Sứ điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Hòa Bình thế giới

Sứ điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Hòa Bình thế giới

VATICAN. Sáng ngày 12-12-2013, Sứ điệp đầu tiên của ĐTC Phanxicô nhân ngày hòa bình thế giới lần thứ 47 đã được công bố về đề tài: ”Tình huynh đệ, nền tảng và là con đường tiến tới hòa bình”.

ĐHY Peter Turkson, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, đã cùng với Đức Cha Tổng thư ký Mario Toso SDB, giới thiệu Sứ điệp của ĐTC trong cuộc họp báo tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh.

Văn kiện này được giới báo chí chào mừng như một tổng hợp đạo lý của ĐTC Phanxicô về xã hội, qua đó ngài kêu gọi tái khám phá tình huynh đệ trong gia đình, trong nền kinh tế và trong tương quan của các dân tộc với nhau. Ngài khẳng định rằng ”Nếu không có tình huynh đệ thì không thể xây dựng một xã hội công chính và một nền hòa bình liên đới và lâu bền”.

Trong sứ điệp, ĐTC cũng mạnh mẽ kêu gọi những kẻ gieo rắc bạo lực và chết chóc hãy từ bỏ con đường võ khí, đồng thời ngài cũng lên án nạn tham nhũng, nạn mafia hay là tội phạm có tổ chức.

Sứ điệp được phổ biến bằng 11 thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Arập và Nga, Hindi và Tamil bên Ấn Độ, không kể các ngôn ngữ chính ở Tây Phương. Ngoài đoạn nhập đề và kết luận, Sứ điệp còn được chia làm 8 đoạn khác với những tiểu đề: ”Cain, em ngươi ở đâu?” (St 4,9) (1), ”Tất cả các con là anh em với nhau” (Mt 23,8) (2); Tình huynh đệ, nền tảng và con đường dẫn đến hòa bình (3); Tình huynh đệ, tiền đề để chiến thắng nghèo đói (5); Tái khám phá tình huynh đệ trong nền kinh tế (6); Tình huynh đệ dập tắt chiến tranh (7); Nạn tham ô và tội ác có tổ chức cản trở Tình huynh đệ (8) và sau cùng: Tình huynh đệ giúp bảo tồn và vun trồng thiên nhiên (9).

Trình bày của ĐHY Turkson

ĐHY Turkson nhận xét rằng ”Trong sứ điệp này, ĐTC tự hỏi tại sao trong thế giới ngày nay có sự thiếu thốn trầm trọng tình huynh đệ như vậy? Tại sao lòng ích kỷ làm cho chúng ta trở nên mù quáng trước tình huynh đệ không thể thiếu được như thế? Phải chăng sự sợ hãi và cạnh tranh đã gây nhiễm độc cho phẩm giá khôn sánh của chúng ta là con cái Thiên Chúa, làm ô nhiễm quan hệ giữa anh chị em với nhau?

ĐHY Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và hòa bình nêu bật một số điểm trong sứ điệp của ĐTC Phanxicô. Ngài suy tư về người nghèo, về hòa bình, về thiên nhiên dưới một tựa đề bao quát và đầy ý nghĩa, đó là ”tình huynh đệ”. Ngài cũng mời gọi chúng ta suy tư, cầu nguyện và hành động theo xác tín và niềm tin. Những điều xúc phạm đến tình huynh đệ tạo thành một danh sách thật dài, danh sách đau buồn và ô nhục. Sau mỗi tội ác sát nhân của con người, Thiên Chúa kêu lên: ”Em ngươi ở đâu?”. Con tim ích kỷ và tội lỗi đáp lại: ”Tôi có phải là người canh giữ em tôi đâu!”. Trong khi đó con tim huynh đệ trả lời với lòng biết ơn: 'Cám ơn Cha, vì đã làm cho con trở thành người canh giữ các anh chị em con! Cám ơn Cha vì đã làm cho họ trở thành những người canh giữ con!”.

Đoạn thứ 5 và thứ 6 của Sứ điệp được ĐTC dành để nói về nền kinh tế, và trình bày một số phương dược thực sự để chữa trị nghèo đói. Ngài nhận xét rằng những chênh lệch kinh tế chính là kẻ thù của hòa bình. ”Những cuộc khủng hoảng kinh tế nối tiếp nhau phải làm cho những người hữu trách suy nghĩ lại những kiểu mẫu phát triển kinh tế”.

Sự cộng tác trong việc theo đuổi công ích phải thay thế sự cạnh tranh tai hại làm cho tất cả mọi người đều lâm vào tình trạng rủi ro nguy hiểm.

Các quan hệ huynh đệ cũng phải được biểu lộ trong các chính sách xã hội, tạo điều kiện cho mọi người dân được hưởng an sinh và sung túc; các quan hệ ấy cũng phải diễn tả trong một lối sống điều độ hơn, giới hạn vào những điều thiết yếu; và trên bình diện rộng lớn hơn, cần ”mau lẹ suy nghĩ lại những kiểu mẫu phát triển kinh tế của chúng ta”.

Trong đoạn thứ 7 và thứ 8 của Sứ điệp Hòa bình, ĐTC trình bày những ý tưởng nhắm giúp giảm bớt và loại trừ chiến tranh đủ mọi loại, cũng như loại trừ nạn tham ô và tội các có tổ chức. Tình huynh đệ chiến thắng thái độ dửng dưng lãnh đạm, dửng dưng đứng trước bao nhiêu chiến tranh. Tình huynh đệ chiến thắng xu hướng coi kẻ thù không phải là người, coi họ là ma quỉ. Tình huynh đệ thúc đẩy làm việc cam go cần thiết để đạt tới mục tiêu không làm cho võ khí lan tràn, giải giáp, kể cả việc giải trừ các võ khí hạt nhân, võ khí hóa học, qui ước và các võ khí gọi là 'thông minh' và võ khí nhẹ.

ĐTC viết: ”Tôi lập lại lời kêu gọi của các vị tiền nhiệm về việc không làm lan tràn võ khí và giải giáp từ phía tất cả mọi người, bắt đầu là võ khí hạt nhân và hóa học.. Bao lâu vẫn còn số lượng võ khí lớn như thế được lưu hành như ngày nay, thì người ta sẽ luôn tìm ra những cớ mới để khởi sự chiến tranh”.

ĐTC cũng khẳng định rằng ”Tôi muốn mạnh mẽ kêu gọi những người đang dùng võ khí gieo rắc bạo lực và chết chóc: họ hãy tái khám phá người anh em nơi người mà ngày nay họ chỉ coi là một kẻ thù phải triệt hạ, và hãy dừng tay lại.. Hãy từ bỏ con đường võ khí, và đi gặp tha nhân trong cuộc đối thoại, tha thứ và hòa giải, để xây dựng công lý, sự tín nhiệm và hy vọng quanh chúng ta”.

Trong các cuộc xung đột xã hội, tình huynh đệ chống lại nạn tham nhũng, mafia, buôn bán ma túy, nạn nô lệ, buôn người, mại dâm và những hình thức gọi là 'chiến tranh kinh tế và tài chánh” hủy hoại sự sống, các gia đình, và các hoạt động doanh nghiệp”.

Trong đoạn số 9 của Sứ điệp, ĐTC nói đến một nhu cầu cấp thiết là phải bảo tồn và vun trồng thiên nhiên như thể đó là căn nhà trần thế của chúng ta và là nguồn mạch mọi thiện ích vật chất, bây giờ và cho các thế hệ tương lai. Trong tinh thần huynh đệ, chúng ta phải họ cách xử lý môi trường thiên nhiên như một món quà của Đấng Tạo Hóa, một món quà cần được hưởng chung, một cách nhưng không và công bằng. Canh nông sản xuất trong tinh thần trách nhiệm, và các xí nghiệp kiểm soát sự phân phối đúng đắn, và tránh phí phạm, đó là những cách biểu lộ tình huynh đệ cần thiết trong thế giới ngày nay.

Trình bày của Đức Cha Mario Toso, SDB

Hiện diện trên bàn chủ tọa cuộc họp báo cũng có Đức Cha Mario Toso, dòng Don Bosco, Tổng thư ký Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình. Ngài nêu nhận xét về những đoạn đầu của Sứ điệp, qua đó ĐTC khẳng định rằng tình huynh đệ nói lên liên hệ tính của con người, và hướng tới sự viên mãn của con người. Xét vì tình huynh đệ có tính chất nội tại nơi con người, ảnh hưởng lớn tới cuộc sống và hoạt động của con người, nên nó là điều tối quan trọng để kiến tạo một xã hội công chính và an bình. Nếu không có tình huynh đệ, thì thật là khó lòng chấp nhận và hòa hợp những khác biệt hợp pháp, sống sự tha thứ và hòa giải, và chắc chắn là rất khó bài trừ nạn tham những lan tràn, sự trốn thuế vì ích kỷ, sự loại trừ và bất công trong các cơ cấu xã hội, cũng vậy rất khó bài trừ sự ”hoàn cầu hóa thái độ dửng dưng” và phá đổ thần tượng tiền bạc, chế độ độc tài của một nền kinh tế vô nhân đạo và không có mục tiêu thực sự là nhân bản. Đó cũng là những tai ương và tệ nạn mà ĐTC Phanxicô đã tố giác trong Tông Huấn ”Niềm vui Phúc Âm”.

Đức Cha Toso cũng nhận xét rằng trong sứ điệp Hòa bình, ĐTC chỉ trình bày một số con đường có thể dẫn đến hòa bình, xuất phát từ sự đón nhận và liên kết nguyên tắc huynh đệ. Những con đường này đi qua các lãnh vực quan trọng như nạn nghèo đói, kinh tế, nạn tham nhũng, chiến tranh, và thiên nhiên. Trong các lãnh vực ấy, ĐTC chỉ đường, nêu lên phương pháp cần theo, và có thể áp dụng chúng cho một số vấn đề khác, nhờ đào sâu và nghiên cứu và thí nghiệm. ĐTC kêu gọi dấn thân mạnh mẽ về phương diện văn hóa, sư phạm và quan điểm, cần có sự động viên của cộng đoàn, khởi hànhtừ sự loan báo tin mừng, hoán cải và giáo dục ở mọi cấp độ, từ tiểu học cho đến đại học.

Trong Sứ điệp, ĐTC kêu gọi cảnh giác đối với thứ tình huynh đệ không tham chiếu siêu việt, thứ huynh đệ này sẽ không tồn tại được. Con người và xã hội nào loại bỏ Thiên Chúa và không nhìn nhận Ngài đang sống giữa họ, thì khó lòng nhìn nhận nhau và sống với nhau như con của cùng một Cha. Tiếp đến, ĐGH Phanxicô nêu rõ rằng đối với mỗi ngừơi và mỗi xã hội, việc đạt tới kinh nghiệm về tình phụ tử của Thiên Chúa, và từ đó đạt tới tình huynh đệ, sẽ trở nên dễ dàng hơn nhờ đón nhận Chúa Giêsu Kitô là Adong mới, được hòa giải với Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc mỗi người với mọi chiều kích của họ, kể cả lý trí được tăng cường hơn. Nhờ sự nhập thể, sự chết và sống lại, Chúa Giêsu gieo vãi trong lịch sử và nơi tâm hồn con người, một tình người huynh đệ hơn, vì hoàn toàn hiệp thông với Thiên Chúa và nhờ đó có khả năng nhìn nhận và sống tình huynh đệ với những người đồng lại, và sống với cả thiên nhiên trên một bình diện khác.

Đức Cha Toso nêu rõ một nhận xét của ĐTC trong sứ điệp, đó là trong thế giới hoàn cầu hóa của chúng ta, có sự gia tăng giàu có và tài nguyên, nhưng đồng thời cũng có sự gia tăng sự chênh lệch và nghèo đói tương đối. Gia đình nhân loại bị chia thành những dân tộc và các nhóm, trong đó một thiểu số ngày càng giàu hơn, trong khi đa số khác ngày càng bị nguy cơ gạt ra ngoài lề. Tình trạng di cư gia tăng mạnh mẽ, kèm theo những hiện tượng đau buồn như nạn buôn người, một số kẻ lợi dụng tình trạng tuyệt vọng của những người khác để làm giàu không chút băn khoăn do dự, và nhiều khi gây ra cái chết cho các nạn nhân.

Ngoài những cuộc chiến bằng võ khí, còn có những cuộc chiến tranh khác ít tỏ tường hơn, nhưng không kém phần tàn ác: nó diễn ra trong lãnh vực kinh tế, tài chánh, bằng những phương thế tàn hạn không kém đối với con người, gia đình, xí nghiệp. Chế độ thực dân xưa kia nay được thay thế bằng những chế độ mới, buộc các nước khác phải tùng phục về kinh tế và chính trị, với những cuộc khai thác bóc lột đất đai và khoáng sản, từ phía các quốc gia hoặc các xí nghiệp nước ngoài, mà dân chúng địa phương không được hưởng các tài nguyên thiên nhiên của đất nước họ; tệ hơn nữa, đất đai và môi trường sống của họ bị ô nhiễm. Tất cả sự chênh lệch, nghèo đói và bất công đó không những cho thấy sự thiếu nền văn hóa liên đới, nhưng còn là dấu hiệu chứng tỏ sự thiếu tình huynh đệ, tạo nên tình trạng nghèo nàn về quan hệ. Vì thế, để có thể sống trong hòa hợp và an bình, nhân loại chúng ta cần có thêm tình huynh đệ được cảm nghiệm, tôn trọng gia đình là tế bào của xã hội, vốn là một nguồn mạch vô tận (1).

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

ĐẤNG PHẢI ĐẾN, ĐÃ ĐẾN

ĐẤNG PHẢI ĐẾN, ĐÃ ĐẾN

Thánh Gioan Tiền Hô không thể không lên tiếng cảnh cáo cách sống vô luân của Hêrôđê Antipas, con của Hêrôđê chung sống với nàng Hêrôđiađê, là vợ của Philipphê, anh ông ta. Và kết quả là ông bị giam trong tù.

Rõ ràng là Thánh Gioan không chỉ kêu gọi mọi người hãy sám hối, hãy dọn đường cho Chúa đến, mà còn chỉ rõ ra việc cần làm ngay, cần khắc phục chấn chỉnh ngay, mà không hề ngán sợ vòng ngục tù lao lý.

Việc Thánh Gioan ở tù, không phải là thất bại của vị ngôn sứ, nhưng là việc phải đến cho người dọn đường cho Chân Lý của Thiên Chúa. Thiên Chúa tôi luyện niềm tin và hy vọng của ngôn sứ của Ngài trong ngục tù trần gian.

Ngục tù trần gian có thể làm cho lòng người ta hoang mang nao núng, nhưng Thánh Gioan đã tìm được phương thế vượt qua điều ấy bằng cách sai các môn đệ mình gặp trực tiếp Chúa Giêsu. “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? “Đức Giê-su trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11, 3-6)

Nghe thuật lại thế nầy, thì chắc chắn Thánh Gioan sẽ liên hệ ngay tới lời tiên báo của Tiên Tri Is 35,1-6a, 10, và như thế, niềm tin của Ông và các môn đệ được Thánh Kinh soi dẫn và củng cố: “Hãy nói với những kẻ nhát gan: “Can đảm lên, đừng sợ! Thiên Chúa của anh em đây rồi; sắp tới ngày báo phục, ngày Thiên Chúa thưởng công, phạt tội. Chính Người sẽ đến cứu anh em. Bấy giờ mắt người mù mở ra, tai người điếc nghe được. Bấy giờ kẻ què sẽ nhảy nhót như nai, miệng lưỡi người câm sẽ reo hò” (Is 35, 4-6)

Đấng Cứu Thế, “Đấng Phải Đến, Đã Đến” là ông Giêsu quá tầm thường như thế, là một con người thật, sống giữa con người và sẻ chia những nỗi bi thương nhất của con người. Ngài đã sẻ chia cách cụ thể là đến thăm dân người, và thi thố quyền năng và tình thương của Thiên Chúa qua các phép lạ. Ở nơi Ngài, chúng ta gặp được bình an, niềm vui, và hạnh phúc mà con người trần gian không ban tặng được. Đó phải là niềm tin của mỗi chúng ta trong những ngày Mừng Đón Chúa Giáng Sinh.

Bởi vậy, Chúa nhật 3 mùa vọng là Chúa Nhật Hồng, một màu hồng của niềm vui Giao Duyên Trời với Đất, niềm vui của Đôi Tân Hôn mà chàng rể là Chúa Giêsu Kitô và hiền thê của Ngài là Giáo Hội, là chúng ta, là mỗi người. Một màu hồng hạnh phúc.

Niềm hạnh phúc là được sống với Chúa Giêsu “Đấng Phải Đến, Đã Đến”. Và cụ thể niềm hạnh phúc ấy, là được sống trong Giáo Hội của Ngài, nơi đây, không chỉ là dung mạo, là khuôn mặt là hình ảnh của Chúa Giêsu mà còn là chính Chúa Giêsu đang tác động trong và qua Giáo Hội.

Bạn và tôi đều có thể đã có hơn một lần cảm nghiệm tuyệt vời về nỗi mong đợi “Đấng Cứu Thế” đến trong Giáo Hội, nơi các Bí tích, và trong cuộc đời

– Hơn một lần bạn và tôi cùng với cả bà con trong Giáo Xứ ước mong và khẩn xin có một Linh Mục đến để dâng Thánh Lễ, và ban các bí tích. Nhất là ở các Giáo xứ vùng sâu, vùng xa thì nỗi khát mong càng mãnh liệt hơn. Một lần như thế, cho chúng ta mỗi cảm thông sâu sắc với những nơi, đến hôm nay, vẫn còn một Mùa Vọng dài đôi ba chục năm, năm bảy chục năm mà chưa thấy bóng dáng “Đấng phải đến, đã đến”.

Hơn một lần, cảm xúc sung sướng trào dâng khi được đón Linh Mục Quản xứ Tiên khởi như đón chính “Đấng phải đến, đã đến”. Có người mừng đến rơi lệ vì cảm nghiệm được ơn Chúa đã thương đáp lại nỗi khát mong của dân Ngài. Và từ cảm nghiệm ấy, chúng ta sống được niềm vui của bao nhiêu giáo xứ, bao nhiêu con người thỏa niềm khao khát

– Gần hơn, thường xuyên hơn, chúng ta đã hồi hộp đợi chờ gặp được Đấng Cứu Thế nơi tòa Giải tội, để xưng thú tội lỗi, để quyết tâm sám hối, để được thứ tha và nhất là để tình yêu nên trọn vẹn.

– Và gần hơn nữa, lòng chúng ta thấy đói, thấy khát của ăn của uống Thường Sinh là chính Mình Máu Thánh Chúa Giêsu qua Bí Tích Thánh Thể.

– Hình ảnh “Đấng Phải Đến, Đã Đến” còn là hình ảnh của những con người đang đứng ngay trước cửa nhà mình, ngay trong cuộc sống thường ngày, nơi những người ta gặp, và nhất là nơi những người nghe và thực hiện công việc của Đấng Cứu Thế là yêu thương nhân loại. Cho dù là linh mục, tu sĩ hay giáo dân và kể cả những người bần cùng tội lỗi bệnh tật yếu đuối nhất trong nhân loại, khi đã đến với mỗi chúng ta, thì thiết nghĩ việc tiếp đón của chúng ta cũng phải đàng hoàng như tiếp đón “Đấng phải đến, đã đến”.

Một người bạn làm gương cho tôi việc nầy, là anh ta chọn cho mình câu “Đấng phải đến, đã đến” làm kim chỉ nam cho cuộc đời mình. Và điều đã xảy ra là anh ta luôn sẵn lòng lịch sự, yêu thương và sẻ chia với hết mọi người. Anh ta có một cuộc sống bình an, hạnh phúc, vì anh ta không những tiếp đón “đấng phải đến đã đến” mà còn sống tinh thần của Đấng Cứu Thế là đem lại niềm vui cho mọi người.

Gần đây, trong Giáo Hội và ngay tại Giáo Hội Việt nam, lại trổ ra những tâm thức nghi hoặc, hoang mang, bất ổn, vẫn đặt câu hỏi với Giáo Hội rằng “Ông có phải đấng phải đến hay chúng tôi còn phải đợi đấng khác”. Xảy ra điều ấy, vì có tư tưởng nghi hoặc rằng người này, người kia, không phải “Đấng Nhân Danh Chúa Mà Đến”, nhưng lại là nhân danh mình hoặc nhân danh nhà nước thế gian mà đến.

Đáng tiếc thay, vì thiếu cảnh giác hoặc vì chủ quan, đã tạo cơ hội cho những sự hỗn độn của trần gian len lõi vào bên trong nội thất của Giáo Hội để làm mất đi sự bình an hiệp nhất và cả sự thánh thiện cần có. Vì thế, thay vì “Đấng phải đến đã đến” đem niềm vui, niềm hy vọng cho dân Chúa thì “người đã đến” đem lại cho dân Chúa bao nỗi sầu thương thất vọng, thay vì giải thoát dân Chúa khỏi những bức bách thì lại đặt vào cổ dân đen những ách nặng nề.

Trong giai đoạn hỗn độn do những kịch bản của ma quỷ, làm chúng ta bán tín bán nghi về sự chân chính của sứ vụ mỗi người, tạo nên những thất vọng và mất kiên nhẫn, Thánh Giacôbê đã kịp thời gửi thông điệp đến chúng ta. “Thưa anh em, anh em đừng phàn nàn kêu trách lẫn nhau, để khỏi bị xét xử. Kìa Vị Thẩm Phán đang đứng ngoài cửa. Thưa anh em, về sức chịu đựng và lòng kiên nhẫn, anh em hãy noi gương các ngôn sứ là những vị đã nói nhân danh Chúa” (Jac 5, 9-10)

Lời Chúa chúa nhật thứ ba mùa vọng mang đến cho chúng ta niềm vui nhưng cũng nhắc nhở cho mỗi chúng ta phải trở thành một niềm vui cho người khác.

Niềm vui ấy là làm cho “Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”.

Và cụ thể hơn trong toàn cảnh Việt Nam, niềm vui ấy là làm cho người xa rời nhà thờ trở về với Hội Thánh Chúa, người nghèo khổ bất hạnh có được niềm an ủi, được thăm viếng; người bệnh tật được giúp đỡ, người bị áp bức được đồng thanh tiếp cứu, công lý, sự thật được tôn trọng và nhất là nhân phẩm con cái của Thiên Chúa được bảo vệ đúng mức, không thể để cho thế lực gian tà chà đạp.

Lạy Chúa, chúng con được vui mừng tiếp đón Đấng Cứu Thế. Xin cho cuộc sống chúng con mang lại niềm vui cho mọi người. Amen.

PM. Cao Huy Hoàng

VỞ KỊCH CÒN DANG DỞ

VỞ KỊCH CÒN DANG DỞ

Chủ đề: Thánh Gioan tiền hô là sứ giả, còn Chúa Giêsu là Ðấng Thiên Sai (Mêsia). Chúng ta phải hoàn tất công việc của hai Ðấng.

Nathaniel hawthorne là một văn sĩ người Mỹ, vào năm 1864 ông mất đi mà trên bàn viết vẫn còn bản phác thảo của một vở kịch mà không may ông chưa hoàn tất được. Vở kịch này tập trung vào một nhân vật chưa hề xuất hiện trên sân khấu. Mọi người đều nói, đều mơ, đều chờ đợi nhân vật này đến nhưng vị ấy chẳng hề đến. Tất cả các nhân vật phụ đều đồng loạt mô tả nhân vật chính ấy. Họ kể cho mọi người nhân vật chính ấy sẽ như thế nào, sẽ làm những gì. Tuy nhiên nhân vật chính ấy đã chẳng xuất hiện.

Toàn bộ Cựu ước cũng giống như vở kịch của Nathaniel Hawthorne bỏi vì Cựu ước chấm dứt mà không có đoạn kết.

Trên dòng sông Giôđan có một khúc cạn nước, cách Biển Chết không xa. Như người ta còn ghi nhớ, đây là chỗ băng qua sống thuận tiện cho các đoàn tuần hành có xe ngựa kéo, các thương buôn và các du khách từ khắp nơi trên thế giới. Ðây cũng là chỗ đại chúng thường gặp gỡ nhau để trao đổi đủ thứ tin tức từ khắp mọi nơi. Chính tại chỗ này, Gioan Tẩy Giả đã rao giảng và rửa tội cho dân chúng. Ông cũng bận áo da thú giống như các tiên tri thuở xưa. Và đám dân bắt đầu thắc mắc: “Ông này là ai vậy? Ông ta có phải là Ðấng Mesia được Chúa hứa không? Hay ông là vị sứ giả dọn đừơng cho Ðấng Mesia?”

Trong bài phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu sẽ trả lời cho những câu hỏi này.

Ngài nói với dân chúng: “Gioan là kẻ mà Thánh Kinh đã nói: “Ta sẽ sai sứ giả Ta đi trước con để mở đường cho con”. Chúa Giêsu cũng trả lời câu hỏi khác mà đám môn đệ của Gioan Tẩy Giả đặt ra cho Ngài: “Có phải Ngài là Ðấng mà Gioan bảo sẽ phải đến, hay chúng tôi còn phải mong chờ Ðấng khác?” Ðể trả lời câu hỏi này, Chúa Giêsu liền trưng ra những lời của tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Khi nói về Ðấng Mesia, Isaia bảo rằng những dấu hiệu sau đây sẽ là bằng cứ xác nhận lai lịch vị ấy: “Người mù sẽ thấy được và người điếc sẽ nghe được. Kẻ què sẽ nhảy múa và người câm sẽ reo vui”.

Chủ ý của Giêsu thực là rõ ràng. Ngài trình bày ra những phép lạ Ngài đã làm – cho người mù thấy, kẻ điếc nghe, người què bước, kẻ câm nói được. Ðây là những dấu hịêu mà các lời tiên tri báo trước rằng sẽ phải ứng nghiệm khi Ðấng Mesia đến.

Như vậy, bài Phúc Âm hôm nay muốn nói gì cho anh chị em cũng như cho tôi? Xin thưa đó là sứ điệp sau: Chúa Giêsu là Ðấng Mesia đã được các vị ngôn sứ tiên báo và Ngài đã thiết lập vương quốc Thiên Chúa trên trần gian đúng như các tiên tri báo trước. Tuy nhiên Chúa Giêsu uỷ thác cho chúng ta nhiệm vụ hoàn tất vương quốc ấy. Ngài giao phó cho chúng ta việc xây dựng nước Chúa trên trần gian này. Vào lúc thế mạt, Chúa Giêsu sẽ trở lại để phán xét chúng ta về công việc này.

Người Roma xưa có thời một vị thần tên là Janus. Từ đó chúng ta có danh từ January (tháng giêng). Vị thần này được các hoạ sĩ mô tả bằng hình đầu người có hai mặt: một mặt nhìn về đằng sau, mặt kia nhìn về đằng trước. Mùa vọng cũng tương tự như thế. Nó nhìn về hai phía: một đàng nhìn lại lần giáng sinh đầu tiên của Chúa Giêsu trong lịch sử, đằng khác là hướng đến cuộc tái giáng của Ngài vào cuối lịch sử.

Anh chị em cũng như tôi đang đứng ở giữa hai biến cố lịch sử trọng đại này. Phận vụ chúng ta không phải là cứ lè phè ngồi chơi trên đỉnh đồi ngoái cổ về đằng sau và ngóng trông về đằng trước, mà phải xăn tay áo lên dấn thân vào công việc Chúa Giêsu đã trao phó cho chúng ta khi Ngài đến lần đầu tiên trong lịch sử.

Nói một cách cụ thể, điều này có ý nghĩa gì? Nghĩa là chúng ta phải xây dựng nước Chúa trên trần gian, phải đem yêu thương lắp đầy ganh ghét, đem thứ tha che phủ hận thù, đem chân lý thay cho giả trá, đem sự cảm thông Kitô giáo thay cho sự vô cảm lạnh lùng. Tóm lại, chúng ta phải xây dựng một kiểu thế giới mà chính Chúa Giêsu sẽ dụng xây nếu Ngài ở vào vị trí chúng ta.

Ðó chính là sứ điệp trong các bài đọc hôm nay. Sứ điệp ấy minh chứng Chúa Giêsu là Ðấng Mesia, Ngài sẽ trở lại vào chung cục lịch sử và sẽ phán xét chúng ta về việc chúng ta đã xây dựng nước Chúa trên trần gian này như thế nào.

Vậy chúng ta hãy kết thúc với lời tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu, là Ðấng Mêsia cũng là Ðấng Cứu Ðộ chúng ta:

Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con tin Chúa đã đến trần gian đầy ganh ghét này để giúp chúng con xây dựng nó thành thế giới của tình yêu.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con tin rằng Chúa đã đến với chúng con để giúp chúng con cũng biết đến kẻ khác.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con tin rằng Chúa hiểu chúng con, ngay cả khi chúng con không hiểu được chính mình.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con tin rằng Chúa luôn luôn ở với chúng con cho dù chúng con không luôn luôn sống với Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,

Chúng con tin rằng Thiên Chúa là Cha chúng con, bởi vì chính Chúa đã đối xử với chúng con như anh chị em của Chúa.

Lm. Mark Link, S.J.

ĐI ĐẾN CÙNG SỨ VỤ

ĐI ĐẾN CÙNG SỨ VỤ

Ngày 5/12, cựu tổng thống Nam Phi-Nelson Mandela qua đời ở tuổi 95. Ông là người lãnh đạo phong trào xóa bỏ chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid ở Nam Phi, giúp cho người da đen được hưởng các quyền bình đẳng như thiểu số da trắng.

Bước ra ánh sáng sau 27 năm bị giam cầm vào năm 1990, việc đầu tiên Mandela làm là tìm cách hòa giải một dân tộc bị chia rẽ bởi thù hận và định kiến trong hàng thế kỷ qua.Ông hiểu rằng hòa giải không thể thiếu sự thật: nếu tội ác của chế độ Apartheid không được làm sáng tỏ và công lý không được thực thi thì người dân Nam Phi sẽ sống trong một nền hòa bình rất mong manh, chỉ cần một biến cố nhỏ là bạo lực sẽ lại bùng phát.

Ông biết rằng, nếu đi tìm công lý bằng một cuộc tắm máu khác, chắc chắn đất nước sẽ bị đẩy vào vòng nội chiến.Ông đã dùng tài ngoại giao, trí thông minh, và cả trái tim bao dung của mình để “đi trên dây” giữa hai làn ranh giới.Một mặt ông đi gặp những nhà lãnh đạo của người Afrikaner, chủng tộc da trắng nắm quyền trong chế độ apartheid để đàm phán về tương lai đất nước. Mặt khác, ông tích cực thuyết phục quần chúng giận dữ phải giữ bình tĩnh vì lợi ích chung.

Ông nói với những thành phần cực đoan muốn trả nợ máu với người da trắng ở Johannesburg vào năm 1993: “Tôi là lãnh đạo của các bạn. Nếu các bạn không cần tôi nữa, thì tôi sẽ lui về nghỉ. Nhưng chừng nào tôi còn làm lãnh đạo, tôi phải lên tiếng rằng: điều chúng ta đang làm là rất sai”. Đám đông này sau đó tự động giải tán.

Để xử lý vấn đề tội ác của chế độ Apartheid, Mandela đã lựa chọn một giải pháp mà chưa từng một lãnh đạo nào trong hoàn cảnh của ông thực hiện.Thay vì tạo ra một phiên toàn xét xử tội ác của chế độ như thông thường, ông cho thành lập “Ủy ban Sự thật và Hòa giải” với mục đích đúng như tên gọi của nó: làm lành đi những vết thương quá khứ. Nạn nhân kể về những tội ác mà họ đã chứng kiến hoặc trải qua dưới chế độ apartheid, và những kẻ cầm quyền cũ sẽ được khoan hồng nếu thừa nhận những tội ác mà họ gây ra.

Với tài năng của một chính trị gia, và hơn tất cả là một trái tim biết khoan dung, Nelson Mandela đã tạo ra sự khởi đầu cho điều kỳ diệu ở Nam Phi: từ một quốc gia bị chia rẽ sâu sắc bởi chủng tộc, Nam Phi trở thành một “đất nước cầu vồng,” nơi tất cả màu da đều được tôn trọng và đối xử bình đẳng. Nam Phi vươn lên thành quốc gia giàu nhất ở lục địa Đen, có mặt trong nhóm các quốc gia “quyền lực mới” BRICS, và xây dựng lên một xã hội tự do và hiện đại (x. Khắc Giang, tuanvietnam.net).

Ông Mandela đã trải qua gần 30 năm ngục tù vì cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng cho người da màu. Vị Tổng thống này đã được trao giải Nobel Hòa bình vào năm 1993.

Lên tiếng cho Sự thật và lương tri, Thánh Gioan Tiền Hô, vị Ngôn sứ công lý bị nhốt vào tù ngục. Xã hội Do Thái thời Gioan có rất nhiều tệ đoan. Quốc gia bị chính quyền La Mã đô hộ. Trong nội bộ lại có sự chia rẽ trầm trọng giữa các đảng phái chính trị và tôn giáo. Bất công, tham nhũng và vô luân lan tràn từ trên xuống dưới, nơi những nhà lãnh đạo dân sự cũng như tôn giáo.Vua Hêrôđê có đời sống loạn luân, cướp vợ của em trai mình. Người ta cảm thấy rất khó chịu khi có ai dám sửa sai, dám nói thẳng về những lỗi lầm của mình. Người cầm quyền càng khó chịu hơn và thường dùng quyền lực để đàn áp. Vì thế quyền lực thường tạo nên sợ hãi và im lặng. Gioan rất nhạy bén trước tội lỗi nên đã can đảm tố cáo tội của tiểu vương Hêrôđê, bất chấp hậu quả tù đày. Hêrôđê người đàn ông quyền lực và ham mê sắc dục, gian dìu với Hêrôđiađê, người đàn bà đẹp nhưng ham mê quyền bính. Hai con người đó làm nên bi kịch của lịch sử. Ai cũng sợ hãi, không dám nói. Chỉ có Thánh Gioan Tiền Hô lên tiếng phản đối nên đã bị tống giam. Bênh vực công lý, nói lên sự thật đã đưa Gioan tới cái chết. Chết là cái giá rất đắt cho chứng nhân bảo vệ công lý, bảo vệ thuần phong mỹ tục, bảo vệ cho các giá trị đạo đức truyền thống.

Theo truyền thống Do thái, đa số ngôn sứ đều là những người bị ngược đãi, bị bách hại và bị giết chết. Truyền thống nói rằng ngôn sứ Isaia bị xử tử, ngôn sứ Mikha bị lăng nhục, ngôn sứ Giêrêmia bị đánh đòn và bị tống giam vào tù, chưa nói đến biết bao ngôn sứ bị giết chết dưới triều đại vua Akháp và vua Giôakim, và cũng có thể dưới triều đại vua Manasê vô đạo. Ngôn sứ Gioan thật cương nghị với lối sống không hề cúi gập người lại trước những bậc quyền quý (x.Mt 14,3-12). Thực thi công lý nên Gioan là một ngôn sứ nói nhân danh Thiên Chúa và đáng tin (x.Mt 21,26.32).

Thánh Gioan đã từng trải qua những giờ phút vinh quang khi dân chúng kéo đến với ông trong sa mạc, bên bờ sông Giođan xin ông làm phép rửa. Giờ đây, thời vàng son đã khép lại. Chỉ còn các môn đệ liều mình vào tù thăm nuôi rồi kể chuyện bên ngoài cho Gioan nghe.

Thánh Gioan băn khoăn lo lắng khi nghe tường thuật về Chúa Giêsu thường giao du với những kẻ tội lỗi, vào trong nhà người tội lỗi, đồng bàn với họ và tha thứ tội lỗi cho họ. Ngôn Sứ Tiền Hô đang ở trong tù mà không được Đấng Cứu Thế đến giải thoát.Nổi khắc khoải cào cứa trong lòng.Vì thế, Gioan đã sai các môn đệ đến hỏi thẳng Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn đợi ai khác?”.

Trước đây, Gioan đã từng giới thiệu về Chúa Giêsu cho dân chúng: “Tôi lấy nước mà rửa anh em, song có Đấng đến sau tôi, tôi không xứng đáng cởi giây giày cho Người” (Mt 3,11); “Chính Đấng ấy sẽ rửa anh em bằng nước và Thánh Thần”. Gioan cũng đã giới thiệu với các môn đệ về Chúa Giêsu: “Đây chính là chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Ga 1,29).

Gioan không ngừng loan báo cho dân chúng uy thế của Đấng sẽ đến. Theo cách diễn tả cùng với những hình ảnh kèm theo, dường như chính ông cũng đang mong chờ Đấng ấy như một vị thẩm phán nghiêm minh. Đấng ấy sẽ không nương tay, Nguời sẽ thực thi công bình và sẽ tiêu diệt, sẽ “rê sạch thóc”, sẽ đem số “thóc lép”, tức là những kẻ làm điều gian ác, ném vào lửa đời đời. Đối với Gioan, Đấng Cứu Thế đến giải phóng Ítraen cả trong phạm vi trần thế nữa, về chính trị và kinh tế như kiểu một vị vua Do Thái bách chiến bách thắng để đem vinh quang nước Ítraen lên tột đỉnh. Gioan nóng lòng vì chưa thấy Chúa Giêsu thực thi sứ vụ theo sứ điệp “dữ dội” mà ông rao giảng, nên Gioan muốn hỏi rằng: có phải Thầy là vị cứu tinh phải đến để bài trừ những tệ đoan, bất công và tham nhũng trong xã hội không?

Những lời nói và việc làm của Chúa Giêsu lại không phù hợp với những gì ông đã rao giảng. Chúa Giêsu xuất hiện như một vì tôi tớ hơn là một Đấng quân vương. Người cũng không giống như quan toà nghiêm minh thẳng tay trừng phạt kẻ tội lỗi. Trái lại, Người luôn luôn yêu thương, kêu gọi họ trở về, đồng bàn với họ. Đối với người nghèo khổ, bệnh hoạn tật nguyền, Người hết mực yêu thương, bao bọc chở che chăm sóc chữa lành chứ không xa lánh khinh khi vì sợ lỗi luật như các Rabbi. Chính vì thế, khủng hoảng niềm tin của Gioan Tẩy Giả cũng là điều dễ hiểu. Trong hoàn cảnh ngục tù, Gioan đã biết tìm đến Chúa Giêsu để tìm sự giải đáp cho những thao thức canh cánh trong lòng. Và Gioan đã tìm thấy.

Chúa Giêsu không bị giới hạn trong cái nhìn chật hẹp của Gioan. Người muốn Gioan mở rộng tầm mắt với một lối nhìn mới mẻ, phong phú hơn: ″Các anh cứ về tường thuật cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch,người chết sống lại, và Tin mừng được loan báo cho người nghèo khó” (Mt 11,4-5).

Như vậy, Chúa Giêsu đã trả lời bằng cách trích dẫn ba đoạn văn Isaia đều có hậu cảnh Mêsia: Is 29,17-18: người điếc được nghe, người mù được thấy; Is 26, 19: người chết sống lại; Is 61,1: loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Chúa bảo họ hãy về thuật lại những việc Chúa đã làm và những lời Chúa đã nói, những điều đó đủ minh chứng Người là ai. Những điều đó đã được các ngôn sứ loan báo từ dọc dài lịch sử rồi. Trả lời như vậy là Chúa Giêsu gián tiếp bảo cho họ biết: Người không phải là một vị cứu tinh đầy uy quyền, đến giải phóng dân tộc Do Thái như họ mong đợi. Đồng thời Chúa trực tiếp xác nhận sứ mạng và quyền năng của Người: là con Thiên Chúa, là Đấng Thiên Sai đem ơn cứu độ cho mọi người.

Chúa Giêsu còn biểu dương, ca ngợi Gioan Tẩy Giả trước mặt dân chúng, trước sự chứng kiến của các môn đệ. Người tôn vinh ông, bởi lẽ ông là một Ngôn sứ vĩ đại nhất trong số các Ngôn sứ. Người tôn vinh ông, bởi ông là con người của khổ hạnh nơi hoang địa, là vị Ngôn sứ được mong đợi, là vị Tiền hô đến trước để dọn đường cho Đấng Thiên sai như Ngôn sứ Malakhi đã loan báo : “Này ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con, người sẽ dọn đường cho Con đến”. Khi nghe môn đệ thuật lại những điều này, Gioan Tẩy Giả hẳn phải vui mừng, bởi Chúa Giêsu không chỉ củng cố, không chỉ giải đáp những hoang mang lo lắng của ông, Người còn khích lệ, tán dương ông, giúp ông vượt qua những thử thách ngục tù để có thể chấp nhận cái chết tử đạo mà ông sẽ lãnh nhận không lâu sau đó. Trong tù, Gioan đã có thời gian để chiêm niệm.Cần phải thay đổi nhận thức và quan điểm của mình về Thiên Chúa. Quyền năng Thiên Chúa là quyền năng của tình thương. Đấng Cứu Thế đi đến đỉnh cao quyền năng là đồi Canvê và thập giá. Từ nay, Gioan hiểu hơn về Đấng mà mình loan báo. Giờ đây Gioan hiểu rằng, Đấng Mêsia mà ông loan báo không phải đến trần gian theo những quan niệm thuần tuý về chính trị, Người đến để rao giảng nước Thiên Chúa và cứu độ nhân loại. Thánh Gioan hạnh phúc an bình ra đi sau khi hoàn tất sứ vụ của mình.

Thánh Gioan Tẩy Gỉa đã trải qua những thách đố trong sứ vụ. Chính Ngài đã giới thiệu Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế nhưng khi lâm cảnh đau khổ ngục tù không thấy ai giải thoát nên đâm ra nghi ngờ. Nhưng cuối cùng, Gioan đã chứng minh một niềm hy vọng kiên cường. Ngài không phải là cây sậy yếu mềm chao nghiêng trước gió mà chính là một tượng đài bất khuất của lẻ cậy trông. Hạng người khom lòng cúi gập mình chẳng bao giờ có thể trở thành người tử đạo. Gioan không phải là một người bình thường cũng không phải là người hèn yếu như cây sậy bị xiêu đổ dưới cơn gió. Niềm hy vọng chính là sức mạnh giúp Gioan và tất cả những ai đang gặp thách đố biết kiên vững kinh qua tất cả.

Khi chúng ta gặp đau khổ thử thách, đức tin, lòng cậy trông, niềm hy vọng bị lung lay chao đảo. Hãy nhớ Thánh Gioan đã chịu như thế và các tiên tri trong lịch sử cũng mang tâm trạng như vậy. Thánh Gioan không chết trong thất vọng mà chết trong đức tin, chết trong niềm hy vọng, đã đi cho đến cùng sứ mạng làm chứng cho Tin mừng.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

DUNG MẠO ĐỨC KITÔ

DUNG MẠO ĐỨC KITÔ

Thánh Gioan Tiền Hô là một vị tiên tri cương trực. Ngài không hề run sợ trước thế lực, cường quyền. Ngài chỉ quan tâm một điều: làm chứng cho chân lý. Khi Hêrôđê Antipas cướp vợ của người anh, thánh nhân đã không ngần ngại lên tiếng công kích hành động vô luân của nhà vua. Vì thế mà thánh nhân bị bắt giam trong ngục Machéronte. Khi bị giam trong ngục, thánh nhân vẫn theo dõi những hoạt động của Chúa Giêsu. Hôm nay thánh nhân sai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu một câu hỏi gây ngỡ ngàng cho ta: “Ngài có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi còn phải chờ đợi một Đấng khác?”.

Thật lạ lùng đến khó hiểu. Người đi mở đường, người giới thiệu Đấng Cứu Thế nay lại nghi ngờ Người mà mình giới thiệu. Đó là bi kịch của thánh Gioan Tiền Hô. Câu hỏi cho thấy thánh nhân ở trong một tâm trạng hoang mang. Đức tin của ngài chao đảo. Nửa tin nửa ngờ.

Sự hoang mang của thánh Gioan Tiền Hô đến do hai nguyên nhân sau:

1) Nguyên nhân thứ nhất: Chúa Giêsu có những việc làm khác với lời Gioan loan báo

Thánh Gioan Tiền Hô đã loan báo một Đấng Cứu Thế uy nghiêm, đến để trừng phạt nhân loại. Trong Phúc Âm tuần trước, thánh nhân đã răn đe người Do Thái: Búa rìu đã để sẵn ở gốc cây, cây nào không sinh trái sẽ bị đốn cho vào lò lửa. Thiên Chúa đến cầm sàng mà rê thóc. Thóc sẽ được cho vào kho, còn rơm, trấu sẽ bị cho vào lò lửa đốt đi. Sứ điệp quả thật là dữ dội, bởi loan báo ấy đã gây xôn xao sợ hãi. Thế mà khi Chúa Giêsu đến, Người đã hành động khác hẳn. Không oai phong, quyền lực, Chúa Giêsu tỏ ra là Đấng Cứu Thế tràn đầy lòng nhân từ: “Người không bẻ gẫy cây lau bị dập, không dập tắt tim đèn còn khói”. Gioan Tiền Hô loan báo sự trừng phạt. Nhưng Chúa Giêsu lại đến để cứu chữa, tha thứ. Chúa Giêsu nói: “Con người đến không phải để lên án, nhưng để cứu chữa”. “Chỉ những người bệnh mới cần đến thầy thuốc”. Thật là trái ngược. Trách nào Gioan chẳng hoang mang.

2) Nguyên nhân thứ hai: Gioan bị giam trong tù

Ông bị ngược đãi, tất nhiên. Hơn nữa ông cảm thấy mình thất bại. Đi rao giảng sự công chính nhưng chỉ gặp bất công. Đi rao giảng ơn giải thoát nhưng lại bị giam cầm. Hết rồi những sứ điệp rực lửa. Hết rồi thời hy vọng tràn đầy. Thê thảm hơn nữa, ông tự hỏi: Sao Đấng Cứu Thế không đến giải thoát mình? Sao Ngài để cho sứ giả của Ngài mòn mỏi trong tù? Sao Ngài để cho bạn hữu bị khinh miệt cười chê? Lời sấm của Isaia còn rành rành: “Đấng Cứu Thế sẽ mở cửa phóng thích tù nhân”. Thế mà sao chờ đợi hoài chẳng thấy. Và Gioan nghi ngờ: hay Ngài không phải là Đấng Cứu Thế. Bị giam cầm, bị ngược đãi, Gioan còn có thể chịu được. Nhưng mối nghi ngờ gặm nhấm, thiêu đốt tâm hồn ông. Ông e sợ mình đã lầm đường, lầm người. Không nén lòng được, ông đã sai môn đệ đến hỏi thẳng Chúa Giêsu: “Ngài có phải là Đấng Cứu Thế, hay chúng tôi phải chờ đợi một Đấng khác?” Câu hỏi táo bạo nhưng quan trọng, vì quyết định cả ý nghĩa cuộc đời Gioan.

Trước câu hỏi ấy, Chúa Giêsu không trả lời trực tiếp. Nhưng chỉ yêu cầu các sứ giả về thuật cho Gioan những việc Ngài làm: “Cho kẻ mù xem thấy, kẻ què đi được, người cùi lành lặn, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng”.

Với câu trả lời ấy, Chúa Giêsu nhắc Gioan nhớ lại lời sấm của Isaia về Đấng Cứu Thế. Đồng thời cũng thanh luyện cái nhìn của ông về dung mạo Đấng Cứu Thế.

Đấng Cứu Thế không phải là vị vua oai phong từ trời ngự xuống trên đám mây. Nhưng chỉ là một hài nhi bé nhỏ sơ sinh xuất hiện giữa loài người như một mầm cây bé bỏng.

Đấng Cứu Thế không phải là vị vua sang trọng ngự trong cung điện nguy nga. Nhưng chỉ là anh thợ mộc nghèo hèn sống trong một làng quê hẻo lánh.

Đấng Cứu Thế không phải là vị quan tòa oai nghiêm hét ra lửa, thở ra khói. Nhưng chỉ là một lương y hiền từ đến chữa lành những vết thương, an ủi những ưu sầu, nâng đỡ người yếu đuối, tha thứ kẻ tội lỗi.

Đấng Cứu Thế không đến trong vinh quang huy hoàng, trong chiến thắng rực rỡ. Nhưng chỉ âm thầm và tình nghĩa như một người bạn thân thiết.

Đấng Cứu Thế không đến trong hàng ngũ những người quý phái có địa vị cao trọng trong xã hội. Nhưng lui tới với những người bé nhỏ nghèo hèn, những thành phần bị gạt ra bên lề xã hội.

Câu trả lời của Chúa Giêsu khiến tôi tỉnh ngộ. Chúa Giêsu đã cho tôi một hình ảnh trung thực về dung mạo Đấng Cứu Thế. Qua câu trả lời đó, Chúa Giêsu cũng muốn nói với tôi rằng: Nếu con muốn Giáo Hội là hình ảnh đích thực nguyên tuyền của Thày, con hãy xây dựng một Giáo Hội không quyền lực, không tiền bạc, không phô trương. Hãy làm cho Giáo Hội mang dung mạo của Thày: một dung mạo khiêm tốn, nghèo hèn, bình dị, thân ái và nhân từ. Nếu con muốn tiếp tục sứ mạng của Thày, hãy chạy trốn quyền lực, hãy sợ hãi tiền bạc, hãy tránh thói phô trương. Hãy yêu thích những việc âm thầm bé nhỏ. Trước hết hãy đến với những người nghèo hèn. Hãy bắt đầu bằng tình thương. Vì chỉ có tình thương mới cứu được thế giới.

Ta đang chờ đón Chúa đến. Hãy cảnh giác. Chúa không đến trong một biến cố kinh thiên động địa. Chúa không có những pha biểu diễn ngoạn mục. Chúa không đến trong những thành công rực rỡ. Chúa không đến trong uy tín hay quyền lực. Chúa sẽ chỉ đến rất âm thầm, bé nhỏ nhưng đầm ấm tình người. Chúa sẽ đến trong một bàn tay kín đáo nâng đỡ. Chúa sẽ đến trong một nụ cười khích lệ. Chúa sẽ đến trong một cái bắt tay thân ái. Chúa đến chỉ thoáng qua. Nơi nào có dấu hiệu của tình thương, nơi đó đang vẽ nên dung mạo của Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho con nhận ra dung mạo đích thực của Chúa, để con biết đón tiếp Chúa trong Mùa Giáng Sinh năm nay. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Đức Thánh Cha đã khiêm nhường xin lỗi Trung Quốc. Bạn nghĩ sao về cử chỉ này? Cử chỉ của Đức Thánh Cha có làm tổn thương đến uy tín của Giáo Hội không?

2) Bạn muốn một Giáo Hội yêu thương phục vụ hay một Giáo Hội cai trị quyền uy?

3) Bạn nghĩ gì về những lầm lỗi trong Giáo Hội?

4) Bạn phải làm gì để làm chứng cho Chúa. Bằng những việc lớn lao hay bằng những việc nhỏ bé hằng ngày?

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Vững tâm

Vững tâm

Vào một ngày đẹp trời, có một ông cụ ngồi trên ghế xích đu vẻ đăm chiêu, lòng mong đợi Chúa đến. Tình cờ một bé gái tung banh rơi vào sân nhà ông. Cô bé chạy lại nhặt trái banh và mở lời làm quen: “Thưa ông, ngày nào ông cũng ngồi trên ghế này, ông đang chờ đợi ai vậy?” Ông nói: “Cháu còn quá nhỏ làm sao hiểu được điều ông mong đợi.” “Ông à, mẹ cháu nói rằng nếu có điều gì trong lòng, thì hãy nói ra mới hiểu rõ hơn.” Nghe cô bé nói thế, ông liền thổ lộ tâm tình: “Ông đang chờ đợi Chúa đến.” Cô bé kinh ngạc, ông già giải thích: “Trước khi nhắm mắt, ông muốn tin chắc rằng có một Thiên Chúa hiện hữu. Ông cần một dấu hiệu, cháu à.” Bấy giờ cô bé lên tiếng: “Ông chờ một dấu hiệu hả? Thưa ông, Chúa đã cho ông dấu hiệu rồi: Mỗi khi ông hít thở không khí, nghe tiếng chim hót, nhìn hạt mưa rơi… Chúa cho ông dấu hiệu trong nụ cười trẻ thơ và trong nước mắt người đau khổ. Ông ơi, Chúa ở trong ông. Chúa ở trong cháu. Chúa luôn hiện diện nơi đây.”

Thiên Chúa vô hình hiện diện mọi nơi và trong mọi lúc. Thiên Chúa luôn đồng hành với dân Ngài đã chọn để chuẩn bị đón nhận ơn cứu độ. Mầu nhiệm về Thiên Chúa Ngôi Hai được hé mở từng bước. Trải qua lịch sử cứu độ, dân chúng luôn khao khát mong chờ một chung cục được tự do giải thoát. Qua từng giai đọan, Thiên Chúa đã sai các tiên tri đến kêu gọi lòng trung tín, sự phấn chấn và khuyến khích hướng dẫn dân chúng. Tiên tri Isaia đã khơi dậy niềm hy vọng: “Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan.” (Is 35,1). Hình ảnh cảnh hoang địa trơ trọi, khô cằn và cạn nguồn mong đợi suối nguồn sự sống. Isaia khơi lên tia hy vọng của sự vui mừng và hân hoan. Dân Chúa phải trải nghiệm nhiều thăng trầm khổ ải qua các thế hệ để mong chờ Đấng Cứu Thế đến. Isaia loan báo: “Hãy can đảm lên, đừng sợ hãi! Kìa Thiên Chúa các ngươi sẽ đem lại điều báo ứng; chính Thiên Chúa sẽ đến và cứu độ các ngươi.” (Is 35,4).

Trong bất cứ một dự kiến nào muốn đạt kết quả tốt, chúng ta đều phải kiên nhẫn đợi chờ mọi sự diễn tiến. Vấn đề niềm tin sống đạo cũng thế, chúng ta không thể cắt bớt thời gian. Sự gì đến ắt sẽ đến. Thánh Giacôbê nhắc nhở các tín hữu: “Anh em hãy kiên nhẫn chờ ngày Chúa đến. Kìa xem người nông phu trông đợi hoa màu quý báu của đồng ruộng, kiên nhẫn đợi chờ mưa xuân và mưa thu.” (Gc 5,7). Hình ảnh của bác nông phu nơi ruộng rãy cày bừa và trồng trọt là hình ảnh rất đẹp và chính xác. Chính xác cả về phẩm lẫn lượng, cả về thời gian và không gian. Kiên nhẫn đợi chờ là một đức tính tốt trong đời sống đạo. Mọi sinh họat của đời sống Giáo Hội trên trần thế cần phải được thử thách, tôi luyện để phát triển và trưởng thành. Thời gian là của Chúa. Mầu nhiệm ơn cứu độ được lồng vào đời sống của con người theo sự phát triển tự nhiên của xã hội loài người. Chúng ta không thể đi những bước nhảy vọt trong cuộc sống đạo nhưng phải kiên trì phấn đấu từng bước.

Sự kiên tâm sống đạo đòi hỏi mỗi tín hữu phải cố gắng không ngừng. Mời gọi tu tâm luyện tính và tập tành các nhân đức trong đời sống hằng ngày. Đời sống đạo, nếu chúng ta không gieo, lấy gì mà gặt. Trong Giáo Hội có biết bao nhiêu dòng tu, tu hội và hội đoàn, các tu sĩ nam nữ miệt mài thanh luyện đời sống trong cầu nguyện và tu thân để nên trọn lành. Là người tín hữu cũng thế, chúng ta cần trải nghiệm những thử thách, phấn đấu, kiên trì sống đạo và hành đạo. Không hy sinh khổ luyện, làm sao có thể vững bước trên đường nhân đức. Chúng ta đừng nhẹ dạ để rơi vào những hình thức kéo lôi phù phiếm và cảm xúc nhất thời. Muốn được lãnh nhận ân sủng của Chúa, chúng ta cần chuẩn bị tâm hồn thanh sạch, sống đời ngay thẳng và thực hành tin yêu. Nếu chúng ta chỉ cậy dựa vào những nghi thức bề ngoài thì không thể sinh hiệu quả biến đổi nội tâm. Trong hiện tại có nhiều khuynh hướng hành đạo giống như kiểu ‘mì ăn liền’. Họ nghĩ rằng cứ thực hành đủ các thủ tục nghi thức là đương nhiên sẽ nhận ân sủng nhãn tiền. Sự kiên trì tin đạo, sống đạo và hành đạo trưởng thành đòi hỏi niềm tin và cam kết nhiệt thành. Chúng ta cần vun xới và củng cố lòng tin qua mọi biến cố cuộc đời.

Ông Gioan Tẩy Giả đang bị giam giữ cũng nóng lòng muốn biết Chúa Giêsu có chính thật là Đấng Cứu Thế hay không. Ông sai môn đệ đến thưa Chúa Giêsu: “Thầy có phải là Đấng phải đến chăng, hay chúng tôi còn phải đợi Đấng nào khác?” (Mt 11,2). Ông Gioan muốn các môn đệ của mình nhận biết Chúa Giêsu. Câu trả lời của Chúa không chỉ cho riêng ông Gioan, nhưng cho các môn đệ của ông. Các ông đã an tâm nhận diện ra sứ mệnh và vai trò của Chúa Giêsu trong công cuộc cứu độ qua các dấu chỉ: Chúa Giêsu bảo họ: “Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ông nghe và thấy: người mù được thấy, người què đi được, người phong hủi được khỏi, người điếc được nghe, người chết sống lại, và tin mừng được loan báo cho kẻ nghèo khó.” (Mt 11,4-5). Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi lời mà các tiên tri đã loan báo về Ngài.

Các dấu hiệu từ trời cao với quyền năng của Chúa đã đem lại hiệu qủa thực sự biến đổi môi trường và chữa lành toàn diện con người. Suốt dọc lịch sử nhân loại, từ tạo thiên lập địa, ngoài Chúa Giêsu Kitô, không có vị nào có thể trực tiếp thực hiện các phép lạ từ chính sức mạnh nội tâm của mình. Biết rằng đôi khi Thiên Chúa cũng trao ban các đặc sủng cho một số vị tổ phụ và các thánh như Thánh Gioan Vianney, Piô Năm Dấu quê ở Pietrelcina, Antôn Pađua, Vinh Sơn Ferrier…, các ngài có thể thực hiện một số việc lạ lùng trong giới hạn. Các thánh sống là những người có đời sống kết hợp sâu xa, chuyên tâm ăn chay, cầu nguyện và chìm đắm trong ân sủng của Chúa. Những trường hợp có sự lạ ngoại thường này cũng rất hiếm xảy ra trong đời sống Giáo Hội. Các phép lạ của Chúa Giêsu là dấu chỉ của Tin Mừng cứu độ. Tuy nhiên, qua mọi thời, đều có những người tự thần thánh hoá chính mình để chiêu hồn người khác. Họ cũng không khác gì các tiên tri giả và những nhà làm ảo thuật đại tài dùng kỹ xảo để dễ dàng qua mắt mọi người. Chúng ta phải luôn cảnh giác và tỉnh thức học hỏi kỹ lưỡng những hình thức mị dân này. Họ không phải là Chúa có uy quyền biến đổi chữa lành thân xác và linh hồn, mà chỉ có thể tạo gây cảm giác thân, sinh, lý và xúc động tâm linh nhất thời chóng qua.

Chúa Giêsu xác nhận Gioan Tẩy Giả là vị tiền hô dọn đường: “Phải, Ta bảo các ngươi, và còn hơn một tiên tri nữa. Vì có lời chép về ông rằng: ‘Này Ta sai sứ thần Ta đi trước mặt con, để dọn đường sẵn cho con.’” (Mt 11,10). Gioan được vinh dự giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng: Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian. Biết bao người đã nghe Chúa giảng, gặp gỡ và nhận lãnh các dấu lạ nhưng có mấy người nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Trong đám đông theo Chúa, có người chỉ tò mò nhìn xem cho biết, có người chỉ muốn được nhận lãnh ân huệ và có người ùa theo đám đông vì hiếu kỳ. Đâu có mấy người thực sự muốn đi theo Chúa để thực sự đổi đời và canh tân cuộc sống. Xưa cũng như nay, tâm trạng của chúng ta cũng chẳng khác gì dân Dothái xưa. Chúng ta nghe, đọc, viết và suy gẫm thật nhiều lời của Chúa, các giáo huấn của Giáo Hội và chứng kiến biết bao sự lạ lùng trong cuộc sống nhưng mấy ai tin theo Chúa cho trọn.

Lạy Chúa, đời sống đạo của chúng con hầu như vẫn cứ dậm chân tại chỗ. Tinh thần thì nguội lạnh và mệt mỏi, còn thân xác nặng nề và yếu đuối kéo lôi chúng con lùi bước. Chúng con chỉ tìm kiếm sự hơn thua ở đời trọc này mà quên đi sứ mệnh cao cả là mong tìm ơn cứu độ. Thánh Giacôbê nhắc nhở: “Anh em đừng kêu trách lẫn nhau, để khỏi phải bị kết án. Này đây quan toà đã đứng trước cửa.” (Gc 5,9).

Giuse Trần Việt Hùng

Có phải Đức Giáo Hoàng Phanxicô rời Vatican vào ban đêm để giúp đở cho người vô gia cư ?

Có phải Đức Giáo Hoàng Phanxicô rời Vatican vào ban đêm để giúp đở cho người vô gia cư ?

Before Pope, Jorge Mario Bergoglio on streetCourtesy photo – ĐTC khi còn là ĐHY tại Á Căn Đình thường đi thăm viếng người nghèo

Một cuộc phỏng vấn gần đây với Đức Tổng Giám Mục Konrad Krajewski , " Công tác xã hội của Đức Thánh Cha, " nâng lên suy đoán rằng Đức Giáo Hoàng tham gia các chuyến đi đêm của mình vào Rome để bố thí cho người nghèo, những tin đồn này có thể là sự thật.

Một nguồn tin tại Rome nói với tờ The Huffington Post rằng " Các vệ binh Thụy Sĩ xác nhận rằng Đức Giáo Hoàng đã mạo hiểm ra ngoài vào ban đêm, ăn mặc như một linh mục bình thường, để tiếp xúc với những người đàn ông và đàn bà vô gia cư. " và đồng thời phân phát tiền bạc cho những người nghèo.

Krajewski trước đó cho biết : "Khi tôi nói với ĐTC :" Tôi đang đi ra ngoài vào thành phố vào buổi tối này , sẽ có hiểm nguy liên lục khi Ông ta sẽ đến với tôi ", và Ngài chỉ mỉm cười và tránh né câu hỏi khi phóng viên hỏi anh thẳng thừng cho dù Đức Giáo Hoàng cùng đi với ĐTGM đi vào thành phố.

Pope Francis was Cardinal at Agentina on the public bus

                                                                                        Courtesy photo from Reuters

ĐTC không phải duy là Đức Giáo Hoàng lang thang về đêm . Có những câu chuyện của Đức Giáo Hoàng Gioan XIII lén ra để thưởng thức vẻ đẹp của Rome vào buổi tối , và các báo cáo nói của Đức Giáo Hoàng Piô XII mặc quần áo như một tu sĩ Phanxicô trong thế chiến thứ hai để giúp dân Do Thái của Roma đến nơi an toàn . Gần đây, Đức Giáo Hoàng Benedict XVI đi ra không báo trước để thăm một triển lãm nghệ thuật .

Khi Đức Giáo Hoàng Francis là Hồng Y Jorge Bergoglio , ông thường lẻn ra ngoài vào ban đêm để phân phát bánh mì cho người vô gia cư, ngồi chung với họ trên đường phố cùng ăn uống với họ để cho thấy rằng họ cũng được thương yêu.

Và chúng tôi yêu mến Ngài đang làm việc đó trong lúc này.

 

Thái Trọng

Tạp chí TIME bình chọn Đức Giáo Hoàng Phanxicô làm “Nhân Vật của Năm”

Tạp chí TIME bình chọn Đức Giáo Hoàng Phanxicô làm "Nhân Vật của Năm"

Pope person of the year - Time magazine

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã được tạp chí TIME của Mỹ bình chọn làm "Nhân Vật của Năm" – "Person of the Year" vào thứ tư. "Một người đầu tiên ngoài Âu Châu từ 1.200 năm nay làm Giáo Hoàng đang có sức mạnh để thay đổi thế giới," tạp chí này giải thích sự quyết định của mình.

Tạp chí TIME ca ngợi "Superstar – siêu sao vượt ra ngoài tuổi 70" là "Đức Giáo Hoàng của công chúng" và là người có quyền lực để cải cách Giáo Hội.

"Đức Giáo Hoàng lấy tên của một vị Thánh khiêm tốn là Phanxicô thành Assisi và muốn có một Giáo Hội cứu rỗi," tạp chí TIME cho biết vào thứ tư. Trong danh sách ngắn để chọn cho danh hiệu "Nhân Vật của Năm", ngoài Jorge Mario Bergoglio (tên của ĐGH) còn có nhân viên cũ của tình báo Mỹ đang đào tẩu Edward Snowden, nhà hoạt động 83 tuổi cho quyền đồng tính Edith Windsor, danh ca nhạc Pop của Mỹ Miley Cyrus…

Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ mừng sinh nhật thứ 77 vào ngày 17 tháng 12 năm 2013 là người đang có ảnh hưởng nhất toàn cầu về phương diện báo chí được tính từ thời gian 12 tháng qua. Cách sống của Ngài đang làm cho nhiều người trở về với Giáo Hội. Báo TIME nhận định: "Chỉ trong vài tháng ĐGH Phanxicô đã đưa sự phục vụ của Giáo Hội trên con đường thành công." Tất cả mọi nơi khi đi thăm người tỵ nạn, rửa chân cho tù nhân, đến tận khu ổ chuột, ôm người tật nguyền, đón nhận trẻ em… thì những ai đã gặp Ngài đều nhận ra được tình thương sâu thẳm từ trái tim nồng ấm của Giáo Hoàng. Qua truyền thông hàng triệu trái tim theo dõi và cảm nhận ra những cử chỉ nhân từ của người mục tử áo trắng này, kể cả người Công Giáo lẫn người khác tôn giáo.

Từ ngày 13.3.2013 – chỉ trong vòng 9 tháng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã trở thành các đề tài toàn cầu nóng bỏng về sự giàu có và nghèo đói, công lý và hòa bình, và từ bỏ sự cám dỗ của quyền lực…

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã công bố Tông Thư "Niềm Vui Phúc Âm" (Evangelii Gaudium) vào cuối tháng 11 như là một chương trình hoạt động của mình cho Giáo Hội trong thế kỷ XXI và cùng lúc Ngài khởi công cải tổ lại giáo triều Vatican. Nhiều người hy vọng cho những cải cách quan trọng của Đức Giáo Hoàng trong Giáo Hội Công Giáo.

Phát ngôn viên của Tòa Thánh Vatican, cha Federico Lombardi hoan nghênh quyết định của TIME và cũng bày tỏ sự hài lòng về sự chú ý lớn cho Đức Giáo Hoàng, nhưng không là điều ngạc nhiên đặc biệt. "Đây là một dấu hiệu tích cực vì đó là một trong những giải thưởng uy tín nhất về lĩnh vực báo chí quốc tế, bao gồm về các giá trị tâm linh, tôn giáo và đạo đức trên thế giới cũng như tạo hiệu quả cho hòa bình và công lý", cha Federico Lombardi nói thêm.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô không phải là người muốn tự tìm kiếm sự nổi tiếng và thành công cho riêng mình nhưng là phục vụ "cho việc loan báo Tin Mừng về tình yêu của Thiên Chúa cho tất cả mọi người," cha Lombardi nói. "Nếu điều này làm thu hút cả người nam lẫn nữ và tạo cho họ niềm hy vọng thì Đức Giáo Hoàng hài lòng. Nếu cuộc bình chọn Ngài làm "Nhân Vật của Năm" mà làm cho nhiều người hiểu được ý nghĩa nói trên thì Ngài chắc chắn vui mừng".

Từ năm 1927 Tạp chí TIME đã có truyền thống vào mỗi cuối năm tổ chức một cuộc bình chọn "Nhân Vật của Năm". Đây là dịp nói về những nhân vật đang có ảnh hưởng nhất trên thế giới trong mười hai tháng qua. Như thế qua cuộc bình chọn Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ được trang trọng đăng trên trang bìa nhất của tạp chí TIME của số tới như trước đây họ đã đăng hình của Tống thống Mỹ Barack Obama.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô là vị Giáo Hoàng thứ ba được tạp chí TIME của Mỹ bình chọn làm "Nhân Vật của Năm". Điều kỳ lạ trước đó đã có hai Giáo Hoàng được chọn đều đã được phong Chân Phước là ĐGH Gioan XXIII thành "Nhân Vật của Năm 1962" và ĐGH Gioan Phaolô II thành "Nhân Vật của Năm 1994". Đặc biệt được nhắc thêm, hai vị Chân Phước Giáo Hoàng này sẽ được phong Hiển Thánh vào ngày 27 tháng 4 năm 2014 tới đây.

Lm. Paul Phạm Văn Tuấn

Nguồn: Vietcatholic

Đức Thánh Cha kêu gọi hiệp lực bài trừ nạn buôn người

Đức Thánh Cha kêu gọi hiệp lực bài trừ nạn buôn người

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến 17 tân đại sứ sáng 12-12-2013, ĐTC kêu gọi các chính quyền và những người thiện chí hợp lực để chống lại nạn buôn người.

Trong số 17 vị Đại Sứ mới cạnh Tòa Thánh đến trình ủy nhiệm thư, có các đại sứ Na Uy, Đan Mạch, Giordani, Pakistan, Uganda, Kuwait, Sierra Leone, Algeri, và cả đại diện của chính quyền Palestine nữa.

Theo thông lệ, các vị Đại sứ cạnh Tòa Thánh thường trú tại Roma được ĐTC tiếp kiến riêng, còn các vị không thường trú thì được ngài tiếp kiến chung.

Trong lời chào mừng các vị tân đại sứ, ĐTC đặc biệt chia sẻ mối quan tâm sâu đậm của ngài về nạn buôn người, ”một hình thức nô lệ mới ngày càng lan tràn, có liên hệ tới mỗi nước, kể cả những nước phát triển nhất, và liên quan tới những người dễ bị tổn thương nhất trong xã hội: các phụ nữ, thiếu nữ, trẻ em nam nữ, người khuyết tật và những người nghèo nhất.”

ĐTC nói: ”Nơi họ, các tín hữu Kitô đặc biệt nhận thấy tôn nhan của Chúa Giêsu Kitô, là Đấng tự đồng hóa với những người bé mọn và túng thiếu nhất. Những người khác, tuy không tham chiếu một tín ngưỡng tôn giáo, nhưng nhân danh tình người chung, họ cùng cảm thương đối với những đau khổ và dân thân giải thoát cũng như thoa dịu các vết thương của các nạn nhân. Cùng nhau chúng ta có thể và phải dấn thân để các nạn nhân được giải thoát và chấm dứt việc buôn bán đáng kinh tởm này”.

ĐTC nhắc đến hàng triệu nạn nhân bị buôn bán để bị khai thác tình dục hoặc cưỡng bách lao động. Ngài nói: ”Tất cả những điều ấy không thể tiếp tục. Nó là một sự vi phạm trầm trọng chống lại các nhân quyền của các nạn nhân và là một xúc phạm đến phẩm giá của họ, và là một thất bại đối với cộng đồng thế giới. Những người thiện chí, dù có tín ngưỡng tôn giáo hay không, không thể để cho các phụ nữ, những người nam, các trẻ em ấy, bị đối xử như đồ vật, bị lường gạt, bạo hành, thường bị bán đi nhiều lần, với những mục đích khác nhau, và sau cùng bị giết, hoặc bị tàn hại về thể lý và tâm trí, để rồi bị gạt bỏ và bỏ rơi. Đó thực là một điều ô nhục..”

”Nạn buôn người thực là một tội ác chống lại nhân loại. Chúng ta phải hiệp sức để giải thoát các nạn nhân và chặn đứng tội ác ngày càng mạnh mẽ, không những đe dọa cá nhân, nhưng cả những giá trị nền đảng của xã hội và an ninh, công lý quốc tế, cũng như nền kinh tế, gia đình, và chính sự sống chung nữa”.

ĐTC khuyến khích các chính phủ và cộng đồng quốc tế đề ra những biện pháp để bảo vệ các nạn nhân và chống lại nạn buôn người. ”Để đạt được những kết quả tốt cũng cần những hoạt động ảnh hưởng trên bình diện văn hóa và truyền thông. Ngài nói: ”Về bình diện này, cần xét mình sâu rộng: thực vậy, bao nhiêu lần chúng ta để cho một người bị coi như đồ vật, bị bày bán như một sản phẩm hoặc để thỏa mãn những ước muốn vô luân? Con người không bao giờ phải chịu sự mua bán như một món hàng. Ai sử dụng và khai khác con người, dù là gián tiếp, thì đồng lõa với tội ác ấy” (SD 12-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Sứ điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Hòa Bình thế giới

Sứ điệp đầu tiên của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Hòa Bình thế giới

VATICAN. Sáng ngày 12-12-2013, Sứ điệp đầu tiên của ĐTC Phanxicô nhân ngày hòa bình thế giới lần thứ 47 đã được công bố về đề tài: ”Tình huynh đệ, nền tảng và là con đường tiến tới hòa bình”.

ĐHY Peter Turkson, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, đã cùng với Đức Cha Tổng thư ký Mario Toso SDB, giới thiệu Sứ điệp của ĐTC trong cuộc họp báo tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh.

Văn kiện này được giới báo chí chào mừng như một tổng hợp đạo lý của ĐTC Phanxicô về xã hội, qua đó ngài kêu gọi tái khám phá tình huynh đệ trong gia đình, trong nền kinh tế và trong tương quan của các dân tộc với nhau. Ngài khẳng định rằng ”Nếu không có tình huynh đệ thì không thể xây dựng một xã hội công chính và một nền hòa bình liên đới và lâu bền”.

Trong sứ điệp, ĐTC cũng mạnh mẽ kêu gọi những kẻ gieo rắc bạo lực và chết chóc hãy từ bỏ con đường võ khí, đồng thời ngài cũng lên án nạn tham nhũng, nạn mafia hay là tội phạm có tổ chức.

Sứ điệp được phổ biến bằng 11 thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Arập và Nga, Hindi và Tamil bên Ấn Độ, không kể các ngôn ngữ chính ở Tây Phương. Ngoài đoạn nhập đề và kết luận, Sứ điệp còn được chia làm 8 đoạn khác với những tiểu đề: ”Cain, em ngươi ở đâu?” (St 4,9) (1), ”Tất cả các con là anh em với nhau” (Mt 23,8) (2); Tình huynh đệ, nền tảng và con đường dẫn đến hòa bình (3); Tình huynh đệ, tiền đề để chiến thắng nghèo đói (5); Tái khám phá tình huynh đệ trong nền kinh tế (6); Tình huynh đệ dập tắt chiến tranh (7); Nạn tham ô và tội ác có tổ chức cản trở Tình huynh đệ (8) và sau cùng: Tình huynh đệ giúp bảo tồn và vun trồng thiên nhiên (9).

Trình bày của ĐHY Turkson

ĐHY Turkson nhận xét rằng ”Trong sứ điệp này, ĐTC tự hỏi tại sao trong thế giới ngày nay có sự thiếu thốn trầm trọng tình huynh đệ như vậy? Tại sao lòng ích kỷ làm cho chúng ta trở nên mù quáng trước tình huynh đệ không thể thiếu được như thế? Phải chăng sự sợ hãi và cạnh tranh đã gây nhiễm độc cho phẩm giá khôn sánh của chúng ta là con cái Thiên Chúa, làm ô nhiễm quan hệ giữa anh chị em với nhau?

ĐHY Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và hòa bình nêu bật một số điểm trong sứ điệp của ĐTC Phanxicô. Ngài suy tư về người nghèo, về hòa bình, về thiên nhiên dưới một tựa đề bao quát và đầy ý nghĩa, đó là ”tình huynh đệ”. Ngài cũng mời gọi chúng ta suy tư, cầu nguyện và hành động theo xác tín và niềm tin. Những điều xúc phạm đến tình huynh đệ tạo thành một danh sách thật dài, danh sách đau buồn và ô nhục. Sau mỗi tội ác sát nhân của con người, Thiên Chúa kêu lên: ”Em ngươi ở đâu?”. Con tim ích kỷ và tội lỗi đáp lại: ”Tôi có phải là người canh giữ em tôi đâu!”. Trong khi đó con tim huynh đệ trả lời với lòng biết ơn: 'Cám ơn Cha, vì đã làm cho con trở thành người canh giữ các anh chị em con! Cám ơn Cha vì đã làm cho họ trở thành những người canh giữ con!”.

Đoạn thứ 5 và thứ 6 của Sứ điệp được ĐTC dành để nói về nền kinh tế, và trình bày một số phương dược thực sự để chữa trị nghèo đói. Ngài nhận xét rằng những chênh lệch kinh tế chính là kẻ thù của hòa bình. ”Những cuộc khủng hoảng kinh tế nối tiếp nhau phải làm cho những người hữu trách suy nghĩ lại những kiểu mẫu phát triển kinh tế”.

Sự cộng tác trong việc theo đuổi công ích phải thay thế sự cạnh tranh tai hại làm cho tất cả mọi người đều lâm vào tình trạng rủi ro nguy hiểm.

Các quan hệ huynh đệ cũng phải được biểu lộ trong các chính sách xã hội, tạo điều kiện cho mọi người dân được hưởng an sinh và sung túc; các quan hệ ấy cũng phải diễn tả trong một lối sống điều độ hơn, giới hạn vào những điều thiết yếu; và trên bình diện rộng lớn hơn, cần ”mau lẹ suy nghĩ lại những kiểu mẫu phát triển kinh tế của chúng ta”.

Trong đoạn thứ 7 và thứ 8 của Sứ điệp Hòa bình, ĐTC trình bày những ý tưởng nhắm giúp giảm bớt và loại trừ chiến tranh đủ mọi loại, cũng như loại trừ nạn tham ô và tội các có tổ chức. Tình huynh đệ chiến thắng thái độ dửng dưng lãnh đạm, dửng dưng đứng trước bao nhiêu chiến tranh. Tình huynh đệ chiến thắng xu hướng coi kẻ thù không phải là người, coi họ là ma quỉ. Tình huynh đệ thúc đẩy làm việc cam go cần thiết để đạt tới mục tiêu không làm cho võ khí lan tràn, giải giáp, kể cả việc giải trừ các võ khí hạt nhân, võ khí hóa học, qui ước và các võ khí gọi là 'thông minh' và võ khí nhẹ.

ĐTC viết: ”Tôi lập lại lời kêu gọi của các vị tiền nhiệm về việc không làm lan tràn võ khí và giải giáp từ phía tất cả mọi người, bắt đầu là võ khí hạt nhân và hóa học.. Bao lâu vẫn còn số lượng võ khí lớn như thế được lưu hành như ngày nay, thì người ta sẽ luôn tìm ra những cớ mới để khởi sự chiến tranh”.

ĐTC cũng khẳng định rằng ”Tôi muốn mạnh mẽ kêu gọi những người đang dùng võ khí gieo rắc bạo lực và chết chóc: họ hãy tái khám phá người anh em nơi người mà ngày nay họ chỉ coi là một kẻ thù phải triệt hạ, và hãy dừng tay lại.. Hãy từ bỏ con đường võ khí, và đi gặp tha nhân trong cuộc đối thoại, tha thứ và hòa giải, để xây dựng công lý, sự tín nhiệm và hy vọng quanh chúng ta”.

Trong các cuộc xung đột xã hội, tình huynh đệ chống lại nạn tham nhũng, mafia, buôn bán ma túy, nạn nô lệ, buôn người, mại dâm và những hình thức gọi là 'chiến tranh kinh tế và tài chánh” hủy hoại sự sống, các gia đình, và các hoạt động doanh nghiệp”.

Trong đoạn số 9 của Sứ điệp, ĐTC nói đến một nhu cầu cấp thiết là phải bảo tồn và vun trồng thiên nhiên như thể đó là căn nhà trần thế của chúng ta và là nguồn mạch mọi thiện ích vật chất, bây giờ và cho các thế hệ tương lai. Trong tinh thần huynh đệ, chúng ta phải họ cách xử lý môi trường thiên nhiên như một món quà của Đấng Tạo Hóa, một món quà cần được hưởng chung, một cách nhưng không và công bằng. Canh nông sản xuất trong tinh thần trách nhiệm, và các xí nghiệp kiểm soát sự phân phối đúng đắn, và tránh phí phạm, đó là những cách biểu lộ tình huynh đệ cần thiết trong thế giới ngày nay.

Trình bày của Đức Cha Mario Toso, SDB

Hiện diện trên bàn chủ tọa cuộc họp báo cũng có Đức Cha Mario Toso, dòng Don Bosco, Tổng thư ký Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình. Ngài nêu nhận xét về những đoạn đầu của Sứ điệp, qua đó ĐTC khẳng định rằng tình huynh đệ nói lên liên hệ tính của con người, và hướng tới sự viên mãn của con người. Xét vì tình huynh đệ có tính chất nội tại nơi con người, ảnh hưởng lớn tới cuộc sống và hoạt động của con người, nên nó là điều tối quan trọng để kiến tạo một xã hội công chính và an bình. Nếu không có tình huynh đệ, thì thật là khó lòng chấp nhận và hòa hợp những khác biệt hợp pháp, sống sự tha thứ và hòa giải, và chắc chắn là rất khó bài trừ nạn tham những lan tràn, sự trốn thuế vì ích kỷ, sự loại trừ và bất công trong các cơ cấu xã hội, cũng vậy rất khó bài trừ sự ”hoàn cầu hóa thái độ dửng dưng” và phá đổ thần tượng tiền bạc, chế độ độc tài của một nền kinh tế vô nhân đạo và không có mục tiêu thực sự là nhân bản. Đó cũng là những tai ương và tệ nạn mà ĐTC Phanxicô đã tố giác trong Tông Huấn ”Niềm vui Phúc Âm”.

Đức Cha Toso cũng nhận xét rằng trong sứ điệp Hòa bình, ĐTC chỉ trình bày một số con đường có thể dẫn đến hòa bình, xuất phát từ sự đón nhận và liên kết nguyên tắc huynh đệ. Những con đường này đi qua các lãnh vực quan trọng như nạn nghèo đói, kinh tế, nạn tham nhũng, chiến tranh, và thiên nhiên. Trong các lãnh vực ấy, ĐTC chỉ đường, nêu lên phương pháp cần theo, và có thể áp dụng chúng cho một số vấn đề khác, nhờ đào sâu và nghiên cứu và thí nghiệm. ĐTC kêu gọi dấn thân mạnh mẽ về phương diện văn hóa, sư phạm và quan điểm, cần có sự động viên của cộng đoàn, khởi hànhtừ sự loan báo tin mừng, hoán cải và giáo dục ở mọi cấp độ, từ tiểu học cho đến đại học.

Trong Sứ điệp, ĐTC kêu gọi cảnh giác đối với thứ tình huynh đệ không tham chiếu siêu việt, thứ huynh đệ này sẽ không tồn tại được. Con người và xã hội nào loại bỏ Thiên Chúa và không nhìn nhận Ngài đang sống giữa họ, thì khó lòng nhìn nhận nhau và sống với nhau như con của cùng một Cha. Tiếp đến, ĐGH Phanxicô nêu rõ rằng đối với mỗi ngừơi và mỗi xã hội, việc đạt tới kinh nghiệm về tình phụ tử của Thiên Chúa, và từ đó đạt tới tình huynh đệ, sẽ trở nên dễ dàng hơn nhờ đón nhận Chúa Giêsu Kitô là Adong mới, được hòa giải với Thiên Chúa, Đấng cứu chuộc mỗi người với mọi chiều kích của họ, kể cả lý trí được tăng cường hơn. Nhờ sự nhập thể, sự chết và sống lại, Chúa Giêsu gieo vãi trong lịch sử và nơi tâm hồn con người, một tình người huynh đệ hơn, vì hoàn toàn hiệp thông với Thiên Chúa và nhờ đó có khả năng nhìn nhận và sống tình huynh đệ với những người đồng lại, và sống với cả thiên nhiên trên một bình diện khác.

Đức Cha Toso nêu rõ một nhận xét của ĐTC trong sứ điệp, đó là trong thế giới hoàn cầu hóa của chúng ta, có sự gia tăng giàu có và tài nguyên, nhưng đồng thời cũng có sự gia tăng sự chênh lệch và nghèo đói tương đối. Gia đình nhân loại bị chia thành những dân tộc và các nhóm, trong đó một thiểu số ngày càng giàu hơn, trong khi đa số khác ngày càng bị nguy cơ gạt ra ngoài lề. Tình trạng di cư gia tăng mạnh mẽ, kèm theo những hiện tượng đau buồn như nạn buôn người, một số kẻ lợi dụng tình trạng tuyệt vọng của những người khác để làm giàu không chút băn khoăn do dự, và nhiều khi gây ra cái chết cho các nạn nhân.

Ngoài những cuộc chiến bằng võ khí, còn có những cuộc chiến tranh khác ít tỏ tường hơn, nhưng không kém phần tàn ác: nó diễn ra trong lãnh vực kinh tế, tài chánh, bằng những phương thế tàn hạn không kém đối với con người, gia đình, xí nghiệp. Chế độ thực dân xưa kia nay được thay thế bằng những chế độ mới, buộc các nước khác phải tùng phục về kinh tế và chính trị, với những cuộc khai thác bóc lột đất đai và khoáng sản, từ phía các quốc gia hoặc các xí nghiệp nước ngoài, mà dân chúng địa phương không được hưởng các tài nguyên thiên nhiên của đất nước họ; tệ hơn nữa, đất đai và môi trường sống của họ bị ô nhiễm. Tất cả sự chênh lệch, nghèo đói và bất công đó không những cho thấy sự thiếu nền văn hóa liên đới, nhưng còn là dấu hiệu chứng tỏ sự thiếu tình huynh đệ, tạo nên tình trạng nghèo nàn về quan hệ. Vì thế, để có thể sống trong hòa hợp và an bình, nhân loại chúng ta cần có thêm tình huynh đệ được cảm nghiệm, tôn trọng gia đình là tế bào của xã hội, vốn là một nguồn mạch vô tận (1).

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Buổi tiếp kiến chung hằng tuần của Đức Thánh Cha: ngày 11-12-2013

Buổi tiếp kiến chung hằng tuần của Đức Thánh Cha: ngày 11-12-2013

VATICAN. Dù trời lạnh mùa đông, 40 ngàn tín hữu hành hương đã đến tham dự buổi tiếp kiến chung hằng tuần của ĐTC tại Quảng trường Thánh Phêrô sáng ngày 10-12-2013.

Phần lớn các tín hữu hiện diện là người Ý thuộc rất nhiều hội hoàn và phong trào: đông nhất là nhóm 3 ngàn người thuộc hội Avis, Hiến máu, ở miền Basilicata, dưới sự hướng dẫn của Đức Cha Agostino Superbo, TGM giáo phận Potenza. Trong số các tín hữu đến từ nước ngoài, đông nhất là nhóm 185 người Pháp, 175 người Tây Ban Nha, cùng với hàng trăm người khác từ Mỹ châu la tinh.

Tuy giờ chính thức được ấn định cho buổi tiếp kiến là 10 giờ rưỡi, nhưng lúc 9 giờ 45, ĐTC đã xuất hiện tại quảng trường, trên chiếc xe díp mui trần màu trắng, tiến qua các lối đi để chào thăm các tín hữu.

Bài huấn giáo

Trong bài huấn giáo sau phần tôn vinh Lời Chúa, ĐTC đã tiếp tục loạt bài giáo lý về đức tin và ngài quảng diễn đề tài ”Tôi tin sự sống đời đời: sự phán xét”. Ngài nói:

Anh chị em thân mến, mến chào anh chị em,

Tôi muốn bắt đầu loạt cuối cùng trong các bài huấn giáo về sự tuyên xưng đức tin của chúng ta và bàn về câu ”Tôi tin sự sống đời đời”. Đặc biệt tôi nói về sự phán xét chung. Về vấn đề này, chúng ta đọc thấy trong Tin Mừng theo thánh Mathêu: Bấy giờ Chúa Kitô ”sẽ ngự đến trong vinh quang, cùng với các thiên thần của Ngài.. Và mọi dân nước sẽ tập họp trước mặt Ngài, và Ngài sẽ phân họ như người mục tử tách chiên ra khỏi dê, và đặt chiên ở bên phải, còn dê ở bên trái… Và những kẻ này sẽ ra đi chịu khổ hình đời đời, còn những người công chính được hưởng sự sống đời đời” (Mt 25,31-33.46). Khi chúng ta nghĩ đến việc Chúa Kitô tái lâm và cuộc phán xét chung của Chúa, sẽ biểu lộ – cho đến những hậu quả cuối cùng – điều thiện mà mỗi người đã làm hay đã bỏ sót trong cuộc sống trần thế, chúng ta sẽ thấy mình đứng trước một mầu nhiệm ở trên chúng ta, mà chúng ta không tưởng tượng nổi. Một mầu nhiệm tự nhiên gợi lên trong chúng ta một sự sợ hãi, có thể làm cho chúng ta rùng mình. Nhưng nếu chúng ta suy nghĩ kỹ về thực tại này, thì nó càng mở rộng con tim của Kitô hữu và là một động lực mạnh mẽ mang lại an ủi và tín thác.

Về vấn đề này, chứng tá của các cộng đồng Kitô tiên khởi âm vang đầy ý nghĩa hơn bao giờ hết. Thực vậy trong các buổi cử hành và kinh nguyện, các cộng đồng ấy thường kèm theo lời hô ”Maranathà”!, một thành ngữ gồm hai lời bằng tiếng Aramaico; tùy theo cách tung hô, thành ngữ này có thể hiểu như một lời khẩn cầu ”Lạy Chúa, xin hãy đến!”, hoặc như một xác tín chắc chắn được đức tin nuôi dưỡng: ”Đúng vậy! Chúa đang đến, Chúa đang ở gần!” Đó là một lời thốt lên, trong đó có tột đỉnh mạc khải của Kitô giáo, vào cuối sự chiêm ngắm tuyệt với mà Sách Khải Huyền của thanh Gioan cống hiến cho chúng ta (Xc Kh 22,20). Trong trường hợp ấy, chính Giáo Hội hôn thê, – nhân danh toàn thể nhân loại và trong tư cách là người đầu tiên -, ngỏ lời với Chúa Kitô, vị Hôn Phu, mà Giáo Hội chờ mong giờ được vòng tay của Chúa ấp ủ, vòng tay này là cuộc sống sung mãn và tình thương. Nếu chúng ta nghĩ đến sự phán xét chung trong viễn tượng ấy, thì mọi sợ hãi và chao đảo sẽ biến đi và nhường chỗ cho sự chờ đợi và niềm vui sâu xa: đó chính là lúc chúng ta sẽ được coi là sẵn sàng mặc lấy vinh quang của Chúa Kitô, như một áo cưới, và được dẫn đến bàn tiệc, là hình ảnh sự hiệp thông trọn vẹn và chung kết với Thiên Chúa.

ĐTC nói tiếp:

Một lý do tín thác thứ hai được trao tặng cho chúng ta qua nhận xét theo đó, trong lúc phán xét, chúng ta sẽ không bị bỏ rơi một mình. Chính Chúa Giêsu, theo Tin Mừng Mathêu, đã báo trước rằng vào thời sau hết, những người đã theo Chúa, sẽ nhận chỗ của mình trong vinh quang của Chúa, để cùng Ngài xét xử (Xc Mt 19,28). Rồi Thánh Phaolô tông đồ, khi viết cho cộng đoàn Corinto, đã quả quyết: ”Anh chị em không biết rằng các thánh sẽ xét xử thế gian sao?” .. Phương chi là những sự đời này!” (1 Cr 6,2-3). Thật là đẹp khi biết rằng trong tình trạng đau thương ấy, ngoài Chúa Kitô, là Đấng Bào Chữa, là Trạng Sư của chúng ta nơi Chúa Cha (Xc 1 Ga 2,1), chúng ta còn có thể trông cậy nơi sự chuyển cầu và sự lòng nhân từ của bao nhiêu anh chị em lớn hơn, đã đi trước chúng ta trong hành trình đức tin, đã hiến mạng sống vì chúng ta và tiếp tục yêu thương chúng ta một cách khôn tả! Các thánh đang sống gần nhan Thiên Chúa, trong ánh quang vinh hiển của Ngài, các vị đang cầu cho chúng ta là những người đang còn sống trên trái đất này. Xác tín đó gợi lên nơi chúng ta niềm an ủi dường nào! Giáo Hội thực sự là một người mẹ, và như một người mẹ, Giáo Hội tìm thiện ích của các con cái, nhất là những người ở xa xăm hơn và sầu khổ, để họ tìm lại được sự sung mãn trong thân thể vinh quang của Chúa Kitô với tất cả các chi thể của Giáo Hội. Một gợi ý sau cùng được Tin Mừng theo Thánh Gioan cống hiến cho chúng ta, trong đó có khẳng định rõ ràng rằng: ”Thiên Chúa đã không sai Con của Ngài đến trần thế để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Ngài mà được cứu thoát. Ai tin nơi Ngài thì không bị kết án, nhưng ai không tin thì đã bị kết án rồi, vì đã không tin nơi Con duy nhất của Thiên Chúa” (Ga 3,17-18).

Điều này có nghĩa là sự phán xét chung ấy đang diễn ra, đang bắt đầu bây giờ, qua dòng cuộc sống của chúng ta. Phán quyết ấy được tuyên bố trong mọi lúc của cuộc sống, xét xem chúng ta có đón nhận trong đức tin ơn cứu độ đang hiện diện và hoạt động trong Chúa Kitô hay không, hoặc chúng ta không tin tưởng gì, với hậu quả là chúng ta com cụm vào mình. Nếu chúng ta khép kín đối với tình thương của Chúa Giêsu, thì chính chúng ta tự kết án mình. Ơn cứu độ là cởi mở đối với Chúa Giêsu và chính Ngài cứu vớt chúng ta; nếu chúng ta là người tội lỗi, và tất cả chúng ta đều là người tội lỗi, chúng ta hãy xin lỗi Chúa và nếu chúng ta đến cùng Chúa với ước muốn nên tốt lành, thì Chúa tha thứ cho chúng ta. Nhưng để được như vậy thì chúng ta phải cởi mở đối với tình thương của Chúa Giêsu, tình thương mạnh hơn mọi sự khác. Tình thương của Chúa Giêsu thật là lớn lao, tình thương của Ngài là lòng từ bi, tha thứ. Nhưng ta phải cởi mở đón nhận, và cởi mở có nghĩa là thống hối, là xưng thú những gì không tốt mà chúng ta đã làm. Chúa Giêsu đã và tiếp tục hiến thân cho chúng ta, để cho chúng ta được tràn đầy lòng từ bi và ơn thánh của Chúa Cha. Vì thế có thể nói chính chúng ta có thể trở thành người phán xét chính mình, tự kết án mình loại mình ra khỏi tình hiệp thông với Thiên Chúa và với anh chị em, với sự cô độc sâu đậm và buồn thảm từ đó mà ra. Vì vậy, chúng ta đừng mệt mỏi canh chừng tư tưởng và thái độ của chúng ta, để nếm hưởng trước ngay từ bây giờ sự nồng ấm và ánh quang rạng ngời của tôn nhan Thiên Chúa, Đấng mà chúng ta sẽ chiêm ngưỡng với tất cả sự sung mãn trong đời sống đời đời.

Chào thăm và nhắn nhủ

Sau bài giáo lý bằng tiếng Ý, các LM tại Tòa Thánh lần lượt tóm tắt bài này bằng cách thứ tiếng khác nhau bằng các ngôn ngữ chính và cả những lời chào và nhắn nhủ của ĐTC. Ngài mời gọi họ, trong mùa vọng này, hãy chuẩn bị tâm hồn để vui mừng đón nhận Chúa Cứu Thế đến trong đời sống bản thân và gia đình chúng ta.

Với các tín hữu nói tiếng Ý, hiện diện đông đảo tại Quảng trường, ĐTC đặc biệt nhắc đến các phái đoàn cho các GM giáo phận liên hệ hướng dẫn. Ngài cũng chào thăm các binh sĩ đến từ Penne và Lamezia Terme, nam Italia, các linh cứu hỏa từ Pescara. Ngài chào thăm các bạn trẻ các bệnh nhân và các đôi vợ chồng mới cưới.

Sứ điệp của ĐTC nhân l Đức Mẹ Guadalupe

Our-Lady-of-Guadalupe

Trong phần chào thăm các tín hữu, ĐTC cũng gửi sứ điệp nhân lễ Đức Mẹ Guadalupe bổn mạng Mỹ Châu, qua đó ngài mời gọi các tín hữu thuộc đại lục này hãy noi gương Mẹ Maria mở rộng vòng tay đón nhận mọi người, nhất là những người di dân, người nghèo khổ và ở ngoài lề xã hội. ĐTC nói:

”Ngày mai (12-12) là Lễ Đức Mẹ Guadalupe, Bổn Mạng của toàn thể Mỹ Châu. Nhân dịp này, tôi muốn chào thăm tất cả các anh chị em thuộc đại lục này và tôi nghĩ đến Đức Mẹ ở đồi Tepeyac.

”Khi hiện ra với thánh Juan Diego, khuôn mặt của Mẹ là khuôn mặt của một phụ nữ lai và áo của Mẹ đầy những dấu hiệu của nền văn hóa thổ dân. Giống như Chúa Giêsu, Mẹ Maria gần gũi các con của Mẹ, như một người mẹ yêu thương tháp tùng hành trình của con, chia sẻ vui mừng và hy vọng, đau khổ và lo âu của những người của Thiên Chúa, được kêu gọi trở nên thành phần của mọi dân tộc trên trái đất. ”Sự xuất hiện của ảnh Đức Mẹ in trên áo khoác của thánh Juan Diego là một dấu hiệu ngôn sứ nói lên vòng tay của Mẹ Maria, vòng tay ôm lấy mọi người dân của các lãnh thổ Mỹ châu rộng lớn, những người đã và sẽ sống tại đó.

”Vòng tay của Mẹ Maria chỉ cho thấy con đường luôn là đặc tính của toàn Mỹ châu: đó là phần đất nơi các dân tộc khác nhau có thể chung sống, một phần đất có khả năng tôn trọng sự sống con người trong mọi giai đoạn, từ lúc mới sinh ra cho đến tuổi già, có khả năng đón nhận những người di dân cũng như những người nghèo và người ở ngoài lề xã hội trong mọi thời đại. Đó là một phần đất quảng đại”. ”Đó chính là sứ điệp của Đức Mẹ Guadalupe, và cũng là sứ điệp của tôi, sứ điệp của Giáo Hội. Tôi nhắn nhủ tất cả mọi người dân ở Mỹ châu hãy mở rộng vòng tay như Đức Trinh Nữ Maria, với tình yêu thương và dịu dàng.

”Anh chị em toàn Mỹ Châu thân mến, tôi cầu nguyện cho anh chị em, và cũng xin anh chị em cầu nguyện cho tôi. Ước gì niềm vui Phúc Âm luôn ở trong tâm hồn anh chị em. Xin Chúa chúc lành cho anh chị em và xin Đức Mẹ gìn giữ anh chị em”.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

Đức Thánh Cha tái kêu gọi hòa bình cho Ai Cập và Trung Đông

Đức Thánh Cha tái kêu gọi hòa bình cho Ai Cập và Trung Đông

VATICAN. ĐTC Phanxicô kêu gọi cầu nguyện cho tình trạng chia rẽ và thù nghịch sớm được chấm dứt Thánh Địa và Trung Đông, và hòa bình được vãn hồi tại các miền này.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong bài giảng thánh lễ đồng tế sáng ngày 9-12-2013, tại nguyện đường Nhà Trọ Thánh Marta ở Vatican, cùng với Đức Thượng Phụ Ibrahim Isaas Sidrak, Giáo chủ Công Giáo Copte Ai Cập, đến Roma để cử hành thánh lễ hiệp thông với ĐTC sau khi đắc cử Thượng Phụ.

Hiện diện trong thánh lễ cũng có ĐHY Leonardo Sandri, Tổng trưởng Bộ các Giáo Hội Công Giáo Đông phương, một số GM, LM tu sĩ nam nữ và tín hữu thuộc Giáo Hội Công Giáo Copte.

Dựa vào các bài đọc trong thánh lễ, ĐTC khích lệ cộng đoàn Công Giáo tại Ai Cập hãy ”can đảm, đừng sợ hãi” dù đang phải chịu tình trạng bất an và bạo lực, nhiều khi chỉ vì đức tin Kitô. Ngài cũng nói rằng:

”Chúng ta hãy tín thác cầu nguyện để tại Thánh Địa và toàn vùng Trung Đông, hòa bình luôn có thể trỗi dậy từ những chướng ngại quá thường xuyên và nhiều khi ở trong tình trạng thê thảm. Ước gì những chia rẽ và hận thù được chấm dứt mãi mãi Ước gì những hiệp định hòa bình, nhiều khi bị tê liệt vì những đối nghịch và những quyền lợi đen tối, được mau lẹ mở lại. Và sau cùng ước gì những bảo đảm thực sự về tự do tôn giáo được thực hiện cho tất cả mọi người, cùng với quyền của các tín hữu Kitô được sống thanh thản tại nơi họ sinh ra, nơi quê hương mà họ yêu mến từ 2 ngàn năm nay, hầu góp phần như từ trước đến nay cho thiện ích của mọi người”.

Giáo Hội Công Giáo Copte Ai Cập chỉ có gần 166 ngàn tín hữu với 1 Thượng Phụ, 6 GM chính tòa và 3 GM phụ tá. Tại Ai Cập có Giáo Hội Chính Thống Copte chiếm khoảng 8% trong tổng số 85 triệu dân. (SD 9-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

THANH KHIẾT VẸN TUYỀN

 THANH KHIẾT VẸN TUYỀN

Our Lady Immaculate-Conception

Lễ Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội năm nay trùng vào Chúa Nhật II Mùa Vọng, mang một ý nghĩa đặc biệt. Giữa “màu tím đợi chờ và hy vọng” chợt bừng lên “màu trắng tinh tuyền” của ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm.

Đức Maria đã “lọt vào mắt xanh Thiên Chúa”, được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế, được giữ gìn trong tình trạng thánh đức ngay từ khi bắt đầu hiện diện trong đời. Nhờ Ơn Vô Nhiễm, cung lòng của Mẹ Maria đã trở nên cao sang, thanh khiết, vẹn tuyền, trở nên ngôi đền thờ Thiên Chúa ngự qua biến cố Truyền Tin.

Trong Kinh Tiền Tụng, Giáo Hội cầu xin Thiên Chúa bằng những lời vui mừng và hy vọng cho nhân loại: “Cha đã gìn giữ Ðức Trinh Nữ Maria khỏi mọi vết nhơ nguyên tội. Cha đã cho Người được đầy ơn sủng để Người xứng đáng làm Mẹ của Con Cha. Nơi Người, Cha đã phác hoạ hình ảnh một Hội Thánh rất xinh đẹp, không tỳ ố, không vết nhăn, là Hiền Thê của Ðức Kitô. Thật vậy, Ðức Trinh Nữ rất thanh khiết sẽ sinh hạ cho nhân loại một người con là chiên vẹn toàn, Ðấng xóa tội trần gian. Cha đã chọn Người giữa muôn một, để Người chuyển cầu và nêu gương thánh thiện cho dân Cha.”

Giáo Hội ca tụng Đức Maria: được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ, đầy ân sủng, Mẹ Chúa Kitô, Mẹ Giáo Hội, xinh đẹp, trinh khiết, trạng sư ân sủng, mẫu mực thánh thiện. Nhờ đặc ân này, Mẹ Maria luôn được Thiên Chúa đoái thương và yêu mến nên Mẹ khiết trinh vẹn sạch và được vinh thăng nơi thiên quốc.

Trong hai thế kỷ sau cùng của thiên niên kỷ thứ hai, liên tiếp có hai chân lý về Đức Maria đã được Giáo Hội định tín. Đó là: tín điều “Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội” (8.12.1854) và tín điều “Đức Maria Hồn Xác Lên Trời” (1.11.1950).

Qua hai tín điều này, Giáo Hội tuyên tín và khái quát về toàn bộ chương trình cứu độ của Thiên Chúa ở hai tận cùng của lịch sử. Một khởi đầu sáng tạo với vẽ đẹp “Vô Nhiễm Nguyên Tội”,và cuối cùng, với công trình Nhập Thể-Cứu Chuộc của Chúa Con, toàn thể nhân loại lại được nâng lên trong ánh quang phục sinh như “Đức Maria hồn xác lên trời”.

Lòng sùng kính Đức Maria là cả một cảm nghiệm sâu xa của niềm tin Dân Chúa qua dọc dài lịch sử với nền tảng Thánh Kinh và Thánh Truyền.

Sách Sáng thế kể rằng: con người được tạo dựng trong yêu thương và được ân ban cuộc sống hạnh phúc ngay từ thuở ban đầu. Tuy nhiên, “địa đàng hạnh phúc ấy không may đã khép lại với nguyên tổ”. Đánh mất địa đàng, con người cũng mất luôn hạnh phúc được chia sẻ sự sống thân mật và vĩnh hằng với Thiên Chúa. Cái chết đã trở thành một bản án chí tử. Thiên Chúa tình yêu đã hé mở chân trời hy vọng: “Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ, giữa miêu duệ mi và miêu duệ người đó. Người miêu duệ đó sẽ đạp nát đầu mi”. Đó chính là “Tin Mừng đầu tiên”, Tin Mừng nguyên thủy. Niềm hy vọng trải dài xuyên suốt lịch sử con người từ buổi hồng hoang cho đến ngày Lời hứa được thực hiện.

Từ cuộc “đỗ vỡ ban đầu” của Nguyên tổ, Thiên Chúa đã quyết định thực hiện một chương trình cứu rỗi diệu kỳ. Đức Maria đã được chọn từ muôn thưở: “Ta sẽ đặt mối thù nghịch giữa mi và người phụ nữ”. Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “Khi đến thời viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con của Người, sinh bởi người nữ, sinh dưới quyền lề luật, để cứu chuộc những kẻ dưới quyền lề luật, ngõ hầu ta được chịu lấy quyền nghĩa tử” (Gl 4,4). Chính người Con đó, Đức Giêsu Kitô, sẽ thực hiện lời hứa “đạp dập đầu con rắn” mà Thiên Chúa đã công bố thuở xưa. Người nữ đó chính là Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Đấng Cứu Chuộc. Đức Trinh Nữ ấy đã được Đức Piô IX long trọng công bố trong tín điều Vô Nhiễm: “Ta tuyên bố rằng Đức Trinh Nữ rất thánh đã được gìn giữ khỏi mọi tì ố tội tổ tông… ngay từ buổi đầu tượng thai”.

Như thế, rõ ràng mầu nhiệm “Vô Nhiễm Nguyên Tội” là một lộ trình đức tin của Dân Chúa. Đặc Ân này, huyền nhiệm này nắm giữ một vai trò, một ý nghĩa, một điều kiện có tính quyết định trong con đường dẫn tới hạnh phúc vĩnh hằng của nhân loại. Nói cách khác, Đặc ân “Vô Nhiễm Nguyên Tội” của Đức Trinh Nữ Maria chính là “Tin mừng về cuộc chiến thắng của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa”.

Tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội bắt nguồn từ trong Thánh Kinh và lớn lên trong đức tin đơn thành và bình dân của tín hữu thời Giáo Hội Sơ Khai. Ngay từ thế kỷ thứ II, các Thánh Giáo Phụ Justinô và Irénée de Lyon đã ngợi khen sự thánh thiện của Đức Maria. Giáo Hội Đông Phương đã mừng Lễ Mẹ Vô Nhiễm từ thế kỷ thứ VII. Vào năm 1432, công đồng Bâle đã coi mầu nhiệm này như một tâm điểm của lòng tin. Vào thế kỷ XIX, sau khi Đức Mẹ hiện ra với Thánh Catherine Labouré tại nguyện đường nhà Dòng Nữ Tử Bác Ai năm 1830, sau đó Đức Thánh Cha Piô IX đã long trọng ban bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội vào ngày 8.12.1854. Bốn năm sau đó, vào ngày 25.3.1858, Đức Mẹ hiện ra tại hang đá Massabielle Lộ Đức, với thánh nữ Bernadette Soubirous. Đức Mẹ đã xác nhận tín điều trên đây khi tự xưng mình là “Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội”.

Đặc ân “Vô Nhiễm Nguyên Tội” tô thắm vẽ đẹp tuyệt mỹ của Đức Mẹ. Mẹ đầy ơn Chúa. Sứ Thần cung kính thưa với Mẹ rằng: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng bà!" (Lc 1,28). "Ðấng đầy ơn phước" là tên gọi đẹp nhất của Mẹ Maria, tên gọi mà Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ, để chỉ cho biết rằng từ muôn thuở và cho đến muôn đời, Đức Mẹ là Ðấng được yêu thương, được Thiên Chúa tuyển chọn, được tiền định để đón nhận hồng ân quý giá nhất, là Chúa Giêsu, "tình thương nhập thể của Thiên Chúa" (x.Thông điệp Thiên Chúa là tình yêu, số 12).Tước hiệu “Bà đầy ơn phước” xác nhận lòng Đức Mẹ không có chổ dành cho tội lỗi vì luôn được đầy tràn ơn phước của Thiên Chúa. “Thiên Chúa ở cùng Bà”: Ở đâu có Thiên Chúa, ở đó bóng tối của tội lỗi không thể có mặt. Mẹ luôn sống trong ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa. “Bà có phúc hơn mọi người phụ nữ” vì Mẹ là người duy nhất không vướng mắc tội tổ tông.Mẹ đẹp thánh thiện. Mẹ đẹp cao quý. Mẹ tuyệt mỹ vì niềm tin đơn sơ và cuộc sống khiêm nhường. Nét đẹp ấy thoang thoảng như như một hương thơm hảo hạng toả ra lôi cuốn. Nét đẹp ấy mặn mà như thứ muối thiêng liêng. Nét đẹp ấy lung linh như ánh sáng dịu mát. Nét đẹp ấy huyền diệu như âm nhạc dịu êm mời gọi con người nâng tâm hồn lên tới Chúa. Những nét đẹp ấy kết tinh trong trong lời “xin vâng”. Một lời thật ngắn nhưng âm vang cả đời. Một lần thưa lên là ngàn lần răm rắp thực thi khít khao không sai chạy, dù trên đỉnh vinh quang hay dưới vực đau thương quay quắt. Một lời vừa biểu lộ sự hiến dâng cộng tác tích cực, vừa thể hiện niềm yêu mến tin tưởng phó thác.

Đặc ân “Vô Nhiễm Nguyên Tội” là một biểu hiện cụ thể và tròn đầy kết quả viên mãn của ơn cứu độ do Đức Kitô mang lại cho phần tử ưu tú nhất của nhân loại. Đức Maria gắn bó mật thiết với mầu nhiệm “Con Chúa xuống thế làm người”, như sách Giáo Lý chung của Hội Thánh đã viết: “Để làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria “đã được Chúa ban cho nhiều ơn xứng với nhiệm vụ cao cả ấy”. Những đặc ân của Đức Maria chính là kết quả đi trước của cuộc Vượt Qua của Đức Kitô, như sách giáo lý xác tín: “Mẹ có được sự thánh thiện tuyệt vời, có một không hai “ngay từ lúc tượng thai” hoàn toàn là do Đức Kitô: Mẹ được cứu chuộc cách kỳ diệu nhờ công nghiệp Con của Mẹ” (GLCG # 56). Ngoài ra, Đặc ân Vô Nhiễm cũng còn tiên báo hình ảnh đích thực của Hội Thánh vào ngày cánh chung, ngày mà Dân Chúa sẽ được tác thành như “một trinh nữ vẹn toàn”. Tất cả những nội dung đó đã được tóm kết trong kinh Tiền Tụng lễ Mẹ Vô Nhiễm hôm nay: “Chúa đã gìn giữ Đức Trinh Nữ Maria rất thánh khỏi mọi vết nhơ nguyên tội, để chọn Người đầy ơn phúc xứng đáng làm Mẹ Con Chúa, và chỉ cho chúng ta thấy nơi Người là khởi điểm Hội Thánh xinh đẹp, không vết nhăn, là bạn Con Chúa”.

Mẹ Maria chính là thụ tạo đầu tiên hưởng được lời hứa cứu độ mà Thiên Chúa công bố ngay buổi đầu với Nguyên tổ. Với Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Maria trở thành một chứng nhân cụ thể cho tình yêu bao la của Thiên Chúa dành cho toàn thể nhân loại. Chính vì thế, trong ngày lễ hôm nay, Giáo Hội đã mượn lời Thánh Vịnh 97 để cùng hát lên trong hân hoan cảm tạ: “Hãy ca tụng Chúa một bài ca mới.Vì Người đã thực hiện những việc lạ lùng…Chúa đã công bố ơn cứu độ, đã tỏ sự công chính Người trước mặt chư dân…mọi dân trên khắp cùng bờ cõi trái đất đã nhìn thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa chúng ta…”

Với Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội, Mẹ Maria được quyền năng và tình yêu Thiên Chúa đổ tràn.Mẹ được khỏi tội tổ tông và được đầy ơn ơn sủng ngay từ trong lòng Mẹ. Quyền năng và tình yêu Chúa bao phủ suốt cả đời Mẹ trên từng ý nghĩ, từng tình cảm, từng mỗi hành động, từng mỗi bước đi… khiến cho tâm hồn Mẹ luôn hướng về Chúa mà tạ ơn và ngợi khen liên lỉ. Đặc ân cao trọng này chính là sự thánh thiện tinh tuyền của Mẹ, vốn đã được “Thánh Thần ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên bà” (Lc 1,35).

Giáo Hội cùng hiệp ý chung lời với Mẹ ngợi khen tạ ơn Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

Những lời ngợi ca đó nói lên tất cả tâm hồn của Mẹ. Đó là toát lược cả cuộc đời Mẹ, cả chương trình sống của Mẹ, là con đường tu đức của Mẹ: mãi mãi là người nữ tỳ khiêm tốn, luôn phó thác hoàn toàn trong tay Chúa toàn năng và nhân hậu, hằng dâng lời ngợi khen tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc sống. Đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội dẫu chỉ một mình Mẹ hưởng nhận, nhưng hiệu quả của đặc ân ấy con cái Mẹ tất cả đều được hưởng nhờ.

Cử hành lễ Mẹ Vô Nhiễm giữa Mùa Vọng, cộng đoàn chúng ta được nhắc nhở thêm nữa về thái độ sữa dọn tâm hồn xứng đáng để đón mừng mầu nhiệm Giáng Sinh, nhất là để từng ngày cộng tác với ân sủng hầu biến cuộc sống trở thành một mãnh đất tốt để Lời Chúa kết trái đơm hoa, như mãnh đất tâm hồn trong trắng của Đức Maria, tinh hoa của bao ngàn năm mong đợi. Đức Mẹ đã chuẩn bị một lễ Giáng sinh đẹp nhất, công phu nhất, dài nhất bằng chín tháng cưu mang trong tình yêu. Xin Mẹ cũng giúp chúng ta chuẩn bị mừng lễ Giáng sinh với tâm tình yêu mến như Mẹ.

LM Giuse Nguyễn hữu An

50 ngàn tín hữu đọc kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha: 8-12-2013

50 ngàn tín hữu đọc kinh Truyền Tin với Đức Thánh Cha: 8-12-2013

VATICAN. ĐTC Phanxicô đã chủ sự buổi đọc kinh Truyền Tin trưa ngày 8-12-2013 với 50 ngàn tín hữu và đến cầu nguyện trước cột đài Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội ở Roma.

Theo lịch chung của Giáo Hội hoàn vũ, 8-12-2013 là chúa nhật thứ 2 mùa vọng, nên lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm được dời sang ngày thứ hai hôm sau, 9-12. Nhưng Bộ Phụng Tự đã đặc biệt cho phép tất cả các giáo phận tại Italia được mừng kính Lễ Đức Mẹ Vô nhiễm vào ngày chúa nhật 8-12 này.

Bài huấn dụ của ĐTC

Trong bài huấn dụ trước khi đọc kinh Truyền Tin, ĐTC đã quảng diễn ý nghĩa mầu nhiệm Đức Mẹ được đặc ân vô nhiễm nguyên tội, dựa trên bài Tin Mừng của ngày lễ. Ngài nói:

Anh chị em thân mền, chào Anh Chị em!

Chúa nhật thứ hai mùa vọng này, trùng vào lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, và vì thế, cái nhìn của chúng ta bị thu hút vì vẻ đẹp của Mẹ Chúa Giêsu, là Mẹ chúng ta! Giáo Hội rất vui mừng chiêm ngắm Mẹ là ”Người đầy ơn phúc” (Lc 1,28), và khi bắt đầu bằng những lời này, tất cả chúng ta hãy kinh chào Mẹ: ”Đầy ơn phúc”. Chúng ta hãy nói ba lần: ”Đầy ơn phúc!”. Tất cả: ”Đầy ơn phúc… Thiên Chúa đã nhìn Mẹ ngay từ lúc đầu tiên trong kế hoạch yêu thương của Chúa. Mẹ Maria nâng đỡ chúng ta trong hành trình hướng về Lễ Giáng Sinh, vì Mẹ dạy chúng ta cách sống Mùa Vọng này trong sự chờ đợi Chúa.

Tin Mừng theo thánh Luca trình bày cho chúng ta một thiếu nữ ở thành Nazareth, một thị trấn nhỏ bé của miền Galilea, ở vùng biên cương của đế quốc Roma và ở ngoài lề của Israel. Vậy mà Mẹ đã được Thiên Chúa đoái nhìn đến, đã chọn Mẹ làm mẹ của Chúa. Do chức phận làm mẹ ấy, Đức Maria đã được gìn giữ khỏi mắc tội tổ tông truyền, nghĩa là khỏi sự rạn nứt trong tình hiệp thông với Thiên Chúa, với tha nhân và với thiên nhiên, vốn làm thương tổn sâu xa cho mỗi người. Nhưng sự rạn nứt ấy đã được chữa lành trước nơi Mẹ của Đấng đã đến để giải thoát chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi. Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội đã được ghi trong kế hoạch của Thiên Chúa; là kết quả của tình yêu Thiên Chúa Đấng cứu độ thế giới.

Và Đức Mẹ không bao giờ xa lìa tình yêu ấy; trọn cuộc sống, trọn con người của Mẹ là một lời ”xin vâng” đối với Thiên Chúa. Nhưng thực ra điều ấy không dễ dàng đối với Mẹ! Khi Sứ thần gọi Mẹ là “Người đầy ơn phúc” (Lc 1,28), Mẹ rất ”sao xuyến”, vì trong sự khiêm hạ, Mẹ cảm thấy mình không là gì cả trước Thiên Chúa. Sứ thần Chúa trấn an Mẹ: ”Hỡi Maria, xin đừng sợ, vì Trinh Nữ đã được ân phúc nơi Thiên Chúa. Và này đây Trinh Nữ sẽ thụ thai một con trai.. và sẽ gọi Người là Giêsu” (v.30). Lời loan báo này càng làm cho Mẹ Maria giao động hơn nữa, vì Mẹ chưa thành hôn với Giuse; nhưng Sứ thần nói thêm: ”Thánh Linh sẽ ngự xuống trên Trinh Nữ.. vì thế hài nhi sinh ra sẽ là thánh và được gọi là Con Thiên Chúa” (v.35). Mẹ Maria lắng nghe, trong tâm hồn vâng phục và thưa lại: ”Này tôi là nữ tỳ Chúa: xin xảy đến cho tôi theo lời ngài” (v.38).

”Mầu nhiệm về thiếu nữ thành Nazareth ấy là người ở trong con tim của Thiên Chúa, không phải là điều xa lạ đối với chúng ta. Thực vậy, Thiên Chúa yêu thương đoái nhìn mỗi người nam nữ! Thánh Phaolô Tông đồ quả quyết rằng Thiên Chúa ”đã chọn chúng ta trước khi tạo thành vũ trụ để chúng ta được nên thánh thiện và không tỳ ố” (Ep 1,4). Cả chúng ta, từ đời đời, đã được Thiên Chúa chọn để sống một cuộc đời thánh thiện, được giải thoát khỏi tội lỗi. Đó là một dự phóng yêu thương mà Thiên Chúa lập lại mỗi khi chúng ta đến cùng Ngài, nhất là qua các bí tích.

Vì thế, trong đại lễ này, khi chiêm ngắm Đức Mẹ vô nhiễm của chúng ta, chúng ta cũng nhìn nhận vận mệnh đích thực nhất của chúng ta, ơn gọi sâu xa nhất của chúng ta, đó là: được yêu mến, được tình thương biến đổi. Chúng ta hãy nhìn Mẹ, và để cho Mẹ nhìn ngắm chúng ta; để học cách trở nên khiêm nhường hơn, can đảm hơn trong việc sống theo Lời Chúa; để đón nhận vòng tay dịu dàng của Chúa Giêsu, Con của Người, vòng tay ban cho chúng ta sự sống, hy vọng và an bình.

Chào thăm

Sau khi ban phép lành cho các tín hữu, ĐTC chào thăm mọi người, ngài nêu tên nhiều phái đoàn ở Italia, và nói thêm rằng:

”Chúng ta hiệp ý với Giáo Hội sinh sống ở Bắc Mỹ, ngày hôm nay đang kỷ niệm 350 năm thành lập giáo xứ đầu tiên, đó là Giáo Xứ Đức Bà Québec. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa vì hành trình đã trải qua từ đó, nhất là các vị thánh và các vị tử đạo đã làm cho những lãnh thổ ấy được phong phú. Tôi thành tâm chúc lành cho tất cả các tín hữu đang cử hành lễ kỷ niệm này.”

ĐTC đặc biệt chào thăm các thành viên Phong trào Công Giáo tiến hành Italia, hôm nay lập lại quyết tâm gắn bó theo Phong trào. Ngài cầu chúc họ mọi sự tốt lành cho nỗ lực dấn thân huấn luyện và làm tông đồ.
Đức Thánh Cha cũng loan báo chương trình hoạt động ban chiều của ngài với mục đích cầu nguyện dưới chân tượng đài Đức Mẹ Vô nhiễm, như một hành vi sùng mộ con thảo đối với Đức Mẹ Maria, để phó thác cho Mẹ thành Roma, Giáo Hội và toàn thể nhân loại.

Kính viếng đài Đức Mẹ Vô Nhiễm

Và thực vậy, lúc 4 giờ chiều cùng ngày 8-12-2013, tiếp nối một truyền thống từ lâu đời, ĐTC Phanxicô đã đến đặt vòng hoa tôn kính và cầu nguyện trước cột đài Đức Mẹ Vô Nhiễm ở Quảng trường Tây Ban Nha và trước trụ sở của Bộ truyền giáo. Cột đài này được Đức Chân phước Giáo Hoàng Piô 9 khánh thành ngày 8-9 năm 1857, tức là 3 năm sau khi tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Cột cao 11,81 mét trên đó có tượng Đức Mẹ đầu đội triều thiên 12 ngôi sao.

Khi ĐTC tiến vào con đường Condotti, đã có đông đảo các tín hữu chờ hai bên đường để chào đón ngài. Ngài đừng lại trước Nhà thờ Chúa Ba Ngôi của các cha dòng Đa Minh người Tây Ban Nha, để nhận sự chào đón của Hiệp hội các thương gia tại khu vực có những cửa tiệm nổi tiếng nhất của thành Roma.

Tại Quảng trường Tây Ban Nha, ĐTC đã được ĐHY Vallini, Giám quản Roma và ông đô trưởng Roma, Ignazio Marino, và ông chủ tịch miền Lazio, Nicola Zingaretti đón tiếp. Đặc biệt tại đây có sự hiện diện của 150 anh chị em bệnh nhân ngồi trên xe lăn, do tổ chức từ thiện Unitalsi giúp đưa từ đảo Sardegna tới đây, cùng với hàng ngàn tín hữu. Ngoài ra cũng có sự hiện diện của ĐHY Fernando Filoni, Tổng trưởng Bộ truyền giáo và hai vị TGM Tổng thư ký của Bộ là Savio Hàn Đại Huy và Protase Rugambwa.

Sau lời nguyện mở đầu và đoạn sách Tông Đồ công vụ (12,1-6a), ĐTC đã đọc kinh nguyện dâng lên Mẹ Thiên Chúa:

”Lạy Đức Trinh Nữ thánh và vô nhiễm, với lòng tín thác và yêu mến, chúng con hướng về Mẹ, Mẹ là vinh dự của dân tộc chúng con và là người ân cần bảo vệ thành thị của chúng con.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Đấng tuyệt đẹp, chẳng có tội lỗi nơi Mẹ. Xin khơi dậy trong chúng con được một ước muốn mới được nên thánh: xin cho ánh quang chân lý rạng ngời trong lời nói của chúng con, cho bài ca bác ái vang dội trong các hoạt động của chúng con, và sự tinh tuyền và khiết tịnh ngự trị trong thân xác và tâm hồn chúng con, cho trọn vẹn vẻ đẹp của Tin Mừng hiện diện trong đời sống chúng con.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ là Đấng tuyệt đẹp! Lời của Thiên Chúa đã nhập thể làm người trong Mẹ.

Xin làm cho chúng con đừng đánh mất ý nghĩa hành trình trần thế của chúng con: xin cho ánh sáng dịu dàng của đức tin chiếu sáng những ngày đời của chúng con, cho sức mạnh an ủi của hy vọng hướng dẫn bước chân của chúng con, cho sức nóng lan tỏa của tình yêu linh hoạt con tim của chúng con, cho mắt của tất cả chúng con hướng nhìn về nơi Thiên Chúa, nơi có niềm vui đích thực.

Lạy Mẹ Maria là Đấng tuyệt đẹp, xin lắng nghe lời nguyện của chúng con, nghe lời khẩn cầu của chúng con: xin Mẹ là vẻ đẹp của tình yêu thương xót của Thiên Chúa nơi Chúa Giêsu trong chúng con, xin Mẹ là vẻ đẹp thần linh đến cứu thoát chúng con, thành thị của chúng con và toàn thế giới. Amen

Rồi ĐTC đã dâng vòng hoa tôn kính Đức Mẹ, trong khi cộng đoàn hát kinh cầu Đức Bà, rồi bài ca Ave Maria, trước khi ngài ban phép lành cho mọi người. Ngài chào thăm một số bệnh nhân ngồi trên xe lăn.

Rời đài Đức Mẹ, trên đường về, ĐTC còn đến Đền thờ Đức Bà Cả để cầu nguyện trước ảnh Đức Mẹ là phần rỗi của Dân Roma. Thói quen này đã được Đức Gioan 23 khởi sự, rồi được Đức Gioan Phaolô 2 tiếp nối cho đến năm 1995, rồi Đức Giáo Hoàng Biển Đức năm 2006.

Đối với ĐTC Phanxicô, ngài đến kính viếng và cầu nguyện trước Ảnh Đức Mẹ tại đây ngay sáng hôm 14-3-2013 sau khi được bầu làm Giáo Hoàng.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

LỜI CHIA BUỒN CỦA ĐTC PHANXICÔ VÀ CHỦ TỊCH HĐGM HOA KỲ

Đức Thánh Cha gửi điện văn chia buồn với Nam Phi
 
WHĐ (06.12.2013) – Hôm nay thứ Sáu 06-12, Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi điện văn cho Tổng thống Nam Phi Jacob Zuma để chia buồn về cái chết của cựu Tổng thống Nelson Mandela.

Sau đây là nội dung điện văn của Đức Thánh Cha:

***
Kính gửi ngài Jacob Zuma
Tổng thống Cộng hòa Nam Phi
Pretoria
 
Được tin buồn cựu Tổng thống Nelson Mandela đã qua đời, tôi xin gửi lời chia buồn và cầu nguyện cho gia đình ông Mandela, cho các thành viên chính phủ và cho mọi người dân Nam Phi. Tôi xin phó thác linh hồn của người quá cố cho lòng thương xót vô hạn của Thiên Chúa tối cao, và cầu xin Chúa an ủi và thêm sức mạnh cho tất cả những ai đang đau buồn về sự ra đi của ông.
 
Ông Nelson Mandela đã kiên trì dấn thân trong việc thăng tiến nhân phẩm của tất cả các công dân của đất nước và trong việc tạo dựng một nước Nam Phi mới, xây trên nền tảng vững chắc của bất bạo động, hòa giải và chân lý; tôi xin bày tỏ lòng kính trọng ông và cầu xin cho tấm gương của vị Tổng thống quá cố sẽ giúp các thế hệ người dân Nam Phi biết đặt công lý và công ích lên trên các tham vọng chính trị.
 
Với những tâm tình này, tôi cầu xin Thiên Chúa ban ơn an bình và thịnh vượng cho mọi người dân Nam Phi.
 
Phanxicô, giáo hoàng
 
***

Cựu Tổng thống Nam Phi Nelson Mandela, biểu tượng đấu tranh cho tự do và quyền con người trên toàn thế giới, đã qua đời lúc 20g50 ngày thứ Năm 05-12-2013 ở tuổi 95.

Ông được trao giải Nobel Hòa bình năm 1993 và làm Tổng thống Nam Phi từ năm 1994 đến 1999.
 
Một trong những câu nói nổi tiếng của ông Nelson Mandela là câu nói khi ông được trả tự do vào năm 1990 sau 27 năm ngồi tù: “Khi tôi bước đến với tự do, tôi biết rằng nếu không bỏ lại nỗi đau và lòng căm thù lại phía sau thì tôi vẫn còn ở trong tù”.

 Minh Đức

 

Chủ tịch Hội Ðồng Giám Mục Hoa Kỳ tiếc thương cựu TT Nelson Mandela , đánh dấu sự ra đi của nhà biểu tượng của kỷ nguyên.

Ngày 06 Tháng 12 2013

WASHINGTON – Tổng Giám Mục Joseph E. Kurtz cho biết, cái chết của cựu tổng thống Nelson Mandela đánh dấu sự ra đi của một nhà biểu tượng thời đại. Ngày 06 tháng 12 , ngày mà nhà lãnh đạo Nam Phi và đã qua đời tại quê hương của mình.

Đức Tổng Giám Mục tuyên bố như sau .

Kitô hữu thân mến,

Người có đức tin và mọi người thiện chí sẽ thương tiếc tin về cái chết của Nelson Mandela , việc ra đi của một nhà biểu tượng thời đại .

Trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ phân biệt chủng tộc của mình , Nelson Mandela là một ánh sáng cho hòa bình và bình đẳng ở đất nước của mình và cho toàn thế giới . Những năm trong tù đã minh họa sự đau khổ trải qua bởi rất nhiều người đã đi tìm kiếm công lý . Khi còn tại chức, Tổng Thống Nam Phi , Mandela đã tìm cách hủy các cấu trúc làm thiệt thòi cho người nghèo – và Đức Giáo Hoàng Phanxicô bây giờ cũng đang làm giống như vậy .

Những lời cầu nguyện của các giám mục Hoa Kỳ là với gia đình Mandela và với dân chúng, Giáo Hội và các giám mục Nam Phi. Chúng tôi cảm ơn Thiên Chúa đã ban cho nhân chứng dũng cảm của mình và cho tất cả những người đàn ông và phụ nữ làm việc chống lại bất công và chống lại sự thiếu công bằng, theo lời của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII , "để làm cho tạm trú của con người trên trái đất ít buồn . "


Nguồn: HĐGM HOA KỲ

Xét mình Mùa Vọng: Tỉnh thức trước nhiếu lối sống nguy hiểm

Xét mình Mùa Vọng: Tỉnh thức trước nhiếu lối sống nguy hiểm

Để sống niềm hy vọng vào Thiên Chúa và gieo niềm hy vọng cho mọi người, đòi tôi phải luôn tỉnh thức trước cuộc sống của mình. Khi xét mình trong Mùa Vọng, tôi thấy mình có khi tỉnh mà không thức, có lúc thức mà không tỉnh; hoặc tỉnh thức về những điều này nhưng lại mê muội về những điều kia… Do đó, có thể tôi đang rơi vào nhiều lối sống nguy hiểm:

– Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản.

– Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh.

– Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức.


I. Nguy hiểm cơ bản là lối sống không trưởng thành về nhân bản

1. Quá chú trọng đến bản thân mình mà ít quan tâm đến tha nhân.
2. Coi trọng việc riêng mà coi nhẹ việc chung.
3. Chỉ làm những điều mình muốn làm mà không làm những điều mình phải làm.
4. Đòi hỏi người khác mà không hề đòi hỏi mình.
5. Góp phần xây dựng thì ít mà chê bai phê phán thì nhiều.
6. Ham quyền hành chức vụ mà không khiêm tốn phục vụ.
7. Phục vụ theo ý mình mà không theo nhu cầu của người khác.
8. Ưa chuộng và quí mến người này nhưng ghét bỏ và khinh thường người kia.
9. Cởi mở và vui vẻ với anh em này nhưng đóng kín và lạnh lùng với anh em khác.
10. Đặt nặng công việc mà coi nhẹ con người. (lấy con người làm phương tiện)
11. Đặt nặng hiệu năng mà coi thường tính cách và ý hướng. (bệnh thành tích)
12. Đòi hỏi có tự do mà không có khả năng sống tự chủ.
13. Khôn nhưng không ngoan, thẳng nhưng không khéo.
14. Phán đoán bên ngoài mà không tìm hiểu bên trong. (nông cạn, hình thức)
15. Đánh giá mình và người khác dựa vào công việc, mà không dựa vào phẩm cách.
16. Biết lỗi mà không nhận lỗi; nhận lỗi mà không sửa lỗi. (cố chấp)
17. Làm theo những gì mình nghĩ, mà không nghĩ về những gì mình làm.
18. Nhiệt thành mà thiếu khôn ngoan. (chủ quan, nhẹ dạ)
19. Ham nghe người khác tâng bốc mà không muốn nghe sự thật. (tự lừa dối mình)
20. Muốn mọi người phải giúp mình nhưng mình chẳng giúp ai. (ích kỷ)


II. Nguy hiểm đáng sợ là lối sống không trưởng thành về tâm linh

1. Đặt nặng hình thức, tổ chức bề ngoài, mà coi thường nội dung và đời sống bên trong.
2. Ưu tiên cho các phương tiện vật chất, còn ơn thánh thì lại chẳng quan tâm.
3. Lao mình vào sự hiếu động ồn ào, còn nội tâm thì lạnh lùng, trống vắng.
4. Đặt nặng việc hưởng thụ, coi thường việc khổ chế.
5. Bám vào những công việc của Chúa, còn chính Chúa thì phớt lờ.
6. Lo được lòng mọi người mà không lo được lòng Chúa.
7. Chuyên chăm việc đời mà lười biếng việc đạo.
8. Phản ứng tự nhiên mà thiếu tinh thần siêu nhiên
9. Lo bồi dưỡng thân xác mà không lo bồi dưỡng tâm hồn.
10. Sống bác ái mà thiếu chân thật, sống chân thật mà thiếu bác ái.
11. Làm việc vì danh thơm tiếng tốt hơn là vì lòng yêu mến.
12. Tìm cách thay đổi mọi người mà không thay đổi chính mình.
13. Lo xây đắp tương lai mà không sống trọn giây phút hiện tại.
14. Muốn thành quả mà không muốn hy sinh.
15. Thực thi bác ái mà lại không sống công bằng.
16. Yêu mến Chúa mà không yêu mến anh em.
17. Theo đuổi ơn gọi mà không sống ơn gọi: lo tiến thân mà không hiến thân.
18. Nỗ lực sống trung thành nhưng lại thiếu trung thực.
19. Cầu nguyện một đàng, sống một nẻo.
20. Nhiều thiện chí mà không có hành động.

III. Nguy hiểm thường xuyên là lối sống không trưởng thành về tri thức

1. Biết nhiều thứ mà không biết mình.
2. Biết thì nhiều mà sống không bao nhiêu.
3. Biết chẳng bao nhiêu mà tự kiêu tự mãn.
4. Trí thức uyên thâm mà lại thiếu đức độ.
5. Chỉ đạt lý mà không thấu tình.
6. Làm việc mà không xem tình hình, không xét hậu quả.
7. Thông minh tài trí nhưng lại sống ích kỷ, hẹp hòi.
8. Học nhiều, đọc nhiều mà thiếu suy tư nghiền ngẫm.
9. Chỉ nghe biết mà không truy tìm, tra cứu, điều nghiên.
10. Nhai lại tư tưởng người khác mà không khai sáng tư tưởng mình.
11. Chỉ dựa vào sách vở và lý thuyết mà không có kinh nghiệm thực tế.
12. Thấy chi tiết mà không thấy tổng quát.
13. Muốn động tay động chân mà không muốn "động não".
14. Hiểu biết nhiều nhưng không biết điều chính yếu.
15. Hiểu biết nhiều nhưng không sát, không sâu.
16. Hiểu biết mau nhưng không nguồn, không ngọn.
17. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình phải biết.
18. Hiểu biết nhiều mà không biết những điều mình không được phép biết.
19. Hiểu biết nhiều mà không biết sống yêu thương.
20. Hiểu biết sâu xa về nhiều thứ nhưng lại hiểu biết cạn cợt về Thiên Chúa.

Những lối sống trên đây luôn nằm trong tình trạng nguy hiểm. Nhưng hiểm nguy lớn nhất là tôi không nhận ra mình đang trong tình trạng nguy hiểm. Sống tỉnh thức là nhận thấy nguy hiểm do sự thiếu quân bình và cân đối trong đời sống mình về mọi mặt. Chỉ một chút quá đà sẽ gây ra hư hại khó lường. Chỉ một chút hụt hẫng sẽ rơi vào cảnh trống vắng nội tâm, dễ bị ma quỷ khống chế và thống trị.

Thật vậy, “Quỷ thấy nhà bỏ trống, lại được quét tước trang hoàng hẳn hoi. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng của người ấy còn tệ hơn trước” (Mt 12,44-45).


Lm. Thái Nguyên

Trích từ Emty

Đức Thánh Cha tiếp kiến Hội Đồng Tòa Thánh về giáo dân

Đức Thánh Cha tiếp kiến Hội Đồng Tòa Thánh về giáo dân

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến 80 tham dự viên khóa họp toàn thể của Hội đồng Tòa Thánh về giáo dân, sáng ngày 7 tháng 12-2013, ĐTC Phanxicô khích lệ các tín hữu linh hoạt sự hiện diện của Giáo Hội trong lãnh vực truyền thông, theo tinh thần Tin Mừng.

Hội đồng Tòa Thánh về giáo dân nhóm họp trong 3 ngày qua về đề tài ”Loan báo Chúa Kitô trong thời đại kỹ thuật số”(Proclaiming Christ in the digital age), dưới quyền chủ tọa của ĐHY Chủ tịch Stanislaw Rylko người Ba Lan. Trong số các tham dự viên có 12 HY, hơn 20 giáo dân thành viên cùng với một số chuyên gia cố vấn.

Lên tiếng trong buổi tiếp kiến, ĐTC nhắc đến truyền thống của Giáo Hội ngay từ những thế kỷ đầu tiên vẫn quan tâm đến vấn đề đức tin và văn hóa: tìm hiểu, đối thoại với nền văn hóa xung quanh, đón nhận và thăng hoa những yếu tố tích cực. Đó cũng là điều các giáo Phụ đã làm, đứng trước các nền triết học sâu xa. Các vị đã không thỏa hiệp với một số ý tưởng trái ngược với đức tin, nhưng biết nhìn nhận và hấp tục những ý niệm cao cả nhất, biến đổi chúng từ bên trong dưới ánh sáng Lời Chúa.

Cũng vậy đối với văn hóa truyền thông và kỹ thuật tân tiến ngày nay. ĐTC nói: ”Giữa những cơ may và nguy hiểm của các mạng internet, cần thẩm định giá trị của mọi sự, với ý thức rằng chắc chắn chúng ta sẽ thấy trong đó những 'đồng tiền giả', những ảo tưởng nguy hiểm và những cạm bẫy cần tránh. Nhưng được Thánh Linh hướng dẫn, chúng ta cũng sẽ khám phá những cơ may quí giá để dẫn đưa con người tới tôn nhan rạng ngời của Chúa”.

ĐTC nhận định rằng ”Trong số những khả thể mà ngành truyền thông kỹ thuật số cống hiến, điều quan trọng nhất liên hệ tới việc loan báo Tin Mừng. Tuy nhiên, thủ đắc những khả năng chuyên môn mà thôi thì vẫn chưa đủ, còn cần gặp gỡ những con người nam nữ thực sự, nhiều khi bị thương tổn và ngỡ ngàng lạc hướng, để cống hiến cho họ những lý lẽ hy vọng chân thực. Việc loan báo còn phải có những quan hệ chân chính giữa con người với nhau và nhắm đến một cuộc gặp gỡ với Chúa.”

Vì thế, – ĐTC nói- Internet mà thôi thì chưa đủ, kỹ thuật cũng không đủ.. Cần làm sao để Giáo Hội hiện diện trên Internet với lối sống Tin Mừng; cần hiện diện trong các môi trường mà đối với bao nhiêu người, nhất là người trẻ, đó là một thứ môi trường sống của họ, để khơi dậy những thắc mắc không thể dồn nén được của con tim về ý nghĩa của cuộc sống, và chỉ dẫn con đường dẫn tới Đấng là câu trả lời, là Lòng Từ Bi Chúa nhập thể, là chính Chúa Giêsu Kitô” (SD 7-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

LỜI CẢNH TỈNH KHẨN THIẾT

LỜI CẢNH TỈNH KHẨN THIẾT

Sứ mệnh Đấng Cứu Thế

Đấng Cứu Thế mà dân Chúa mong đợi được Tiên Tri Isaia báo trước là một Đấng Xét Xử công bình cho người thấp cổ bé miệng. Người đến từ Gốc Gies-sê, thân phụ của Đavít, thuộc dòng dõi Đavít. Người tràn đầy bảy ơn Thánh Thần của Đức Chúa. Người sẽ kiến tạo một nền hòa bình viên mãn, mà trong đó, công lý làm tiêu tan bao thế lực gian tà. Luật ưu tiên sẽ không còn thuộc về số đông của những người thống trị nhờ tiền hay quyền lực, nhưng thuộc về những người cùng đinh bị trị, không tiền, không quyền. Thế lực của những gian tà sẽ không còn nơi dung thân và nền hòa bình vững chắc dựa vào công lý, tín thành tự nơi con người Đấng Cứu Thế.

Vâng, một tin vui cho toàn thể nhân loại, khi sói, khi beo không còn hung hãn dữ tợn, mà ngược lại, trở nên hiền lành vui với lũ chiên ngoan, bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang… (x. Is. 11,1-8) Đấng Cứu Thế đến, Ngài sẽ làm cho mọi sự dữ, sự ác nơi vũ trụ này tan biến đi và trở thành những sự lành dễ thương như ngày sáng thế: Tất cả mọi sự đều tốt đẹp trước mặt Đức Chúa.

Như thế viễn cảnh hòa bình mà Isaia đề cập đến, chính là sự tái lập một địa đàng tuyệt đẹp trên trần gian, nơi ấy con người và Thiên Chúa chứa chan an vui trong mối tương quan mật thiết, mối giao hảo toàn vẹn của tình yêu và lòng thương xót…Tái lập tương quan với Thiên Chúa và nền hòa bình viên mãn lúc ban đầu tổ tiên nhân loại đã đánh mất, đó chính là sứ mệnh của Đấng Cứu Thế.

Dọn lòng đón Đấng Cứu Thế ngự trị

Để xứng đáng đón tiếp Đấng Cứu thế và ơn lộc hòa bình mà Ngài mang lại qua sứ mệnh của Ngài, Tiên tri Isaia đã báo trước: “Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi” (Is 40,3).

Và hôm nay, lời tiên tri ấy đã ứng nghiệm khi Thánh Gioan Tiền Hô xuất hiện và lớn tiếng hét lên cho nhân loại một mệnh lệnh khẩn cấp: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 3,2).

Như vậy, Nước Trời – hiểu theo nghĩa đã triển khai: Một đất nước của tình yêu thương và hòa bình viên mãn – đã đến, và việc “dọn sẵn con đường cho Đức Chúa”, cho “Nước Trời” chính là “sám hối”.

Theo trình thuật Tin Mừng hôm nay, thì sám hối không chỉ là biết mình có tội, mà còn phải “thú tội”, nhận lấy “phép rửa”, và hơn thế nữa, còn phải “sinh hoa quả” các nhân đức.

Sám hối không thể là một hành vi đạo đức có tính cách dối trá lừa đảo theo kiểu vụ hình thức của nhóm Pharisieu và Sadu. Thiên Chúa không chấp nhận kiểu sám hối nhân danh nòi giống của những người công chính, của các tổ phụ; kiểu sám hối cho qua chuyện dựa trên thân thế của các thánh nhân. Một kiểu sám hối tự phụ của những con người sám hối công khai.

Một bài học về Đức Tin và lòng sám hối mà Thánh Gioan Tiền Hô thay lời cho Thiên Chúa cảnh cáo thật nghiêm nhặt: “Các anh đừng tự phụ mà cho rằng chúng ta đã có tổ phụ Abraham. Vì tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho loài sỏi đá trở thành con cháu ông Abraham”. Vì thế, “Cái rìu đã đặt sát gốc cây, bất cứ cây nào không sinh quả tốt, đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Mt 3, 9-10).

Việc trổ sinh hoa quả của lòng sám hối theo lời dạy của Thánh Gioan Tiền hô nhắc đến tính tích cực của lòng sám hối là “Tin Vào Tin Mừng” và biến đổi thành “Con người mới của Tin Mừng”. Có như thế, mới được gọi là dọn lòng cho Đấng Cứu Thế ngự trị một cách đúng nghĩa.

Dẹp bỏ những rào cản bình an và hiệp nhất

Dọn đường cho Chúa đến, trước tiên dọn cõi lòng mình bằng một khát vọng hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, để khao khát ấy sôi sục lên trong lòng những thôi thúc hoán cải cho phù hợp với ý của Đấng Cứu Thế, Người mà ta mong đợi. Ý của Đấng Cứu Thế là tái lập một tương quan toàn vẹn với Thiên Chúa Cha. Vì thế, tất cả những rào cản làm trở ngại hoặc phá hủy tương quan này đều phải được dẹp bỏ. Ngoài những rào cản thông thường là “tội lỗi có thể thấy được”, nay còn thêm những rào cản tinh vi là “tội lỗi không thể thấy được” của những ảo tưởng tốt lành.

– Có thể nói việc bất tín nhiệm các thành phần quan trọng trong giáo hội là một khúc quanh co cần phải uốn cho ngay thẳng không những phía các thành phần bất tín nhiệm mà cả phía cần được tín nhiệm. Từ những sự bất tín nhiệm ấy, trổ sinh bao ảo tưởng “xây dựng giáo hội” theo cách ảo tưởng tốt chủ quan của mình, kéo theo cả một tầng tầng lớp lớp xa dần sự hiệp nhất cần có trong cùng một Đức Kitô, một Adam mới trong một Địa Đàng mới.

Thiết nghĩ, sự hoán cải tấm lòng của mỗi người và mọi người, của cá nhân và tập thể cộng đồng, sự hoán cải đồng bộ và phổ quát mới có sức làm nên một nền hòa bình viên mãn trong Nước Thiên Chúa thể hiện qua Giáo Hội trần gian. Nói như thế không có ý hàm chứa đặt điều kiện với nhau trong mọi thành phần, nhưng thiết nghĩ, đó chính là ước muốn của Thiên Chúa qua tiên tri Isaia và Thánh Gioan Tiền Hô.

Việc hoán cải tấm lòng và thay đổi chính mình theo tinh thần của Tin mừng luôn là một đòi buộc không miễn trừ ai. Và càng có trách nhiệm trong giáo hội càng phải trở nên gương soi, nên tiêu chuẩn cho tinh thần hoán cải này: Hoán cải để nên hiệp nhất, cần dẹp bỏ những ảo tưởng chủ quan, như Thánh Phaolô tha thiết: “Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau, như Đức Kitô Giêsu đòi hỏi. Nhờ đó, anh em có thể hiệp ý đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa, là Thân Phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (2Rm 15,5-6). Hoán cải để hiệp nhất, cụ thể, cũng theo Thánh Phaolô: “Vậy, anh em hãy đón nhận nhau như Đức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa”. (2Rm 15,7)

– Đã có những người trong giáo hội nghiêng về những xu hướng chính trị một cách thái quá để bảo vệ cho một chân lý không thuộc về Đức Kitô với ảo tưởng là để làm chứng cho Đức Kitô, có thể nói là không quá cần thiết và cũng không mang lại một hiệu quả nào cho nền hòa bình viên mãn mà Đức Kitô mong muốn.

Không có một thế lực chính trị nào mà không có những thủ thuật nằm ngoài sự thật của Chúa Kitô. Dù là chủ thuyết nào, cũng đều có ước muốn duy trì một quyền lực trần thế. Cơn cám dỗ làm vui lòng nhân loại để an định thái độ chính trị đôi khi đành để Tin mừng Chúa Kitô phải chấp nhận nhường đường hay thua thiệt.

Bênh vực cho Chân Lý Chúa Kitô hay bênh vực cho một chủ trương trần thế đang là một thách đố dẫn con cái Chúa đi vào khúc vòng vo cần phải sửa lại cho ngay thẳng để đón Chúa đến. Lời hứa khi rửa tội “từ bỏ ma quỷ và các việc của ma quỷ” vẫn đòi buộc mỗi người suy nghĩ và thực hiện lời hứa ấy từng ngày. Nhưng để thấy được “các việc của ma quỷ” trong thời đại tinh vi này thì quả là một điều cần cảnh tỉnh: Ước vọng chủ quan truyền giáo cho thế lực không nhìn nhận Thiên Chúa, đôi khi phải chấp nhận dừng lại, để dành cho lòng thương xót của Thiên Chúa quyết định, như Thánh Phao lô dạy: “Còn các dân ngoại có được tôn vinh Thiên Chúa thì đó là do lòng thương xót của Người” (2Rm 15, 9).

Như thế, khi đã nhận ra tính chủ quan mạo hiểm, thì việc “sám hối” không chỉ dừng lại ở việc nhìn thấy, mà còn phải dứt khoát, không thể tiếp tục làm công cụ cho một thế lực nào ngoài Tin mừng Chúa Kitô, vì không có một khuôn mẫu cứu thế nào khác hơn là Đức Kitô và Tin mừng của Ngài.

Lời Chúa Chúa Nhật 2 vọng là một lời cảnh tỉnh khẩn thiết cho tất cả những ai chưa tha thiết với một nền hòa bình tự bên trong là tương quan tốt đẹp giữa cá nhân với Thiên Chúa và cũng là lời cảnh tỉnh cho những người có trách nhiệm giới thiệu nền hòa bình mới này cho nhân loại. Không ai có thể làm cản trở hoặc dừng lại công cuộc cứu thế của Đấng Cứu Thế và ý định ngàn đời của Ngài. Và mỗi chúng ta, ngoài việc “hoán cải tấm lòng” “biến đổi chính mình” thì “hoa trái của lòng sám hối” khả thi nhất là lời cầu nguyện cho sự “hiệp nhất Giáo Hội” và sự “dứt khoát với những việc của ma quỷ”, để Thiên Chúa thật sự ngự trị trong mỗi cõi lòng, trong Giáo Hội Việt Nam và trong toàn thể nhân loại- một thế giới hòa bình viên mãn theo tinh thần của Tin Mừng.

Lạy Chúa, xin cho chúng con một quyết tâm thực hiện những ý định tốt đẹp bởi Thánh Thần soi dẫn. Xin giúp mọi thành phần dân Chúa luôn theo khuôn mẫu Tin Mừng Chúa Ki-tô mà thực hiện những điều tôt lành như lòng Chúa mong ước.

PM. Cao Huy Hoàng

Hãy dọn đường Chúa

Hãy dọn đường Chúa

Ba nhân vật quan trọng trong Kinh Thánh được Giáo Hội nhắc đến trong Mùa Vọng để giúp chúng ta chuẩn bị đón chờ Chúa đến là tiên tri Isaia, thánh Gioan Tiền Hô và Mẹ Maria. Không những các Ngài đã đón Chúa đến trong cuộc đời mình, mà các Ngài còn giúp cho mọi người khác biết cách để đón chờ Chúa đến.

Bài đọc thứ nhất của cả bốn Chúa Nhật Mùa vọng đều trích lại sứ điệp tràn đầy hy vọng của tiên tri Isaia. Trong cảnh sống nhiều thử thách và bóng tối đau thương dường như thể Thiên Chúa không có mặt, như bỏ rơi con người. Tiếng nói đầy hy vọng của tiên tri Isaia vang lên loan báo Thiên Chúa sắp đến thực hiện lời Ngài đã hứa, là thiết lập lại sự công bằng và hòa bình.

Thời của chúng ta đang sống tuy cách xa thời của tiên tri Isaia, nhưng vẫn cần lắng nghe và hy vọng vào sứ điệp của tiên tri Isaia. Con người có âm mưu loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi con người, nhưng phần Thiên Chúa thì Ngài không thể vì thế mà bỏ mặc con người với những thảm cảnh do chính con người tạo nên, như họ muốn loại trừ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của mình. Quyền năng vô cùng của Thiên Chúa luôn luôn có cách thế để vượt thắng những điều tiêu cực trong lịch sử con người và chương trình cứu rỗi vẫn được Ngài thực hiện.

Tiên tri Isaia đã loan báo cho dân Israel đang gặp thử thách ngày xưa và cho chúng ta ngày nay về dung mạo của Thiên Chúa Cứu Chuộc sắp đến là vị Thiên Chúa mà con người cần đến, với những lời được trích lại trong bài đọc thứ nhất của Chúa Nhật thứ hai Mùa vọng; “Chúa lấy công minh mà xét xử người nghèo” (x. Is 11,1-10). Đó là những đường nét chính của một vị Thiên Chúa cứu rỗi mà con người mọi thời đại cần đến, một vị Thiên Chúa công bằng trong xét đoán và giàu tình yêu thương, vì Ngài đến để thiết lập cuộc sống hoà bình và hoà hợp cho con người. Cuộc sống ấy được tiên tri Isaia loan báo bằng hình ảnh môi sinh, trong đó sói sống chung với chiên, trẻ nhỏ dám tiếp xúc với các thú dữ. Đó là hồng ân cao cả Thiên Chúa ban cho con người được sống trong cảnh thái bình hoà hợp. Nhưng từ phía con người, họ không được sống ỷ lại để mặc Thiên Chúa muốn làm sao thì làm, nhưng họ phải biết thay đổi cuộc sống của mình mà trở về với Thiên Chúa, đón nhận hồng ân Ngài ban.

Trong viễn tượng này, bài Tin Mừng Chúa Nhật thứ hai Mùa vọng nhắc lại sứ điệp của thánh Gioan, kêu gọi con người hãy thực sự trở về với Thiên Chúa bằng hành động thiết thực, chứ không phải bằng lời nói suông cho qua lần. Qua đó chúng ta có thể lưu ý đến những lời sau đây ghi lại điểm chính của sứ điệp là: “Hãy ăn năn và sám hối”.

Sự ăn năn sám hối là bước đầu tiên không thể bỏ qua được trên con đường trở về với Thiên Chúa. Cần dứt khoát, không được chần chờ kéo dài thời gian mãi được: “Cái rìu đã đặt sẵn dưới gốc cây”. Hơn nữa, trong số những người đến nghe Gioan rao giảng và muốn thực hiện việc ăn năn trở lại, có những người biệt phái và các văn nhân thuộc phái Sadduceo, họ bị thánh Gioan trách nặng lời: “Hỡi nòi rắn độc kia, ai bảo các ngươi trốn cơn thịnh nộ hòng đổ xuống trên đầu các ngươi. Hãy làm việc lành cho xứng với sự thống hối”.

Dù là ai hay trong địa vị nào đi chăng nữa, thì ai ai cũng là kẻ có tội và cần sự ăn năn thống hối, cần thật lòng trở về cùng Thiên Chúa. Chúng ta hãy kiểm điểm lại cuộc sống của mình xem trong ta còn có trở ngại nào ngăn cản không cho Chúa đến trong chính chúng ta và trong xã hội mà chúng ta đang sống.

Chúng ta hằng ngày hãy đọc kinh Lạy Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện Danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến…”. Lời chúng ta cầu xin cho Nước Cha trị đến sẽ chỉ là lời nói suông hay chỉ là lời nói theo thói quen bao lâu chúng ta không thực sự canh tân đời sống mình: “Hãy ăn năn thống hối, vì Nước Trời đã gần đến”.

Veritas Radio

MONG CHỜ

MONG CHỜ

Một vài năm trước đây tờ Chicago Tribune cho biết tia sáng laser có thể dùng để tẩy xoá các hình xăm dấu hiệu băng đảng trên thân thể của các phần tử.

Một chỗ thi hành công việc này là Trung Tâm Y Tế Sinai ở phía tây thành phố Chicago. Viên giám đốc điều hành trông coi chẩn y viện này nói rằng: Có một nhu cầu rất lớn cho chương trình này. Chúng tôi có trên 700 người đang chờ đợi để được hưởng dịch vụ này.

Vào một ngày thứ Bẩy mới đây, 45 người đã đến chẩn y viện này. Sử dụng một dụng cụ phát ra tia sáng laser, các bác sĩ tình nguyện đã hoàn toàn tẩy xoá được vết xăm chỉ trong vòng vài phút.

Một phụ nữ 25 tuổi cho biết một sự kiện xảy ra vào chiều Chúa Nhật đã khiến cô quyết định tẩy xoá các hình xăm trên thân thể. Khi cô đang đẩy đứa con gái nhỏ trên xích đu, một vài phần tử băng đảng nhìn thấy hình chĩa ba trên cánh tay và chân của cô, hình này là dấu hiệu của băng địch thủ, bọn chúng đã nổ súng. Thật may mắn, khi vội vàng nổ súng chúng đã không bắn trúng cô và đứa con gái.

Một người khác trước đây thuộc về băng đảng cũng đến chẩn y viện chiều hôm đó để tẩy xoá hình xăm ba giọt nước mắt bên mắt trái. Mỗi giọt nước mắt tiêu biểu cho một người bạn đã bị băng thù nghịch bắn chết. Anh ta nói: Bây giờ tôi đã có vợ và một đứa con nhỏ. Tôi muốn từ giã tất cả những thứ này. Nó là một điều ngu xuẩn mà tôi đã làm trước đây.

Câu chuyện của tờ Chicago Tribune cho thấy một điểm quan trọng. Trong cuộc đời, tất cả chúng ta đều đã thi hành những gì mà giờ đây chúng ta hối hận và muốn xoá bỏ chúng.

Điều này không chỉ đúng với người trẻ, nhưng còn đúng với người già. Thí dụ, nếu tôi ngưng nói ở đây khoảng nửa phút, tôi chắc rằng mọi người đều có thể nhớ lại một vài điều gì đó mà họ đã thi hành và giờ đây họ sẵn sàng đánh đổi lấy bất cứ gì để có thể đưa những điều ấy ra khỏi cuộc đời.

Điều bi thảm là rất nhiều người trên thế giới hối hận về những gì họ đã thi hành nhưng không biết cách nào để tẩy xoá chúng. Do đó họ phải chấp nhận sống với tình trạng như vậy. Bất cứ khi nào họ cảm thấy hối hận hay bứt rứt, họ cố gắng quên đi. Nhưng thường những tâm trạng ấy lại trở lại.

Tiểu thuyết gia Somerset Maugham đã viết nhiều cuốn tiểu thuyết và được dựng thành phim – tỉ như The Razor’s Edge, The Moon and Six Pence, và Of Human Bondage. Ông đã lên tiếng thay cho nhiều người khi nói rằng:

Tôi có một lương tâm bén nhậy và tôi từng thi hành một vài điều trong đời sống mà tôi không thể nào thực sự quên được.

Nếu may mắn tôi là một người Công Giáo, tôi có thể tự giải thoát mình khỏi những điều ấy qua việc xưng tội … lãnh nhận sự tha tội và có thể mãi mãi quên đi những điều ấy.

Lời phát biểu của ông giúp chúng ta thấy mình thật có phúc là chừng nào khi có được một phương cách để tẩy xoá tội lỗi khỏi cuộc đời.

Cũng như người cựu băng đảng thấy vui khi có thể tẩy xoá vết xăm thì người Công Giáo chúng ta cũng hân hoan khi Chúa Giêsu giúp chúng ta một phương cách để mãi mãi xoá bỏ tội lỗi của chúng ta.

Điều này đưa chúng ta đến mùa Vọng. Hàng năm Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta về món quà vĩ đại này mà Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta và thúc giục chúng ta hãy xử dụng nó để đưa tội lỗi ra khỏi cuộc đời.

Nó không chỉ đem lại cho chúng ta sự bình an lớn lao, nhưng còn chuẩn bị cho chúng ta về ngày giờ khi chúng ta phải đứng trước mặt Thiên Chúa để trả lời về những gì chúng ta đã làm và những gì không làm trong đời sống chúng ta.

Mùa Vọng nhắc nhở chúng ta rằng lời của Thánh Gioan Tẩy Giả trong bài phúc âm hôm nay không chỉ nói với người thời đó, nhưng còn cho con người thuộc mọi thời đại. Những lời đó nói với tôi và anh chị em: Hãy thay đổi đời sống… Hãy chuẩn bị con đường của Chúa.

Một cách cụ thể, những lời này có ý nghĩa gì đối với chúng ta ngay bây giờ? Chúng cũng có cùng một ý nghĩa đối với những người thời Chúa Giêsu. Chúng có nghĩa hãy sám hối và tẩy xoá tội lỗi bằng bí tích hoà giải, là một trong những món quà vĩ đại của Thiên Chúa ban cho chúng ta.

Chúng có nghĩa thi hành điều mà phần tử băng đảng trước đây đã thi hành. Chúng có nghĩa hãy thi hành những gì mà người nghiện rượu thi hành trong bước đầu tiên của chương trình 12 bước chừa rượu. Bước quan trọng này nói: Chúng ta thú nhận với Thiên Chúa, với chính mình, và với người khác về bản chất sai lầm của những điều chúng ta làm.

Về bước này, cuốn cẩm nang AA, “12 Steps and 12 Traditions”, viết:
Một vài bước thì khó hơn để thi hành và … không có bước nào cần thiết hơn. Tuy sự sợ hãi của chúng ta thật lớn và chúng ta do dự thi hành, nhiều người AA bỏ qua Bước Năm…

Không biết tại sao, ở một mình với Thiên Chúa thì không có vẻ bối rối như khi đối diện với người khác… Khi chúng ta thành thật với người khác, điều đó xác nhận rằng chúng ta đã từng thành thật với chính mình và với Thiên Chúa.

Nhiều người AA, đã một lần vô thần hay bất khả tri, nói với chúng tôi rằng chính trong bước này mà lần đầu tiên họ cảm thấy được sự hiện diện của Thiên Chúa. Và ngay cả những người đã có đức tin họ cũng thường ý thức hơn về Thiên Chúa như chưa bao giờ có.

Và như vậy Mùa Vọng là một sự nhắc nhở rằng đó không chỉ là thời gian chuẩn bị mừng Chúa đến lần thứ nhất vào ngày Giáng Sinh đầu tiên.

Nó còn nhắc nhở rằng đây là thời gian chuẩn bị cho Chúa đến lần sau cùng vào lúc tận thế.

Chúng ta hãy vui mừng và cảm ơn Chúa Giêsu vì đã ban cho chúng ta một phương cách để tẩy xoá quá khứ và làm lại từ đầu.

Chúng ta hãy kết thúc với lời cầu nguyện của Origen, một tín hữu thời tiên khởi:

Lậy Chúa Giêsu, chân của con thì đầy bụi và dơ bẩn. Chúa hãy đổ nước vào bồn và đến rửa chân con như Chúa đã rửa chân các tông đồ trong bữa Tiệc Ly.

Con nhận ra rằng, con thật can đảm khi xin Chúa thi hành điều ấy. Nhưng con sợ lời cảnh cáo mà Chúa đã nói với ông Phêrô, “Nếu Thầy không rửa chân cho con, con không thể làm bạn với Thầy.”

Vậy, lạy Chúa Giêsu, xin hãy rửa chân con, bởi vì con muốn được làm bạn với Ngài – hơn bất cứ gì khác trong đời.

Cha Mark Link