CÁC SỨ ĐIỆP CỦA GIOAN TIỀN HÔ

CÁC SỨ ĐIỆP CỦA GIOAN TIỀN HÔ

Các nước đang phát triển có hướng đô thị hóa rất mạnh. Dân quê bỏ đồng ruộng ra thành thị. Chính phủ lo đô thị hóa nông thôn. Càng phát triển, người ta càng có khuynh hướng tiêu thụ rất mạnh: ăn sang, mặc đẹp. Vậy mà Phúc Âm hôm nay đưa ra hình ảnh thánh Gioan Tiền Hô, một người sống trong sa mạc, ăn châu chấu, uống mật ong rừng, mặc áo da thú. Phải chăng là Phúc Âm đã lỗi thời, đi ngược với đà tiến hóa của nhân loại?

Để trả lời cho vấn nạn này, trước hết ta hãy cùng nhau đào sâu những sứ điệp Phúc Âm được nhắn gửi qua đời sống của thánh Gioan Tiền Hô. Thánh Gioan Tiền Hô tự nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Đây không phải là một tiếng kêu vô hồn vô nghĩa. Nhưng là tiếng kêu có nội dung, là những sứ điệp gửi đến loài người.

1) Sứ điệp thứ nhất mà thánh Gioan Tiền Hô muốn nhắn gửi ta, đó là: hãy vào sa mạc.

Vào sa mạc là sống với thiên nhiên, sống hòa hợp với đất trời, bảo vệ cây cỏ, dã thú. Trong nền văn minh tiêu thụ hiện nay, người ta khai thác tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên mà không nghĩ đến tái tạo. Thiên nhiên đang bị hủy diệt, rừng xanh đang lâm nguy, súc vật đang kêu cứu. Trong bối cảnh ấy, sứ điệp của thánh Gioan Tiền Hô có giá trị như một thức tỉnh con người trước sức tàn phá của nền văn minh tiêu thụ.

Vào sa mạc là tìm nơi yên tĩnh mà nghỉ ngơi. Vì các đô thị lớn đã hoàn toàn bị ô nhiễm: ô nhiễm vì tiếng động, ô nhiễm vì khói xăng, ô nhiễm vì rác rưởi, ô nhiễm vì bụi bặm.

Thế nhưng sứ điệp của thánh Gioan Tiền Hô vượt lên trên những nhu cầu của xã hội, của sức khỏe để nhắm vào đời sống tâm linh con người. Nhịp sinh hoạt trong xã hội công nghiệp càng ngày càng tăng tốc độ. Con người luôn luôn vội vã đuổi theo công việc. Vì thế dễ rơi vào tình trạng sống hời hợt bề mặt. Không có thời giờ lắng xuống bề sâu. Vào sa mạc tâm linh, tức là tạo cho mình một thời gian và một không gian yên tĩnh. Dứt lìa những bận bịu lo toan trong cuộc sống để trở về với mình, đối diện với lòng mình.

Sa mạc không có đường đi. Nên người đi vào sa mạc sẽ đi theo con đường Chúa chỉ dẫn. Như xưa dân Do Thái lang thang 40 năm trong sa mạc, không biết đường đi, chỉ biết đi theo áng mây cột lửa nên đã tìm thấy đường đi về với Chúa, đã gặp được Chúa, đã thành dân của Chúa. Như tiên tri Êlia chạy trốn trong sa mạc đã chẳng tìm được đường thoát thân. Nhưng đã được Chúa chỉ cho con đường hy vọng. Như Chúa Giêsu ăn chay cầu nguyện 40 đêm ngày, nên đã tìm thấy con đường của Chúa Cha là hy sinh, khiêm nhường, sống trọn tình con thảo.

Cũng vậy, người vào sa mạc tâm linh sẽ gặp mình và trong sâu thẳm lòng mình sẽ gặp được Chúa. Vì Chúa còn thân thiết với ta hơn chính bản thân ta. Vì Chúa còn sâu xa hơn chính nội tâm ta.

2) Sứ điệp thứ hai mà thánh Gioan Tiền Hô muốn nhắn gửi ta, đó là: hãy sống khổ hạnh.

Ta tưởng sống khổ hạnh đã đi vào quá khứ. Thực ra các nước văn minh đang đi vào con đường của thánh Gioan Tiền Hô. Một trong các vấn đề lớn của người phương tây hiện nay là giữ sao cho khỏi lên cân, để khỏi bị cholesterol, để khỏi bị chứng bệnh xơ cứng động mạch, để ngăn chặn bệnh tiểu đường, để khỏi bị mỡ bao tim, người ta đã phải kiêng ăn, bớt uống.

Ăn uống đơn sơ đạm bạc không những có lợi cho sức khỏe mà còn giúp ta tiết kiệm để chia sớt với những vùng thiếu ăn, thiếu mặc. Nhưng vượt lên trên tất cả sức khỏe thân xác lẫn đạo đức liên đới xã hội, nếp sống khổ hạnh trước hết và trên hết nhắm phục vụ đời sống tâm linh. Ăn uống là nhu cầu căn bản của con người. Nó thuộc về bản năng sinh tồn. Ăn uống đứng đầu các khoái lạc. Khi làm chủ được ăn uống, người khổ hạnh cũng dễ tiến tới làm chủ được bản thân. Chế ngự được bản năng ăn uống, ta sẽ dễ chế ngự được tham, sân, si khác trong con người. Đó là bước khởi đầu trên con đường đức hạnh dẫn ta đến gặp Chúa và trở nên thân thiết với Chúa.

3) Sứ điệp thứ ba mà thánh Gioan Tiền Hô muốn nhắn gửi ta, đó là: hãy sám hối.

Phải sám hối vì con người là lầm lỗi, là xa lạc. Các thánh chính là những vị không ngừng sám hối để đổi mới bản thân cho phù hợp với những đòi hỏi của Tin Mừng.

Phải sám hối vì đó là điều kiện tiên quyết để đón nhận Tin Mừng, để được vào Nước Trời.

Có hai đặc tính giúp xác định một sám hối đúng nghĩa:

Đặc tính thứ nhất là triệt để. Sám hối không phải là ngồi đó mà than khóc. Nhưng là thay đổi đời sống. Không phải thay đổi một phần mà thay đổi trọn vẹn. Là đổi mới hoàn toàn. Sám hối phải triệt để như dân thành Ninivê, bỏ hết việc ăn chơi, bỏ đàn hát, đọc kinh cầu nguyện, xức tro, mặc áo nhặm. Sám hối phải triệt để như Phaolô, bỏ hẳn ngựa, gươm, bỏ hẳn nếp sống cũ, bỏ hẳn con đường cũ, để tin nhận Đức Kitô, sống một nếp sống hoàn toàn mới. Sám hối phải triệt để như Giakêu, bán hết gia tài, đền bồi gấp bốn, chia sẻ với người nghèo…

Đặc tính thứ hai là cấp bách. Không từ từ do dự vì thời giờ đã tới hồi cấp bách. Cái rìu đã đặt sẵn ở gốc cây. Cái sàng đã đặt sẵn ở sân lúa. Cây không sinh trái sẽ bị đốn ngay. Trấu sẽ bị sàng lọc ra ngoài.

Như vậy, con người và sứ điệp của thánh Gioan Tiền Hô không hề lỗi thời. Những sứ điệp sa mạc, sứ điệp khổ hạnh và sứ điệp sám hối vẫn luôn hiện thực. Những sứ điệp ấy soi sáng con đường ta đi, phải tu sửa để gặp được Thiên Chúa Cứu Độ. Cuộc đời gương mẫu của thánh nhân là sức nóng vừa lôi cuốn vừa thúc giục ta. Vì thế Chúa Giêsu đã khen Ngài là “ngọn đèn chiếu sáng và tỏa nóng”. Ánh sáng của Ngài báo hiệu một bình minh chói lọi huy hoàng. Sức nóng của Ngài dẫn ta đến tận nguồn lò lửa. Lò lửa ấy sẽ chiếu sáng, sẽ đốt cháy mọi trái tim trong tình yêu và sẽ thanh luyện ta nên tinh tuyền. Bình minh ấy, lò lửa ấy chính là Mặt Trời Công Chính, là Chúa Giêsu mà chúng ta đang chờ mong trong đêm tối cuộc đời này. Amen.

GỢI Ý SUY NIỆM

1) Thánh Gioan Tiền Hô chuyển đến ta những sứ điệp nào?

2) Đối với bạn, sứ điệp nào cấp bách hơn cả?

3) Cấp bách và triệt để là hai đặc tính của sám hối Phúc Âm. Bạn có quyết tâm làm lại cuộc đời của mình hoàn toàn và ngay hôm nay không?

4) Bạn đã bao giờ cảm nghiệm niềm vui thiêng liêng do cầu nguyện, sám hối và tự chế chưa?

 

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Thống hối

Thống hối

Bạn sẽ làm gì nếu bạn biết rõ bạn chỉ còn sống đúng một ngày nữa thôi? Đây là câu hỏi của một nhà giáo đã đặt cho 625 học sinh người Đức trong 12 trường học và có kết qủa như sau: 20% trả lời rằng các em sẽ dùng thời gian còn lại để vui chơi và ăn uống say sưa cho thoả thích. Có một số em muốn về gặp gỡ những người thân trong gia đình. Một số khác không thể quyết định sẽ thực hiện điều gì. Cuối cùng có một nữ sinh 18 tuổi trả lời: Tôi sẽ dành thời giờ còn lại để chuẩn bị cho giờ cuối cùng của tôi. Tôi sẽ dành buổi tối cuối cùng để đến gặp Chúa và cảm tạ Chúa đã ban cho tôi một đời sống hạnh phúc và đầy đủ.

Vào Mùa Vọng, mọi người tín hữu lại có cơ hội nghe lời Chúa khuyên dạy: “Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến.” (Mt 3,2). Ăn năn thống hối là một diễn tiến đi vào nội tâm của chính mình. Thống hối ăn năn là một trong những sự việc ngại ngùng và khó khăn nhất trong đời sống. Bước tới và lăn xả vào cuộc sống thì dễ dàng hơn là dừng lại và kiểm điểm xét mình. Tâm hồn của chúng ta rất dễ hướng ngoại và nhìn vào cuộc sống của người khác. Chúng ta nhận diện những sai lầm và tội lỗi của người khác rất nhạy bén. Sự phê bình chỉ trích và kết án tha nhân thật dễ dàng. Nhưng để nhìn lại mình và xét mình lại là điều không dễ thực hiện. Chúng ta có thể tán gẫu hằng giờ về những tật hư, thói xấu và truyện riêng của người khác nhưng dừng lại đôi chút để xét mình thì thật khó. Xét mình để nhận ra lỗi lầm của mình. Có lỗi mới có lời xin lỗi. Xin lỗi là tự biết mình đã làm một điều gì không đúng. Nhận lỗi và xin lỗi là bước đầu để tiến tới việc sửa lỗi.

Xét mình giúp chúng ta biết mình đang ở đâu và sống trong bậc thang nhân đức nào. Một người thánh thiện, tốt lành và kiên vững hệ tại đời sống nội tâm chân thành. Chúng ta khó có thể đo lường được sức mạnh của ý chí và đời sống tâm linh của người khác. Xét về diện mạo và cách cư xử bên ngoài thì nhiều người có vẻ giông giống nhau, nhưng đời sống nội tâm, người ta có thể khác nhau một trời một vực. Có sự khác biệt tâm linh giữa người đại tâm và tiểu tâm, giữa sự thánh thiện và tội lỗi, giữa sự quảng đại rộng lượng và bủn xỉn ích kỷ. Sự sâu thẳm của lòng người là một bí nhiệm không thể dò thấu. Mỗi con người là một huyền nhiệm. Đôi khi chúng ta thấy vậy mà không phải vậy. Tiên tri Isaia đã diễn tả sự xét đoán của Thiên Chúa: “Ngài không xét đoán theo như mắt thấy, cũng không lên án theo điều tai nghe, nhưng Ngài sẽ lấy đức công minh mà xét xử những người nghèo khó, và lấy lòng chính trực mà bênh đỡ kẻ hiền lành trong xứ sở.” (Is 11,3-4). Thiên Chúa thấu suốt mọi tâm can. Chúng ta có thể đóng kịch lừa dối người khác, nhưng trước sự sáng láng của Thiên Chúa, chúng ta chỉ là thụ tạo trần trụi và yếu đuối tội lỗi.

Mỗi người chúng ta có kinh nghiệm bản thân cả về thân bệnh và tâm bệnh. Về thân bệnh, có nhiều người sợ hoặc ngại đi khám bác sĩ. Nói rằng tôi đang khỏe, cần gì đi khám bệnh. Đi khám, lại sinh ra đủ thứ bệnh và lo lắng. Có người than rằng bác sĩ chỉ bới ra bệnh để kiếm tiền của các bệnh nhân. Thế là chúng ta cứ khất lần để nuôi con bệnh trong người. Thực tế, ai trong chúng ta cũng có chút bệnh nào đó, không nặng thì nhẹ. Nếu được phòng ngừa hay chữa trị sớm sẽ mau bình phục. Đời sống tâm linh cũng giống như thế, đôi khi chúng ta ngại xét mình và sửa mình. Biết rằng chúng ta có tâm bệnh nhưng không muốn động chạm vào, sợ nó quấy rầy lương tâm. Và thế là chúng ta để tâm bệnh ngủ yên cho lòng bớt gợn sóng. Chúng ta cố gắng ẩn dấu những vết thương âm ỉ trong lòng. Đôi khi còn muốn phấn son lớp da non mịn màng bên ngoài để trình làng. Để rồi cứ tháng này qua tháng khác hoặc năm này qua năm kia, chúng ta chôn vùi, khoả lấp và che giấu những lỗi lầm và tội luỵ. Mùa Vọng, Giáo Hội quan tâm giới thiệu cho chúng ta nhiều phương thế, cơ hội và dược phẩm để chữa lành tâm linh.

Khi bắt đầu ra rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã gặp ông Gioan Tẩy Giả. Gioan là vị Tiền Hô đi trước dọn đường cho Chúa. Chính ông là người mà Tiên tri Isaia đã tiên báo: “Có tiếng kêu trong hoang địa rằng: Hãy dọn đường Chúa, hãy sửa đường Chúa cho ngay thẳng.” (Mt 3,3). Văng vẳng bên tai lời mời gọi chuẩn bị dọn đường đón Chúa. Con đường nội tâm rẽ ra muôn nẻo. Đời sống nội tâm nơi mỗi người không khác gì những hình ảnh đồi núi của sự kiêu hãnh, những hố sâu của sự tham lam, gian tà và dâm ô, những quanh co của gian dối và những khúc mô gồ ghề của tị hiềm, ghen ghét. Hãy sửa đường cho ngay thẳng, có nghĩa là chúng ta phải bỏ công gắng sức lấp san cho bằng phẳng để trở nên hồn trong tâm sạch. Chúng ta có thể đã nhận biết, suy gẫm và thấu hiểu tình trạng nội tâm, nhưng điều quan trọng là chúng ta phải thực sự bước vào sự phấn đấu tinh luyện. Đòi hỏi sự chiến đấu liên lỉ và bền tâm vì ngày tháng cuộc đời tiếp tục làm soi mòn và vỡ lở tâm can. Hãy nhắm hướng mà tiến tới trên con đường trọn lành. Đừng bỏ cuộc!

Trước mỗi thánh lễ, chúng ta cùng xưng thú các tội trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót, và đấm ngực lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng, nhưng ra khỏi thánh đường, chứng nào lại hoàn tật đó. Có một sự thật không mấy vui là ý chí phấn đấu của chúng ta trên đường trọn lành còn quá non yếu. Chúng ta không thể dứt khoát ngay với các cơn cám dỗ hướng về đàng xấu và tội lỗi. Hình như có một ma lực nào đó luôn cuốn hút chúng ta đòi hỏi thoả mãn tham sân si và nhục dục. Chúng ta dễ dàng gieo mình vào những sự dối trá, bất công, ghen tương, hận thù, gièm pha, gây rối và dục tình. Mỗi ngày chúng ta đối diện với nhiều cám dỗ mới, mỗi dịp tội này lại mang một vẻ mặt mới và với sự hấp dẫn riêng. Hầu như khi đối diện với các cơn cám dỗ, tâm chúng ta lại yếu xìu và buông thả. Ý chí phấn đấu hầu như co cụm và đầu hàng. Thế là chúng ta lại rơi vào lỗi lầm. Ý chí quyết định của chúng ta quá mỏng giòn và yếu nhược.

Với thời gian, cuộc sống đạo của chúng ta rơi vào nhiều thói hư và tật xấu. Nhiều thói xấu đã bám rễ dần dần. Minh hoạ: Nếu bạn để một con nhái vào trong bình nước nóng, nó sẽ lập tức phóng ra ngoài. Nhưng nếu bạn để nó trong một bình nước lạnh, rồi đun nóng lên từ từ. Con nhái không cảm thấy gì lạ cả vì nước âm ấm, cứ ở yên trong đó. Nó quen dần nên không cảm thấy nguy hiểm gì cả. Muốn nó nhảy ra, thì cần phải lấy một vật gì chọc vào thân nó. Đối với các dịp tội cũng thế, những cách tốt nhất có thể thắng được các cơn cám dỗ là tỉnh thức, cầu nguyện và đào vi thượng sách. Hãy tránh khỏi, chạy trốn, cắt ngang và dứt khoát không nhùng nhằng, không nhìn, không nghe và không nói thêm bớt những điều không đúng, không thật và không thanh lịch.

Thánh sử Matthêu đã viết: “Đây cái rìu đã để sẵn dưới gốc cây. Cây nào không sinh trái tốt, sẽ phải chặt đi và bỏ vào lửa.” (Mt 3,10). Lời nhắn nhủ này là một lời cảnh cáo mạnh mẽ và mời gọi mọi người hãy biết làm sinh lợi số vốn đã lãnh nhận. Mục đích của chủ vườn trồng cây là mong rằng cây sẽ sinh hoa kết trái tốt lành. Thiên Chúa cũng mong con người sinh hoa trái tốt qua việc thực hành các nhân đức, làm việc phúc thiện và sống đạo tốt. Ai trong chúng ta cũng có khả năng làm thiện và sống tốt lành. Hãy bước theo đường lối Chúa, Chúa Giêsu đã nêu gương sống hòa đồng, yêu thương và quan tâm đối với mọi người dù họ là những kẻ tội lỗi, nghèo hèn và cùng đinh trong xã hội. Thánh Phaolô đã khuyên dạy: “Vì thế, anh em hãy tiếp rước nhau như chính Chúa Giêsu đã tiếp nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa.” (Rm 15,7). Sinh hoa trái trong Chúa Kitô qua việc bái ái yêu thương lẫn nhau. Đức ái là đầu mối của tất cả các nhân đức.

Lạy Chúa, tâm hồn chúng con đã bị vương nhiễm bụi trần đời, xin giúp chúng con can đảm san bằng chỗ gồ ghề, lấp đầy nơi hố sâu vũng lầy và uốn ngay mọi khúc quanh co, gian xảo. Xin ban ơn phù trợ để chúng con dọn đường ngay thẳng đón Chúa.


Lm. Giuse Trần Việt Hùng

DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA ĐẾN

DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA ĐẾN

Nói đến Gioan Tẩy Giả, chúng ta phải biết đến con người của Ông. Gioan Tẩy Giả là Vị ngôn sứ nối Cựu Ước và Tân Ước. Ông xuất hiện trước mọi người với sứ mạng dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Gioan là Vị ngôn sứ đặc biệt, Ngài được đánh giá như một Êlia mới, ngay trong lòng mẹ, Gioan Tẩy Giả đã được thánh hiến cho Thiên Chúa và được tràn đầy Chúa Thánh Thần.

Hôm nay, sau một thời gian dài ăn chay, hãm mình, cầu nguyện trong sa mạc, Ngài đã xuất hiện và công khai rao giảng : “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến”. Thực tế, có điều đó vì dân Do Thái từ lâu đã mong đợi một Vị Cứu Tinh, Một Đấng Cứu Thế đến, Vị Cứu Thế sẽ khôi phục lại Vương Quốc Israen, giải thoát dân khỏi ách nô lệ của ngoại xâm, đem lại hạnh phúc, phồn vinh cho dân tộc Israen, đồng thời mở rộng bờ cõi, đánh đông dẹp bắc v.v…Vương Quốc của Israen sẽ được tái thiết lập: muôn dân ấm no hạnh phúc theo trí ý của con người. Tuy nhiên, sự suy nghĩ của dân, cũng như cái nhìn trần tục của họ, không phải là ý của Thiên Chúa. Đấng Cứu Thế sẽ đến để cứu độ con người, giải thoát loài người khỏi tội lỗi. Đấng Cứu Thế đến để phục vụ, chứ không đến để được hầu hạ, để được phục vụ.

Gioan Tẩy Giả kêu gọi sám hối bởi vì Nước Trời đã đến gần.Đức Giêsu Kitô đã tới trần gian từ lâu, tuy nhiên Ngài vẫn tiếp tục đến để dẫn đưa chúng ta vào một Mùa Vọng, Mùa Vọng mới, chúng ta không còn chờ đợi một triều đại nào ở trần gian, vì mọi sự rồi cũng sẽ qua đi, tất cả rồi cũng biến tan, nhưng là một Mùa Vọng hướng về đời sau, hướng về Quê Trời, nơi sự sống và hạnh phúc sẽ tồn tại mãi mãi. Vâng, Chúa luôn luôn đứng gõ bên cửa hồn của chúng ta.Ý nghĩa mà thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng cũng hướng chúng ta về giờ chết, dù rằng chúng ta không biết được giờ chết, nhưng thực tế, giờ chết của chúng ta rất gần, bởi vì đối với Chúa một ngày cũng như ngàn năm và ngàn năm cũng như một ngày. Gioan Tẩy Giả có uy tín rất lớn đến nỗi lời rao giảng của Ngài thu hút được biết bao nhiêu người ăn năn sám hối và quay trở về với Chúa. Chúng ta thấy có biết bao hạng người đã đến để xin Gioan chỉ bảo cách sống cho phù hợp với ý Thiên Chúa.

Ở đây, chúng ta tự hỏi tại sao lời nói, việc rao giảng của Gioan đã cải hóa, đã thu hút được nhiều người. Sở dĩ, Gioan đã cảm hóa biết bao hạng người vì Người đã sống, đã làm gương rồi mới nói, mới loan báo, mới rao giảng.Gioan Tẩy Giả đã ăn năn, sám hối trước. Ngài đã sống những năm dài trong sa mạc, khắc khổ, hãm mình và sống thân tình với Chúa. Chính đời sống kham khổ trong ăn chay, cầu nguyện, trong sự khó nghèo, đơn sơ, phó thác đã thanh luyện Gioan Tẩy Giả. Ngài thành công trong việc giảng dạy vì Ngài đã sống rồi mới nói, việc làm không mâu thuẫn với lời nói và lời nói không mâu thuẫn với việc làm.Thánh Gioan luôn luôn có sự sống đích thực khác hoàn toàn với Pharisêu và Kinh sư. Pharisêu và Kinh sư nói mà không làm, ngôn hành bất nhất.

Chúng ta là sứ giả cho việc đến lại của Chúa Giêsu lần thứ hai, chúng ta cũng phải là một Gioan Tẩy Giả cho thế giới chúng ta đang sống. Ngày nay, nhân loại ít thích nghe nói mà thích thấy gương chúng ta sống. Lời nói của mỗi người chúng ta đừng mâu thuẫn với việc làm của chúng ta. Nói về Chúa, chúng ta phải sống, cảm nghiệm về Chúa để những ai nghe chúng ta nói, họ cũng nhận ra Chúa nơi chúng ta như thánh Phaolô đã nói : “Tôi sống không phải là tôi sống mà là đức kitô sống trong tôi”. Chúng ta phải trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.

Xin mượn lời của Bernadette Escaffre để kết luận bài suy niệm này : “Chúng ta không thể vào Nước Chúa bằng việc mua cho mình một tấm vé hay một vị trí trong đó. Cánh cửa Nước Chúa luôn rộng mở cho mỗi người chúng ta. Hãy đón nhận và lắng nghe những lời rao giảng của Gioan, như một lời mời gọi để dọn chỗ cho ta trước mặt Thiên Chúa với một trái tim và tâm hồn ao ước được biến đổi”.

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một trái tim nhạy cảm, một tấm lòng nhiệt thành trước những con người đang khao khát được nghe lời Chúa và thực thi lời Chúa. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1. Gioan Tẩy Giả là ai?

2. “Hãy sám hối vì Nước Trời đã đến gần” có nghĩa gì?

3. Gioan Tẩy Giả rao giảng làm sao?

4. Gioan Tẩy Giả lên án gì?

5. Đấng Cứu Thế là ai?

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Mùa Loan Báo

MÙA LOAN BÁO

Mùa vọng là mùa của những lời loan báo. Loan báo Chúa Giêsu sinh ra, loan báo thời gian cứu độ, loan báo ngày trở lại của Chúa Kitô. Những lời loan báo này được công bố rõ ràng trong các bài đọc Sách Thánh ngày Chúa Nhật.

Bài đọc 1, trích trong sách Isaia, đó là những lời tiên tri về Đấng Cứu Thế mà đỉnh cao là Chúa nhật IV, loan báo một trinh nữ sẽ sinh hạ tại Bêlem một Hài Nhi thuộc chi tộc Đavit và Ngài sẽ được gọi là Emmanuel.

Bài Phúc Âm: Chúa nhật I Mùa Vọng nói lên niềm mong đợi ngày Chúa Kitô trở lại với lời nhắn nhủ : Hãy tỉnh thức; Chúa nhật II, III dành cho Gioan tiền Hô với lời mời gọi : Dọn đường cho Chúa; Chúa nhật IV là Chúa nhật Truyền tin cho Đức Mẹ và Thánh Giuse.

Các bài đọc 2 là các bài Thánh thư Phaolô, Giacôbê, Phêrô, đặc biệt làm cho Mùa Vọng trở thành một mùa loan báo việc Chúa Kitô trở lại lần thứ hai.

Với Chúa Nhật II, chúng ta bước vào lịch sử: những loan báo trong Cựu Ước bắt đầu thực hiện và giấc mơ của nhân loại trở thành hiện thực. Người loan báo Tin Vui này là Gioan Tẩy Giả, một ngôn sứ đầy tràn ơn Thánh Linh. Gioan mời gọi: “Hãy hối cải vì nước trời đã cận kề”. Giống như các Ngôn sứ tiền bối, Gioan tố giác một nếp sống đạo giả hình, chỉ hoàn toàn ở bên ngoài (x. Am 5,21-27; Is 1,10-20; Gr 7,1–8,3…), dần dần đưa tới một tình trạng cứng cỏi. Ba bài Tin Mừng từ Nhất Lãm (Mt 3, 1-12; Mc 1, 1-8; Lc 3, 1-6), thuật lại niềm hăng say rao giảng của Đấng Tiền Hô, kêu mời hối cải và loan báo sẽ có một đấng quyền năng hơn, Ngài sẽ rửa tội trong Chúa Thánh Thần.

Gioan Tiền Hô, một ngôn sứ luôn gắn bó với Thiên Chúa và cũng rất gần gũi với con người. Lời Chúa, Gioan chiêm niệm trong hoang địa qua nhiều năm tháng đã giúp ông tiếp xúc, gặp gỡ với nhiều hạng người qua những vùng ven sông Giođan. Lời Chúa, Gioan nghe đã trở thành Lời Chúa ông công bố. Tiếng Chúa gọi Gioan đã trở thành tiếng ông mời gọi mọi người.Gioan trở nên trung gian làm người dọn con đường tâm hồn cho anh chị em mình đến với Chúa Cứu Thế.

Gioan là vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước. Sau 5 thế kỷ vắng bóng ngôn sứ, nay Gioan xuất hiện với sứ mạng Tiền hô. Ông đáp lại tiếng Chúa gọi, ra đi rao giảng về Nước Trời, dọn đường cho Chúa Giêsu, Đấng Cứu Tinh nhân loại đến trần gian. Ông đã chu toàn ơn gọi cách nhiệt thành và đã chết anh hùng cho sứ vụ. (x. Mt 14,3-12; Mc 6,17-19). Cuộc đời Gioan là một thiên anh hùng ca, bất khuất trước cường quyền, bao dung với tội nhân.

Gioan có một cuộc sinh ra kỳ lạ, một lối sống khác thường. Gioan chọn con đường tu khổ chế : ăn châu chấu và mật ong rừng, uống nước lã và mặc áo da thú. Sống trong hoang địa trơ trụi, vắng người, thiếu sự sống. Nhưng chính ở đó mà Gioan đã lớn lên và trưởng thành trong sự gặp gỡ thâm trầm với thiên Chúa.

Gioan nhắc lại lời tiên tri Isaia: “Mọi thung lũng phải lấp cho đầy, khúc quanh co phải uốn cho ngay, đường lồi lõm phải san cho phẳng” (Lc 3,5). Gioan mời dân chúng sám hối. Không thể tiếp tục sống như xưa nữa. Đã đến lúc phải đổi đời, đổi lối nhìn, đổi lối nghĩ. Như thế, Gioan kêu gọi hãy dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Phải lấp cho đầy những hố sâu tham lam ích kỷ hẹp hòi. Phải uốn cho ngay những lối nghĩ quanh co, những tính toán lệch lạc. Phải san cho phẳng những đồi núi kiêu căng tự mãn. Phải bạt cho thấp những gồ ghề của bất công bất chính.

Đạo là con đường dẫn đến Thiên Chúa. Đạo là ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu không có đường thì không đi đến đâu cả. Một đất nước có văn minh hay không là do hệ thống đường sá.

Đạo từ nguyên thuỷ luôn mang ý nghĩa trong sáng, ngay thẳng, công minh. Đạo dẫn đưa con người đến chân thiện mỹ.

Đạo là đường nên có thể nói sống đạo là sống ngoài đường, sống với người khác, sống với cuộc đời. Abraham khởi đầu cuộc sống thật bằng việc lên đường từ giã thành Ur để sang đất hứa. Và lịch sử Do thái là những chuyến xuất hành di cư, lang thang trong sa mạc, lưu đầy và mất quê hương trong một thời gian dài. Gioan rao giảng và làm phép rửa khắp mọi nẻo đường. Chúa Giêsu sống ở thế gian bằng những cuộc lên đường sang Ai cập, về Nazareth, lên sa mạc, vào đền thánh và trở lại Galilêa. Cuộc sống công khai của Chúa ít là có ba cuộc hành trình lên Giêrusalem. Và sau cùng Ngài lên đường về nhà cha.

Vì là đường nên nên đạo luôn mở ra nối kết và đón nhận cuộc sống, đón nhận mọi người, không phân biệt ai với tinh thần yêu thương của Thiên Chúa. Tin mừng chính là đạo, là con đường mà Chúa Giêsu vạch ra cho chúng ta đi theo ngài.

Đường quan trọng nhất là đường vào cõi lòng. Gioan đã chỉ cho thấy rằng, mỗi con người đều có ít nhiều đồi núi kiêu ngạo, thung lũng ích kỷ, ghồ ghề khúc khuỷu trong các mối quan hệ. Có bao lối nghĩ quanh co, có bao tính toán lệch lạc, có những lũng sâu tăm tối thiếu vằng ánh sáng tình yêu. Sửa đường theo Gioan là sám hối. Nhìn lại con đường mình đã đi qua, sửa lại những sai lệch nếu có. Những gì cong queo san cho thẳng. Những gì cao cần bạt xuống. Lúc đó mới nhìn thấy ơn cứu độ của Chúa. Sửa cho thẳng, lấp cho đầy, uốn cho ngay, san cho phẳng, bạt cho thấp. Đó là sứ điệp Gioan gởi tới chúng ta trong Mùa Vọng này, để chúng ta dọn lòng mình thành đại lộ thênh thang mở ra với Chúa Cứu Thế.

Con đường mà Gioan nói tới đây chính là đường vào cõi lòng. Con đường nội tâm của mọi người. Sửa con đường nội tâm là thay đổi cõi lòng, thay đổi cuộc sống để xứng đáng đón tiếp Chúa Cứu Thế. Sửa đường cho Chúa đến là cần thiết và hợp lý. Khi đón tiếp một vị khách quý, người ta thường sửa sang đường sá, làm sạch đẹp nơi vị khách sẽ đến. Như thế là biểu lộ lòng kính trọng đối với vị khách. Thiên Chúa là vị khách cao trọng nhất. Người hạ mình đến thăm và ở lại cùng sống với thân dân của Người. Đó là hạnh phúc tuyệt vời nên cần phải dọn tâm hồn xứng đáng. Như con đường cho Chúa đi qua. Như căn nhà cho Chúa ngự tới. Chúa đứng ngoài cửa lòng và gõ cửa, ai mở thì Ngài đi vào. Con đường có thể có chông gai tội lỗi, có nổi đam mê tiền lợi danh, có những tính hư nết xấu. Cho nên trong cõi lòng đó phải có im lặng như cõi lòng Mẹ Maria ghi nhớ, suy niệm và không nói gì. Chỉ nói những lời để giúp đỡ người khác. Và tâm hồn ấy bình an nên nghe rõ tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi. Như thế dọn đường chính là tạo im lặng cho tâm hồn để nghe được tiếng Chúa và chỉ nghe được tiếng Chúa mà thôi.

Dọn đường còn là tỉnh thức đợi chờ Chúa đi xa trở về. Như năm cô khôn ngoan có sẵn dầu đèn. Như những đầy tớ làm lợi những nén vàng cho chủ. Như tên lính canh thành luôn chú ý những biến chuyển chung quanh. Mỗi cá nhân, ai cũng có những tật xấu, những khuyết điểm, vị kỷ kiêu căng tham lam đố kỵ ghen ghét lười biếng hèn nhát… Xã hội nào cũng có bất công, những lạm dụng quyền bính, những hủ tục, những tệ đoan, những điều ấy làm cho con người đau khổ, trì trệ, không phát triển.

Dọn đường căn bản là ở trong nội tâm, sám hối để canh tân, sửa đổi để trở nên tốt lành thánh thiện hơn. Những con đường thường được làm bằng đất đá nhựa bê tông. Những con đường trên mặt đất, trên sông trên biển trên bầu trời là những con đường vật lý. Những con đường tâm lý, con đường tinh thần, con đuờng lòng người mới quan trọng hơn. Nguyễn Bá Học đã nói: đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà chỉ vì lòng người ngại núi e sông.

Sống đạo luôn là một thách đố đầy quyết liệt và phong phú. Hiểu đạo, tin đạo, giữ đạo xem ra khá dễ dàng vì thuộc lãnh vực cá nhân. Còn sống đạo thường khó khăn hơn vì liên quan đến tha nhân, đòi hỏi một sự quên mình, vượt thắng bản thân. Cũng như thực hiện việc dọn đường qua nghi thức sám hối bên ngoài như rửa tội, xưng tội khá dễ dàng, nhưng nếu mà trong lòng không thật tâm sám hối đưa đến canh tân bản thân, thì hành vi sám hối chỉ là việc làm lấy lệ hình thức mà thôi.

Sống đạo bao giờ cũng đòi hỏi nhiều cố gắng và tỉnh thức. Mùa Vọng, Giáo hội cho chúng ta chiêm ngắm mẫu gương của Gioan. Sống gắn bó với Thiên Chúa và gần gũi với con người. Như thế mỗi người sẽ sống đạo hôm nay với tất cả niềm vui hạnh phúc cho bản thân và cho tha nhân.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Đức Thánh Cha tiếp kiến Ủy ban Thần Học quốc Tế

Đức Thánh Cha tiếp kiến Ủy ban Thần Học quốc Tế

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến sáng hôm 6-12-2013, dành cho Ủy ban thần học quốc tế, ĐTC tái khẳng định rằng không thể sử dụng bạo lực nhân danh Thiên Chúa.

30 nhà thần học quốc tế nhóm khóa họp thường niên trong tuần này tại Vatican từ 2 đến 6-12-2013, dưới quyền chủ tọa của ĐHY Chủ tịch Gerhard Mueller, Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin. Điều hợp khóa họp là LM Tổng thư ký Serge-Thomas Bonino, Dòng Đaminh người Pháp.

Trong 5 ngày họp, 30 nhà thần học quốc tế tiếp tục nghiên cứu 3 đề tài quan trọng: trước tiên là độc thần giáo, tiếp đến là ý nghĩa đạo lý xã hội của Hội Thánh trong bối cảnh rộng lớn hơn của đạo lý Kitô; sau cùng là vấn đề sensus fidei, cảm thức đức tin.

Ngỏ lời trong buổi tiếp kiến, ĐTC đề cập đến đề tài thứ I được Ủy ban thần học quốc tế bàn tới là ”tương quan giữa tôn giáo độc thần và bạo lực”, và ngài khẳng định rằng ”Thiên Chúa không phải là một đe dọa cho con người! Niềm tin nơi Thiên Chúa duy nhất và 3 lần thánh không phải và không bao giờ có thể sinh ra bạo lực và bất bao dung. Trái lại, đặc tính hợp lý trí mang lại cho đức tin một chiều kích đại đồng, có khả năng liên kết những người thiện chí với nhau. Đàng khác mạc khải chung kết của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô khiến cho từ nay không thể nại đến bạo lực nào 'nhân danh Thiên Chúa'. Chính vì từ chối bạo lực, và đã chiến thắng sự ác bằng sự thiện, bằng máu đổ ra trên thập giá của Ngài, nên Chúa Giêsu đã hòa giải con ngừơi với Thiên Chúa và với nhau”.

Về đề tài thứ hai của Ủy ban thần học là đạo lý xã hội của Hội Thánh, ĐTC nhận xét rằng đạo lý này nhắm diễn tả cụ thể trong đời sống xã hội tình thương của Thiên Chúa đối với con người được biểu lộ trong Đức Giêsu Kitô… Giáo Hội phải sống trước tiên sứ điệp xã hội mà mình mang đến cho thế giới. Các tương quan huynh đệ giữa các tín hữu, quyền bính như một công tác phục vụ, sự chia sẻ với người nghèo, tất cả những đặc điểm đó vốn có từ đầu trong đời sống Giáo Hội, có thể và phải trở thanh một mẫu gương sống động và có sức thu hút đối với các cộng đoàn khác của con người, từ gia đình cho đến xã hội dân sự”.

Sau cùng về đề tài cảm thức đức tin (sensus fidei), ĐTC nhắc nhở đừng lẫn lộn cảm thức này với thực tại xã hội học là ý kiến của đa số. Và ngài nói: ”Anh em có nghĩa vụ quan trọng là phải đề ra những tiêu chuẩn giúp phân định những sự diễn tả đích thực cảm thức của các tín hữu”

ĐTC không quên cảnh giác các nhà thần học trước những cám dỗ: tâm hồn trở nên khô cằn, kiêu ngạo, và thậm chí cả tham vọng nữa. Ngài nói: ”Thánh Phanxicô Assisi có lần đã gửi một thư ngắn cho thầy Antonio thành Padova, trong đó ngài viết: ”Tôi muốn thầy dạy thánh khoa thần học cho anh em, miễn là trong việc nghiên cứu, thầy không dập tắt tinh thần nguyện gẫm và sùng mộ”. (SD 6-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Giáo Hoàng được đề cử giải Nobel Hòa bình

Đức Giáo Hoàng được đề cử giải Nobel Hòa bình

December 4, 2013 

CNA/EWTN News, Argentina

Hạ viện Argentina thông qua nghị quyết đề cử Đức Giáo hoàng Phanxicô cho giải Nobel Hòa bình vì lời kêu gọi chấm dứt bạo lực tại Syria của ngài.

Nghị quyết được đa số áp đảo thông qua và đang trình lên Thượng viện phê chuẩn.

Hạ nghị sĩ Oscar Martinez, người bảo trợ nghị quyết, mô tả Đức Giáo hoàng Phanxicô là “người trong suốt năm nay quyết tâm duy trì hòa bình quốc tế thông qua vị thế của ngài đối với xung đột tại Syria.”

Từ khi được bầu làm giáo hoàng, Đức Thánh cha Phanxicô không ngừng kêu gọi hòa bình cho Syria. Ngài đã gửi thư cho Tổng thống Nga Vladimir Putin tại hội nghị thượng đỉnh G20, trong đó kêu gọi cộng đồng quốc tế hãy hành động chấm dứt bạo lực tại Syria và bác bỏ mọi can thiệp quân sự.

Xung đột Syria kéo dài hơn hai năm rưỡi, từ khi các cuộc biểu tình nổ ra trên toàn quốc vào ngày 15 tháng 3 năm 2011 phản đối sự cai trị của Bashar al-Assad, tổng thống và lãnh đạo đảng Ba’ath ở Syria.

Tháng Tư năm cùng năm, quân đội Syria triển khai dập tắt các cuộc nổi dậy, bắn vào người biểu tình. Kể từ đó, bạo lực đã biến thành nội chiến cướp mất hơn 115,000 sinh mạng.

Ít nhất 2.2 triệu người tị nạn Syria ở các nước lân cận, hầu hết trong số họ ở Lebanon, Jordan, và Thổ Nhĩ Kỳ.

Thêm 6.5 triệu người Syria được cho là đã di tản vì chiến tranh.

Nguồn: Catholic News Agency

Chúa Giêsu phục sinh sẽ cho chúng ta sống lại với thân xác được biến đổi và hiển dung

Chúa Giêsu phục sinh sẽ cho chúng ta sống lại với thân xác được biến đổi và hiển dung

Chúa Giêsu phục sinh sẽ cho chúng ta sống lại với thân xác được biến đổi và hiển dung trong ngày sau hết, khi thân xác lại kết hiệp với linh hồn.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hơn 50,000 tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi tiếp kiến chung hàng tuần sáng 4 tháng 12-2013, trong bầu khí Mùa Vọng bắt đầu, với hang đá khổng lồ đang được chẩn bị giữa quảng trường Thánh Phêrô. Đã có mấy ban nhạc liên tục thay phiên nhau trình tấu tạo bầu khi tươi vui cho mọi người. Bên cạnh các đoàn hành hương Bắc Mỹ và Âu châu, có các đoàn hành hương đến từ rất xa như Australia và các nước châu Mỹ Latinh như Argentina, Perù, Venezuela và Brasil.

Trong số các nhóm Ý có các lực lượng an ninh và binh sĩ khác nhau do Đức Tổng Giám Mục Boccardo cựu Tổng tư lệnh tuyên úy quân đội hướng dẫn; phái đoàn của Văn phòng tổ chức hành hương Roma sắp đi Irak, các thành viên của Hội bạn Người cùi Raoul Follereau.

Chào các bạn trẻ Đức Thánh Cha nhắc tới thánh Phanxicô Xaviê, Bổn mạng các vùng truyền giáo mà Giáo Hội mới kính nhớ hôm mùng 3 tháng 12. Ngài cầu mong các bạn trẻ là các chứng nhân can đảm của đức tin. Đức Thánh Cha khích lệ các bệnh nhân dâng thánh giá khổ đau mỗi ngày của họ cho Chúa để cầu nguyện cho ơn hoán cải của những người sống xa ánh sáng Phúc Âm. Ngài nhắn nhủ các cặp vợ chồng mới cưới loan báo tình yêu của Chúa Kitô từ cuộc sống gia đình.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã trình bầy đề tài giáo lý ”Tôi tin vào sự sống lại của thịt xác”. Ngài nói đây không phải là một sự thật đơn sơ, lại càng không phải là một sự thật hiển nhiên, vì chúng ta đang bị chìm ngập trong thế giới này. Thật không dễ hiểu các thực tại tương lai. Nhưng Tin Mừng soi sáng cho chúng ta: sự sống lại của chúng ta được gắn liền chặt chẽ với sự sống lại của Chúa Giêsu; sự kiện Người đã phục sinh là bằng chứng có sự sống lại từ cõi chết. Người đã sống lại! Và vì Người đã sống lại, nên chúng ta cũng sẽ sống lại.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã trình bầy ba khía cạnh của sự phục sinh. Trước hết chính Thánh Kinh chứa đựng một con đường tiến tới niềm tin tràn đầy vào sự sống lại của kẻ chết. Nó được diễn tả như niềm tin vào thiên Chúa Tạo Dựng con người, có hồn có xác, và như niềm tin vào Thiên Chúa giải thoát, Thiên Chúa của giao ước với dân Người. Trong một thị kiến ngôn sứ Edekiel chiêm ngắm các mồ mả của những kẻ bị đi đầy đươc mở ra và các xương khô sống lại nhờ một thần khí trao ban sự sống. Thị kiến này diễn tả niềm hy vọng vào sự sống lại trong tương lai của dân Israel, nghĩa là sự tái sinh của dân bị thua trận và bị hạ nhục (x. Ed 37,1-14).

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Trong Tân Ước Chúa Giêsu đưa mạc khải đó tới chỗ thành toàn và cột buộc niềm tin vào sự sống lại vào chính con người Ngài: ”Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25). Thật thế, Chúa Giêsu sẽ cho những kẻ tin vào Ngài sống lại. Chúa Giêsu đã đến giữa chúng ta, đã làm người như chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi; trong cách thế đó Ngài đã đem chúng ta đi với Ngài trên con đương trở về với Thiên Chúa Cha. Ngài là Ngôi Lời nhập thể, đã chết vì chúng ta và đã sống lại, Ngài trao ban Thánh Thần cho các môn đệ như bảo chứng sự hiệp thông trong Nước vinh quang của Ngài, mà chúng ta chờ đợi trong tỉnh thức. Sự chờ đợi này là suối nguồn và là lý do niềm hy vọng của chúng ta: một niềm hy vọng, mà nếu được vun trồng và gìn giữ, nó trở thành ánh sáng soi chiếu lịch sử cá nhân của chúng ta và của cộng đoàn. Chúng ta hãy luôn nhớ điều này: chúng ta là môn đệ của Đấng đã đến, đang đến ngày hôm nay, và sẽ trở lại ngày sau hết. Nếu chúng ta thành công trong việc có được thực tại này, chúng ta sẽ bớt bị cuộc sống thường ngày làm cho mệt nhọc hơn, bớt là tù nhân của cái phù du, và sẵn sàng bước đi hơn trên con đường cứu độ với con tim thương xót.

Có một khía cạnh khác là ý nghĩa của việc sống lại, sự sống lại của chúng ta tất cả. Nó sẽ đến trong ngày sau hết, trong ngày tận thế do quyền năng của Thiên Chúa, là Đấng sẽ trả lại sự sống cho thân xác chúng ta, bằng cách tái kết hợp nó với linh hồn trong sức mạnh sự phục sinh của Chúa Giêsu. Đây là sự giải thích nền tảng, bởi vì Chúa Giêsu đã sống lại, chúng ta sẽ sống lại. Chúng ta hy vọng nơi sự sống lại, bởi vì Người đã mở cửa sự sống lại cho chúng ta. Đức Thánh Cha giải thích sự biến đổi này như sau:

Sự biến đổi trong chờ đợi này, sự sống lại đang tiến bước, sự hiển dung này của thân xác chúng ta được chuẩn bị trong cuộc sống này bởi tương quan với Chúa Giêsu trong các Bí tích, đặc biệt là bí tích Thánh Thể. Trong cuộc sống này chúng ta được dưỡng nuôi bằng Mình và Máu Người, chúng ta sẽ sống lại như Người, với Người và nhờ Người. Như Chúa Giêsu đã sống lại với thân xác của Người, nhưng không trở lại với một cuộc sống trần gian, cũng thế chúng ta sẽ sống lại với thân xác của chúng ta, chúng sẽ được biến thành các thân xác vinh quang, các thân xác thiêng liêng.

Đây không phải là một lời nói dối. Nó thật. Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại và Ngài hiện sống trong lúc này đây. Anh chị em có tin Chúa Giêsu sống không? A, anh em chị em không tin hả? Tín hữu trả lời: ”Đạ có”. Anh chị em tin hay không tin? Tín hữu trả lời to hơn: ”Dạ tin.” Và nếu Chúa Giêsu sống thì anh chị em tưởng là Chúa Giêsu sẽ để cho chúng ta chết và không bao giờ sống lại hay sao? Không, Ngài chờ chúng ta. Và bởi vì ngài đã sống lại, sức mạnh sự sống lại của Ngài sẽ phục sinh chúng ta tất cả!

Ngay trong cuộc sống này chúng ta đã tham dự vào sự Phục Sinh của Chúa Kitô. Nếu đúng thật là Chúa Giêsu sẽ cho chúng ta sống lại vào thời sau hết, thì cũng đúng là trong một khía cạnh nào đó, chúng ta đã sống lại với Người. Cuộc sống vĩnh cửu đã bắt đầu trong lúc này. Nó bắt đầu trong suốt cuộc sống hướng tới lúc phục sinh cuối cùng. Và chúng ta đã sống lại! Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:

Thật vậy, qua bí tích Rửa Tội chúng ta đã được tháp nhập vào trong cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô, và chúng ta tham dự vào cuộc sống mới, là cuộc sống của Người. Vì thế trong khi chờ đợi ngày sau hết, chúng ta đã có trong mình một hạt giống của sự sống lại, nó diễn tả trước sự sống lại tràn đầy mà chúng ta sẽ nhận được như gia tài. Vì thế thân xác của từng người trong chúng ta là sự vang vọng của vĩnh cửu, vì thế phải luôn được tôn trọng, và nhất là tôn trọng và yêu thương sự sống của những người đau khổ, để họ cảm nhận được sự gần gũi của Nước Thiên Chúa, của điều kiện cuộc sống vĩnh cửu, nơi chúng ta đang tiến tới. Ý tưởng này trao ban hy vọng cho chúng ta. Chúng ta đang bước tới sự Phục Sinh. Đó là niềm vui của chúng ta: một ngày kia tất cả chúng ta cùng nhau tìm thấy Chúa Giêsu, gặp gỡ Chúa Giêsu, không phải ở quảng trường này, nhưng ở một nơi khác, vui sướng với Chúa Giêsu. Đó là số phận của chúng ta.

Đức Thánh Cha đã chào nhiều nhóm khác nhau và chúc mọi người những ngày hành hương tươi vui bổ ích và Mùa Vọng sốt sắng.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Khóa họp thứ hai của Hội đồng 8 Hồng Y cố vấn

Khóa họp thứ hai của Hội đồng 8 Hồng Y cố vấn

VATICAN. Sáng ngày 3 tháng 12-2013, 8 vị Hồng Y cố vấn của ĐTC trong việc cải tổ các cơ quan trung ương Tòa Thánh và cai quản Giáo Hội hoàn vũ đã bắt đầu khóa họp thứ 2 kéo dài 3 ngày tại Vatican.

Khóa họp thứ I đã diễn ra từ ngày 1 đến 3 tháng 10 năm nay, dưới sự điều hợp của ĐHY Oscar Rodriguez Maradiaga, dòng Don Bosco, TGM giáo phận Tegucigalpa, Honduras. Cũng như lần trước, lần này ĐTC cũng hiện diện trong 3 ngày họp, trừ sáng thứ tư 4-12-2013 vì ngài bận tiếp kiến chung các tín hữu hành hương, hoặc khi ngài có công việc khẩn cấp khác.

Cha Lombardi, Giám đốc phòng báo chí Tòa Thánh cho biết 8 HY đã đồng tế thánh lễ với ĐTC, rồi nhóm họp từ 9 đến 12 giờ rưỡi, sau đó từ 4 đến 7 giờ chiều. Trong thời gian qua, các HY đã làm việc riêng, thu thập các ý kiến, đề nghị và các dữ kiện hữu ích cho khóa họp này.

Trong khóa họp lần này, các HY cứu xét về các cơ quan trung ương Tòa Thánh, đặc biệt là về hoạt động và thẩm quyền của các Bộ tại Tòa Thánh. Trong phiên họp sáng ngày 3-12, các vị cứu xét Bộ Phụng tự và kỷ luật bí tích. Trong khóa họp thứ I hồi đầu tháng 10-2013, các vị đã trao đổi về việc cải tổ Thượng HĐGM và Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh.

Trong khóa họp lần này, Đức TGM Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, cũng được mời tham dự.

Từ lâu vấn để điều chỉnh lại thẩm quyền của các cơ quan trung ương Tòa Thánh đã được đề cập đến, để đạt tới hiệu năng hơn và giảm bớt nhân sự và chi phí. Cho đến nay chỉ có 1 phần 3 các vị Tổng trưởng tại Tòa Thánh được ĐTC tái bổ nhiệm. Đó là các vị Tổng trưởng Bộ giáo lý đức tin, Bộ truyền giáo, Bộ giáo dục Công Giáo, và Đức TGM Benjamino Stella được bổ làm tân Tổng trưởng Bộ giáo sĩ. Các vị khác tạm thời tiếp tục công việc và chờ đợi quyết định của ĐTC như ĐHY Tổng trưởng Bộ GM, Bộ các Giáo hội Công Giáo Đông Phương, Bộ Phụng Tự, Bộ Phong thánh và Bộ các dòng tu. Ngoài ra 10 trong số 12 vị Chủ tịch các Hội đồng Tòa Thánh vẫn chưa được chính thức tái bổ nhiệm.

Theo chương trình dự kiến, Hội đồng 8 HY Cố vấn sẽ có khóa họp thứ 3 trong hai ngày 17 và 18-2 năm tới, 2014, trước khi ĐTC tiến hành công nghị bổ nhiệm các Hồng y mới vào ngày 22-2-2014 lễ kính Tòa Thánh Phêrô.

Cha Lombardi cho biết sẽ có những thay đổi sâu rộng trong các cơ quan trung ương Tòa Thánh, một hiến chế mới thay thế hiến chế Pastor bonus hiện hành từ năm 1983 về giáo triều Roma. Tuy nhiên những thay đổi được đề ra là một chương trình dài hạn, vì thế không nên chờ đợi những kết luận ngay trong thời gian ngắn tới đây (SD 3-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP
– Vatican Radio

Đức Thánh Cha mở lại các cuộc tiếp kiến các GM về Roma thăm Tòa Thánh

Đức Thánh Cha mở lại các cuộc tiếp kiến các GM về Roma thăm Tòa Thánh

VATICAN. ĐTC Phanxicô đã bắt đầu mở lại các cuộc tiếp kiến dành cho các về Roma viếng mộ hai thánh Tông Đồ Phêrô Phaolo và thăm Tòa Thánh theo qui định của giáo luật.

Sau khi được bầu làm Giáo Hoàng ngày 13-3 năm nay, ĐTC Phanxicô đã hoàn tất chương trình tiếp kiến các GM Italia đã được ĐTC Biển Đức 16 khởi sự hồi tháng giêng trước đó. Sau đó chương trình viếng thăm Tòa Thánh của các GM trên thế giới bị tạm ngưng cho đến ngày hôm qua, 2-12.

Trong tuần này, 13 GM thuộc 7 giáo phận tại Hòa Lan về Roma viếng mộ hai thánh Tông Đồ và thăm Tòa Thánh, dưới sự hướng dẫn của ĐHY Willem Jacobus Eijk, TGM giáo phận Utrecht. Tất cả các vị đã được ĐTC tiếp kiến sáng hôm qua (2-12).

Hòa Lan chỉ rộng hơn 41,500 cây số vuông với 16 triệu 725 ngàn dân cư, trong đó có 4 triệu tín hữu Công Giáo, tương đương với 24% dân số và là Giáo Hội lớn nhất tại nước này. Xã hội Hòa Lan bị tục hóa cao độ và càng ngày càng có nhiều tôn giáo khác, trong số này có 6% theo Hồi giáo. Ngoài ra có tới 50% tuyên bố mình là người vô thần hoặc không theo tôn giáo nào. Việc thực hành đạo tại Hòa Lan sa sút trầm trọng: trong số hơn 4 triệu tín hữu Công Giáo, chỉ có 5,6% tham dự thánh lễ chúa nhật đều đặn.

Trong bài huấn dụ tại buổi tiếp kiến, ĐTC cám ơn và khích lệ các GM Hòa Lan tiếp làm tăng trưởng niềm hy vọng trong khi thi hành công tác mục vụ giữa những hoàn cảnh nhiều khi cam go. Ngài nói: ”Không dễ bảo tồn hy vọng trong những khó khăn mà anh em phải đương đầu. Việc thực thi sứ vụ GM trong tinh thần đoàn thể, hiệp thông với GM Roma, là một điều cần thiết để làm gia tăng niềm hy vọng ấy, trong cuộc cuộc đối thoải đích thực và trong sự cộng tác hữu hiệu”.

ĐTC cũng nói rằng ”Các tín hữu Kitô có một sứ mạng đương đầu với thách đố của một xã hội muốn loại bỏ chiều kích siêu việt của con người, làm cho nền văn hóa trở nên nghèo nàn… Việc giáo dục lương tâm con người là điều ưu tiên, nhất là qua việc huấn luyện phán đoán với óc phê bình, nhờ đó tránh được những phán đoán hời hợt và cam chịu tình trạng dửng dưng. Vì thế, các tín hữu Công Giáo, các Linh mục, tu sĩ nam nữ và giáo dân cần có một nền huấn luyện vững chắc và có chất lượng cao”.

ĐTC nhận xét rằng “Trong xã hội anh em, bị ảnh hưởng nặng của trào lưu tục hóa, tôi khuyến khích anh em cũng hãy hiện diện trong các cuộc thảo luận công cộng, trong mọi lãnh vực có liên hệ tới chính nghĩa con người, để làm cho lòng từ bi của Chúa được hiện diện cụ thể, và sự dịu dàng của Ngài đối với mỗi thụ tạo”.

Sau cùng, ĐTC khích lệ các GM Hòa Lan quan tâm đến việc mục vụ ơn gọi LM và tu sĩ, vì điều này có liên hệ tới tương lai và sức sinh đọng của Giáo Hội tại đây. Ngài nói: ”Cần cấp thiết khơi dậy một nền mục vụ ơn gọi mạnh mẽ và có sức thu hút, và cùng tìm cách tháp tùng sự trưởng thành của các chủng sinh về mặt nhân bản và tinh thần” (SD 2-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

 

 

Đức Thánh Cha tiếp kiến thủ tướng Israel

Đức Thánh Cha tiếp kiến thủ tướng Israel

VATICAN. Sáng ngày 2-12-2013, ĐTC Phanxicô đã tiếp kiến thủ tướng Israel, Ông Benjamin Netanyahu và toàn tùy tùng gồm 13 người.

Phòng báo chí Tòa Thánh cho biết sau khi gặp ĐTC, Thủ trướng Israel đã hội kiến với Đức TGM Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, có sự hiện diện của Đức Ông Antoine Camilleri, Thứ trưởng ngoại giao.

Trong hai cuộc gặp gỡ đó, các vị đã đề cập đến tình hình chính trị và xã hội phức tạp ở Trung Đông, đặc biệt là việc mở lại các cuộc thương thuyết giữa Israel và Palestine, và Tòa Thánh cầu mong sớm đạt tới một giải pháp công chính và lâu dài, trong niềm tôn trọng các quyền của hai bên.

Ngoài ra, hai bên cũng bàn tới dự án hành hương của ĐTC tại Thánh Địa, cũng như một số vấn đề liên quan đến chính quyền và cộng đoàn Công giáo ở địa phương, giữa Nhà Nước Israel và Tòa Thánh. Tòa Thánh cầu mong sớm kết thúc tiến trình chuẩn bị từ lâu cho hiệp định giữa hai bên về vấn đề này.

Trong thời gian qua, báo chí đã phỏng đoán ngày ĐTC Phanxicô có thể viếng thăm Thánh Địa. Ví dụ tờ Jerusalem Post cho rằng cuộc viếng thăm của ĐTC tại Israel sẽ diễn ra trong hai ngày 25 và 26-5 năm tới, và một toán chuẩn bị của Tòa Thánh sắp tới Israel. Tuy nhiên, Phòng báo chí Tòa Thánh không xác nhận tin này.

Cả tổng thống Shimon Peres lẫn thủ tướng Netanyahu đã mời ĐTC Phanxicô đến thăm Israel và ngài cũng bày tỏ sự sẵn sàng.

Trong khi đó, hãng tin Petra của Giordani cho rằng cuộc viếng thăm của ĐTC tại Thánh Địa, dự kiến vào năm tới, có thể bắt đầu từ Giordani.

Hãng tin này cho biết đã lấy tin này từ Đức TGM Dominique Mamberti, ngoại trưởng Tòa Thánh. ĐGH nhận xét rằng Giordani là một nước tôn trọng sự đa nguyên tôn giáo. Ngài đã được nhiều nước trong vùng mời viếng thăm, trong đó có Israel, lãnh thổ của người Palestine và cả Liban nữa. (Tổng hợp 2-12-2013).

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Gặp Gỡ Đức Giáo Hoàng: Hướng Về Vương Quốc Thiên Chúa

Gặp Gỡ Đức Giáo Hoàng: Hướng Về Vương Quốc Thiên Chúa

VATICAN. Ngày 1-12-2013, Chúa Nhật thứ I mùa Vọng, tiết trời ở Rôma khá lạnh, nhưng các tín hữu hành hương vẫn tề tựu rất đông về quảng trường Thánh Phêrô, để nghe những giáo huấn của Đức Thánh Cha Phanxicô, đọc kinh Truyền Tin cùng ngài, cũng như nhận phép lành từ ngài.

Đúng 12h, Đức Thánh Cha xuất hiện ở cửa sổ như thường lệ, ngài đưa tay chào tất cả mọi người. Ngài chia sẻ rằng chúng ta đang bước vào “một năm phụng vụ mới, một hành trình mới của Dân Chúa với Đức Giêsu Kitô, mục tử của chúng ta, Đấng hướng dẫn chúng ta qua dòng lịch sử hướng về sự kiện toàn trong Vương Quốc của Thiên Chúa. Vì thế, ngày hôm nay có một sức hút đặc biệt, làm cho chúng ta cảm nếm một cảm giác sâu xa ý nghĩa của lịch sử.” Đức Thánh Cha cũng mời gọi chúng ta hãy cùng nhìn lại hành trình của “Giáo Hội, với ơn gọi và sứ mạng của mình, và toàn thể nhân loại, dân tộc, nền văn minh, văn hóa, tất cả đều đang trong cuộc hành trình qua các chặng đường của thời gian.”

Nhưng Đức Thánh Cha cũng đặt vấn đề “Hành trình về đâu? Có một đích chung nào không? Đích ấy là gì? Thiên Chúa đã trả lời thông qua ngôn sứ Isaia: " Trong tương lai, núi Nhà Ðức Chúa đứng kiên cường vượt đỉnh các non cao, vươn mình trên hết mọi ngọn đồi. Dân dân lũ lượt đưa nhau tới, Nước nước dập dìu kéo nhau đi. Rằng: "Ðến đây, ta cùng lên núi Ðức Chúa, lên Nhà Thiên Chúa của Gia-cóp, để Người dạy ta biết lối của Người, và để ta bước theo đường Người chỉ vẽ." (Is 2,2-3).

Đó là một cuộc hành hương của cả vũ trụ hướng về một cùng đích chung, chính là Giêrusalem của Cựu Ước, nơi có Đền Thờ Đức Chúa, vì từ đó, dung nhan của Thiên Chúa và giới luật của Người sẽ được ban truyền, và "đền thờ của Thiên Chúa" là chính Người, Ngôi Lời đã làm người: Người hướng dẫn và đặt đích đến cho cuộc hành hương của Dân Chúa; và là ánh sáng chiếu rọi dân Người để họ có thể tiến tới một Vương Quốc của công chính và bình an. Tiên Tri Isaia nói: "Người sẽ đứng làm trọng tài giữa các quốc gia và phân xử cho muôn dân tộc. Họ sẽ đúc gươm đao thành cuốc thành cày, rèn giáo mác nên liềm nên hái. Dân này nước nọ sẽ không còn vung kiếm đánh nhau, và thiên hạ thôi học nghề chinh chiến." (Is 2,4).

Hành trình này vẫn chưa hoàn thành. Cuộc sống của chúng ta luôn cần những sẻ chia, nâng đỡ, khôi phục lại ý nghĩa của đích đến trong cuộc hiện hữu của chúng ta, gia đình nhân loại cũng cần làm mới lại chân trời chung mà chúng ta đang hướng về. Chân trời của hy vọng! Mùa vọng mà chúng ta bắt đầu hôm nay trao ban cho chúng ta chân trời hy vọng, một niềm hy vọng không bao giờ dối gạt vì nó được cắm sâu vào Lời Chúa.”

Tiếp đến, Đức Thánh Cha nhắc đến một kiểu mẫu của thái độ thiêng liếng là chính Đức Trinh Nữ Maria, một người nữ thôn quê đơn sơ, đã mang trong con tim của mình niềm hy vọng của Thiên Chúa. Trong dạ Mẹ, niềm hy vọng của Thiên Chúa đang mặc lấy xác phàm, làm người và bước vào lịch sử: Đức Giêsu Kitô. Bài ca Tạ Ơn của Mẹ là bài ca của Dân Chúa trong cuộc hành trình, và của tất cả những thiện nam tín nữ, những người đặt hy vọng vào Thiên Chúa, vào sức mạnh lòng thương xót ủa Người. Chúng ta hãy để Mẹ hướng dẫn chúng ta trong mùa chờ đợi và tỉnh thức này.

Sau kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha gợi nhắc mọi người về ngày thế giới chiến đấu chống lại căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS. Chúng ta hãy cùng nhau diễn tả sự gần gũi của chúng ta dành cho những người nhiễm bệnh, đặc biệt là các trẻ em, một sự gần gũi rất cụ thể trong việc dấn thân cách âm thầm của các nhà truyền giáo và nhà hoạt động. Chúng ta hãy cầu nguyện cho tất cả mọi người, cầu nguyện cho các y bác sĩ, các nhà nghiên cứu, sao cho từng bệnh nhân, không loại trừ ai, đều có cơ hội tiếp cận những biện pháp chữa trị mà họ cần.

Sau đó, ngài gửi lời chào đến tất cả các khách hành hương đang hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô: các gia đình, giáo xứ, đoàn hội, các tín hữu đến từ Madrid, ca đoàn "Florilège" từ Bỉ, nhóm "gia đình cùng nhau" ở Solofra và Hiệp Hội Nghệ Thuật làm việc ở Rôma, các tín hữu từ Bari, Sant' Elpidio và Mare, Polloch và Lump Nevano.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
 

 

Đức Thánh Cha tái kêu gọi hòa bình cho Syria

Đức Thánh Cha tái kêu gọi hòa bình cho Siria

VATICAN. ĐTC tái bày tỏ tình liên đới và kêu gọi hòa bình cho các tín hữu Kitô và nhân dân Syria.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 30-11-2013 dành cho Đức Thượng Phụ Gregorio III, Giáo Chủ Công Giáo Melkite cùng với các GM và 300 tín hữu về Roma hành hương. Ngài nói:

”Tôi nghĩ ngay đến anh chị em ở Siria từ lâu đang phải chịu sầu khổ lớn lao. Tôi cầu nguyện cho những người bị thiệt mạng và những người thân yêu của họ. Xin Chúa lau khô nước mắt của những người con này của Ngài; ước gì sự gần gũi của toàn thể Giáo Hội an ủi họ trong lo âu và giữ gìn họ khỏi tuyệt vọng”.

ĐTC cũng nói rằng ”Chúng ta mạnh mẽ tin nơi sức mạnh của lời cầu nguyện và sự hòa giải, và chúng ta tái tha thiết kêu gọi các vị hữu trách làm sao để mọi bạo lực được chấm dứt và nhờ đối thoại, tìm được những giải pháp công chính và lâu bền cho một cuộc xung đột đã gây quá nhiều thiệt hại. Đặc biệt tôi nhắn nhủ các tôn giáo hãy tôn trọng nhau, để đảm bảo cho mọi người một tương lai dựa trên các quyền bất khả nhượng của con người, kể cả quyền tự do tôn giáo.”

ĐTC lập lại với các tín hữu Công Giáo Melkite rằng ”chúng ta không cam chịu nghĩ đến miền Trung Đông không còn tín hữu Kitô. Tuy nhiên có nhiều anh chị em xuất cư và có đông đảo đại diện các cộng đoàn ở hải ngoại hiện diện nơi đây. Tôi khuyến khích họ hãy kiên vững bảo tồn căn cội nhân bản và tinh thần của truyền thống Melkite, gìn giữ khắp nơi căn tính Công Giáo Hy Lạp của mình vì toàn thể Giáo Hội đang cần truyền thống này”.

Giáo Hội Công Giáo Melkite hiện có hơn 1 triệu 600 ngàn tín hữu, phần lớn sống tại Syria và tòa Thượng Phụ đặt tại Damasco (SD 30-11-2013).

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự kinh chiều đầu tiên với các sinh viên Roma

Đức Thánh Cha Phanxicô chủ sự kinh chiều đầu tiên với các sinh viên Roma

VATICAN. ĐTC Phanxicô mời gọi các sinh viên đừng chiều theo lối sống tầm thường, nhưng hãy nhắm những dự án cao thượng và can đảm đi ngược dòng đời.

Trên đây là nội dung bài giảng của ĐTC trong buổi hát kinh chiều I của chúa nhật thứ I mùa vọng với các sinh viên đại học Roma tại Đền thờ Thánh Phêrô chiều thứ bẩy 30-11-2013, cùng với ĐHY Agostino Vallini, giám quản giáo phận Roma và nhiều LM tuyên úy các đại học.

Trong số hơn 9 ngàn sinh viên hiện diện, cũng có một phái đoàn các bạn trẻ Brazil và Italia đã tham dự Ngày Quốc Tế giới trẻ ở Rio de Janeiro, hồi hạ tuần tháng 7 năm nay, và 200 sinh viên đang chuẩn bị lãnh nhận bí tích thêm sức ở Roma.Cạnh bàn thờ trong thánh đường, có bức ảnh Đức Mẹ là Tòa Đấng Khôn ngoan là bổn mạng của các sinh viên đại học. Ảnh này được các sinh viên Brazil giữ trong thời gian qua, và được trao cho các sinh viên người Pháp vào cuối buổi hát kinh.

Trong bài giảng sau bài đọc ngắn, ĐTC nhắc đến nhiều thứ thách đố mà các sinh viên đại học đang phải đương đầu. Ngài nói: ”Bối cảnh văn hóa xã hội các con đang sống trong đó mang nặng tính chất tầm thường và nhàm chán. Các con đừngg cam chịu sự đều đều của cuộc thường nhật, trái lại hãy vun trồng những dự phóng rộng lớn, đi xa hơn những gì thông thường: các con đừng để mình bị cướp mất lòng nhiệt thành của người trẻ! Thật là một sai lầm khi để mình bị cầm tù vì tư tưởng yếu thế và tư tưởng đồng nhất, cũng như vì một thứ hoàn cầu hóa, được hiểu như một sự đồng điệu hóa. Để vượt thắng những nguy cơ ấy, kiểu mẫu phải theo không phải là một thứ quả cầu, trong đó mọi sự trồi ra đều được gạt cho rằng, và biến mất mọi sự khác biệt; trái lại kiểu mẫu phải theo là một khối đa diện, bao gồm nhiều yếu tố khác nhau nhưng tôn trọng sự hiệp nhất trong sự khác biệt”.

ĐTC cũng nhắc nhở các sinh viên rằng ”Tư tưởng là phong phú khi nó diễn tả một tâm trí cởi mở, biết phân định thiện ác và luôn được chân thiện mỹ soi sáng. Nếu các con không để mình bị ảnh hưởng vì những ý kiến thời thượng, nhưng tiếp tục trung thành với nguyên tắc luân lý đạo đức và Kitô giáo, các con sẽ tìm được can đảm đi ngược dòng. Trong thế giới hoàn cầu hóa, các con có thể góp phần cứu vãn những đặc tính riêng, nhưng cố gắng đừng hạ thấp mức độ luân lý đạo đức. Thực vậy sự đa diện về tư tưởng và đặc tính riêng phản ánh sự khôn ngoan đa dạng của Thiên Chúa, khi chúng ta tiếp cận sự thật trong thái độ lương thiện và nghiêm túc về trí thức, như thế mỗi người có thể là một món quà, ích lợi cho tất cả mọi người

Đầu buổi đọc kinh, giáo sư Luigi Frati viện trưởng đại học Sapienza ở Roma đã đại diện mọi người chào mừng ĐTC. Đến cuối, cô Simona Piccirilli, sinh viên năm thứ II đại học Sapienđa, ngành khoa học truyền thông, cũng chào mừng ĐTC và nói lên những ưu tư khắc khoải của nhiều sinh viên không thấy viễn tượng tương lai. Tại Italia có tới 41% người trẻ thất nghiệp.

G. Trần Đức Anh O.P – Vatican Radio

Sứ điệp Đức Thánh Cha gửi Đức Thượng Phụ Chính Thống Constantinople

Sứ điệp Đức Thánh Cha gửi Đức Thượng Phụ Chính Thống Constantinople

ISTANBUL. ĐTC Phanxicô tái khẳng định quyết tâm tiếp tục những quan hệ huynh đệ giữa Giáo Hội Công Giáo Roma và Chính Thống Constantinople, đồng thời bày tỏ quan tâm vì nhiều Kitô hữu còn bị bách hại.

Sứ điệp của ĐTC được ĐHY Kurt Koch, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô trao cho Đức Thượng Phụ Bartolomaios, Giáo Chủ Chính Thống Constantonople, và công bố vào cuối thánh lễ sáng ngày 30-11-2013, lễ thánh Anrê Tông Đồ bổn mạng Giáo Hội Chính Thống này. Cùng tháp tùng ĐHY Koch đến viếng thăm Đức Thượng Phụ và dự lễ, còn có Đức Cha Tổng thư ký Brian Farell và vị Phó Tổng thư ký của hội đồng này là Đức Ông Andrea Palmieri, cũng như Đức TGM Antonio Lucibello, Sứ Thần Tòa Thánh tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Trong sứ điệp đầu tiên gửi Đức Thượng Phụ chung của Chính Thống giáo, ĐTC Phanxicô bày tỏ quyết tâm vừa nói trên đây đồng thời ngài khẳng định rằng: ”Ký ức về cuộc tử đạo của thánh Anrê Tông Đồ làm cho chúng ta nghĩ đến nhiều Kitô hữu thuộc tất cả các Giáo Hội và Cộng Đồng Giáo Hội tại nhiều nơi trên thế giới đang bị kỳ thị và đôi khi phải trả bằng giá máu cho việc tuyên xưng đức tin của họ. Chúng ta đang mừng kỷ niệm 1.700 sắc chỉ của Hoàng đế Constantino, chấm dứt cuộc bách hại đạo trong đế quốc Roma, ở phương đông cũng như phương tây, và mở ra những con đường mới cho việc phổ biến Tin Mừng. Vì thế ngày nay các tín hữu Kitô Đông cũng như Tây phương phải làm chứng chung rằng, được Thánh Linh của Chúa Kitô phục sinh củng cố, họ có thể truyền bá sứ điệp cứu độ cho toàn thế giới. Cũng vậy hiện có một nhu cầu cấp thiết là sự cộng tác hữu hiệu và quyết liệt giữa các tín hữu Kitô để bảo vệ quyền được công khai tuyên xưng đức tin ở mọi nơi, cũng như được đối xử tốt đẹp khi họ thăng tiến sự cộng tác mà Kitô giáo tiếp tục cống hiến cho xã hội và nền văn hóa ngày nay”.

Hàng năm từ gần 50 năm nay, vào dịp lễ kính Thánh Phêrô và Phaolô, 29-6, Bổn mạng của Giáo Hội Công Giáo Roma, Đức Thượng Phụ Chính Thống Constantinople đều gửi phái đoàn đến Roma mừng lễ, và đối lại Tòa Thánh cũng gửi phái đoàn đến Istanbul để chúc mừng và dự kễ kính thánh Anrê Tông Đồ bổn mạng Giáo Hội Chính Thống này.

Phái đoàn Tòa Thánh do ĐHY Kurt Koch người Thụy Sĩ hướng dẫn, đến Istantul từ ngày 28-11 cho đến hôm nay, 1-12. Đoàn đã được Đức Thượng Phụ Bartolomaios tiếp kiến, và sau đó đã thảo luận với Ủy ban của Tòa Thượng Phụ đặc trách quan hệ với Giáo Hội Công Giáo.

Trong thời gian lưu lại Thổ Nhĩ Kỳ, Phái đoàn Tòa Thánh cũng viếng thăm trụ sở thần học viện của Tòa Thượng Phụ ở đảo Halki, bị nhà cầm quyền Thổ đóng cửa từ 42 năm nay (1971), nhưng dưới áp lực từ lâu của quốc tế, Nhà Nước Thổ sắp cho phép mở lại Học viện này để đào tạo các LM tương lai cho Giáo Hội Chính Thống tại đây (SD 30-11-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Ai sống bác ái và thương xót thì không sợ chết

Ai sống bác ái và thương xót thì không sợ chết

Nếu chúng ta mở cửa cuộc sống và con tim cho các anh chị em bé nhỏ nhất, thì khi đó cả cái chết của chúng ta cũng sẽ trở thành một cánh cửa dẫn chúng ta bước vào trời, vào quê hương diễm phúc.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với khoảng 60,000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến chung tại quảng trường Thánh Phêrô sáng thứ tư 27-11-2013. Sau khi chào mọi người Đức Thánh Cha khen ngợi tín hữu can đảm vì đứng trong trời lạnh tại quảng trường. Từ mấy ngày nay trời Roma rất lạnh và có gió buốt.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã khai triển đề tài ”chết trong Chúa Kitô”. Ngài nói:

Giữa chúng ta có một kiểu nhìn sai lầm về cái chết. Cái chết liên quan tới tất cả chúng ta và cật vấn chúng ta một cách sâu xa, đặc biệt khi nó đụng chạm tới chúng ta từ gần, hay khi nó đánh trúng những người bé nhỏ, không được bênh đỡ trong một cách thế gây gương mù gương xấu. Đối với tôi câu hỏi đã luôn luôn đánh động tôi đó là: Tại sao các trẻ em đau khổ? Tại sao các trẻ em chết? Nếu được hiểu như là việc kết thúc mọi sự, cái chết khiến cho chúng ta hoảng sợ, nó đánh chúng ta ngã gục trên đất, nó biến thành sự đe dọa, bẻ gẫy mọi tương quan và cắt đứt mọi con đường. Điều này xảy ra, khi chúng ta coi cuộc sống như một thời gian khép kín trong hai cực: sinh ra và chết đi; khi chúng ta không tin nơi một chân trời vượt xa hơn chân trời hiện tại; khi người ta sống như thể Thiên Chúa không hiện hữu. Quan niệm này về cái chết là quan niệm đặc biệt của tư tưởng vô thần, giải thích cuộc sống như là một hiện diện tình cờ trong thế giới và như một con đường tiến về hư không. Nhưng cũng có một chủ thuyết vô thần thực tiễn, chỉ sống cho các lợi lộc riêng tư và các sự vật trần gian. Nếu chúng ta để cho quan niệm sai lầm này về cái chết nắm bắt, thì chúng ta không có lựa chọn nào khác ngoài việc che dấu cái chết, khước từ nó, hay tầm thường hóa nó, để nó không làm cho chúng ta sợ.

Nhưng trái tim con người, ước mong vô tận mà chúng ta tất cả đều có, nỗi nhớ nhung vĩnh cửu mà tất cả chúng ta đều có, nổi loạn đối với giải pháp giả này. Như thế, đâu là ý nghĩa kitô của cái chết? Nếu chúng ta nhìn vào các lúc khổ đau của cuộc sống, khi chúng ta đã mất đi một người thân – cha mẹ, một người anh chị em, một người phối ngẫu, một đứa con, một người bạn – chúng ta nhận ra rằng cả trong thảm cảnh mất mát ấy, cả khi bị xâu xé vì sự chia lìa, từ con tim vang lên một xác tín rằng nó không thể là hết tất cả, rằng thiện ích đã cho và đã nhận đã không uổng công. Có một bản năng mạnh mẽ trong chúng ta, nói với chúng ta rằng cuộc sống của chúng ta không kết thúc với cái chết. Điều này thật đó: cuộc sống của chúng ta không kết thúc với cái chết!.

Nỗi khát khao sự sống đó đã tìm thấy câu trả lời đáng tin cậy nơi sự sống lại của Chúa Giêsu Kitô. Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:

Sự sống lại của Chúa Giêsu không chỉ trao ban sự chắc chắn của sự sống bên kia cái chết, mà cũng còn soi sáng chính mầu nhiệm cái chết của từng người trong chúng ta nữa. Nếu chúng ta sống hiệp nhất với Chúa Giêsu, trung thành với Ngài, chúng ta sẽ có khả năng đương đầu với việc bước qua cái chết với niềm hy vọng và sự thanh thản. Thật thế Giáo Hội cầu nguyện rằng: ”Nếu sự chắc chắn phải chết khiến cho chúng con buồn sầu, thì lời hứa sự bất tử mai sau ủi an chúng con”. Đây thật là một lời cầu đẹp của Giáo Hội! Một người hướng tới chết như đã sống. Nếu cuộc sống của tôi đã là một lộ trình bước đi với Chúa, tin tưởng nơi lòng thương xót của Ngài, tôi sẽ được chuẩn bị chấp nhận giây phút cuối cùng của cuộc đời dương thế như là sự phó thác vĩnh viễn trong bàn tay tiếp nhận của Người, trong khi chờ đợi chiêm ngưỡng gương mặt Ngài diện đối diện. Đây là điều đẹp nhất có thể xảy ra: chiêm ngưỡng mặt đối mặt gương mặt tuyệt vời của Chúa. Nhưng trông thấy Ngài như Ngài là: xinh đẹp, tràn đầy ánh sáng, tràn đầy tình yêu, tràn đầy sự dịu hiền. Chúng ta đi tới điểm này: đó là tìm được Chúa.

Trong chân trời này chúng ta hiểu lời Chúa Giêsu mời gọi hãy luôn luôn sẵn sàng và tỉnh thức. Khi biết rằng cuộc sống trên trần gian này được ban cho chúng ta cũng là để chuẩn bị cuộc sống khác, cuộc sống với Thiên Chúa Cha ở trên trời. Và Đức Thánh Cha chỉ cho thấy có một con đường chắc chắn như sau:

Và có một con đường chắc chắn cho điều này: đó là tự chuẩn bị tốt cho cái chết, bằng cách ở gần Chúa Giêsu. Đó là sự chắc chắn. Tôi chuẩn bị mình cho cái chết băng cách ở gần Chúa Giêsu. Và chúng ta ở gần Chúa Giêsu như thế nào? Với lời cầu nguyện, trong các Bí Tích và cả trong việc thực thi bác ái nữa. Chúng ta hãy nhớ rằng Chúa hiện diện nơi các người yếu đuối và cần được trợ giúp. Ngài đã đồng hóa chính mình với họ, trong dụ ngôn nổi tiếng của sự phán xét sau hết, khi Ngài nói: ”Ta đói các con đã cho Ta ăn, Ta khát các con đã cho Ta uống, Ta là khách lạ các con đã tiếp đón, Ta trần truồng các con đã cho mặc, Ta đau yếu các con đã viếng thăm, Ta ở tù các con đã đến tìm … Tất cả những gì các con làm cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta đây là các con đã làm cho chính Ta” (Mt 25,35-36).

Vì thế một con đường chắc chắn là phục hồi ý nghĩa của tình bác ái kitô và của sự chia sẻ huynh đệ, lo lắng cho các vết thương trên thân xác và trong tinh thần của tha nhân. Tình liên đới trong việc cảm thương nổi khổ đau và trao ban hy vọng là tiền đề và là điều kiện để nhận được gia tài Nước Trời được chuẩn bị cho chúng ta. Ai thực thi lòng thương xót thì không sợ cái chết.

Xin anh chị em hãy nghĩ tới điều đó nhé! Ai thực thi lòng thương xót thì không sợ chết. Anh chị em có đồng ý không? Chúng ta hãy cùng nhau nói lên đièu đó để không quên: Ai thực thi lòng thương xót thì không sợ chết. Một lần nữa nào: Ai thực thi lòng thương xót thì không sợ chết. Bởi vì họ nhìn thẳng mặt nó nơi các vết thương của các anh chị em khác và thắng vượt nó với tình yêu của Chúa Giêsu Kitô.

Nếu chúng ta mở cửa cuộc sống và con tim cho các anh chị em bé nhỏ nhất, thì khi đó cả cái chết của chúng ta cũng sẽ trở thành một cánh cửa dẫn chúng ta bước vào trời, vào quê hương diễm phúc, nơi chúng ta hướng tới bằng cách khát khao ở luôn mãi với Thiên Chúa là Cha chúng ta, với Chúa Giêsu, Đức Mẹ và các Thánh.

Đức Thánh Cha đã chào các đoàn hành hương đến từ các nước Tây Âu và Bắc Mỹ, cũng như từ Á châu như đoàn hành hương Philippines, và từ châu Mỹ Latinh như các đoàn hành hương Mêhicô, Guatemala, Argentina. Ngài đã chào đặc biệt hàng ngàn tín hữu Ucraine cùng với Đức Tổng Giám Mục Trưởng Sviatoslav Shcevchuk, các Giám mục và tín hữu công giáo Hy Lạp hành hương tới mộ hai thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô trong Năm Đức Tin và nhân kỷ niệm năm mươi năm di đời xác thánh Giosaphat trong Đền thờ thánh Phêrô. Gương của thánh nhân hiến mạng sống cho Chúa Giêsu và cho sự hiệp nhất của Giáo Hội là lời mời gọi tất cả mọi người dấn thân mỗi ngày cho tình hiệp thông giữa các tín hữu.

Chào các bạn trẻ Đức Thánh Cha khích lệ họ chuẩn bị tâm lòng đón Chúa Giêsu Cứu Thế. Ngài nhắn nhủ các anh chị em bệnh nhân dâng các khổ đau cho Chúa để mọi người nhận biết nơi lễ Giáng Sinh cuộc gặp gỡ của Chúa Kitô với bản tính nhân loại yếu hèn. Đức Thánh Cha khuyên các cặp vợ chồng mới cưới sống đời hôn nhân như phản ánh tình yêu của Thiên Chúa.

Đức Thánh Cha cũng đã chào, ôm hôn và ủy lạo rất nhiều người tàn tật ngồi trên xe lăn và chào các trẻ em bị bệnh chậm trí. Ngài cũng dừng xe xuống chào một đám học sinh gân cổ réo gọi tên ngài, khiến cho các em vô cùng sung sướng, níu kéo không muốn để cho ngài đi.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

 

Cuộc họp báo giới thiệu Tông huấn ”Eveangelii Gaudium” Niềm Vui Phúc Âm

Cuộc họp báo giới thiệu Tông huấn ”Eveangelii Gaudium” Niềm Vui Phúc Âm

Lúc 11 giờ rưỡi sáng thứ ba 26-11-2013 tại Phòng báo chí Tòa Thánh đã có buổi họp báo giới thiệu Tông huấn ”Evangelii Gaudium – Niềm Vui Phúc Âm” của Đức Thánh Cha Phanxicô. Chủ tọa cuộc họp báo có Đức Tổng Giám Mục Rino Fisichella, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh thăng tiến việc tái truyền giảng Tin Mừng, Đức Tổng Giám Mục Lorenzo Baldisseri, Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, và Đức Tổng Giám Mục Claudio Maria Celli, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Truyền Thông Xã Hội.

Tông huấn của Đức Thánh Cha khai triển đề tài loan báo Tin Mừng trong thế giới ngày nay bắt đầu với câu: ”Niềm vui của Tin Mừng tràn ngập con tim và toàn cuộc sống của những người gặp gỡ Đức Giêsu”. Tông huấn là kết quả các đóng góp của các Nghị Phụ tham dự Thượng Hội Đồng Giám Mục về việc tái truyền giảng Tin Mừng diễn ra tại Vaticăng trong các ngày từ mùng 7 tới 28 tháng 10 năm 2012. Vào cuối thánh lễ kết thúc Năm Đức Tin sáng Chúa Nhật vừa qua Đức Thánh Cha đã trao CD Tông Huấn cho 38 người thuộc 18 quốc gia đại diện cho mọi thành phần dân Chúa năm châu.

Tông thư của Đức Thánh Cha nêu bật năm điểm sau đây: thứ nhất là việc tái truyền giảng Tin Mừng với niềm vui; thứ hai, canh tân óc sáng tạo trong việc loan báo Tin Mừng; thứ ba, Giáo Hội phải là một Giáo Hội rộng mở, tiếp đón và thương xót; thứ bốn Giáo Hội phải đối thoại và vặp gỡ; và thứ năm Giáo Hội phải là tiếng nói ngôn sứ.

Ngỏ lời với các nhà báo Đức Tổng Giám Mục Claudio Maria Celli, Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về Truyền Thông Xã Hội, nêu bật một số điểm của Tông Huấn liên quan tới truyền thông. Trước hết tài liệu có giọng văn nói chuyện, với ngôn từ thanh thản và thân tình, như mọi người đã nhận thấy trong các tháng qua trong triều đại của Đức Thánh Cha Phanxicô. Thứ hai là vai trò của truyền thông trong công tác tái truyền giảng Tin Mừng. Đức Thánh Cha muốn chỉ cho thấy con đường của Giáo Hội trong các năm tới. Ngài rất ý thức được những gì đang xảy ra trên thế giới trong các lãnh vực sức khỏe, giáo dục và truyền thông, các tiến bộ, thành công và các kỹ thuật tân tiến (s. 52).

Thật thế, thế giới ngày nay tràn ngập các thông tin thuộc đủ loại có ảnh hưởng trên các vấn đề luân lý, vì thế cần phải giáo dục suy tư với óc phê bình giúp trưởng thành trong các giá trị (s. 64). Các cơ may truyền thông lớn hơn này cũng phải trở thành các khả thể gặp gỡ giữa tất cả mọi người với nhau. Vì thế cần khám phá ra và thông truyền sự thần bí vủa việc chung sống, hòa trộn với nhau và gặp gỡ nhau (s. 87). Đức Thánh Cha ý thức rằng các nền văn hóa mới và các dữ kiện địa lý cống hiến cho kitô hữu các định hướng mới cho cuộc sống, thường khi trái nghịch với Tin Mừng của Chúa Giêsu (s. 73). Nền văn hóa truyền thông và vài môi trường trí thức đôi khi thông truyền một sự mất tin tưởng và một loại vỡ mộng nào đó đối với sứ điệp của Giáo Hội (s. 79).

Nói tiếp trong cuộc họp báo Đức Tổng Giám Mục Celli cho biết Đức Thánh Cha dành một phần rộng rãi cho kiểu thông truyền sứ điệp Tin Mừng. Việc thông tin nhanh chóng ngày nay đôi khi khiến cho các phương tiện truyền thông tuyển lựa các nội dung khác nhau theo sở thích và quan điểm riêng. Do đó có nguy cơ khiến cho sứ điệp què quặt và bị giảm thiểu vào những khía cạnh phụ thuộc. Và vài vấn đề trong giáo huấn luân lý của Giáo Hội bị đặt ngoài bối cảnh trao ban ý nghĩa cho chúng, hay bị đồng hóa với các khía cạnh phụ thuộc không diễn tả trọng tâm đích thật sứ điệp của Chúa Giêsu Kitô. Vì thế Đức Thánh Cha nhấn mạnh việc loan báo phải tập trung nơi điểm nòng cốt, liên quan tới những gì là hay đẹp hơn, lớn lao hơn, hấp dẫn hơn, đồng thời cũng cần thiết hơn của Tin Mừng (s. 34).

Đức Thánh Cha cũng dành nhiều chỗ cho đề tài ngôn ngữ của việc loan báo Tin Mừng, là một thách đố lớn đối với Giáo Hội ngày nay. Sự thật là chúng ta sẽ không bao giờ có thể khiến cho các giáo huấn của Giáo Hội trở thành cái gì đễ hiểu và được mọi người ưa chuộng. Đức tin luôn duy trì một khía cạnh của thập giá, một cái gì mờ tối, nhưng không lấy đi sự cương quyết gắn bó với nó” (s. 42). Nhưng cần phải liên tục chú ý tìm diễn tả các sự thật ngàn đời trong một ngôn ngữ cho phép nhận ra sự mới mẻ thường hằng của nó (s. 41)…. Ngoài ra cần có con tim truyền giáo, luôn luôn rộng mở, không khép kín trong các chắc chắn của mình hay lựa chọn thái độ tự vệ cứng nhắc (s. 45). Đức Thánh Cha cũng chú ý tới bài giảng, phải biết nói gì, ra sao và khai triển cụ thể thế nào. Ngài khuyến khích việc dùng các hình ảnh trong bài giảng, làm thế nào để nó chứa dựng ”một ý tưởng, một tâm tình và một hình ảnh.” Và phải dùng một thứ ngôn ngữ đơn sơ, rõ ràng, tích cực và dễ hiểu đối với người nghe, để thông truyền các chân lý của Chúa và đến với con tim của họ (s. 158). Cần can đảm tìm ra các dấu chỉ mới, các biểu tượng mới, một thịt xác mới, các hình thức khác nhau của vẻ đẹp trong các môi trường văn hóa khác nhau để thông truyền Lời Chúa (s. 167).

Trong bài giới thiệu của mình Đức Tổng Giám Mục Lorenzo Baldisseri, Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, nêu bật rằng Đức Thánh Cha Phanxicô đã sử dụng các đề nghị của các Nghị Phụ, nhưng soạn thảo chúng một cách cá nhân. Ngài nhấn mạnh niềm vui của Tin Mừng và lập lại từ này đến 59 lần, và trích các đề nghị của các Nghị Phụ 27 lần. Tông huấn được khai triển trong khung giáo thuyết với các trích dẫn kinh thánh, huấn quyền và các giáo phụ, chẳng hạn như thánh Ireneo, thánh Ambrogio và thánh Agostino, cũng như các thần học gia thời Trung Cổ như chân phước Isacco della Stella, thánh Toma Aguino, Toma thành Kempis. Trong số các thần học gia tân thời có chân phước John Henry Newman, Henri de Lubac, Romano Guardini và các văn hào khác, trong đó có George Bernanos.

Tông huấn cũng quy chiếu các Tông huấn như: Evangelii nuntiandi của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI; các Tông huấn hậu thượng hội đồng giám mục như Christifideles laici; Familiaris consortio; Pastores dabo vobis; Ecclesia in Africa, in Asia, in Oceania, in America, in Medio Oriente, in Europa; Verbum Domini. Thêm vào đó cũng có các tài liệu của Liên Hội Đồng Giám Mục châu Mỹ Latinh như các tài liệu Puebla và Aparecida, cũng như tài liệu của khóa họp thứ XVI của các Thượng Phụ công giáo Trung Đông và các Hội Đồng Giám Mục Ấn Độ, Hoa Kỳ, Pháp, Brasil, Philipines và Congo.

Tiếp đến Đức Cha Baldisseri nhấn mạnh vài đề tài trong Tông huấn. Chẳng hạn như đề tài ”tính cách thượng hội đồng giám mục”. Trong viễn tượng Giáo Hội ra khỏi chính mình và tiến tới với người anh em (s.179) Đức Thánh Cha đề nghị một ”mục vụ hoán cải” 360 độ, khởi đầu từ giáo xứ (s. 28), các cộng đoàn cơ bản, các phong trào và hiệp hội (s. 29), các Giáo Hội địa phương (s. 30) cho tới chức giáo hoàng (s. 32), đặc biệt là thực thi một cách giám mục đoàn quyền tối thượng của Phêrô. Vì thế cả chức giáo hoàng và các cơ cấu trung ương của Giáo Hội hoàn vũ cũng cần lắng nghe lời kêu gọi hoán cải mục vụ (s. 12).

Đề cập tới Công Đồng Chung Vaticăng II, tương tự như các Giáo Hội Thượng Phụ Cổ xưa, Đức Thánh Cha cầu mong các Hội Đồng Giám Mục có thể phát triển phần đóng góp đa diện và phong phú để tình mến giám mục đoàn tìm ra các áp dụng cụ thể (LG 22; EG 32).

Trên bình diện đại kết, nhờ sự hiện diện tại Thượng Hôi Đồng Giám Mục của Đức Thượng Phụ Costantinopoli và của Đức Tổng Giám Mục Canterbury (s. 245) tính cách thượng hội đồng giám mục được diễn tả trong cách thế đặc biệt, bởi vì qua sự đối thoại với các anh em chính thống, tín hữu công giáo có khả thể học được cái gì hơn liên quan tới ý nghĩa của tinh thần giám mục đoàn và liên quan tới kinh nghiệm của tính cách thượng hội đồng giám mục (s. 246).

Tiếp tục bài giới thiệu Tông huấn Đức Tổng Giám Mục Baldisseri nói có một yếu tố ý nghĩa khác: đó là sự kiện Tông huấn là tài liệu có tính cách đại đồng, nhưng tiếp nhận các kích thích mục vụ đến từ các Giáo Hội địa phương khác nhau trên thế giới. Điều này cho thấy tính cách Giám mục đoàn được thực thi. Trong chiều hướng này Đức Thánh Cha khích lệ Giáo Hội ra đi truyền giáo tại những vùng ngoại biên, qua việc hoán cải mục vụ. Ngài dựa trên kinh nghiệm mục vụ đã có tại tổng giáo phận Buenos aires, và việc soạn thảo tài liệu Aparecida của Liên Hội Đồng Giám Mục châu Mỹ Latinh (s. 25). Đức Thánh Cha đã dành một phần rộng rãi để nói về lòng đạo đức bình dân, mà bên chậu Mỹ Latinh và vùng quần đảo Caraibi các Giám Mục gọi là ”nền tu đức bình dân” hay ”nền thần bí bình dân”. Đây là môt ”nền tu đức đích thật nhập thể trong nền văn hóa của những người đơn sơ” (s. 124).

Lấy hứng từ định nghĩa của thánh Thomas Aquino, theo đó ”Ơn thánh giả thiết bản chất tự nhiên”, và dựa trên tài liệu Puebla, Đức Thánh Cha sáng chế ra câu nói: ”Ơn thánh giả thiết nền văn hóa, và ơn của Thiên Chúa nhập thể vào nền văn hóa của người tiếp nhận nó” (s. 115). Việc đánh giá cao các nền văn hóa khác nhau sẵn sàng đón nhận Tin Mừng và thông tin nó với các phong phú của chúng, dẫn đưa Đức Thánh Cha tới chỗ tái lượng định yêu sách tuyệt đối của một nền văn hóa. Vì thế không nhất thiết phải áp đặt một hình thức văn hóa xác định, cùng với đề nghị tin mừng, cho dù nó có xinh đẹp và cổ xưa tới đâu đi nữa (s. 117). Liên quan tới việc này, các Giám Mục Đại dương châu đã xin rằng tại đây Giáo Hội ”phát triển một sự hiểu biết và giới thiệu sự thật của Chúa Kitô, khởi hành từ các truyền thống và các nền văn hóa của vùng này” (s. 118).

Liên quan tới việc đối thoại giữa các tôn giáo được đặt để trong thái độ cởi mở trong sự thật và tình yêu thương, Đức Thánh Cha trình bầy nó trước hết như là một sự hoán cải trong cuộc sống con người, hay một cách đơn sơ, như các Giám Mục Ấn Độ đề nghị ”một thái độ rộng mở đối với họ, chia sẻ các vui buồn khổ đau của họ” (s. 250). Đối với Hồi giáo ”cần có sư đào tạo thích hợp của các người đối thoại, để họ không chỉ có khả năng nhận biết các giá trị của người khác, mà cũng hiểu biết các lo âu nằm bên dưới các đòi hỏi của họ, và đem ra ánh sáng các xác tín chung… Trước các vụ do khuynh hướng cực đoan bạo lực gây ra khiến cho chúng ta lo lắng, lòng thương mến đối với các tín hữu đích thật của Hồi giáo phải dẫn đưa chúng ta tới chỗ tránh việc tổng quát hóa, vì như các Thượng phụ công giáo vùng Trung Đông dậy, ”chúng ta biết rằng Hồi giáo đích thật và kinh Koran vô tội đối với mọi bạo lực” (s. 253).

Tiếp đến còn có chiều kích xã hội của việc tái truyền giảng Tin Mừng khiến cho Giáo Hội chú ý tới những người nghèo, những người bị khai trừ, những người bị áp bức (s. 176). Cần phải hội nhập họ vào xã hội. Giáo Hội phải lắng nghe tiếng gào thét đòi công lý và phẩm giá của họ (s. 186). Cần phải chú ý tới các lý do gây ra thảm cảnh này, và phải thay đổi các cơ cấu thối nát, nặng nề và vô hiệu (s. 189). Ngoài ra cũng cần phải lắng nghe tiếng kêu của nhiều dân tộc đòi quyền của họ được có các quốc gia.

Sau cùng là tương quan giữa công ích và nền hòa bình. Việc loan báo hòa bình không phải là loan báo một nền hòa bình được thương thuyết, nhưng là xác tín rằng sự hiệp nhất của Thần Khí làm hài hòa tất cả mọi khác biệt (230), bởi vì Thần Khí chính là sự hài hòa.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

 

Công tác mục vụ của Giáo Hội Công Giáo đối với người di cư, dân nghèo, người già và các trẻ em còn trong lòng mẹ

Công tác mục vụ của Giáo Hội Công Giáo đối với người di cư, dân nghèo, người già và các trẻ em còn trong lòng mẹ

Phỏng vấn Đức Cha Joseph Kurtz, Tân chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ

Trong khóa họp mùa thu vừa qua các Giám Mục Hoa Kỳ đã bầu Đức Cha Joseph Kurtz, 67 tuổi, Tổng Giám Mục Louisville, làm Tân Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục, thay thế Đức Hồng Y Timothy Dolan. Đức Cha Kurtz đã là Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hôn nhân, và là thành viên Ủy ban trung ương sinh học công giáo toàn quốc.

Đức Cha Kurtz sinh năm 1946, thụ phong linh mục năm 1972, làm cha phó, rồi cha sở nhiều giáo xứ giáo phận Allentown trong 27 năm trời. Cha cũng đã là giám đốc Caritas giáo phận này trong 10 năm. Năm 1999 Đức Gioan Phaolô II đã chỉ định cha Kurtz làm Giám Mục giáo phận Knoxville, bang Tennessee, và sau đó làm Tổng Giám Mục Louisville bang Kentucky, là giáo phận có 200.000 tín hữu. Đức Cha nổi tiếng với các giáo huấn về gia đình và năm 2011 ngài đã thu thập vào một loạt ”12 nhân đức hôn nhân”, mỗi tháng một nhân đức. Đức Cha cũng hoạt động trong lãnh vực truyền thông xã hội và hiện diện trên Twitter.

Giáo Hội Công Giáo Hoa Kỳ hiện có 78.2 triệu tín hữu, tương đương với 25% tổng số dân, với 19 Hồng Y, 450 Giám Mục, 40,271 Linh Mục trông coi 17,644 giáo xứ thuộc 195 tổng giáo phận và giáo phận.

Trong đại hội mùa thu nhóm tại Baltimore những ngày vừa qua các Giám Mục Hoa Kỳ đã yêu cầu chính quyền của tổng thống Obama tôn trọng các quyền của các tín hữu, đặc biệt là phẩm giá con người và quyền tự do tôn giáo. Các vị nhất quyết bảo vệ sự sống của các trẻ em còn trong lòng mẹ chống lại mọi hình thức làm tổn thương quyền sống của các em, của người già, người di cư, và nhất là bênh vực và trợ giúp người nghèo. Trong tài liệu chung kết công bố sau bốn ngày nhóm họp tại Baltimore các Giám Mục Hoa Kỳ nêu bật lập trường chống lại mọi xen mình của chính quyền vào công việc của Giáo Hội.

Điểm nóng được nhắc tới là luật cải cách y tế do chính quyền của tổng thống Obama đưa ra, bắt buộc các cơ sở của Giáo Hội, bao gồm các đại học trường học, nhà thương, phải trả chi phí y tế cho các nhân viên của mình gồm cả việc phá thai, ngừa thai và làm tuyệt đường sinh sản. Nhiều giáo phận và tổ chức của Giáo Hội đã kiện chính quyền vi phạm tự do tôn giáo, không tôn trọng tự do của Giáo Hội, và không cho các tổ chức tôn giáo khả năng chống lại vì lý do lương tâm. Cho tới nay chính quyền cho phép các cơ quan công giáo quyền không bảo đảm bảo hiểm một cách trực tiếp cho các công nhân của mình, nhưng phải trả một bảo hiểm làm điều đó.

Trong thông cáo các Giám Mục cho biết bởi vì chính quyền từ chối bổn phận tôn trọng các quyền của tín hữu, vì thế các Giám Mục nhất quyết từ chối gánh nặng này và sẽ gia tăng các nỗ lực đối với Quốc hội, đặc biệt với các sáng kiến pháp lý như đã làm để bảo vệ tự do tôn giáo, cho phép làm chứng cho Tin Mừng trong việc phục vụ công ích. Các Giám Mục cũng đưa ra chương trình nhằm giảm các bất công và các xa cách giữa thiểu số người giầu và người nghèo, khiến cho nạn nghèo túng ngày càng trầm trọng hơn. Ngoài ra, các vị còn tha thiết yêu cầu Quốc Hội mau chóng thông qua luật cải tổ di cư. Đức Hồng Y Timothy Dolan, Chủ tịch mãn nhiệm của Hội Đồng Giám Muc Hoa Kỳ, nói: ”Đây là một thời gian ngoại thường thuận lợi trong cuộc sống của Giáo Hội. Chúng ta đang chứng kiến các thành công trong việc truyền giảng Tin Mừng, và một triều đại Giáo Hoàng hữu hiệu một cách không tưởng tượng được trong việc đánh động trái tim con người. Chúng ta phải tận dụng thời điểm này để giới thiệu một sứ điệp mạnh mẽ và hiệp nhất trên tất cả mọi đề tài của mục vụ bảo vệ sự sống”.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới quy vị và các bạn bài phỏng vấn Đức Cha Tân Chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ.

Hỏi: Thưa Đức Tổng Giám Mục Kurtz, theo Đức Cha đâu là dấn thân chính của Giáo Hội Hoa Kỳ trong các năm tới đây?

Đáp: Lời Đức Thánh Cha nhắn nhủ thật rõ ràng: trước hết chúng tôi phải là các mục tử. Vì thế chúng tôi phải tự hỏi phải làm thế nào để có thể sưởi ấm con tim và chữa lành các vết thương. Theo tôi, câu trả lời là phải gần gũi dân chúng chừng nào có thể bằng cách lắng nghe họ. Vì thế tôi tin rằng mục vụ gia đình sẽ là điều nền tảng trong các năm tới. Phần quan trọng nhất và đào tạo nhất trong cuộc sống của tôi đã là các năm sống đời chủ chăn trong một giáo xứ, gần gũi các gia đình. Chỉ kinh nghiệm đó mới chuẩn bị cho các chức vụ cao hơn trong Giáo Hội.

Hỏi: Chính Đức Cha đã săn sóc một người trong gia đình trong nhiều năm trời, có đúng thế không?

Đáp: Vâng, đúng thế. Đó là anh George, anh sinh ra với hội chứng down và sau khi mẹ chúng tôi qua đời anh ấy đã sống với tôi mười hai năm cho tới khi anh lìa thế. Tôi đã học được từ anh rất nhiều điều.

Hỏi: Đức Cha thấy Giáo Hội ngày nay phải đương đầu với các thách đố nào?

Đáp: Chúng ta đang sống trong một nền văn hóa của sự thờ ơ. Làm sao chúng ta có thể từ một nền văn hóa quy về chính mình, ích kỷ, bước sang một nền văn hóa nhìn ra ngoài và hướng về các người cần được giúp đỡ? Thách đố đối với các Giám Mục chúng tôi đó là làm gương với sự tiếp đón, qua việc phục vụ những người không có tiếng nói và dễ bị tổn thương như các người di cư, người nghèo, trẻ em chưa sinh ra, người già, và bảo vệ phẩm giá con người trong mọi hoàn cảnh. Bên trong Giáo Hội cần phải có sự hiệp nhất của sứ điệp. Và Đức Thánh Cha đã nhắc nhở cho chúng tôi biết rằng các tín hữu đòi hỏi chúng tôi hiệp nhất trong sứ mệnh phục vụ.

Hỏi: Đức Cha đã gặp Đức Thánh Cha Phanxicô mới đây. Đức Cha có cảm tưởng gì?

Đáp: Tôi có cảm tưởng ngài là một người biết lắng nghe và muốn học hỏi nơi tất cả mọi người, muốn biết Giáo Hội di chuyển thế nào trong thế giới, Giáo Hội đang làm gì cho những người cần được giúp đỡ. Ngài đã nói tiếng Anh, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha với tôi, như thể là để cho tôi hiểu rằng sứ điệp của ngài toàn diện.

Hỏi: Đức Cha có nói ngoại ngữ nào không?

Đáp: Tôi hiểu một chút tiếng Ý và tôi biết Tiếng Tây Ban Nha trên bình diện phụng vụ. Tôi có thể giảng bằng tiếng Tậy Ban Nha, nếu ngắn. Và giảng ngắn như thế thì thường không khiến giáo dân khó chịu.

Hỏi: Đức Cha có ý đưa ra những bước đi để cải tiến các tương quan giữa các Giám Mục Hoa Kỳ với chính quyền của tổng thống Obama hay không, sau các căng thẳng do việc chính quyền bắt buộc các tổ chức của Giáo Hội phải trả chi phí y tế cho các nhân viên của mình, kể cả thuốc ngừa thai?

Đáp: Đức tin làm giầu cho cuộc sống công cộng, Vì thế chúng tôi mạnh mẽ ước muốn có một tương quan lành mạnh với chính quyền, với Quốc hội và với các thẩm phán. Chúng tôi luôn luôn tìm các phương thế để đào sâu sự cộng tác này và rộng mở cho đối thoại, để cùng nhau làm việc trong bối cảnh của một sự tự do tôn giáo vững mạnh. Các cố gắng của chúng tôi lên tiếng nhân danh những người cần được trợ giúp đặt để chúng tôi trong tư thế mưu cầu ích lợi cho quốc gia và cùng hành động với chính quyền, trong một thế giới thừa nhận đức tin góp phần làm cho đất nước lớn lên như thế nào. Có nhiều cơ may cộng tác trên bình diện quốc gia, như thế chúng sẽ được phối hợp một cách trực tiếp bởi các Hội Đồng Giám Mục của các tiểu bang.

Hỏi: Thưa Đức Cha, từ nhiều năm nay các Giám Mục Hoa Kỳ đã gây áp lực trên Quốc hội để Quốc hội chấp nhận một cuộc cải tổ về di cư, cho phép giải quyết vấn đề của hàng triệu người di cư lén lút hiện sống tại Hoa Kỳ. Nhưng luật này đã khống cất cánh được. Đức Cha có thấy trước các sáng kiến khác liên quan tới vấn đề này hay không?

Đáp: Điều này tùy thuộc nơi những gì xảy ra trên bình diện chính trị. Di cư là một khía cạnh chìa khóa của việc bảo vệ phẩm giá con người. Chúng tôi đang ở điểm, trong đó người ta nhận thức rằng việc cải tổ có thể xảy ra. Chúng tôi hy vọng chúng tôi sẽ là các trục thu hút của việc này.

Hỏi: Thưa Đức Cha Kurtz, có nhiều nhà kinh tế đồng ý thừa nhận rằng nghèo túng tại Hoa Kỳ là do sự xa cách cơ may ngày càng gia tăng giữa người giầu có và lớp công nhân. Đức Cha có tin rằng Hội Đồng Giám Mục sẽ đỡ đầu cho các sáng kiến giúp can thiệp vào tận gốc rễ các lý do gây ra nạn nghèo túng hay không?

Đáp: Về điểm này thì chúng tôi hoàn toàn liên đới với Đức Thánh Cha. Chúng ta phải là một Giáo Hội của người nghèo và cho người nghèo. Giáo Hội Hoa Kỳ đã là đầu máy của vô số các sáng kiến thay đổi xã hội. Chúng tôi muốn làm việc để nâng người dân lên khỏi cảnh nghèo túng cùng với gia đình họ. Tôi đã học hỏi rất nhiều khi làm việc cho Caritas giáo phận. Tôi đã cải tiến khả năng lắng nghe của mình. Tôi nghĩ rằng nó sẽ ích lợi cho tôi trong vai trò mới.

(Avvenire 18-11-2013)

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Khi có Chúa Kitô là trung tâm, cả những lúc tối tăm nhất trong cuộc đời cũng được soi sáng

Khi có Chúa Kitô là trung tâm, cả những lúc tối tăm nhất trong cuộc đời cũng được soi sáng

Khi có Chúa Kitô ở trung tâm cuộc sống, chúng ta có thể quy chiếu về Người các niềm vui và niềm hy vọng, các nỗi buồn và lo lắng trong cuộc đời chúng ta. Cả những lúc đen tối nhất cuộc sống cũng được soi sáng và Người ban cho chúng ta niềm hy vọng, như xảy ra đối với người trộm lành trong Phúc âm hôm nay.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hơn 60,000 tín hữu và du khách tham dự thánh lễ bế mạc Năm Đức Tin tại quảng trường Thánh Phêrô sáng Chúa Nhật lễ Chúa Kitô Vua 24-11-2013.

Thánh lễ đã bắt đầu lúc 10 giờ rưỡi sáng. Cùng đồng tế với Đức Thánh Cha có khoảng 80 Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục và 1,200 linh mục. Đảm trách phần thánh ca có ca đoàn Sistina của Tòa Thánh, ca đoàn của Giáo Hoàng Học Viện Thánh Nhạc và ca đoàn Mater Ecclesiae cũng như Dàn nhạc hòa tấu của tỉnh Bari nam Italia.

Trong khi chờ đơi Dàn nhạc đã trình tấu và các ca đoàn đã hát thánh ca chuẩn bị tinh thần cho tín hữu. Hàng trăm người thiện nguyện đã đi quyên tiền trợ giúp các nạn nhân bão lụt Hayan bên Philippinnes. Từ 15 năm qua đây là lần đầu tiên có việc quyên tiền trong thánh lễ tại quảng trường Thánh Phêrô. Số tiền này sẽ được Đức Thánh Cha chuyển tới các nạn nhân trong những ngày tới.

Lúc 9 giờ 45 hòm đựng xương Thánh Phêrô đã được rước ra và để trên đế cao phía bên trái bàn thờ. Hòm xương thánh bằng đồng dài 30 cm rộng 10 cm có 8 mảnh xương, mỗi mảnh dài 2-3 cm. Trên hòm thánh tích có viết hàng chữ: ”Từ các xương tìm thấy trong lòng đất của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô được coi là của Tông Đồ Phêrộ Diễm Phúc”. Thánh tích này đã được trao tặng Đức Giáo Hoàng Phaolô VI năm 1971, và từ đó được giữ trong Nhà nguyện riêng của Đức Giáo Hoàng trong Dinh Tông Tòa. Trong các năm qua Thánh tích được trưng bầy trong nhà nguyện này mỗi ngày 29 tháng 6.

Hôm Chúa Nhật 24 tháng 11-2013 là lần đầu tiên Thánh tích được trưng bầy tại quảng trường Thánh Phêrô cho tín hữu tôn kính. Theo hai bút tích ”Sự lên trời của Isaia” và ”Sách Khải huyền của Phêrô” Tông Đồ Phêrô đã chịu tử đạo dưới thời hoàng đế Neron năm 64, và được chôn cất trong nghĩa trang bên cạnh hý trường Neron và Caligula. Bút tích đầu tiên nhắc tới mộ của Thánh Phêrô thuộc hai thế kỷ thứ II-III là của Giám Mục Eusebio, sử gia của Giáo Hội. Đức Cha Eusebio kể lai lời của một linh mục Roma tên là Gaio nói về phần mộ, mà cha định nghĩa là ”chiến tích” của Phêrô tại Vaticăng.

Vào đầu thế kỷ thứ IV hoàng đế Costantino đã cho lấp nghĩa trang này để xây đền thờ thánh Phêrô, nhưng trên dấu tích mộ của thánh nhân. Chỉ vào năm 1939 dưới thời Đức Giáo Hoàng Pio XII mới có các cuộc đào bới khảo cổ. Tuy nhiên, việc điều hành thiếu sót đã không đưa tới các kết qủa mong muốn, mà chỉ cung cấp một số dữ kiện, mà sau này nhà nữ khảo cổ Margherita Guarducci đã dùng để dựng lại khung cảnh lịch sử của các biến cố.

Thật ra, bên dưới bàn thờ Tuyên Xưng Đức Tin trong Đền Thờ Thánh Phêrô hiện nay có một loạt các bàn thờ có lẽ được dựng để kính thánh Phêrô giữa các năm 321-326. Đền thờ do hoàng đế Costantino cho xây cất bao trùm một bức tường thuộc hậu bán thế kỷ thứ III, một phần mộ gọi là ”chiến tích của Gaio” tựa vào một bức tường trát vữa mầu đỏ và một mộ nhỏ trên mặt đất gọi là ”terragna” ở bên trong phần mộ nói trên.

Năm 1952 bà Guarducci đọc ra tên của thánh Phêrô bằng tiếng Hy lạp mà tín hữu vạch trên tường. Thế rồi tháng 9 năm 1953 bà Guarducci tìm ra một chiếc hộp bị bỏ quên trong một nơi ẩm thấp. Bà giao cho các khoa học gia khảo xét trong đó có ông Venerando Correnti chuyên viên nhân chủng học. Kết luận đó là xương của một người đàn ông khoảng 60-70 tuổi bọc trong một mảnh vải điều có thêu chỉ vàng. Và các vết đất thuộc loại đất của mộ chôn sát đất ”terragna”. Đó là bằng chứng trong mộ có xương của thánh Phêrô trước khi được hoàng đế Costantino chuyển rời. Trong các chữ vạch trên tường có các chữ Hy lạp ”Phêrô ở trong này”. Ngày 26 tháng 6 năm 1968 Đức Giáo Hoàng Phaolô VI chính thức loan báo tin này trong buổi tiếp kiến chung ngày thứ tư, khi nói: ”Các điều tra rất kiên nhẫn và cẩn thận đã được thực thi với kết qủa mà chúng tôi, được củng cố bởi phán quyết của các chuyên viên có giá trị và thận trọng, chúng tôi tin là tích cực: cả các thánh tích của Thánh Phêrô cũng đã được nhận diện một cách, mà chúng ta có thể coi là thuyết phục”.

Trong thánh lễ, các bài Sách Thánh đã được đọc trong các thứ tiếng Anh, Tây Ban Nha và Ý. Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha bầy tỏ lòng biết ơn Đức Biển Đức XVI đã tuyên bố Năm Đức Tin cống hiến cho toàn Giáo Hội cơ may tái khám phá ra vẻ đẹp của lộ trình đức tin, bắt đầu với bí tích Rửa Tội biến chúng ta trở thành con cái Thiên Chúa và anh em với nhau trong Giáo Hội. Đức Thánh Cha cũng chào mừng các Thượng Phụ, Tổng Giám Mục Trưởng của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, và qua các vị tín hữu các cộng đoàn của các vị hằng nêu gương trung thành với giá trả đắt đỏ cho lòng trung kiên ấy. Qua các vị Đức Thánh Cha cũng gửi lời chào thân ái tới tất cả mọi kitô hữu bên Thánh Địa, Siria và toàn vùng Đông Phương và cầu mong tất cả được ơn hòa bình và hòa hợp.

Tiếp đến ngài đã quảng diễn ý nghĩa các bài đọc nói về Chúa Kitô trung tâm của thụ tạo, của dân Chúa và của lịch sử. Thánh Phaolô trình bày Chúa Kitô như là Trưởng tử của mọi thụ tạo: trong Người, nhờ Người và cho Người mà mọi sự được tạo dựng. Ngài là Chúa của sự tạo dựng, Chúa của sự hòa giải. Đức Thánh Cha giải thích thêm như sau:

Hình ảnh này giúp chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu là trung tâm của việc tạo dựng, và vì thế thái độ đòi hỏi nơi tín hữu, nếu họ muốn là tín hữu, là thái độ nhận biết và tiếp đón tính cách trung tâm ấy của Chúa Giêsu Kitô trong cuộc sống, trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Khi đó các tư tư tưởng các việc làm các lời nói của chúng ta sẽ là các tư tưởng kitô, các tư tưởng, việc làm và lời nói của Chúa Kitô. Trái lại, khi đánh mất đi trung tâm ấy vì thay thế nó với cái gì khác, thì chỉ phát sinh ra các thiệt hại cho môi trường chung quanh và cho chính con người.

Ngoài việc là trung tâm của thụ tạo, và của sự hòa giải, Chúa Kitô là trung tâm của dân Thiên Chúa. Chính hôm nay Người ở đây, giữa chúng ta. Bây giờ và ở đây trong Lời Người và sẽ ở đây trên bàn thờ, sống động, hiện diện giữa chúng ta là dân của Người. Đó là điều được chỉ cho chúng ta thấy trong bài đọc thứ nhất trích từ sách Samuel II, kể lại ngày dân Israel đến tìm Đavít và xức dầu tấn phong ông là vua trên Israel (x.2 Sm 5,1-3). Qua việc tìm kiếm gương mặt lý tưởng của nhà vua, các người ấy đã kiếm tìm chính Thiên Chúa: một vì Thiên Chúa đến gần con người, chấp nhận đồng hành với con người và trở thành anh của họ.

Chúa Kitô dòng dõi vua Đavít chính là ”người anh”, chung quanh Người dân được thành lập, là Đấng săn sóc dân Người, săn sóc tất cả chúng ta với giá cuộc sống Người. Nơi Người chúng ta là một, một dân duy nhất: hiệp nhất với Người chúng ta chia sẻ một con đường, một số phận duy nhất. Nơi Người chúng ta có căn tính như là dân Thiên Chúa.

Và sau cùng Chúa Kitô là trung tâm của lịch sử nhân loại và cũng là trung tâm lịch sử của mỗi một người. Chúng ta có thể quy chiếu về Người các niềm vui và niềm hy vọng, các nỗi buồn và lo lắng trong cuộc đời chúng ta. Khi Chúa Giêsu ở trung tâm, cả những lúc đen tối nhất cuộc sống cũng được soi sáng và Người ban cho chúng ta niềm hy vọng, như xảy ra đối với người trộm lành trong Phúc âm hôm nay.

Trong khi tất cả các người khác hướng tới Chúa Giêsu với sự khinh rẻ, họ nói: ”Nều ông là Đức Kitô, Vua Cứu Thế, thì hãy tự xuống khỏi thập giá đi”, thì ông này, là người đã sai lạc trong cuộc sống, hối hận bám chặt lấy Đức Giêsu chịu đóng định và nài xin: ”Xin nhớ đến tôi, khi Ngài vào Nước của Ngài” (Lc 23,42). Và Chúa Giêsu hứa với ông: ”Hôm nay con sẽ ở trên thiên đàng cùng Ta” (c.43). Chúa Giêsu chỉ nói lên lới tha thứ chứ không kết án; và khi con người tìm ra can đảm xin ơn tha thứ ấy, Chúa không bao giờ bỏ rơi một lời xin như vậy.

Hôm nay, tất cả chúng ta có thể nghĩ tới lịch sử của mình, con đường của mình. Mỗi người trong chúng ta có lịch sử của mình: mỗi người trong chúng ta, cả khi có các sai lầm, tội lỗi, các lúc sung sướng và tối tăm. Trong ngày này, thật là ích lợi, khi nghĩ tới lịch sử của chúng ta và nhìn lên Chúa Giêsu, và từ tận đáy lòng, mỗi người trong chúng ta hãy lập lại với Người biết bao lần, nhưng với con tim thinh lặng, rằng: ”Lạy Chúa, xin nhớ tới con, bây giờ Chúa đang ở trong Nước Chúa. Lậy Chúa Giêsu, xin nhớ tới con vì con muốn sống tốt lành, con muốn trở thành người tốt lành, nhưng con không có sức mạnh, con không thể, con là kẻ tội lỗi. Nhưng lậy Chúa Giêsu, xin nhớ tới con. Chúa có thể nhớ tới con, bởi vì Chúa ở trung tâm, Chúa ở trong Nước Chúa”. Thật đẹp biết bao! Hôm nay tất cả chúng ta hãy làm điều đó, mỗi người trong con tim mình, lập lại thật nhiều lần: ”Lạy Chúa, xin nhớ tới con, Chúa là trung tâm, Chúa ở trong Nước Chúa!”

Lời Chúa Giêsu hứa với ông trộm lành trao ban cho chúng ta môt niềm hy vọng rất lớn: nó nói với chúng ta rằng ơn thánh Chúa luôn luôn phong phú hơn lời cầu xin. Chúa luôn ban cho chúng ta nhiều hơn điều chúng ta xin Người: bạn xin Chúa nhớ tới bạn, và Ngài đem bạn vào trong Nước Ngài! Chúa Giêsu chính là trung tâm các ước mong, niềm vui và ơn cứu độ của chúng ta.

Lời nguyện giáo dân đã đựơc đọc trong các thứ tiếng: A rập, Pháp, Tầu, Bồ Đào Nha và Philippines, xin Chúa Kitô Vua giữ gìn tín hữu trong đức tin đức cậy và đức mến; xin Ngài chúc lành, nâng đỡ và khiến cho công việc của Đức Thánh Cha, các Giám Mục, linh mục, phó tế và các người loan báo Tin Mừng được hữu hiệu; xin Ngài chiến thắng thù hận giữa các dân tộc, rộng mở con tim cho sự tha thứ và ban tràn đầy an bình cho tất cả mọi người; xin Ngài giải thoát các người tội lỗi, các người không tin và các người nghi ngờ khỏi quyền lực của tối tăm, soi sáng tâm trí họ, hoán cải và thanh tẩy con tim họ với lòng xót thương của Ngài; xin Chúa an ủi, làm vơi nhẹ khổ đau và ban niềm vui cho các gia đình, những người nghèo túng và sống trong cô đơn không có tình thương.

Hàng trăm Linh Mục đã giúp Đức Thánh Cha cho tín hữu rước Mình Thánh Chúa. Sau lời nguyện cuối lễ Đức Thánh Cha đã trao biểu tượng CD Tông huấn ”Evangelii Gaudium Niềm vui Phúc Âm” cho 36 người thuộc 18 nước, đại diện cho mọi thành phần dân Chúa trên năm châu. Trong số đó có một tân Giám Mục người Lettonia, một tân linh mục Tanzania, và một tân phó tế Australia. Ngoài ra cũng có các tu sĩ nam nữ, các người mới lãnh bí tich Thêm Sức, một chủng sinh, một nữ tập sinh, một gia đình, các giáo lý viên và một người mù.

Trước khi đọc Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã cám ơn tín hữu và du khách hành hương, các gia đình, các nhóm giáo xứ, hiệp hội và phong trào, đến từ nhiều nước, các tham dự viên đại hội toàn quốc Italia lòng Thương Xót Chúa, cộng đoàn tín hữu Ukraine nhân kỷ niệm 80 năm diệt chủng vì nạn đói do chế độ liên xô gây ra khiến cho hàng triệu người chết. Đức Thánh Cha cũng bầy tỏ lòng biết ơn các thừa sai đã loan báo Tin Mừng đó đây trên thế giới, trong đó có chân phước Junipéro Serra, thừa sai dòng Phanxicô, người Tây Ban Nha nhân kỷ niệm 300 năm ngày chân phước sinh ra. Ngài đặc biệt nồng nhiệt cám ơn Đức Tổng Giám Mục Fisichella và các cộng sự viên của Ủy ban Năm Đức Tin đã hoạt động tích cực trong năm qua.

Thánh lễ đã kết thúc với kinh Truyền Tin và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người. Ngài xin mọi người cầu nguyện đặc biệt cho biết bao nhiêu kitô hữu đang bị bách hại vì đức tin trên thế giới.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ TIẾP KIẾN TỔNG THỐNG VLADIMIR PUTIN

THÁNH CHA PHANXICÔ TIẾP KIẾN TỔNG THỐNG VLADIMIR PUTIN

VATICAN: Hôm 25-11-2013 Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp kiến tổng thống Nga ông Vladimir Putin. Hai bên đã thảo luận về nhiều vấn đề quốc tế trong đó có chiến tranh Syria.

Đây là lần thứ tư tổng thống Vladimir Putin viếng thăm Tòa Thánh. Hai lần đầu vào năm 2000 và 2003 dưới thời Đức Gioan Phaolô II, lần thứ ba năm 2007 dưới thời Đức Biển Đức XVI.

Trong hội nghị thượng đỉnh của khối G20 tại Saint Petersburg đầu tháng 9 năm nay 2013 Đức Thánh Cha Phanxicô đã gửi cho tổng thống Putin và giới lãnh đạo tham dự hội nghị một bức thư yêu cầu các cường quốc đừng ”bất động trước các thảm cảnh mà dân tộc Siria yêu dấu đã phải sống qúa lâu rồi, và có nguy cơ đem lại các khổ đau mới cho một vùng đất đã bị quá nhiều thử thách và cần có hòa bình”. Trong thư Đức Thánh Cha nhắc tới các nỗ lực và cam kết của các cường quốc thăng tiến kinh tế tài chánh và cuộc sống cho mọi dân tộc toàn thế giới. Nhưng các xung khắc vũ trang luôn là sự khước từ mọi thỏa thuận quốc tế, tạo ra các chia rẽ sâu xa và các vết thương rách nát đòi hỏi phải có nhiều năm mới lành được. Các cuộc chiến là sự khước từ cụ thể dấn thân đạt các mục tiêu kinh tế và xã hội, mà cộng đồng quốc tế đề ra, như các mục tiêu phát triển của Ngàn năm mới. Rất tiếc là các xung khắc vũ trang đang còn gây khổ đau trên thế giới cho chúng ta thấy mỗi ngày một hình ảnh thê thảm của bần cùng, đói khát, bệnh tật và chết chóc. Thật thế, không có hòa bình thì không có loại phát triển kinh tế nào cả. Bạo lực không bao giờ dẫn tới hòa bình là điều kiện cần thiết cho sự phát triển ấy.

Cuộc họp của các quốc trưởng và chính quyền của 20 nước kinh tế lớn nhất thế giới chiếm 2 phần 3 dân số và 90% tổng sản lượng toàn cầu không có mục đích an ninh quốc tế. Tuy nhiên, không thể không suy tư về tình hình vùng Trung Đông và đặc biết tại Siria. Rất tiếc phải đau lòng mà nhận ra rằng có quá nhiều lợi lộc đã thắng thế, kể từ khi cuộc xung khắc bên Syria bắt đầu, ngăn cản tìm ra một giải pháp giúp tránh cuộc tàn sát vô ích mà chúng ta đang chứng kiến.

Tổng thống Putin cũng đã hội kiến với Đức Tổng Giám Mục Mục Pietro Parolin, Tân Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh (SD 25-11-2013).

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

ĐỨC THÁNH CHA CÁM ƠN CÁC THIỆN NGUYỆN VIÊN PHỤC VỤ TRONG NĂM ĐỨC TIN

ĐỨC THÁNH CHA CÁM ƠN CÁC THIỆN NGUYỆN VIÊN PHỤC VỤ TRONG NĂM ĐỨC TIN

VATICAN: Sáng 25 tháng 11-2013 Đức Thánh Cha Phanxicô đã tiếp hàng ngàn thiện nguyện viên phục vụ trong Năm Đức Tin, vì lòng quảng đại của họ hy sinh thời giờ và khả năng phục vụ các lộ trình đức tin của tín hữu và du khách hành hương với các sáng kiến mục vụ thích hợp.

Đức Thánh Cha nói: Năm Đức Tin đã là dịp quan phòng giúp tái nhóm lên ngọn lửa đức tin mà tín hữu lãnh nhận ngày được Rửa tội. Trong thời gian ơn thánh này chúng ta đã tái khám phá ra lộ trình Kitô, trong đó cùng với đức ái, đức tin chiếm chỗ nhất. Đức tin là điểm chính yếu huy động các lựa chọn và các cử chỉ của cuộc sống thường ngày. Đức tin là mạch sống không bao giờ cạn của mọi hành động trong gia đình, nơi làm việc, trong giáo xứ, với bạn bè, trong các môi trường xã hội khác nhau. Đức tin vững mạnh và tinh tuyền này đặc biệt lộ hiện trong những lúc khó khăn và thử thách. Khi đó tín hữu kitô để cho Thiên Chúa ôm họ vào lòng, bám chặt lấy Chúa với sự chắc chắn tín thác nơi một tình yêu mạnh như đá tảng không thể phá hủy. Chính trong những lúc khổ đau, nếu chúng ta phó thác cho Thiên Chúa với lòng khiêm tốn, thì có thể cống hiến một chứng tá tốt lành.

Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ: việc phục vụ thiện nguyện qúy báu của anh chị em cho các biến cố khác nhau của Năm Đức Tin đã cho anh chị em cơ may tiếp nhận sự hăng say của nhiều thành phần liên hệ. Chúng ta phải cùng nhau chúc tụng Chúa vì độ mạnh tinh thần và lòng hăng say tông đồ do các sáng khiến mục vụ khác nhau khơi dậy trong các tháng qua tại Roma cũng như khắp nơi trên thế giới. Chúng ta nhận thấy rằng niềm tin nơi Chúa Kitô có khả năng sưởi ấm con tim, và trở thành sức đẩy của các công tác tái truyền giảng Tin Mừng. Một đức tin sống động sâu xa và xác tín hướng tới chỗ mở rộng ra ánh sáng cho việc loan báo Tin Mừng. Chính đức tin này khiến cho các cộng đoàn của chúng ta trở thành cộng đoàn truyền giáo. Và thật sự chúng ta cần có các cộng đoàn kitô dấn thân cho một công tác tông đồ can đảm, tới với con người trong các môi trường sống của họ, kể cả các môi trường khó khăn nhất.

Kinh nghiệm chín mùi mà anh chị em đã sống trong Năm Đức Tin giúp bản thân anh chị em trước tiên, rộng mở chính mình và các cộng đoàn của mình, cho cuộc gặp gỡ với tha nhân, nhất là với những người nghèo đức tin đức cậy trong cuộc sống. Có biết bao nhiêu người cần đến một cử chỉ nhân bản, một nụ cười, một lời khích lệ, một chứng tá qua đó họ nhận ra sự gần gũi của Chúa Giêsu Kitô. Ước chi đừng có ai thiếu dấu chỉ của tình yêu và sự hiền dịu nảy sinh từ đức tin ấy (SD 25-11-2013)

Linh Tiến Khải – Vatican Radio