Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Lương Thực

Sứ điệp của Đức Thánh Cha nhân Ngày Lương Thực

ROMA. ĐTC Phanxicô kêu gọi tăng cường giáo dục về tình liên đới, phá đổ những bức tường ích kỷ, thay đổi lối sống và bài trừ nạn phung phí lương thực, trong nỗ lực xóa bỏ nạn đói trên thế giới.

Trên đây là nội dung sứ điệp của ĐTC được công bố hôm 16-10-2013, tại trụ sở Tổ chức Lương Nông Quốc tế, gọi tắt là Fao, ở Roma, nhân ngày Lương Thực tế giới, năm nay được cử hành với chủ đề ”Những người lành mạnh tùy thuộc các hệ thống lương thực lành mạnh”. Sứ điệp bằng tiếng Tây Ban Nha của ĐTC được Đức Cha Luigi Travaglino, Quan sát viên thường trực của Tòa Thánh tại tổ chức FAO, tuyên đọc.

Trong Sứ điệp, ĐTC khẳng định rằng ”thật là một gương mù vì còn nạn đói và suy dinh dưỡng trên thế giới. Vấn đề ở đây không phải chỉ đáp ứng tình trạng khẩn cấp trước mắt, nhưng là cùng nhau, ở mọi cấp độ, đương đầu với một vấn đề đang đặt câu hỏi cho lương tâm bản thân và xã hội của chúng ta, để đạt tới một giải pháp chính đáng và lâu bền… Một điều nghịch lý đó là trong một thời đại mà sự hoàn cầu hóa cho biết những tình trạng thiếu thốn trên thế giới và gia tăng những trao đổi cũng như những quan hệ giữa con người với nhau, thì dường như người ta càng có xu hướng cá nhân chủ nghĩa, khép kín vào mình, đưa tới một thái độ dửng dưng trên bình diện bản thân, tổ chức và quốc gia, đối với những người đang chết vì đói hoặc chịu đau khổ vì suy dinh dưỡng, như thể đó là một sự kiện không thể tránh được”.

Trong bối cảnh trên đây, ĐTC kêu gọi gia tăng giáo dục về tình liên đới, tái khám phá giá trị và ý nghĩa của từ này, một từ gây khó chịu và thường bị người ta gạt bỏ, trong những chọn lựa chính trị, kinh tế và tài chánh.
Mặt khác, ĐTC đặc biệt tố giác hiện tượng phung phí lương thực trên thế giới. Các con số do tổ chức Fao công bố cho thấy khoảng 1 phần 3 lương thực được sản xuất trên thế giới không được sử dụng vì bị thất thoát hoặc phung phí. Số lượng thực phẩm này đủ để giảm bớt đáng kể số người đói.

ĐTC nhận xét rằng sự phung phí lương thực chỉ là một trrong những hậu quả của nền văn hóa loại bỏ, thường khiến cho người ta hy sinh con người cho những thần tượng của lợi lộc và tiêu thụ.

Sau cùng, ĐTC kêu gọi đặt con người và phẩm giá của con người thực sự ở vị trí trung tâm. Điều này phải được bắt đầu từ ngay trong gia đình: trong cộng đồng giáo dục đầu tiên này, ta có thể học cách chăm sóc tha nhân, thiện ích của người khác, yêu mến sự hòa hợp của thiên nhiên, vui hưởng và chia sẻ hoa trái của thiên nhiên, tạo điều kiện cho sự tiêu thụ hợp, quân bình và dài hạn. Cần nâng đỡ và bảo vệ gia đình để gia đình giáo dục con em về tình liên đới và thái độ tôn trọng. Đó là một bước tiến quyết định để tiến về một xã hội công bằng và nhân bản hơn (SD 16-10-2013)

G. Trần Đức Anh OP  – Vatican Radio

Đức Thánh Cha cám ơn ĐHY Bertone và chào Đức TGM Parolin

Đức Thánh Cha cám ơn ĐHY Bertone và chào Đức TGM Parolin

VATICAN. Hôm 15 tháng 10-2013, ĐHY Tarcisio Bertone, đã chấm dứt nhiệm vụ Quốc vụ khanh Tòa Thánh kéo dài trong 7 năm qua.

Nhiệm vụ này được ĐTC ủy thác cho vị tân Quốc vụ khanh là Đức TGM Parolin. Tuy nhiên, Đức TGM không có mặt trong buổi bàn giao vì đang chịu một cuộc giải phẫu và sẽ chính thức nhận nhiệm vụ trong vài tuần lễ tới đây sau khi bình phục như chính ĐTC loan báo trong buổi gặp gỡ chung các chức sắc và nhân viên Phủ Quốc Vụ Khanh tại Thư viện của cơ qua này.

Đức TGM Pietro Parolin được ĐTC tuyên bố bổ nhiệm làm Quốc vụ khanh hôm 31-8-2013. Ngài sinh trưởng tại tỉnh Vicenza, bắc Italia, năm nay 58 tuổi, phục vụ trong ngành ngoại giao Tòa Thánh từ năm 1986. Ngài từng làm thứ trưởng ngoại giao từ cuối năm 2002, và trong 4 năm qua, ngài làm TGM Sứ Thần Tòa Thánh tại Venezuela.
Lên tiếng trong cuộc gặp gỡ sáng 15-10, ĐTC nói: ”Chúng ta họp nhau để cám ơn ĐHY Tarcisio Bertone, hôm nay giã từ nhiệm vụ Quốc vụ khanh Tòa Thánh, và để chào mừng Đức TGM Parolin, nhưng đây là một cuộc chào mừng ”khiếm diện” vì Đức TGM sẽ nhận nhiệm vụ mới trong vài tuần nữa, so với ngày hôm nay, vì ngài phải chịu một cuộc giải phẫu nhỏ.

”Trong lúc này đây có một tâm tình biết ơn tôi muốn chia sẻ với tất cả anh chị em. ĐHY Tarcisio quí mến, tôi nghĩ là tôi cũng giải thích tư tưởng của vị tiền nhiệm quí mến của tôi Biển Đức 16 khi nồng nhiệt cám ơn ĐHY vì công việc đã thi hành trong những năm này. Nơi ĐHY tôi thấy trước tiên là một người con của Don Bosco. Tất cả chúng ta đều được ghi đậm tiểu sử của Thánh Nhân.”

ĐTC nhắc lại quá trình phục vụ của ĐHY Bertone, trước tiên trong ngành giáo dục, rồi trong sứ vụ GM giáo phận, trong công việc tại giáo triều Roma, cho đến nhiệm vụ Quốc vụ khanh Tòa Thánh, theo ơn gọi LM dòng Salésien. Ngài cũng đề cao lòng yêu mến của ĐHY như một tu sĩ Salésien đối với Giáo Hội, đặc biệt là với Người Kế Vị Thánh Phêrô, lòng trung thành vô điều kiện với thánh Phêrô, đối với ĐGH Biển Đức 16 và đối với tôi trong những tháng qua.

Ám chỉ tới những đau khổ, những chỉ trích phê bình mà ĐHY Bertone phải chịu, ĐTC nói thêm rằng:

”Sau cùng tôi cũng muốn cám ơn ĐHY vì lòng can đảm và kiên nhẫn mà ĐHY đã đương đầu với những chống đối và nghịch cảnh. Rất nhiều nghịch cảnh. Trong số những giấc mơ được Don Bosco kể lại cho những người trẻ của Ngài có giấc mơ hoa hồng. ĐHY có nhớ chăng? Thánh Bosco thấy một giàn đầy hoa hồng và bắt đầu đi vào trong đó, có nhiều đệ tử theo sau. Nhưng dần dần càng đi vào trong, cùng với những hoa hồng trên giàn có những gai rất nhọn làm bị thương và đau đớn. Ai nhìn từ bên ngoài thì chỉ thấy hoa hồng, trong khi Don Bosco và các môn đệ đi bên trong cảm thấy gai nhọn: nhiều người nản chí, nhưng Đức Mẹ nhắn nhủ tất cả hãy kiên trì và sau cùng thánh Bosco tìm lại được các con của Người trong một vườn rất đẹp. Giấc mơ muốn trình bày vất vả của nhà giáo dục, nhưng tôi nghĩ cũng có thể áp dụng cho bất kỳ sứ vụ trách nhiệm nào trong Giáo Hội. ĐHY Bertone thân mến, trong lúc này, tôi muốn nghĩ rằng tuy có những gai nhọn, nhưng Đức Mẹ Phù Hộ chắc chắn không đã để cho ĐHY thiếu ơn phù trợ của Mẹ và sẽ không để bị thiếu trong tương lai.”

ĐTC cũng chúc mừng Đức TGM tân quốc vụ khanh khiếm diện. Ngài nói: ”Đức TGM Parolin biết rất rõ gia đình Phủ Quốc Vụ Khanh vì đã làm việc tại đây bao nhiêu năm trời với lòng hăng say và tài khéo, với khả năng đối thoại và với lòng nhân từ vốn là đặc tính của ngài. Theo một nghĩa nào đó, đây là một cuộc trở về nhà đối với Đức TGM”.
Sau cùng, ĐTC cám ơn tất cả các nhân viên Phủ Quốc vụ khanh: ”cám ơn anh chị em vì việc phục vụ hằng ngày mà anh chị em chu toàn, nhiều khi dưới hình thức âm thầm và vô danh; đó thực là điều quí giá đối với sứ vụ của tôi. Tôi mời gọi tất cả anh chị em cầu nguyện cho tôi – tôi rất cần…

Sứ điệp gửi ĐHY Bertone

Ngoài bài diễn văn trên đây, ĐTC cũng trao cho ĐHY Bertone một sứ điệp bằng văn thư với một nội dung tương tự:

”Tôi cám ơn ĐHY nhân danh Đức Biển Đức 16 quí mến, Người đã gọi ĐHY từ Genova trở về Roma và ủy thác nhiệm vụ Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh ngày 15-9 năm 2006 và làm HY Nhiếp chính của Giáo Hội Roma. 7 năm làm việc khẩn trương, trong tinh thần quảng đại và phục vụ. Cả tôi cũng sự cộng tác khéo léo của ĐHY cho đến hôm nay”.

ĐTC đặc biệt đề cao ĐHY Bertone về sự trung thành với tinh thần của Thánh Bosco, tinh thần dòng Salesien mà ĐHY vẫn bảo tồn và chứng tỏ tuy bận rộn với bao nhiêu công việc trợ giúp Người Kế vị Thánh Phêrô. Với tinh thần tháo vát và lòng yêu mến đối với ĐGH, vốn là đặc tính của các con cái thánh Gioan Bosco, ĐHY đã luôn chu toàn nghĩa vụ hướng dẫn trong các quan hệ của Tòa Thánh với quốc tế. Đồng thời ĐHY đã không nề quản điều gì để mang giáo huấn và phép lành của ĐGH đến mọi nơi. Đức Mẹ Phù Hộ các tín hữu đã luôn ở gần và trợ giúp ĐHY trong sứ vụ quí báu này”.

Lời ĐHY Bertone

Về phần ĐHY Bertone, trong lời kết thúc sứ vụ, đã phác họa những điểm tích cực nổi bật trong 7 năm ở cạnh ĐGH Biển Đức rồi đến ĐTC Phanxicô. Những đề tài quan trọng đã được đề cập đến như tương quan giữa đức tin và lý trí, giữa luật pháp và luật tự nhiên, những bài diễn văn quan trọng của Đức Nguyên Giáo Hoàng tại quốc hội Đức, Quốc hội Anh, cũng như tại Học viện Bernardin ở Paris, về cao căn tính Kitô chung với các anh chị em thuộc các Giáo Hội và Cộng đoàn Kitô khác, canh tân đối thoại thần học với các anh em Do thái, v.v.

ĐHY Bertone cũng nhắc đến những dự án mục vụ lớn dưới thời Đức Giáo Hoàng Biển Đức 16 như năm thánh Phaolô, năm Linh Mục và năm Đức Tin sắp kết thúc. Ngài cho biết Đức Giáo Hoàng Biển Đức đã đau khổ sâu đậm vì sự ác làm tủi hổ khuôn mặt Giáo Hội và vì thế đã đề ra luật mới để quyết liệt bài trừ hiện tượng ô nhục nạn giáo sĩ lạm dụng tính dục. Sau cùng, ĐHY Bertone cho biết ngài nhìn thấy nơi ĐGH Phanxicô ngày nay không phải một cuộc cách mạng cho bằng một sự tiếp nối ĐGH Biển Đức 16, tuy có những dấu nhấn và sắc thái riêng của đời sống bản thân. Ví dụ Ngày Quốc Tế giới trẻ ở Maria và Rio de Janeiro.

ĐHY nói với ĐTC: ”Sự lắng nghe, dịu hiền, từ bi và tín thác là những thực tại tuyệt với mà con đã đích thân cảm nguyện trong nhiều cuộc nói chuyện, các cử chỉ và những cú điện thoại, và trong các công tác được Ủy thác cho con. Con xin cám ơn ĐTC Phanxicô vì lòng từ ái của ngài”.

ĐHY Bertone sẽ tròn 79 tuổi vào tháng 12 tới đây và tiếp tục giữ nhiệm vụ HY nhiếp chính trong trường hợp Tòa Thánh trống tòa. (SD 15-10-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Tái truyền giảng Tin Mừng theo Đức Thánh Cha Phanxicô

Tái truyền giảng Tin Mừng theo Đức Thánh Cha Phanxicô

VATICAN. ĐTC Phanxicô đề cao giá trị ưu tiên của việc làm chứng tá, đi gặp gỡ tha nhân và đề ra dự án mục vụ qui trọng tâm vào điều thiết yếu, trong cuộc cuộc tái truyền giảng Tin Mừng.

Trên đây là 3 điểm chính được ngài trình bày trong buổi tiếp kiến sáng 14 tháng 10-2013, dành 50 HY, GM, LM và giáo dân tham dự khóa họp toàn thể của Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng dưới sự hướng dẫn của Đức TGM chủ tịch Rino Fisichella.

Về điểm thứ I, ĐTC nhận định rằng ”thời nay người ta thường thấy thái độ dửng dưng đối với đức tin mà họ cho là không còn quan trọng trong đời sống con người. Tái truyền giảng Tin Mừng, hay cũng gọi là tân Phúc Âm Hóa, có nghĩa là thức tỉnh nơi tâm trí con người thời nay đời sống đức tin. Đức tin là một hồng ân của Thiên Chúa, nhưng điều quan trọng là các tín hữu Kitô chúng ta chứng tỏ mình sống đức tin một cách cụ thể, qua tình thương, sự hòa thuận, vui tươi, đau khổ, vì chứng tá ấy gợi lên những câu hỏi như vào thời kỳ đầu của Giáo Hội: tại sao họ sống như thế? điều gì thúc đẩy họ? Đó là những câu hỏi dẫn tới trọng tâm của việc rao giảng Tin Mừng là làm chứng về đức tin và đức mến. Điều chúng ta cần làm, nhất là ngày nay, đó là trở nên những chứng nhân đáng tin cậy bằng cuộc sống và bằng lời nói, làm cho Tin Mừng trở nên hữu hình, khơi dậy sự thu hút đối với Chúa Giêsu Kitô, và vẻ đẹp của Thiên Chúa.”

ĐTC cũng nhắc nhở các tín hữu Kitô cần cởi bỏ những gì là vô ích và tai hại, những thứ an ninh trần tục làm cho Giáo Hội trở nên nặng nề. Các Kitô hữu cũng cần làm cho lòng từ bi và sự dịu dàng của Thiên Chúa trở nên hữu hình.

Về điểm thứ hai, ĐTC nhấn mạnh sự cần thiết phải đi gặp tha nhân. Tái truyền giảng Tin Mừng là một phong trào được đổi mới, đi tới những người đã xa lìa đức tin và ý nghĩa sâu xa của cuộc sống. ..

Ngài nói: ”Không ai bị loại trừ khỏi niềm hy vọng sự sống và khỏi tình thương của Thiên Chúa. Giáo Hội được sai đi để khơi dậy khắp nơi niềm hy vọng ấy, nhất là tại những nơi niềm hy vọng này bị bóp nghẹt vì hoàn cảnh sống khó khăn và nhiều khi vô nhân đạo.”

Yếu tố sau cùng là cần có một sự án mục vụ gợi lại những điều thiết yếu, nghĩa là qui trọng tâm vào Chúa Giêsu. ĐTC nhấn mạnh rằng: ”xả thân vào bao nhiêu việc phụ thuộc và thừa thãi là điều vô ích, cần phải qui trọng tâm vào thực tại cơ bản là gặp gỡ Chúa Kitô, với lòng từ bi, tình thương của Chúa, và yêu thương anh chị em mình như chính Chúa đã yêu thương chúng ta…”

”Chúng ta có thể tự hỏi: đâu là công việc mục vụ trong giáo phận và giáo xứ của chúng ta? Nó có là điều điều thiết yếu trở nên hữu hình hay không? Những kinh nghiệm và đặc tính khác nhau có đồng hành trong sự hòa hợp mà Chúa Thánh Linh ban hay không? Hay là việc mục vụ của chúng ta bị phân tán, rời rạc, và rốt cục mỗi người tự lo cho mình? (SD 14-10-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Thánh lễ và nghi thức phó thác cho Đức Mẹ Fatima do Đức Thánh Cha cử hành

Thánh lễ và nghi thức phó thác cho Đức Mẹ Fatima do Đức Thánh Cha cử hành

Our Lady Fatima at Rome

VATICAN. 200 ngàn tín hữu đã tham dự thánh lễ ĐTC Phanxicô cử hành sáng ngày 13 tháng 10-2013 với nghi thức phó thác cho Đức Mẹ Fatima vào cuối thánh lễ tại Quảng trường Thánh Phêrô.

Lúc 8 giờ sáng, Tượng Đức Mẹ Fatima nguyên bản đã được trực thăng của không lực Italia chở từ Đền Thánh Đức Mẹ Tình Yêu Thiên Chúa (Divino Amore) từ ngoại ô Roma, nơi diễn ra buổi canh thức suốt đêm, về Vatican, và sau đó được rước ra Quảng trường Thánh Phêrô, trong khi chờ đợi thánh lễ ĐTC cử hành từ lúc 10 giờ rưỡi. Giống như chiều thứ bẩy hôm trước, Tượng Đức Mẹ đã được rước qua các lối đi để các tín hữu chào kính.

Thánh lễ sáng hôm qua là cao điểm trong hai Ngày Thánh Mẫu được tổ chức tại Roma trong khuôn khổ Năm Đức tin. Các tín hữu hiện diện tại Quảng trường, tràn ra đến gần cuối đường Hòa Giải, trong số này có 48 phái đoàn chính thức đại diện các Hội đoàn Thánh Mẫu tại 48 nước trên thế giới, kể cả một số nước ở xa như Australia, Ấn độ, Argentina, Nhật Bản, Hoa Kỳ và nhiều nước Nam Mỹ. Đồng tế với ĐTC có hơn 1 ngàn LM và một số GM trong áo lễ màu xanh lá cây.

Bài giảng của Đức Thánh Cha

Trong bài giảng Thánh Lễ, dựa vào các bài đọc của chúa nhật thứ 28 thường niên năm C, ĐTC nêu bật tấm gương của Mẹ Maria để cho Chúa làm kinh ngạc, trung thành với Chúa và xác tín Chúa là sức mạnh của chúng ta. Ngài nói:

”Hãy hát mừng Chúa một bài ca mới, vì Ngài đã thực hiện những việc diệu kỳ” (Tv 97,1).

Ngày hôm nay chúng ta đứng trước một trong những điều kỳ diệu của Chúa: đó là Đức Maria! Một thụ tạo khiêm hạ và yếu đuối như chúng ta, được chọn để làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đấng Tạo Hóa.

Chính khi nhìn Mẹ Maria, dưới ánh sáng các bài đọc chúng ta đã nghe, tôi muốn cùng với anh chị em suy tư về 3 thực tại: Thiên Chúa làm cho chúng ta ngạc nhiên, Thiên Chúa yêu cầu chúng ta trung thành, Thiên Chúa là sức mạnh của chúng ta.

1. Thứ I: Thiên Chúa làm chúng ta ngạc nhiên. Sự tích Naaman, tư lệnh quân đội của vua Aram, thật là đặc biệt; để được khỏi bệnh phong cùi, ông ngỏ lời với vị Ngôn Sứ của Thiên Chúa là Eliseo, nhưng Người không làm những nghi thức ma thuật, cũng chẳng yêu cầu ông tướng những điều ngoại thường, nhưng chỉ tín thác với Thiên Chúa và dìm mình trong nước sông; nhưng không phải là những sông cả của thành Damasco, mà là dòng sông Giordan bé nhỏ. Đó là một lời yêu cầu làm cho tướng Naaman ngỡ ngàng, kinh ngạc; phải chăng Thiên Chúa có thể là vị yêu cầu những chuyện đơn giản như vậy sao? Ông muốn trở lui, nhưng rồi ông cũng đi dìm mình trong sông Giordan và tức thì ông được lành mạnh. Ta thấy Thiên Chúa làm chúng ta ngạc nhiên; chính trong sự nghèo hèn, yếu đuối, khiêm hạ mà Chúa tỏ mình ra và ban cho chúng ta tình yêu cứu độ của Ngài, chữa lành và ban sức mạnh cho chúng ta. Chúa chỉ yêu cầu chúng ta ngheo lời và tín thác nơi Ngài.

Đó là kinh nghiệm của Đức Trinh Nữ Maria: trước lời loan báo của Thiên Thần, Trinh Nữ không giấu sự ngạc nhiên. Đó là sự ngỡ ngàng khi thấy rằng Thiên Chúa, để làm người, đã chọn một thiếu nữ tầm thường ở Nazareth, không sống trong các dinh thự của những người quyền thế và giàu sang, không thi hành những công trình ngoại thường, nhưng cởi mở đối với Thiên Chúa, biết tín thác nơi Ngài, cho dù không hiểu tất cả: ”Này tôi là tôi tớ Chúa: xin xảy đến cho tôi theo lời Sứ Thần” (Lc 1,38). Đó là câu trả lời của Người. Thiên Chúa luôn làm cho chúng ta ngạc nhiên, Ngài phá vỡ những khung nền của chúng ta, làm cho những dự phóng của chúng ta bị khủng hoảng, và Chúa nói với chúng ta: con hãy tín thác nơi Cha, đừng sợ, hãy để cho con được ngạc nhiên, hãy ra khỏi chính mình và theo Cha!

Hôm nay tất cả chúng ta cũng hãy tự hỏi xem mình có sợ điều mà Thiên Chúa có thể yêu cầu chúng ta hoặc điều mà chúng ta xin Chúa hay không. Tôi có để cho Chúa làm cho ngạc nhiên, như Chúa đã làm với Mẹ Maria hay không, hoặc tôi khép kín mình trong những điều an toàn của tôi, an toàn vật chất, an toàn trí thức, an toàn ý thức hệ, an toàn các dự phóng của tôi? Tôi có để cho Chúa thực sự đi vào trong cuộc sống của tôi hay không? Tôi trả lời Chúa như thế nào?

2. Trong đoạn thư thánh Phaolô chúng ta đã nghe, thánh Tông Đồ ngỏ lời với môn đệ Timôthêo và nói rằng: ”con hãy nhớ Chúa Giêsu Kitô, nếu chúng ta kiên trì với Ngài, chúng ta sẽ được cùng Ngài hiển trị” (Xc 2 Tm 2,8-13). Và đây là điểm thứ hai: hãy luôn nhớ đến Chúa Kitô, kiên trì trong đức tin: Thiên Chúa làm cho chúng ta ngạc nhiên bằng tình thương của Ngài, nhưng Chúa yêu cầu chúng ta hãy trung thành theo Ngài. Chúng ta có thể ”không trung thành”, nhưng Chúa thì không, Chúa là Đấng Trung Thành, và Ngài yêu cầu chúng ta hãy trung thành như vậy. Chúng ta hãy nghĩ đến bao nhiêu lần chúng ta hăng hái phấn khởi vì một điều gì, vì một sáng kiến, một sự dấn thân nào đó, nhưng rồi, trước những vấn đề đầu tiên xảy ra, chúng ta tháo lui. Và rất tiếc là điều này cũng xảy ra trong những chọn lựa cơ bản như hôn phối. Người ta khó kiên trì bền chí, khó trung thành với những quyết định đã đề ra, với những cam kết đã quyết tâm. Nói ”xin vâng”, ”đồng ý' thì dễ, nhưng rồi người ta không lập lại được quyết tâm đồng thuận như vậy.

Mẹ Maria đã thưa ”xin vâng” với Thiên Chúa, một lời ”xin vâng” đã đảo lộn cuộc sống khiêm hạ của Mẹ ở Nazareth, nhưng không phải là lời thưa 'xin vâng' duy nhất, nhưng đó là lời đầu tiên trong bao nhiêu lời thưa 'xin vâng' được xướng lên trong tâm hồn những lúc vui tươi, cũng nhưng trong những lúc đau khổ, bao nhiêu lời thưa ”xin vâng đạt tới đột đỉnh trong lời “xin vâng' dưới cây Thập Giá. Hôm nay, ở đây có bao nhiêu bà mẹ; chị em hãy nghĩ đến lòng trungthành của Mẹ Maria với Thiên Chúa tới mức độ nào: khi thấy Con duy nhất của Mẹ trên Thập Giá. Mẹ là phụ nữ trung thành, đứng đó, lòng tan nát, nhưng trung thành và can đảm.

Tôi có phải là một Kitô hữu tùy lúc hay là một Kitô hữu luôn luôn? Nền văn hóa tạm bợ, tương đối, cũng lẻn vào cuộc sống đức tin. Thiên Chúa yêu cầu chúng ta trung thành với Ngài, mỗi ngày, trong những hoạt động thường nhật và Ngài thêm rằng cả khi chúng ta không trung thành với Chúa, Chúa vẫn luôn trung thành, và với lòng từ bi, Ngài không ngừng giơ tay cho chúng ta để nâng chúng ta dậy, khuyến khích chúng ta hãy tiếp tục hành trình, trở về cùng Ngài và thưa với Ngài về sự yếu đuối để Ngài ban sức mạnh cho chúng ta.

3. Điểm sau cùng: Thiên Chúa là sức mạnh của chúng ta. Tôi nghĩ đến 10 người phong cùi trong Phúc Âm được Chúa Giêsu chữa lành: họ đến gặp Ngài, dừng lại từ xa xa và kêu lên: ”Lạy Thầy Giêsu, xin thương xót chúng con!” (Lc 17,13). Họ là những người bệnh, đang cần được thương yêu, được sức mạnh và tìm kiếm người chữa trị họ. Và Chúa Giêsu đáp lại, giải thoát tất cả khỏi bệnh tật của họ. Nhưng thật là điều ngạc nhiên khi thấy chỉ có một người trở lại để lớn tiếng chúc tụng Thiên Chúa và cảm tạ Chúa. Chính Chúa Giêsu nhận xét điều đó: 10 người đã kêu lớn tiếng để được chữa lành và chỉ có một người trở lại để kêu lớn tiếng cảm tạ Thiên Chúa và nhìn nhận rằng Chúa là sức mạnh của chúng ta. Biết cảm tạ, chúc tụng vì những gì Chúa làm cho chúng ta.

”Chúng ta hãy nhìn Mẹ Maria: sau khi được truyền tin, cử chỉ đầu tiên Mẹ thực hiện là cử chỉ bác ái đối với bà chị họ cao niên Elisabeth; và những lời đầu tiên Mẹ nói lên là: ”Linh hồn tôi ngợi khen Chúa”, bài ca chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa, không những vì điều Chúa đã làm nơi Mẹ, nhưng vì hoạt động của Chúa trong toàn thể lịch sử cứu độ. Tất cả là hồng ân; Nếu chúng ta có thể hiểu tất cả là hồng ân của Chúa, thì tâm hồn chúng ta sẽ được hạnh phúc dường nào! Tất cả là hồng ân.

Chúa chính là sức mạnh của chúng ta! Cảm tạ thật là điều dễ dàng, nhưng cũng rất khó khăn! Bao nhiêu lần chúng ta nói cám ơn trong gia đình? Đó là một trong những lời chủ yếu của cuộc sống chung. ”Xin phép”, ”xin lỗi”, ”cám ơn”: nếu trong một gia đình, có 3 lời ấy được người ta nói lên, thì gia đình tiếp tục tiến bước. Bao nhiêu lần chúng ta nói cám ơn người giúp đỡ chúng ta, người ở gần chúng ta, tháp tùng chúng ta trong cuộc sống. Nhiều khi chúng ta coi đó là điều dĩ nhiên! Và điều này cũng xảy ra đối với Thiên Chúa.

”Tiếp tục Thánh Lễ, chúng ta hãy cầu xin sự chuyển cầu của Mẹ Maria, xin Mẹ giúp chúng ta để cho mình được Thiên Chúa làm ngạc nhiên, không kháng cự, trung thành với Chúa hằng ngày, chúc tụng và cảm tạ Chúa vì Ngài là sức mạnh của chúng ta.

Nghi thức phó thác

Cuối thánh lễ, Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng, cũng là trưởng ban tổ chức đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC.

Rồi ĐTC tiến đến trước Tượng Đức Mẹ Fatima và đọc kinh phó thác:

”Lạy Đức Trinh Nữ Fatima diễm phúc, với lòng biết ơn được đổi mới vì sự hiện diện từ mẫu của Mẹ, chúng con hợp tiếng với tất cả mọi thế hệ đã chúc tụng Mẹ là người diễm phúc.

Nơi Mẹ chúng con ngợi khen những công trình bao la của Thiên Chúa, Đấng không bao giờ mệt mỏi, từ bi cúi mình trên nhân loại sầu muộn vì sự ác và tổn thương vì tội lỗi, để chữa lành và cứu vớt loài người!

Xin Mẹ vui lòng đón nhận hành động phó thác mà hôm nay, với lòng tin tưởng chúng con thực hiện trước ảnh tượng này của Mẹ mà chúng con rất quí mến.

Chúng con chắc chắn rằng mỗi người chúng con đều quí giá trước mắt Mẹ và không điều gì trong tâm hồn chúng con xa lạ đối với Mẹ. Chúng con để cái nhìn rất dịu dàng của Mẹ đi tới chúng con và đón nhận sự âu yếm an ủi qua nụ cười của Mẹ.

Xin Mẹ giữ gìn cuộc sống của chúng con trong vòng tay của Mẹ: xin chúc phúc và củng cố mọi ước muốn làm điều thiện; xin khơi dậy và nuôi dưỡng đức tin, nâng đỡ và soi sáng đức cậy, khích động và linh hoạt đức ái; xin Mẹ hướng dẫn tất cả chúng con trên con đường thánh thiện.

Xin dạy chúng con tình yêu thương của Mẹ ưu tiên dành cho những người bé nhỏ nghèo hèn, những người bị loại trừ và đau khổ, các tội nhân và những người có tâm hồn lạc hướng, xin tập họp tất cả dưới sự che chở của Mẹ và giao phó tất cả cho Con Yêu Dấu của Mẹ là Chúa Giêsu của chúng con. Amen

Sau kinh phó thác ĐTC xông hương trước tượng Đức Mẹ. Trước khi đọc Kinh Truyền Tin, ĐTC đã nhắc mọi người về phong chân phước chúa nhật hôm qua 13-10, tại thành Tarragona, Tây Ban Nha cho khoảng 500 vị tử đạo trong thời nội chiến, thập niên 1930. Ngài nói: ”Chúng ta hãy chúc tụng Chúa vì những chứng nhân can đảm của Ngài và nhờ lời chuyển cầu của các vị, chúng ta hãy cầu xin Chúa giải thoát thế giới khỏi mọi bạo lực”.

Sau khi đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành Tòa Thánh cho mọi người, ĐTC còn bắt tay chào thăm rất nhiều người, các phái đoàn chính thức, đông đảo các LM, trước khi đi xe jeep màu trắng mui trần tiến qua các lối đi và đến tận gần cuối đường Hòa Giải để chào thăm các tín hữu.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM Đại Hội Lần Thứ XII

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM Đại Hội Lần Thứ XII

B i ê n  B ả n
 
1. Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã họp Đại hội lần thứ XII từ chiều thứ Hai ngày 07/10/2013 đến trưa thứ Sáu ngày 11/10/2013, tại Trung Tâm Mục Vụ Tổng giáo phận Thành phố HCM
 
2. Về tham dự Đại hội có sự hiện diện đông đủ các vị chủ chăn của 26 giáo phận: Đức Hồng Y, các Đức Tổng giám mục, các giám mục và linh mục giám quản giáo phận Vĩnh Long.
 
3. Hội Đồng Giám Mục vui mừng chào đón Đức Tổng giám mục Leopoldo Girelli, đại diện Đức Thánh Cha tại Việt Nam; đồng thời chúc mừng Đức cha Phaolô Bùi Văn Đọc, giám mục giáo phận Mỹ Tho, vừa được Đức Thánh Cha bổ nhiệm làm Tổng giám mục Phó Tổng giáo phận Thành phố HCM; chúc mừng Đức tân giám mục chính tòa giáo phận Bùi Chu; vui mừng và chào đón các thành viên mới của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, đó là Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Viên, tân giám mục phụ tá giáo phận Vinh, Đức cha Anphong Nguyễn Hữu Long, tân giám mục phụ tá giáo phận Hưng Hóa.
 
4. Hội Đồng Giám Mục lắng nghe những sinh hoạt phong phú trong Năm Đức Tin được diễn ra ở nhiều lãnh vực.
 
5. Đại hội tiếp tục trao đổi về dự án kiến thiết Trung Tâm Hành Hương Đức Mẹ La Vang.
 
6. Hội Đồng Giám Mục dành nhiều thời gian soạn thảo Thư Chung với những định hướng mục vụ cụ thể cho những năm sắp tới.
 
7. Đại hội đã bầu ra Ban Thường vụ và Chủ tịch của các Ủy Ban trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhiệm kỳ 2013-2016.
 
Ban Thường vụ gồm có:
 
Chủ tịch: Đức Tổng giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc
 
Phó Chủ tịch: Đức Tổng giám mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng
 
Tổng thư ký: Đức cha Cosma Hoàng Văn Đạt
 
Phó Tổng thư ký: Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Khảm
 
 
 
Các Ủy Ban trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam gồm có:
 
1/ Ủy Ban Giáo lý đức tin
 
Chủ tịch: Đức cha Giuse Nguyễn Năng
 
2/ Ủy Ban Kinh Thánh
 
Chủ tịch: Đức cha Giuse Võ Đức Minh
 
3/ Ủy Ban Phụng tự
 
Chủ tịch: Đức cha Phêrô Trần Đình Tứ
 
4/ Ủy Ban Nghệ thuật thánh
 
Chủ tịch: Đức cha Matthêu Nguyễn Văn Khôi
 
5/ Ủy Ban Thánh nhạc
 
Chủ tịch: Đức cha Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản
 
6/ Ủy Ban Loan báo Tin mừng
 
Chủ tịch: Đức cha Anphong Nguyễn Hữu Long
 
7/ Ủy Ban Giáo sĩ-Chủng sinh
 
 Chủ tịch: Đức cha Antôn Vũ Huy Chương
 
8/ Ủy Ban Tu sĩ
 
Chủ tịch: Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Đệ
 
9/ Ủy Ban Giáo dân
 
Chủ tịch: Đức cha Giuse Trần Xuân Tiếu
 
10/ Ủy Ban Truyền thông xã hội
 
Chủ tịch: Đức cha Giuse Nguyễn Tấn Tước
 
11/ Ủy Ban Giáo dục công giáo
 
Chủ tịch: Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo
 
12/ Ủy Ban Mục vụ giới trẻ
 
Chủ tịch: Đức cha Giuse Vũ Văn Thiên
 
13/ Ủy Ban Văn hóa
 
Chủ tịch: Đức cha Giuse Vũ Duy Thống
 
14/ Ủy Ban Công lý-Hòa bình
 
Chủ tịch: Đức cha Phaolô Nguyễn Thái Hợp
 
15/ Ủy Ban Mục vụ Gia đình
 
Chủ tịch: Đức cha Giuse Châu Ngọc Tri
 
16/ Ủy Ban Bác ái xã hội- Caritas
 
 Chủ tịch: Đức cha Tôma Aquinô Vũ Đình Hiệu
 
17/ Ủy Ban Mục vụ di dân
 
Chủ tịch: Đức cha Giuse Nguyễn Chí Linh.
 
8. Đại hội cũng trao đổi về một số vấn đề khác như tình trạng các dòng tu chưa rõ nguồn gốc, vai trò linh mục chánh văn phòng của văn phòng Tổng thư ký Hội Đồng Giám Mục, việc xướng tên thánh Giuse trong các Kinh Nguyện Thánh Thể.
 
9. Đại hội bế mạc trong niềm vui cùng với Tổng giáo phận Thành phố HCM mừng kỷ niệm 150 năm thành lập Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn.
 
Trung Tâm Mục Vụ TGP.TP. HCM ngày 11/10/2013
 
Tổng thư ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam
 
(Đã ký)
 
+ Cosma Hoàng Văn Đạt
 
Giám mục giáo phận Bắc Ninh
 
 
Hội đồng Giám mục Việt Nam

Chiêm Ngắm Mẹ Maria

Chiêm Ngắm Mẹ Maria

Truyền thống dân tộc Việt Nam chúng ta luôn đề cao hình ảnh những người mẹ vất vả một nắng hai sương lo cho đàn con cơm ngon áo ấm. Chẳng ai trong chúng ta có thể không xốn xang trong lòng khi nghĩ đến mẹ mình, một thời mang nặng đẻ đau, một đời hy sinh trong âm thầm lặng lẽ cho mình. Trên phương diện đức tin, chúng ta cũng có một người mẹ như vậy. Từ xưa đến nay, Mẹ không bao giờ bỏ rơi con cái mình. Hôm nay, trong tháng Mân Côi này, chúng ta hãy cùng nhau chiêm ngắm Mẹ khi Mẹ còn tại thế, qua lược thuật của các sách Tin Mừng, ngỏ hầu chúng ta có thể noi gương Mẹ, sống xứng đáng là con cái Mẹ và Cha trên trời.

Cũng như bao thiếu nữ khác, Mẹ ôm ấp cho mình những mộng ước tương lai. Trời đã xe duyên cho Maria với chàng trai trẻ Giuse, hứa hẹn một gia đình, tuy nghèo nhưng hạnh phúc. Nhưng Thiên Chúa đã chen vào kế hoạch ấy, khiến cho cuộc đời cô thiếu nữ thôn quê ấy như được mở sang trang. Ngày Thiên Sứ truyền tin, cả vũ trụ và muôn loài thụ tạo trong trời đất đợi chờ lời đáp của Mẹ. Hai tiếng “Xin Vâng” đơn sơ ấy của Maria không phải chỉ liên can giữa Mẹ và Chúa, nhưng là với tất cả mọi sự, vì nó quyết định cho việc công trình cứu độ của Thiên Chúa có được thực thi hay không. Nhưng lời đáp ấy cũng mở đầu cho một hàng loạt những tiếng “Xin Vâng” khác trong cuộc đời Mẹ, có khi đau khổ đến vô cùng. Sở dĩ Mẹ có thể nói được lời “Xin Vâng” liên lỉ, ấy là nhờ niềm tin của Mẹ vào Chúa luôn kiên vững không lay.

Thiên sứ nói với Mẹ rằng Mẹ sẽ cưu mang Con Chúa Trời. Một vinh dự vô cùng lo lớn! Nhưng rồi suốt mấy mươi năm làm mẹ Giê-su, Mẹ có được hưởng chút vinh quang nào đâu. Mẹ làm mẹ của một Thiên Chúa tự hạ và khó nghèo, Mẹ gắn chặt cuộc đời mình với vị Thiên Chúa ấy, nên đời Mẹ cũng luôn là một hành trình đi xuống và khiêm nhu. Có ai ngờ Chúa lại muốn hạ sinh khi đang lữ hành trên đường, nơi chuồng súc vật hôi tanh, ngoài trời đông lạnh lẽo. Vinh dự gì đâu chuyện một người phụ nữ lâm bồn trong hoàn cảnh bị xua đuổi ra ngoài đường, chứ không phải nơi nệm êm chăn ấm, có người hầu hạ chăm nom. Có ai ngờ Con Thiên Chúa quyền uy đến thế, lại cúi mình trước bạo quyền Herode, chấp nhập tị nạn sang Ai Cập. Mẹ cũng chịu cùng số phận như Con. Giữa đêm khuya lạnh lẽo, thân người phụ nữ vừa mới sinh con, còn yếu ớt, đã phải vội vã cất bước ra đi.

Ngày truyền tin, Thiên Sứ nói với Mẹ rằng người mà Mẹ cưu mang sẽ là một đấng anh hùng, sẽ ra tay cứu con người khỏi ách nô lệ tội lỗi. Nhưng đợi chờ mãi, 10 năm, 20 năm, 30 năm, tóc Mẹ có lẽ cũng đã pha sương, nhưng chẳng thấy nơi con trai của mình dấu hiệu gì của một đấng quân vương, ra tay giải phóng. Bỗng có ngày, con mình nghe được tiếng gọi của Cha, rong ruổi khắp thôn này xứ nọ, truyền rao chân lý Tin Mừng, Mẹ vẫn an vui với cuộc sống lẻ loi một mình nơi làng nhỏ. Giuse lúc ấy có lẽ đã qua đời, Giêsu cũng bỏ Mẹ lên đường thực thi sứ mạng. Mẹ cô đơn nơi góc nhà quạnh vắng. Yêu con lắm, nhưng Mẹ biết Mẹ không nên làm điều gì níu kéo bước chân con. Mẹ lại trở về trong lặng thinh và cầu nguyện. Mẹ tiếp tục thưa tiếng “Xin Vâng”

Rồi ngày kia, Mẹ như đau buốt con tim, ngàn lưỡi gươm như xé nát lòng Mẹ khi chứng khiến cảnh người con dấu yêu bị xử tử như một tên tội đồ. Trên đồi cao u ám, trước mặt Mẹ đây, không còn là một thân hình cường tráng, mạnh khỏe và đáng yêu như ngày nào, nhưng là một thân xác tả tơi vì dặm trường sương gió ba năm dong dủi trên đường, vì những đòn roi vô tâm, bội phản, vì những sỉ nhục của ganh ghét bạo quyền. Còn nỗi đau nào hơn nỗi đau của một người mẹ chứng kiến cảnh con yêu của mình bị giết chết nhưng không thể làm được gì? Đây là Đấng Cứu Thế ư? Đây là Con Thiên Chúa sao? Đây là Đấng dựng nên muôn loài, Đấng thống trị muôn dân, Đấng trỗi vượt trên các tầng trời sao? Trong giờ phút ấy, Mẹ mới hiểu được thế nào là xin vâng, Mẹ mới thấu được đâu là cái giá phải trả khi thưa tiếng Xin Vâng. Chính tại giây phút đau đớn nhất này, Mẹ đã sống hai chữ Xin Vâng trọn vẹn nhất.

Giờ đây, Mẹ được Chúa thưởng công vì những hy sinh Mẹ đã chịu. Mẹ đã sống Xin Vâng trọn vẹn với Chúa thì Chúa đã không từ chối điều gì nơi Mẹ. Chúng ta hãy xin Mẹ giúp chúng ta, biết noi gương Mẹ, dám đối diện với từng nghịch cảnh trong cuộc sống, với một niềm tín thác mạnh mẽ vào Thiên Chúa toàn năng.

Phêrô Lê Hoàng Nam, SJ

 

Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự buổi cầu nguyện với Đức Mẹ Fatima

Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự buổi cầu nguyện với Đức Mẹ Fatima

our-lady-of-fatima1

VATICAN. Gần 100 ngàn tín hữu đã tham dự buổi cầu nguyện với Đức Mẹ Fatima do ĐTC Phanxicô chủ sự tại Quảng trường Thánh Phêrô chiều ngày thứ bẩy 12 tháng 10-2013.

Buổi cầu nguyện diễn ra trong khuôn khổ Ngày Thánh Mẫu trong Năm Đức Tin, với cao điểm là Thánh Lễ và nghi thức ĐTC tái thánh hiến thế giới cho Trái Tim Đức Mẹ sáng chúa nhật 13 tháng 10-2013, kỷ niệm đúng 96 năm Đức Mẹ hiện ra lần cuối cùng tại Fatima.

Sự hiện diện của nguyên bản tưng Đức Mẹ Fatima

Theo lời yêu cầu của ĐTC, nguyên bản Tượng Đức Mẹ được đưa ra khỏi Đền Thánh Fatima và đưa về Roma. Đây là biến cố rất họa hiếm. Lần trước đây là vào dịp Đại Năm Thánh 2000, khi Chân phước Gioan Phaolô 2 cử hành nghi thức phó thác thế giới và Giáo Hội cho Đức Mẹ, ngày 8 tháng 10-2000 tại Quảng trường Thánh Phêrô, trước sự hiện diện của 1,500 GM thế giới. Trong triều thiên của Tượng, có gắn viên đạn do ĐTC Gioan Phaolô 2 tặng, viên đạn mà tên Ali Agca đã bắn vào ngài trong cuộc mưu sát ngày 13 tháng 5-1981.

Tượng Đức Mẹ Fatima được chở tới Phi trường Fiumicino ở Roma chiều 12 tháng 10-2013. Từ đây lúc 1 giờ rưỡi, Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng đã đón rước và tháp tùng về Vatican trên một máy bay trực thăng tối tân của không đoàn 15 thuộc không lực Italia. Chặng dừng đầu tiên của tượng diễn ra tại nhà nguyện trong nhà của Đức Nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 để ngài cầu nguyện một lát, trước khi được rước đến Nhà Trọ Thánh Marta và được ĐTC Phanxicô trực tiếp chào kính.

Lúc gần 4 giờ chiều, tượng Đức Mẹ Fatima được long trọng rước ra Quảng trường thánh Phêrô. Dẫn đường là Đức TGM Fisichella và Tượng được 4 Vệ Binh Thụy Sĩ và Hiến Binh Vatican tháp tùng. Các tín hữu đã tụ tập tại đây từ hàng giờ trước đó. Họ đứng tràn ra tới giữa đường Hòa Giải. Hiện diện cạnh lễ đài có hơn 30 HY và Giám Mục.

Tượng Đức Mẹ được rước qua các khu vực khác nhau ở Quảng trường để các tín hữu chào kính. Họ vẫy khăn tay màu trắng khi Tượng Đức Mẹ đi qua, theo thói quen ở Fatima, trong khi ca đoàn hát bài Ave Maria.

Cầu nguyện

Lúc gần 5 giờ chiều, ĐTC Phanxicô tiến vào Quảng trường. Trong lời chào mừng, Đức TGM Fisichella đã giới thiệu hơn 800 hội đoàn Thánh Mẫu được các GM hoặc LM tuyên úy tháp tùng đến tham dự buổi cầu nguyện.

Tiếp đến là nghi thức đón rước Tượng Đức Mẹ từ cây tháp bút giữa Quảng trường tiến lên lễ đài, giữa tiếng hát của mọi người ca bài Ave Maria theo cung điệu của Đền Thánh Fatima. ĐTC hôn kính tượng Đức Mẹ trước khi tượng được đặt trên ngai. Ngài dâng kính Đức Mẹ xâu chuỗi Mân Côi quí giá.

Buổi cầu nguyện được đặt đầu và tiến hành theo ”con đường của Mẹ” gồm 7 chặng: Mẹ Maria chí thánh đón nhận trong đức tin lời tiên tri của cụ già Simeon; Mẹ Maria trốn sang Ai Cập để cứu Chúa Giêsu; Mẹ Maria tìm Chúa Giêsu ở lại Đền thờ Jerusalem; Mẹ Maria gặp Chúa Giêsu trên đường dẫn đến đồi Canvê; Mẹ Maria hiện diện trong cuộc đóng đanh và cái chết của Chúa Giêsu; Mẹ Maria đón nhận xác Chúa Giêsu từ trên thập giá; và sau cùng là Mẹ Maria đặt xác Chúa Giêsu trong mộ và chờ đợi Chúa sống lại.

Mỗi chặng có một bài đọc ngắn trích từ các Sách Tin Mừng, tiếp đến mỗi người cầu nguyện trong thinh lặng, rồi ca đoàn và cộng đoàn hát một đoạn kinh cầu, rồi một kinh Kính Mừng.

Huấn giáo của Đức Thánh Cha

Sau chặng thứ bẩy, ĐTC đã trình bày một bài huấn giáo về Đức Mẹ. Ngài mở đầu, nói với mọi người rằng: ”Tất cả chúng ta ở đây, trong cuộc gặp gỡ Năm Đức Tin, qui hướng về Đức Maria, Mẹ Chúa Kitô và Mẹ Giáo Hội, Mẹ chúng ta. Tượng Đức Mẹ đến từ Fatima giúp chúng ta cảm thấy sự hiện diện của Mẹ giữa chúng ta. Mẹ Maria luôn mang chúng ta đến cùng Chúa Giêsu. Mẹ là một phụ nữ đức tin, một tín hữu chân thực. Đức tin của Mẹ Maria thế nào?”
ĐTC lần lượt trình bày 3 yếu tố trong Đức tin của Mẹ Maria:

Trưc tiên, đức tin của Mẹ tháo gỡ cái nút thắt của tội lỗi (Xc LG 56).. Điều mà bà Eva đã thắt lại bằng sự thiếu tin tưởng, thì Mẹ Maria tháo gỡ bằng niềm tin của Mẹ.

Yếu tố thứ hai: Mẹ Maria trao tặng xác thể cho Chúa Giêsu, như Công đồng chung Vatican 2 đã dạy: ”Do niềm tin và lòng vâng phục, Mẹ Maria đã sinh chính Con của Chúa Cha trên trần thế, mà không biết người nam, nhưng dưới bóng của Chúa Thánh Linh” (LG 63). Mẹ Maria đã chịu thai Chúa Giêsu trong đức tin rồi trong xác thể.

Yếu tố thứ ba: Đức tin của Mẹ Maria như mt con đường. Mẹ Maria đi trước chúng ta trong cuộc lữ hành đức tin, Mẹ tháp tùng và nâng đỡ chúng ta. Đức tin của Mẹ Maria là một con đường theo nghĩa trọn cuộc sống của Mẹ là bước theo Con của Mẹ: Chính Chúa là đường, chính Chúa là hành trình. Tiến bước trong đức tin, bước tiến trong cuộc lữ hành thiêng liêng ấy chính là đức tin, và không là gì khác hơn là bước theo Chúa Giêsu, lắng nghe và để cho Lời Chúa hướng dẫn; nhìn như Chúa cư xử và đặt chân chúng ta theo vết chân của Chúa, có cùng những tâm tình và thái độ của Chúa: khiêm tốn, từ bi, gần gũi, nhưng quyết liệt từ khước thái độ giả hình, sống hai mặt, tôn thờ thần tượng.

ĐTC cũng nhấn mạnh rằng: ”Con đường của Chúa Giêsu chính là con đường yêu thương trung tín đến cùng, cho đến độ hy sinh mạng sống, đó là con đường thập giá. Vì thế, hành trình đức tin tiến qua thập giá và Mẹ Maria đã hiểu điều đó ngay từ đầu, khi vua Hêrôđê muốn giết Chúa Giêsu mới sinh. Nhưng rồi thập giá ấy đã trở nên sâu đậm hơn, khi Chúa Giêsu bị phủ nhận: khi ấy đức tin của Mẹ Maria phải đương đầu với sự thiếu cảm thông và khinh rẻ; khi đến ”giờ” của Chúa Giêsu, giờ khổ nạn, lúc ấy đức tin của Mẹ Maria trở thành ánh lửa trong đêm tối. Trong đêm thứ bẩy Tuần Thánh, Mẹ Maria đã canh thức. Ánh lửa của Mẹ bé nhỏ nhưng sáng tỏ, đã được thắp lên cho đến bình minh của cuộc Phục Sinh; và khi Mẹ nghe nói ngôi mộ của Chúa Con trống rỗng, trong tim mẹ tỏa lan niềm vui đức tin, niềm tin kitô nơi sự chết và sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Đó chính là tột đỉnh hành trình đức tin của Mẹ Maria và toàn thể Giáo Hội.

Và ĐTC đặt câu hỏi: Đức tin của chúng ta thế nào? Như Mẹ Maria, chúng ta có giữ cho đức tin được cháy sáng trong những lúc khó khăn, trong tăm tối hay không? Tôi có niềm vui đức tin hay không?”

Buổi cầu nguyện kết thúc với Kinh Lạy Cha, và Phép lành của ĐTC, rồi Bài Ca Salve Regina, Lạy Nữ Vương Thiên Đàng.

Kinh Mân Côi và canh thức

Sau buổi cầu nguyện tại Quảng trường Thánh Phêrô, Tượng Đức Mẹ Fatima được trực thăng của không lực Italia chở đến Đền Thánh Đức Mẹ Tình Yêu Thiên Chúa, cách trung tâm Roma hơn 10 cây số. tại đây có buổi đọc kinh Mân Côi được nối qua truyền hình với một số Trung tâm Thánh Mẫu tại 10 nước trên thế giới, trong đó có Lộ Đức, Nazareth, Lujan (Argentina), Guadalupe (Mêhicô), Nairobi (Kenya), Banneux (Bỉ), Czestochowa (Ba Lan), Đền Thánh Đức Mẹ Vô Nhiễm (Washington, USA), Akia (Nhật Bản) và Vailankani (Ấn Độ), Aparecida (Brazil).

Sau đó là buổi canh thức cầu nguyện với sự tham dự của các tín hữu hành hương thuộc giáo phận Roma, cho đến bình minh. Rồi trực thăng lại chở Thánh Tượng Đức Mẹ về Vatican. Tại đây từ lúc 9 giờ rước, Tượng Đức Mẹ lại được rước qua các khu vực ở Quảng trường trước khi ĐTC bắt đầu cử hành thánh lễ và nghi thức Phó Thác thế giới cho Đức Mẹ. Có 1 ngàn LM được đồng tế với ĐTC.

Đức TGM Rino Fisichella, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh tái truyền giảng Tin Mừng, và cũng là trưởng ban tổ chức Ngày Thánh Mẫu này cho biết có hơn 150 ngàn tín hữu tham dự thánh lễ đặc biệt sáng chúa nhật 13-10-2013, với ĐTC. Phần lớn các tín hữu đến từ Italia, nhưng cũng có các đoàn đại biểu đến từ 48 nước có đăng ký chính thức, trong số này có cả những nước xa xăm như Australia, Ấn độ, Argentina, Nhật Bản, Hoa Kỳ và nhiều nước Nam Mỹ. (SD 12-10-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

 

Đức tin của con đã cứu con

Đức tin của con đã cứu con

Có câu chuyện kể rằng, một hôm Chúa sai hai thiên thần xuống trần gian đi làm nhiệm vụ, đúng hẹn hai thiên thần trở về, một vị đeo cái giỏ nặng trĩu, thấy vị kia đeo cái giỏ nhẹ tênh, hầu như không có gì bèn nói: Chúa sai tôi xuống trần gian thâu tất cả những lời cầu xin, nhưng nhiều quá nên cái giỏ của tôi rất nặng. Còn ngài, ngài đã làm gì mà sao cái giỏ của ngài nhẹ quá vậy? Vị kia trả lời: Tôi xuống trần gian để thu tất cả những lời tạ ơn, nhưng chẳng có bao nhiêu.

Câu chuyện phần nào nói lên một thực tế của con người và giúp chúng ta hiểu được bài Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe đọc, thì ra người ta hầu như biết cầu xin hơn là biết đón nhận và tạ ơn. Thánh Luca thuật lại sự kiện có mười người phong cùi đến gặp Chúa Giêsu và khẩn khoản cầu xin Chúa thương xót, Chúa đã chữa lành bệnh cho họ, nhưng chỉ có một người quay lại để tạ ơn Chúa. Người quay trở lại tôn vinh Thiên Chúa lại là một người ngoại, vậy thì chẳng lẽ những người kia không được lành bệnh sao?

Đọc bài Tin Mừng này tôi nhớ lại một sự kiện tôi đã gặp mà tôi nhớ rất rõ, đó là trưa ngày mùng 3 tháng 11 năm 1995 tại một nhà thờ của Dòng Đaminh, có một phụ nữ ôm một bó hoa tươi đang phân vân đi đi lại lại trước các tượng thánh Đaminh, thánh Vinh sơn Liêm và thánh Martinô trong khuôn viên nhà thờ. Tôi tiến lại gần và hỏi hình như bà muốn đặt hoa trước vị thánh nào đó phải không? Bà thú nhận bà là người ngoại đạo, bà làm việc này theo yêu cầu của đứa con trai của bà. Nhưng thật đáng tiếc, bà không biết đâu là thánh Martinô, rồi bà tiếp tục tâm sự: gia đình bà đều ngoại giáo, cách đó nhiều năm đứa con trai của bà học lớp 9, theo các bạn bè Công giáo đến khấn xin thánh Martinô cho học hành tốt đẹp và tất cả chúng đã đạt được như ý. Kể từ đó, hàng năm vào ngày 3/11 lễ thánh Martinô nó vẫn mang bông đến tạ ơn thánh nhân, nhưng bởi vì năm nay nó đi xa, nó vẫn nhớ việc này và nhờ bà làm giúp cho nó.

Một người ngoại đạo họ không biết Chúa, không đón nhận Phép Rửa, không cùng tuyên xưng đức tin với chúng ta nhưng họ đã nhận ra nguồn hạnh phúc thật của sự sống. Họ ý thức rất rõ và xác tín những gì họ đã đón nhận. Họ hiểu ra rằng tất cả cuộc đời của họ đều là hồng ân. Họ chưa bao giờ tuyên xưng đức tin, nhưng họ đã luôn sống và thể hiện đức tin: “Lòng tin của ngươi đã cứu ngươi”. Có thể nói, người biết tạ ơn đó là người có thái độ biết cầu xin và biết đón nhận, hay là người có thái độ tạ ơn Thiên Chúa, đó là người có đức tin.

Mỗi người chúng ta khi cầu nguyện, chúng ta thường hay nhắm đến cầu xin và luôn luôn cầu xin cho chúng ta, cho nên chúng ta đã quên mất rằng, tạ ơn là một trong những yếu tố quan trọng trong đời sống cầu nguyện. Cùng với chúc tụng, sám hối, chúng ta cầu nguyện hình như là để cầu xin Thiên Chúa thực hiện theo ý của chúng ta hơn là để chúng ta nhận ra thánh ý Chúa và thực hành ý Ngài.

Chính thái độ đó mà chúng ta cứ quay quắt trong ý định riêng tư và dằn vặt trong tính toán nên không thể nào nhận ra được hồng ân cao cả đầy yêu thương của Thiên Chúa đang thực hiện trong cuộc đời của mình. Nếu chúng ta ý thức một chút, chúng ta sẽ nhận ra cuộc đời của chúng ta là cả một cuộc đời đầy những hồng ân. Vì vậy, chúng ta phải chúc tụng, tạ ơn cả cuộc đời và cả một cuộc đời của chúng ta phải là một cuộc đời tạ ơn liên lỉ.

Xin cho mỗi người chúng ta vững mạnh trong đức tin để nhận ra trên thế giới này Thiên Chúa vẫn đang sống, vẫn đang hành động, đang ở với chúng ta, để chúng ta chúc tụng và tạ ơn. Giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng đức tin và xin cho mỗi người chúng ta cũng sống trọn vẹn đức tin để chúng ta chúc tụng, tạ ơn Chúa.

Veritas Radio

BIẾT ƠN

BIẾT ƠN

“Sự biết ơn phải chân thành và được thành tâm bày tỏ”

Bà Dorothy Day là một người trở lại Công Giáo khi đã lớn tuổi. Cuộc đời bà đáng được Hollywood dựng thành phim. Khi bà từ trần năm 84 tuổi, tờ New York Time đã không do dự gọi bà là người có ảnh hưởng nhiều nhất trong lịch sử Công Giáo Hoa Kỳ.

Sau cái chết của bà, đã có một phong trào vận động để phong thánh cho bà, nhất là vì những gì bà đã làm cho người nghèo và người tuyệt vọng ở Nữu Ước.

Cách đây không lâu, tờ America đã phỏng vấn bà Eileen Egan, một người bạn thân của bà Dorothy. Một trong những câu hỏi mà người phóng viên đặt ra với bà Eileen là “Điều gì đặc biệt nhất khi bà nghĩ đến bà Dorothy?”

Không chút do dự, bà Eileen đáp, “Đó là tinh thần biết ơn.” Và bà đã đưa ra một thí dụ.

Vào một ngày trời lạnh, cả hai đang ở trên xà lan. Bà Dorothy chỉ mặc chiếc áo khoác mỏng. May mắn, bà có mang theo tờ báo nên bà lấy quấn quanh người bên dưới áo khoác. Khi làm như vậy, bà mỉm cười và nói, “Tôi cám ơn những người vô gia cư đã dạy tôi cách này để giữ người cho ấm.”

Bà Eileen nói thêm, “Bất cứ ở đâu, bà Dorothy đều tìm lấy lý do nào đó để cảm tạ. Thí dụ, có lần bà nói, tôi biết ơn Chúa Giêsu đã đến sống trên mặt đất này đến độ đôi khi tôi cảm thấy muốn quỳ xuống hôn đất, chỉ vì chân của Chúa đã chạm đến nó.”

Trên mộ bia của bà Dorothy ở Staten Island, hai chữ đi liền với tên của bà là: Deo Gratias, đó là “Tạ ơn Chúa.” Chính bà đã yêu cầu khắc dòng chữ này.

Câu chuyện của bà Dorothy đã dẫn chúng ta đến câu chuyện của mười người phong hủi trong bài Phúc Âm hôm nay vì câu chuyện của bà nhấn mạnh đến hai điểm quan trọng về sự biết ơn.

Thứ nhất, nó phải chân thành. Thứ hai, nó phải được thành tâm bày tỏ. Thái độ biết ơn người vô gia cư vì đã dạy bà cách giữ người cho ấm, và bà biết ơn Chúa Giêsu vì đã xuống thế làm người, cả hai đều chân thành và được thành tâm bày tỏ.

Trong Phúc Âm hôm nay sự biết ơn của chín người phong hủi không trở lại cám ơn có lẽ thành tâm. Chúng ta không biết.

Nhưng chúng ta biết chỉ có một người trở lại bày tỏ sự biết ơn trong một phương cách chân thành. Ông ta phủ phục dưới chân Chúa Giêsu.

Một lớp học sinh trung học đang chuẩn bị thảo luận về bài Phúc Âm hôm nay. Để bắt đầu, thầy giáo yêu cầu họ trả lời trên giấy hai câu hỏi sau:

Thứ nhất, đã bao lâu bạn chưa cám ơn cha mẹ vì điều gì đó?

Thứ hai, bạn cám ơn các ngài vì điều gì?

Tôi muốn chia sẻ với các bạn hai câu trả lời của hai học sinh. Câu trả lời thứ nhất viết:

Lần sau cùng tôi nhớ đã cám ơn cha mẹ vào khoảng một tuần trước đây.Tôi cám ơn mẹ tôi đã giúp tôi làm bài tập. Tôi nhớ là bà đã tốn vài giờ đồng hồ. Một tuần sau khi tôi đã nộp bài, bà còn đem về nhà các tài liệu liên quan đến đề bài và nói, “Những cái này cốt để cho con biết thêm.”

Câu trả lời của học sinh thứ hai như sau:

Tôi nhớ lần sau cùng cám ơn cha mẹ thì cách đây vài tuần. Tôi sửa soạn đi chơi tối thứ Bẩy và để cha tôi ở nhà một mình, vì mẹ tôi đã từ trần hồi mùa hè qua. Trước khi rời nhà, tôi đến với ông và đặt tay lên vai ông một cách thân mật. Tôi không nói gì, nhưng tôi biết ông hiểu là tôi cám ơn ông vì đã cho phép tôi đi chơi.

Tôi không biết các bạn nghĩ sao, nhưng tôi thấy hai câu trả lời này thật cảm động.

Cả hai trường hợp, sự biết ơn của các học sinh thật chân thành. Và trong cả hai trường hợp, sự biết ơn được bầy tỏ trong một phương cách nồng hậu và thành tâm.

Điều đó đưa chúng ta đến việc cử hành Thánh Lễ hôm nay.

Các câu chuyện của bà Dorothy Day, của các học sinh, và mười người phong hủi đã mời gọi chúng ta kiểm điểm lại thái độ biết ơn của chúng ta và cách bày tỏ sự biết ơn ấy.

Thí dụ, có một chi tiết đáng kể trong câu chuyện Phúc Âm khiến chúng ta phải để ý. Đó là nhận xét của Chúa Giêsu về người phong hủi trở lại cám ơn lại là người Samaritan.

Qua chi tiết này, Chúa Giêsu muốn nói chín người kia là Do Thái. Có thể nói, họ là người đồng hương của Chúa. Bạn mong đợi họ tỏ lòng biết ơn nhau, nhưng họ đã không làm như vậy.

Điều này cũng thường đúng với chúng ta. Khi cần phải biết ơn gia đình, chúng ta thường cho đó là hành động đương nhiên khỏi phải nói lên. Và, thật không may, chúng ta cũng thường hành động như vậy khi đối với Thiên Chúa.

Có người nói khi coi sự biết ơn là đương nhiên–không bày tỏ ra bên ngoài–thì cũng giống như chúng ta nháy mắt ra hiệu cho nhau trong bóng tối. Bạn biết khi bạn nháy mắt với họ, nhưng họ không thấy điều đó.

Và vì thế, khi chúng ta trở về với bàn thờ, có lẽ chúng ta cần dành thời giờ để cảm tạ Thiên Chúa vì đã sai Con của Người xuống trần gian.

Và chúng ta có thể tỏ lòng biết ơn qua việc cử hành Thánh Lễ một cách sốt sắng, một cách thành tâm.

Chúng ta hãy kết thúc bài giảng hôm nay với lời của ngôn sứ Isaia:

Hãy cảm tạ Thiên Chúa!…
Hãy nói với mọi dân tộc về những điều Người đã thực hiện.
Hãy nói với họ Người thật vĩ đại dường bao!
Hãy hát lên ca tụng Thiên Chúa vì những việc trọng đại Người đã thực hiện
.” Is 12:4-5

Cha Mark Link

Thể hiện của tự do thực sự

Thể hiện của tự do thực sự

Trong suốt nhiều thế kỷ, người Do thái đã phải còng lưng dưới sức nặng của lao động khổ sai bên Ai Cập. Dưới sự lãnh đạo của Môsê, Thiên Chúa đã giải phóng họ và đưa họ vào vùng đất tự do. Để đánh dấu cuộc giải phóng khỏi các thứ khổ sai đó, Thiên Chúa đã thiết lập một ngày trong tuần như ngày Hưu Lễ. Đó là lý do tại sao người Do thái đã trân trọng tuân giữ ngày Hưu lễ. Nó chính là biểu trưng của tự do, bởi vì thời nô lệ, bẩy ngày trên bẩy ngày, người Do thái không thể có được một ngày nghỉ ngơi. Như vậy, nghỉ ngơi là dấu chỉ của tự do, và đó là ý nghĩa nguyên thủy của ngày Hưu lễ.

Thế nhưng, dần dà qua dòng thời gian các nhà thần học Do thái đã thay đổi ý nghĩa ấy của ngày Hưu lễ: thay vì là biểu tượng của tự do, họ đã biến ngày Hưu lễ thành một gánh nặng đầy đọa và trói buộc con người; họ đã kéo dài ngày Hưu lễ thành một bản kê khai tỉ mỉ những gì không được phép làm trong ngày Hưu lễ và như vậy dấu chỉ của tự do giờ đây chỉ còn là một hình thức nô lệ mới đối với người Do thái: thay vì là dấu chỉ của tự do đưa con người vào gặp gỡ với Thiên Chúa, ngày Hưu lễ đã trở thành một gánh nặng chồng chất trên vai con người, nhất là làm cho con người xa cách Thiên Chúa.

Đó cũng là tình trạng của lề luật nói chung thời Chúa Giêsu. Luật lệ không còn là vì con người, nghĩa là giải phóng con người, mà trở thành gánh nặng đè bẹp con người và tách lìa con người khỏi Thiên Chúa; con người chú tâm thi hành lề luật hơn là yêu mến Thiên Chúa và yêu thương tha nhân. Thái độ của 9 người phong cùi người Do thái trong Tin Mừng hôm nay phản ánh tâm thức chung của người Do thái thời đó. Chúa Giêsu chữa lành 10 người phong cùi, trong đó chỉ có một người Samari không phải tuân hành luật Do thái. Theo đúng đòi hỏi của lề luật, Chúa Giêsu đã yêu cầu 9 người Do thái đến trình diện các tư tế để được xác nhận là đã khỏi bệnh, riêng người Samari không phải tuân giữ điều đó, nhưng đây lại là người duy nhất trở lại cám ơn Chúa Giêsu và ngợi khen Thiên Chúa.

Câu truyện trên cho chúng ta thấy luật lệ đã cản trở con người đến gặp gỡ Chúa Giêsu và cảm tạ Thiên Chúa. Người Samari vì không bị chi phối bởi lề luật, nên đã được tự do để nói lên tình cảm chân thật của mình, người này gần với tôn giáo đích thực bởi vì ông có tự do hơn. Thiên Chúa thi ân một cách nhưng không thì con người cũng phải đáp trả một cách tự do. Một tương quan như thế không thể có được trong một xã hội lề luật, trong đó con người chỉ biết tính toán theo thứ công bình hoán đổi. Người Do thái vốn quen thuộc với tâm thức ấy, họ tính toán chi ly về công đức của mình, họ lượng giá phần thưởng dựa trên công nghiệp của mình. Chúa Giêsu đã đánh đổ một quan niệm như thế về tương quan giữa con người và Thiên Chúa: ơn cứu rỗi mà Ngài loan báo và thực hiện là ơn cứu rỗi nhưng không, đến độ con người chỉ được cứu độ nhờ lòng tin vào lòng từ bi của Thiên Chúa, đến độ những kẻ tội lỗi là những người đầu tiên được vào Nước Chúa.

Ngày nay, có lẽ nhiều người chúng ta cũng giống như 9 người phong cùi Do thái trong Tin Mừng hôm nay. Họ đã bị lề luật giam hãm trong Đền thờ để không còn có thể nói lên lời tạ ơn đối với Đấng đã thi ân cho mình; họ xem lề luật trọng hơn điều thiết yếu của niềm tin là lòng biết ơn và niềm tín thác. Cũng như họ, có lẽ chúng ta đã tỏ ra trung thành một cách chi ly với luật Hội Thánh, nhưng nhiều lúc chúng ta vẫn còn tự hỏi: Tôi phải đọc bao nhiêu kinh? Tôi phải lần bao nhiêu chuỗi? Tôi phải ăn chay bao nhiêu lần? Tôi phải bố thí cho bao nhiêu người nghèo khó? Tính toán như thế là quên rằng Thiên Chúa như Chúa Giêsu mạc khải là Thiên Chúa Tình Yêu. Ngài ban ơn cho chúng ta hơn cả những gì chúng ta chờ đợi và tính toán. Một Thiên Chúa như thế, con người không thể có một tâm tình nào xứng hợp hơn là lòng tri ân, niềm tín thác. Đó là sự thể hiện của một tâm hồn tự do đích thực, nhờ đó con người có thể vượt qua bốn bức tường nhà thờ để không ngừng gặp gỡ Chúa trong cuộc sống mỗi ngày.

Asia Veritas Radio

Đón nhận ơn cứu độ

Đón nhận ơn cứu độ

Chúa Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem để chịu khổ hình, hoàn thành việc cứu độ. Chính lúc đi ngang qua Samaria, nhất là qua việc cứu chữa mười bệnh nhân phong, Chúa cho thấy một vài đặc điểm của ơn cứu độ.

Ơn cứu độ là phổ quát.

Chúa muốn cứu độ hết mọi người không loại trừ ai. Nên Chúa đi qua Samaria. Samaria là vùng đất cấm kỵ đối với người Do Thái. Đó là vùng đất ngoại đạo. Đó là vùng đất ô uế. Người Do Thái và người Samaria không giao thiệp với nhau. Nhưng Chúa đã vượt qua ranh giới cấm kỵ đó. Chúa muốn đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Tại Samaria Chúa còn gặp gỡ mười người phong cùi. Lại một cấm kỵ nữa. Người phong cùi vốn bị coi là hạng người tội lỗi, ô uế. Ai gặp họ đều trở nên ô uế. Họ bị loại trừ ra khỏi đời sống xã hội. Tại Samaria, những người phong cùi là những người ở tầng lớp cuối cùng của xã hội. Chúa đem ơn cứu độ cho mọi người, kể cả những người bị khinh miệt nhất, bị quên lãng nhất, bị hất hủi nhất. Ơn cứu độ Chúa ban cho tất cả mọi người. Trước mặt Chúa mọi người đều bình đẳng.

Ơn cứu độ là nhưng không.

Không ai dám nghĩ đến việc mời Chúa xuống trần gian. Không ai có công trạng gì khiến Chúa phải xuống trần gian để tưởng thưởng hay để đền đáp. Chúa xuống trần gian hoàn toàn do lòng nhân từ yêu thương của Chúa. Cũng thế, người Samaria hoàn toàn bất ngờ khi Chúa đến miền đất của họ. Những người phong cùi lại càng không bao giờ dám mơ tưởng tới. Bản thân họ đã bị lên án, bị loại trừ rồi. Ngay việc gặp một người bình thường đã không được phép, huống chi là gặp gỡ Chúa. Nhưng Chúa đã đến gặp gỡ họ, ban ơn cứu chữa họ. Hoàn toàn nhưng không. Họ chẳng có công gì. Họ chẳng có quyền đòi hỏi gì. Họ chỉ có nỗi đau khổ tột cùng. Chính nỗi đau khổ đó đã khơi dậy lòng yêu thương của Chúa. Vì Chúa là tình yêu thương.

Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm tin.

Tuy ơn cứu độ được ban rộng rãi và nhưng không, nhưng để đón nhận đòi phải có niềm tin. Những người phong cùi hôm nay đã bày tỏ niềm tin qua hai thái độ. Thái độ thứ nhất là đồng thanh lớn tiếng kêu cầu danh Chúa Giêsu: “Lạy Thày Giêsu, xin cứu chúng tôi”. Danh Thánh Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu. Từ cùng tận nỗi đau khổ, những người phong cùi đã kêu van bằng tất cả tấm lòng tha thiết và với niềm tin vững chắc. Chỉ có Chúa mới thương xót họ. Chỉ có Chúa mới đủ quyền năng cứu chữa họ. Thái độ thứ hai là đi trình diện với thày tư tế. Chúa không chữa họ ngay nhưng bảo họ đi trình diện với thày tư tế. Dù chưa được khỏi, nhưng họ vẫn tin tưởng lên đường. Đang khi đi đường thì họ được khỏi. Đức tin đã chữa họ.

Ơn cứu độ phải được đón nhận với niềm vui.

Đây là niềm vui trong mối tương giao giữa Thiên Chúa với con người. Cốt lõi của ơn cứu độ là thiết lập mối tương giao, cho con người được trở nên con cái Thiên Chúa, đồng hưởng hạnh phúc với Chúa. Đó là cội rễ của niềm vui, niềm hạnh phúc. Chín người bệnh không trở lại chỉ có niềm vui được khỏi bệnh, nhưng không có niềm vui trong mối tương giao với Thiên Chúa. Họ có đức tin cầu xin nhưng thiếu đức tin gặp gỡ với Thiên Chúa. Niềm vui được khỏi bệnh rồi cũng sẽ nhạt phai. Chỉ có một người trở lại tạ ơn. Anh trở lại vì mối tương giao. Anh nhận biết nguồn gốc niềm vui của mình. Anh sụp lạy Chúa vì biết nguồn gốc hiện hữu của mình. Anh đã tìm thấy nguồn cội ý nghĩa đời mình. Niềm vui của anh sẽ còn mãi mãi. Đời anh sẽ là một đời tạ ơn không ngừng.

Lạy Chúa, xin cho con biết tìm đến gặp gỡ Chúa để tạ ơn Chúa. Chính niềm vui tạ ơn này đem đến cho con hạnh phúc suốt đời con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Vì sao Chúa ban ơn cứu độ cho ta và ta phải đón nhận với thái độ thế nào?
2) Đức tin cầu xin và đức tin gặp gỡ Chúa khác nhau thế nào? Bạn đã tiến đến đâu trong đời sống đức tin?
3) Có những miền đất, những con người nào mà bạn coi là cấm kỵ khiến bạn chưa dám tiếp cận không? Với gương Chúa Giêsu hôm nay, bạn sẽ làm gì?
4) Biết ơn rất cần trong đời sống tự nhiên. Bạn có biết ơn trong đời sống siêu nhiên không?

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

ƠN NGƯỜI, ƠN ĐỜI

ƠN NGƯỜI, ƠN ĐỜI

Nhờ ơn người, nhờ ơn đời

Có vẻ như chữ “nhơn” do chữ “nhờ ơn” mà thành. Là người, ai cũng nhờ ơn:

– ơn Cha Mẹ sinh thành dưỡng dục trong suốt một cuộc đời lam lũ nghèo khó;

– ơn giáo hội qua các bí tích để tôi được gọi là Thiên Chúa là Cha, và tôi là nghĩa tử của Ngài;

– ơn Thầy cô miệt mài hun đúc tôi từ chữ đến nghĩa, từ học đến hành;

– ơn người thân- bà con, anh em- thương yêu đùm bọc nâng niu giúp đỡ;

– ơn người dưng nước lã cho tôi nghĩa tình quê hương, nhân loại;

– ơn người đạo đức mỗi ngày cầu nguyện hy sinh cho mọi người, trong đó có tôi, được bình an;

– ơn người lành cho tôi bao bài học phải giữ;

– ơn kẻ dữ cho tôi bao bài học phải tránh;

– ơn người trung tín, ơn người phản bội, ơn người yêu, ơn người ghét, ơn người dối trá, ơn người thành thật, ơn người có đạo, ơn người vô thần, ơn người cho vay, ơn người đòi nợ, ơn người mắng nhiếc sỉ nhục, ơn người an ủi cảm thông, ơn ốm đau bệnh tật, ơn tai nạn bất ngờ, kể cả sự chết…

Làm sao kể hết những ơn lộc mà tôi đã nhận được qua những con người, những biến cố. Vì thế, có thể nói, mỗi người quanh tôi, gần tôi, xa tôi, người biết tôi, chưa biết tôi,  người ở Texas, người ở Cali, người ở tận châu Phi, có người ở Sài gòn, có người Hà Nội…có người giàu có, cũng có người  nghèo khó… tất cả đều là ân nhân của tôi một cách nào đó.

Mỗi người trở nên một phần trong cuộc sống của nhau, không thể thiếu.

 Mỗi biến cố cũng vậy, dù tốt hay xấu, dù có lợi hay không có lợi, tôi cũng nhận được một ơn đặc biệt. “Thất bại là mẹ thành công”. Chẳng hạn, nếu không có một cái nhìn mới mẻ dưới ánh sáng đức tin, thì tôi không thể chấp nhận sự thua thiệt, cảnh tang thương hay thất bại là một ân huệ. Và đợi đến lúc tôi cảm nghiệm được rằng: tôi đã nhờ ơn đau khổ mà thành nhơn, thì tôi không còn đủ thời gian để xin lỗi những đau khổ vì đã nặng lời trách móc.

Vì thế, tôi muốn xác tín rằng: mỗi con người đang là cánh tay của Thiên Chúa nối dài để thi ân; mỗi biến cố là công cụ, là phương cách Chúa đã dùng  để ban ơn cho  tôi, cho mọi người.

Quả thật đời sống con người cần có nhau để tô đẹp cho nhau và cho cuộc đời, như có người nói:

“Nói với lá rằng hoa chưa đẹp nhất,

nếu không chen vào giữa lá nhung xanh,

nói với anh rằng em chưa đẹp nhất,

nếu không chen vào giữa trái tim anh”.

Hoa đẹp nhờ có lá, tôi đẹp nhờ có người xấu. Tôi biết tôi giàu nhờ có người nghèo quanh tôi. Tôi biết tôi mạnh khỏe nhờ có người đau yếu…

Hãy mở lòng ra để đón nhận nhau, chấp nhận nhờ ơn nhau, như một người cần có trái tim để sống.

Bác Trần Duy Nhiên trong thư gửi các cháu mổ tim có đoạn “một trái tim bị mổ, ngàn trái tim mở ra.  Ngàn trái tim mở ra,  vì có Một Trái Tim đã mở toang ra vì yêu nhân loại”.

Vâng, sống trong cuộc sống là sống với, sống vì, sống cho người khác sống. Tôi có thể cảm nhận trái tim tôi đập được là nhờ trái tim của nhiều người khác.Vâng, tất cả chúng ta đang “nhờ ơn” mà thành “nhơn”.

Nguồn ơn ấy, chính là sự quan phòng tuyệt vời của Thiên Chúa tình yêu.

Biết ơn 

Biết mình cần “nhờ ơn” người khác là một điều đã khó; biết ơn người khác lại là một điều khó hơn. Để biết ơn, phải cảm nhận được ơn mình đã nhận. Và đối với tín hữu của Chúa, để cảm nhận được ân huệ của Thiên Chúa qua các biến cố, qua tha nhân, nhất thiết người thọ ơn phải có lòng khiêm tốn sâu xa và một đức tin chân thành mà sâu sắc.

Tướng Naaman trong sách các vua 5,14-17 quả thật đã có một niềm tin khiêm tốn sâu thẳm, nên mới có được một niềm xác tín vững chắc để nghe lời của Tiên tri Elise mà đi dìm mình bảy lần trong sông Giodan Cũng vậy, mười người phung hủi trong Tin Mừng Lc 17,11-14 có niềm tin khiêm tốn sâu thẳm, nghe lời Đức Giêsu mà đi trình diện các tư tế.

Cả một đất nước Aram không có con sông nào sạch sao và chắc gì sông Giodan sạch bằng? Hoặc có thầy thuốc nào bảo chỉ cần đi trình diện với ông nầy ông kia thì sẽ được khỏi bệnh?

Quả là một điều lý trí không thể chấp nhận được. Nhưng điều lý trí không chấp nhận được ấy lại là đức tin.

Như vậy sự khiêm tốn ở đây chính là bằng lòng hy sinh lý trí, hy sinh cái suy luận theo tài năng hiểu biết của mình, để đón nhận điều sẽ xảy ra với lòng tin tưởng tuyệt đối. Việc chấp nhận dìm mình trong song Giodan của Naaman cũng như chuyện chấp nhận thực hiện điều trái ý, chấp nhận điều chẳng lành trong cuộc đời, không dễ dàng tí nào đối với người không có đức tin.

 Việc chấp nhận đến với Giodan còn mang một ý nghĩa khác,  là chấp nhận đến với Đất Nước của Thiên Chúa, đến với Giáo Hội.

Cũng vậy, “đi trình diện với các tư tế” trong trình thuật Luca 17,11-19  cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận đến với những người của Thiên Chúa, trong Giáo Hội.  Và khi đến, phải khiêm tốn và xác tín rằng, tôi đến là tôi sẽ được nhận ơn.

“Trong khi đi trình diện với các tư tế, họ đã được sạch phung hủi”. Điểm nầy, tôi liên tưởng đến người có lòng khao khát được sạch những vết phung hủi của tâm hồn do tội lỗi, trên đường đi đến tòa cáo giải với lòng khiêm tốn và đức tin, thiết nghĩ, họ đã được sạch tội rồi nếu họ chết khi chưa kịp xưng thú các tội.

Chấp nhận dìm mình trong dòng sông Giodan  hay đến với Đức Giêsu để nhận được ơn sự sống đòi hỏi một đức tin cao nhất, như Thánh Phaolô xác quyết: “Nếu ta cùng chết với Người, ta sẽ cùng sống với Người. Nếu ta cùng kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người” (2Tm 2,11-12)

 Rất tiếc, rất tiếc, vẫn còn có nhiều người luôn tuyên bố: “Từ nhỏ đến giờ tôi chẳng nhờ ơn ai cả, tôi tự lập mà nên”. Có người không chấp nhận nhờ vả vì sỉ diện, một cách tránh né do lòng kiêu ngạo. Vậy, không chấp nhận nhờ ơn thì làm gì nói đến chuyện biết ơn.

Ngay cả đối với sự hiện hữu tốt đẹp của chính mình trên trần gian, có người theo chủ nghĩa duy vật vô thần không đủ khiêm tốn để chấp nhận đó là một ơn huệ, còn to tiếng phủ nhận; và cho là một việc tự nhiên do chuyện giải trí của cha mẹ mà có! Thế thì làm gì có lòng biết ơn ai! Rồi từ đó, kéo theo một thế hệ con cháu vô ơn với trời đất, với tổ tiên, với nòi giống. Cái chủ nghĩa duy vật dạy cho họ cuộc sống con người bắt đầu từ con vật, sống và lớn lên như con vật, rồi chết đi như con vật.

Và khái niệm đó đóng khung lý trí của họ mà họ xem như một chân lý. Họ không thể khiêm tốn hy sinh cái lý trí què quặt ấy để đón nhận ánh sáng của đức tin. Họ không chấp nhận dìm mình trong dòng sông cứu rỗi mà người của Thiên Chúa giới thiệu. Họ cố tình không biết những ơn cao trọng mà dòng sông cứu rỗi mang lại. Chẳng trách gì mà họ không những không khiêm tốn đến với Chúa Giêsu mà còn không muốn ai đến với Ngài.

Rất tiếc hơn nữa, những con cái của Chúa cũng không thiếu những con người vô ơn như vậy. Khi cuộc sống vất vả, đau yếu, bệnh tật, nghèo túng thì sốt sằng tìm đến Chúa để kêu la cầu cứu; đến khi có của ăn của để, nhà cao cửa rộng, phương tiện  tiện nghi đầy đủ thì xem tất cả những gì mình có là do sức mình, rồi tỏ ra bất cần đến Thiên Chúa nữa, bất cần đến ơn cao trọng hơn cả là ơn cứu rỗi, tự gieo mình vào một cuộc sống mỗi ngày thêm sa đọa. Chúa Giêsu nói: “không phải cả mười người đều được sạch cả sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”(Lc.17,17-18)

Với tôi, bài học của tướng Naaman và mười người phung hủi, cho thấy sự cần thiết của lòng khiêm tốn, của một đức tin vững chắc để đón nhận và biết ơn Thiên Chúa đang tràn lan trong đời mình qua mọi người và qua mọi biến cố.

Hãy khiêm tốn đến với dòng sông Bí tích, dòng sông Giodan ngày xưa, và dòng sông của Đức Giêsu hôm nay, trong dó có dòng sông của bí tích hòa giải với xác tín chính Chúa Giêsu cũng đang nói với ta “Đức tin con đã chữa con” mọi thứ bệnh trầm kha nhất của tâm hồn. Và rồi,  hãy thể hiện lòng biết ơn cách cụ thể qua việc đền đáp công ơn của Người.

Đền ơn 

 Đối với người Việt Nam, có thể nói  có lòng biết ơn là đã đủ sống với đạo làm người, vì có những ơn Trời ban mà con người không bao giờ đáp đền cho cân xứng.

Với chúng ta, sống tâm tình biết ơn, thiết nghĩ, là chưa đủ. Phải thiết thực đáp đền ơn Chúa bằng việc thờ phượng tôn vinh Thiên Chúa cho xứng đáng. Biết việc đền ơn không phải là lễ vật như “món quà” của Naaman dâng cho Thiên Chúa qua Elise. Naaman đã chọn cách đền ơn bằng việc “chở một ít đất ở Giodan về mà lập bàn thờ Thiên Chúa trên đất ấy”.(2V 5,15-17). Cũng như người Samari “thấy mình được khỏi, liền quay trở lại mà lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn” (Lc 17,15-16).

Như vậy, đáp đền ơn Thiên Chúa là tôn vinh Thiên Chúa bằng cách:

sống trọn tình con thảo trong niềm tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa quan phòng, tin tưởng vào Chúa Giêsu và Giáo Hội của Ngài: “hãy trình diện với các tư tế”.

Về điểm nầy, tôi không đồng tình với quan điểm “Giêsu-Yes”, “Giáo Hội- No”. Vì như thế là chúng ta tự mâu thuẫn với đức tin của mình. Chúng ta đã nhận muôn ơn Chúa qua Giáo Hội. Phủ nhận Giáo hội cũng chính là phủ nhận đức tin vào Thiên Chúa. Ta vẫn tuyên tín “ tôi tin Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” kia mà. Hãy tin tưởng vào Giáo Hội của Chúa. Không vì một vài phần tử bội tín hoặc phá phách trong giáo hội mà ta phủ nhận sự thánh thiện của Giáo Hội, rồi trở thành người vô ơn một cách oan uổng. Hãy tin tưởng Giáo Hội.

sống và trở nên nguồn sống cho tha nhân – nguồn sống ấy có thể là một nụ cười, một niềm vui, một chia sẻ như làm cánh tay nối dài của Thiên Chúa. Ta vẫn thường nhận ơn của một người và không bao giờ đáp trả nổi, nhưng ta lại thi ân cho người khác như một nghĩa cử đền đáp  cho người mình đã nhận. Hãy sống chứng nhân tôn vinh thờ phượng Chúa bằng đức bác ái.

Để kết

Tôi có nghe các em mổ tim nhờ Hội Bác ái Phanxicô hỗ trợ- sau khi mổ tim thành công, hát mấy câu trọn vẹn ba ý nghĩa: nhờ ơn, biết ơn và đền ơn, như sau:

“Em có một trái tim nhưng là trái tim của nhiều người

Em sống nhờ trái tim, nhờ tình yêu thương người mọi nơi

Em suốt đời biết ơn người cho em sự sống nầy

Sẽ sống và sẻ chia tình yêu thương cho muôn người.”

 Lạy Chúa xin cho chúng con lòng khiêm tốn và đức tin vững chắc, để đón nhận tất cả là hồng ân Chúa.  Và xin cho chúng con biết sẻ chia sự sống cho tha nhân. A men.

 PM. Cao Huy Hoàng

LÒNG BIẾT ƠN

LÒNG BIẾT ƠN

Đọc Phúc Âm Chúa Nhật hôm nay, tôi cảm thấy thật buồn về thái độ vô ơn của chín người được ơn. Trong số mười người phong hủi được Chúa Giêsu chữa lành, chỉ có một người quay trở lại để tạ ơn. Mười người được ơn, chỉ có một người biết ơn. Tỷ lệ một phần mười. Một tỷ lệ quá thấp. Như vậy, kẻ vô ơn thì thật nhiều, còn người biết ơn có lẽ thật ít. Người biết ơn ấy lại là người ngoại đạo.

Chúa Giêsu hỏi người ngoại giáo: “Không phải tất cả mười người đều được lành sạch cả sao ? còn chín người kia đâu ? không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa mà chỉ có người ngoại bang này ?”. Chúa Giêsu buồn không phải vì bị phụ ơn mà vì trong số mười người chỉ có một người hiểu biết tình trạng thiêng liêng của mình trước mặt Thiên Chúa.

Trong cuốn sách “Nói với chính mình” Đức Cha Bùi Tuần có viết: Tôi rất thích chó vì chó biết ơn. Dầu chỉ nhận được một cục xương, chó cũng tỏ vẻ biết ơn. Chủ đi đâu về, chó cũng vẫy đuôi mừng rỡ. Trong khi đó, con người vô ơn lại là chuyện bình thường.

Chuyện phiếm 7 “Hai chữ cám ơn”, Gã Siêu xót xa: Một tác giả nào đó đã viết : Một sự kiện làm chúng ta phải ngạc nhiên không ít, đó là một số người Việt Nam từ nước ngoài trở về thăm quê hương đã đưa ra nhận xét như sau. Dầu có cố gắng che dấu đến đâu cái tông tích Việt kiều của mình, họ vẫn cứ bị lộ ra. Và oái oăm thay, cái tông tích ấy được thể hiện không phải qua cách mua sắm tiêu xài, hay là phục sức, mà gắn liền với một chi tiết rất tầm thường. Người ta nhận ra họ bởi vì họ là những người luôn miệng nói lên hai tiếng “cám ơn”. Nếu quả thực hai tiếng cám ơn đã trở thành quí hiếm trên môi miệng người Việt Nam hiện nay, thì phải chăng đó là một lời báo động đáng lo ngại. Đó có thể là dấu chỉ của sự khô cạn tình người trong xã hội Việt Nam chúng ta. Khi ơn nghĩa đã bị chối bỏ, thì dĩ nhiên sự ràng buộc về tình người cũng trở thành mong manh. Và khi tình người bị chối bỏ, thì nhiều lãnh vực khác cũng sẽ bị lung lay và sụp đổ.

Sở dĩ như vậy là vì những người Việt Nam sống ở nước ngoài tiếp xúc thường xuyên với người phương tây, nên cũng lây nhiễm phần nào nét đẹp văn hóa của họ. Đúng thế, những tiếng vốn được người phương tây xử dụng nhiều nhất là “xin lỗi” và “cám ơn”. Dân Pháp thì luôn miệng nói “pardon” và “merci”. Còn dân Ăng lê thì động một tí là “sorry” và “thank you”. Thói quen tốt đẹp này có được là do sự giáo dục từ trong gia đình. Có người đã tổng kết được mười mấy chữ quan trọng trong việc giáo dục trẻ em ở phương tây, đó là cám ơn, chào ông bà, xin lỗi, phiền ông bà, tạm biệt, xin mời…Trong đó đứng đầu là hai tiếng “cám ơn”, Như vậy, họ đã dạy cho con em biết cảm động, không được thờ ơ nhìn sự giúp đỡ và làm ơn của người khác.Từ đó, gã suy ra rằng lòng biết ơn và tình yêu mến luôn đi song song và tỷ lệ thuận với nhau . Lòng biết ơn sẽ sinh ra tình yêu mến và tình yêu mến lại sinh ra lòng biết ơn.(dunglac.org).

Tác giả Nguyễn Văn Tuấn, trong bài “Văn hóa cám ơn” viết chua chát: Cám ơn và xin lỗi đôi khi trở thành một đề tài xã hội. Khoảng 2 năm trước đây, viết trên báo Tuổi Trẻ, một người Hàn Quốc đang làm việc tại Việt Nam “phàn nàn” rằng người Việt Nam ít nói xin lỗi. Tiếp theo đó là một thư khác của bạn đọc người Việt chỉ ra rằng chẳng những ít nói xin lỗi, mà người Việt còn ít nói cám ơn. Điều này có vẻ mâu thuẫn với truyền thống đạo lý của người Việt, vốn có truyền thống tôn sư trọng đạo, ghi ơn tiền nhân. Nhưng có lẽ trong cuộc sống bề bộn của thời thực dụng kinh tế, không ít người Việt, trong đó có cả những quan chức, quên nói lời cám ơn. Và, sự thiếu sót này có thể ảnh hưởng đến quốc thể và gây ấn tượng không đẹp ở người nước ngoài về người Việt. Câu chuyện mà tôi sắp kể sau đây còn cho thấy hình như trong một số quan chức, thể hiện sự tri ân vẫn còn khá khó khăn. Anh là một kỹ sư người Đức, do cơ duyên nào đó, lấy vợ Việt Nam và quê vợ ở một làng nghèo thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Có lẽ để làm một nghĩa cử đẹp cho quê vợ, anh về Đức quyên tiền, và đem số tiền đó về quê vợ xây một bệnh xá cho người dân nghèo. Người dân trong làng ai cũng nhớ anh ta trực tiếp chỉ huy việc xây dựng, rất quan tâm đến chất lượng đến nổi cẩn thận gõ từng viên gạch để đánh giá xem thật hay dỏm. Kết quả là một bệnh xá khang trang và có chất lượng cao. Đến ngày khai mạc, các quan chức trong làng đua nhau cám ơn Đảng và Nhà nước, nhưng không có đến một lời cám ơn chàng rể người Đức dù anh có mặt trong buổi lễ khánh thành bệnh xá. (saigonecho.com).

Vô ơn chẳng làm cho người ban ơn thiệt thòi mà chỉ làm cho tâm hồn kẻ chịu ơn thêm chật hẹp. Đúng như John Hery Jowett đã viết: “Sống vô ơn là một cuộc đời trống vắng tình yêu và không cảm xúc. Có hy vọng mà không có tri ân là sự thiếu hụt của một nhận thức tinh tế. Lòng tin mà thiếu niềm tri ân là một lòng tin không có nghị lực. Tất cả những nhân đức bị tách biệt khỏi lòng biết ơn đều trở nên tàn tật khập khiễng trên con đường thiêng liêng”.

Văn hóa cám ơn được thể hiện trong xã hội văn minh. Mọi người luôn nói cám ơn mỗi khi được người khác giúp đỡ, dù chỉ là nhỏ bé thôi. Hai tiếng cám ơn làm ấm lòng người nghe. Hai tiếng cám ơn làm tăng thêm giá trị của người nói. Người biết nói tiếng cám ơn được đánh giá là người văn hoá, văn minh.

Chúa Giêsu xem trọng lòng biết ơn cũng là vì ích lợi của kẻ được ơn mà thôi. Người Samari trở lại tạ ơn Chúa đã ban cho anh ơn phần xác. Chúa lại ban thêm cho anh ơn phần hồn nữa: “Ðứng dậy về đi ! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh“. Như thế, cám ơn lại là cơ hội để nhận được thêm ơn.

Sống trên đời này mọi người cần biết ơn nhau. Biết ơn là thái độ cần thiết cần phải có đối với người ban ơn. Trong cuộc sống, tiếng “cám ơn”, “xin lỗi” luôn có sẵn trên môi miệng những người có giáo dục, lịch sự, lễ độ. Lòng biết ơn, tiếng cám ơn phát xuất từ tấm lòng chân thành luôn làm vui lòng mọi người. Chính lòng biết ơn Thiên Chúa, biết ơn cha mẹ là nền tảng cho mọi thứ biết ơn khác.

Có hai thứ chịu ơn: vật chất và tinh thần.

Vật chất thì có thể tính bằng con số, đo lường bằng mức độ như một cây vàng, một ngàn đồng, một sào đất… Tất cả những thứ ấy đều có thể trả được.

Chịu ơn về tinh thần thì khó định nghĩa rõ ràng để trả ơn. Khi một người thất vọng, chán chường, cô đơn, đau khổ, bệnh tật… nếu có được một chút lửa ấm tình thương nâng đỡ sẻ chia giúp cho người đó ra khỏi đêm tối, tìm lại ánh sáng, niềm vui, bình an, hy vọng, thì lòng biết ơn đó là mãi mãi.Kẻ nghĩ rằng trả ơn là xong, không cần biết ơn nữa, đó là một tâm hồn nghèo nàn.

Thật là dễ nếu cảm ơn những điều tốt đẹp. Nhưng cuộc sống bao giờ cũng tạo cơ hội mới cho mọi người cảm ơn cả những thứ chưa hoàn hảo nữa. Suy nghĩ luôn có thể chuyển tiêu cực thành tích cực. Nếu bạn biết cách biết ơn những thứ rắc rối của bạn thì chúng có thể giúp ích nhiều cho bạn!

Bạn thân mến.

Hãy cảm ơn vì bạn chưa có tất cả những thứ bạn muốn. Vì nếu bạn có rồi thì bạn còn có gì để trông chờ và hy vọng nữa đâu.

Hãy cảm ơn vì còn nhiều điều bạn chưa biết. Vì nếu bạn biết hết rồi thì bạn chẳng còn gì để học hỏi nữa sao?

Hãy cảm ơn những lúc khó khăn. Vì nếu không có một lúc khó khăn thì liệu bạn có trưởng thành được không?

Hãy cảm ơn vì bạn còn có những nhược điểm. Vì nếu không còn nhược điểm gì thì bạn sẽ chẳng còn cơ hội để tiến bộ, để cải thiện bản thân.

Hãy cảm ơn những thử thách. Vì nếu không có thử thách nào thì liệu cái gì có thể xây dựng nên sức mạnh và cá tính của bạn?

Hãy cảm ơn những lỗi lầm bạn đã có. Vì nếu bạn không có lỗi lầm gì thì cái gì sẽ dạy cho bạn những bài học đáng giá như thế đây?

Hãy cảm ơn những khi bạn mệt mỏi. Vì nếu bạn không khi nào mệt mỏi tức là bạn không làm việc gì hay sao?

Suốt cuộc đời, bạn và tôi đều mang ơn rất nhiều. Cám ơn về tất cả, tri ân về tất cả. Bắt đầu mầm sống trong lòng mẹ, nơi ngôi nhà ấm cúng, thầm kín đầu tiên đó, tôi được mẹ lấy máu thịt nuôi dưỡng lớn dần từng ngày.Từ ngày đó tôi đã chịu ơn rồi. Tôi vào đời với tiếng khóc như biểu tượng sự yếu đuối và cần đến mọi người. Rồi tôi lớn lên nhờ dòng sữa mẹ, nhờ hơi ấm, nhờ những bàn tay nuôi nấng dẫn dắt. Công cha, nghĩa mẹ, thầy cô giáo dục. Vào đời, tôi cần tình yêu, cần tình bạn, cần thông cảm. Cuộc đời được dệt nên bằng những ơn nghĩa nối tiếp nhau. Sự sống là ân ban cao cả nhất, thiêng liêng nhất mà tôi được đón nhận từ Thiên Chúa. Ngài tạo thành tôi và còn ban Con Một của Ngài chịu chết thập giá để cứu chuộc và ban cho tôi Sự Sống Mới.

Nói đến trả ơn, chỉ có thể trả ơn người, chứ không bao giờ trả ơn Chúa được. Hôm nay tôi nghèo, có người giúp tôi. Thời gian sau, có thể khá hơn tôi có dịp trả ơn. Nhưng với Chúa thì bao giờ tôi cũng nghèo, cũng túng thiếu. Chúa chẳng cần gì để tôi có thể trả ơn, vì mọi sự đều đến từ Chúa. Tôi chỉ có thể biết ơn Ngài bằng thái độ yêu quý những gì Ngài ban tặng. Tặng vật lớn nhất là sự sống và lời mời gọi làm con của Ngài. Bởi đó phải yêu quý sự sống của mình, yêu bản thân mình, yêu con người và yêu cuộc đời. Ghét bỏ chính mình, không yêu người là sự vô ơn đối với người ban tặng. Mọi sự đều đến từ Thiên Chúa. Ngài sắp xếp hoà điệu để con người tham gia vào chương trình đón nhận ân sủng Ngài trao tặng. Những gì tôi đón nhận từ tha nhân cũng là ơn Chúa, nên lòng biết ơn đối với tha nhân cũng chính là lòng biết ơn đối với Chúa.

Mỗi sáng khi vừa thứa dậy, tâm tình đầu tiên là tôi Tạ Ơn Chúa, dâng một ngày mới cho Chúa. Cùng cộng đoàn hiệp dâng Thánh Lễ chung lời Tạ Ơn Chúa, một ngày mới tràn đầy bình an và ơn thánh.

Tạ ơn để đón nhận thêm ơn lành cho cuộc sống, lời Kinh Tiền Tụng số IV trong Sách Lễ Rôma: “Thật ra, Chúa không cần chúng con ca tụng, nhưng được tạ ơn Chúa lại là một hồng ân cao cả, vì những lời ca tụng của chúng con chẳng thêm gì cho Chúa, nhưng đem lại cho chúng con ơn cứu độ muôn đời“.

Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn sống tâm tình biết ơn, biết ơn Chúa, biết ơn người để cuộc đời chúng con là bài ca tri ân tình thương của Chúa. Amen.

LM Giuse Nguyễn hữu An

CÁM ƠN

CÁM ƠN

Một trong những tiếng được kể là đẹp nhất trong kho tàng ngôn ngữ con người, từ đông sang tây, từ bắc tới nam, tức là khắp mọi nơi. Một tiếng rất ngắn nhưng đưa đi rất xa, nếu chúng ta biết sử dụng nó một cách trọn vẹn, chân tình. Đó là tiếng “cám ơn”. Nhưng trong thực tế, dường như người ta còn quá dè dặt và tiết kiệm tỏ lòng biết ơn nhau và cám ơn nhau.

Bài Tin Mừng Chúa Giêsu lưu ý chúng ta về lỗ hổng trầm trọng ấy. Chúa đã làm phép lạ chữa lành cho cả mười người phong cùi. Thế là họ ra đi sung sướng, thỏa mãn, chỉ có một người nghĩ tới việc trở lại cám ơn Chúa. Chúa hỏi người ấy: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu?” Chỉ là vì họ quên cám ơn. Trong cuộc sống, nhiều khi chúng ta quên: cố tình quên hoặc vô tình quên như thế.

Có phải chúng ta vẫn thường coi việc người khác làm cho chúng ta hay phục vụ chúng ta như là những chuyện đương nhiên, những việc họ phải làm? Chẳng hạn khi có người lưu ý một ông giám đốc hay một ông chủ về sự tận tâm của người thừa hành hay người giúp việc, thì các vị này đã tỉnh bơ trả lời: “Họ đã được trả lương để làm việc ấy mà”. Người ta trả tiền công và tưởng thế là sòng phẳng.

Chúng ta nên suy nghĩ tới đức bác ái Kitô giáo, tới tình người được gói ghém trong tiếng “cám ơn”, dù khi đã trả tiền công. Thực vậy, có biết bao nhiêu chuyện mà người ta không thể thanh toán được bằng tiền bạc, nhưng bằng một nụ cười, một thoáng quan tâm, một tiếng cám ơn. Những người bán hoa đã viết một biểu ngữ trước quầy hàng của họ thế này: “Hãy diễn tả tâm tình của bạn bằng những bông hoa”. Cũng vậy, chúng ta phải diễn tả tâm tình của mình ra nhờ những cái gì khác hơn là tiền bạc, hoặc cả tiền “puộc boa”, tiền trà nước, đó là lời cám ơn. Có cả một nghệ thuật bày tỏ lòng tri ân mà chúng ta phải tập để biết sử dụng hợp thời, đúng lúc và tinh tế khéo léo.

Chúng ta phải biết cám ơn những người sống chung quanh mình, bắt đầu từ những người gần gũi nhất, đó là những người trong gia đình. Người ta nói: hạnh phúc của mái gia đình tùy thuộc một phần không nhỏ vào bổn phận nhớ ơn nhau. Cuộc sống của chúng ta được dệt thành bởi trăm ngàn điều nhỏ mọn chẳng đáng kể gì, thế mà hạnh phúc gia đình phần lớn lại lệ thuộc vào những điều chẳng đáng kể gì đó, là tiếng “cám ơn” bé nhỏ nói cho đúng lúc.

Thực vậy, hạnh phúc thay gia đình nào có những người con biết nói cám ơn người cha người mẹ vẫn tận tâm tận lực lo lắng cho chúng và suốt ngày tảo tần mưu ích cho chúng. Và cũng thật hạnh phúc cho gia đình nào người chồng biết nói cám ơn đối với người vợ và người vợ biết nói cám ơn đối với người chồng. Tiếng cám ơn người chồng nói với người vợ đáng giá hơn tất cả mọi thứ vật chất, vì nó chứng tỏ người chồng lưu ý tới những gì người vợ làm cho mình. Cũng vậy, tiếng cám ơn người vợ nói với người chồng sẽ động viên cho ông thêm nghị lực, thêm can đảm, thêm sức mạnh để hăng say với công việc đều đều cực nhọc vất vả hằng ngày.

Sau hết nhưng trước hết và trên hết, chúng ta phải biết cám ơn Thiên Chúa, vì tất cả những gì chúng ta đang có, đang sử dụng: về ngôi nhà đang che chở chúng ta, cái bàn kia, cái giường ấy, chiếc tủ này, những quyển sách đó, cái đèn đang cháy sáng kia, những người bạn chúng ta gặp tình cờ trong cuộc sống, và hàng trăm hàng ngàn điều khác đang ở trong tầm tay chúng ta… Chính Thiên Chúa ban cho chúng ta những điều ấy xuyên qua những nguyên do phụ thuộc. Vì thế, chúng ta phải luôn dâng lên Thiên Chúa tâm tình cảm tạ tri ân như đối với nguyên nhân tối hậu, từ đó phát xuất ra mọi điều thiện hảo cho chúng ta.

Có một người cha trong gia đình đã ghi lại câu chuyện và những ý nghĩ sau đây: Một đêm kia, trong lúc đang đọc báo, tôi nghe đứa con gái bé nhỏ của tôi nói: “Bố ơi, con sẽ đếm xem trên trời có bao nhiêu ngôi sao nhé”. Sau đó, tôi nghe giọng nói êm đềm của con tôi bắt đầu đếm 1,2,3,4… Rồi tôi chăm chú vào việc đọc báo, không để ý đến tiếng con tôi đếm các ngôi sao nữa. Đến khi đọc xong bài báo, tôi chú ý lắng tai và nghe tiếng nó vẫn tiếp tục đếm 123, 124, 125…Đến đây nó bỗng ngừng lại, không đếm nữa, rồi quay sang nói với tôi: “Bố ơi, con không dè trên trời lại có nhiều sao đến thế”. Nghe con gái nhận xét như vậy, tôi chợt nhớ là thỉnh thoảng tôi cũng âm thầm nói với Chúa: “Chúa ơi, để con thử đếm xem con đã nhận lãnh bao nhiêu ơn lành Chúa đã ban”, và càng đếm, trái tim tôi hình như càng cảm thấy thổn thức, không phải vì âu sầu mà vì bị quá nhiều hồng ân Chúa đè nặng. Rồi tôi cũng thường phải thốt lên như con gái tôi: “Lạy Chúa, con không dè đời con lại có quá nhiều hồng ân của Chúa đến thế”.

Hôm nay, mỗi người chúng ta hãy nhìn lại thời gian đã qua, nghĩ lại quá khứ cuộc đời mình và gia đình mình: có phải chúng ta đã lãnh nhận được rất nhiều ơn lành của Chúa mà rất ít khi chúng ta để ý cám ơn Chúa và tri ân Ngài không? Đó là một thiếu sót lớn lao đấy. Cuộc đời chúng ta lãnh nhận từ Thiên Chúa, từ mọi người thực là nhiều: từ một đồng bạc đến một sản nghiệp, từ một nụ cười đến một tình thương, từ một lời chào đến những lời an ủi, khích lệ, trao đổi, gặp gỡ… tất cả và bất cứ sự gì chúng ta lãnh nhận được đều là những viên gạch xây dựng đời chúng ta và gia đình chúng ta. Nên chúng ta phải luôn tạ ơn Chúa và cám ơn mọi người. Tạ ơn Chúa là chúng ta đem các ơn mình đã lãnh nhận được trình bày với Chúa, để rồi Chúa sẽ ban lại nhiều hơn, như người ta thường nói: “Một lần cám ơn là hai lần xin ơn”.

Xin Chúa cho chúng ta luôn biết sống trong tâm tình tạ ơn Chúa như thánh Phaolô đã khuyên bảo giáo dân Côlôsê: “Anh em hãy luôn sống trong tâm tình tạ ơn Chúa và biết ơn Chúa”. Đồng thời, chúng ta cũng phải luôn biết cám ơn mọi người, vì có thể nói, tất cả những người có liên hệ xa gần với chúng ta, đều là những ân nhân của chúng ta.

Nguồn: Sưu tầm

Đức Thánh Cha tiếp kiến Cộng đoàn Do thái ở Roma

Đức Thánh Cha tiếp kiến Cộng đoàn Do thái ở Roma

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng hôm 11 tháng 10-2013 dành cho các đại diện Cộng đoàn Do thái ở Roma, ĐTC tái khẳng định sự gần gũi của Giáo Hội Công Giáo và loại trừ mọi hình thức của trào lưu bài Do thái.

Trong phái đoàn 30 vị lãnh đạo Do thái, có Rabbi trưởng Riccardo Di Segni của thành Roma, các Rabbi khác cùng với các vị lãnh đạo các tổ chức Do thái. Buổi tiếp kiến diễn ra nhân dịp kỷ niệm 70 năm quân Đức Quốc Xã bố ráp khu vực của người Do thái ở Roma ngày 16-10 năm 1943 và bắt 2.091 người đưa họ tới các trại tiêu diệt ở Ba Lan và Đức.

Lên tiếng trong cuộc gặp gỡ, ĐTC nhắc đến 2 ngàn năm quan hệ giữa cộng đoàn Do thái với Công Giáo ở Roma với bao nhiêu thăng trầm, thiếu thông cảm, và nhiều khi có những bất công đích thực. Nhưng từ nhiều thập niên qua, quan hệ thân hữu và huynh đệ đã được phát triển.

ĐTC nói: ”Trong vài ngày nữa, chúng ta sẽ kỷ niệm 70 năm cuộc phát lưu người Do thái ở Roma. Chúng ta sẽ tưởng niệm và cầu nguyện cho bao nhiêu nạn nhân vô tội do sự man rợ do con người gây ra, cho gia đình họ. Đây cũng sẽ là dịp để luôn luôn duy trì sự chú ý tỉnh thức để khỏi tái diễn vì bất kỳ lý do nào những hình thức bất bao dung và bài Do thái ở Roma, cũng như các nơi khác trên thế giới. Trào lưu bài Do thái phải được loại trừ khỏi tâm hồn của đời sống của mỗi người nam nữ!”

ĐTC nói thêm rằng: ”Dịp kỷ niệm này cũng giúp chúng ta nhớ lại trong những giờ phút đen tối, cộng đoàn Kitô tại thành phố này đã biết giơ tay ra giúp người anh em đang gặp khó khăn. Chúng ta biết nhiều dòng tu, đan viện và chính các Vương cung thánh đường Giáo Hoàng, giải thích ý muốn của ĐGH, đã mở cửa đón nhận những anh chị em Do thái, và bao nhiêu tín hữu Kitô thường đã giúp đỡ nhiều ít, theo khả năng của họ”.

Theo ĐTC, ”nhiều tín hữu Kitô tuy không biết là cần phải cập nhật sự hiểu biết của Kitô giáo về Do thái giáo và có lẽ cũng ít biết về cộng đoàn Do thái, nhưng họ đã có can cảm làm điều đúng trong lúc đó, nghĩa là bảo vệ người anh em đang gặp nguy hiểm. Tôi muốn nhấn mạnh khía cạnh đó, vì tuy cần phải đào sâu từ cả hai phía về suy tư thần học qua cuộc đối thoại, nhưng một điều khác cũng đúng, đó là có một cuộc đối thoại trong cuộc sống, đối thoại bằng kinh nghiệm hằng ngày, là điều cũng không kém phần quan trọng. Nói đúng ra, nếu không có một nền văn hóa gặp gỡ đích thực và cụ thể, đưa tới những quan hệ chân chính, không thành kiến và ngờ vực, thì sự dấn thân trong lãnh vực trí thức sẽ chẳng hữu ích bao nhiêu.”

Và ĐTC kết luận rằng ”Tại Roma này tôi hy vọng sẽ góp phần vào sự gần gũi và tình thân hữu, như tôi đã được ơn thực hiện điều đó với cộng đoàn Do thái ở Buenos Aires. Trong số nhiều điều chúng ta có chung với nhau, có chứng tá về chân lý của 10 giới răn, như nền tảng vững chắc và là nguồn mạch sự sống cho xã hội chúng ta, một xã hội đang bị ngỡ ngàng lạc hướng vì chủ thuyết đa nguyên tột độ với những chọn lựa và đường hướng chịu ảnh hưởng của trào lưu duy tương đối, khiến cho người ta không còn những điểm tham chiếu vững chắc nữa” (Xc DGH Biển Đức 16, diễn văn tại Hội đường Do thái Roma 17-1-2010, 5-6). (SD 11-10-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

 

Chân Phước Angela thành Foligno được ghi vào sổ bộ các thánh

Chân Phước Angela thành Foligno được ghi vào sổ bộ các thánh

VATICAN. Hôm 11 tháng 10-2013, Bộ Phong Thánh đã thông báo quyết định của ĐTC ghi tên nữ chân phước Angela thành Foligno vào sổ bộ các thánh và đồng thời Bộ công bố các sắc lệnh liên quan đến án phong chân phước và hiển thánh.

Thông báo cho biết: ĐTC nới rộng việc tôn kính theo phụng vụ trong toàn thể Giáo Hội hoàn vũ Chân Phước Angela thành Foligno, thuộc dòng Ba Phanxicô tại thế, sinh tại thành Foligno khoảng năm 1248 và qua đời tại đó năm 1309, thọ 61 tuổi, và ghi tên Người vào sổ bộ các thánh. Điều này có nghĩa là chân phước Angela được phong hiển thánh mà không cần phải qua thủ tục thông thường.

Thánh nữ Angela đã được tôn kính ngay từ sau khi qua đời và cho đến nay vẫn được coi như vị thánh do dân tôn phong (vox populi). Ngài sinh trong một gia đình khá giả ở Foligno, trung Italia, không xa Assisi. Sau một cuộc đời tháo thứ, Angela hoán cải. Sau khi chồng con qua đời, Angela gia nhập dòng Ba Phanxicô tại thế và sống thời cầu nguyện khổ hạnh. Thánh nữ được nhiều thị kiến về Chúa Kitô và cuộc khổ nạn của Chúa. Ngài được Đức Clémente XI phong chân phước năm 1701.

Trong lịch sử Giáo Hội, cũng có một số vị được phong chân phước hoặc hiển thánh do sự sùng kính của dân chúng, mà không có sự can thiệp của Giáo Hội. Hồi tháng 10 năm 1982, Đức Gioan Phaolô 2 đã cho phép tôn kính chính thức Fra Angelico, LM họa sĩ nổi tiếng dòng Đa Minh Italia, như chân phước. Sau khi qua đời, cha đã được dân chúng gọi là ”Beato” (Chân phước) rồi.

Bộ Phong thánh công bố sắc lệnh nhìn nhận một phép lạ nhờ lời chuyển cầu của Nữ Tôi Tớ Chúa Maria Assunta Caterina Marchetti Đồng Sáng lập dòng các nữ tu thừa sai thánh Carlo, sinh tại Italia năm 1871 và qua đời tại Brazil năm 1948, thọ 87 tuổi.

Ngoài ra có 3 sắc lệnh nhìn nhận các nhân đức anh hùng của 3 vị Tôi Tớ Chúa: 2 vị người Italia và 1 vị người Canada: Elisabeth Turgeon, sáng lập dòng các nữ tu Thánh Mân Côi de Rimouski (SD 11-10-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Thông Điệp Của Đức Thánh Cha Phanxicô Nhân Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2013

Thông Điệp Của Đức Thánh Cha Phanxicô Nhân Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2013

Anh chị em thân mến,

Năm nay, chúng ta cử hành Ngày Truyền Giáo Thế Giới trong khi chuẩn bị kết thúc Năm Đức Tin. Đây quả là một cơ hội quan trọng để chúng ta thắt chặt hơn tình bằng hữu giữa chúng ta với Thiên Chúa và hành trình của chúng ta xét như một Giáo Hội truyền giảng Tin Mừng với lòng can đảm. Trong viễn cảnh này, tôi xin chia sẻ một vài suy tư của mình.

1. Đức tin là một tặng phẩm vô cùng quý giá của Thiên Chúa, giúp mở tâm trí chúng ta ra để hiểu biết và yêu mến Ngài. Ngài muốn đi vào trong tương quan với chúng ta để làm cho chúng ta thông dự vào sự sống của riêng Ngài và làm cho cuộc sống của chúng ta thêm ý nghĩa hơn, tốt hơn và tươi đẹp hơn. Thiên Chúa yêu thương chúng ta! Tuy nhiên, đức tin cần phải được đón nhận, nó cần lời đáp trả cá vị của chúng ta, sự can đảm tín thác hoàn toàn cho Chúa, sống tình yêu của Ngài và cảm tạ vì lòng nhân ái vô lượng của Ngài. Đó là một tặng phẩm, không phải dành cho một số ít người nhưng là dành cho tất cả với lòng quảng đại. Mọi người đều phải có thể cảm nghiệm được niềm vui vì được Thiên Chúa yêu thương, niềm vui ơn cứu độ! Đó là một tặng phẩm mà người ta không thể giữ cho riêng mình, nhưng phải được sẻ chia. Nếu chúng ta muốn giữ nó cho riêng mình, chúng ta sẽ trở thành những người Kitô hữu cô lập, cằn cỗi và ốm yếu. Rao giảng Tin Mừng là một phần của việc là môn đệ Đức Kitô và đó là một dấn thân liên lỉ làm sống động trọn vẹn đời sống trong Giáo Hội. “Tầm vươn xa của việc truyền giáo là dấu chỉ rõ ràng cho thấy mức độ trưởng thành của một cộng đoàn giáo hội” (BENEDICT XVI, Verbum Domini, 95). Mỗi cộng đoàn sẽ “trưởng thành” khi nó tuyên xưng đức tin, cử hành đức tin với niềm vui sướng trong phụng vụ, sống đức ái, rao giảng Lời Chúa một cách không ngừng nghỉ, rời bỏ chốn an toàn của mình để mang đức tin ấy đến những “vùng ngoại biên”, đặc biệt là đến với những ai chưa có cơ hội biết Đức Kitô. Sức mạnh của đức tin chúng ta, ở cấp độ cá nhân và cộng đoàn, có thể được đo lường bởi khả năng thông truyền đức tin ấy cho những người khác, khả năng lan tỏa và sống đức tin ấy trong tình bác ái, trong việc làm chứng cho nó trước những ai chúng ta gặp gỡ và những người cùng chia sẻ với chúng ta hành trình cuộc sống.

2. Năm mươi năm sau khi Công Đồng Vatican II bắt đầu, Năm Đức Tin thúc đẩy toàn thể Giáo Hội hướng tới một sự ý thức mới về sự hiện diện của nó trong thế giới đương đại và về sứ mạng của nó giữa muôn dân nước. Tinh thần truyền giáo không chỉ là vấn đề về những vùng lãnh thổ địa lý, nhưng còn về các dân tộc, nền văn hóa và các cá nhân, bởi vì “các ranh giới” của đức tin không chỉ vượt qua các nơi chốn và truyền thống con người, nhưng còn là con tim của mỗi người nam nữ. Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh cách đặc biệt đến việc nhiệm vụ truyền giáo, nhiệm vụ mở rộng các biên giới đức tin, thuộc về những người đã chịu phép rửa và tất cả cộng đoàn Kitô hữu như thế nào; vì “dân Chúa sống trong các cộng đoàn, đặc biệt là trong các giáo phận và giáo xứ, và cách nào đó đức tin trở nên hiển hiện trong họ, việc làm chứng cho Đức Kitô cho mọi dân nước là tùy thuộc vào họ” (Ad Gentes, 37). Vì thế, mỗi cộng đoàn được khuyến khích, và được mời gọi biến lời mời gọi của Đức Giê-su dành cho các Tông Đồ thành của mình, để trở thành “nhân chứng của Người ở Giêrusalem, qua miền Giuđêa và Samaria và đến tận cùng trái đất”(Cv 1:8) và điều này không phải là điều thứ yếu trong đời sống Kitô hữu của chúng ta, nhưng là điều chính yếu: tất cả chúng ta được mời gọi để bước đi trên mọi nẻo đường thế giới với các anh chị em của chúng ta, tuyên xưng và làm chứng cho đức tin vào Đức Kitô và biến chúng ta thành những sứ giả Tin Mừng. Tôi mời gọi các Giám Mục, Linh Mục, Hội Đồng Mục Vụ, các cá nhân và nhóm có trách nhiệm trong Giáo Hội hãy giữ một vị thế nổi bậc cho chiều kích truyền giáo này trong các chương trình mục vụ và huấn luyện, với một sự hiểu biết rằng dấn thân tông đồ của họ sẽ không hoàn thành trừ phi nó nhắm đến “việc làm chứng cho Đức Kitô trước muôn dân muôn nước.” Việc truyền giáo này không đơn thuần là một chiều kích mang tính chương trình trong đời sống Kitô hữu, nhưng nó còn là một chiều kích mang tính kiểu mẫu, ảnh hưởng đến toàn bộ các phương diện khác trong đời sống Ki-tô hữu.

3. Công việc loan báo tin mừng thường gặp phải những khó khăn, không chỉ bên ngoài, nhưng có khi nằm trong chính cộng đoàn giáo hội. Đôi khi chúng ta thiếu nhiệt thành, niềm vui, cam đảm và hy vọng trong việc rao giảng Thông Điệp của Đức Kitô cho tất cả mọi người và trong việc giúp đỡ con người trong thời đại chúng ta gặp gỡ Ngài. Đôi khi, vẫn còn có tư tưởng cho rằng rao giảng chân lý Tin Mừng là một xâm hại đến tự do. Đức Phaolô VI đã nói rất hùng hồn về điều này: “Sẽ là … một sai lầm khi áp đặt cái gì đó lên lương tâm của người anh chị em. Nhưng mang đến cho lương tâm của họ chân lý của Tin Mừng và ơn cứu độ trong Đức Giêsu Kitô, với một sự rõ ràng tuyệt đối và sự tôn trọng hoàn toàn chọn lựa tự do của họ… là một bằng chứng cho thấy sự tự do này.” (Evangelii Nuntiandi, 80). Chúng ta phải luôn luôn can đảm và vui mừng khi giúp người ta, với lòng tôn trọng, gặp gỡ Đức Kitô, và khi trở nên sứ giả của Tin Mừng. Đức Giêsu đến giữa chúng ta để cho chúng ta thấy con đường cứu độ và ngài giao phó cho chúng ta sứ mạng chiếu tỏa con đường ấy đến tật cùng thế giới. Thông thường, chúng ta vẫn hay thấy người ta nhấn mạnh và nói nhiều đến bạo lực, dối trá và sai phạm. Trong thời đại này của chúng ta, thật là cấp thiết để loan báo và làm chứng cho sự tốt đẹp của Tin Mừng, và chúng ta làm điều này trong lòng Giáo Hội. Bởi vì, về phương diện này, điều quan trọng là không bao giờ được quên một nguyên lý căn bản dành cho từng người đi rao giảng Tin Mừng: ta không thể rao giảng về Đức Kitô mà không có Giáo Hội. Công cuộc rao giảng Tin Mừng không phải là hành vi riêng lẽ hay mang tính cá nhân tách biệt; đó luôn luôn mang tính giáo hội. Đức Phaolo VI đã viết rằng, “khi một nhà giảng thuyết, giáo lý viên hay Linh Mục vô danh nào rao giảng Tin Mừng, quy tụ thành một cộng đoàn nhỏ với nhau, thông truyền đức tin cho nhau, cử hành một Bí Tích, dù là làm một mình, người ấy vẫn đang thực thi một hành vi mang tính giáo hội.” Người ấy cử hành “không bởi một sứ mạng mà người ấy dấn mình vào hay bởi một sự gợi hứng cá nhân nào, nhưng trong sự liên đới với sứ mạng của Giáo hội và nhân danh giáo hội.” (ibid. 60). Và chính điều này đã thêm sức cho sứ mạng và khiến cho mỗi thừa sai và người đi rao giảng Tin Mừng không bao giờ cảm thấy cô đơn, nhưng là một phần của Thân Thể độc nhất do Thánh Thần thúc đẩy.

4. Trong kỷ nguyên của chúng ta, sự lưu động rộng khắp và sự dễ dàng của việc truyền thông nhờ các phương tiện tân tiến đã nối kết con người, tri thức, kinh nghiệm lại với nhau. Vì lý do công việc, các gia đình phải di chuyển từ châu lục này đến châu lục khác; những trao đổi về chuyên môn và văn hóa, du lịch và các hiện tượng khác cũng đã dẫn đến những phong trào lớn của con người. Điều này đã gây ra những khó khăn, thậm chí cho các cộng đoàn giáo xứ, để biết người nào sống vĩnh cư hay tạm thời trong một khu vực. Ngoài ra, trong những lãnh địa rộng lớn đã một thời theo Công Giáo, số người trở nên xa lạ với đức tin hay thờ ơ với chiều kích tôn giáo hay bị những mê tín khác lôi kéo càng lúc càng gia tăng. Vì thế, rất thường khi một số người đã lãnh bí tích rửa tội có những chọn lựa cho lối sống của mình xa lạc với đức tin, khiến họ cần một “cuộc truyền giảng Tin Mừng mới”. Tất cả những vấn nạn này càng làm sáng tỏ một sự thật là có một bộ phận lớn trong cộng đồng nhân loại chưa nắm bắt được tin mừng của Đức Giêsu Kitô. Chúng ta cũng sống trong một thời đại khủng hoảng vốn đụng chạm đến các chiều kích khác nhau của sự hiện hữu, không chỉ về kinh tế, tài chính, an toàn thực phẩm, hay môi trường, nhưng còn cả những chiều kích liên quan đến ý nghĩa sâu xa của sự sống và những giá trị nền tảng tác động đến nó. Thậm chí, việc con người đồng hiện hữu cũng được đánh dấu bởi những căng thẳng và mâu thuẫn, gây ra những bất an và khó khăn trong việc tìm ra một con đường đúng đắn cho một nền hòa bình vững chắc. Trong hoàn cảnh phức tạp này, nơi mà phạm vi của hiện tại và của tương lai dường như đang trải qua những bóng đêm đe dọa, thật cần thiết biết bao để chúng ta rao giảng một cách can đảm và trong mọi tình huống Tin Mừng của Đức Kitô, một thông điệp của hy vọng, hòa giải, hiệp thông, và một cuộc loan truyền sự gần gũi của Thiên Chúa, lòng thương xót, ơn cứu độ của Người, và một cuộc rao giảng rằng quyền năng của tình yêu Thiên Chúa có thể vượt qua bóng đêm sự dữ và dẫn dắt chúng ta trên đường lành. Anh chị em trong thời đại chúng ta cần một ánh sáng chắc chắn soi chiếu đường đi của họ và ánh sáng ấy chỉ có được nhờ gặp gỡ được Đức Kitô. Chúng ta hãy mang đến cho thế giới, qua chứng tá của chúng ta, với lòng yêu mến, niềm hy vọng mà đức tin mang lại! Tinh thần truyền giáo của Giáo Hội không phải là lôi kéo người theo tôn giáo khác vào tôn giáo của mình, nhưng là chứng từ của một đời sống tỏa chiếu con đường ngập tràn hy vọng và tình yêu. Giáo Hội – tôi nhắc lại lần nữa – không phải là một tổ chức cứu trợ, không phải là một xí nghiệp, hay một tổ chức phi chính phủ, nhưng là một cộng đoàn những người được Thánh Thần gợi hứng, những người đã và đang sống kinh nghiệm tuyệt vời của việc gặp gỡ Đức Giêsu Kitô và muốn chia sẻ cho người khác kinh nghiệm vui mừng thẳm sâu này, là thông điệp cứu độ mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Chính Chúa Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội đi trên hành trình này.

5. Tôi khuyến khích mỗi người hãy trở thành một người mang tin mừng Đức Kitô và tôi đặc biệt tri ân các nhà truyền giáo, các linh mục sống tinh thần Fidei Donum, các tu sĩ nam nữ và giáo dân – rất đông – những người đã đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, rời bỏ quê hương của mình để phục vụ Tin Mừng trong những miền đất và văn hóa khác. Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng cũng cùng các Giáo Hội trẻ đó đang dấn thân cách quảng đại như thế nào trong việc sai gửi các nhà truyền giáo đến các Giáo Hội đang gặp khó khăn – thường là những Giáo Hội có truyền thống Kitô giáo lâu đời – và vì thế mang luôn cả sự tươi tắn và lòng nhiệt thành của đức tin mà họ đang sống, một đức tin có khả năng làm mới lại đời sống và trao ban hy vọng. Để có thể sống chiều kích phổ quát này, đáp lại lệnh truyền của Đức Giêsu: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thầy” (Mt 28:19) là một sự phong phú cho mỗi Giáo Hội địa phương, mỗi cộng đoàn, và việc gửi các thừa sai ra đi không bao giờ là một điều thua thiệt, nhưng là một mối lợi. Tôi mời gọi hết thảy những ai cảm nghiệm được lời mời gọi này hãy đáp lại tiếng nói của Chúa Thánh Thần cách quảng đại, tùy theo bậc sống của mình, và không ngại tỏ ra hào phóng với Thiên Chúa. Tôi cũng mời gọi các Giám Mục, gia đình công giáo, các cộng đoàn và toàn thể các nhóm Kitô, với sự nhận định cẩn thận và rộng lớn, hãy nâng đỡ các nhà truyền giáo gọi là ad gentes và trợ giúp các Giáo Hội đang cần các linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân, hầu có thể thắt chặt hơn cộng đoàn Kitô hữu. Và mối bận tâm này cũng cần phải có trong các Giáo Hội vốn là một phần của cùng một Hội Đồng Giám Mục và một Vùng, bởi vì thật là quan trọng khi những giáo hội giàu ơn gọi giúp đỡ cách rộng lượng hơn những giáo hội thiếu ơn goi.

Đồng thời, tôi cũng xin các nhà truyền giáo, đặc biệt là các linh mục sống theo Fidei Donum và giáo dân, hãy vui sống việc phục vụ quý giá của mình trong các giáo hội mà họ được sai đến và mang niềm vui cũng như kinh nghiệm của họ về những Giáo Hội quê hương của mình, hãy nhớ Phaolo và Banaba ở cuối hành trình truyền giáo thứ nhất của họ đã “tường thuật thế nào những điều Thiên Chúa đã cùng làm với họ và Ngài đã mở cánh cửa đức tin cho các dân ngoại như thế nào” (Cv 14:27). Họ có thể trở thành con đường cho một loại “quay trở lại” của đức tin, mang sự tươi tắn của các Giáo Hội trẻ đến với các Giáo Hội có truyền thống Ki-tô giáo lâu đời, và nhờ đó giúp họ tái khám phá ra sự nhiệt thành và niềm vui của việc san sẻ đức tin trong một cuộc trao đổi làm phong phú cho nhau trên hành trình theo Chúa.

Mối bận tâm dành cho tất cả các giáo hội mà Giám Mục Rôma chia sẻ với anh em Giám Mục của mình tìm thấy một sự diễn tả quan trọng trong hoạt động của Hội Đồng Truyền Giáo Giáo Hoàng (Pontifical Mission Societies), một cơ quan nhằm thúc đẩy và đào sâu ý thức truyền giáo của mỗi người Ki-tô hữu đã được rửa tội, và mỗi cộng đoàn, bằng việc nhắc nhở họ nhớ đến nhu cầu đào luyện việc truyền giáo một cách sâu sắc hơn cho toàn thể Dân Chúa và bằng việc khuyến khích các cộng đoàn Ki-tô hữu đóng góp cho việc lan toàn Tin Mừng trên thế giới.

Cuối cùng, tôi muốn diễn ra một suy nghĩ về các Kitô hữu, những người sinh sống trên khắp mọi miền của thế giới, đang trải nghiệm những khó khăn trong việc tuyên xưng cách công khai niềm tin và trong việc hưởng các năng quyền pháp lý để có thể tuyên xưng đức tin của mình. Họ là những anh chị em của chúng ta, những chứng nhân can trường – thậm chí còn đông hơn các vị tử đạo trong các thế kỷ đầu – họ là những người đang chịu đựng nhiều hình thức bách đạo đương đại với một sự ngoan cường mang tính tông đồ. Một số người đã liều mình quyết giữ lòng trung tín với Tin Mừng của Đức Kitô. Tôi thành thực xác quyết lại lần nữa sự gần gũi của tôi trong lời cầu nguyện đối với các cá nhân, gia đình và cộng đoàn đang phải chịu đựng những bạo lực và thù hằn, và tôi lặp lại với họ những lời an ủi của Đức Giêsu: “Hãy can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16:33)

Đức Biển Đức XVI đã diễn tả niềm hy vọng rằng: “Lời Chúa sẽ lan tỏa nhanh chóng và được tôn vinh khắp nơi” (2 Tx 3:1). Ước gì năm đức tin này không ngừng gia tăng mối tương quan giữa chúng ta với Đức Chúa Giê-su Ki-tô, vì chỉ trong Người, ta mới có được một sự chắc chắn để nhìn về tương lai và một đảm bảo của tình yêu chân thực và kéo dài mãi” (Porta fidei, 15). Đây là mong ước của tôi cho Ngày Truyền Giáo Thế Giới năm nay. Tôi ưu ái ban phép lành cho các nhà truyền giáo và tất cả những ai đồng hành và nâng đỡ công cuộc dấn thân nền tảng này của Giáo Hội trong việc rao giảng Tin Mừng cho khắp mọi người ở tận cùng trái đất. Nhờ đó, chúng ta, xét như những thừa tác viên và nhà truyền giáo của Tin Mừng, cảm nghiệm được “niềm vui dịu ngọt và an ủi của việc loan báo tin mừng” (PAUL VI, Evangelii Nuntiandi, 80)
Từ Vatican, 19.5.2013, Lễ Trọng Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

Phanxicô, Giáo Hoàng

Chuyển ngữ: Phêrô Lê Hoàng Nam, SJ

LM Lý được giải thưởng ‘Truman-Reagan Medal of Freedom”

LM Lý được giải thưởng 'Truman-Reagan Medal of Freedom”

WASHINGTON DC (NV) .- Sáng hội Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản trên thế giới vinh danh và trao giải thưởng năm nay cho linh mục Nguyễn Văn Lý hiện đang bị tù tại Việt Nam.

Linh mục Nguyễn Văn Lý bị một Công an CSVN bịt miệng khi ngài lên tiếng đả kích Cộng Sản tại phiên tòa ở Huế ngày 30/3/2007. Tấm hình này được coi như biểu tượng của sự vi phạm nhân quyền tại Việt Nam. (Hình: AFP/Getty Images)

Theo nguồn tin từ Hoa Thịnh Đốn, Sáng Hội Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản (Victims of Communism Memorial Foundation) vừa quyết định vinh danh và trao huy chương  “Truman-Reagan Medal of Freedom” năm nay cho linh mục Nguyễn Văn Lý vì đã đấu tranh không ngừng nghỉ cho nhân quyền, tự do tôn giáo, bất chấp tù tội, nguy hiểm bản thân nên đã bị nhà cầm quyền CSVN kết án tù.

Giải thưởng và huy chương “Truman-Reagan Medal of Freedom” dành cho linh mục Nguyễn Văn Lý sẽ được tổ chức trao tặng tại Hoa Thịnh Đốn vào ngày 1/11/2013 tới đây.

Linh mục Nguyễn Văn Lý, 67 tuổi, đã bị nhà cầm quyền Việt Nam bỏ tù 3 lần mà thời gian ở tù tổng cộng đã gần 20 năm, chưa kể các năm tháng bị quản chế. Hiện ông đang bị giam giữ ở nhà tù Ba Sao tỉnh Nam Hà với bản án 8 năm với cáo buộc “Tuyên truyền chống nhà nước”.

Dù đã bị tai biến mạch máu ít nhất 3 lần trong nhà tù, nhiều lúc không thể tự di chuyển đi đứng và gần với cái chết, ông vẫn không được nhà cầm quyền CSVN trả tự do dù có sự vận động mạnh mẽ của các chính phủ và quốc hội các nước Tây phương, đặc biệt là Hoa Kỳ.

Linh mục Lý đã tố cáo nhà cầm quyền CSVN thi hành các chính sách cai trị ngược lại với những cam kết quốc tế về nhân quyền, đòi chế độ trả lại cho nhân dân các quyền tự do căn bản như quyền tự do báo chí, tự do phát biểu, tự do hội họp lập hội, tự do tôn giáo, tuy có ghi trong bản hiến pháp của chế độ nhưng bị hạn chế nghiêm ngặt trong thực tế. 

Linh mục Nguyễn Văn Lý là một trong những người sáng lập Khối 8406, một tổ chức công dân vận động dân chủ hóa đất nước, đòi CSVN bỏ điều 4 hiến pháp dành độc quyền cai trị cho đảng Cộng Sản và đòi bầu cử quốc hội trực tiếp, tự do ứng cử và bầu cử.

 

Tượng nữ thần Dân Chủ tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn, nhắc nhở mọi người về hơn 100 triệu nạn nhân bị Cộng Sản sát hại khắp trên thế giới. (Hình: Wikipedia)


Bất cứ người dân nào đi ra ngoài khuôn khổ của nhà cầm quyền độc tài tại Việt Nam, đều bị bắt bỏ tù dựa trên những điều luật hình sự mơ hồ. Khi còn là quản xứ họ đạo An Truyền gần thành phố Huế, linh mục Lý đã cùng giáo dân treo biểu ngữ “Tự do tôn giáo hay là chết” quanh nhà thờ.

Sáng hội Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản có cựu tổng thống George W. Bush là chủ tịch danh dự.

Sáng Hội Tưởng Niệm Nạn Nhân Cộng Sản là một tổ chức vô vị lợi mang tính giáo dục ở Hoa Kỳ. Tổ chức được thành lập theo một đạo luật năm 1993 với mục đích tưởng niệm hơn 100 triệu nạn nhân đã bị Cộng Sản sát hại trên thế giới.

Linh mục Nguyễn Văn Lý từng được nhiều vị dân cử tại Hoa kỳ và quốc hội Liên Âu đề cử giải thưởng Nobel Hòa Bình. (TN).

Nguồn: Người Việt

Đức Giáo Hoàng tiếp kiến chung: Giáo Hội là Công Giáo theo nghĩa nào?

Đức Giáo Hoàng tiếp kiến chung: Giáo Hội là Công Giáo theo nghĩa nào?

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến chung 80 ngàn tín hữu hành hương sáng ngày 9-10-2013, ĐTC Phanxicô đã giải thích về đặc tính ”Công Giáo” của Giáo Hội.

Quảng trường Thánh Phêrô như ”một rừng” các ô dù nhiều màu, tràn ra tới nửa đường Hòa Giải. Tuy trời mưa, ĐTC vẫn dành 40 phút đi xe jeep mui trần màu trắng, tiến qua các lối đi ở Quảng trường để chào thăm các tín hữu.

Trong số đông đảo các GM hiện diện cũng có nhiều GM đến từ hai nước Ethiopia và Eritrea bên Phi châu. Trước đó, các vị đã cùng với ĐHY Leoardo Sandri, Tổng trưởng Bộ các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, cử hành thánh lễ trước mộ thánh Phêrô Tông Đồ để cầu nguyện cho các thuyền nhân bị thiệt mạng trong vụ vượt biên hôm 3-10 vừa qua gần đảo Lampedusa, cực nam Italia, trong đó có đông đảo người Ethiopie và Eritrea.

Sau phần tôn vinh lời Chúa, ĐTC đã bắt đầu bài giáo lý về đề tài: ”Giáo Hội Công Giáo”, qua đó ngài xác định Giáo Hội là Công Giáo theo nghĩa nào, và ngài cổ võ các tín hữu tăng cường tình hiệp thông và tích cực tham gia vào đời sống của Giáo Hội.

Bài giáo lý của ĐTC

Anh chị em thân mến, chào anh chị em.. Nhưng tôi thấy rằng hôm nay, một ngày trời xấu, anh chị em thật can đảm, tôi khen anh chị em!

”Tôi tin Giáo Hội duy nhất, thánh thiện, Công Giáo…”. Hôm nay chúng ta dừng lại để suy tư về đặc tính này của Giáo Hội: đặc tính Công Giáo. Trước tiên, Công Giáo có nghĩa là gì? Thưa nó xuất phát từ tiếng Hy Lạp ”kathòlón” có nghĩa là ”theo tất cả”, toàn thể. Vậy đặc tính toàn thể này được áp dụng cho Giáo Hội theo nghĩa nào? Theo nghĩa nào chúng ta nói Giáo Hội là Công Giáo? Tôi muốn trình bày trong 3 ý nghĩa cơ bản.

1. Trước hết. Giáo Hội là Công Giáo vì là không gian, là căn nhà trong đó toàn thể đức tin được loan báo cho chúng ta, trong đó ơn cứu độ mà Chúa Kitô mang đến cho chúng ta, được trao tặng cho mọi người, Giáo Hội làm cho chúng ta gặp gỡ lòng từ bi của Thiên Chúa Đấng biến đổi chúng ta vì trong Giáo Hội có Chúa Giêsu Kitô hiện diện, Ngài ban cho Giáo Hội được tuyên xưng đức tin chân thực, được cuộc sống sung mãn nhờ các bí tích, thừa tác vụ thánh chức chân chính. Trong Giáo Hội mỗi người chúng ta tìm được những gì cần thiết để tin, để sống như Kitô hữu, để nên thánh, để tiến bước trong mọi nơi và mọi thời.

Như một ví dụ, chúng ta có thể nói rằng giống như trong đời sống gia đình: trong gia đình mỗi người chúng ta nhận được tất cả những gì giúp chúng ta lớn lên, trưởng thành và sống. Ta không thể tự tăng trưởng một mình, không thể tự mình bước đi, tự cô lập, nhưng tiến bước và tăng trưởng trong một cộng đoàn, trong một gia đình. Trong Giáo Hội chúng ta có thể nghe Lời Chúa, tin chắn rằng sứ điệp mà Chúa ban cho chúng ta, trong Giáo Hội chúng ta có thể gặp Chúa trong các bí tích là những cánh cửa mở rộng qua đó ánh sáng Chúa Kitô chiếu dọi cho chúng ta, những dòng suối từ đó chúng ta kín múc chính sự sống của Thiên Chúa; trong Giáo Hội chúng ta học cách sống tình hiệp thông, tình thương đến từ Thiên Chúa. Hôm nay mỗi người chúng ta có thể tự hỏi: tôi sống thể nào trong Giáo Hội? Khi tôi đi nhà thờ, có giống như tôi đi xem xinê, đi dự một cuộc đấu bóng hay không? Không, không phải vậy! Vậy tôi đi nhà thờ thế nào? Tôi đón nhận thế nào những hồng ân được trao tặng cho tôi, để lớn lên và trưởng thành như Kitô hữu? Tôi có tham dự vào đời sống cộng đoàn hoặc là tôi khép kín trong những vấn đề của tôi, cô lập với người khác? Theo nghĩa đầu tiên này, Giáo Hội là Công Giáo vì là nhà của tất cả mọi người: tất cả đều là con của Giáo Hội và tất cả ở trong nhà này.

2. Ý nghĩa thứ hai: Giáo Hội là Công Giáo vì là phổ quát, và Giáo Hội xuất hiện ở mọi nơi trên thế giới, loan báo Tin Mừng cho mỗi người nam nữ. Giáo Hội không phải là một nhóm những người ưu tú, không phải chỉ liên quan đến vài người. Giáo Hội không bị khép kín, Giáo Hội được gửi tới tất cả mọi người, tới toàn thể nhân loại. Và Giáo Hội duy nhất hiện diện cả trong những phần bé nhỏ nhất của Hội Thánh. Mỗi người có thể nói rằng trong giáo xứ của tôi có Giáo Hội Công Giáo hiện diện, vì giáo xứ của tôi cũng là thành phần của Giáo Hội hoàn vũ, cả giáo xứ này cũng có đầy đủ các hồng ân của Chúa Kitô, đức tin, các bí tích, thừa tác vụ, hiệp thông với ĐGM, Đức Giáo Hoàng và, cởi mở đối với tất cả mọi người, không phân biệt ai. Giáo Hội không phải chỉ ở dưới bóng tháp chuông của chúng ta, nhưng ôm lấy tất cả mọi người, mọi dân tộc tuyên xưng cùng một niềm tin, được nuôi dưỡng bằng cùng bí tích Thánh Thế, được các mục tử phục vụ. Cảm thấy mình được hiệp thông với tất cả các Giáo Hội, với tất cả các cộng đoàn Công Giáo lớn nhỏ trên thế giới! và rồi cảm thấy rằng tất cả mọi người đều ở trong sứ mạng, các cộng đoàn lớn nhỏ, tất cả chúng ta phải mở cửa để ra ngoài loan báo Tin Mừng. Vì thế chúng ta hãy tự hỏi: tôi đang làm gì để thông truyền cho tha nhân niềm vui được gặp gỡ Chúa, niềm vui được thuộc về Giáo Hội? Loan báo và làm chứng đức tin không phải là công việc của vài người, nhưng cũgn liên hệ đến tôi, đến anh chị em, đến mỗi người chúng ta!

3. Tư tưởng thứ ba và sau cùng: Giáo Hội là Công Giáo vì là ”Nhà của sự hòa hợp” trong đó sự hiệp nhất và khác biệt liên kết với nhau để trở thành một sự phong phú. Chúng ta hãy nghĩ đến hình ảnh một bản hợp ca, nghĩa là một sự đồng thuận và hòa hợp, các nhạc khí khác nhau cùng được đánh lên, mỗi nhạc khí giữ nguyên sắc thái riêng của mình và những đặc tính âm thanh riêng, nhưng hòa hợp với nhau về một cái gì chung. Rồi có người nhạc trưởng hướng dẫn. Trong bản hợp ca các sắc thái riêng của mỗi nhạc khí không bị xóa bỏ, đặc tính riêng của mỗi nhạc khí được đề cao giá trị tối đa!

Đó là một hình ảnh thật đẹp nói với chúng ta rằng Giáo Hội giống như một ban đại hợp xướng, trong đó có sự khác biệt: không phải tất cả chúng ta đều giống nhau, và chúng ta không thể giống nhau như vậy. Tất cả chúng ta khác nhau, mỗi người với những phẩm tính riêng, và đây là điều đẹp đẽ của Giáo Hội: mỗi người mang những gì Chúa ban, để làm cho tha nhân được phong phú. Giữa các phần tử của Giáo Hội, có những sắc thái khác nhau giữa các thành phần, nhưng không xung đột với nhau, không đối nghịch nhau; đó là một sự khác biệt để cho mình trở thành một sự hòa hợp nhờ Thánh Linh; chính Chúa là Ca trưởng đích thực, chính Ngài là sự hòa hợp. Và ở đây chúng ta tự hỏi: chúng ta có sống sự hòa hợp trong các cộng đoàn chúng ta hay không hay là chúng ta cãi nhau? Trong giáo xứ của tôi, trong phong trào của tôi, có những vụ nói xấu nhau không? Nếu có như thế thì không có sự hòa hợp, có sự đấu tranh, và như thế không phải là Giáo Hội: Giáo Hội là sự hòa hợp tất cả mọi người. Không bao giờ nói hành nói xấu nhau, không bao giờ cãi nhau. Chúng ta có chấp nhận người khác, chúng nhận có một sự khác biệt chính đáng hoặc chúng ta có xu hướng đồng nhất hóa? Sự đồng nhất hủy hoại sự sống, sự sống của Giáo Hội là sự khác biệt, và khi chúng ta muốn áp đặt sự đồng nhất cho tất cả mọi người, chúng ta giết chết các hồng ân của Chúa Thánh Linh. Chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Linh là tác giả sự hiệp nhất trong sự khác biệt làm cho chúng ta ngày càng ”Công Giáo” hơn, nghĩa là ở trong Giáo Hội Công Giáo và hoàn vũ!

Chào thăm các đoàn tín hữu

Sau bài giáo lý trên đây, các giám chức tại Tòa Thánh đã lần lượt tóm tắt ý chính bài huấn giáo của ĐTC, cũng như dịch những lời chào của ngài từ tiếng Ý sang các ngôn ngữ chính.

Với các tín hữu nói tiếng Pháp, ĐTC đặc biệt chào thăm các GM thuộc HĐGM miền Bắc Phi và khích lệ các vị hãy củng cố các quan hệ huynh đệ với những người Hồi giáo. Và với tất cả mọi người, ngài nói: 'Anh chị em đừng sợ cầu xin Chúa Thánh Linh, xin Chúa làm cho mỗi ngừơi trở thành một người hiệp thông, luôn sẵn sàng hân hoan loan báo cho mọi người và mọi nơi, Tin Mừng cứu độ!”.

Với các tín hữu nói tiếng Đức, ĐTC chào thăm các bạn hữu của Học Viện Đức và Hungari đến Roma thể tham dự lễ truyền chức LM và phó tế, cũng như các tham dự viên tuần lễ giới thiệu đoàn Vệ Binh Thụy Sĩ.

Ngỏ lời với các tín hữu nói tiếng Arập, ngài nhắc lại biến cố cách đây 1 năm, ngài 10-10 năm 2012, sau cuộc viếng thăm tại Liban và trao Tông Huán ”Giáo Hội tại Trung Đông: hiệp thông và chứng tá”, ĐGH Biển Đức 16 đã du nhập tiếng Arập trong các buổi tiếp kiến chung hằng tuần, như các Nghị Phụ thỉnh cầu, để biểu lộ với tất cả các tín hữu Kitô ở Trung Đông sự gần gũi của Giáo Hội Công Giáo với các con cái Đông Phương. Hôm nay khi nói về câu ”Tôi tin Giáo Hội Công Giáo”, tôi xin anh chị em cầu nguyện cho hòa bình ở Trung Đông: tại Siria, Irak, Ai Cập, tại Liban và Thánh Địa, nơi vị Vua Hòa Bình, Chúa Giêsu Kitô đã sinh ra. Chúng ta hãy cầu nguyện để ánh sáng Chúa Kitô đi tới tâm hồn mỗi người và mọi nơi, cho đến tận bờ cõi trái đất.

Sau cùng, khi chào các tín hữu nói tiếng Ý, ĐTC chào thăm cách riêng các GM thuộc Giáo Hội Công Giáo theo truyền thống Alessandria ở Ethiopia và Eritrea. Tôi đặc biệt gần gũi các vị trong kinh nguyện và trong đau buồn vì bao nhiêu người con của phần đất này đã bỏ mình trong thảm trạng ở Lampedusa.

ĐTC đã kết thúc buổi tiếp kiến với kinh Lạy Cha và Phép lành Tòa Thánh ban cho mọi người.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Giải Tự Do Tôn Giáo Nguyễn Kim Điền 2013

Giải Tự Do Tôn Giáo Nguyễn Kim Điền 2013

Vào trưa Chủ Nhật, ngày 6-10-2013, một buổi lễ vinh danh và trao tặng "Giải Tự Do Tôn Giáo Nguyễn Kim Điền 2013" cho nhà báo J.B. Nguyễn Hữu Vinh và Mục Sư Phạm Ngọc Thạch, tại thành phố Houston, do Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại tổ chức.

Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại thành lập vào năm 1992 tại Rome, nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của người Công giáo Việt Nam tị nạn Cộng sản tại hải ngoại. Đến năm 2010, phong trào thiết lập Giải Tự Do Tôn Giáo (TDTG) Nguyễn Kim Điền, để hỗ trợ và vinh danh những cá nhân hay tổ chức đã đóng góp tích cực vào việc tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam. Lần đầu tiên, Giải TDTG-Nguyễn Kim Điền vinh danh Tu viện và Dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà. Năm kế tiếp, 2011, tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo Nguyễn văn Lía và Linh mục Nguyễn hữu Giải, thuộc Tổng giáo phận Huế, được chọn để trao giải này. Sang đến năm 2012, ông Võ văn Thanh Liêm, cũng là tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và Giáo điểm Con Cuông thuộc giáo phận Vinh được vinh danh.

Ông Đỗ Như Điện, đại diện Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại, giải thích rằng những cá nhân và đoàn thể được chọn để trao giải Tự Do Tôn Giáo Nguyễn Kim Điền là những người đã vì tranh đấu cho tự do tôn giáo mà bị nhà nước Việt Nam đối xử không công bằng:

"Những người được chọn là những người đã từng vào tù ra khám. Đã bị hành hạ, hành hạ về thân xác, về gia đình, về thể lực. Tất cả những gì họ (nhà nước) có thể đổ lên đầu những người đó là họ làm. Do đó chúng tôi thấy cần phải vinh danh những người đã can trường để tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo trong nước."

RFA_TDTonGiao2-305.jpg

Năm nay, Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại chọn Mục Sư Phạm Ngọc Thạch và blogger J.B. Nguyễn Hữu Vinh để trao giải TDTG-Nguyễn Kim Điền. Trong thông báo gửi báo chí, ban tổ chức cho biết:

Nhà báo JB Nguyễn Hữu Vinh đã kiên cường tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo tại Việt Nam trên nhiều hình thức, đặc biệt trên mặt truyền thông. Ông đã bị đánh trọng thương trong vụ Cộng sản Việt Nam triệt hạ thánh giá tại Đồng Chiêm và liên tục bị khủng bố, hạch sách, bao vây kinh tế nhưng vẫn hiên ngang xông xáo, không lùi bước.

Mục Sư Phạm Ngọc Thạch đã bị bắt bớ, đánh đập, vào tù, đuổi nhà và đang trở thành kẻ vô gia cư trên chính quê hương Việt Nam, nên ông coi giang sơn đất nước là nhà, và vẫn kiên cường tiếp tục sứ mạng rao giảng sự thật, và tranh đấu cho tự do tôn giáo, nhân quyền cho đồng bào Việt Nam.

Mục sư Phạm Ngọc Thạch và blogger Nguyễn Hữu Vinh không đến được Hoa Kỳ để nhận giải thưởng nhưng đã cử người đại diện nhận thay cho mình.  Trong dịp này, qua điện thoại, Mục Sư Phạm Ngọc Thạch đã phát biểu cảm tưởng cũng như lời cảm ơn ban tổ chức và đồng hương tham dự:

"Khi nhận được tin tôi được chọn là người trúng giải Tự Do Tôn Giáo Nguyễn Kim Điền năm nay, tôi hết sức bỡ ngỡ, sung sướng lẫn hãnh diện nhưng đồng thời lại cảm thấy vô cùng ái ngại khi được Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại đánh giá cao việc đấu tranh cho tự do tôn giáo của tôi. Tôi ái ngại vì nghĩ rằng có nhiều người đấu tranh hơn tôi, xứng đáng lãnh giải này hơn tôi.

Tôi hy vọng tất cả những người đấu tranh can trường đó cũng sẽ được vinh danh trong tương lai. Vì thế, khi lãnh nhận sự vinh danh lẫn giải thưởng ngày hôm nay, tôi muốn nhận lãnh với tư cách đại diện cho tất cả những người đấu tranh cho tự do tôn giáo nói riêng và cho những người đang đấu tranh cho tự do, dân chủ, nhân quyền ở trong nước, nói chung, chứ không phải chỉ nhận lãnh cho riêng tôi… Trước khi dứt lời, tôi ước nguyện tất cả chúng ta, dù ở bất cứ đâu, cũng đều đoàn kết đấu tranh không mệt mỏi cho quê hương Việt Nam thoát khỏi chế độ độc tài cộng sản để được thanh bình, tự do và hạnh phúc."

Và ông Phạm Hồng Lam, thay mặt blogger JB Nguyễn Hữu Vinh, đọc điện thư của nhà báo này, gửi đến từ Việt Nam.

"… Thật khó nói hết được sự xúc động khi tôi được Phong Trào Giáo Dân Hải Ngoại chọn vinh danh trao tặng giải thưởng Tự Do Tôn Giáo Nguyễn Kim Điền 2013, cùng với mục sư Phạm Ngọc Thạch. Vinh dự này đối với tôi là một phần thưởng lớn lao. Đây là điều tôi chưa bao giờ nghĩ tới, kể từ khi bắt đầu cất tiếng nói nhỏ bé của mình cho quyền cơ bản nhất của con người, đó là quyền tự do tôn giáo, quyền được làm người có niềm tin, trong một đất nước độc tài, theo chủ nghĩa Cộng sản vô thần. Đây không phải chỉ là vinh dự riêng của cá nhân tôi mà là nguồn cổ vũ, động viên tất cả anh chị em cùng có chung nguyện ước, chung ý chí và hành động, chung một tấm lòng muốn cho đất nước, người dân, được tự do, ấm no hạnh phúc…"

Hiện diện trong buổi vinh danh và trao giải Tự Do Tôn giáo Nguyễn Kim Điền 2013, nha sĩ Chu Văn Cương, chủ tịch Tổ chức Phục Hưng Việt Nam, chia sẻ là ông rất tâm đắc với việc làm của Phong Trào Giáo Dân Việt Nam Hải Ngoại.

"Biết về Phong Trào Giáo Dân, tìm hiểu được cương lĩnh của Phong Trào Giáo dân, chúng tôi rất tâm đắc vì chúng tôi nhận thấy rằng tín đồ của các tôn giáo, nếu chỉ đấu tranh cho tôn giáo mà không nghĩ đến đất nước Việt Nam là một sự thiếu sót rất lớn. Chúng tôi nhận thấy được rằng, ngoài đời sống tâm linh, những sự nghiên cứu về siêu nhân, về đạo … và những công tác thường làm của một tín đồ là công tác từ thiện, bác ái, xã hội …thì Phong trào Giáo dân còn đặt rất nặng về vấn đề chính trị."

Xin mượn lời phát biểu của cư sĩ Nguyễn Anh Dũng trong buổi vinh danh và trao giải Tự Do Tôn Giáo Nguyễn Kim Điền 2013, để kết thúc phóng sự này:

"Đất nước Việt Nam được diễm phúc có được đức cố TGM Nguyễn Kim Điền là một công dân yêu nước. Giáo Hội có một đức TGM, vì phúc âm mang đến quyền lợi cho đồng bào, cho dân tộc Việt Nam. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, phong trào giáo dân đã đi song hành với đất nước, và thực tế là giải nhân quyền. Nhà báo Nguyễn hữu Vinh đã dùng ngòi bút của mình, những ngòi bút mềm trở thành những ngòi bút sắt, viết lên sự thật; sự đau khổ của đất nước, viết lên sự thật; sự tàn ác của cộng sản Việt Nam. Và chúng ta, 90 triệu dân trong và ngoài nước, hãy đồng hành với nhà báo Nguyễn Hữu Vinh, là những cây bút sắt, 90 triệu cây bút, viết lên sự tàn ác của CSVN."

Hiền Vy, thông tín viên RFA