho hoạt động của mình trong công việc kỹ lưỡng của vị bảo vệ mối giây hôn phối”.

Theo giáo luật số 1445, ngoài việc xét xử những vụ thượng tố chống lại phán quyết hoặc hành động của tòa Thượng Thẩm Rota, Tối Cao Pháp Viện của Tòa Thánh còn cứu xét những tranh tụng phát nguyên từ hành vi của quyền hành chánh trong Giáo Hội; phán xử những tranh tụng hành chánh khác được ĐTC hay cơ quan giáo triều đưa tới, và giải quyết những tranh chấp về thẩm quyền giữa các cơ quan ấy. Ngoài ra, Tối Cao Pháp viện của Tòa Thánh cũng có chức năng như một bộ tư pháp với nhiệm vụ canh phòng việc điều hành công lý cách đúng đắn, nới rộng thẩm quyền của các tòa án, xúc tiến và phê chuẩn việc thành lập các tòa án đệ nhị cấp (SD 8-11-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio