Công bố sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Quốc Tế giới trẻ 2013

Công bố sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Quốc Tế giới trẻ 2013

VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 mời gọi các bạn trẻ hăng say dấn thân vào sứ mạng truyền giảng Tin Mừng của Giáo Hội, đặc biệt cho các bạn đồng lứa tuổi.

Ngài đưa ra lời nhắn nhủ trên đây trong Sứ điệp công bố hôm 16 tháng 11-2012 nhân ngày Quốc Tế giới trẻ sẽ tiến hành vào tháng 7 năm tới, 2013, tại thành phố Rio de Janeiro Brazil, với chủ đề ”Các con hãy ra đi và làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ” (Xc Mt 28,19).

Trong Sứ điệp ĐTC đã quảng diễn nhiều khía cạnh của đề tài này và cho biết đây là một lời nhắn nhủ truyền giáo rất quan trọng mà Chúa Giêsu để lại cho toàn thể Giáo Hội và vẫn giữ nguyên tính chất thời sự sau 2 ngàn năm.
ĐTC đặc biệt nhắc nhở các bạn trẻ rằng “khi loan báo Tin Mừng, thì chính các con cũng tăng trưởng, được bén rễ ngày càng sâu hơn nơi Chúa Kitô, trở thành những tín hữu Kitô trưởng thành. Sự dấn thân truyền giáo là một chiều kích thiết yếu của đức tin. Ta không thể là tín hữu chân chính nếu không loan báo Tin Mừng. Và việc loan báo Tin Mừng chỉ có thể là hậu quả của niềm vui được gặp Chúa Kitô và tìm thấy nơi Chúa đá tảng trên đó ta xây dựng chính cuộc sống của mình”.

”Để làm thừa sai thì phải biết về gia sản mình đã nhận lãnh, đó là niềm tin của Giáo Hội: cần phải biết điều mình tin, để có thể loan báo niềm tin ấy.”

ĐTC nhấn mạnh cách riêng hai lãnh vực mà người trẻ có thể dấn thân truyền giáo hơn cả. Trước tiên là lãnh vực truyền thông xã hội, đặc biệt là thế giới Internet. Ngài viết: ”Các con hãy cảm thấy cần quyết tâm đưa vào nền văn hóa của môi trường truyền thông mới này những giá trị vốn làm nền tảng cho cuộc sống của các con.. Các con là những người trẻ hầu như cảm thấy tự nhiên hợp với các phương tiện truyền thông mới mẻ ấy, các con có nghĩa vụ đặc biệt loan báo Tin Mừng trong đại lục kỹ thuật số này” (Sứ điệp nhân Ngày Thế giới truyền thông xã hội lần thứ 43 24-5-2009). Vậy các con hãy biết sử dụng phương tiện này một cách khôn ngoan, để ý đến cả những cạm bẫy chứa đựng trong đó, đặc biệt là nguy cơ nghiện nó, lẫn lộn thế giới thực tế với thế giới tiềm thể, thay thế cuộc gặp gỡ và đối thoại trực tiếp với con người bằng những tiếp xúc trên mạng”.

Lãnh vực thứ hai ĐTC mời gọi các bạn trẻ dấn thân loan báo Tin Mừng là môi trường lưu động. ”Ngày nay càng ngày càng có nhiều bạn trẻ du hành, vì học hành hay vì công ăn việc làm hoặc để là giải trí.. Các bạn trẻ thân mến, các con đừng sợ làm chứng cho đức tin của các con cả trong những bối cảnh đó: thông truyền niềm vui vì gặp gỡ Chúa cho những người các con gặp, đó thực là một món quà quí giá”.

Cũng trong Sứ điệp, ĐTC nhắn nhủ các bạn trẻ chia sẻ niềm hy vọng cho tha nhân, sẵn sàng mời gọi người khác theo đuổi con đường khám phá đức tin Kitô; đào sâu đời sống kinh nguyện và các bí tích, cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo của toàn thể Giáo Hội, gắn bó với cộng đoàn Giáo Hội, vì ”không ai có thể là chứng nhân Tin Mừng lẻ loi”.

Sau cùng, gợi lại hình ảnh tượng Chúa Cứu Thế vĩ đại ở thành Rio de Janeiro đang mở rộng đôi tay và con tim yêu thương cho tất cả mọi người, ĐTC kết luận rằng ”Các con chính là con tim và vòng tay của Chúa Giêsu! Các con hãy ra đi làm chứng về tình thương của Chúa, hãy trở thành những thừa sai mới, được tình thương và tinh thần hiếu khách linh hoạt! Hãy noi gương các nhà đại truyền giáo của Giáo Hội, như thánh Phanxicô Xaviê và bao nhiêu vị khác” (SD 16-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican
 

 

Tòa Thánh cổ võ hòa bình và hòa giải tại Ivory Coast

Tòa Thánh cổ võ hòa bình và hòa giải tại Ivory Coast

VATICAN. Tòa Thánh khuyến khích tiến trình hòa bình thăng tiến các quyền con người, đối thoại và hòa giải quốc gia tại Ivory Coast để tạo điều kiện cho sự thống nhất và phát triển đất nước.

Lập trường trên đây của Tòa Thánh được ĐTC Biển Đức 16 và ĐHY Quốc vụ khanh Tòa Thánh, Tarcisio Bertone, bày tỏ trong cuộc gặp gỡ tổng thống Alassane Ouattara của Ivory Coast sáng 16 tháng 11-2012, tại Vatican.

Thông cáo của Phòng báo chí Tòa Thánh cho biết sau khi được ĐTC tiếp kiến, Tổng thống Ouattara đã gặp ĐHY Bertone và Đức TGM ngoại trưởng Dominique Mamberti. Trong các cuộc hội kiến, hai bên đã công nhận quan hệ tốt đẹp hiện nay giữa Tòa Thánh và Ivory Coast cũng như đánh giá cao sự đóng góp mà Giáo Hội có thể mang lại cho công ích của đất nước Ivory Coast. Hai bên cũng nhấn mạnh sự cộng tác phong phú giữa Giáo Hội và Nhà Nước trong lãnh vực y tế và giáo dục. Tòa Thánh cầu mong cuộc thương thuyết để tiến tới hiệp định giữa Tòa Thánh và Ivory Coast sẽ đi đến kết luận tốt đẹp.

Sau cùng, phía Tòa Thánh và Ivory Coast cũng nhắc đếnnhững thách đố miền mà Phi châu đang gặp, những thách đố này cũng được Tổng thống Ouattara đặc biệt quan tâm trong tư cách là Chủ tịch Cộng đồng kinh tế các nước miền Tây Phi châu.

Nước Ivory Coast vừa ra khỏi cảnh nội chiến giữa phe của Ông Ouattara, người thắng cử tổng thống, và phe của cựu tổng thống Laurent Gbagbo, là người từ chối chấp nhận kết quả cuộc bầu cử. Mới đây ông Gbagbo đã nạp mình cho tòa án hình sự quốc tế sau cuộc chiến kéo dài nhiều tháng trời. (SD 16-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

Đức Thánh Cha kêu gọi gia tăng nỗ lực đại kết Kitô

Đức Thánh Cha kêu gọi gia tăng nỗ lực đại kết Kitô

VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 kêu gọi gia tăng nỗ lực đại kết Kitô để đẩy mạnh công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 15-11-2012, dành cho 60 tham dự viên khóa họp toàn thể của Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, trong đó có 35 HY, GM, tiến hành từ ngày 12 đến 16 tháng 11-2012, về đề tài ”Tầm quan trọng của đại kết đối với việc tái truyền giảng Tin Mừng”.

ĐTC khẳng định rằng ”mục đích của phong trào đại kết là sự hiệp nhất hữu hình giữa các tín hữu Kitô bị phân rẽ. Sự hiệp nhất này không phải là một công trình mà chúng ta có thể tự thực hiện được. Chúng ta phải dấn thân hết sức, nhưng đồng thời cũng phải nhìn nhận rằng, xét cho cùng, sự hiệp nhất ấy là hồng ân của Thiên Chúa, nó chỉ có thể đến từ Chúa Cha, nhờ Chúa Con, vì Giáo Hội là Giáo Hội của Ngài.”

ĐTC cũng nhắc nhở rằng ”sự tìm kiếm hiệp nhất cũng là điều quan trọng đối với việc tái truyền giảng Tin Mừng. Sự kiện cùng nhau tiến về mục tiêu ấy là một thực tại tích cực, nhưng với điều kiện là các Giáo Hội và các Cộng đồng Giáo Hội Kitô không được dừng lại dọc đường, chấp nhập những khác biệt mâu thuẫn nhau như một cái gì bình thường, hoặc như một điều tốt đẹp nhất mà người ta có thể đạt được. Trái lại, chính trong sự hiệp nhất trọn vẹn trong đức tin, các bí tích và thừa tác vụ, mà sức mạnh hiện diện và hoạt động của Thiên Chúa trong thế giới trở nên hiển nhiên một cách cụ thể. Qua sự hiệp nhất hữu hình của các môn đệ Chúa Giêsu, sự hiệp nhất không thể giải thích được về phương diện con người, người ta thấy rõ hoạt động của Thiên Chúa vượt lên trên xu hướng phân hóa của thế giới”.

Sau cùng, ĐTC cầu mong Năm Đức Tin sẽ góp phần làm cho hành trình đại kết Kitô được tiến bộ. Một đàng sự hiệp nhất là thành quả của đức tin, nưhgn đàng khác nó cũng là một phương thế và hầu như là điều kiện tiên quyết để loan báo đức tin một cách đáng tin cậy hơn cho những người chưa biết Chúa Cứu Thế”

Khóa họp của Hội đồng hiệp nhất được đặt dưới quyền chủ tọa của ĐHY chủ tịch Kurt Koch, người Thụy Sĩ. Ngoài các HY và GM thành viên còn có 25 vị cố vấn chuyên gia.

Đề tài khóa họp này được coi như tiếp nối Thượng HĐGM thế giới kỳ thứ 13 trong tháng 10 vừa qua về việc tái truyền giảng Tin Mừng để thông truyền đức tin. Việc làm chứng cho Tin Mừng trong thế giới ngày nay là nghĩa vụ của tất cả các Giáo Hội và Cộng đoàn Kitô thuộc mọi hệ phái trên thế giới và đòi phải có một sự cộng tác chặt chẽ hơn giữa tất cả mọi môn đệ Chúa Kitô, để cùng nhau đương đầu với những thách đố mà tình trạng văn hóa và đã hội ngày nay đang đề ra cho đức tin.

Trong 5 ngày họp, Hội đồng cũng thảo luận về một tài liệu chỉ năm về Đại kết, và việc kỷ niệm 500 năm cuộc cải cách của Martin Luther sự kiến vào năm 2017 tới đây. (SD 15-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican
 

 

Đức Thánh Cha: 3 con đường dẫn đến nhận thức về Thiên Chúa

Đức Thánh Cha: 3 con đường dẫn đến nhận thức về Thiên Chúa

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến chung 9 ngàn tín hữu hành hương sáng thứ tư, 14 tháng 11-2012, Đức Thánh Cha Biển Đức 16 đã trình bày về 3 con đường dẫn đến nhận thứ về sự hiện hữu của Thiên Chúa.

Trong khi chờ đợi ĐTC đến Đại thính đường Phaolô 6, danh sách các phái đoàn đã được xướng lên và giới thiệu với mọi người, và các ca đoàn hiện cũng trình diễn những bài ca ngắn. Lúc 10 giờ 40, ĐTC tiến vào Đại thính đường giữa tiếng vỗ tay reo hò chào mừng của mọi người. Và trong bài huấn giáo tiếp đó, ĐTC tiếp tục loạt bài về năm đức tin. Ngài đặc biệt quảng diễn 3 con đường dẫn đến sự nhận biết Thiên Chúa:
Bài huấn giáo của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến,

Thứ tư tuần trước (7 tháng 11-2012), chúng ta đã suy tư về niềm ước mong Thiên Chúa mà mỗi người mang trong thẳm sâu tâm hồn mình. Hôm nay tôi muốn tiếp tục đào sâu khía cạnh này, suy tư vắn tắt về một vài con đường để đạt tới sự nhận biết Thiên Chúa. Nhưng tôi muốn nhắc nhớ rằng sáng kiến của Thiên Chúa luôn đi trước mọi sáng kiến của con người, và cả trong hành trình tiến về Chúa, chính Chúa soi sáng cho chúng ta trước, Ngài hướng dẫn và dìu dắt chúng ta, luôn tôn trọng tự do của chúng ta. Chính Chúa cho chúng ta đi vào cuộc sống thân mật với Ngài, tự biểu lộ và ban cho chúng ta ơn có thể đón nhận mạc khải ấy trong đức tin. Chúng ta đừng bao giờ quên kinh nghiệm của thánh Augustino, theo đó không phải chúng ta sở hữu Chân Lý sau khi tìm kiếm Chân Lý, nhưng chính Chân Lý tìm kiếm và chiếm hữu chúng ta.

”Tuy nhiên có những con đường có thể mở tâm hồn con người để họ nhận biết Thiên Chúa, có những dấu hiệu dẫn đến cùng Thiên Chúa. Dĩ nhiên, nhiều khi chúng ta có nguy cơ lầm lẫn vì những ánh đèn của thế gian, làm giảm bớt khả năng của chúng ta đi theo những con đường hoặc đọc những dấu chỉ ấy. Nhưng Thiên Chúa không mỏi mệt trong việc tìm kiếm chúng ta, Ngài trung tín với con người mà Ngài đã tạo dựng và cứu chuộc, Ngài gần gũi cuộc sống chúng ta vì Ngài yêu thương chúng ta. Xác tín này phải tháp tùng chúng ta hằng ngày, cả khi có một số não trạng lan tràn làm cho Giáo Hội và Kitô hữu khó thông truyền niềm vui Tin Mừng cho mỗi thụ tạo và dẫn đưa mọi người đến gặp gỡ Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế duy nhất. Nhưng đó là sứ mạng của chúng ta, là sứ mạng của Giáo Hội, và mỗi tín hữu phải sống sứ mạng ấy trong vui tươi, cảm thấy sứ mạng ấy là của mình, qua một đời sống thực sự được đức tin linh hoạt, thấm đượm đức ái, phục vụ Thiên Chúa và tha nhân, có khả năng chiếu tỏa hy vọng. Sứ mạng này chiếu tỏa rạng ngời, nhất là trong sự thánh thiện mà tất cả chúng ta đều được kêu gọi đạt tới.

”Ngày nay không thiếu những khó khăn và thử thách đối với đức tin, đức tin thường ít được hiểu rõ, bị phản đối và phủ nhận. Thánh Phêrô đã nói với các tín hữu Kitô của ngài: ”Anh chị em hãy luôn sẵn sàng trả lời một cách dịu dàng và tôn trọng cho những ai hỏi anh chị em về niềm hy vọng trong tâm hồn anh chị em” (1 Pr 3,15). Tại Tây Phương trước đây, trong một xã hội được coi là Kitô, đức tin là môi trường trong đó chúng ta sinh sống; đối với phần lớn dân chúng, việc tham chiếu và gắn bó với Thiên Chúa là điều thuộc về đời sống thường nhật. Ai không tin thì phải chứng minh tại sao mình không tin. Nhưng trong thế giới ngày nay, tình trạng thay đổi và tín hữu Kitô ngày càng phải có khả năng làm chứng về đức tin của mình.

Chân phước Gioan Phaolô 2, trong thông điệp Fides et ratio (Đức tin và lý trí), đã nhấn mạnh rằng đức tin bị thử thách cả trong thời đại ngày nay, qua những hình thức tinh vi và xảo quyệt của chủ thuyết vô thần lý thuyết và thực hành (Xc nn.46-47). Từ thời thuyết soi sáng trở đi, sự phê bình tôn giáo ngày càng mạnh mẽ; lịch sử cũng bị ảnh hưởng nặng nề của những chế độ vô thần, trong đó Thiên Chúa bị coi như một điều do tâm hồn con người phóng tưởng ra, một ảo tưởng và là sản phẩm của một xã hội đã biến thái vì bao nhiêu điều tha hóa. Thế kỷ 20 vừa qua đã chịu một tiến trình tục hóa mạnh mẽ, dưới chiêu bài con người tuyệt đối tự trị, con người được coi là mẫu mực và là người kiến tạo thực tại, nhưng trở nên nghèo nàn vì bị coi là một thụ tạo, được dựng nên theo ”hình ảnh giống Thiên Chúa”.

Thời nay người ta nhận thấy một hiện tượng đặc biệt nguy hiểm đối với đức tin: thực vậy có một hình thức vô thần mà chúng ta gọi là vô thần thực hành, trong đó người ta không phủ nhận các chân lý đức tin hoặc các lễ nghi tôn giáo, nhưng chỉ coi chúng là vô nghĩa, không quan trọng đối với cuộc sống thường nhật, những điều tách rời khỏi cuộc sống và vô ích. Vì thế, nhiều khi người ta chỉ tin nơi Thiên Chúa một cách hời hợt, người ta sống ”như thể Thiên Chúa không hiện hữu” (etsi Deus non daretur). Nhưng rốt cuộc lối sống này càng tàn hại hơn nữa, vì nó đưa tới sự dửng dưng đối với đức tin và vấn đề Thiên Chúa.

”Trong thực tế, một khi xa lìa Thiên Chúa, thì con người bị thu hẹp vào một chiều kích, chiều ngang, và chính thái độ thu hẹp này là một trong những nguyên nhân căn bản đưa tới các chế độ độc tài, gây ra những hậu quả bi thảm trong thế kỷ vừa qua, cũng như cuộc khủng hoảng các giá trị mà chúng ta đang thấy. Khi làm lu mờ sự tham chiếu Thiên Chúa, thì người ta cũng che khuất chân trời luân lý đức, để nhường chỗ cho chủ thuyết duy tương đối và một quan niệm mơ hồ về tự do, tự do này thay vì có sức giải thoát, thì rốt cuộc lại rằng buộc con người vào những thần tượng. Những cám dỗ mà Chúa Giêsu đã đương đầu trong hoang địa trước khi bắt đầu sứ mạng công khai, cho thấy rõ rằng đâu là những ”thần tượng” thu hút con người khi nó không đi xa hơn chính mình. Nếu Thiên Chúa không còn vị thế trung tâm nữa, thì con người cũng đánh mất chỗ đứng đúng đắn của mình, không còn tìm thấy chỗ đứng của mình nữa trong các loài thụ tạo, trong tương quan với tha nhân. Điều mà triết lý cổ xưa gợi lại qua huyền thoại Prometeo vẫn không biến mất: con người nghĩ mình có thể trở thành thần minh của chính mình, là chủ tể sự sống và sự chết.

Đứng trước bối cảnh đó, Giáo Hội, trung thành với mệnh lệnh của Chúa Kitô, không bao giờ ngừng khẳng định chân lý về con người và về vận mệnh của con người. Công đồng chung Vatican 2 đã quả quyết vắn tắt rằng: ”Lý do cao quí nhất của phẩm giá con người hệ tại ơn gọi hiệp thông của họ với Thiên Chúa. Ngay từ khi mới sinh ra, con người đã được mời gọi đối thoại với Thiên Chúa: thực vậy con người không hiện hữu, nếu không được Thiên Chúa bảo tồn; vì được Thiên Chúa dựng nên, và được Ngài luôn luôn yêu thương, con người không sống hoàn toàn theo chân lý nếu không nhìn nhận Chúa một cách tự do và nếu không tín thác vào Đấng Tạo Dựng nên mình” (Gaudium et Spes, 19).

”Như vậy, đức tin được kêu gọi mang lại câu trả lời, – một cách dịu dàng và tôn trọng -, cho chủ thuyết vô thần, chủ thuyết hồ nghi, sự dửng dưng đối với chiều dọc, để con người thời nay có thể tiếp tục tự hỏi về sự hiện hữu của Thiên Chúa và tiến bước trên những con đường dẫn đến Chúa? Tôi muốn nhắc đến vài con đường, xuất phát từ suy tư tự nhiên, cũng như từ chính sức mạnh của đức tin. Tôi muốn trình bày một cách rất cô đọng 3 từ này là: thế giới, con người, và đức tin.

Thứ nhất là thế giới. Thánh Augustino, người đã tìm kiếm Chân Lý lâu dài trong cuộc đời và đã được Chân Lý nắm bắt, thánh nhân có một trang rất hay và nổi danh, trong đó ngài khẳng định: ”Hãy hỏi vẻ đẹp của trái đất, của biển khơi, của không khí bị loãng và lan ra khắp tới, hãy hỏi vẻ đẹp của trời cao…, hãy hỏi tất cả những thực tại ấy. Tất cả đều sẽ trả lời bạn: Hãy nhìn chúng và xem chúng đẹp dường nào. Vẻ đẹp của chúng như một bài ca chúc tụng. Vậy những thụ tạo đẹp đẽ như vậy, tuy là hay thay đổi, ai đã làm ra chúng nếu không phải là Đấng chính là vẻ đẹp bất biến?” (Bài giảng 241,2: PL 38,1134). Tôi thiết nghĩ cần phải phục hồi và giúp con người ngày nay phục hồi khả năng chiêm ngắm thiên nhiên, vẻ đẹp và cơ cấu của thiên nhiên. Thế giới không phải là một mớ hỗn mang không hình dạng, nhưng hễ càng biết thế giới, và càng khám phá những cơ cấu tuyệt vời của nó, chúng ta càng thấy một kế hoạch, và thấy rằng có một trí tuệ sáng tạo. Nhà bác học Albert Einstein nói rằng trong các luật lệ thiên nhiên, ”có biểu lộ một lý trí cao cả đến độ tất cả lý lẽ của tư tưởng và những hệ thống của con người chỉ là một phản ánh hết sức nhỏ bé so với lý trí ấy” (Il Mondo come lo vedo io, Roma 2005). Vì thế, con đường thứ I dẫn đến sự khám phá Thiên Chúa là chiêm ngắm thiên nhiên với cặp mắt chăm chú.

Thứ hai là con người. Cũng thánh Augustino có một câu thời danh trong đó ngài nói rằng Thiên Chúa ở sâu thẳm trong tôi hơn cả chính tôi (Xc Tự Thứ, III, 6,11). Từ đó thánh nhân đưa ra lời mời gọi: ”Bạn đừng đi ra khỏi chính mình, hãy trở về lòng mình: trong con người nội tâm có chân lý cư ngụ” (De vera religione, 39, 72). Đây là một khía cạnh khác mà chúng ta có nguy cơ lạc mất trong thế giới ồn ào và chia trí chúng ta đang sống: khả năng dừng lại và nhìn vào chiều sâu của chính mình và đọc niềm khao khát vô biên mà chúng ta mang trong mình, thúc đẩy chúng ta đi xa hơn và dẫn chúng ta đến một Đấng có thể làm cho mãn nguyện. Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo quả quyết: ”Với sự cởi mở đối với chân lý và vẻ đẹp, đới với cảm thức về điều thiện, với tự do và tiếng nói của lương tâm, với khát vọng vô biên và mong ước hạnh phúc, con người tự hỏi về sự hiện hữu của Thiên Chúa” (n.33).

Thứ ba là đức tin. Nhất là trong thực tại thời nay, chúng ta không được quên rằng một con đường dẫn đến sự nhận thức và gặp gỡ Thiên Chúa chính là cuộc sống đức tin. Ai tin thì kết hiệp với Thiên Chúa, cởi mở đối với ân thánh của Ngài, sức mạnh của bác ái. Như thế cuộc sống của họ trở thành chứng tá không phải về mình, nhưng về Đấng Phục Sinh, và họ không sợ biểu lộ niềm tin của mình trong đời sống thường nhật, họ cởi mở đối thoại biểu lộ tình bạn sâu xa trên hành trình của mỗi người, và biết mở ra những ánh sáng hy vọng cho nhu cầu cần được cứu chuộc, nhu cầu hạnh phúc, tương lai. Thực vậy, đức tin là cuộc gặp với Thiên Chúa, Đấng nói và hành động trong lịch sử và hoán cải cuộc sống hằng ngày của chúng ta, biến đổi nơi chúng ta não trạng, những phán đoán giá trị, những chọn lựa và hành động cụ thể. Đức tin không phải là một ảo tưởng, trốn chạy thực tại, một sự nương náu thoải mái, một thái độ duy tình cảm, nhưng đức tin là một sự dấn thân trọng cuộc sống và loan báo Tin Mừng, Tin Vui có khả năng giải thoát toàn thể con người. Một Kitô hữu, một cộng đoàn chăm chỉ hoạt động và trung thành với dự phóng của Thiên Chúa Đấng yêu thương chúng ta trước, là một con đường ưu tiên đối với những người ở trong sự dửng dưng hoặc nghi ngờ về cuộc sống và hoạt động của mình. Nhưng điều này đòi mỗi người làm cho chứng về đức tin của mình ngày càng trong sáng, thanh tẩy cuộc sống của mình để nó phù hợp với Chúa Kitô. Nhiều người có một quan niệm hạn hẹp về đức tin Kitô, vì họ coi đó chỉ là một mớ hệ thống tín điều và giá trị chứ không phải là một chân lý về một Vị Thiên Chúa tỏ mình cho chúng ta trong lịch sử, một Thiên Chúa muốn thông ban cuộc sống thân mật với con người, trong một quan hệ yêu thương với Ngài. Trong thực tế, nơi nền tảng của mỗi đạo lý hoặc giá trị có một cuộc gặp gỡ giữa con người và Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô. Kitô giáo, trước khi là một nền luân lý đạo đức, chính là một biến cố tình thương, là sự đón nhân con người của Chúa Giêsu. Vì thế, Kitô hữu và các cộng đoàn Kitô phải nhìn và giúp người khác nhìn Chúa Kitô là Đường chân thực dẫn đến Thiên Chúa.

Chào thăm

Sau bài huấn giáo dài bằng tiếng Ý, như thường lệ ĐTC tóm tắt bằng các sinh ngữ khác và chào thăm một số nhóm trong các phái đoàn hành hương. Đặc biệt ca đoàn của Nhà thờ chính tòa Westminster của Anh giáo ở Luân Đôn đã hát mừng ĐTC bài ca: Tu es Petrus, Con là Phêrô:

Trong phần chào thăm cuối cùng bằng tiếng Ý, ĐTC nhắc đến các tham dự viên diễn đàn do Caritas quốc tế tổ chức; các thừa sai, các LM, tu sĩ và giáo dân tham dự khóa học do Đại học Giáo Hoàng Salesiana tổ chức. Ngài cầu mong cho cuộc viếng thăm Tòa Thánh Phêrô giúp mọi người canh tân tinh thần và dấn thân truyền giáo. Sau cùng với các bạn trẻ, ĐTC nhắc đến lễ thánh Albertô Cả mừng vào ngày 15 tháng 11-2012 là bổn mạng của các nhà khoa học tự nhiên. Ngài nói: ”Hỡi những người trẻ thân mến, các con hãy biết dung hòa việc học hành nghiêm túc với những đòi hỏi của đức tin”.

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

Đức Thánh Cha viếng thăm người già

Đức Thánh Cha viếng thăm người già

ROMA. ĐTC Biển Đức 16 khích lệ người già vui sống và đồng thời đề cao giá trị người già trong xã hội và Giáo Hội.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong cuộc viếng thăm sáng 12 tháng 11-2012, tại Căn nhà gia đình “Hoan hô người cao niên” do Cộng đồng thánh Egidio thành lập tại khu vực Trastevere ở Roma. Nhà này được khánh thành hồi tháng giêng năm 2009 và hiện có 28 người già cư ngụ. Họ sống trong các căn hộ riêng, nhưng có liên hệ thường xuyên với các nhân viên giúp đỡ.

Đón tiếp ĐTC có Giáo sư Marco Impagliazzo, Chủ tịch Cộng đồng thánh Egidio, Bộ trưởng Andrea Riccardi, người sáng lập cộng đồngnày, và Đức TGM Vincenzo Paglia, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh về gia đình, cùng một số nhân vật khác.

Cuộc viếng thăm của ĐTC diễn ra trong khuôn khổ ”Ngày Âu Châu về tuổi già tích cực”. Lên tiếng trong cuộc viếng thăm, ngài nói: ”Tôi đến nơi anh chị em trong tư cách là GM Roma, nhưng cũng với tư cách một người già viếng thăm những người đồng lứa tuổi của mình. Tôi biết rõ những khó khăn, các vấn đề và những giới hạn của tuổi này, và tôi biết rằng đối với nhiều người, những khó khăn ấy càng trầm trọng hơn do cuộc khủng hoảng kinh tế”.

ĐTC nhắn nhủ người già đừng nhìn lại quá khứ để thương tiếc trong sự sầu muộn, để rồi coi giai đoạn sống hiện nay như thời xế chiều. Ngài nhấn mạnh rằng: ”Thật là đẹp ở trong tuổi già! Trong mỗi lứa tuổi, ta cần biết khám phá sự hiện diện và phúc lành của Chúa và những phong phú mà lứa tuổi ấy chứa đựng. Đừng bao giờ để cho mình bị khép kín trong sầu muộn! Chúng ta đã lãnh nhận hồng ân sống lâu. Sống thật là điều tốt đẹp, kể cả với lứa tuổi chúng ta, mặc dù có một số khó khăn và giới hạn. Ước gì trên khuôn mặt chúng ta luôn có niềm vui vì cảm thấy mình được Thiên Chúa yêu thương, và không bao giờ buồn sầu”.

ĐTC nhắc lại giáo huấn của Kinh Thánh coi sự trường thọ là phúc lành của Thiên Chúa. Ngài phê bình não trạng trong xã hội ngày nay loại bỏ người già, coi họ như những người không sản xuất và vô ích. Đôi khi người già cảm thấy đau khổ vì bị gạt ra ngoài lề, phải sống xa nhà hoặc sống trong cô đơn….

Trong bối cảnh đó, ĐTC khuyến khích gia đình và các tổ chức công cộng làm sao để người già được tiếp tục ở lại trong nhà của họ và ngài xác quyết rằng ”chất lượng của một xã hội, của một nền văn minh, được đo lường theo cách thức người ta đối xử với người già và chỗ đứng dành cho người già trong cuộc sống chung. Ai dành chỗ cho người già tức là dành chỗ cho cuộc sống! Ai đón người người già là đón nhận cuộc sống”.

ĐTC ca ngợi Cộng đồng thánh Egidio ngay từ khi mới được thành lập đã nâng đỡ hành trình của bao nhiêu người già, giúp họ được ở lại trong môi trường sống của họ bằng cách thiết lập các căn nhà – gia đình cho người già ở Roma và trên thế giới”.

Hiện nay, cộng đồng này phục vụ 18 ngàn người già, với sự cộng tác của khoảng 800 người thiện nguyện. Ngoài ra cũng có khoảng 100 cộng đoàn nhỏ liên đới và thân hữu giữa người già.

Sau cùng, ĐTC nhắn nhủ người già đừng bao giờ nản chí: ”Anh chị em là một sự phong phú cho xã hội, cả khi gặp đau khổ và bệnh tật. Giai đoạn này trong cuộc sống là một hồng ân để đào sâu quan hệ với Thiên Chúa. Anh chị em đừng quên rằng trong số những nguồn lực quí giá mà anh chị em có, điều thiết yếu là kinh nguyện. Anh chị em hãy trở thành những người chuyển cầu nơi Thiên Chúa, cầu nguyện trong sự tin tưởng và kiên trì. Anh chị em hãy cầu nguyện cho Giáo Hội, cho tôi nữa, cho các nhu cầu của thế giới, cho người nghèo, để thế giới không còn bạo lực nữa” (SD 12-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

Đức Thánh Cha đề cao hai bà góa như mẫu gương đức tin

Đức Thánh Cha đề cao hai bà góa như mẫu gương đức tin

VATICAN. Trong buổi đọc kinh truyền tin trưa chúa nhật 11 tháng 11-2012 tại Quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC Biển Đức 12 đặc biệt đề cao mẫu gương đức tin của hai bà góa trong Kinh Thánh.

Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, ĐTC diễn giải về ý nghĩa bài Sách Thánh chúa nhật thứ 32 thường niên năm B, nổi bật là tấm gương đức tin của hai bà góa. Ngài nói:

”Phụng vụ Lời Chúa chúa nhật này trình bày cho chúng ta 2 bà góa như mẫu gương đức tin. Hai bà được trình bày song song với nhau: một bà trong Sách Các Vua quyển thứ I (17,10-16), và bà thứ hai trong Tin Mừng theo thánh Marco (12,41-44). Cả hai bà đều rất nghèo túng, và chính trong thân phận ấy hai bà chứng tỏ một niềm tin mạnh mẽ nơi Thiên Chúa. Người phụ nữ thứ I xuất hiện trong loạt trình thuật về ngôn sứ Elia. Trong thời kỳ hạn hán, vị ngôn sứ này nhận được lệnh của Chúa đi tới miền Sidon, tức là ra ngoài Israel, nơi lãnh thổ dân ngoại. Tại đó ngôn sứ gặp bà góa ấy và xin bà cho nước để uống và một chút bánh để ăn. Bà góa ấy trả lời là mình chỉ còn một nắm bột và một ít dầu, nhưng vì ngôn sứ nài nỉ và hứa với bà rằng nếu bà nghe lời, thì bà sẽ không thiếu bột và dầu nữa, bà ấy đã nghe ngôn sứ và được tưởng thưởng.

Bà góa thứ hai, được trình bày trong Tin Mừng, được Chúa Giêsu để ý trong Đền thờ Jerusalem, ngay cạnh hòm tiền, nơi dân chúng bỏ tiền dâng cúng. Chúa Giêsu thấy rằng người đàn bà ấy bỏ 2 đồng tiền nhỏ vào hòm tiền; bấy giờ Ngài gọi các môn đệ và giải thích rằng số tiền bà góa ấy bỏ vào hòm nhiều hơn số tiền của những người giàu có, vì trong khi những người giàu cúng những điều dư thừa, thì bà góa này cho tất cả những gì bà có để sống” (Mc 12,44)

ĐTC nhận xét rằng:

”Từ hai giai thoại Kinh Khánh, được liên kết với nhau một cách khôn ngoan, ta có thể rút ra một giáo huấn quí giá về đức tin. Đức tin xuất hiện như thái độ nội tâm của những người đặt cuộc sống của mình trên nền tảng Thiên Chúa, trên lời Chúa và hoàn toàn tín thác vào Chúa. Cuộc sống của bà góa, trong thời cổ, tự nó là một thân phận thiếu thốn trầm trọng. Vì thế, trong Kinh Thánh, các quả phụ và cô nhi là những người mà Thiên Chúa chăm sóc đặc biệt: họ không còn sự nương tựa trần thế, nhưng Thiên Chúa vẫn là vị Hôn Phu, là người Cha của họ. Tuy nhiên Kinh Thánh nói rằng hoàn cảnh túng thiếu khách quan, trong trường hợp này là thân phận góa phụ, vẫn không đủ: Thiên Chúa luôn đòi hỏi sự tự nguyện gắn bó trong niềm tin, và được biểu lộ trong tình yêu đối với Ngài và tha nhân. Không ai nghèo túng đến độ không thể cho đi một cái gì đó. Thực vậy cả hai bà góa hôm nay đều chứng tỏ niềm tin của họ bằng cách thực hiện một cử chỉ bác ái: một bà thi hành cử chỉ ấy đối với vị ngôn sứ, và bà thứ hai thi hành việc làm phúc. Qua đó họ chứng tỏ sự hiệp nhất không thể tách rời giữa đức tin và đức ái, cũng như giữa lòng mến Chúa và yêu người – như Tin Mừng chúa nhật tuần trước nhắc nhở chúng ta. Thánh Giáo Hoàng Lêô Cả, mà chúng ta kính nhớ hôm qua (10-11), đã khẳng định rằng: “Trên cán cân công lý của Chúa không phải trọng lượng của dâng cúng là đáng kể, nhưng là trọng lượng của con tim. Bà goá trong Tin Mừng đã đặt vào hòm tiền của đền thờ hai đồng xu nhỏ và vượt quá tiền dâng cúng của những người giàu. Không cử chỉ từ nhân nào thiếu ý nghĩa trước mặt Chúa, không có lòng từ bi nào mà không có hoa trái” (Bài giảng về chay tịnh dec.mems., 90,3).

Và ĐTC kết luận rằng ”Đức Trinh Nữ Maria là mẫu gương tuyệt hảo của người tận hiến trọn vẹn qua sự tín thác nơi Thiên Chúa; với niềm tin ấy mẹ nói với Sứ Thần ”Này tôi đây” và đón nhận thánh ý Chúa. Xin Mẹ Maria cũng giúp mỗi người chúng ta, trong Năm Đức Tin này, củng cố niềm tín thác nơi Thiên Chúa và nơi Lời ngài.

Chào thăm các tín hữu

Sau khi ban phép lành cho các tín hữu, ĐTC nói thêm rằng:

Anh chị em thân mến, hôm qua ở thành phố Spoleto, có lễ phong chân phước Maria Luisa Prosperi, sống vào tiền bán thế kỷ 19, là nữ đan sĩ và là viện mẫu Đan viện Biển Đức Trevi. Cùng với toàn thể gia đình dòng Biển Đức và cộng đoàn giáo phận Spoleto-Norcia, chúng ta chúc tụng Chúa vì ái nữ này của Chúa, mà Ngài đã muốn kết hiệp đặc biệt với cuộc khổ nạn của Đức Kitô.

Hôm nay tại Italia, có cử hành ”Ngày Tạ Ơn”. Trong bối cảnh năm Đức Tin, đề tài này – ”Hãy tín thác nơi Chúa và làm điều thiện, bạn sẽ được cư ngụ trên trái đất” (Tv 37, 3) – nhắc nhở về sự cần phải có một lối sống ăn rễ sâu trong đức tin, để với tâm hồn biết ơn, nhìn nhận bàn tay sáng tạo và quan phòng của Thiên Chúa, Đấng nuôi dưỡng con cái của Ngài. Tôi chào thăm và cầu chúc mọi sự tốt hành cho tất cả mọi nông dân.

Khi chào thăm các tín hữu bằng các sinh ngữ, ĐTC cũng đưa ra những lời nhắn nhủ dựa trên bài Tin Mừng. Với các tín hữu nói tiếng Pháp, ngài nói: ”Chúa Giêsu mời gọi chúng ta, giống như Chúa, hãy có cái nhìn tốt lành và đúng đắn về con người và các biến cố. Nhiều khi chúng ta để cho mình bị ấn tượng và ảnh hưởng vì những vẻ bề ngoài, những khẩu hiệu làm biến thái thực chất sự việc. Ngoài những cái gì bề ngoài, chúng ta hãy tìm cách nhìn thấy những tia sáng tốt lành ở trong các cử chỉ ấy và tia sáng ấy có thể soi sáng phán đoán của chúng ta. Như thế, quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa và tha nhân sẽ chân thực hơn, và những chọn lựa của chúng ta sẽ tự do hơn. Lòng khiêm tốn dạy chúng ta rằng chúng ta không có giá trị hơn thực chất của chúng ta trước mặt Chúa! Trên con đường này, ước gì Mẹ Maria là mẫu gương cho chúng ta!”

Với các tín hữu nói tiếng Ba Lan, ĐTC nhắc đến lễ Độc Lập tại nước này và nói rằng Lễ này nhắc nhớ niềm tin của cha ông anh chị em, nhắc nhớ lịch sử, sức mạnh tinh thần của các thế hệ gần đây. Anh chị em hãy xây dựng nền thịnh vượng của tổ quốc anh chị em trên nền tảng ấy. Ngoài ra hôm nay tôi hỗ trợ những lời cầu nguyện của anh chị em cho các tín hữu Kitô tại Ai Cập, nhân Ngày Liên Đới với Giáo Hội bị bách hại, theo sáng kiến của Tổ chức Trợ giúp Giáo Hội đau khổ.

Sau cùng, bằng tiếng Ý ĐTC đặc biệt chào thăm các tham dự viên hội nghị về cha Teihard de Chardin, diễn ra trong những ngày này tại Đại học Gregoriana.

G. Trần Đức Anh OP –  Vietvatican

BÀ GIÀ BÁN RAU

 BÀ GIÀ BÁN RAU

Ăn rau không chú ơi, ăn hộ mớ rau đi!

Một giọng khàn khàn, run run của một bà cụ già yếu, lưng còng cố ngước lên nhìn gã đàn ông, bên cạnh là mẹt rau chỉ có vài mớ rau muống xấu mà có lẽ có cho cũng không ai thèm lấy.

Gã liếc xuống nhìn xuống những mớ rau rồi đáp nhanh: Dạ cháu không bà ạ! Rồi phóng xe nhanh. Hắn nghĩ, mình thương người thì ai thương mình. Tiếng vọng của bà cụ vẫn con đó.

Lại có một cô gái nghe bà cụ mời mua rau. Rau như thế thì heo cũng không thèm ăn, nói chi người. Tiếng chát chua phát ra từ miệng cô.

Rồi có một người đàn ông khác đi đến, nghe thấy thế, liền hỏi giá bán rau, và mua hết số rau của bà già, nhưng cũng không quên dặn rằng: cho tôi gửi, khi về sẽ ghé lấy.

Ít hôm sau, người đàn ông ghé lại chỗ bà cụ bán rau. Người ta đang bàn tán về bà.

Anh hỏi có chuyện gì vậy, bà cụ bán rau đâu rồi?

Họ trả lời: Tội nghiệp bà cụ, già cả rồi, vậy mà hôm nọ có người mua rau rồi gửi lại, bà cố ngồi chờ để chủ đến lấy rau nhưng chẳng thấy họ đâu cả. Hôm đó trời lại mưa dữ dội suốt ngày, bà cụ cứ ngồi chờ đợi hoài trong giá rét. Vì lạnh quá bà già chịu không nổi, nên ngã bệnh và đã qua đời (sưu tầm).

Câu truyện thật cảm động về cảnh nghèo của cụ bà. Tuổi già, đáng lẽ bà được nghỉ ngơi sống an nhàn bên đoàn con cháu. Vậy mà bà vẫn phải tần tảo bán rau kiếm sống qua ngày. Cảnh nghèo của bà thật cảm thương.

Đọc chuyện ai cũng cảm phục thái độ sống của bà. Bà không thất hứa cho dù mưa gió bà vẫn chờ đợi để trao tận tay những bó rau đã bán. Có lẽ đây cũng là một bà góa quá nghèo. Bà sống nghèo và chân thành. Bà giữ chữ tín nên đã chết trong mưa rét.

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay kể chuyện hai bà goá. Một bà trong bài Tin Mừng một bà trong bài Sách Các Vua. Chúa Giêsu gặp bà góa trong sân Đền Thờ Giêrusalem. Tiên tri Êlia gặp bà góa ở xứ Serepta. Một bà đã dâng vào thùng tiền Đền thờ hai đồng kẽm và một bà đã cho tiên tri Êlia một chiếc bánh nhỏ.

Thời Êlia, khi Thiên Chúa làm hạn hán trên đất nước Do Thái để phạt vua tôi của nước này, vị ngôn sứ được lệnh Chúa tạm lánh sang xứ Sarepta. Ở đó, Êlia gặp một phụ nữ đầy lòng tin cậy vào lời hứa của Chúa. Bà đã dâng chút bột và dầu ít ỏi làm bánh nuôi ngôn sứ. Lương thực còn lại để nuôi sống gia đình, bà đã giúp Êlia. Bà góa có tấm lòng quảng đại nên Chúa đã chúc phúc cho bà: “Hũ bột đã không vơi, vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Đức Chúa đã dùng ông Êlia mà phán”.

Một bà góa thời Chúa Giêsu. Gầy gò bé nhỏ, nghèo nàn. Bà đem hai đồng tiền kẽm là tất cả những gì bà có và dâng vào Đền thờ. Rất nhiều người bỏ nhiều tiền vào hòm tiền. Chúa quan sát và khen bà góa đã bỏ nhiều hơn ai hết.

Hai bà góa có một đặc điểm giống nhau. Đó là họ đã dâng tất cả những gì cần thiết nhất cho cuộc sống của gia đình. Bà góa tại Sarepta dâng nắm bột chút dầu cuối cùng. Bà góa tại đền thờ dâng những đồng tiền cần thiết nhất của mình.

Hai bà góa được đề cao có phải vì quà tặng mà họ đã cho không? Hiển nhiên là không. Hai đồng kẽm thì có đáng là bao. Một chiếc bánh nhỏ thì có thấm tháp gì! Thánh Kinh đề cao họ là vì quà tặng ấy tuy nhỏ mọn mà gói ghém cả tấm lòng người dâng. Đồng kẽm của bà goá bỏ vào thùng tiền Đền thờ là cả tấm lòng của một bà già nghèo, là cả tài sản của bà. Chiếc bánh nhỏ của bà goá xứ Sarepte là cả một cuộc sống của hai mẹ con trong lúc sắp chết đói.

Của cho không bằng tấm lòng người cho. Cho của mình dư thừa thì chẳng đáng quý. Cho cái mình đang cần mới là thật quý. Cho cái mình vừa cần vừa tiếc mới là quý nhất.Của cho không bằng tấm lòng người cho. Của nhiều mà lòng ít thì không quý cho bằng của ít mà lòng nhiều.

Hai bà góa được đề cao là vì lòng yêu mến đối với người của Chúa và đối với nhà của Chúa. Họ được đề cao nhờ lòng yêu mến Chúa. Chính lòng yêu mến đã làm cho những hành động của hai bà góa có được một giá trị to lớn trước mặt Chúa.

Biết bao người giàu có quý phái sang trọng bỏ tiền vào Đền thờ, thế mà Chúa chẳng khen ai. Chúa chỉ khen bà góa và cho rằng bà này bỏ nhiều hơn những người khác: “Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống”. Bà goá bỏ tiền ít hơn mọi người, nhưng dưới mắt Chúa Giêsu, bà đã bỏ nhiều hơn cả, vì bà đã bỏ tất cả. Của dâng cúng của bà góa, xét về số lượng chẳng có là bao, nhưng về chất lượng lại đong đầy đức tin, đức cậy và đức mến.Chúa đánh giá không dựa theo khối lượng nhưng dựa theo chất lượng. Chúa không nhìn bề ngoài nhưng nhìn vào tấm lòng.

Lối đánh giá của Chúa Giêsu giúp ta xét lại lối đánh giá của mình về người khác. Lắm khi ta cứ theo hình dáng bề ngoài, theo y phục, theo tiền của mà đánh giá. Chuộng hình thức hơn nội dung. Thích thành tích hơn thực chất.

Thời đại ngày nay, người ta bị hấp dẫn về mẫu mã, quảng cáo, tuyên truyền, hơn là chất lượng sản phẩm. Hàng hóa thực phẩm giả dối lan tràn khắp nơi, gây nên biết bao tai họa.

Lối đánh giá của Chúa Giêsu cũng đòi ta xét lại lối đánh giá của mình về chính mình. Nhiều khi làm điều tốt cho ai, ta cũng mong được hoàn trả cách này cách khác.Có khi mong được trả lại tương đương hay hậu hỹ hơn.Có khi mong trả lại bằng một bia đá ghi công hay một lời tri ân. Ta cảm thấy buồn, đau khổ khi bị chê, tự mãn khi được người khác khen.

Đối với Thiên Chúa, điều quan trọng không phải là bao nhiêu, nhiều hay ít, mà là với trọn tấm lòng. Cách cho quý hơn của cho. Của cho kèm theo tấm lòng là quà tặng quý hóa nhất. Của cho không bằng tấm lòng người cho. Và cho chính cái mình quý nhất mới là cái cho lớn nhất, giá trị nhất. Bà góa đã cho nhiều nhất vì đã cho cả tấm lòng. Theo số lượng thì một phần tư đồng xu là quá ít ỏi. Có thể hai đồng đồng kẽm mua được một ổ bánh mì, một lon gạo, một bó rau đủ để nuôi sống bà trong ngày hôm đó. Bà góa cũng không sợ bị chê cười vì bỏ quá ít so với người khác. Bà chấp nhận mình thấp hèn thua kém người khác. Nhưng với Chúa Giêsu, hai đồng tiền nhỏ của bà lại nhiều hơn hết. Không phải số lượng việc làm hay tiền của dâng cúng mà Thiên Chúa yêu thích, nhưng là một tấm lòng thuộc trọn vẹn về Người.

Thánh Máccô mô tả sự tương phản: các Kinh sư xúng xính trong bộ áo thụng, bà goá đơn sơ nghèo nàn. Bà góa không lo lắng cho chính mình mà chỉ hướng về Thiên Chúa. Bà dâng cúng tất cả những gì đang có vào đền thờ. Bà không lo đến tương lai, không lo ngày mai sẽ ra sao, bà chỉ biết phụng sự. Bà thật là người thành tâm, thiện chí. Các Kinh sư làm việc đạo đức chỉ vì muốn có danh lợi và địa vị. Họ mặc lễ phục trịnh trọng, làm bộ đọc kinh nguyện lâu giờ chỉ để cầu mong được kính trọng chào hỏi, muốn ngồi chỗ danh dự nhất, lo kiếm được nhiều tiền của biếu tặng. Các Kinh sư chỉ nghĩ đến mình và tận dụng mọi sự, mọi người và ngay cả việc thờ phượng Thiên Chúa để làm giàu cho riêng mình.

Việc từ thiện, việc đạo đức, nếu không có lòng yêu mến thì chỉ là phương tiện tìm danh giá và tìm lợi nhuận. Hạng người như thế ở thời đại nào và ở đâu cũng có với những cách thức khác nhau. Họ là tỷ phú hay triệu phú, họ bỏ ra một vài triệu để đóng góp vào công việc từ thiện hay xây cất những công trình công cộng với động lực chính là mua tiếng tăm.

Lắm người có địa vị cao nhưng tâm hồn lại thấp. Có những người nghèo khó nhưng tâm hồn rất cao thượng. Có những người giàu có nhưng rất bủn xỉn. Có những người nghèo khổ nhưng rất quảng đại.

Nhiều người giàu tiền giàu của nhưng lại rất nghèo vì họ không có gì để cho người khác. Họ nghèo lòng nhân ái, nghèo sự cảm thông và nghèo lòng trắc ẩn. Ngược lại, có những người rất nghèo vật chất nhưng lại thật giàu có vì họ luôn có gì đó để sẻ chia. Họ giàu lòng nhân ái, giàu lòng vị tha, giàu tình thương mến.

Mẹ Têrêsa kể lại một câu chuyện. Một ngày nọ, mẹ đi xuống phố và một người ăn mày đến gặp mẹ và nói : “Thưa mẹ Têrêsa, mọi người đều cho mẹ tiền. Tôi cũng muốn cho mẹ tiền. Hôm nay, suốt cả ngày, tôi chỉ có được ba mươi xu. Tôi muốn cho mẹ số tiền ấy”.

Mẹ Têrêsa suy nghĩ một lúc : “Nếu tôi lấy ba mươi xu thì tối nay anh ta sẽ phải nhịn ăn; còn nếu tôi không lấy, tôi sẽ làm tình cảm anh ta tổn thương. Vì thế tôi đưa tay ra để lấy số tiền ấy. Tôi chưa bao giờ thấy được niềm vui như thế trên khuôn mặt ai như trên khuôn mặt của người ăn mày đó khi anh ta nghĩ rằng mình cũng đã cho tiền mẹ Têrêsa”.

Mẹ Têrêsa nói tiếp: “Đối với người đàn ông nghèo này, phải ngồi suốt cả ngày để chỉ xin được ba mươi xu. Đẹp biết bao, ba mươi xu như thế là một món tiền nhỏ, và có thể tôi chẳng mua được gì nhưng vì anh ta đã cho nó và tôi đã lấy nó, nó trở nên gấp ngàn lần bởi vì nó đã được cho với bao yêu thương. Thiên Chúa nhìn thấy không phải là sự to tát của công việc, mà vào tình yêu thương qua đó công việc được hoàn thành”.

Thiên Chúa nhận định giá trị về một con người không dựa trên những gì họ có mà dựa trên những gì họ đã cho đi. Ai không bao giờ biết cho đi mới thực sự là người nghèo khốn cùng. Người ta có thể dâng thật nhiều cho Thiên Chúa, nhưng bao lâu người ta chưa dâng chính mình hay ít nữa những gì thuộc về bản thân, những gì liên hệ tới chính con người của mình thì kể là người ta chưa dâng hiến gì cả. Mẹ Têrêxa nói: “Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”.

Lạy Chúa, xin giúp chúng con biết sống quảng đại với Chúa và với tha nhân. Amen.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

DÂNG CHO CHÚA

 DÂNG CHO CHÚA

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN NĂM B (11/11/2012)
 [1 V 17,10-16; Dt 9,24-28; Mc 12,38-44]

Nếu bà góa Sarépta không lấy chút bột, chút dầu nhỏ bé kia mà làm bánh cho Êlia ăn, thì mẹ con bà cũng chỉ ăn được trong ngày ấy mà thôi, rồi sẽ chết. Nhưng vì lòng tin và lòng quảng đại, bà nghĩ  rằng: nếu ta không lấy chút bột chút dầu kia mà cứu người đang đói là Êlia, thì hẳn Êlia sẽ chết. Việc cần làm ngay là phải cứu người. Còn việc của mình: Chúa sẽ liệu lo.
 
Và khi bà đã thực hiện như  lòng tin và quảng đại, phép lạ đã xảy ra, đó là, hũ bột không vơi, bình dầu không cạn, mẹ con bà không chết đói. “Bà ấy đi và làm như ông Êlia nói; thế là bà ấy cùng với ông Êlia và con bà có đủ ăn lâu ngày. Hũ bột đã không vơi, vò dầu đã chẳng cạn, đúng như lời Đức Chúa đã dùng ông Êlia mà phán” (1 V 17, 15 – 16).
 
Thiên Chúa thật công bằng! Và công bằng của Ngài không chỉ là trả lại vừa đủ cho ta những gì ta cho đi, mà còn trả lại gấp trăm.
 
Hình ảnh bà góa Sarépta được nhắc lại trong Tin Mừng theo Thánh Marcô, Nhưng ở đây, đồng tiền của bà góa, đồng tiền nuôi sống bà ta một ngày đời, được kể là đồng tiền có giá trị nhất trước mắt Thiên Chúa. Trong mắt những người bỏ tiền dâng cúng vào hòm, thì có thể họ khinh miệt bà góa ấy, hoặc họ chê trách bà ấy thà đừng bỏ vào hòm tiền thì hơn, nhưng chỉ có Chúa Giêsu mới nhìn thấu tận cõi lòng bà, hiểu được tấm lòng quảng đại của bà, vì đồng tiền ấy là cả sự nghiệp của bà. Bà không đợi đến lúc có dư ra 5 bảy đồng mới dâng cúng được một đồng, nhưng bà dâng ngay tất cả những gì mình có trong lúc cùng cực nhất, bế tắc nhất. “Quả vậy, mọi người điều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để sống" (Mc 12, 44 ).
 
Có vài người không bao giờ xin lễ cho các linh hồn, vì cho rằng chưa có lúc nào nhà mình thong thả dư ra được vài chục nghìn.
 
Cũng có người không thể dâng cúng cho công việc xây dựng Nhà Thờ, vì người ta dâng tiền triệu, há lẽ tôi lại dâng tiền trăm, tiền chục ngàn. Khó coi quá!
 
Còn có người không thể giúp kẻ hoạn nạn, bởi vì cho rằng tôi còn chưa lo được cho tôi, nói gì đến chuyện giúp người.
 
Không phải tất cả như thế đâu. May quá, tôi tìm thấy trong danh sách công khai của linh mục Quang Uy về  việc xin trợ giúp các trường hợp bệnh hoạn khẩn cấp của Trung Tâm Mục Vụ DCCT, có cả những người đã giúp 500 USD và cũng có người từng giúp 50.000 VND. Đành rằng có khoản nhiều hơn và ít hơn gấp 200 lần nhưng giá trị trước mặt Chúa không nằm ở những con số. 50.000 VND kia có thể là một ngày công của chị bán bắp, của cô bán xôi, của những người xa quê bán bánh tráng, lạc rang đi suốt một ngày mòn mỏi trên các ngõ phố.
 
Uống nước trước Bệnh Viện Tim Việt – Pháp, bạn có  thể gặp cả trăm người từ miền Trung vào buôn bán nhỏ. Trước mắt tôi, một chị khoảng 45 tuổi, người Quảng Ngãi, bán bánh tráng, lạc rang, gặp người quen ở quê vào chữa bệnh tim cho con. Sau mấy câu thăm hỏi, chị dúi vào tay chị bạn 80.000 đồng: “Em gửi cho cháu vài hộp sữa. Cầm đi chị, mang tiếng vào Sàigòn làm ăn, nhưng một ngày của em chỉ được chừng ấy”. 80.000 so với ca mổ tim vài chục triệu thì có thấm vào đâu. Nhưng chị kia nắm tiền trong tay mà rưng rưng nước mắt. Tôi tò mò đi theo chị đã làm từ thiện dò hỏi, mới biết, chị vào trong nầy thuê nhà trọ ở chung với con gái đi học đại học. Một là “trông nom con gái, sợ xa cha mẹ ở đất Sàigòn này dễ hư lắm anh ạ”, hai là “kiếm thêm và để dành đóng tiền nhà và tiền học phí cho con”… “Mẹ con em quen ăn mì tôm rồi anh ạ. Ăn mì tôm vài hôm thì cũng dư ra được gần trăm ngàn”. Hỏi chị theo đạo nào, chị nói: “Nhà em không theo đạo nào cả, thờ Ông Bà”.
 
Như vậy, cũng có người chắt bóp giảm chi tiêu  để có được chút gì mà giúp đỡ kẻ  khác. Người ấy chắc chưa từng nghe những đoạn Lời Chúa hôm nay, nhưng tấm lòng của họ thật đáng quí. Người Công Giáo vẫn gọi họ là người “lương” đúng nghĩa lương thiện, tốt lành.
 
Còn người Công Giáo chúng ta thì sao? Đoạn Tin Mừng về đồng tiền của bà góa nghe đi nghe lại nhiều lần trong đời, nhưng chúng ta vẫn chưa đem ra thực hành chỉ vì một lý do rất đơn giản: Chưa đủ tin vào quyền năng của Thiên Chúa, hoặc tồi tệ hơn, vì vẫn kiêu ngạo mà quá tin vào sức riêng của mình.
 
Ông C. tim bị hẹp động mạch vành, hay mệt và đã có lần thoát cơn tai biến nhờ cấp cứu kịp. Chị H. mới quen biết ông, nhưng nghe tin ông cần tiền thuốc hằng tháng, chị hẹn xin gặp và trao cho ông bì thư với 3 triệu đồng. Ông C. ngần ngừ không dám nhận. Chị nói: “Có người gửi cho em để giúp kẻ khó. Em đâu được giữ mãi cho em”. Thiết nghĩ đây chỉ là cách nói. Vừa cầm tiền về đến nhà, ông C. nghe tin có một cháu cạnh nhà đi làm về bị tai nạn, bệnh viện trên tỉnh chê rồi, chuyển Chợ Rẫy gấp. Ông C. sang nhà và trao ngay bì thư 1 triệu rưỡi. “Có người mới gửi cho cháu”. Về nhà, ông nghe tim mình nhịp đều những nhịp hạnh phúc.
 
Ước gì có nhiều người Công Giáo như chị H, như  ông C. Những người luôn biết cho đi là những người hạnh phúc.
 
Lời Chúa hôm nay muốn chúng ta được hạnh phúc nhờ  ĐỨC TIN mà tín thác vào Đấng có thể  ban cho chúng ta mọi sự cần. Ngài biết rõ chúng ta hơn chúng ta biết chúng ta. Ngài lo lắng cho chúng ta nhiều hơn chúng ta lo lắng cho bản thân mình.
 
Không chỉ dừng lại ở suy nghĩ “ở hiền, gặp lành” như chị bán bánh tráng, lạc rang, mà các Kitô hữu còn phải biết vượt lên trên cách sống tự nhiên ấy, để mỗi dâng cúng của ta cho người, là một lần minh chứng Đức Tin của chúng ta rằng Thiên Chúa luôn quan phòng gìn giữ những ai sống và thực thi ý muốn của Chúa.
 
Lời Chúa còn nhắc nhớ mỗi chúng ta đừng đánh giá sai lầm những cống hiến âm thầm, nhỏ  nhoi, nhưng hãy xét lại những cống hiến của mình xem có  phải đã cống hiến vì lòng tin, vì lòng quảng đại hay không.
 
Trong những cống hiến âm thầm cho nhân loại, tôi phải nghĩ tới những lời nguyện ít ai biết  đến, không ai nghe, chẳng ai thấy của những kẻ đau khổ trên giường bệnh, cùng cực trên đường đời, bị áp bức trong nơi tù đày côi cút… Những lời nguyện ấy là sự dâng hiến cho Thiên Chúa cách đáng trân trọng, để Thiên Chúa ban muôn hồng phúc cho mọi người.
 
Như chú thích cho sự dâng hiến của bà  góa, của chúng ta, Thánh Phaolô nhắc đến việc Chúa Giêsu đã “tiêu diệt tội lỗi bằng việc hiến tế chính mình” (x. Dt 9, 24 – 28). Vậy mỗi lần chúng ta tín thác vào Thiên Chúa và sẵn lòng mất đi, sẵn lòng chia sẻ sự sống, niềm vui cho người khác, hẳn là chúng ta đang góp phần vào việc tiêu diệt các tội lỗi trong chúng ta để mỗi ngày chúng ta được xứng đáng lãnh hồng ân cứu độ hơn.
 
Lạy Chúa, xin giúp chúng con thoát khỏi căn bệnh chần chừ, nghi ngại. Xin ban thêm Đức Tin cho chúng con, để chúng con biết tín thác vào lòng thương xót và sự  quan phòng của Chúa mà dâng hiến cuộc sống của chính mình cho Chúa, cho mọi người. Amen.

PM Cao Huy Hoàng

TẤM LÒNG VÀNG

 TẤM LÒNG VÀNG

Bài Tin Mừng hôm nay trình thuật việc Đức Giê-su lên án các kinh sư giả hình chỉ thích phô trương bộ vó bên ngoài, huênh hoang nơi lỗ miệng, còn trong lòng thì rỗng tuếch (Mc 12, 38-40). Tiếp liền theo đó là câu chuyện một bà goá nghèo bỏ vào thùng tiền quyên góp cho nhà thờ 2 đồng tiền kẽm là tất cả tài sản của bà. Có một điều rất thú vị là đám người kinh sư Pha-ri-sêu “ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc” lại là những người “nuốt hết tài sản của các bà goá”. Thế đấy! Để có được bộ vó bảnh choẹ, đám người chỉ thích ăn trên ngồi trước “nói mà không làm” lại đi bóc lột tận xương tuỷ các bà goá. Trong khi đó thì một bà goá nghèo đã “rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình."

Chỉ trong một  đoạn văn ngắn, Thánh Mac-cô trình thuật Lời dạy của Đức Giê-su nêu bật hai hình ảnh trái ngược: Một bên là hình ảnh đám kinh sư chỉ chú trọng phô trương hình thức sang trọng oai vệ bề ngoài, chỉ thích “ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy” nhưng “họ nói mà không làm” (Mt 23, 2-3), vì thực chất họ chỉ là thứ “thùng rỗng kêu to”. Còn một bên là thái độ đạo đức đích thực nơi người góa phụ. Bà đã bỏ nhiều hơn ai hết, vì mọi người lấy tiền của dư thừa bỏ vào, còn bà thì lấy tất cả của độ thân mà dâng cúng. Trước đó, từ thời Cựu Ước, cũng có một bà goá nghèo có hành động như vậy (bài đọc 1 – 1V 17, 10-16): Khi nghe ngôn sứ Ê-li-a xin nước, bà đã mau mắn lấy nước cho ngài, nhưng khi ngài xin bánh, thì bà nói: "Có ĐỨC CHÚA, Thiên Chúa hằng sống của ông, tôi thề là tôi không có bánh. Tôi chỉ còn nắm bột trong hũ và chút dầu trong vò. Tôi đang đi lượm vài thanh củi, rồi về nhà nấu nướng cho tôi và con tôi. Chúng tôi sẽ ăn rồi chết." (1V 17, 12). Cứ tưởng bà trả lời như vậy rồi, thì bà sẽ không nhường chút bột và dầu ấy cho ngôn sứ. Bà đã sống trong cảnh lầm than cùng cực, chỉ còn một chút dầu, một chút bột để làm bánh cho 2 mẹ con ăn bữa cuối cùng rồi chờ chết; nhưng thật lạ lùng, bà lại sẵn sàng nhịn ăn mà nhường chút lương thực cuối cùng ấy cho “người của Đức Chúa” là ngôn sứ Ê-li-a. Người đàn bà góa ở Sa-rep-ta và bà góa trong đoạn Tin Mừng hôm nay ở hai môi trương và nhất là hai thời điểm lich sử khác nhau, nhưng lại có chung một nhân cách sống: Đó là cả hai đều có một tấm lòng vàng.

Chuyện bà goà chân thành giản dị  dùng hết số tiền mình có dâng cúng vào đền thờ hoặc như bà goá Sa-rep-ta dùng ngay bữa ăn cuối cùng của 2 mẹ con để đãi “người của Đức Chúa”, còn mình thì sẵn sàng nhịn đói chờ chết, khác xa – nếu không muốn nói là đối nghịch hẳn – với hạng người xúng xính trong bộ vó sặc sỡ cồng kềnh. Chẳng cần đi sâu vào nhận xét hành động bộc lộ nội tâm, cứ nhìn cái vẻ bề ngoài đơn sơ chất phác của các bà goá, so với cái vỏ hào nhoáng kênh kiệu của đám kinh sư, cũng đã thấy được bản chất của giai cấp mà họ là đại diện. Mấu chốt vấn đề chính là ở sự chân thành và lòng tin hay nói cách khác là tình yêu. Chỉ vì tình yêu mà hai bà goá sẵn sàng dâng hiến đến đồng tiền, nắm bột cuối cùng của đời mình. Cũng vì thiếu tình yêu nên đám kinh sư “bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào” (Mt 23, 4), sẵn sàng “nuốt hết tài sản của các bà goá” (Mc 12, 40).

Nói đến Tình yêu là nói đến “cho” và “nhận”. “Cho” và “nhận” là 2 khái niệm tương phản về mặt ý nghĩa, hành động, nhưng lại đồng nhất về mục đích: Tình Yêu – Tình yêu nhận về (eros) và Tình yêu cho đi (agape). Tình yêu nhận về là tình yêu chiếm hữu (amor concupiscentiae), vị kỷ (vì mình), thường giới hạn ở giới tính (tình yêu nam nữ); Tình yêu cho đi là tình yêu vị tha (vì người – amor benevolentiae), là tình yêu mở rộng đến không còn giới hạn (bác ái), và như thế chính là đích điểm tột cùng của tình yêu: Thiên Chúa Tình Yêu (“Thiên Chúa là Đấng tuyệt đối và là nguồn mạch của mọi loài; nhưng mặt khác, chủ tể tác tạo hoàn vũ này – Logos, Đấng thượng trí – lại đồng thời là một người biết yêu với tất cả đam mê của một tình yêu thật sự. Eros vì thế đã nên tột cùng cao quý, nhưng đồng thời thuần khiết đến độ nên một với agape” – Tđ “Thiên Chúa là Tình Yêu”, số 1).

Thiên Chúa luôn “cho đi” một cách nhưng không, Người không hề đòi sự đáp trả; nhưng với con nguời thì có khác: cho đi nhưng cũng muốn nhận về nhiều hơn. Cứ nhìn xem cảnh cứu trợ nạn nhân thiên tai (bão lụt, động đất…), nạn nhân chiến tranh, nghèo đói, bệnh tật…, cũng thấy không ít cảnh “cho” mà vẫn muốn “nhận” về hoặc một lời tri ân, hoặc một tấm bằng khen, một sự nổi tiếng, thậm chí có nhiều khi còn “cho tay mặt, bắt tay trái”, hoặc của cho là của bá tính nhưng lại nhận là của mình (“mượn đầu heo nấu cháo”) rồi thì xà xẻo, đục khoét, rút ruột… đủ kiểu. Rất thích “cho” nhưng là cho những của dư thừa, hoặc “mượn đầu heo nấu cháo”, cốt để khoe sự giàu sang, tính tình hào phóng, thương người. Song song với kiểu cho như vậy thì lại muốn “nhận” về đủ thứ lợi lộc, như vậy thì chẳng phải là “cho tay mặt bắt tay trái” đó sao? Nếu chẳng vậy thì Đức Ki-tô đã không dạy: “Còn anh, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh bố thí được kín đáo” (Mt 6, 3-4). Như vậy, cho hay nhận chỉ là những hành vi được thực hiện bởi một động lực nhắm đến một mục đích nào đó. Hành vi ấy có thể xuất phát từ động lực nội tâm với mục đích thực thi Lời Chúa (“Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người” – Lc 11, 41); nhưng cũng có thể xuất phát từ một động lực ngoại tại (ham chuộng hư danh, tham vọng quyền thế…), nhắm đến một mục đích khác (tranh bá đồ vương về chính trị, tranh quyền đoạt lợi về kinh tế…).

Suy cho cùng, thì con người chỉ là một thụ tạo đi từ “không” đến “không” (từ tro bụi lại trở về với bụi tro). Sự hiện diện của con người trên trái đất chính là nhờ vào Tình Yêu Thiên Chúa ban tặng. Vì thế, con người cần phải ý thức đến ngay chính thân xác mình cũng chỉ là món quà Tình Yêu do Thiên Chúa ban tặng. Thân xác ấy có tồn tại trên thế gian này nhiều lắm cũng chỉ là “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, Cảnh phù du trông thấy cũng nực cười” (Cao Bá Quát) mà thôi. Cái thân xác ấy chỉ là phù du, vậy thì những danh vọng tạo được hoặc những của cải vật chất do chính thân xác ấy làm ra, thì cũng chỉ là những hư danh, những ảo ảnh, những thứ phù phiếm chóng qua mà thôi. Nhận chân được vấn đề, con người sẽ thấy được là mình đã “nhận về” từ Thiên Chúa tất cả (từ con người đến cuộc sống trần thế của mình) và mình phải có bổn phận đáp trả. Thiên Chúa không đòi hỏi sự đáp trả, vậy thì con người đáp trả bằng cách nào đây? Đó chính là “Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10, 8).

Chính 2 bà goá trong các bài đọc hôm nay đã làm như vậy. Và như thế, 2 bà tuy không đọc vanh vách Thánh Kinh, nói thao thao Lề luật như các kinh sư luật sĩ Pha-ri-sêu, nhưng đã sống Lời Chúa một cách sinh động hơn ai hết. Nói đến sống Lời Chúa thì không gì bằng đến với hiện thân Lời Chúa mặc xác phàm: Ngôi Lời nhập thể. Bài Đọc II (Dt 9, 24-28) trong Thánh  lễ hôm nay đã nói rất rõ: Ngôi Lời Giê-su Ki-tô đã “lấy máu mình lập Giao Ước mới” (“Bởi vậy, Người là trung gian của một Giao Ước Mới, lấy cái chết của mình mà chuộc tội lỗi người ta đã phạm trong thời giao ước cũ, và đem lại cho những ai được Thiên Chúa kêu gọi quyền lãnh nhận gia nghiệp vĩnh cửu Thiên Chúa đã hứa”  – Dt 9, 15). Vì lòng thương yêu, Người đã đến trần gian lần thứ nhất thực hiện Giao Ước Mới bằng cách lấy chính Máu Thịt mình làm của Lễ Hy Sinh để cứu chuộc nhân loại, và “Người sẽ xuất hiện lần thứ hai, nhưng lần này không phải để xoá bỏ tội lỗi, mà để cứu độ những ai trông đợi Người” (Dt 9, 28).

Thánh Phao-lô đã rất chí lý khi đem chính bản thân đặt vào những giả thiết về tất cả mọi hành vi của con người – đặc biệt là hành động “cho” (bố thí) – khi thực hiện mà thiếu tình yêu thì cũng chẳng ích lợi gì ("Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi." – 1Cr 13, 3). Cuối cùng, Thánh nhân khẳng định: “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến”  (1Cr 13, 1-13). Để được nên như người bạn trung thành tuyệt đối của Đức Ki-tô (Ki-tô hữu), thì mọi Ki-tô hữu hãy nhìn lại mình xem khi bố thí mình có “cho tay phải biết việc tay trái làm”, có “cho tay mặt bắt tay trái”, có thích “nhận về” hơn là “cho đi” hay không? Đồng thời cầu xin Chúa ban cho một đức tin vững mạnh, một lòng mến chân thành, để sống và hành động trong mọi việc, ở mọi nơi, trong mọi lúc, với tất cả tấm lòng “mến Chúa yêu người”, chớ không phải để được đề cao, để được ghi tên, khắc tuổi trên bảng vàng, bia đá cho người đời ca tụng.

Lời khuyên cuối cùng và thiết thực nhất dành cho kẻ viết bài này, xin được chia sẻ với anh em xa gần, đó là: “Đừng xoè tay ra nhận, rồi nắm lại khi phải cho đi” (Hc 4, 31), mà “hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người” (Lc 11, 41). Ấy cũng bởi vì chính Ngôi Lời đã dạy: “cho thì có phúc hơn là nhận" (Cv 20, 35) và Người đã thực hiện bằng Hy tế Thập giá trên đồi Can-vê. Ước được như vậy. Amen.

JM. Lam Thy ĐVD.

Đức Thánh Cha cỗ võ các ca đoàn

Đức Thánh Cha cỗ võ các ca đoàn

VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 đề cao vai trò của thánh nhạc trong công cuộc tái truyền giảng Tin Mừng và khích lệ các ca đoàn tích cực cộng tác vào công trình này.

Ngài đưa ra lời nhắn nhủ trên đây trong buổi tiếp kiến sáng thứ bẩy 10 tháng 11-2012, dành cho 6 ngàn tham dự viên cuộc gặp gỡ do hiệp hội Italia các ca đoàn Cecilia tổ chức.

Ngỏ lời trong dịp này, ĐTC nhắc đến vai trò của thánh nhạc, với kinh nghiệm và chứng từ của thánh Augustino, kể lại sự xúc động đến rơi lệ của Người khi được nghe thánh ca tại Milano lúc mới tìm được đức tin. ĐTC nói: ”Cảm nghiệm về các bài thánh ca Ambroxio mạnh mẽ đến độ thánh Augustino ghi khắc những thánh ca ấy trong ký ức và thường trưng dẫn trong các tác phẩm của Người, và thánh nhân cũng đã viết tác phẩm De Musica về âm nhạc. Thánh Augustino xác quyết rằng âm nhạc và bài ca hay có thể giúp đón nhận Lời Chúa và cảm thấy một sự xúc động lành mạnh. Chứng từ của thánh Augustino giúp chúng ta hiểu điều mà Hiến chế “Sacrosanctum Concilium” của Công đồng chung Vatican 2, theo truyền thống của Giáo Hội, dạy rằng ”Thánh ca, cùng với lời nhạc, là thành phần cần thiết và đích thực của phụng vụ trọng thể” (n.112).

ĐTC cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của thánh nhạc trong việc truyền giáo cho dân ngoại và tái truyền giảng Tin Mừng. Ngài nhắc lại kinh nghiệm của văn hào Paul Claudel người Pháp, Ông đã trở lại nhờ nghe thánh ca Magnificat trong buổi hát Kinh Chiều lễ Giáng Sinh tại Nhà thờ chính tòa Đức Bà Paris. Ông kể lại: ”Trong lúc ấy, xảy ra một biến cố ảnh hưởng trọn cuộc sống của tôi. Trong khoảnh khắc, tâm hồn tôi được đánh động và tôi đã tin. Tôi tin với một sức mạnh gắn bó mạnh mẽ, với một sự nâng bổng trọn con người của tôi, với một xác tín vững mạnh, chắc chắn, đến độ không còn chỗ nào cho sự nghi ngờ, và trong cuộc sống sau đó của tội, không một lý luận nào, không một hoàn cảnh nào trong cuộc đời chao đảo của tôi có thể làm lay chuyển đức tin hoặc động chạm được đến đức tin ấy”.

Và ĐTC nhắn nhủ thành viên các ca đoàn rằng: ”Anh chị em có một vai trò quan trọng: hãy dấn thân cải tiến chất lượng thánh ca phụng vụ, đừng sợ phục hồi và đề cao giá trị đại truyền thống âm nhạc của Giáo Hội. Truyền thống này được biểu lộ ở mức độ cao nhất trong nhạc bình ca và đa âm, như chính Công đồng chung Vatican 2 đã quả quyết” (S.C. 116) (SD 10-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

Đức Thánh Cha thành lập Hàn Lâm Viện Tòa thánh về tiếng la tinh

Đức Thánh Cha thành lập Hàn Lâm Viện Tòa thánh về tiếng la tinh

VATICAN. Hôm 10 tháng 11-2012, ĐTC Biển Đức 16 đã ban hành Tự Sắc ”Latina Lingua” thành lập Hàn lâm viện Tòa Thánh về tiếng la tinh nhắm cổ võ việc học tiếng la tinh trong các cơ sở giáo dục Công Giáo.

Trong phần đầu của Tự Sắc, ĐTC nhắc đến tầm quan trọng của tiếng la tinh trong truyền thống Giáo Hội, sự suy giảm việc học ngôn ngữ này trong các chủng viện và học viện của Giáo Hội, và hiện tượng tái quan tâm đến tiếng la tinh tại nhiều nơi kể cả trong giới văn hóa đời. Để góp phần hỗ trợ nỗ lực quảng bá sự hiểu biết và sử dụng tiếng la tinh trong lãnh vực Giáo Hội cũng như trong môi trường văn hóa rộng lớn hơn, ĐTC quyết định thành lập Hàn lâm viện Tòa Thánh về tiếng la tinh, trực thuộc Hội đồng Tòa Thánh về văn hóa.

Hàn lâm viện này có một vị Chủ tịch, một vị Tổng thư ký do ĐTC bổ nhiệm, và có một Hội đồng học vụ.
Phần hai của Tự Sắc trình bày qui chế của Hàn Lâm Viện Tòa Thánh về tiếng la tinh, gồm 10 điều khoản, được ĐTC phê chuẩn để thử nghiệm trong vòng 5 năm.

Khoản 2 của qui chế xác định rằng: Mục đích Hàn lâm viện Tòa Thánh về tiếng la tinh là cổ võ sự hiểu biết và học tiếng la tinh và văn chương la tinh cổ điển cũng như văn chương giáo phụ, tiếng la tinh thời trung cổ và thời nhân bản (thế kỷ 14), đặc biệt trong các cơ sở giáo dục Công Giáo, nơi mà các chủng sinh và LM được huấn luyện. Ngoài ra, Hàn lâm viện cũng cổ võ việc việc sử dụng tiếng la tinh như ngôn ngữ viết và nói.

Để đạt tới những mục tiêu ấy, Hàn lâm viện Tòa Thánh chăm lo ấn hành sách báo, tổ chức các cuộc gặp gỡ, hội nghị nghiên cứu và các trình diễn nghệ thuật; mở và nâng đỡ các khóa học, các cuộc hội luận và cc sáng kiến giáo dục khác, cộng tác với Giáo Hoàng Học Viện cao đẳng về la tinh; giáo dục các thế hệ trẻ về tiếng la tinh, kể cả qua các phương tiện truyền thông hiện đại…

Các điều khoản kế tiếp nói về nhiệm vụ của vị Chủ tịch, và tổng thư ký của Hàn lâm viện do ĐTC bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm; tiếp đến là Hội đồng học vụ. Hàn lâm viện có các viện sĩ chính ngạch, với con số không quá 50 người, do Vị Quốc vụ khanh Tòa Thánh bổ nhiệm. Khi còn 80 tuổi, họ trở thành viện sĩ danh dự (emeriti). Ngoài ra có các viện sĩ thông tấn (membri corrispondenti).

Tự Sắc của ĐTC cũng tuyên bố chấm dứt tổ chức Latinitas và tạp chí Latinitas của tổ chức này.

Cũng ngày 10-11-2012 ĐTC đã bổ nhiệm Giáo Sư Ivano Dionigi, Viện trưởng đại học Bologna, làm Chủ tịch đầu tiên của Hàn lâm viện Tòa Thánh về tiếng la tinh, đồng thời bổ nhiệm cha Roberto Spataro, dòng Don Bosco, làm Tổng thư ký của Viện này. (SD 10-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

THIÊN CHÚA THẤU SUỐT NHỮNG GÌ KÍN ĐÁO (CHÚA NHẬT XXXII/B)

THIÊN CHÚA THẤU SUỐT NHỮNG GÌ KÍN ĐÁO (CHÚA NHẬT XXXII/B)

LỜI CHÚA: Máccô 12,38-44

Khi ấy, Đức Chúa GIÊSU phán cùng dân chúng trong khi giảng dạy rằng: ”Các ngươi hãy coi chừng bọn luật sĩ. Họ thích đi lại trong bộ áo thụng, ưa được bái chào ngoài công trường, chiếm những ghế nhất trong hội đường và trong đám tiệc. Họ giả bộ đọc những kinh dài để nuốt hết tài sản của các bà góa: Họ sẽ bị kết án nghiêm nhặt hơn”.. Đức Chúa GIÊSU ngồi đối diện với hòm tiền, quan sát dân chúng bỏ tiền vào hòm, và có lắm người giàu bỏ nhiều tiền. Chợt có một bà góa nghèo đến bỏ hai đồng tiền là một phần tư xu. Người liền gọi các môn đệ và bảo: ”Thầy nói thật với các con: Trong những người đã bỏ tiền vào hòm, bà góa nghèo này đã bỏ nhiều hơn hết. Vì tất cả những người kia bỏ của mình dư thừa, còn bà này đang túng thiếu, đã bỏ tất cả những gì mình có để nuôi sống”.

SUY NIỆM

Giáo huấn của Đức Chúa GIÊSU KITÔ nhấn mạnh đến nhân đức Khiêm Nhường và sự kiện Các Việc Lành Phúc Đức – dầu vô cùng nhỏ bé và ẩn kín đến đâu đi nữa – nếu được thực hiện với tấm lòng ngay chính chân thành thì đều cao trọng trước mặt THIÊN CHÚA là CHA, Đấng thấu suốt mọi sự.

Trong quan hệ xã hội và mối giao tế thường ngày, ai ai cũng quý mến người nhũn nhặn khiêm tốn. Người khiêm tốn kính trọng và nhường bước cho tha nhân. Người khiêm tốn yêu thương và mau mắn giúp đỡ mọi người, không phân biệt giai cấp sang hèn. Người khiêm tốn nhìn tha nhân với cặp mắt khoan hòa quảng đại, không kết án cũng không thành kiến. Khiêm tốn là kết quả của một nền giáo dục nhân bản luôn luôn biết quên mình, từ bỏ chính mình. Khiêm tốn là nhân đức vô cùng cao quý giúp con người thực hiện không biết bao nhiêu hành động và cử chỉ anh hùng. Anh hùng ở đây không phải là những hành động vĩ đại diễn ra nơi đám đông và được mọi người ngưỡng mộ hoan hô. Anh hùng như thế tự nó đã được lãnh phần thưởng rồi. Trong khi có những cử chỉ vô cùng nhỏ bé diễn tả nơi âm thầm kín ẩn vẫn được xem là anh hùng, bởi vì, những cử chỉ này đòi hỏi tâm tình khiêm tốn. Người khiêm tốn làm việc lành phúc đức chỉ vì lý do là để mưu ích cho tha nhân. Còn hơn thế nữa, vì đó là các việc đạo đức rất đẹp lòng THIÊN CHÚA. Chỉ duy nhất THIÊN CHÚA trông thấy và chúc lành.

Đi vào bình diện thiêng liêng, người khiêm tốn chấp nhận tất cả và luôn luôn tuân giữ các giới răn của THIÊN CHÚA. Mẫu gương khiêm tốn tuyệt vời trổi vượt trên mọi loài thọ sinh là Đức MARIA, Mẹ THIÊN CHÚA. Trong bài ca Magnificat Đức Mẹ nói: ”Linh Hồn con ngợi khen THIÊN CHÚA, thần trí con hớn hở vui mừng vì THIÊN CHÚA, Đấng cứu độ con. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới; từ nay, hết mọi đời sẽ khen con diễm phúc .. Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng. Chúa hạ bệ những ai quyền thế. Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”.

Chính Đức Chúa GIÊSU xác nhận: ”Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên” (Mátthêu 23,12). Cũng chính Ngài mời gọi: ”Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Thầy, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Các con hãy mang lấy ách của Thầy, và hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm tốn. Tâm hồn các con sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách Thầy êm ái và gánh Thầy nhẹ nhàng” (Mátthêu 11,28-30).

Đức Chúa GIÊSU nhắn nhủ thêm: ”Khi bố thí đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc các con bố thí được kín đáo. Và CHA các con, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho các con .. Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng CHA các con, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và CHA các con, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho các con” (Mátthêu 6,3-4+7).

Như thế, lòng khiêm tốn đi đôi với sự kín đáo. Bí thuật con đường nên thánh hệ tại việc quên mình từ sáng đến tối, luôn sống hy sinh, gạt bỏ cái tôi qua một bên và tự để cho THIÊN CHÚA nhào nắn. Nhận lãnh các ơn do lòng nhân hậu THIÊN CHÚA ban với lòng khiêm tốn sâu xa, vì biết rõ mình bất xứng. Người khiêm tốn luôn sống dưới sự hiện diện của THIÊN CHÚA và làm tất cả mọi sự dưới cái nhìn của THIÊN CHÚA. Người khiêm tốn chỉ xin Chúa làm chứng nhân cho những cố gắng của mình và là phần thưởng duy nhất cho mình. Còn lại tất cả đều không đáng kể. Tóm lại, sự thánh thiện đích thực là mong muốn thuộc về Đức Chúa GIÊSU KITÔ, chỉ sống chỉ thở vì Người và chỉ tìm kiếm vinh quang THIÊN CHÚA mà thôi. Thánh Phaolô tông đồ khuyên nhủ: ”Hãy coi chừng: đừng có ai lấy ác báo ác, nhưng hãy luôn luôn cố gắng làm điều thiện cho nhau cũng như cho mọi người. Anh chị em hãy vui mừng luôn mãi và cầu nguyện không ngừng. Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Anh chị em hãy làm như vậy, đó là điều THIÊN CHÚA muốn, trong Đức KITÔ GIÊSU” (1Thêxalônica 5,15-18).

Lạy Đức Chúa GIÊSU hiền lành và khiêm nhượng trong lòng. Xin Chúa uốn lòng chúng con nên giống như Rất Thánh Trái Tim Chúa.

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
 

 

Chỉ huy trưởng Hiến binh Vatican kêu gọi bảo vệ các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo

Chỉ huy trưởng Hiến binh Vatican kêu gọi bảo vệ các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo

ROMA. Chỉ huy trưởng đoàn Hiến binh Vatican, ông Domenico Gianni, kêu gọi tăng cường việc bảo vệ các tác phẩm nghệ thuật tôn giáo ở các nơi trên thế giới.

Trong bài tham luận hôm 7 tháng 11-2012 tại Đại hội thứ 81 của tổ chức Interpol, cảnh sát quốc tế, nhóm tại Roma, ông Gianni cho biết các thánh đường, đặc biệt tại Italia và Âu châu, đầy những tác phẩm nghệ thuật mà kẻ trộm có thể ăn cắp dễ dàng, nhất là khi một thánh đường không ai coi sóc, hoặc khi LM và dân chúng địa phương không biết rõ giá trị các tác phẩm ấy. Nhiều tác phẩm nghệ thuật tôn giáo khó bảo vệ vì thường ở trong các thánh đường hẻo lánh, không có các biện pháp bảo vệ.

Theo ông Gianni, tuy Vatican không có những vấn đề như thế, nhưng cũng là một đối tượng của những kẻ trộm nghệ thuật, vì giá trị rất cao của các tác phẩm ấy về mặt tài chánh. Cả văn khố mật, thư viện và các văn phòng của Vatican cũng có những vật dụng vô giá mà kẻ trộm bị cám dỗ muốn ăn cắp. Tòa Thánh đang cố gắng theo kịp các kỹ thuật tân tiến chống ăn trộm, như đặt các chip điện tử trong các sách và thủ bản ở thư viện, nhưng nếu những người làm việc ở bảo tàng viện, thư viện, vương cung thánh đường, văn khố và các văn phòng Tòa Thánh không ý thức tầm quan trọng của các tác phẩm ở chung quanh mình, thì kẻ trộm vẫn có thể tìm được phương thức để lấy trộm.

Về các tác phẩm nghệ thuật rải rác ở các giáo xứ và giáo phận trên thế giới, ông Gianni nói rằng điều tối cần thiết là giáo quyền Công Giáo địa phương tuân hành chỉ thị năm 1999 của Tòa Thánh, yêu cầu giáo quyền các nơi thiết lập danh sách đầy đủ các tác phẩm nghệ thuật, trong đó có mô tả chi tiết và hình chụp thật rõ mỗi tác phẩm ấy.

Tổ chức Interpol có lưu giữ hình ảnh tất cả các tác phẩm bị mất cắp, và điều này khiến cho việc buôn bán các tác phẩm nghệ thuật trở nên khó khăn hơn nhiều, vì qua đó, những người mua có thể biết đó là tác phẩm bị lấy trộm.
Ông Gianni nói rằng: “Việc lập danh sách như thế không những mang lại hy vọng lấy lại được các tác phẩm trong trường hợp chúng bị ăn trộm, nhưng còn giúp các chức sắc Giáo Hội địa phương biết rõ những gì mình sở hữu” (CNS 8-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

Đức Thánh Cha khích lệ Interpol trong cuộc chiến chống bạo lực

Đức Thánh Cha khích lệ Interpol trong cuộc chiến chống bạo lực

VATICAN. ”Giáo Hội và Tòa Thánh khích lệ tất cả những người dấn thân chống lại tai ương bạo lực và tội ác, nhất là nạn khủng bố và các tổ chức tội phạm”.

ĐTC Biển Đức 16 đã bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 9 tháng 11-2012, dành cho 1 ngàn tham dự viên đến từ 190 quốc gia, vừa kết thúc khóa họp thứ 81 của tổ chức cảnh sát quốc tế, Interpol, tại Roma.

Bộ trưởng nội vụ Italia đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC. Ngỏ lời trong buổi tiếp kiến, ngài mô tả ”Interpol như một thành trì của an ninh quốc tế, giữ một chỗ đứng quan trọng trong việc thực thi công ích, vì một xã hội công chính cần phải có trật tự và tôn trọng luật pháp, để đạt tới một cuộc sống chung yên hàn trong xã hội”.

ĐTC cũng nhận xét rằng ”Ngày nay những hình thức trầm trọng nhất trong các hoạt động tội phạm là nạn khủng bố và các tổ chức bất lương. Nạn khủng bố là một trong những hình thức bạo lực tàn ác nhất, gieo rắc oán thù, chết chóc. Đi từ một chiến lược khuynh đảo tiêu biểu của một số tổ chức cực đoan, nạn khủng bố nhắm phá hủy và giết người, nó trở thành một hệ thống đen tối với những đồng lõa chính trị, sử dụng cả những phương tiện kỹ thuật tối tân, những nguồn tài chánh to lớn, và đề ra những dự án rộng lớn”.

Về các tổ chức tội phạm, ĐTC nhận xét rằng các tổ chức này lan tràn trong các môi trường cuộc sống thường nhật, hoạt động trong bóng tối, ở ngoài mọi qui luật, chúng kiếm tiền nhờ nhiều hoạt động bất chính và vô luân, như buôn người, một hình thức nô lệ tân thời, buôn bán ma túy, võ khí, hàng giả, cả các thuốc men phần lớn bán cho người nghèo, những thuốc đó giết người thay vì chữa trị. Sự buôn bán ấy càng đáng lên án hơn nữa, khi đối tượng là các cơ phận các nạn nhân vô tội.. Những tội ác ấy dần dần phá vỡ các hàng rào luân lý do nền văn minh thiết lập và đề nghị một hình thức man rợ mới, phủ nhận con người và phẩm giá của họ”.

ĐTC kêu gọi bài trừ tội ác bằng các qui luật luân lý và pháp lý đồng thời ngài cũng kêu gọi sự dấn thân đặc biệt trong lãnh vực chính trị và sư phạm, để giải quyết những vấn đề nuôi dưỡi bạo lực, và tạo điều kiện thuận lợi để bạo lực không nảy sinh và phát triển”.

Sau cùng, ĐTC không quên cám ơn sự trợ giúp của tổ chức cảnh sát quốc tế cho các hiến binh thành Vatican, nhất là trong chuyến viếng thăm của ngài tại nước ngoài.

ĐTC đã trình bày bài diễn văn của ngài bằng tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha, với lời chào kết thúc bằng tiếng Arập (SD 9-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

Bài Phát Biểu của Đức Thánh Cha Trong Buổi Tiếp Kiến Hàn Lâm Viện Khoa Học Tòa Thánh

Bài Phát Biểu của Đức Thánh Cha Trong Buổi Tiếp Kiến Hàn Lâm Viện Khoa Học Tòa Thánh

Trong buổi tiếp kiến sáng hôm 8 tháng 11-2012, dành cho Hàn lâm viện Tòa Thánh về khoa học, ĐTC Biển Đức 16 cổ võ sự đối thoại và cộng tác giữa khoa học và đức tin. Sau đây là bài phát biểu của Đức Thánh Cha.

Phiên họp khoáng đại này bàn về chủ đề : “Tính Đa Nguyên và Đồng Nhất trong Khoa Học: Các Chiều kích về lý thuyết phương pháp luận và tri thức luận” đụng chạm đến một chủ đề quan trọng vốn mở ra nhiều quan điểm để hướng đến một viễn tượng mới về sự thống nhất trong các ngành khoa học. Thực vậy, những khám phá và tiến bộ quan trọng trong những năm qua mời gọi chúng ta tìm hiểu về sự đồng nhất nền tảng trong ngành vật lý và sinh học, sự đồng nhất này được biểu lộ một cách rõ ràng hơn mỗi khi chúng ta đạt được một sự hiểu biết sâu xa hơn về trật tự tự nhiên. Nếu như một vài ý niệm mới có được trong cách thức này cho phép chúng ta rút ra những kết luận trong những tiến trình trước đây, thì sự ngoại suy này chỉ ra một sự hội nhất lớn hơn trong tự nhiên và trong cấu trúc phức tạp của vũ trụ và nó giúp ta tìm thấy vị trí nhiệm mầu của con người trong vũ trụ này. Tính đa nguyên và sự vĩ đại của khoa học đương thời cho phép con người hiểu biết nhiều hơn về tự nhiên, điều có thể ảnh hưởng trực tiếp đến con người. Chỉ có con người mới có khả năng mở rộng tri thức của mình và sắp đặt nó một cách khôn ngoan để mưu ích cho mình và cho môi trường xung quanh.

Trong những cuộc thảo luận của mình, các bạn đã nỗ lực để xem xét, một mặt, về một sự biện chứng trong việc mở rộng không ngừng của các nghiên cứu khoa học, các phương pháp và các ngành chuyên môn, và mặt khác, là vấn nạn về một cái nhìn toàn diện về vũ trụ này, một vũ trụ mà trong đó con người, với khả năng lý trí và tự do, được mời gọi để hiểu biết, yêu mến, sống và lao tác. Trong thời đại chúng ta, việc sẵn có các công cụ nghiên cứu hùng hậu và khả năng để thực hiện những thí nghiệm phức tạp và có tính chính xác cao cho phép các ngành khoa học tự nhiên tiếp cận với những nền tảng của những thực tại hữu hình cho dù họ không nỗ lực để hiểu một cạch trọn vẹn cấu trúc hội nhất và sự thống nhất tối hậu đi chăng nữa. Một sự nối tiếp vô tận và một sự thống nhất nơi các lý thuyết, kết qủa của một nghiên cứu này đến lượt nó trở thành định đề cho những nghiên cứu mới, sẽ minh chứng cho sự hội nhất trong tiến trình khoa học cũng như tạo ra một lực đẩy mạnh mẽ hướng các khoa học gia tiến đến một sự hiểu biết rõ ràng hơn về chân lý của tự nhiên và một cái nhìn bao quát hơn về thế giới này.

Một sự tiếp cận liên ngành như thế tới sự đa nguyên cũng chỉ ra rằng các ngành khoa học không phải là những thế giới hữu lý không nối kết với nhau và không nối kết với thực tại, nhưng đúng hơn chúng liên kết và hướng đến việc nghiên cứu tự nhiên như là một thực tại duy nhất, hữu lý và hòa hợp trong một sự đa nguyên đích thực.

Một cái nhìn như thế có những điểm tương đồng với quan điểm của Triết học và thần học Kitô giáo về vũ trụ, với khái niệm về hữu thể dự phần, mà trong đó mỗi tạo vật đơn lẻ, sở hữu một mức độ hoàn thiện nơi mình, chia sẻ trong một bản chất cụ thể và trong một vũ trụ bắt nguồn từ Lời sáng tạo của Thiên Chúa. Chính vì tổ chức của tự nhiên mang nơi mình tính logic và đồng nhất đã khích lệ các nghiên cứu khoa học và lôi kéo tâm trí con người hướng đến một sự khám phá về sự đồng tham dự theo chiều ngang giữa các hữu thể và sự dự phần siêu việt với hữu thể Đệ nhất. Vũ trụ không phải là một mớ hỗn độn hay nảy sinh từ hỗn độn, đúng hơn vũ trụ là một đa nguyên được sắp đặt cho phép chúng ta, bằng phân tích so sánh hay loại suy, khởi đi từ một trường hợp cụ thể để đi đến một cái nhìn phổ quát hay ngược lại.

Trong khi vẫn còn đó những khoảnh khắc trong vũ trụ và trong đời sống vượt quá khả năng của việc quan sát mang tính khoa học, thì khoa học vẫn tìm thấy một lãnh địa rộng lớn để không ngừng tự vấn chính mình và từ đó khám phá ra một trật tự rõ ràng bất biến và tương hợp, đóng vai trò như là những thành phần thiết yếu của sự sáng tạo vĩnh cửu.

Chính trong bối cảnh rộng lớn này mà tôi lưu ý về những hoa trái lớn lao nảy sinh từ việc sử dụng phương pháp loại suy trong triết học và thần học, không chỉ đơn giản là những công cụ để phân tích các thực tại trong tự nhiên theo chiều ngang mà còn được xem như là một kích tố cho những suy tư đầy sáng tạo về một bình diện siêu vượt hơn. Rõ ràng nhờ vào khái niệm sáng tạo, tư tưởng Kitô giáo không chỉ sử dụng phương loại suy để thẩm tra về những thực tại trần thế mà còn trở thành những phương thế khởi đi từ việc hiểu biết về một trật tự được sáng tạo đến việc chiêm ngắm Đấng Tạo Hóa. Liên hệ đến nguyên lý cho rằng siêu việt tính của Thiên Chúa ngụ ý về một sự đồng nhất nơi các tạo vật của Ngài một cách thiết yếu hàm chứa một sự khác biệt lớn hơn. Trong khi cấu trúc của thụ tạo là cấu trúc của hữu thể, một hữu thể được hiện hữu nhờ dự phần thì cấu trúc của Thiên Chúa là cấu trúc của hữu thể hiện hữu tự chính nó.

Trong khi con người đã có những nỗ lực lớn lao trong việc tìm chìa khóa mở cửa mầu nhiệm của con người và vũ trụ, tôi tin chắc rằng còn có đó một nhu cầu cấp thiết cho một sự đối thoại và hợp tác liên lỉ giữa thế giới khoa học và đức tin trong việc xây dựng một nền văn hóa tôn trọng con người, bênh vực phẩm giá và tự do của con người, bênh vực tương lai của gia đình nhân loại và sự phát triển bền vững và lâu dài nơi hành tinh của chúng ta. Không có sự liên kết thiết yếu này, vấn nạn lớn về con người sẽ rời bỏ địa hạt của lý trí và chân lý và đắm mình trong sự phi lý, mầu nhiệm hay thái độ dửng dưng; điều này sẽ gây thiệt hại cho chính con người, cho sự hòa bình thế giới và cho vận mệnh tối hậu của chúng ta.

Vietvatican
Nguyễn Minh Triệu sj

 




Giá Trị Vĩnh Viễn Của Tuyên Ngôn Nostra Aetate – Diễn Văn Của Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Võ Sự Hiệp Nhất Các Kitô hữu

Giá Trị Vĩnh Viễn Của Tuyên Ngôn Nostra Aetate – Diễn Văn Của Chủ Tịch Hội Đồng Tòa Thánh Cổ Võ Sự Hiệp Nhất Các Kitô hữu

Trong những cuộc thảo luận gần đây về khả năng đón nhận trở lại Huynh Đoàn Thánh Pio 10 vào Giáo hội Công Giáo Roma đã nảy sinh một vài vấn nạn, không chỉ liên quan đến người Do Thái, về tầm quan trọng và giá trị của Tuyên Ngôn về liên lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo ngoài Kitô GiáoNostra Aetate(số 4). Người Do thái lo ngại rằng, ngang qua một loạt hành động tái hiệp thông của một số linh mục và tín hữu vốn có theo khuynh hướng bài Do thái giáo và từ chối tuyên ngôn về Nostra Aetate, Giáo hội Công Giáo có thể đương đầu với một hướng đi mới trong việc đối thoại với Do thái giáo hay ít nhất điều này cũng cho thấy rằng đối với Giáo hội Công Giáo tầm quan trọng của Tuyên Ngôn này chỉ là tương đối. Về phần mình, Giáo Hội Công Giáo đôi lúc đã nói rằng Công Đồng Vaticano II đã đưa ra một sự phân biệt về các bản văn của mình, một sự phân biệt giữa Hiến Chế, Sắc Lệnh và Tuyên Ngôn, và rằng Nostra Aetate chỉ là một Tuyên Ngôn và có một tầm quan trọng thứ yếu và tính cách bắt buộc của nó có thể được cân nhắc trong mối liên hệ với các bản văn khác.

Trước vấn đề này, Đức Thánh Cha đã ủy thác cho tôi trình bày vấn nạn này trong một cách thức cụ thể: Nostra Aetate không hề bị đặt lại bởi Huấn quyền của Giáo Hội, như chính Đức Thánh Cha đã minh chứng trong các bài nói chuyện, các bài viết và các cử chỉ của ngài khi gặp gỡ người Do Thái. Một sự xích lại gần hơn với Huynh đoàn Thánh Pio không có nghĩa là chấp nhận và ủng hộ lập trường của họ. Chắc chắn rằng về hình thức, chúng ta có thể đưa ra một sự phân biệt giữa các bản văn khác nhau của Công Đồng; tuy nhiên, xét về mặt nội dung thì chúng là một thể thống nhất không thể tách rời hay không thể đối chọi nhau.
Do đó, Nostra Aetate không thể được xem như một thiên thể độc lập, rơi trực tiếp từ trời xuống và không có sự liên hệ nào với các bản văn khác của Công Đồng. Vì thế, khởi đầu triều đại Giáo Hoàng của mình, Đức Thánh Cha Biển Đức 16 đã xóa tan mọi nghi vấn bằng cách đồng ý hoàn toàn với Công Đồng và các tài liệu của Công Đồng trong một cái nhìn thống nhất. Khi trình bày về một phương pháp chú giải các bản văn của Công Đồng, ngài đã diễn tả rõ quan điểm này trong bài nói chuyện nổi tiếng của mình trước Giáo Triều Roma trong dịp mừng lễ Giáng Sinh năm 2005.

Nostra Aetate được xem là “tài liệu nền tảng” và là “Magna charta” (tài liệu quan trọng) trong cuộc đối thoại giữa Giáo hội Công Giáo Rôma và Do thái giáo. Tuyên ngôn này bắt đầu với việc phản tỉnh về mầu nhiệm và sứ vụ của Giáo hội trong lịch sử cứu độ và cũng nhắc nhớ về mối dây hiệp thông sâu sắc nối kết dân của Tân Ước với con cháu Abraham. Tuyên ngôn này nói rõ về thái độ cần phải tránh khi đối xử với người Do thái, đó là thái độ khinh khi, hạ giá và xúc phạm. Hơn nữa, Tuyên ngôn này cũng minh nhiên nhấn mạnh về nguồn gốc Do thái của Kitô giáo và đã nỗ lực để đánh đổ những kết án dành cho người Do thái diễn ra ở nhiều nơi trong nhiều thế kỷ qua. Về phần mình, người Do thái đặc biệt đánh giá cao nỗ lực của Giáo Hội Công Giáo ngang qua tài liệu này đã chống lại mọi hình thức bài Do Thái. Do đó, họ tiếp tục được an ủi và hi vọng về khả năng Giáo hội Công giáo sẽ là một đồng minh đáng tin cậy trong trận chiến chống lại phong trào bài Do thái vốn chưa thể loại trừ trong thế giới hôm nay.

Những chất liệu hình thành nên bản dự thảo của tuyên ngôn Nostra Aetate có thể được tổng kết ở ba điểm sau: một sự phản tỉnh về lương tâm Kitô giáo sau thảm họa Holocaust, sự phát triển của khoa học Kinh Thánh cho đến Công Đồng Vaticano II và cuối cùng là sự thành lập nhà nước Israel vào năm 1948. Trong bối cảnh Kitô giáo, thì những hậu quả mà con người phải đối diện trong thảm họa Holocaust chính là yếu tố quyết định thúc đẩy Giáo hội soạn thảo bản văn này. Một yếu tố khác đóng vai trò không nhỏ liên quan đến yếu tố chính trị và thực tiễn đó là sự ra đời của nhà nước Israel. Sau khi nhà nước này được thành lập, Giáo Hội Công Giáo đã có thể hiện diện ở Đất Thánh và đã thi hành đời sống mục vụ của mình trong một đất nước vốn được xem là quốc gia của Do thái Giáo. Khi xem xét đến những nguyên lý thần học được tìm thấy trong Nostra Aetate như là một cấu trúc nền tảng chúng ta cần lưu ý rằng, trong những nghiên cứu Kinh thánh trước Công Đồng, hình ảnh của Đức Giêsu Nadaret đã bắt đầu được xem xét nhiều hơn trong bối cảnh của Do thái giáo trong thời đó. Do đó, Tân Ước đã được xem xét trong bối cảnh của các truyền thống của Do thái và Đức Giêsu được xem là một người Do thái trong thời đại của Ngài và tuân theo những truyền thống này.
Khi phản tỉnh về những ảnh hưởng của các tài liệu Công Đồng Vaticano II, chúng ta không e ngại để xác nhận rằng Nostra Aetate là một tài liệu quan trọng giữa các tài liệu này và nó đóng góp một phần quan trọng và đưa ra một định hướng nền tảng cho Giáo hội Công Giáo sau công đồng. Sự tôn trọng dành cho người Do Thái được diễn tả trong Tuyên Ngôn này đã giúp hai bên chuyển từ thái độ nghi kỵ lẫn nhau trong nhiều thế kỷ sang thái độ sang thái độ hợp tác, hai bên đã trở thành đối tác đáng tin cậy của nhau và thậm chí là thành những người bạn thân để có thể cùng nhau đối diện với những khủng hoảng và vượt qua những xung đột trong một cách thế tích cực.

Trong cuộc đối thoại với Do thái giáo, khởi đầu triều đại Giáo Hoàng của mình, Đức Thánh Cha Biển Đức đã nhấn mạnh rằng, theo bước chân người tiềm nhiệm, ngài không chỉ ước mong phát triển mà còn tăng cường mối liên hệ với những người Do thái. Điều này thì không thể nghi ngờ vì những nỗ lực của Đức Gioan Phaolo II trong việc đối thoại giữa Công Giáo và Do thái thì được đảm bảo và được xây dựng trên Ủy Ban Giáo Lý Đức Tin do hồng Y Ratzinger làm bộ trưởng. Với tư cách là một nhà nghiên cứu Kinh Thánh, ngang qua việc nghiên cứu Cựu Ước và Tân Ước, hồng Y Ratzinger đã xây dựng những mối tương quan thắm thiết với người Do thái; và ngài cũng đã tăng cường các mối tương quan cá nhân với người Do thái trong thời gian ngài ở Roma. Quan điểm nền tảng thần học của Ratzinger dựa trên niềm xác tín cho rằng Kinh thánh chỉ có thể được hiểu một cách đích thực khi xem nó là cuốn sách duy nhất; và do đó, “concordia testamentorum” (sự hoà hợp giữa các bản văn Kinh Thánh) là một một yếu tố thiết yếu để giải thích đúng đắn sứ điệp Kinh thánh về cứu độ.

Trong ánh sáng của những niềm xác tín này, ta không lấy làm ngạc nhiên khi Đức Thánh Cha gánh vác sứ mạng hòa giải đã được bắt đầu bởi vị tiền nhiệm của mình trong công cuộc đối thoại giữa Công giáo và Do thái. Ngài không chỉ gửi đến vị Trưởng Hội Đường Do thái giáo ở Roma trong là thư đầu tiên trong triều đại của ngài mà còn tái xác nhận điều này trong cuộc gặp gỡ đầu tiên với vị ủy viên của người Do thái vào ngày 9 tháng 7 năm 2005. Giáo hội Công giáo đang bước những bước đi vững chắc dựa trên những nguyên lý được thiết lập bởi Nostra Aetate; và tiếp bước vị tiền nhiệm của mình, Đức Thánh Cha chắn chắn sẽ tiếp tục cuộc đối thoại này.

Vietvatican
Nguyễn Minh Triệu sj

Đức Thánh Cha chúc mừng Tổng thống Obama

Đức Thánh Cha chúc mừng Tổng thống Obama

VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 chúc mừng tổng thống Barack Obama được tái cử và ngài cầu nguyện cho những lý tưởng tự do và công lý, vốn hướng dẫn các nhà lập quốc Hoa Kỳ, tiếp tục triển nở.

Phòng báo chí Tòa Thánh không công bố nguyên văn bức điện của ĐTC gửi cho tổng thống Obama qua trung gian Đức TGM Carlo Maria Viganò, Sứ thần Tòa Thánh tại Washington hôm 7 tháng 11-2012, nhưng thông cáo của Phòng báo chí Tòa Thánh cho biết:

”Trong bức điện, ĐTC gửi những lời cầu chúc tốt đẹp nhất đến tổng thống trong nhiệm kỳ mới và cho biết sẽ cầu xin Thiên Chúa trợ giúp tổng thống trong trách nhiệm rất trọng đại trước đất nước và cộng đồng quốc tế”.

ĐTC cũng cho tổng thống Obama biết là ngài cầu nguyện để những lý tưởng tự do và công lý vốn đã hướng dẫn các nhà lập quốc Hoa Kỳ có thể tiếp tục chiếu sáng rạng người trong lúc quốc gia tiến bước.

Tuyên bố với giới báo chí, Cha Lombardi, Giám đốc phòng báo chí Tòa Thánh, cũng bày tỏ hy vọng tổng thống Obama sẽ thăng tiến một nền văn hóa sự sống và tự do tôn giáo. Hy vọng của mọi người là tổng thống Obama đáp ứng những mong đợi của nhân dân Hoa Kỳ và phục vụ luật pháp cũng như công lý để mưu an sinh và sự tăng trưởng của mỗi người, qua việc tôn trọng các giá trị thiết yếu về nhân bản và tinh thần và qua sự thăng tiến một nền văn hóa sự sống và tự do tôn giáo, vốn luôn luôn là điều rất quý giá đối với truyền thống nhân dân Hoa kỳ và niền văn hóa của họ”.

Các GM Công Giáo Hoa Kỳ đã phê bình tổng thống Obama vì đã ủng hộ luật cho phá thai và kế hoạch của chính phủ Mỹ do ông Obama lãnh đạo đòi hệ thống bảo hiểm tư của hầu hết các tổ chức Công Giáo phải trả tiền phí tổn ngừa thai nhân tạo, làm tuyệt đường sinh sản, là những điều đi ngược giáo huấn luân lý Công Giáo.

Theo Cha Lombardi, ”Vai trò của tổng thống Hoa Kỳ là một trách vụ rất lớn lao không những đối với đại quốc gia này, nhưng còn đối với các dân tộc trên toàn thế giới, xét vì vai trò của Hoa Kỳ trên chính trường hoàn cầu. Cha hy vọng tổng thống có thể tìm được những phương thế tốt nhất để thăng tiến an sinh thể lý và tinh thần của mọi người, thực sự góp phần phát triển toàn diện của con người, cũng như công lý và hòa bình trên thế giới”.

ĐHY Timothy Dolan, TGM New York, Chủ tịch HĐGM Hoa Kỳ, cũng gửi thư chúc mừng tổng thống Obama và khẳng định rằng:

”Nhân dân đất nước chúng ta một lần nữa lại ủy thác cho tổng thống một trách nhiệm lớn lao. Các GM Công Giáo Hoa Kỳ cầu nguyện xin Chúa ban cho Tổng thống được sức mạnh và khôn ngoan để đáp ứng các thách đố khó khăn mà Hoa Kỳ đang phải đương đầu.

Trong thư, ĐHY Dolan cũng cho biết các GM cầu nguyện để tổng thống Obama giúp tái lập ý thức công dân đối với trật tự công cộng, để các cuộc nói chuyện công cộng được thấm đượm tinh thần tôn trọng và bác ái đối với mối người. 'Đặc biệt chúng tôi cầu nguyện để tổng thống thi hành chức vụ để theo đuổi công ích, nhất là chăm sóc đến những người dễ bị tổn thương nhất trong chúng ta, trong đó có cả các thai nhi, người nghèo, và người di dân. Chúng tôi sẽ tiếp tục lập trường bênh vực sự sống, hôn nhân và quyền tự do đầu tiên được quí chuộng nhất, đó là tự do tôn giáo. (CNS 7-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

Đức Thánh Cha tiếp kiến Hàn Lâm Viện Khoa Học Tòa Thánh

Đức Thánh Cha tiếp kiến Hàn Lâm Viện Khoa Học Tòa Thánh

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng hôm 8 tháng 11-2012, dành cho Hàn lâm viện Tòa Thánh về khoa học, ĐTC Biển Đức 16 cổ võ sự đối thoại và cộng tác giữa khoa học và đức tin.

Hàn lâm viện Tòa Thánh về khoa học đã nhóm khóa họp toàn thể từ 5 đến 7 tháng 11-2012 tại nội thành Vatican, dưới quyền chủ tọa của giáo sư chủ tịch Werner Arber, với sự tham dự của 60 thành viên quốc tế. Chủ đề khóa họp là ”Sự phức tạp và tương tự trong khoa học: các khía cạnh lý thuyết, phương pháp và giải thích”.

Lên tiếng trong dịp này, ĐTC nhận xét rằng ”Sự phức tạp và cao cả của khoa học hiện nay trong tất cả những gì giúp con người hiểu biết về thiên nhiên, đều có ảnh hưởng trực tiếp đến con người. Chỉ có con người mới có thể liên tục mở rộng kiến thức của mình về chân lý và xếp đặt chúng một cách khôn ngoan để mưu ích cho mình và môi trường xung quanh”.

ĐTC cũng nói đến sự tiếp xúc hữu ích giữa khoa học với các ngành triết học và thần học Kitô giáo, đồng thời ngài nhấn mạnh rằng ”Vũ trụ này không phải là một sự hỗn độn hoặc là kết quả của một sự hỗn mang, đúng hơn, nó xuất hiện như một phức thể có trật tự, giúp chúng ta, qua sự phân tích và loại suy so sánh, đi từ sự chuyên môn đến một quan điểm bao quát hơn, và ngược lại.”

ĐTC xác tín rằng ”trong đại công trình khám phá các mầu nhiệm về con người và vũ trụ, cần phải tiếp tục có sự đối thoại và cộng tác giữa thế giới khoa học và thế giới đức tin trong việc xây dựng một nền văn hóa tôn trọng con người, bênh vực phẩm giá con người và tự do, bênh vực tương lai của gia đình nhân loại và sự phát triển dài hạn của trái đất chúng ta. Nếu không có sự hỗ tương cần thiết như thế, thì những vấn nạn lớn của con người sẽ rời bỏ lãnh vực lý trí và chân lý, gây thiệt hại lớn cho chúng nhân loại, cho hòa bình thế giới và cho vận mệnh tối hậu của chúng ta” (SD 8-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican

Sự Thưởng Phạt Đời Đời

Sự Thưởng Phạt Đời Đời

Hỏi: Nhân tháng cầu cách riêng cho các linh hồn (tháng 11), xin Cha giải thích hai câu hỏi sau :

1- Tại sao Thiên Chúa là tình thương và tha thứ lại có thể phạt con người trong nơi gọi là hoả ngục được? Và thực sự có nơi gọi là “hoả ngục” hay không?

2- Luyện tội là nơi nào và dành cho ai ?

 

Trả lời:

1- Đúng, Thiên Chúa là tình yêu như Thánh Gioan đã quả quyết. (x.1Ga :4:8)

Chính vì yêu thương nên Thiên Chúa đã tạo dựng và cứu chuộc con người nhờ Chúa Giêsu-Kitô, Đấng cũng vì yêu thương con người mà đã tự hiến chiu khổ hình thập giá để “hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc cho muôn người.” (Mt 20: 28) Thiên Chúa tuyệt đối không được lợi lộc gì và cũng không hề muốn tìm lợi lãi gì cho riêng mình mà phải làm việc này. Đây là điều chắc chắn chúng ta phải tin và cảm tạ Chúa về tình thương vô biên của Người là Cha nhân lành.

Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho con người sự khác biệt độc đáo so với mọi loài thụ tạo khác: đó là có trí hiểu biết và ý muốn tự do (intelligence and free will). Nghĩa là Ngài không tạo dựng loài người như những người máy “robots” chỉ biết thi hành theo mệnh lệnh của người điều khiển, mà là những tạo vật có lý trí và tự do để nhận biết và chọn lựa. Thiên Chúa hoàn toàn tôn trọng ý chí tự do này của con người. Do đó, con người phải chịu trách nhiệm trước Chúa về mọi chọn lựa của mình khi sống trên trần gian này.

Và cũng chính vì con người có lý trí và tự do nên mới có vấn đề thưởng phạt được đặt ra. cho riêng con người trước Thiên Chúa giầu tình thương nhưng cũng rất công minh khi phán xét con người

Nhưng truớc khi đi sâu vào sự thưởng phạt của Thiên Chúa, chúng ta cần biết xem Kinh Thánh và Giáo lý của Giáo Hội nói gì về nơi gọi là “hoả ngục = hell

A- Kinh Thánh

Trước hết, Ngôn sứ Isaia đã dùng hình ảnh sau đây để nói về nơi trừng phạt đời đời của những ai chối bỏ Thiên Chúa và tình thương của Người để làm những sự dữ trái nghịch hoàn toàn với tình thương và bản chất cực tốt cực lành của Chúa:

Khi ra về, mọi người sẽ thấy xác những kẻ phản loạn chống lại Ta vì giòi bọ rúc tiả, chúng sẽ không chết, lửa thiêu đốt chúng sẽ không tàn lụi . Chúng sẽ là đồ ghê tởm cho mọi người phàm”. (Is 60:24)

Sau này, khi đến trong trần gian để rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần nói đến hoả ngục và hình phạt ở nơi này như sau:

Nếu mắt ngươi làm cớ cho ngươi sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết, lửa không hề tắt.” (Mc 9: 47- 48)

Nơi khác, Chúa còn nói rõ thêm: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hoả ngục.” (Mt 10:28)

Thánh Gioan Tông Đồ cũng quả quyết như sau về sự hư mất đời đời dành cho những ai không yêu mến người khác như Chúa dạy:

Phàm ai ghét anh em mình, thì là kẻ sát nhân
Và anh em biết : không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó.
” (1 Ga 3 : 15)

B- Giáo Lý của Giáo Hội

Từ ngữ hoả ngục (hell) được dịch từ chữ “Sheol” của Do Thái, hay “Hades” của Hy lạp để chỉ nơi ở của những người không được nhìn thấy Thiên Chúa, là nguồn vui và hạnh phúc bất diệt. Đây chính là nơi mà Chúa Giêsu đã nhiều lần nói đến trong khi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ. Nơi này “dành cho những ai, cho đến lúc chết, vẫn từ chối tin và trở lại. Đó là nơi cả hồn lẫn xác sẽ bị hư mất. Và danh từ “hoả ngục” được dùng để chỉ tình trạng ly khai chung cuộc khỏi mọi hiệp thông với Thiên Chúa và các thánh trên trời.” (x. SGLGHCG, số 633, 1033).

Vì thế Giáo Hội, theo gương Chúa Giêsu, cũng tha thiết và nghiêm trọng “cảnh cáo các tín hữu về thực tế đáng buồn và thảm khốc của sự chết đời đời, còn được gọi là hoả ngục” (x. Sđd, số 1056-58)

Giáo lý của Giáo Hội cũng nói thêm là “Linh hồn của những người chết trong tình trạng mang tội trọng sẽ lập tức xuống hoả ngục, lửa vĩnh viễn.” (x. Sđd số 1035)

Nói rõ hơn, những ai biết mình đang có tội trọng như giết người, ngoại tình, âm mưu giết vợ hay chồng của người khác để cướp vợ hay chồng của họ, trôm cướp, tống tiền, làm chứng gian để hại người khác…thì phải nhanh chóng chạy đến với bí tích hòa giải để xưng và đền bù thiệt hại gây ra cho người khác (trộm cắp) để được tha tội và nối lại tình thương với Chúa, là Đấng gớm ghét mọi tội lỗi nhưng lại yêu thương kẻ có tội biết sám hối xin tha.

Như vậy, qua những bằng chứng trên đây, chúng ta không có lý do gì để nghi ngờ hay phủ nhận sự tồn tại của một nơi đáng sợ hãi gọi là “hoả ngục”, tức là nơi hoàn toàn đối nghịch với “Thiên đàng” (paradise), là chỗ “vinh phúc cho ta được thông phần vào bản tính Thiên Chúa và được sống đời đời” sau khi đã hoàn tất hành trình đức tin trong trần thế này theo lời dạy của Thánh Phêrô. (x. 2 Pet 1:4)

C- Chúacó phạt ai xuống hoả ngục hay không?

Như đã nói ở trên, Thiên Chúa là tình yêu và giầu lòng tha thứ, là “Đấng cứu độ chúng ta, Đấngmuốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý.” (x.1 Tm 2:4). Nghĩa là, Thiên Chúa không tiền định hay muốn cho ai phải hư mất đời đời, tức là phải phạt trong nơi gọi là hoả ngục. Lý do là vì “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”. (Ga 3: 16)

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, Thiên Chúa tạo dựng con người với hai đặc tính độc đáo là có lý trí và ý chí tự do. Lý trí để nhận biết và ý muốn tự do để lựa chọn. Như vậy, nếu Chúa bắt buộc con người phải yêu mến Ngài thì tình yêu này sẽ không có giá trị vì như thế con người sẽ mất hết tự do lựa chọn và sống như mọi loài thụ tạo khác mà thôi. Chính vì Thiên Chúa ban cho và hoàn toàn tôn trọng cho con người sử dụng ý chí tự do (free will) nên sự chọn lựa của cá nhân mới có giá trị thưởng phạt.

Nói khác đi, Thiên Chúa không ép buộc ai phải yêu mến và sống theo đường lối của Ngài. Ngược lại, Ngài chỉ mời gọi và tuỳ con người tự do đáp trả như tác giả Đệ Nhị Luật đã viết:

Hôm nay tôi lấy trời đất làm chứng để cáo tội anh (em): tôi đã đưa ra cho anh (em) chọn được sống hay phải chết, được chúc phúc hay bị nguyền rủa. Anh (em) hãy chọn để anh (em) và dòng dõi anh (em) được sống.”(Đnl 30:19)

Do đó, nếu con người sử dụng ý muốn hay ý chí tự do (free will) mà khước từ Thiên Chúa để sống theo ý riêng của mình thì Thiên Chúa sẽ tôn trọng và người ta phải hoàn toàn chịu mọi hâu quả về sự chọn lựa của mình trong cuộc sống trên trần gian này cho đến chết.

Thực tế khắp nơi và ở mọi thời đại đã cho ta thấy rõ là : có biết bao triệu người đã và đang chọn nếp sống phóng túng, gian ác, lưu manh, trộm cướp, bóc lột, gian dâm, khủng bố, giết người, dâm ô, và tôn thờ tiền bạc, vật chất với mọi thú vui vô luân, vô đạo. v.v… Đây là những lối sống hoàn toàn đi ngược với mọi Thánh chỉ của Thiên Chúa và Tin Mừng Cứu Độ mà Chúa Giêsu đã rao giảng và trả giá bằng chính cái chết của Người trên thập giá năm xưa.

Nếu người ta cương quyết chọn con đường sai trái và từ chối hoáncải để được tha thứ và cứu độ thì họ đã tự ý chọn lựa cho mình nơi ở dành cho những kẻ đã khước từ Thiên Chúa là tình thương, an vui, công bình và thánh thiện. Nghĩa là, nếu cuộc sống trên đời này có dẫn đưa ai cuối cùng phải dừng chân ở nơi gọi là “hoả ngục” thì đó hoàn toàn là hậu quả tất nhiên của sư tự do cá nhân muốn chọn lựa, chứ không phải vì Chúa muốn trừng phạt ai, hay tiền định cho ai phải chịu hình phạt đáng sợ này. Như vậy, phải hiểu án phạt hoả ngục theo nghĩa con người có lý trí và tự do đã chọn lựa cho mình một nếp sống hoàn toàn trái ngược với cuộc sống dẫn đưa đến hạnh phúc thiên đàng như Chúa hứa ban cho những ai thành tâm ước muốn khi còn sống trên đời này.Cho nên, không có gì là tàn nhẫn hay trái ngược với tình thương vô biên của Thiên Chúa là Đấng “muốn cho mọi người được cứu độ” và sống đời đời.

Mặt khác, sở dĩ phải đặt vấn đề “thưởng phạt đời đời” là vì sự có mặt của tội lỗi và sự dữ trong trần gian này như một thực tế không ai có thể phủ nhận được

Đó là chiến tranh, vì quyền lợi kinh tế hay chính trị, đang giết hại hàng trăm ngàn người vô tội ở Iraq, Afghanistan, Libya, Syria…Đó là những kẻ đang khai thác kỹ nghệ mãi dâm, sản xuất phim ảnh đồi trụy, buôn bán ma túy, phụ nữ và trẻ em cho những kẻ tìm thú vui dâm ô vô cùng khốn nạn này ở khắp nơi trên thế giới. Đó là các tập đoàn tư bản xanh và đỏ đang gia sức bóc lột dân nghèo, lấy của công làm của tư, độc quyền cai trị, kinh doanh và thao túng thị trường để vơ vết của cải cách bất công, vô nhân đạo.

Nghĩa là, bao lâu còn sống trên trần gian này và trong bản chất yếu đuối do hậu quả của tội Nguyên tổ, con người sẽ luôn luôn bị giằng co giữa sự dữ và sự thiện, giữa cái tốt và cái xấu đối chọi nhau như ánh sáng và bóng tối.

Nếu nhờ đức tin và lý trí, chúng ta nhận biết và tin có Thiên Chúa là Cha nhân lành, là Đấng tạo dựng mọi loài mọi vật, là Chân Thiên Mỹ tuyết đối, thì lời mời gọi sẽ là: hoặc chọn Chúa để yêu mến và sống theo đường lối của Người hay chốibỏ Chúa để buông mình sống theo những đòi hỏi, quyến rũ của trần gian về danh vọng, tiền tài, vui thú vô luân vô đạo và bịt tai nhắm mắt không nghe tiếng lương tâm và không còn nhìn rõ lằn ranh giữa sự thiện và sự dữ, sự tội đầy rẫy trong trấn thế này.

Do đó, nếu ai phải bị hư mất đời đời trong nơi gọi là “hỏa ngục” thì đó chính là hậu quả chọn lựa của người ấy khi sống trên trần thế này, chứ không phải vì Thiên Chúa đã tiền định hay muốn phạt ai xuống hỏa ngục. Trong tinh thần đó, ân thưởng mà Thiên Chúa hứa ban được ví như bàn tiệc với những thực phẩm tối hảo, trường sinh bất tử mà Người đã dọn sẵn và mời mọi khách đến thưởng thức.

Nếu ai từ khước tham dự Bàn tiệc Nước Trời, thì dĩ nhiên họ không được hưởng những thực phẩm tối cần cho sự sống đời đời, khiến phải chết đói, chết khát là hậu quả tất yếu họ phải gánh chịu vì đã tự do chọn lựa như thế.

2- Luyện Tội (Purgatory) là gì?

Theo giáo lý của Giáo Hội thì Luyên Tội hay Luyện ngục là nơi dành cho “những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn thì, tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết hầu đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng.” (x . SGLGHCG, số 1030)

Nói rõ hơn, một người sau khi chết sẽ tức khắc bị phán xét riêng để nếu đã thánh thiện đủ thì được vào ngay nơi gọi là “Thiên đàng” để sống hạnh phúc muôn đời với Thiên Chúa. Ngược lại, nếu đã phạm mọi tội nghịch cùng Thiên Chúa và hoàn toàn từ khước Người cho đến hơi thở cuối cùng thì sẽ vào nơi gọi là “hỏa ngục” như đã giải thích ở trên.Nhưng điều này chỉ có Chúa biết mà thôi và không ai trong Giáo Hội có thể biết được. Vì thế, Giáo Hội vẫn dạy phải cầu cho mọi người đã qua đời kể cả những người đã tự tử chết, vì không biết số phận đời đời của họ ra sao, sau khi chết.

Giữa Thiên Đàng và hỏa ngục, còn nơi thứ ba gọi là Luyện ngục hay Luyện tội là nơi dành cho những linh hồn đã lìa đời trong on nghĩa của Chúa, nhưng chưa thánh thiện đủ để vào ngay Thiên Đàng mà cần được thanh luyện thêm ở nơi này một thời gian trước khi được vào chốn an nghỉ muôn đời với Chúa trên Thiên Đàng.

Cũng theo giáo lý của Giáo Hội, thì các Thánh ở trên trời, các linh hồn thánh trong Luyện Tội và các tín hữu còn sống đều hiệp thông với nhau trong lời cầu nguyện, ca ngượi và cảm tạ dâng lên Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng “chậm giận và giầu tình thương.” (Tv 103: 8).

Đây là tín điều các Thánh thông công mà Giáo Hội dạy con cái mình tin và sống trong cuộc lữ hành tiến về Quê Trời. Nghĩa là các Thánh trên Thiên Đàng có thể cầu bầu đắc lực cho các linh hồn trong Luyện ngục và cho các giáo hữu còn sống trên trần gian. Các linh hồn trong Luyện ngục cũng có thể cầu xin hữu hiệu cho các tín hữu còn sống, nhưng không thể tự giúp mình được vì thời giờ làm việc lành phúc đức đã hết.Vì thế, các linh hồn mong đợi các tín hữu còn sống làm việc lành để cầu cho các linh hồn sớm được đón nhận vào Thiên đàng. Vì thế, chúng ta được khuyên khích cầu nguyện cách riêng cho các linh hồn trong tháng 11 là tháng dành để cầu xin cho các linh hồn đang còn được thanh luyện trong nơi Luyện tội. Giáo Hội ban ân xá (Indulgences) để tha các hình phạt hữu hạn (temporal punishment) cho người còn sống và cho các linh hồn trong Luyện tôi. Hình phạt hữu hạn hay việc đền tội là việc xin tẩy xóa những hậu quả của các tội nặng nhẹ đã được tha qua bí tích hòa giải. Tội được tha nhưng hậu quả của tội còn để lại trong tâm hồn hối nhân. Do đó, mọi hối nhân, sau khi xưng tội cách thành thật, đều phải làm việc gọi là “đền tội” do cha giải tội ấn định.

Nhằm mục đích tha hay tẩy xóa các hình phạt hữu hạn, Giáo Hội ban một đặc ân gọi là ân xá (Indulgence) lấy trong kho tàng ơn cứu chuộc của Chúa Kitô và công nghiệp của Đức Mẹ và các Thánh để ban cho các tính hữu còn sống hay các linh hồn trong Luyện tội. Ân xá được ban trong những dịp đặc biệt như trong tháng cầu cho các linh hồn (tháng 11) trong Năm Thánh (Year of Jubilee) Năm Đức Tin (năm nay cho đến 24 tháng 11 năm 2013). Ân xá có thể là từng phần (partial indulgence) hay toàn phần tức ân toàn xá (full indulgences) để tha các hình phạt hữu hạn nói trên. Do đó, mọi tín hữu đang hiệp thông với Giáo Hội có thể lãnh ân xá để xin tha hình phạt hữu hạn cho mình hay nhường lại cho các linh hồn nơi Luyện Tội, nhưng không thể nhường cho các tín hữu còn sống.

Muốn hưởng ân toàn xá thì các tín hữu phải thi hành một số việc lành ấn định như xưng tội, rước Mình Thánh Chúa, viếng nhà thờ và cầu nguyện theo ý Đức Thánh Cha.Về việc viếng nhà thờ thì trong tháng 11 có thể viếng bất cứ nhà thờ nào cũng được. Riêng cho Năm thánh hay Năm Đức Tin thì phải viếng nhà thờ nào được Giáo quyền địa phương (Đức giám mục) chỉ định để được ân xá. Vậy chúng ta hay sốt sắng làm những việc lành thường lệ để lãnh ân xá cầu cho các linh hồn trong tháng 11 này, và trong suốt Năm Đức Tin đang mở ra trong toàn Giáo Hội.

Tóm lại, có Thiên Đàng là nơi dành cho những ai yếu mến và tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự và xa lánh mọi tội lỗi bao lâu còn sống trên trần gian này. Cũng có hỏa ngục là nơi dành cho những người đã tự do chọn chỗ này cho mình khi tự ý khước từ Thiên Chúa để sống theo ma quỉ, xác thịt và trần gian cho đến hơi thở cuối cùng.Ở giữa hai nơi trên là chốn thanh luyện các linh hồn chưa được tẩy sạch mọi hậu quả của tội lỗi trước khi được gia nhập hàng ngũ các Thánh và các Thiên Thần trên Thiên Đàng.

Ước mong giải đáp này thỏa mãn các câu hỏi được đặt ra.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn

Đức Thánh Cha chia buồn với Giáo Hội Chính Thống Bulgari

Đức Thánh Cha chia buồn với Giáo Hội Chính Thống Bulgari

VATICAN. ĐTC Biển Đức 16 chia buồn với Giáo Hội Chính Thống Bulgari về sự qua đời của Đức Thượng Phụ Giáo Chủ Maxime, đồng thời ngài cảm tạ Chúa vì những quan hệ tốt đẹp Đức Cố Thượng Phụ đã phát huy với Giáo Hội Công Giáo.

Đức Thượng Phụ qua đời lúc gần 4 giờ sáng ngày 6 tháng -11-2012 tại nhà thương Lonenets ở thủ đô Sophia, hưởng thọ 98 tuổi, sau hơn 1 tháng điều trị tại đây. Người cai quan Giáo Hội Chính Thống Bulgari trong 41 năm trời.
Trong điện văn gửi đến Đức TGM Grigorij của giáo phận Veliko Trnovo, Chủ tịch lâm thời của Thánh Hội đồng Chính Thống Bulgari, ĐTC bày tỏ đau buồn vì sự qua đi của Đức Thượng Phụ Maxime, ”người anh em rất quí mến trong Chúa Kitô”.

Nhân danh Giáo Hội Công Giáo, ĐTC chia buồn với toàn thể các GM, LM, và tín hữu Chính Thống Bulgari, đồng thời cảm tạ Thiên Chúa vì tất cả những điều tốt lành Đức Cố Thượng Phụ đã làm cho Giáo Hội và dân tộc của Người. ”Đặc biệt tôi nhớ đến sự đón tiếp nồng hậu đã dành cho Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 trong cuộc viếng thăm tại Bulgari hồi tháng 5 năm 2002. Tôi cũng cảm tạ Chúa vì những quan hệ tốt đẹp mà Đức Thượng Phụ đã phát huy với Giáo Hội Công Giáo tại Bulgari, và tôi cũng cầu mong những quan hệ tốt đẹp ấy có thể được tiếp tục để công bố Tin Mừng”.

Đức Thượng Phụ Maxime sinh ngày 29 tháng 10-1914 tại Oreshak, miền trung Bulgari, tục danh là Marin Minkov. Năm 1941 ngài trở thành đan sĩ với tên là Maxime. Năm 1971 ngài được bầu làm TGM giáo phận Sophia, Thượng Phụ Giáo Chủ Chính Thống Bulgari.

Sau khi chế độ cộng sản sụp đổ tại Bulgari, tân chính phủ tìm cách thay thế các nhân vật được bổ nhiệm dưới thời cộng sản, kể cả Đức Thượng Phụ Maxime. Giáo Hội Chính Thống Bulgari bị chia làm 2 phe. Một nhóm GM và LM toan tính lật đổ Đức Thượng Phụ Maxime, nhưng không thành công và họp lập ra một Hội đồng mới. Sự chia rẽ lan rộng và đưa tới nhiều cuộc đụng độ, chiếm đóng các thánh đường. Có 30% trong số 1 ngàn LM toàn quốc theo phe ly khai. Tuy nhiên phần lớn vẫn trung thành với Đức Thượng Phụ Maxime, người vẫn được các tòa Thượng Phụ Chính Thống khác trên thế giới công nhận.

Một Ủy ban điều tra về các cộng tác viên với cơ quan mật vụ nhà nước cộng sản Bulgari không tìm thấy liên hệ gì giữa Đức Thượng Phụ Maxime với chế độ cộng sản, tuy rằng, trong số 15 GM Bulgari, thì có 11 vị đã làm việc cho chế độ cộng sản.

Trong số 7,4 triệu dân Bulgari, có tới 80% là tín hữu Chính Thống. 13 vị GM thành viên Thánh Hội Đồng nhóm họp để chọn người tạm thời cai quản Giáo Hội trong vòng 4 tháng tới đây tức là cho đến khi Đại Hội đồng của Giáo Hội chọn vị Thượng Phụ mới. (SD, AP 6-11-2012)

G. Trần Đức Anh OP – Vietvatican