BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI LÒNG NGAY

BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI LÒNG NGAY

Suy niệm lễ Giáng Sinh  năm A

+Tiên tri Isaia đã loan báo về ngày Con Thiên Chúa Giáng Sinh:

“Dân tộc bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết” (Is 9, 2)

Sự sáng chứa chan ấy không là ánh sáng của những ngôi sao hay tinh tú, không là ánh sáng của mặt trời hay mặt trăng, càng không là ánh sáng của điện đèn, nhưng là Ánh sáng của Con Thiên Chúa làm người. Làm người như một hài nhi nhưng là “Cố Vấn Kỳ Diệu, Thiên Chúa Huy Hoàng, Người Cha Muôn Thuở, Ông Vua Thái Bình”. Làm người trong nghèo hèn nhưng là “sẽ mở rộng vương quyền, và cảnh thái bình sẽ vô tận; Người sẽ ngự trên ngai vàng của Đavít, và trong vương quốc Người, để củng cố và tăng cường, trong sự công minh chính trực, ngay tự bây giờ và cho đến muôn đời”. (Is 9, 6-7)

+Còn đây là giáo huấn của  Thánh Phaolô cho ngày mừng Con Thiên Chúa Giáng Sinh: “Ân sủng của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người, dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này, khi trông đợi niềm hy vọng hạnh phúc và cuộc xuất hiện sự vinh quang của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Đấng Cứu Độ chúng ta.

Người đã hiến thân cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác, luyện sạch chúng ta thành một dân tộc xứng đáng của Người, một dân tộc nhiệt tâm làm việc thiện. ( Tt 2, 11-14)

+Hai ý tưởng trên rất trùng khớp với Tin Mừng theo Thánh Luca:

“Hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta. Người là Đức Kitô, Chúa chúng ta. (Lc 2,11)

“Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời

Bình An Dưới Thế Cho Người Lòng Ngay” (Lc 2, 14) 

Như vậy, khi liên kết cả ba bài đọc, có thể kết luận: sứ điệp Giáng Sinh qua lời Chúa gửi đến chúng ta hôm nay là: bước đi trong ánh sáng, để nhận được ân sủng và bình an, nhờ lòng thiện tâm, nhờ ý ngay lành. 

Không ít người đã từng đặt vấn đề rằng tại sao Chúa Giêsu đã giáng sinh, Đấng Cứu Thế đã ra đời, Vua Hòa Bình đã xuất hiện, Ánh sáng Thiên Chúa đã chiếu soi cả  hơn hai ngàn năm nay mà trần gian vẫn còn u tối trong chiến tranh đày đọa, khổ đau chất chồng, bất công tràn lút, tham nhũng đàn áp nhiễu loạn khắp nơi nơi! Vẫn còn chiến tranh giữa các dân nước, chiến tranh giữa các ý thức hệ, chiến tranh ngoài xã hội, trong gia đình, chiến tranh giữa những người tự cho mình là trí thức và xem thương người khác hiểu biết kém cỏi, chiến tranh trong tâm hồn. Vẫn còn những bất công: nơi này ăn cướp đất, nơi kia bán đất công ăn chia. Vẫn còn những hư đốn: chỗ này hút chích chơi bời dâm đãng, chỗ kia ngoi ngóp vật vờ chờ chết, người đốt chồng, kẻ đâm vợ, người tạt a-xít tình địch, kẻ phá thai. Nơi đâu cũng gieo vãi những bất an, xáo trộn làm thành một thế giới luôn trong tình trạng hỗn mang!

Đáng tiếc hơn nữa, tình trạng hỗn mang, không chỉ là chuyện bên ngoài thế giới trần tục hoặc vô thần hoặc hiện sinh, mà còn là chuyện trong lòng những người mang danh là Kitô hữu – hơn thế nữa, đôi khi Kitô hữu ấy còn là trí thức công giáo, là cây đa cây đề của nền thần học công giáo, là những tiến sĩ, bác sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà kinh tế công giáo, là những bậc chức sắc cao niên vị vọng công giáo đáng kính. Vâng, nhưng vẫn còn những chuyện hỗn mang, những bất an do lòng cao ngạo thách thức hơn thua đủ vì chưa thoát ra khỏi cái “tôi” pháo đài chủ quan. Những Kitô hữu vẫn chưa có bình an bởi chưa có lòng ngay, chưa có thiện tâm, chưa có ý ngay lành, nhưng luôn còn đầy ác ý.

Trong đêm Con Chúa Giáng Sinh, lời chúc lành của ca đoàn các Thiên Thần: “Bình an dưới thế cho người lòng ngay” vẫn còn âm vang cho đến tận thế, vẫn còn hát trên môi miệng của bao người, và có thể nói, vẫn còn là khát vọng vô biên của tất cả những người thành tâm đi tìm bình an, hạnh phúc.

Thánh Phaolô nhắc nhở: “Người dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này”.

Hãy nhìn vào lòng mình trong đêm rất thánh. Hãy đặt mình trước ánh sáng chí thánh chí thiện của Thiên Chúa để nhờ ánh sáng Chúa soi cho thấy lòng mình còn đầy những ác ý, còn ngổn ngang những gian tà trong tư tưởng, lời nói, trong việc làm; còn hỗn độn những dục vọng cao ngạo hơn người chỉ lo bới lông tìm vết, hoặc đưa tay, đưa bút móc cái xà trong mắt anh em. Người không tin có Thiên Chúa cũng làm như vậy. Người chống lại Thiên Chúa cũng làm như vậy. Đến chúng ta, những người mang danh là Kitô hữu cũng làm như vậy được sao? Đến bao giờ sự Bình An của Chúa Giáng Sinh mới thực sự ngự trị trong tâm hồn?

Lắng tâm tư trong niềm yêu mến Chúa Giáng sinh, chắc chắn bạn và tôi sẽ nghe rõ khao khát của Chúa Giêsu Hài Nhi khiêm nhượng: Hãy tránh xa cái trí thức của ma quỷ dẫn tới sự bất an cho mình và cho người. Hãy từ bỏ cái vốn học của những người thờ Chúa ngoài môi miệng khởi đầu cho những hỗn độn trong nhà, ngoài cửa. Hãy học bài học hiền lành và khiêm nhượng trong lòng của Đấng Cứu Thế.

Trong những ngày này, mọi người đang Mừng Chúa Giáng Sinh, bên ngoài trang trí hoa đèn lộng lẫy, bên trong chuẩn bị cho một lòng thiện tâm, một ý ngay lành để đón nhận bình an của Chúa. Nhưng, không thiếu những vô tình hoặc cố ý lầm lẫn cái chính cái phụ, hoặc chỉ lo bên ngoài mà thiếu tấm lòng ngay lành. Chẳng hạn, thay vì “MỪNG CHÚA GIÁNG SINH”, tôi thấy có nơi đặt trước nhà thờ một tấm bảng to đùng với hàng chữ được trang trí khá tốn kém “MỪNG LỄ GIÁNG SINH”, như người trần gian vẫn đang mừng một lễ hội. Chuyện chữ nghĩa đôi khi chúng ta không ý tứ, nhưng đối với những người “không có lòng ngay” thì họ luôn có chủ tâm. Chuyện “Tốt Đời, Đẹp Đạo” chẳng hạn. Sao không là “Tốt Đạo, Đẹp Đời”?.

Cũng vậy, lại thấy có nơi câu tung hô của các Thiên Thần bị cắt xén, nhưng cũng hoành tráng to tát và cả điện đèn trưng bày thật sáng trưng, nổi bật giữa phố đông người: “VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI – BÌNH AN CHO NGƯỜI DƯỚI THẾ”. Sao không là “bình an người lành dưới thế”? Người không ngay lành cũng được bình an sao? Họa chăng khi họ có lòng sám hối nhìn ra ánh sáng của Chúa Cứu Thế mà đổi từ gian ác ra ngay lành! Trong một đất nước có thể nói là kém tự do tôn giáo nhất, thì việc “Mừng Lễ Giáng Sinh” của những người không tin, hoặc chống lại Thiên Chúa với ý đồ hoành tráng như vậy ắt phải là để quảng bá cho thế giới biết rằng đất nước ấy có tự do. Có gì cho Vinh Danh Chúa?

Hồng ân của Chúa Giáng Sinh là “bình an cho người có lòng ngay”, có thành tâm thiện chí, không chỉ là lòng thành tâm với ơn cứu độ cho chính mình mà còn cho những con người cần được Chúa cứu độ. Bình an của người này ắt có ảnh hưởng lớn lao với người kia. Cũng thế, có ác ý hay bất an của người kia hẳn có một hệ lụy không kém nguy hiểm với người này. Thế giới này chỉ thực sự có bình an khi mỗi người, mỗi nhà tìm được nguồn bình an đích thực của Chúa ban thưởng cho khi có ý ngay lành. Vì vậy, mỗi người cũng nhận lấy cho mình trách nhiệm liên đới về việc xây dựng mối tương quan bình an trong nhà, ngoài phố và nhất là trong Giáo Hội thánh thiện của Chúa.

Nguyện xin Chúa Giêsu Giáng Sinh cất khỏi lòng trí chúng con những ý tưởng ám muội, những dục vọng cao ngạo nhưng thấp hèn, và xin lấp đầy lòng trí chúng con đức khiêm nhượng, ý ngay lành, để chúng con xứng đáng đón nhận ơn Bình An Giáng Sinh của Chúa. A men.

PM. Cao Huy Hoàng, 22-12-2011

Trùng tu Vương cung thánh đường Giáng Sinh ở Bethlehem

Trùng tu Vương cung thánh đường Giáng Sinh ở Bethlehem

BETHLEHEM. Vương cung thánh đường Giáng Sinh ở Bethlehem đang được tu bổ mái và các cửa kính màu.

Năm nay, khi đến thánh đường này, tín hữu hành hương và du khách sẽ thấy nhà thờ này có gì khác lạ: với những dàn ráo được bố trí để tu bổ lại mái và các cửa kính mầu. Đây là công trình tu bổ đầu tiên từ 200 năm nay được thực hiện cho nhà thờ quan trọng này, để đối phó với những vấn đề cấp thiết nhất và đã được khởi sự từ tháng 9 năm 2013. Vương cung thánh đường Giáng Sinh đã có từ 1,700 năm nay, được xây tại chính nơi Chúa Giêsu sinh ra. Mỗi năm có tới 2 triệu rưỡi tín hữu hành hương đến kính viếng thánh đường này.

Ngày 29 tháng 6 năm 2012, Đền thờ Chúa Giáng sinh đã được tổ chức Unesco của LHQ ghi vào danh sách gia sản của thế giới. Quyết định của Unesco bị Israel phản đối. Đây là đền đài đầu tiên ở lãnh thổ của Palestine được coi là gia sản của thế giới, và trong tư cách này, Đền thờ Giáng Sinh có thể được hưởng tài trợ quốc tế. Cùng với Vương cung thánh đường Đức Mẹ truyền tin ở Nazareth và Đền thờ Mộ Thánh ở Jerusalem, Đền thờ Giáng Sinh là một trong những đối tượng chính và không thể thiếu được trong các cuộc hành hương tại Thánh Địa.

Trước đó, vào năm 2008, một tổ chức tên là ”World Monuments Fund” (Quỹ các đền đài thế giới), chuyên bảo tồn các di tích lịch sử, đã ghi thánh đường Chúa Giáng Sinh vào danh sách 100 đền đài của thế giới bị nguy cơ hư hỏng, và một tổ hợp các chuyên gia người Ý đã duyệt xét thánh đường để thiết lập danh sách những sửa chữa cấp thiết nhất.

Ông Ziad al-Bandak Said, Cố vấn của tổng thống Palestine Mahmoud Abbas, về Kitô giáo vụ, cho biết ”chính quyền địa phương tài trợ phần lớn công việc tu bổ, với 1 triệu mỹ kim, trong khi 800 ngàn mỹ kim khác đến từ các tư nhân. 3 triệu mỹ kim khác đến từ các nước Âu châu như Pháp, Vatican, Hungari, Nga và Hy Lạp. Hiệp định về việc tu bổ đã được ký kết giữa đại diện của 3 Giáo Hội Kitô coi sóc thánh đường. Đại diện cho Công Giáo là Cha Pierbattista Pizzaballa, Bề trên dòng Phanxicô tại Thánh Địa. Hiện diện trong buổi ký kết cũng có thủ tướng Rami Hamdallah của Palestine, Đức TGM Giuseppe Lazzarotto, Khâm sứ Tòa Thánh tại Jerusalem, và Đức Cha William Shomali, GM Phụ tá của Đức Thượng Phụ Fouad Twal, cùng một số quan chức đạo đời khác.

Ngoài những khó khăn trong việc bảo trì thánh đường này, việc tu bổ còn phải để ý đến những quan hệ tế nhị giữa 3 hệ phái Kitô có nơi thờ phượng riêng trong nhà thờ, đó là Giáo Hội Công Giáo la tinh, Giáo Hội Chính Thống Hy lạp, và Giáo Hội Arméni Tông truyền. 3 Giáo Hội quản lý thánh đường Giáng Sinh theo một qui luật có từ thế kỷ 19 quen gọi là ”Status Quo” về việc sở hữu và sử dụng thánh đường.

Giai đoạn thứ nhất trong công trình tu bổ kéo dài 1 năm và được ủy thác cho công ty của gia tộc Piacenti ở thành phố Prato, trung Italia, chuyên tu bổ các di tích đền đài lịch sử. Trước tiên, hãng này sửa chữa hàng trăm xà gỗ của mái nhà thờ, từng xà một. Ông Giammarco Piacenti đương kim chủ tịch công ty này cho biết: ”Mái Đền thờ Giáng Sinh đã được các thợ mộc người Venezia, thuộc miền đông bắc Italia, tu bổ tốt đẹp hồi năm 1478, tức là cách đây đã 535 năm. Dự án tu bổ của chúng tôi tìm cách duy trì đại đa số những phần nguyên thủy, bao nhiêu có thể, và chúng tôi chỉ thay thế những xà không còn sử dụng được nữa”.

Ngoài mái và các cửa sổ của Thánh Đường, trong tương lai các phần khác cũng cần được sửa chữa như mặt tiền nhà thờ, quét vôi ở bên trong nhà thờ, tu bổ các tranh khảm trên tường, sơn sửa và tu bổ các công trình khác bằng gỗ. Nếu có đủ tài chánh thì chương trình trùng tu sẽ kết thúc trong 5 năm. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng việc tu bổ hiện nay không bao gồm các nơi được các tín hữu hành hương chiếu cố nhiều nhất, đó là Hang đá Giáng Sinh, theo tương truyền chính tại nơi đó, Chúa Giêsu đã sinh ra.

Giám đốc công trình tu bổ tại chỗ là Ông Marcello Piacenti, 53 tuổi. Trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng tin Công Giáo Hoa Kỳ truyền đi ngày 11-12-2013, ông nói: ”Giúp sửa lại mái Nhà Thờ Giáng Sinh giống như chạm đến phần khởi đầu của lịch sử Kitô giáo. Tôi không phải là một người sùng đạo, nhưng thi hành công việc tu bổ tại thánh đường này làm cho tôi rất cảm động. Tôi đã từng trùng tu nhiều nhà thờ cổ kính trên thế giới, nhưng khi tôi đến đây, tôi biết mình đang đi tới trung tâm của mọi sự”.

Ông Marcello Piacenti cho biết trước khi bắt đầu công trình này đã trải qua 5 năm kế hoạch hóa và nghiên cứu.

Còn kỹ sư Imand Nasser, đại diện kỹ thuật thuộc Ủy ban quốc gia Palestine đặc trách trùng tu Nhà Thờ Giáng sinh, cho biết việc tu bổ mái nhà thờ bằng chì và các xà bằng gỗ cũng như 38 cửa sổ mầu của thánh đường này là giai đoạn đầu của một công trình to lớn. Cách đây 2 năm, phí tổn ước lượng là 15 triệu mỹ kim, không kể những phí tổn điều hành việc xây cất. Việc tu bổ được thực hiện qua nhiều giai đoạn, khi kiếm được tiền. Ưu tiên dành cho việc sửa mái. Giai đoạn đầu tiên này còn thiếu 2 triệu 700 ngàn mỹ kim.

Tuy các vị hữu trách về công trình tu bổ tránh gây phiền toái cho các du khách, các tín hữu hành hương và chính nhà thờ, nhưng những ai viếng thăm thánh đường Chúa Giáng Sinh vào dịp này vẫn thấy các dàn ráo bằng kim loại trong và ngoài nhà thờ, và các gỗ bọc quanh các cột bằng cẩm thạch ở bên trong thánh đường.
Công ty Piacenti đã chở các dàn ráo bằng kim loại từ Italia đến đây cho công việc sửa chữa. Làm việc trong giai đoạn này có 10 người Ý và 5 công nhân người Palestine. Trong thời gian qua, các công nhân đã tháo gỡ các khung gỗ của các cửa sổ kính màu có từ 50 năm nay. Một số khung đã có những lỗ đạn bắn vào đây trong thời kỳ cách mạng Intifada khi các chiến binh Palestine chạy vào nhà thờ và bị các binh sĩ Israel bao vây. Các khung cửa sổ này sẽ được thay thế bằng gỗ trắc bá, và những kiếng đặc biệt chặn các tia tử ngoại sẽ được dùng cho các cửa sổ này để bảo vệ các bức bích họa và tranh khảm bên trong thánh đường.

Ông Piacenti cho biết các cửa sổ hiện nay của Đền thờ Giáng Sinh được làm bằng máy và không phải bằng vật liệu tốt. Một số gỗ đã bị mục. Sau khi thợ sửa chữa các xà bằng gỗ có từ thế kỷ 15, một mái mới bằng chì sẽ thay thế mái chì hiện thời vì nhiều chỗ đã bị hư hại, khiến cho nước mưa đổ xuống, làm hư hại các xà gỗ, cũng như tạo nên những vũng nước ở nền nhà thờ, đe dọa nền cổ kính của thánh đường.

Một trong những điều quan trọng mà các thợ chuyên môn phải để ý là làm sao bảo vệ 5 tranh khảm có từ thời đạo binh thánh giá ở trên tường gần mái nhà thờ, che các bức tranh này bằng loại vải bông đặc biệt để tránh các mảnh của bức tranh này khỏi bị rơi hoặc bị hư hại vì công việc sửa chữa các xà nhà và mái. Tuy các thợ cũng sẽ sửa chữa phần nào các miếng nhỏ của các tranh khảm này, nhưng việc tu bổ toàn bộ các bức tranh sẽ được thực hiện trong các giai đoạn sau này.
Trong cuộc phỏng vấn, Ông Piacenti cho biết trước khi đến đây, ông đã được báo trước về quan hệ căng thẳng giữa các đan sĩ người Arméni, Chính Thống Hy Lạp và Phanxicô tại thánh đường này về vấn đề chủ quyền đền thờ, tuy nhiên, ông ngạc nhiên về những quan hệ thân tình mà ông chứng kiến giữa các đan sĩ thuộc các hệ phái Kitô với nhau. Ông nói: ”Đối với tôi, không có vấn đề gì với các đan sĩ, họ rất hiếu kỳ về công việc chúng tôi đang làm và họ xin tôi giải thích. Họ rất hài lòng về công việc”.

Hầu hết công việc tu bổ được thực hiện vào ban chiều và ban đêm, để tránh làm xáo trộn nhịp sinh hoạt của thánh đường, và các công nhân cũng được biết thêm về cuộc sống ban đêm ở thánh đường. Chẳng hạn “Các đan sĩ Chính Thông đến thắp đèn cho thánh lễ, các tu sĩ Phanxicô tu tập để chuẩn bị dầu thánh. Ít có người có thể chứng kiến những hoạt động đó, vì cuộc sống ban đêm của thánh đường vẫn tiếp tục, dù là 3, 4, hay 5 giờ sáng”. (CNS 11-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Giáng Sinh là ngày lễ của niềm hy vọng, sự công bằng và tình huynh đệ

Giáng Sinh là ngày lễ của niềm hy vọng, sự công bằng và tình huynh đệ

Ước gì mỗi gia đình có một căn nhà để ở. Ước chi quyền này và các quyền nền tảng khác đối với sự sống được bảo vệ, mà không dùng bạo lực. Ước chi Giáng Sinh sắp tởi là một ngày lễ của niềm hy vọng, sự công bằng và tình huynh đệ cho tất cả mọi người.

Kính thưa qúy vị, thưa các bạn, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đưa ra lời cầu chúc trên đây trong buổi đọc kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô trưa Chúa Nhật thứ tư Mùa Vọng hôm qua. Chúa Nhật hôm qua cũng được gọi là Chúa Nhật của Chúa Hài Đồng, vì các trẻ em Roma có thói quen đem tượng Chúa Hài Đồng đến để cho Đức Thánh Cha làm phép, rồi đặt vào trong máng cỏ ở nhà.

Trước đó trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã đề cao gương mặt của thánh Giuse và nói: Phúc Âm kể lại các sự kiện xảy ra trước biến cố Chúa Giêsu giáng sinh, và thánh sử Mátthêu trình bầy chúng từ quan điểm của thánh Giuse, người chồng đã được hứa của Trinh Nữ Maria. Giuse và Maria sống tại Nagiarét và chưa ở chung với nhau, bởi vì cuộc hôn nhân chưa hoàn tất. Giữa lúc đó, thì Đức Maria mang thai do quyền năng của Chúa Thánh Thần, sau khi nghe Sứ thần truyền tin. Khi ông Giuse nhận ra sự kiện đó, thì ngạc nhiên. Phúc âm không giải thích đâu là các tư tưởng của người nhưng nói cho chúng ta biết điều nòng cốt: thánh nhân tìm thi hành ý muốn của Thiên Chúa và sẵn sàng chấp nhận một sự từ bỏ triệt để nhất. Thay vì tự bảo vệ và làm cho các quyền của mình thắng thế, thánh Giuse lựa chọn một giải pháp diễn tả một sự hy sinh vĩ đại đối với người. Phúc Âm viết: ”Vì là người công chính và không muốn tố giác bà, ông nghĩ tới việc bỏ bà cách kín đáo” ” (Mt 1,19). Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:

Câu ngắn gọn này tóm tắt một thảm cảnh nội tâm đích thật, nếu chúng ta nghĩ tới tình yêu thương mà thánh Giuse đã có đối với Đức Maria! Nhưng cả trong một trạng huống như vậy nữa thánh nhân cũng cố ý thực thi ý muốn của Thiên Chúa, và quyết định, chăc chắn với nỗi đớn đau lớn, từ giã Đức Maria trong bí mật. Cần phải suy gẫm về các lời này, để hiểu đâu đã là thử thách mà thánh Giuse đã phải chịu đựng trong các ngày trước khi Chúa Giêsu sinh ra. Một thử thách giống như sự hy sinh của tổ phụ Abraham, khi Thiên Chúa xin ông người con là Igiaác (St 22): khước từ điều qúy báu nhất, người được yếu thương nhất.

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Nhưng như trong trường hợp của tổ phụ Abraham, Chúa can thiệp: Người đã thấy niềm tin Người tìm kiếm, và mở ra một con đường khác, một con đường của tình yêu và hạnh phúc. Chúa nói: ”Hỡi Giuse, đừng sợ đón Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng của Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20).

Bài Phúc Âm này cho chúng ta thấy tất cả tâm hồn cao cả của thánh Giuse. Người đang theo đuổi một chương trình cuộc sống tốt đẹp, nhưng Thiên Chúa đã dành cho người một dự án khác, một sứ mệnh cao cả hơn. Đức Thánh Cha định nghĩa thánh nhân như sau:

Thánh Giuse là một người đã luôn luôn lắng nghe tiếng Chúa, vô cùng nhậy cảm đối với ý muốn bí mật của Chúa, một người chú ý tới các sứ điệp đến từ nơi sâu thẳm của con tim và từ trời cao. Người đã không lì lợm theo đuổi dự án đời mình, không cho phép thù hận đầu độc tâm hồn, nhưng đã sẵn sàng đặt mình dưới sự mới mẻ được giới thiệu với thánh nhân một cách kinh ngạc. Và như thế thánh nhân là người tốt lành, không thù ghét và không để cho thù hận đầu độc tâm hồn. Có biết bao lần chán ghét, không thiện cản, thù hận đầu độc linh hồn chúng ta! Và điều này gây ra sự ác. Nhưng thánh Giuse là một gương mẫu, người không cho phép điều đó xảy ra. Và như vậy thánh nhân lại còn trở thành tự do và cao cả hơn nữa. Khi tự chấp nhận theo chương trình của Thiên Chúa, thánh Giuse tìm lại chính mình một cách tràn đầy, vượt qúa chính mình. Sự tự do khước từ những gì là của mình, khước từ chiếm hữu đời mình, và sự hoàn toàn sẵn sàng nội tậm đối với ý muốn của Thiên Chúa, mời gọi chúng ta và chỉ đường cho chúng ta.

Vì vậy chúng ta hãy chuẩn bị cử hành lễ Giáng Sinh, bằng cách chiêm ngưỡng Đức Maria và thánh Giuse: Đức Maria, người phụ nữ tràn đầy ơn phước, đã có can đảm tín thác hoàn toàn nơi Lời của Thiên Chúa; thánh Giuse, người trung thành và công chính, đã thích tin nơi Chúa thay vì lắng nghe các tiếng nói của nghi ngờ và kiêu căng của con người. Với các ngài chúng ta hãy cùng nhau tiến bước về Bếtlehem.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đoc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau kinh truyền Tin, chỉ một băng rôn tín hữu cầm ở quảng trường, Đức Thánh Cha nói: Tôi đọc thấy hàng chữ lớn viết ”Người nghèo không chờ đợi được”. Thật là đẹp! Điều này khiến tôi nghĩ tới Chúa Giêsu đã sinh hạ trong một chuồng bò, chứ không phải trong môt căn nhà. Sau đó Người đã phải trốn sang Ai cập để cứu mạng sống, rồi trở về nhà mình tại Nagiarét. Và hôm nay khi đọc hàng chữ này, tôi nghĩ tới biết bao nhiệu gia đình không có nhà ở, vì đã mất nhà hay vì biết bao nhiêu lý do khác. Gia đình và nhà ở đi liền với nhau. Thật rất khó khăn đưa một gia đình tiến tới mà không ở trong một căn nhà. Trong các ngày lễ Giáng Sinh này tội mời gọi tất cả mọi người: các cá nhân, các cơ cấu xã hội và các chính quyền, làm tất cả những gì có thể để cho mỗi gia đình có thể có một căn nhà ở.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã chào mọi người hiện diện, các đoàn thể, giáo xứ, các gia đình, xứ đạo, đặc biệt là các tham dự viên cuộc chạy đua từ Alessandria tới Roma để làm chứng cho dấn thân thăng tiến hòa bình tại Somalia bên Phi châu. Đối với các tín hữu Italia tụ tập tại quảng trường để bầy tỏ dấn thân xã hội Đức Thánh Cha cầu chúc họ góp phần xây dựng, bằng cách khước từ xung đột và bạo lực, nhưng luôn theo con đường đối thoại. Ngài chúc mọi người một lễ Giáng Sinh của niềm hy vọng, sự công bằng và tình huynh đệ.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Nghệ sĩ Việt Dzũng (Gioakim Nguyễn Ngọc Hùng Dũng) đã qua đời

Nghệ sĩ Việt Dzũng (Gioakim Nguyễn Ngọc Hùng Dũng) đã qua đời

VIỆT DZŨNG 1958-2013

Một nhà hoạt động nhân quyền, người đã cống hiến cuộc đời mình cho cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ tại Việt Nam

Thanh Phong/Viễn Đông

WESTMINSTER, Nam California – Trong tiếng khóc nức nở, xướng ngôn viên Minh Phượng của Radio Bolsa nói với Viễn Đông, “Anh Việt Dzũng mất rồi anh ơi, ảnh mất hồi 10 giờ 35 phút sáng nay (20-12-2013 ) tại bệnh viện Fountain Valley, mất vì bệnh tim.”

 

 

Tin ca nhạc sĩ Việt Dzũng qua đời đã nhanh chóng được truyền đi khắp nơi với sự ngạc nhiên và bàng hoàng, vì mới đây, trong buổi văn nghệ do Viet Love Foundation tổ chức để giúp nạn nhân bão Haiyan, nhiều người và riêng cá nhân chúng tôi còn gặp, bắt tay chào anh khi anh đứng phía sau sân khấu. Nghệ sĩ Việt Dzũng mất đi, không những cộng đồng người Việt Quốc Gia mất một tiếng nói chống cộng mạnh mẽ, xướng ngôn viên Minh Phượng và Radio Bolsa mất một người đồng hành hết sức tích cực và ăn ý, anh em Thương Phế Binh, Cô Nhi, Quả Phụ VNCH, những nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền trong nước mất đi một người hỗ trợ tích cực, lúc nào cũng dùng khả năng và phương tiện của mình chống bạo quyền cộng sản Việt Nam, đấu tranh cho Tự Do, Dân Chủ Và Nhân Quyền; lo vận động bà con khắp nơi giúp đỡ Thương Binh,Cô Nhi Quả phụ và những người già cả yếu đuối, các em mồ côi, tật nguyền tại quê nhà.

Nghệ sĩ Việt Dzũng tên thật là Nguyễn Ngọc Hùng Dũng, sinh năm 1958 tại Saigon, cựu học sinh Lasan Talberd. Năm 1975 vượt biên đến Singapore sau đó xin đoàn tụ cùng gia đình vào năm 1976. Những năm đầu tại Hoa Kỳ, Việt Dzũng đã sáng tác và đoạt giải Iowa Grand Ole Opry, và sau đó hợp tác với một số nhạc sĩ Mỹ ra băng nhạc bằng Anh ngữ “Children of the Ocean.”

Đối với nhiều người Việt hải ngoại khi phải rời bỏ quê hương, vượt biển ra nước ngoài trong cuối thạp niên 1970 và đầu thập niên 1980, họ đã không khỏi nhỏ lệ mỗi khi nghe bản nhạc “Một Chút Quà Cho Quê Hương” do Việt Dzũng sáng tác và bản nhạc “Saigon Vĩnh Biệt” viết chung với Nhạc sĩ Nam Lộc. Anh cũng là tác giả những nhạc phẩm được nhiều người yêu thích như Tình Ca Cho Nguyễn Thị Saigon – Lời Kinh Đêm hay Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa, Bên Đời Hiu Quạnh và rất nhiều ca khúc khác, tổng cộng có đến hơn 450 bài. Việt Dzũng thường hát chung với ca sĩ Nguyệt Ánh những nhạc phẩm đấu tranh.

Việt Dzũng đã từng làm chủ bút nguyệt san Nhân Chứng ở Nam California và ra đĩa nhạc với tên Trung tâm Việt Productions. Sau một thời gian làm phóng viên và xướng ngôn viên cho đài Little Saigon Radio, năm 1996 Việt Dzũng lập đài phát thanh Radio Bolsa, cùng với Minh Phượng, hai chị em luôn truyền tải đến đồng hương những tin tức nóng bỏng về thời sự và các sinh hoạt cộng đồng.
Năm 2010 Nghị Sĩ Tiểu Bang Lou Correa đã trao tặng ca nhạc sĩ Việt Dzũng giải thưởng “Community Heroes” vì thành tích đóng góp tích cực cho cộng đồng Việt Nam Hải Ngoại.

Anh đã vĩnh biệt cộng đồng và những người thân vào lúc 10 giờ 35 phút sáng thứ Sáu 20-12-2013 tại Fountain Valley Hospital, để lại bao tiếc thương cho mọi người.
 

Bà Loretta Sanchez chia buồn

Ngay sau khi nghe tin buồn, vào chiều thứ Sáu nữ Dân Biểu Liên Bang Loretta Sanchez (CA-46) đã gửi lời chia buồn trước sự ra đi vĩnh viễn của MC Việt Dzũng.

Văn thư từ văn phòng của Dân Biểu đã viết như sau:

“Hôm nay chúng ta vừa mất đi ông Việt Dzũng, người đã cống hiến hơn 30 năm phục vụ cho cộng đồng Quận Cam và cộng đồng người Việt hải ngoại. Ông được mọi người biết đến và ngưỡng mộ như một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà từ thiện, người tổ chức các sự kiện cộng đồng, nhà báo, MC, và là người dẫn chương trình của Radio Bolsa. Cá nhân tôi biết đến ông như một nhà hoạt động nhân quyền, người đã cống hiến cuộc đời mình cho cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ tại Việt Nam.”

“Tôi xin gởi lời phân ưu, lời cầu nguyện và sự cảm thông sâu sắc nhất của tôi đến gia đình ông Việt Dũng và những người ngưỡng mộ anh. Tưởng niệm ông.”

Cho đến tối thứ Sáu, gia đình chưa thông báo chương trình trang lễ dành cho Việt Dzũng, người đã để lại một mất mát lớn trong cộng đồng người Việt hải ngoại.

Trích Viễn Đông daily

 

———————————————————-

 

Việt Dzũng: Một nghệ sĩ tài năng vượt bực

Duy-Khiêm

LTS: Trước sự ra đi đột ngột của nghệ sĩ Việt Dzũng, chúng tôi xin mạn phép tác giả và đăng lại một bài viết của Duy-Khiêm được phổ biến trên nhiều trang mạng trong mấy năm gần đây. Bài viết này đã ghi chép lại khá đầy đủ tiểu sử, con người và những thành quả mà ông đã mang đến cho cộng đồng người Việt tại hải ngoại.

Suốt hơn ba mươi năm nay, Việt Dzũng là một cái tên quen thuộc với hầu hết mọi người Việt đang sinh sống ở hải ngoại, kể cả rất nhiều người dân trong nước cũng biết đến tên anh Nghệ sĩ Việt Dzũng.

Nhưng cho tới nay vẫn chưa có ai viết cho thật đầy đủ về người nghệ sĩ đa tài này và những đóng góp to lớn của anh trên nhiều lãnh vực khác nhau, nhứt là trong địa hạt ca nhạc và truyền thông đại chúng. Bên cạnh đó, anh cũng thường xuyên là đề tài cho các tờ báo trong nước tấn công từ hơn hai chục năm nay, với những lời vu cáo, mạ lỵ nhằm dìm anh xuống đáy vực sâu. Nhưng người nghệ sĩ và chiến sĩ tranh đấu cho nhân quyền này vẫn mạnh dạn vượt qua tất cả những khổ nạn chập chùng, oan khiên chất ngất và càng ngày anh càng được nhiều người yêu mến anh thêm.

Cũng chính biến cố 30 tháng tư năm 1975 cùng với sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam đã đưa Việt Dzũng rời xa quê hương mà cho đến nay chưa một lần nào anh đặt chân trở lại. Cùng với 36 người chen chúc nhau trên một chiếc tàu nhỏ bé, mong manh, Việt Dzũng và bà ngoại của anh đã vĩnh viễn rời xa gia đình và đất nước Việt nam. Sau 22 ngày trên biển khi không còn thức ăn, nước uống, cũng như phải chứng kiến biết bao nhiêu cảnh đau thương trên biển cả, tàu của họ mới cập được bến Singapore. Nhưng liền sau đó, tất cả lại bị chuyển qua một chiếc tàu khác và thẳng đường tới trại tị nạn Subic ở Phi Luật Tân. Chính những kinh nghiệm sống trên đường vượt biển tìm tự do này đã khiến cho anh sáng tác rất thành công các ca khúc để đời sau này, mà tiêu biểu nhất vẫn là “Lời Kinh Đêm” với những câu ca:… “Thuyền trôi xa … về đâu ai biết? Thuyền có về … ghé bến tự do? Trời cao xanh … hay trời oan nghiệt? Trời có buồn … hay trời vẫn làm ngơ ?… Người buông xuôi về nơi đáy nước, Người có mộng một nấm mồ xanh? Biển ngây ngô hay biển man rợ Biển có buồn hay biển chỉ làm ngơ?”

Chưa đầy 17 tuổi mà đã rời xa mái ấm gia đình, bỏ lại sau lưng tất cả những người thân yêu, bè bạn, mái trường yêu dấu với những sinh hoạt vui tươi của tuổi học trò. Chắc chắn là có những khoảnh khắc anh Nguyễn Ngọc Hùng Dzũng chợt nhớ lại quãng đời niên thiếu ngập tràn kỷ niệm của mình, đã bỏ lại sau lưng tận bên kia bờ Thái Bình Dương.

Từ nhỏ anh đã là một học sinh xuất sắc của trường Lasalle Tabert ở Sài Gòn, cũng như anh trai và đứa em trai kế của anh. Người chị lớn của anh thì đang du học bên Nhật Bản về ngành giáo dục. Ba của anh là bác sĩ Nguyễn Ngọc Bảy, cựu Dân Biểu của nền đệ nhị cộng hòa Việt Nam và cũng là Thiếu Tá Y sĩ trưởng Bộ Tổng Tham Mưu và Sư đoàn 5 QLVNCH. Mẹ của anh là giáo sư trường nữ trung học Gia Long ở Sài Gòn. Việt Dzũng đã yêu thích âm nhạc từ khi còn rất trẻ và được các sư huynh ở trường Lasalle Tabert chỉ dạy rất tận tình. Trong lúc gia đình mong cho anh sau này trở thành Bác sĩ để nối nghiệp cha, thì Việt Dzũng lại đam mê ca hát, văn nghệ. Anh thường cùng các bạn học trình diễn ca nhạc ở những buổi văn nghệ liên trường. Việt Dzũng đã từng chiếm giải nhất ở cuộc thi văn nghệ của trường Tabert và đại diện trường đi tham dự các buổi hát ủy lạo chiến sĩ VNCH, cũng như tham dự vào những đại hội nhạc trẻ khắp nơi bên cạnh những tên tuổi nổi danh thời bấy giờ như Trường Kỳ, Nam Lộc, Jo Marcel, Tùng Giang, Đức Huy, Elvis Phương.v.v…. Đó là khoảng thời gian từ năm 1971 cho tới tháng tư năm 1975.

Giờ đây (tháng 6-1975), tại trại tạm cư Subic, chàng thanh niên trẻ Việt Dzũng tạm quên đi những kỷ niệm thật đẹp ở quê nhà mà bắt tay ngay vào đời sống mới. Với số vốn Anh ngữ học được ở trung học và tính tình hoạt bát, Việt Dzũng liền tham gia hoạt động trong ban tổ chức và điều hành trại, đón tiếp và giúp đỡ nhiều chuyến tàu tị nạn lần lượt cặp bến Subic cho đến khi trại này đóng cửa. Rời trại tị nạn này, Việt Dzũng cùng bà ngoại được đưa sang đảo Guam, rồi chuyển sang trại Ft. Chaffee ở tiểu bang Arkansas.

Trong thời gian này Việt Dzũng hoạt động không ngừng nghỉ, từ việc đón tiếp đồng bào tị nạn mới tới, sinh hoạt trong hội Hồng Thập Tự, hội USCC, cộng tác với tờ báo của trại, chương trình phát thanh của trại, làm thông dịch viên giúp đỡ rất nhiều người chung quanh. Ở lại trại gần đến ngày cuối cùng trước khi trại đóng cửa, anh được Đức Cha Bernard Law, Giám Mục địa phận Springfield, Missouri, bảo trợ và gởi đến tạm trú trong một gia đình người Mỹ. Năm 1976, Việt Dzũng tiếp tục học lớp 11 ở trường trung học St. Agnes, Missouri và tự trau dồi thêm về âm nhạc theo như sở thích và đam mê từ nhỏ của anh. Tại đây, anh bắt đầu sinh hoạt ca hát với các anh chị em thuộc cộng đồng Việt Nam. Anh cũng từng xuất hiện trên đài truyền hình KOZK21 ở Springfield. Một năm sau (1977), Việt Dzũng được đoàn tụ với gia đình ở Wood River, tiểu bang Nebraska. Năm đó anh tốt nghiệp trung học tại trường Wood River.

Năm 1978, Việt Dzũng chính thức bước vào lãnh vực âm nhạc khi cùng một người bạn học chung trường tên là Vernon Larsen lập ban song ca để hát theo lối du ca (troubrador) của Mỹ, tên “Firebirds” (Chim Lửa). Đôi song ca này chuyên hát nhạc đồng quê của Hoa Kỳ (American country music). Việt Dzũng sử dụng tây ban cầm và cùng người bạn Mỹ đi trình diễn khắp nơi ở vùng Trung Mỹ, kể cả các club nhạc của dân địa phương. Nhiều người Mỹ đã tỏ ra rất ngạc nhiên khi thấy một thanh niên Á châu hát nhạc đồng quê rất thành thạo, trôi chảy nên đã dành cho anh thật nhiều thiện cảm.

Cũng năm 1978 này, Việt Dzũng đoạt giải nhất về sáng tác nhạc country music tại cuộc thi Iowa Grand Old Opry. Thật ngạc nhiên khi anh là người Việt Nam đầu tiên, mà cũng là người Á châu đầu tiên chiếm giải nhất về bộ môn sáng tác country music với bài hát hoàn toàn bằng Anh ngữ. Ngay sau đó, một hãng dĩa về country music đã mời anh cộng tác để thực hiện một Album nhạc đồng quê, nhưng anh đã từ chối vì muốn tiếp tục học ở Đại học theo ý muốn của song thân. Cũng trong năm này, Việt Dzũng bắt đầu sáng tác nhạc Việt với bài hát đầu tiên là “Sau Ba Năm Tỵ Nạn Tại Hoa Kỳ,” viết về thân phận người dân xa xứ với những đau đớn chia lìa. Bài hát thứ hai là “Một Chút Quà Cho Quê Hương” đã trở thành một ca khúc lẫy lừng nhất của Việt Dzũng, được mọi người yêu thích cho đến tận hôm nay.

Đó là thời gian người Việt tỵ nạn bắt đầu gửi quà về cho thân nhân ở quê nhà, chia sẻ những khổ đau chất ngất, đọa đày dưới chế độ mới như những lời ca sau đây “Em gởi về cho anh dăm bao thuốc lá Anh đốt cuộc đời cháy mòn trên ngón tay à Gởi về cho mẹ dăm chiếc kim may Mẹ may hộ con tim gan quá đọa đày. Gởi về cho chị hộp diêm nhóm lửa Chị đốt cuộc đời trong hoang lạnh mù sương Gởi về cho mẹ dăm gói trà xanh Mẹ pha hộ con nước mắt đã khô cằn ….Con gởi về cho cha một manh áo trắng Cha mặc một lần khi ra pháp trường phơi thây Gởi về Việt Nam nước mắt đong đầy Mơ ước một ngày quê hương sẽ thanh bình …”

Nhớ lại những ngày đầu tiên làm quen với sinh hoạt văn nghệ của người Việt tha hương, khi Việt Dzũng theo người chú họ về San Antonio, Texas thăm gia đình người bạn nhân dịp tết Nguyên Đán 1979. Tại Hội Chợ Tết nơi đây, anh đã lên sân khấu, ôm đàn guitar trình bày hai ca khúc mà anh vừa sáng tác. Hát xong, nhìn xuống khán giả thì mọi người đã đầm đìa nước mắt và túa ra ôm ấy anh khi anh rời sân khấu. Việt Dzũng đã chinh phục bà con đồng hương nơi đây kể từ lúc này.

Năm sau 1980, Việt Dzũng trình diễn tại một đại nhạc hội ở Omaha, Nebraska với Sĩ Phú và Mai Lệ Huyền. Sau đó anh đã hát với Khánh Ly, Hoàng Oanh, Trung Chỉnh ở Denver, Colorado những bài hát do anh sáng tác. Ngay lúc đó, Khánh Ly đã chọn ba bài hát của anh là: “Lời Kinh Đêm, Mời Em Về, Một Chút Quà Cho Quê Hương” đem về California thâu vào băng nhạc “Một Bông Hồng Cho Người Ngã Ngựa” (nhà văn Mai Thảo viết lời giới thiệu). Ba bài hát này đã là những bài hát nằm lòng của hàng triệu người Việt nhiều năm sau đó (kể cả ở trong nước).
Năm 1980, là năm mà số người Việt bỏ nước ra đi cao nhất, Việt Dzũng đã cho ra mắt băng nhạc đầu tay “Kinh Tỵ Nạn” do Trung Tâm Nhã Nhạc tại Houston, Texas thực hiện. Ngay tuần lễ đầu băng nhạc này đã được đón nhận nhiệt liệt từ California đến tận Canada, số bán sau đó đã lên đến cả trăm ngàn ấn bản. Lúc đó, Việt Dzũng đã quyết định chính thức di chuyển qua California sinh sống và sinh hoạt văn nghệ để có thể phát triển tài năng của anh nhiều hơn. Đầu tiên, anh được nhạc sĩ Ngọc Chánh mời hát cho đại nhạc hội ở Orange County và tiếp tục lưu diễn khắp nơi. Anh cũng đã hoàn thành băng nhạc thứ nhì tên là “Lưu Vong Khúc” vào giai đoạn này.

Trước đó, vào năm 1978 anh đã gặp ca nhạc sĩ Nguyệt Ánh tại Đại Hội Thanh Niên Cách Mạng Việt tại thủ đô Washington D.C. và hai người liền kết nghĩa chị em. Cả hai cùng sáng tác chung một đường lối và họ đã kết hợp thành một đôi song ca trình diễn khắp nơi trên thế giới, chỉ trừ các nước cộng sản mà thôi. Tại Mỹ, họ đã lưu diễn hầu hết 50 tiểu bang, kể cả những tiểu bang có rất ít người Việt sinh sống. Tại Á châu, họ đã hát ở Nhật hơn ba lần, hát cho các phái đoàn ngoại giao, tòa tổng lãnh sự, sứ quán Mỹ ở nhiều nước như Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, v.và Nhưng chuyến lưu diễn ở Âu Châu của Việt Dzũng và Nguyệt Ánh phải coi là một chuyến lưu diễn lịch sử.

Đã có hàng ngàn người Việt từ khắp nơi đón xe lửa đến gần địa điểm trình diễn, cắm trại nằm chờ trước hai ba ngày khai mạc để gặp hai thần tượng của họ. Ở Úc Châu khán giả cũng nhiệt liệt đón chào Việt Dzũng và Nguyệt Ánh. Họ đã đi hết những thành phố có người Việt cư trú kể cả những nơi hẻo lánh như Perth và Darwin. Đã có nhiều bài báo và cả hai cuốn sách xuất bản ở Úc được viết ra để ca tụng cho lý tưởng đấu tranh chống cộng và ước mơ ngày về quang phục quê hương của đôi nghệ sĩ này. Ngay lúc đó, chính quyền Cộng Sản Việt Nam liền lên án Việt Dzũng và Nguyệt Ánh là hai kẻ phản động số một, tuyệt đối cấm phổ biến tất cả các nhạc phẩm của họ trong nước.

Trong một phiên tòa sau đó, CSVN đã kết án tử hình khiếm diện hai nghệ sĩ này. Ngày 1 tháng Tư năm 1985, hai nghệ sĩ này đã kết hợp với những ca nhạc sĩ khác để thành lập Phong Trào Hưng Ca Việt Nam, dùng âm nhạc làm vũ khí đấu tranh chống lại kẻ thù. Cho đến nay, Phong Trào Hưng Ca Việt Nam vẫn còn hoạt động đều đặn với những tên tuổi khác như Huỳnh Lương Thiện, Trương Sĩ Lương, Xuân Nghĩa, Tuấn Minh, Tuyết Mai, Lưu Xuân Bảo v.v…

Trong suốt thời gian hơn 25 năm này, Việt Dzũng vẫn tiếp tục có những hoạt động đều đặn, liên tục và bền bỉ để tranh đấu cho người tị nạn Việt Nam. Từ những buổi văn nghệ gây quỹ cho các con tàu với người vượt biển như Cape D'Anamur, chương trình SOS Boat People, vận động chống lại chương trình cưỡng bách hồi hương người tị nạn, tranh đấu với quốc tế tại Genève, Thụy Sĩ, tại Liên Hiệp Quốc…. Có thể nói, bất cứ nơi nào có người tị nạn Việt Nam là có bước chân Việt Dzũng mang tiếng đàn, tiếng hát của anh để binh vực cho họ, sưởi ấm tấm lòng của họ, mang niềm tin yêu và hy vọng cho họ vượt qua những khổ cực, đau buồn và mất mát trên đường vượt biên. Anh đã có mặt hầu hết các trại tị nạn ở vùng Đông Nam Á để thăm viếng, ủy lạo đồng bào, giúp đỡ trẻ em không thân nhân và hàng ngàn công tác xã hội khác mà không hề biết mệt.

Cũng trong năm 1985 này, Việt Dzũng đã cho ra đời một băng nhạc hoàn toàn bằng Anh ngữ “Children of the Ocean”. Đây cũng là album nhạc đầu tiên của người Việt hải ngoại bằng tiếng Anh. Các tờ báo Orange County Register, Los Angeles Times, Washington Post đều có những bài viết khen ngợi cuốn băng này. Riêng tờ Austin-American- Stateman đã gọi Việt Dzũng là “người nghệ sĩ nổi tiếng nhất của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, và là một tấm gương sáng giá, chứng tỏ là người tỵ nạn có thể hội nhập vào đời sống mới, trong khi vẫn giữ được nguồn gốc của quê hương mình.”

Về truyền thông, Việt Dzũng đã mở ra một cánh cửa khác để cho thấy một tài năng thiên phú và đa dạng ở anh. Sau một thời gian dài làm báo, tháng 7 năm 1993 Việt Dzũng được mời làm xướng ngôn viên chính cho chương trình phát thanh tiếng Việt đầu tiên ở Nam California, phát thanh 6 tiếng đồng hồ mỗi ngày là đài Little Saigon.

Cũng cần nhắc lại là trước đó các đài phát thanh đều làm chương trình theo kiểu ngày xưa, nghĩa là thâu thanh trước đàng hoàng, kỹ càng từng tiết mục và tới giờ là cho phát thanh lên. Nhưng lần đầu tiên, Việt Dzũng đã tạo ra một phong cách mới: anh đưa ra những chương trình trực tiếp chuyện trò cùng thính giả (talk back) trong buổi phát thanh. Nên không khí rất vui nhộn và hào hứng, náo nhiệt vô cùng. Sau này các đài phát thanh ở Mỹ và ngay cả ở bên Việt Nam cũng bắt chước theo lối này. Kể cả các đài BBC, VOA phát thanh về Á Châu, cũng thay đổi cách làm việc như cho xướng ngôn viên được phép đùa giỡn với thính giả chớ không đọc tin một cách nghiêm trang như ngày xưa.

Ngoài việc phổ biến tin tức, âm nhạc, thể thao cuối tuần, giải trí cuối tuần, tin tức Hollywood… Việt Dzũng còn thực hiện chương trình đặc biệt nhất là chương trình “Tâm tình với nghệ sĩ” được rất nhiều thính giả ưa thích. Chương trình này lúc đầu phát từ 11 đến 12 giờ trưa hàng ngày trên làn sóng 96.7 FM của đài KWIZ. Sau đó mỗi tuần phát hai ngày thứ hai và thứ tư. Trong vòng hơn hai năm, mà Việt Dzũng đã phỏng vấn trên 350 nghệ sĩ. Từ những ca sĩ nổi tiếng như Thanh Thúy, Thanh Tuyền, Chế Linh, Lệ thu, Ý Lan, Vũ Khanh … cho đến những ca sĩ mới xuất hiện ở hải ngoại sau này như Mạnh Đình, Dạ Nhật Yến, Thanh Trúc, Phi Nhung à Những nghệ sĩ đến từ các tiểu bang xa cũng được mời phỏng vấn như Hà Thanh, Từ Công Phụng, Trường Kỳ, Châu Hà, Văn Phụng .v.vàTrong tất cả các chương trình phỏng vấn này, nóng bỏng nhất và đặc biệt nhất phải nói là chương trình phỏng vấn nữ ca sĩ Ngọc Lan. Vì từ trước tới nay, Ngọc Lan không nhận lời cho ai phỏng vấn cả (vào thời điểm đó), chỉ có một lần cô trả lời trên đài VOA; và Việt Dzũng là người duy nhất phỏng vấn được Ngọc Lan vào tháng 10 năm 1994.
Bốn năm sau(1996), Việt Dzũng cùng các bạn đứng ra thành lập một chương trình phát thanh độc lập, đó là đài Radio Bolsa, phát thanh trên ba làn sóng khác nhau ở Nam California, Bắc California và Houston, Texas. Hiện nay (2006), Radio Bolsa đang phát sóng trên 106.3 FM, 1190 AM (Nam California) và 1430 AM (San Jose) với Việt Dzũng và Minh Phượng là hai xướng ngôn viên chủ lực cùng với các xướng ngôn viên khác như Nguyễn Phú, Uyên Thy, Mai Trang…

Việt Dzũng đã tạo sự gần gũi, thân mật giữa xướng ngôn viên với thính giả từ trẻ đến già, ở nhà cũng như đang lái xe đi làm với những chương trình đa dạng và phong phú hàng ngày. Dĩ nhiên là với kỹ thuật phát thanh digital, mọi người trên khắp thế giới cũng có thể nghe được các chương trình phát thanh này trên mạng thông tin toàn cầu bất cứ lúc nào.

Tuy công việc hàng ngày của anh thật bận rộn như vậy, nhưng ngoài thời gian làm việc ở đài phát thanh, Việt Dzũng còn chứng tỏ là anh có khả năng làm báo rất thành công. Kể từ năm 1980, anh đã cộng tác với tờ Người Việt (trang song ngữ Tuổi Trẻ). Sau đó anh về làm Tổng Thư Ký cho tờ Nhân Chứng năm 1982. Tờ Tay Phải (của Du Tử Lê) năm 1983. Về Houston làm Tổng Thư ký cho tờ Việt Nam Thương Mại năm 1988. Trở lại California làm thư ký cho tờ Sài Gòn Nhỏ một thời gian và sau đó cộng tác với tờ tuần báo Diễm từ năm 1990. Năm 1992 trở thành Thơ ký tòa soạn cho tờ nguyệt san Hồn Việt cho đến bây giờ. Việt Dzũng cũng là cộng tác viên của nhiều cơ quan truyền thông khắp nước Mỹ như tờ Phố Nhỏ (Washington DC), Thế Giới Mới (Dallas, PL), Phương Đông (Seattle, WA), Mõ Magazine (San Jose, Sacramento, San Francisco & Oakland), Làng Văn (Canada), Nhân Quyền (Úc), Tin Điển (Đức) v.v….
Hầu như lúc nào Việt Dzũng cũng có những dự tính và dự án trước mặt, nhưng không làm sao có đầy đủ thời giờ để lo cho xuể. Chỉ nói riêng về mặt sáng tác âm nhạc thì cho đến nay Việt Dzũng đã sáng tác hơn 450 bài hát về đủ mọi thể loại. Những bài hát về tỵ nạn đã được phổ biến rộng rãi trong hai tập nhạc “Kinh Tỵ Nạn (1980) và “Lưu Vong Khúc” (1982). Những bài hát này được viết ra như một thôi thúc về những điều phải nói ra trong những năm lạc lõng của đời lưu vong nơi xứ người. Sau đó là các ca khúc đấu tranh, quang phục quê hương. Nhưng nhiều nhất vẫn là tình ca, sáng tác rất nhiều nhưng chưa phổ biến hết. Những bản tình ca nổi tiếng của Việt Dzũng có thể kể ra như Bài Tango Cuối Cùng, Thung Lũng Chim Bay, Khóc Ru Đời Trinh Nữ, Bên Đời Hiu Quạnh, Có Những Cuộc Tình Không Là Trăm Năm, Và Em Hãy Nói Yêu Anh, Tình Như Cây Cà-Rem…

Năm 1990, Việt Dzũng thành lập riêng cho mình Trung Tâm Việt Productions, chuyên sản xuất các CD nhạc với tiếng hát của anh và bằng hữu như các CD: Ru Em Sông Núi Đợi Chờ, Thánh Ca Vào Đời, Hùng Ca Quật Khởi, Quê Hương Và Em, Mình Ơi Đưa Em Về Quê Hương, Thắp Lửa Yêu Thương, Lên Đường, Bên Em Đang Có Ta, Tuổi Trẻ Về Nguồn, Hát Cho Tự Do, Thắp Lửa Tự Do, Trái Tim Ở Lại, Anh Vẫn Còn Thương, Vuốt Mặt, Bên Bờ Đại Dương… Sau hai mươi năm hoạt động không ngừng nghỉ trên mọi lãnh vực và được nổi danh khắp nơi, được hàng triệu người ái mộ (nhứt là giới trẻ ở hải ngoại), nhưng cũng có lúc Việt Dzũng cảm thấy rất cô đơn. Anh đã từng bày tỏ cảm nghĩ của riêng anh trong một lần phỏng vấn năm 1995 với nhà báo Trường Kỳ như sau: “Nhìn vào đời sống nghệ sĩ, ai cũng cũng chỉ thấy những rực rỡ của ánh đèn sân khấu, của những tràng pháo tay và của những rộn rịp âm thanh. Đời sống của nghệ sĩ không phải chỉ có vậy. Còn có những giọt nước mắt âm thầm mỗi đêm, những đắng cay tủi nhục và những cám dỗ chập chùng đi kèm.

“Cá nhân Việt Dzũng không bao giờ muốn trở thành ca sĩ. Chỉ muốn làm một nhạc sĩ ghi lại những nỗi suy tư của một đời người, và những rung động mà mình bất chợt tìm thấy. Vì thế, nên khi nghe một ca khúc, khi thưởng thức một nhạc phẩm nào, hãy nghe bằng sự rung động của chính tâm hồn mình. Bạn sẽ thấy người nhạc sĩ đó đang mang trái tim của họ trải rộng cho bạn nhìn, như một tấm tranh vẽ.

“Có thể bạn sẽ bắt kịp những nét chấm phá trong tranh. Có thể bạn chỉ ơ hờ lướt mắt qua rồi thôi. Nhưng dù gì đi nữa, mỗi ca khúc hay mỗi bức tranh vẫn là một hiện diện trong đời sống. Và hãy cảm ơn sự hiện diện đó, vì nếu không cuộc đời sẽ chỉ là những vô nghĩa kéo dài.” (Việt Dzũng trong “Tuyển Tập Nghệ Sĩ”, 1995).

Thực ra, nỗi cô đơn ấy cũng chỉ thoáng qua mà thôi. Những dự án, kế hoạch vẫn được anh theo đuổi càng lúc càng nhiều, choáng ngộp. Việt Dzũng tâm sự là anh mong cho một ngày dài thêm 48 tiếng đồng hồ, thay vì chỉ có 24 giờ để anh có thể hoàn thành bao nhiêu công việc đang vây bủa lấy anh. Ngày tháng vẫn trôi nhanh, trôi nhanh. Những hoạt động của anh gần đây thì nhiều vô số kể. Chỉ nói riêng về sinh hoạt với Phong Trào Hưng Ca Việt Nam thôi, thì những lần công tác nổi bật nhất là:

Phát động chiến dịch “Tưởng Niệm 50 năm Hiệp Định Genève (1954-2004)”, biểu tình trước trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Genève (Thụy Sĩ) ngày 3-4-2004.

Đại nhạc hội Cứu Trợ Nạn Nhân Bão Lụt Katrina tổ chức ở Houston (17-9-2005), sau chương trình “Chén Gạo Tình Thương” do Phong Trào Hưng ca phát động từ ngày 9.9.2005.

Đại nhạc hội “Đêm Tình Thương” phối hợp với cộng đồng người Việt ở Dallas Fortworth va Trung Tâm ca nhạc Asia (tháng 9-2005).

Chương trình văn Nghệ gầy quỹ cứu trợ nạn nhân cơn bão Katrina tổ chức ở Wichita.

Những chương trình Đại Nhạc Hội gây quỹ giúp Thương Phế Binh VNCH ở khắp nơi.

Trong những chương trình gây quỹ từ thiện và văn nghệ đấu tranh đó, Việt Dzũng đã đến với đồng hương bằng cung cách rất bình dị thân thương. Luôn luôn có những bạn trẻ vây quanh, tíu tít thăm hỏi, chụp hình chung với anh. Có những bà mẹ già vẫy tay gọi anh lại gần chỉ để được nắm tay anh, nói vài ba câu thăm hỏi với niềm rưng rưng cảm xúc.

Nhưng tài năng đặc biệt nhất và nổi bật của anh là kể từ năm 1996 khi anh cộng tác với Trung Tâm Ca Nhạc Asia để làm MC hướng dẫn các chương trình video và đại nhạc hội trực tiếp thu hình. Anh cũng cộng tác với đài truyền hình SBTN trong việc soạn và đọc tin tức hàng ngày, cùng nhiều tiết mục khác cho chương trình phát hình liên tục 24 giờ mỗi ngày. Trước đó anh cũng đã từng nhiều lần làm MC cho các buổi đại nhạc hội, các buổi biểu tình, những lần gây quỹ từ thiện à Riêng ở các chương trình của Trung Tâm Asia thì anh đã hợp tác viết thuyết minh và giới thiệu cho các chủ đề, các tài năng mới trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Vì từ lâu nay Trung Tâm Asia là một trong hai trung tâm hàng đầu về ca nhạc ở hải ngoại được tiếng là luôn luôn có nhiều sáng kiến mới lạ và nâng đỡ cho những tài năng trẻ tuổi trong lãnh vực ca hát.
Rất nhiều chương trình Video của Asia có các chủ đề đầy tình người, không nhằm mục đích thương mại, nhưng rất thành công như “Người Lính,” “Những Tình Khúc Thời Chinh Chiến,” “Tình Ca Anh Bằng.” Vài năm gần đây lại có những chương trình Asia video thật giá trị như “Âm Nhạc Vòng Quanh Thế Giới” (phát hành 27/2/2004), “Tiếng Hát Trái Tim” (thu hình 20/3/2004), “Mùa Hè Rực Rỡ 2005” (thu hình 22/7/2005). Nhưng đặc biệt nhất là video “Hành Trình Tìm Tự Do”(phát hành 24/6/2005), khán giả đã thực sự xúc động khi thấy Việt Dzũng trở lại các đảo tị nạn ở Đông Nam Á để làm phóng sự video, gợi nhớ cảnh vượt biển của những thuyền nhân tỵ nạn liều chết ra đi tìm tự do ngày xưa.

Cũng chính những chương trình video này, khi được chuyển về Việt Nam cùng với các DVD khác như “Cuộc Đổi Đời Bi Thảm, Triệu Đóa Hồng Cho Người Phụ Nữ VN, Cuộc Khổ Nạn của Người VN (Dạ Lan), và gần đây là Asia 50 “Vinh Danh Nhật Trường” và Asia 51 “Nhạc Vàng, Tình Khúc Sau Cuộc Chiến” à đã khiến nhà cầm quyền Việt Nam vô cùng tức tối, khi nhìn thấy Việt Dzũng vẫn tiếp tục xuất hiện trong vai trò làm MC. Nên vào ngày 18/9/2006 tờ báo Công An Thành Phố HCM đã bắt đầu đăng hai bài viết với đủ thứ ngôn từ hạ cấp nhằm mạ lỵ, phỉ báng và bôi nhọ cá nhân Việt Dzũng thật nặng nề. Có thể nói lần này là lần anh bị những người Cộng Sản VN “đánh” nặng nhứt từ trước đến nay. Nhưng cũng chính những bài báo này đã khiến cho mọi người càng thấy rõ bộ mặt nham hiểm, quỷ quyệt của Cộng Sản VN như thế nào và cũng làm cho nhiều người thông cảm, yêu mến và chia sẻ nhưng oan khiên, thống khổ của người nghệ sĩ này nhiều hơn.

Với tất cả những mũi tên tẩm thuốc độc bắn thẳng vào anh, Việt Dzũng chỉ im lìm, không lên tiếng biện minh hay viết bài đính chính. Anh vẫn âm thầm tiếp tục thực hiện những dự án và càng hăng say hoạt động, cống hiến tài năng của mình cho đồng hương như anh đã làm suốt hơn ba mươi năm nay. Lúc nào cũng vậy, anh vẫn luôn luôn là một đứa con cưng của tổ quốc và quê hương Việt Nam. Anh vẫn tiếp tục con đường tranh đấu cho nhân quyền và quang phục quê hương trong niềm tin rằng chế độ Cộng sản sẽ cáo chung trong một tương lai rất gần. (dk)

Trích từ Viễn Đông daily

THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA

EMMANUEL: Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thiên Chúa ở cùng chúng ta: Ước muốn ấy đã có tự thuở Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ và con người. Ước muốn tốt lành, thánh thiện. Ước muốn vui sống bình an với loài thụ tạo. Ước muốn ấy mang vẻ toàn bích của quyền năng Thiên Chúa, mang nét độc đáo thánh thiện của lòng Thiên Chúa yêu thương vô biên. Ước muốn ấy đã thành hiện thực ngay trong ngày Thiên Chúa sáng tạo: Đấng Tạo Hóa đùa vui với loài thụ tạo vì loài thụ tạo nào cũng mang căn tính tốt lành của Thiên Chúa.

Đến nay, “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” là một nền hòa bình chí thánh mà chúng ta không thể hình dung theo trí tưởng tượng của con người nhưng phải cảm nếm được bằng đức tin soi dẫn dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần. Bởi lẽ, lòng con người đã trở nên mê muội từ khi con người quay lưng lại với Thiên Chúa, không chấp nhận ở cùng Thiên Chúa nữa. Toàn cảnh Hòa Bình đã sụp đổ. Thiên Chúa ở cùng chúng ta mà chúng ta không chấp nhận ở cùng Thiên Chúa.

 “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en” (Is 7,14).

Tiên tri Isaia đã loan báo về việc một Đấng Emmanuel mặc lấy xác phàm, được sinh ra bởi một nữ trinh nữ trong số những nữ lưu trần thế. Đấng Emmanuel thực hiện ước muốn của Thiên Chúa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thánh Phaolô gọi Đấng Emmanuel là “Tin Mừng, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. (Rm 1, 3).

Một bước xuống thật dài, thật xa từ trời xuống đất, để đất trời không còn cách xa, một bên Trời là niềm thương, một bên Đất là nỗi mong đợi. Đấng Emmanuel đã đến. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể thực hiện việc tốt lành ấy, còn con người thì bó tay, vì đang sống trong tình trạng tội lỗi vô phương cứu chữa. Nhưng để được thực hiện, Thiên Chúa muốn con người cộng tác vào chương trình của Người để chứng tỏ cho con người biết rằng, Người luôn tôn trọng quyền tự do của con người, và để con người dùng tự do ấy mà định liệu cho ơn cứu rỗi của mình: chấp nhận cho “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” để “chúng ta được ở cùng Thiên Chúa”.

Thiên Chúa đã hỏi ý kiến Mẹ Maria về việc này. Mẹ đã xin vâng và xin hãy thành sự trong Mẹ những điều Người ước muốn. Thiên Chúa cũng bàn bạc với Giuse về việc có chấp nhận chung sống với Mẹ Maria, đồng nghĩa với việc phải chấp nhận cả thai nhi trong lòng Mẹ. “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” ( Mt 18,20-21). Giuse đã hiểu được ý muốn của Thiên Chúa và cũng đã chấp nhận để Thiên Chúa ở cùng và ở cùng Thiên Chúa. “Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su”. (Mt 18,24-25).

 Lời Chúa hôm nay cũng đang hỏi ý kiến mỗi chúng ta có chấp nhận cho “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” không.

Chấp nhận Thiên Chúa ở cùng chúng ta

  • là chấp nhận để Thiên Chúa Giáng Sinh trong lòng mình, ở cùng cuộc đời mình.
  • là chấp nhận cho Thiên Chúa làm mới lại trong chúng ta những gì đã tang thương đổ nát do tội nguyên tổ, do tội lỗi chúng ta
  • là chấp nhận để Thiên Chúa tác động trong hành trình cuộc đời của mình, hành trình tiến về Địa Đàng Mới là cuộc chung sống hòa bình viên mãn trong Nước của Thiên Chúa.
  • là chấp nhận một cuộc sống mới: sống theo tinh thần của Chúa Giêsu Kitô, sống chung và sẻ chia với người nghèo khổ, không tẩy chay người tội lỗi nhưng mời gọi họ trở về, can đảm làm chứng cho sự thật, cho công lý…..
  • là chấp nhận để Thiên Chúa ban hồng ân cao trọng: Hồng Ân Cứu Rỗi.
  • là vui mừng vì ơn cao trọng “Chúng ta ở cùng Thiên Chúa”

 Nếu ngày ấy Thiên Chúa hỏi ý kiến Mẹ Maria qua các sứ thần, bàn bạc với Giuse trong giấc mộng, thì ngày hôm nay, Thiên Chúa lại hỏi ý kiến và bàn bạc với mỗi chúng ta qua chính Tin Mừng của Chúa Giêsu. Hơn hai ngàn năm rồi, Lời Chúa vẫn mời gọi chúng ta “ở cùng Thiên Chúa”, để được cứu rỗi, vẫn mời gọi chúng ta sống theo tinh thần của Tin Mừng để được ở cùng Thiên Chúa.

Là những tín hữu công giáo của Thiên Chúa, chúng ta không thể sống như những người “không chấp nhận Thiên Chúa ở cùng”. Họ không chấp nhận để Thiên Chúa tác động trong lịch sử đời mình, và chính vì vậy họ cũng không muốn để Thiên Chúa tác động trong lịch sử đời ai, trong lịch sử đất nước nào.

Ngược lại, mỗi tín hữu phải là một nhân chứng anh dũng cho Tin Mừng Giáng Sinh, Tin Mừng Cứu Rỗi. Vậy trước tiên tín hữu phải là một nơi xứng đáng để Thiên Chúa Giáng Sinh, để Thiên Chúa Ngự Trị- mỗi tín hữu phải Ở Cùng Thiên Chúa một cách sinh động nhất, cụ thể nhất: Sống Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô.

Thiết tưởng, “Sống Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô” không còn là một lý thuyết suông của những tín hữu trong một xã hội vô thần, thực dụng, duy vật đầy thách đố này, nhưng phải là kim chỉ nam cho mọi thành phần dân Chúa để có một Giáo hội sống động qua chứng tá vui mừng, hy vọng, tràn đầy sức sống, không khiếp sợ nhưng anh dũng vì “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” và “chúng ta ở cùng Thiên Chúa”.

 Lạy Chúa Giêsu Giáng Sinh, xin hãy giáng sinh trong lòng con, trong nhà con, trong Giáo xứ, Giáo phận con, trong đất nước con, để tất cả chúng con được ở cùng Thiên Chúa. A men.

 PM. Cao Huy Hoàng

Chúa Cứu Thế giáng sinh

Chúa Cứu Thế giáng sinh

Chúa nhật IV Mùa vọng hướng tâm trí chúng ta đến thật gần mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa, mầu nhiệm mà mỗi người con của Giáo Hội được mời gọi đón nhận với tâm hồn được chuẩn bị kỹ lưỡng trong suốt bốn tuần Mùa vọng. Tất cả ba bài đọc trong Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đều hướng về sự kiện căn bản này: “Con Thiên Chúa Nhập Thể và sinh ra bởi Người Nữ Đồng Trinh, nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần”, theo như lời hứa của Thiên Chúa trong lịch sử dân Chúa.

Bài tường thuật biến cố Con Thiên Chúa Giáng Sinh nơi Phúc Âm thánh Luca sẽ được dùng trong Thánh Lễ Giáng Sinh vào Chúa nhật IV Mùa vọng, Giáo Hội nhắc đến biến cố căn bản qua bài tường thuật của Phúc Âm thánh Mátthêu (x. Mt 1,18-24). Dĩ nhiên, tác giả Phúc Âm theo thánh Mátthêu không tường thuật biến cố Nhập Thể và Giáng Sinh của Con Thiên Chúa trong cùng một cách thức như Phúc Âm thánh Luca. Tác giả Phúc Âm thánh Mátthêu nhắc đến biến cố trong vai trò của thánh Giuse, thánh nhân được mạc khải cho biết mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể, tức Con Thiên Chúa được sinh ra trong cung lòng Đồng Trinh của Mẹ Maria, do quyền phép của Chúa Thánh Thần. Thánh Giuse được mạc khải cho biết và đồng thời mời gọi Ngài tích cực tham dự vào chương trình đó, là người cha nuôi của Con Thiên Chúa, là Đấng bảo vệ cho Mẹ Maria và Chúa Giêsu.

Qua đó, Thánh Giuse được mạc khải cho biết nguồn gốc thần linh của Đấng được Mẹ Maria cưu mang. Trong mạc khải đó, Thánh Giuse được nhắc lại cho biết lời tiên tri được loan báo trong dân Israel và được ghi chép lại trong sách Isaia nơi chương VII mà bài đọc I Chúa nhật IV Mùa vọng đã nhắc lại, đó là lời tiên tri được loan báo gần 8 thế kỷ trước khi biến cố thực sự xảy ra. Là một người Công Chính như thánh Giuse, chắc chắn Ngài đã đọc Kinh Thánh Cựu Ước và biết về lời tiên tri này như bao thành phần tốt của dân Israel thời đó. Tuy nhiên, khi biến cố thực sự xảy đến trước mắt mình và có liên quan đến chính mình, thì thánh Giuse có phản ứng đầu tiên là không chấp nhận, như Phúc Âm thánh Mátthêu ghi lại như sau: “Thánh Giuse định tâm lìa bỏ Maria cách kín đáo”. Luật Do Thái phạt nặng nề một người phụ nữ đã đính hôn mà đi ngoại tình với kẻ khác. Giuse có thể đi tố cáo Mẹ Maria, vì khi thấy Bạn mình chưa về chung sống mà đã mang thai. Phúc Âm không nói gì, nhưng người ta có thể hiểu là Maria có thể đã kể cho Giuse biết biến cố thiên thần truyền tin và việc mang thai là do quyền phép Chúa Thánh Thần như lời thiên thần loan báo, nhưng có thể thánh Giuse không hiểu, không tin hoặc tin lời Maria nói nhưng lại cảm thấy mình không xứng đáng, không muốn tham dự vào chương trình cao cả của Thiên Chúa, vì thế mà Ngài định tâm rút lui.

Thánh Giuse có thể tố cáo Maria dựa trên luật Israel lúc đó, nhưng ông không làm như vậy, Ông muốn trốn đi, vì việc này có thể được mọi người xung quanh hiểu như là một hành động bỏ trốn trách nhiệm làm cha, và trên bình diện siêu nhiên thì có thể được hiểu như là việc chối từ cộng tác với chương trình cứu rỗi của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa đã muốn cho Giuse một cơ hội, nên đã sai sứ thần đến xác nhận cho Giuse biết là: “Đừng ngại nhận Maria về làm Bạn mình, vì Maria mang thai là bởi phép Chúa Thánh Thần”, và thiên thần mạc khải thêm về thân thế của Đấng Cứu Thế đang được cưu mang trong cung lòng Mẹ Maria và mời gọi Giuse cộng tác và Ngài sẽ đặt tên cho Con Trẻ là Giêsu. Việc đặt tên cho con là quyền của người cha, như vậy khi mời gọi Giuse đặt tên cho Con Trẻ không do chính máu huyết của mình, có nghĩa là mời gọi Giuse chấp nhận quyền hay đúng hơn sứ mạng làm cha của Con Trẻ trên bình diện pháp lý.

Thánh Giuse có thể từ chối, nhưng Ngài đã không từ chối mà vâng phục lời thiên thần truyền, Ngài chu toàn vai trò Thiên Chúa muốn trong việc cứu rỗi. Khi Mẹ Maria sinh Con Trẻ thì Giuse đặt tên Con Trẻ là Giêsu. Ngoài mẫu gương hành động của Giuse, Phụng vụ Lời Chúa hôm nay nơi bài đọc II nhắc chúng ta nhớ đến một mẫu gương hành động trước mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa, đó là mẫu gương của thánh Phaolô tông đồ, một khi chấp nhận mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa, thì con người không thể nào có thái độ dửng dưng được nữa, nhưng phải để cho Con Thiên Chúa Nhập Thể là Chúa Giêsu Kitô chiếm lấy, biến mình trở thành môn đệ, thành người cộng tác với Chúa để mang ơn cứu độ đến cho mọi người, mọi dân tộc.

Mùa Giáng Sinh sắp đến, mầu nhiệm của Con Thiên Chúa làm người được người đồ đệ suy niệm bắt chước, nhưng không dừng lại hưởng niềm vui cứu rỗi nơi mình, nhưng cần để cho ơn Chúa chiếm lấy nơi mình và dấn thân mang ơn cứu rỗi đến cho mọi người. Chúng ta cầu chúc cho mọi người được ân sủng và bình an của Thiên Chúa Cha. Amen.

Veritas Radio

THÁNH GIUSE, MẪU GƯƠNG MÙA VỌNG

THÁNH GIUSE, MẪU GƯƠNG MÙA VỌNG

Tin Mừng Luca kể chuyện truyền tin cho Đức Mẹ.Tin Mừng Matthêu tường thuật câu chuyện truyền tin cho Thánh Giuse. Thánh nhân được mạc khải cho biết mầu nhiệm Con Thiên Chúa Nhập Thể trong cung lòng Đồng Trinh của Mẹ Maria, do quyền phép của Chúa Thánh Thần. Ngài được mời gọi tích cực tham dự vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Giuse đã sống lời “Xin Vâng” trọn cuộc đời.

Ngày Sứ thần Gabriel truyền tin, sau khi Đức Maria nói lời “Xin Vâng”, Con Thiên Chúa đã làm người trong cung lòng của Mẹ. Biết tin chị họ Êlisabeth có thai, Mẹ đã mau mắn lên đường đến viếng thăm và giúp đỡ suốt 3 tháng.

Trong thời gian này, Giuse ở nhà lo lắng chuẩn bị cho ngày thành hôn sắp tới. Thật bất ngờ, khi trở về Maria có dấu hiệu mang thai. Tâm hồn Giuse hoang mang bối rối khi bà con lối xóm xầm xì to nhỏ: Maria có thai. Làm sao tin nổi đó là sự thật? Maria một thiếu nữ nết na đức hạnh kia mà! Dù cố biện minh cho Maria, nhưng Giuse không khỏi xao xuyến. Làm sao đây, khi mà Maria cũng không thể tự biện hộ cho mình là bào thai này do quyền phép của Thiên Chúa chứ không phải người phàm! Giuse có thể tin được không? Phần Maria vẫn thinh lặng suy niệm trong lòng.

Về phần Giuse, chiếu theo luật có thể truy tố Maria trước pháp luật.Là người công chính, dù ghi nhận ít nhiều dấu hiệu chuyển biến nơi Đức Maria, Giuse cũng chẳng dám nghi ngờ mà chỉ một thoáng băn khoăn, để rồi định chọn cho mình giải pháp âm thầm rút lui. “Đào vi thượng sách” là giải pháp an toàn nhất. “Trong lúc định tâm như thế, thì Thiên Thần hiện đến với ông trong giấc mơ” và nói rõ về ý định của Thiên Chúa chọn Maria làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Thiên Thần trấn an Giuse: ” Chớ ngại nhận Maria làm bạn, vì Con bà đang cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông sẽ gọi tên con trẻ là Giêsu: vì chính Người sẽ cứu dân mình khỏi tội” (Mt 1,20-21). Sứ thần nhắc cho Giuse lời tiên tri Isaia (bài đọc 1). Là người Công Chính, Giuse đã đọc Kinh Thánh Cựu Ước và biết về sấm ngôn này. Lời Thiên Thần khai mở đã trút được gánh nặng đang đè trên tâm hồn Giuse bấy lâu. Chính lúc này, được tỏ nguồn cơn, Giuse đã tiếp nhận ý Chúa và tiếp đón Đức Maria về nhà mình bằng một tình yêu trong sáng, mà người trần mắt thịt dẫu có bản lĩnh cách mấy cũng khó mà dám xâm mình mạo hiểm (Mt 1,24).

Thánh Giuse luôn lắng nghe và mau mắn thi hành thánh ý Chúa. Ngài trở nên Thánh Cả và là mẫu gương cho mọi tín hữu.

1. Mẫu gương công chính

Tổ phụ Abraham nài xin với Thiên Chúa: “Thưa Chúa, nếu tìm thấy trong thành có 50 người công chính thì với 50 người chính chính ấy Chúa có tha cho cả thành không ?”. Giavê Thiên Chúa đã chấp thuận điều kiện Abraham đặt ra. Abraham đã kỳ kèo bớt dần bớt dần xuống con số 10 người công chính, Giavê cũng chấp nhận (x.St 18,16-33). Chờ đợi đến giai đoạn sau này, Abraham mới vui mừng vì hiểu được rằng chỉ với một người công chính duy nhất chính hiệu thì Thiên Chúa cũng ban ơn tha thứ cho cả nhân loại (x.Ga 8,56). Người công chính là người lôi kéo ân lộc trời cao cho nhân trần, là người trung gian hòa giải đất với trời, là người thể hiện tình yêu nhưng không của Thiên Chúa và là người nối kết mối dây giao hòa giữa nhân loại với Đấng tác thành mọi sự mọi loài.

“Giuse là người công chính”. Nơi Thánh Giuse, “sự công chính nội tâm” trùng với “tình yêu”. Tình yêu dâng hiến luôn hướng về người khác, sẵn sàng hy sinh để làm người mình yêu có giá trị hơn và được hạnh phúc hơn. Chấp nhận chịu thiệt thòi để người yêu được hưởng lợi, chấp nhận đau khổ để người mình yêu hạnh phúc. Sẵn sàng thông cảm và tha thứ cho người mình yêu khi có lầm lỗi. Giuse đã yêu Maria bằng tình yêu dâng hiến như thế.

Giuse luôn mở lòng lắng nghe Lời Chúa trong cầu nguyện. Thiên thần giải thích cho Giuse biết: “Người sinh bởi Đức Maria là do Chúa Thánh Thần“, theo lời ngôn sứ phán xưa: “Này đây: Trinh nữ sẽ thụ thai”, và Giuse sẵn sàng tiếp nhận những ý định của Chúa, những ý định vượt quá những giới hạn của loài người.

Giuse như là một con người đích thực sống đức tin. Đức tin liên kết với sự công chính và cầu nguyện, đó là thái độ phù hợp để gặp Đấng Emmanuel. Tin có nghĩa là sống trong lịch sử mở lòng đón nhận sáng kiến của Thiên Chúa, đón nhận sức mạnh sáng tạo của lời Người.

2. Mẫu gương luôn vâng theo thánh ý Chúa

Thánh Giuse là người công chính như Kinh Thánh đã khen tặng. Trong suốt cuộc đời, Giuse hằng luôn vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa (x. Mt 1,18-25; 2,13-23; Lc 2,1-7.22).

Thánh ý Chúa được Sứ thần truyền đạt đến cho thánh Giuse, vừa xoá tan mọi nghi ngờ đang dằn vặt ngài vừa mạc khải cho ngài về lai lịch và sứ mạng của thai nhi đang được cưu mang. Đó là Đấng Thánh vì được thụ thai do quyền năng của Thiên Chúa. Đó cũng là Đấng sẽ giải phóng dân tộc của ngài khỏi ách đô hộ của ngoại bang. Sứ thần xác nhận “Maria mang thai do Chúa Thánh Thần” và bảo ông đừng rút lui mà hãy đưa Maria về với mình, bởi Chúa đã giao cho ông một sứ mạng. Giuse sẵn sàng làm bất cứ điều gì Chúa muốn để hoàn tất chương trình của Người. Dự tính muốn ra đi âm thầm không phải chỉ do sự tôn trọng luật pháp hay tôn trọng danh dự Maria thúc đẩy, nhưng còn có cái gì sâu xa hơn nữa. Có thể ví với thái độ của những người đối diện với một mầu nhiệm cao cả: họ thụt lại vì kính sợ, tựa như ông Môsê đã cởi dép khi tiến gần bụi gai đang cháy rực (St 3,5), tựa như Isaia thất kinh khi diện kiến Thiên Chúa cực thánh(Is 6,5), tựa như Simon sau khi chứng kiến mẻ cá lạ lùng (Lc 5,8). Giuse đựoc biết là Maria “có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần”, vì thế ông không dám chiếm hữu người con không phải là của mình. Vì thế ông toan tính rút lui. Để cũng cố thêm cho sự giải thích vừa rồi, cha Ignace de La Potterie nhận xét rằng cần phải xét lại các bản dịch cổ truyền. Thay vì “ông Giuse là người công chính không muốn tố giác bà”, cần phải dịch là “ông Giuse là người công chính không muốn tiết lộ ‘mầu nhiệm’, quyết định rời bỏ bà cách kín đáo”. Động từ deigmatisai (ít được sử dụng trong tiếng Hy lạp) tự nó chỉ có nghĩa là thông báo, nói cho biết, đưa ra ánh sáng), và tuỳ theo mạch văn mà thay đổi ý nghĩa: có thể là “tố cáo, tố giác” (điều xấu), “bày tỏ, tiết lộ” (điều tốt). Ông Giuse đựơc bà Maria tâm sự về sự cưu mang do quyền năng Thánh Thần, và ông không dám tiết lộ mầu nhiệm này. (x.Lm Phan tấn Thành, Thánh Giuse trong cuộc đời Chúa Kitô và Hội thánh).

Như một khí cụ ngoan ngoãn trong tay người sử dụng, thánh Giuse đã được Thiên Chúa “chọn mặt gởi vàng”, chọn làm người bảo trợ Đấng Thiên Sai. Ngài cùng với Đức Maria thực hiện mọi quyết định của Thiên Chúa, dầu có phải trải qua biết bao thử thách gian nan cả vật chất lẫn tinh thần.

Người Công Chính Giuse suốt cuộc đời luôn luôn thức tỉnh trước thánh ý Thiên Chúa, thức tỉnh ngay cả trong giấc ngủ.

– Ở Bêlem: “Sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Aicập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi!’ Ông Giuse liền chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Aicập.” (Mt 2,13-14) .

– Ở Aicập: “Sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giuse bên Aicập, báo mộng cho ông rằng: “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi. ”Ông liền chỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ítraen” (Mt 2,19-21).

– Ở Giuđê: “Vì nghe biết Áckhêlao đã kế vị vua cha là Hêrôđê, cai trị miền Giuđê, nên ông Giuse sợ, không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Galilê, và đến ở tại một thành kia gọi là Nadarét” (Mt 2, 22-23) .

Giuse luôn thao thức lắng nghe tiếng Thiên Chúa, và khi nghe được rồi thì đáp lại không chần chừ, dù cho phải trả giá.

Một câu ngạn ngữ của người Nigêria nói rằng: Hãy lắng nghe và bạn sẽ nghe đựoc những bước chân của các con kiến. Chúng ta được mời gọi để lắng nghe những bước chân âm thầm của Thiên Chúa trong cuộc đời mình.

Thánh Giuse là mẫu gương sống tâm tình đạo đức Mùa Vọng. Học với Thánh Giuse, bài học lắng nghe và thi hành Lời Chúa, trong tinh thần khiêm tốn, vâng phục, tin tưởng và phó thác, chúng ta sẽ trở nên người công chính Tân Ước như thánh nhân.

LM Giuse Nguyễn Hữu An

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÓN TIẾP CHÚA

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÓN TIẾP CHÚA

Ngày 17 tháng 12 vừa qua, ta đã đọc bài Phúc Âm nói về gia phả Đức Giêsu, trong đó Chúa Giêsu sinh bởi dòng dõi vua Đavít. Hôm nay, Phúc Âm lại trình bày cho ta một gốc tích khác của Người: Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Phải chăng thánh sử Matthêu mâu thuẫn khi đưa ra hai gốc tích khác nhau như thế?

Thánh sử Matthêu không mâu thuẫn, nhưng khi trình bày cho ta hai gốc tích khác nhau của Chúa Giêsu, thánh sử có một dụng ý thần học. Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nên việc thụ thai phải do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nhưng Chúa Giêsu cũng là người nên phải sinh ra bởi một con người. Thiên Chúa ban Con Một cho loài người. Đức Maria đã đại diện loài người lãnh nhận. Nhưng quyền năng Chúa Thánh Thần tác động trên Đức Maria chỉ diễn ra trong riêng tư, âm thầm. Chính thánh Giuse đưa Chúa Giêsu ra công khai khi nhận Ngài vào dòng tộc Đavít. Qua trung gian của thánh Giuse, Chúa Giêsu đã chính thức gia nhập gia đình nhân loại, trong một đất nước, trong một dân tộc, trong một dòng họ. Tên tuổi của Người được ghi trong lịch sử của dân tộc, của dòng họ, của gia đình. Vận mệnh của Người gắn chặt với dân tộc, dòng họ, gia đình ấy. Người thực là Emmanuel, là “Thiên Chúa ở với chúng ta”.

Nhờ đâu mà thánh Giuse và Đức Maria được diễm phúc là những người đầu tiên, đại diện nhân loại tiếp đón Đấng Cứu Thế. Qua bài Phúc Âm Truyền Tin và bài Phúc Âm hôm nay, ta thấy thánh Giuse và Đức Maria có những đặc điểm sau đây.

1) Các Ngài có tâm hồn khiêm nhường sâu xa

Đức Maria là một thiếu nữ có tâm hồn khiêm nhường. Từ nhiều thế kỷ qua, lời sấm về Đấng Cứu Thế vẫn được truyền tụng trong dân Do Thái. Thiếu nữ nào cũng mong được làm mẹ Đấng Cứu Thế. Đó là một hạnh phúc, một vinh dự không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả gia đình, cho dòng họ, cho đất nước. Vậy mà khi nghe thiên thần loan báo tin làm mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria chỉ khiêm tốn thưa: “Này là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền”. Khi bà Êlisabeth ca tụng Ngài, Đức Maria đã đáp lại: “Vì Chúa đã đoái thương phận tôi tớ thấp hèn. Người nâng cao những người bé nhỏ”. Đức Maria nhận ra sự thật là: Nếu Ngài được ơn Chúa ban thì không phải vì công trạng của mình, nhưng do lòng từ bi thương xót của Chúa. Vì khiêm tốn, nên Đức Maria âm thầm ghi nhớ tất cả mọi việc Chúa làm, mọi lời Chúa phán. Ghi nhớ để suy gẫm trong lòng. Càng suy gẫm lại càng thêm khiêm nhường. Càng khiêm nhường lại càng kín đáo.

Thánh Giuse cũng có tâm hồn khiêm nhường không kém. Đọc Phúc Âm, ta có cảm tưởng là thánh Giuse luôn tự rút lui vào trong bóng tối. Ngài luôn sống âm thầm khiêm tốn trong công việc tầm thường của thợ thuyền. Sự khiêm tốn ấy đặc biệt thể hiện trong bài Phúc Âm hôm nay. Khi biết tin Đức Mẹ đang mang thai Đấng Cứu Thế, thánh Giuse đã âm thầm bỏ đi. Ngài không dám tự cho mình cái vinh dự được làm cha Đấng Cứu Thế. Ngài không dám chiếm hữu quyền làm cha của Thiên Chúa. Ngài không dám mạo nhận công việc của Chúa Thánh Linh. Ngài là người công chính vì khiêm tốn sống đúng thân phận của mình. Ngài là người công chính vì trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.

2) Các Ngài mau mắn vâng lời Thiên Chúa

Các Ngài có chương trình cho đời sống. Chương trình ấy được suy nghĩ kỹ lưỡng vì được thực hành nghiêm chỉnh. Đức Maria khấn giữ mình đồng trinh. Thánh Giuse muốn sống âm thầm trong bóng tối. Nhưng khi nghe biết thánh ý Thiên Chúa các Ngài đã mau mắn xin vâng, bỏ dở chương trình riêng tư, chuyển hướng cuộc đời để thi hành thánh ý Thiên Chúa. Đức Maria đã thưa “xin vâng” bất chấp những đau khổ, khó khăn đang chờ đón. Thánh Giuse đã mau mắn vâng lời dù thánh ý Thiên Chúa chỉ mơ hồ giữa bóng đêm dày đặc, trong một giấc mộng lãng đãng mơ hồ.

Vì Chúa, các Ngài đã từ bỏ ý riêng mình. Vì Chúa, các Ngài đã thay đổi toàn bộ đời sống. Thay đổi quyết liệt. Từ bỏ dứt khoát. Vâng lời mau mắn.

Thái độ của các Ngài rất gần với thái độ của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu xuống trần trong một thái độ tự hạ mình thẳm sâu. Dù là Thiên Chúa, Người đã không đòi cho mình quyền được ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã tự hạ làm một người bé nhỏ nghèo hèn. Người luôn vâng lời Đức Chúa Cha, vâng lời cho đến chết trên thập giá.

Đồng thanh tương ứng, đồng ý tương cầu. Giống nhau thì tìm đến nhau. Chúa Giêsu xuống trần trong một thái độ khiêm hạ và vâng phục thánh ý Chúa Cha đã tìm được nơi cư trú tâm đắc nơi Đức Maria và thánh Giuse, hai tâm hồn khiêm nhường và tuyệt đối vâng lời.

Lạy Chúa Giêsu bé nhỏ, bây giờ thì con đã hiểu biết phải dọn một máng cỏ như thế nào cho Chúa. Chúa muốn con khoét một hang sâu khiêm nhường trong lòng con, trải trên đó những sợi cỏ vâng lời mau mắn. Như thế con sẽ được hạnh phúc đón tiếp Chúa, Đấng rất khiêm nhường và rất vâng lời. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Ngày càng có nhiều người mừng lễ Chúa Giáng Sinh. Nhưng Lễ Giáng Sinh đã bị thương mại hóa. Bạn sẽ chuẩn bị Lễ Giáng Sinh thế nào cho phù hợp với tinh thần của Chúa?

2) Sống khiêm nhường và vâng lời trong xã hội hôm nay có dễ không?

3) Bạn nghĩ gì về việc Chúa Giêsu tự nguyện xuống thế, làm một người, làm con trong một gia đình?

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Ơn Cứu độ

Ơn Cứu độ

Đốt lên cây nến thứ tư của Vòng Hoa, chúng ta sắp kết thúc 4 tuần Mùa Vọng. Theo truyền thống lâu đời từ Bắc Âu, trong khí lạnh của mùa Đông, người ta đã đốt lên những cây nến trên những cành cây xanh uốn vòng. Khung vòng tròn và cành cây xanh là biểu tượng của sự sống tiếp diễn. Người ta đã đốt nến trong những đêm tối nhất trong năm, khi mọi người trông chờ những ngày dài hơn của mùa Xuân sẽ xuất hiện. Theo truyền thống, trên Vòng Hoa Mùa Vọng bao gồm có 4 cây nến. Ba cây nến mầu tím và một cây màu hồng. Bốn cây nến của Vòng Hoa biểu tượng ánh sáng dần dần được dọi chiếu vào thế gian. Ba cây nến mầu tím là biểu tượng của hy vọng, bình an và tình yêu. Ba cây nến tím này được đốt vào các Chúa Nhật thứ nhất, thứ nhì và thứ bốn của Mùa Vọng. Cây nến mầu hồng biểu trưng sự vui mừng được đốt vào Chúa Nhật thứ ba. Đôi khi có cây nến thứ năm mầu trắng được đặt ở giữa Vòng Hoa. Cây nến trắng này được đốt lên vào Lễ Giáng Sinh. Mầu trắng biểu trưng sự tinh trắng như các thiên thần và ngày sinh nhật của Chúa Giêsu. Giáo Hội Công Giáo thường dùng các mầu đặc biệt theo từng mùa, như Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh, Mùa Quanh Năm, Mùa Chay và Mùa Phục Sinh để tôn vinh danh Chúa Giêsu.

Tiên tri Isaia đã xuất hiện rao giảng tại Giêrusalem khoảng năm 742-701 trước Công nguyên. Trong sự mong đời mịt mù giữa bao thử thách, Isaia đã loan báo một tin vui cho dòng dõi Dân Dothái: “Vì thế, chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” (Is 7,14). Đọc lịch sử ơn cứu độ, chúng ta nhận biết Thiên Chúa đã thực hiện công trình cứu chuộc qua cả ngàn năm. Một diễn tiến rất chậm rãi qua biết bao nhiêu thế hệ và trải qua nhiều biến cố. Thiên Chúa đã sai tiên tri loan tin mừng cứu độ qua một nhóm nhỏ trung tín còn sót lại. Biết rằng xưa kia, người ta không có in ấn sách vở, truyền thanh, truyền hình hay một phương tiện kỹ thuật văn minh nào để phổ biến. Các sứ điệp chỉ được truyền miệng và ghi chép vào các cuốn sách (papyrus) lưu giữ qua nhiều đời.

Dấu chỉ: Một trinh nữ sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai là một sứ điệp cao trọng. Sứ điệp này đã từ từ khai mở về ý nghĩa mầu nhiệm Con Chúa giáng trần. Thiên Chúa sẽ thực hiện lời hứa với tổ tiên loài người sau khi đã phạm lỗi. Thiên Chúa phán với con rắn là ma quỷ: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng dõi mi và dòng dõi người ấy, dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi và mi sẽ cắn gót nó.” (St 3,15). Chúng ta là hậu sinh được học biết nhiều về quá trình lịch sử bốn, năm ngàn năm. Đã có biết bao dòng dõi và thế hệ con người liên đới trong công cuộc cứu rỗi này, đặc biệt là Dân Dothái, dân được tuyển chọn. Dân sống giữa một thế giới đa dân tộc từ Đông sang Tây, từ Bắc xuống Nam, từ khắp các vùng văn hoá. Đọc lịch sử tôn giáo, chúng ta nhận biết có rất nhiều các tôn giáo cổ đã xuất hiện từ rất sớm trong thời kỳ này như các đạo Hindu, Balamôn, Dothái giáo, Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo và vô số đạo thờ các Thần ngoại. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 4.200 giáo phái lớn nhỏ khác nhau.

Trong cuộc lữ hành của người Dothái, họ đã va chạm với rất nhiều nhóm người với truyền thống tôn giáo và văn hoá khác nhau. Sứ điệp loan báo về Đấng Cứu Thế cũng dễ bị lu mờ qua thời gian năm tháng. Chỉ có một dòng dõi rất nhỏ đã cưu mang sứ mệnh đón chờ con Chúa giáng trần. Thánh Matthêu đã ghi lại gia phả Đức Kitô, con cháu của Đavít và con cháu Tổ phụ Abraham. Matthêu tóm gọn lich sử: “Từ Tổ phụ Abraham đến vua Đavít là mười bốn đời; từ vua Đavít dến thời lưu đày ở Babylon là mười bốn đời và từ thời lưu đầy ở Babylon đến Đức Kitô cũng là mười bốn đời.” (Mt 1,17). Chúng ta suy tư về sứ điệp tin mừng đã được thực hiện nơi dòng dõi Dân tộc đã được Thiên Chúa tuyển chọn.

Trong thư gửi cho tín hữu thành Rôma, Thánh Phaolô đã viết: Tin mừng ấy Thiên Chúa đã hứa trước bằng lời các tiên tri trong Kinh Thánh về Con của Người (x. Rm 1,2). Khi thời gian đã mãn, Thiên Chúa thực hiện ý định nhiệm mầu của Người để cứu độ trần gian. Đây là biến cố nhiệm mầu duy nhất xảy ra trong thời gian và không gian. Sự linh thiêng kết hợp giữa thần thánh và con người. Ngôi Lời Nhập Thể trong cung lòng của Đức Trinh Nữ: Chúa Kitô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: “Mẹ Người là Maria đính hôn với Giuse, trước khi về chung sống với nhau, đã thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần.” (Mt 1,18). Sự kiện cao siêu nhiệm mầu vượt trên mọi trí hiểu của loài người. Cho dù đã được các tiên tri loan báo, được các thế hệ truyền rao chuẩn bị cả ngàn năm nhưng cho tới ngày hôm nay, nhiều người vẫn chưa thể chấp nhận sự kiện lạ lùng này. Họ không thể tin và chấp nhận Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần làm người như chúng ta.

Nhiều người không tin vào Đấng Cứu Thế giáng trần nhưng họ vui mừng vì dịp Giáng Sinh sắp đến. Cứ mùa Giáng Sinh về, chúng ta thấy phố xá rộn rã, thiệp chúc mừng trao đổi, chuẩn bị quà cáp, ánh sáng nhấp nháy mọi nơi và giăng hoa kết đèn mọi góc phố. Cho dù con người có niềm tin hay không đều mừng vui và hớn hở. Ít ra đây cũng là một tin vui cho mọi người trần thế. Một cơ hội tốt để mọi người giao lưu trao đổi tâm tình. Chúa Giêsu vẫn âm thầm đi vào lòng người qua nhiều cách thế. Có biết bao nhiêu nhà hảo tâm chia sẻ món qùa nho nhỏ cho những người kém may mắn. Ánh sáng của niềm hy vọng chiếu toả cùng khắp khiến lòng người nao nức mừng vui. Một điều rất lạ là ai cũng muốn sự bình an, giải thoát và được hưởng nhờ ơn cứu độ nhưng lại không muốn chấp nhận Đấng ban ơn cứu độ.

Chúa Giáng Sinh mang lại niềm vui lớn cho nhân loại vì Thiên Chúa sẽ ở cùng chúng ta. Thánh Matthêu diễn tả: “Tất cả sự kiện này đã được thực hiện để làm trọn lời Chúa dùng miệng Tiên tri phán xưa rằng: ‘Này đây một trinh nữ sẽ mang thai và hạ sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta’.” (Mt 1,22-23). Chúa sẽ đến với từng tâm hồn. Chúng ta có can đảm mở rộng tâm hồn đón Chúa hay không? Chúa có thể sẽ đến với chúng ta qua hình dáng của một trẻ thơ bọc trong khăn hay một trẻ mồ côi đầu đường xó chợ và không nơi nương tựa. Chúa sẽ đến như một người vô gia cư không có nơi gối đầu hoặc một người bị đánh dầm bập tả tơi ngoài phố chợ. Vì khi đón nhận một người cùng khổ là chúng ta đang đón nhận chính Chúa trong đời sống của chúng ta.

Suy tới đây, dừng lại đôi phút để suy nghĩ và cầu nguyện xem chúng ta đang chọn thái độ nào. Đôi khi chúng ta chỉ mong muốn có một Lễ Giáng Sinh hoành tráng bên ngoài, một hang đá tuyệt đẹp và một món quà đáng giá. Chúng ta tìm mua tượng Chúa Hài Nhi thật dễ thương đặt nằm trong máng cỏ với các mục đồng và súc vật bao quanh. Nếu chúng ta chỉ chú ý chuẩn bị những hình thức tổ chức trang trí bên ngoài mà không dọn tâm hồn thật sự để đón Chúa, thì chúng ta cũng đâu khác gì những người ngoại không tin vào Chúa.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết mở rộng trái tim yêu thương để đón Chúa. Xin Chúa ở lại với chúng con và ban ơn cứu độ. Xin tẩy sạch tâm hồn chúng con khỏi những sự hoen ố, ích kỷ, tham lam và thơ ơ nguội lạnh. Xin Chúa sưởi ấm tâm hồn với ngọn lửa yêu thương để chúng con biết chia sẻ cuộc sống với tha nhân.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

DÒNG TỘC

DÒNG TỘC

Có một vị vua kia đã già cả nhưng lại không có con nối dõi tông đường, nên nhà vua đã ra lệnh mời các chàng trai trẻ đến cung vua để chọn một người làm dưỡng tử mà sau này sẽ lên ngôi cai trị. Điều kiện thật đơn giản, chỉ cần người đó biết mến Chúa và yêu mến anh em hết lòng.

Từ một vùng quê xa xôi, một chàng thanh niên cũng biết đến việc chọn này của nhà vua. Chàng muốn đến cung vua ứng thi nhưng khốn nỗi chàng chẳng có một bộ áo quàn nào xứng cho buổi triều yết. Sau một thời gian dành dụm, cuối cùng chàng củng cố gắng sắm cho mình một bộ đồ tạm xứng với lối triều yết.

Đến gần hoàng cung, chàng gặp một ông lão xá lạy bên vệ đường trong bộ quần áo rách rưới. Ông lão ngửa tay xin bộ đồ chàng đang mặc.

Động lòng thương, chẳng chút ngần ngừ chàng đổi cho ông già bộ quần áo của mình.

Khi đến gần cửa thành, lòng chàng lại hoang mang chẳng biết lính canh có cho chàng vào với quần áo tả tơi như vậy không. May mắn thay chẳng một ai hạch hỏi về quần áo của chàng và khi đến trước ngai rồng chàng càng ngạc nhiên hơn nữa, vị vua đang ngồi trên ngai chính là ông già ăn xin đã được chàng giúp cho bộ quần áo. Chàng không tin vào mắt mình. Nhưng kìa, vua đang mỉm cười nhìn chàng: “Hỡi con yêu dấu, hãy đến đây, ta đang chờ con”

Chàng thanh niên đã được chọn làm dưỡng tử và làm thừa kế nhờ tấm lòng quảng đại bao dung của anh. Hôm nay thánh sử Matthêu cũng tường thuận việc Vua trời đất chọn lựa một người Cha cho mình trước khi Ngài đến ở với con người.

Xết về nguồn gốc, thánh Giuse đích thực thuộc dòng dõi David, hậu duệ của vua David. Đấng Cứu Thế sẽ sinh ra trong dòng dõi này để ứng nghiệm lời các tiên tri đã báo trước: “Này đây đã tới ngày Ta gây cho David một mầm giống côn chính, mầu giống này sẽ làm Vua thống trị, sẽ là người khôn ngoan thực hiện công lý và công bình trên đất nước”. Hoặc ở một chỗ khác: “Chúa sẽ lập cho David một nhà. Nhà của Người và triều đại Người sẽ vững bền mãi mãi”.

Tuy nhiên, hậu duệ của David không phải chỉ có một mình Giuse nhưng đã có hàng trăm hàng ngàn hậu duệ David. Đồng thời với Giuse, dù với hậu duệ ấy Giuse đã được chọn làm dưỡng tử của Con Thiên Chúa, vì Ngài quảng đại và bao dung.

Một gia đình sống đời vợ chồng ai lại chẳng mơ ước đến chuyện chung chăn gối, thế mà Giuse lại ký kết hôn ước với một người đã thề hứa suốt đời không biết đến người Nam. Và rồi người Nữ mà Ngài hết lòng yêu mến và quí trọng ấy bỗng dưng lại mang thai. Nàng là người đức hạnh đoan trang sao lại bụng mang dạ chửa cách lén lút?

Theo luật Do thái, Giuse có thể tố cáo người Nữ ấy trước Hội Trường Do Thái để nàng bị ném đá vì tội ngoại tình. Nhưng do tấm lòng bao dung ngãi đã không làm thế. Ngài chỉ muốn âm thầm rút lui, không cãi vã to tiếng. Ngài tôn trọng nàng, ngái muốn để mặc cho nàng tự phận xử.

Đang khi định tâm như vậy thì Thiên Chúa đã ra tay can thiệp, vì ngần ấy diễn tiến cũng đủ để cho Giuse làm dưỡng tử của Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Lời của sứ thần đã soi sáng giải đáp thắc mắc bấy lâu đang dày vò tâm hồn Giuse. Hơn thế nữa, sứ thần đả trao cho Giuse nhiệm vụ đặt tên cho con trẻ mới sinh. Với người Do thái chỉ có người cha là người có quyền tối hậu trong việc đặt tên cho đứa trẻ, dù cho bà con thân thuộc có muốn gì đi nữa thì khi chưa có ý kiến của người cha thì việc đặt tên cũng không mang lại giá trị gì.

Như chúng ta đã thấy buổi lễ đặt tên cho Gioan Tẩy Giả cũng phải do người cha đặt tên. Ở đây cũng vậy, Giuse được Thiên Chúa ra tay can thiệp để lòng yêu thương nơi Ngài không bị rạn nứt, sứt mẻ mà từ đây lòng yêu thương đã có dịp bộc lộ trọn vẹn. Giuse đã đón nhận người bạn đời về nhà mình và hết òng yêu thương chăm sóc cho nàng cũng như cho người con đang cưu mang.

Thật thế, cuộc đời của mỗi người cũng có lúc căng thẳng, phân vân, đau khổ vì phải chọn lựa quyết định, nhưng Thiên Chúa Ngài đã thông suốt tất cả những giai cấp này thế nhưng Ngài vẫn im lặng chờ đợi. Ngài chờ phản ứng nơi mổi người chúng ta do yêu thương hay dận ghét, nếu chúng ta xử sự với tấm lòng yêu thương quảng đại thì chắc chắn Ngài sẽ kịp thời trợ giúp và chẳng bao giờ Ngài để cho lòng yêu thương bị rạn nứt sứt mẻ. Trong mùa đón chờ vị vua tình yêu giáng thế, ước mong rằng mỗi người trong chúng ta sẽ luôn dùng thái độ bao dung quảng đại làm kim chỉ nam hứng dẫn các suy tưởng và hành động của mỗi người chúng ta.

Asia Veritas Radio

Đức Thánh Cha tiếp các Hồng Y và Giáo Triều Roma

Đức Thánh Cha tiếp các Hồng Y và Giáo Triều Roma

VATICAN. ĐTC Phanxicô nêu bật 3 đặc tính những người phục vụ trong các cơ quan trung ương Tòa Thánh cần phải có, đó là khả năng chuyên môn, tinh thần phục vụ và đời sống thánh thiện.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 21-12-2013, dành cho các Hồng Y và các chức sắc thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh, đến chúc mừng ngài nhân dịp lễ Giáng Sinh và đầu năm mới.

Sau khi nồng nhiệt cám ơn sự cộng tác và phục vụ của các vị tại Tòa Thánh, đặc biệt là các vị chuẩn bị về hưu, ĐTC nhấn mạnh đến các đặc tính của những người phục vụ tại Tòa Thánh:

Trước tiên là khả năng chuyên môn, bao gồm cả việc học hỏi nghiên cứu và cập nhật. Ngài nói: ”Đây là điều kiện cơ bản để làm việc tại Tòa Thánh. Dĩ nhiên khả năng chuyên môn là do sự huấn luyện và một phần do sự thủ đắc, và để được vậy ngay từ đầu cần có một căn bản tốt.”

Đặc tính thứ hai là phục vụ: phục vụ Giáo Hoàng và các GM, Giáo Hội hoàn vũ và Giáo Hội địa phương. Trong các cơ quan trung ương Tòa Thánh, người ta học hô hấp một cách đặc biệt hai chiều kích của Giáo Hội, chiều kích hoàn vũ và địa phương thấu nhập vào nhau.

ĐTC nhận xét rằng ”nếu không có khả năng chuyên môn thì dần dần người ta sa vào sự tầm thường. Những hồ sơ trở thành những phúc trình rập theo khuôn mẫu và những thông báo không có men sự sống, không có khả năng tạo ra những chân trời cao cả. Đàng khác một khi thái độ không phải là phục vụ các Giáo Hội địa phương và các GM của các Giáo Hội ấy, thì cơ cấu giáo triều tăng trưởng như một sở quan thuế bàn giấy nặng nề, thanh tra và hạch hỏi, không để cho Chúa Thánh Linh hoạt động và dân Chúa được tăng trưởng”.

ĐTC nói thêm rằng: ”Thêm vào hai đức tính đó, – khả năng chuyên môn và tinh thần phục vụ,- tôi muốn kể đến một đức tính thứ ba, đó là đời sống thánh thiện. Chúng ta biết rõ đây là điều quan trọng nhất trong thứ tự các giá trị. Thực vậy, nó ở nơi nền tảng chất lượng làm việc, và phục vụ. Sự thánh thiện có nghĩa là đời sống được chìm đắm trong Thánh Linh, cởi mở tâm hồn đối với Thiên Chúa, cầu nguyện liên lỷ, khiêm tốn sâu xa, bác ái huynh đệ trong tương quan với các đồng nghiệp. Thánh thiện cũng có nghĩa là làm tông đồ, làm việc mục vụ kín đáo, trung thành, nhiệt thành và có tiếp xúc trực tiếp với dân Chúa. Đây là điều không thể thiếu được đối với một linh mục”.

ĐTC đặc biệt nhấn mạnh điều này: ”Sự thánh thiện trong các cơ quan Tòa Thánh cũng có nghĩa là phản kháng lương tâm, chống lại thói nói hành nói xấu! Chúng ta có lý mà nhấn mạnh đến sự giá trị của sự phản kháng lương tâm, nhưng có lẽ chúng ta cũng phải thực thi điều này để bảo vệ chống ta chống lại một luật bất thành văn trong môi trường của chúng ta, rất tiếc môi trường này là môi trường nói hành nói xấu. Vì thế, tất cả chúng ta hãy thực thi việc phản kháng lương tâm, và xin anh chị em chú ý: tôi không muốn làm một diễn văn luân lý ở đây! Những vụ nói hành nói xấu làm thiệt hại chất lượng con người, công việc và môi trường chung quanh”.

Sau bài diễn văn, ĐTC đã đứng lại bắt tay chào thăm từng vị Hồng Y và GM tại Tòa Thánh (SD 21-12-2013).


G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha viếng thăm nhà thương nhi đồng Gesù Bambino

Đức Thánh Cha viếng thăm nhà thương nhi đồng Gesù Bambino

ROMA. Lúc 4 giờ chiều thứ bẩy ngày 21-12-2013, ĐTC Phanxicô đã đến viếng thăm bệnh viện Chúa Hài Đồng Giêsu (Gesù Bambino) ở Roma.

Bệnh viện này tọa lạc trên đồi Gianicolo, cạnh trường Truyền giáo và Học viện của các chủng sinh Bắc Mỹ, và là tài sản của Tòa Thánh, được thành lập năm 1869 như nhà thương nhi đồng đầu tiên ở Italia, do sáng kiến quảng đại của bá tước Arabella và Scipione Salviati.

Ngày nay, bệnh viện Chúa Hài Đồng Giêsu là nhà thương đa khoa nhi đồng và trung tâm nghiên cứu nhi đồng lớn nhất tại Âu Châu. Bệnh viện này có gần 2600 bác sĩ, nghiên cứu gia, y tá, cán sự bệnh viện và nhân viên. Mỗi năm có hơn 1 triệu trẻ em được khám bệnh, 27 ngàn em được điều trị, 25 ngàn cuộc giải phẫu, và 71 ngàn vụ cứu cấp. Tổng cộng bệnh viện có 607 giường tại Trung tâm ở đồi Gianicolo, thị trấn Palidoro và Santa Marinella.

Bệnh viện Gesù Bambino quen được gọi là ”bệnh viện của ĐGH”, và theo truyền thống vốn được các vị Giáo hoàng viếng thăm vào dịp gần lễ Giáng Sinh. ĐTC Phanxicô là vị Giáo Hoàng thứ 5 đến thăm nhà thương này.

ĐTC đến nhà thương lúc 4 giờ chiều, có Đức TGM Quốc vụ khanh Pietro Parolin, và vị tiền nhiệm là ĐHY Tarcisio Bertone, tháp tùng. Có tới 4 ngàn người chào đón ngài, đặc biệt có cả anh Saverio, 18 tuổi, bị bệnh teo bắp cơ, và Simone, một em bé 5 tuổi người Ý-Etiopia bị bệnh ung thư máu, và em Adriana, người Ecuador.

ĐTC viếng thăm khu cứu cấp, trị liệu khẩn trương và hồi sinh. Trong các phòng bệnh chỉ có một mình ngài với các em bệnh nhân. ĐTC nói với các bác sĩ giám đốc: ”Tôi đến đây để thăm các bệnh nhân chứ không phải thăm nhà thương”. Vì thế các bác sĩ và nhân viên đã để ngài một mình nói chuyện và thăm các em.

Tại khu điều trị khẩn trương, ĐTC cũng gặp hai em bé tên là Phanxicô và em bé gái tròn 1 năm ngày 22-12 này. Ngài hỏi thăm về các em và gia đình các em và ban phép lành cho họ.

Sau các khu vực trên đây, ngài tiến về nhà nguyện của bệnh viện, dọc đường ngài chào thăm các nhân viên và các thân nhân các em. Rồi ĐTC làm phép khu vực hồi sinh mới.

Khi gặp các bác sĩ ĐTC nói: ”Anh chị em không đánh mất thời giờ, điều quan trọng là gieo vãi, chúng ta không biết bao giờ sẽ được gặt hái, nhưng việc anh chị em gieo vãi thật là quan trọng”.

Hai em bé đã đón tiếp ngài và dẫn vào nhà nguyện. Tại đây có 30 em bệnh nhân bị ung thư và thân nhân các em chào đón ngài. Cũng có các LM tuyên úy, các nữ tu dòng Nữ Tử Bác Ái dòng Phan Sinh Thánh gia Maria, hội đồng quản trị nhà thương.

Một em bé đã đọc thánh vịnh 27 và trao cho ngài một rổ các trang giấy với những ”giấc mơ và kinh nguyện” do các em bé bệnh nhân viết và được thu thập lại trong những ngày chờ đợi cuộc viếng thăm của ĐTC.

ĐTC cám ơn các em vì những ”giấc mơ và kinh nguyện” và nói: ”Chúa Giêsu biết đâu là điều sâu thẳm trong tâm hồn chúng ta và với các con, Chúa có một liên hệ đặc biệt, và luôn gần gũi các con”. Rồi ngài cùng các em đọc một kinh Kính Mừng trước khi ban phép lành cho mọi người.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Chính quyền Trung Quốc và Giáo hội bất đồng về vụ mai táng đức giám mục

Chính quyền Trung Quốc và Giáo hội bất đồng về vụ mai táng đức giám mục

Phóng viên ucanews.com từ Hồng Kông

Chính quyền Trung Quốc và Giáo hội bất đồng về vụ mai táng đức giám mục thumbnail

      Các lãnh đạo Giáo hội thông báo từ chối chôn cất Đức Giám mục Paul Liu Jinghe

                trong lễ truy điệu tại nhà thờ chính tòa Tangshan hôm thứ Ba          

      

Giáo phận Tangshan thông báo sẽ không mai táng Đức Giám mục quá cố Paul Liu Jinghe cho đến khi chính quyền trả lại nghĩa trang trước đây của Giáo hội, và đã dẫn đến việc các quan chức bắt giáo sĩ đưa đi thẩm vấn hôm thứ Tư.

Giữa lúc bất đồng giữa Giáo hội và Nhà nước leo thang, thông báo trì hoãn chôn cất này được đưa ra tại lễ truy điệu Đức cha Liu tại nhà thờ chính tòa Tangshan hôm thứ Ba, được 3,000 người tập trung tại đây vỗ tay hoan nghênh trong hai phút.

Trước tình hình đó, các quan quan chức đã đến bắt các giáo sĩ đưa về các văn phòng Ban Tôn giáo Nhà nước ở từng giáo xứ hôm sáng thứ Tư.

Điện thoại di động của tất cả các linh mục và nữ tu ở Tangshan, phía đông Bắc Kinh, hiện đang bị theo dõi, theo một nguồn tin yêu cầu giấu tên.

Vụ bất đồng về nghĩa trang này leo thang sau khi Đức cha Liu qua đời ở tuổi 92 hôm 11-12, một năm sau khi ngài bị một cơn đau tim khiến ngài nằm liệt giường.

Trước khi qua đời, đức cha đã yêu cầu được chôn tại nghĩa trang Lulong, nơi an nghỉ cuối cùng của vị giám mục tiên khởi giáo phận là Đức cha Ernst Geurts của Hà Lan, ngài qua đời năm 1940.

Nơi này trở thành nghĩa trang của Giáo hội sau khi các linh mục và nữ tu sau đó được chôn ở đây nhưng đã bị phá hoại trong cuộc bất ổn chính trị vào thập niên 1950, ngay sau khi Cộng sản lên nắm quyền.

Kể từ đó, nơi này được dùng làm đất canh tác, và vào năm 1993 được sự cho phép của chính quyền Đức cha Liu đã hốt cốt Đức cha Geurts và các giáo sĩ khác rồi chôn lại trong một góc của khu đất rộng 6,6 mẫu Anh này.

Đức cố giám mục đã yêu cầu trả lại khu đất này nhiều lần trong lúc còn sống. Sau khi ngài qua đời, giáo phận bắt đầu thương lượng với chính quyền và rốt cuộc đã bác bỏ lời đề nghị nhận 200,000 tệ (33,000 Mỹ kim) mua một lô đất khác chôn Đức cha Liu.

Vẫn không ai biết tại sao chính quyền không chịu trả lại khu đất đó cho Giáo hội nhưng sau những vụ thanh trừ tôn giáo kéo dài đến đầu thập niên 1980, chính quyền thường chỉ trả lại những nơi thờ tự đã được cung hiến. Để trả lại nghĩa trang này, chính quyền sẽ phải bồi thường cho những người canh tác trên khu đất này.

Các thành viên trong Giáo hội đang thay phiên nhau canh xác đức cha bên trong nhà thờ chính tòa Tangshan trong khi đợi giải quyết vụ tranh chấp này.

Đức cha Liu là một trong ba vị linh mục còn sống sau trận động đất mạnh 7.8 độ Richter tàn phá Tangshan, khiến hơn 240,000 người bị thiệt mạng vào tháng 7-1976.

Đức cha Liu được tấn phong giám mục bất hợp pháp, không có sự ủy quyền của Đức Thánh cha vào năm 1981. Cuối cùng ngài cũng được Đức Thánh Cha công nhận vào năm 2008, và ngài nghỉ hưu hai năm sau đó.

Đức giám mục cao tuổi được tưởng nhớ vì từ chối tham dự lễ tấn phong giám mục bất hợp thức không có sự ủy quyền của Đức Thánh cha năm 2010, và một nguồn tin Giáo hội trích lời ngài nói lúc đó rằng: “Thời đại bây giờ đã khác. Ở tuổi này tôi không thể làm bất cứ điều gì trái với đức tin của tôi nữa”.

UCANEWS VN

Một người tự thiêu tại Quảng trường thánh Phêrô

Một người tự thiêu tại Quảng trường thánh Phêrô

A Man self burn at Peter covered in a jacket

Photo courtesey Zuma/Rex

VATICAN. Lúc 8.50 sáng ngày 19-12-2013, một người Ý 51 tuổi đã tự thiêu tại Quảng Trường Thánh Phêrô.

Ông ta đã rưới xăng vào áo và bật lửa. Toán cảnh sát Ý tuần tiểu đi qua đó trong lúc ấy đã cứu ông ta. Một linh mục dòng Tên làm việc trong Tòa Thánh cũng có mặt lúc ấy, cha đã cởi áo lạnh toan tính dập tắt ngọn lửa trên người đương sự, nhưng ngọn lửa chỉ tắt hắn khi cảnh sát dùng bình xịt lửa.
Một xe cứu thương đã chở ông ta vào nhà thương Santo Spirito ở bờ sông gần đó, và trước tình trạng phỏng nặng của ông, các bác sĩ tại đây đã quyết định chuyển ông ta đến nhà thương Sant'Eugenio chuyên về chữa phỏng nặng.

Có hai nhân viên cảnh sát cũng được chữa trị ở nhà thương vì hít phải khói độc và bị phỏng ở tay khi cứu giúp ông ta.

Người ta chưa biết lý do tại sao đương sự tự thiêu. Cạnh ông ta chỉ có mảnh giấy ghi số điện thoại con gái của ông. Đương sự có gia đình và làm nghề bán rong. Vụ này đang được nhà chức trách tư pháp của Ý điều tra.

(Tin do sở cảnh sát Italia cạnh Vatican cung cấp)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Giáng Sinh là lễ của sự tin tưởng và niềm hy vọng

Giáng Sinh là lễ của sự tin tưởng và niềm hy vọng

Giáng Sinh là lễ của sự tin tưởng và niềm hy vọng. Nó cử hành biến cố Chúa Giêsu xuống thế làm người để sống với chúng ta trong lịch sử loài người, với tất cả gánh nặng các hạn hẹp và thảm cảnh của nó.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với các tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi gặp gỡ chung tại quảng trường Thánh Phêrô sáng thứ tư  ngày 18 tháng 12-2013.

Vì buổi tiếp kiến diễn ra trong bầu khí thiêng liêng của mùa Vọng trở thành sâu đậm hơn nhờ tuần cửu nhật nên Đức Thánh Cha đã suy tư về ý nghĩa của lễ Giáng Sinh. Ngài nói:

Hôm nay tôi muốn cùng anh chị em suy tư về lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu, ngày lễ của sự tin tưởng và niềm hy vọng, vượt thắng sự bất ổn và bi quan. Và lý do niềm hy vọng của chúng ta là điều này: Thiên Chúa ở với chúng ta và vẫn còn tin tưởng nơi chúng ta! Anh chị em hãy nghĩ tới điều này: Thiên Chúa ở với chúng ta và vẫn còn tin tưởng nơi chúng ta! Thiên Chúa Cha thật là quảng đại.

Thiên Chúa đến ở với loài người, lựa chọn trái đất như nơi ở của mình để cùng sống với con người và để làm cho mình được tìm thấy tại nơi con người trải qua các ngày của mình trong niềm vui và trong khổ đau. Vì thế trái đất không chỉ còn là ”thung lũng nước mắt” nữa, mà là nơi chính Thiên Chúa đã cắm lều của Ngài, là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người và liên đới với con người.

Thiên Chúa đã muốn chia sẻ điều kiện làm người của chúng ta đến độ trở thành một với chúng ta trong con người của Đức Giêsu, là người thật và là Thiên Chúa thật. Nhưng còn có điều gì đó gây ngạc nhiên hơn nữa. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người đã không được thực hiện trong một thế giới lý tưởng, tình tứ, nhưng trong thế giới thực sự này, bị ghi dấu bởi các chia rẽ, gian ác, nghèo túng, các chuyên quyền và chiến tranh. Ngài đã lựa chọn ở trong lịch sử của chúng ta như nó là, với tất cả gánh nặng của các hạn hẹp và các thảm cảnh của nó. Khi làm như thế Ngài đã chứng minh cho thấy một cách không thể vượt hơn được khuynh hướng xót thương và tràn đầy tình yêu của Ngài đối với con người. Ngài là Thiên Chúa ở với chúng ta; Đức Giêsu là Thiên Chúa ở với chúng ta. Anh chị em có tin điều này không? Tín hữu trả lời ”Có”. Chúng ta hãy cùng nhau tuyên xưng điều này: Đức Giêsu là Thiên Chúa ờ cùng chúng ta. Tất cả mọi người lập lại. Một lần nữa. Đó tốt lắm xin cám ơn anh chị em. Chúa Giêsu là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, từ luôn luôn và sẽ mãi mãi ở với chúng ta trong khổ đau và khốn khó của của lịch sử.

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha định nghĩa lễ Giáng Sinh như sau:

Lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu biểu lộ cho thấy Thiên Chúa đã đứng về phía con người một lần cho tất cả, để cứu vớt chúng ta, để nâng chúng ta dậy từ bụi đất của các nỗi bần cùng, khó khăn và tội lỗi của chúng ta. Từ đó phát xuất ra món quà vĩ đại của Hài Nhi Bếtlehem: một năng lực tinh thần giúp chúng ta không chìm sâu trong các mệt nhọc, thất vọng, buồn sầu của chúng ta; bởi vì nó là một năng lực sưởi ấm và biến đổi con tim. Thật thế việc sinh ra của Chúa Giêsu đem đến cho chúng ta một tin vui: đó là chúng ta được Thiên Chúa yêu thương vô cùng và một cách đặc biệt, và tình yêu này Ngài không chỉ làm cho chúng ta nhận biết, mà còn ban tặng và thông truyền nó cho chúng ta nữa!

Từ việc tươi vui chiêm ngưỡng mầu nhiệm của Con Thiên Chúa sinh ra vì chúng ta, chúng ta có thể rút tỉa ra hai điều.

Thứ nhất đó là nếu trong lễ Giáng Sinh Thiên Chúa không tự mạc khải như một người ở trên cao và thống trị vũ trụ, nhưng như Đấng tự hạ mình xuống trên trái đất bé nhỏ và nghèo nàn này, thì điều này có nghĩa là để giống như Ngài chúng ta không được ở bên trên các người khác, nhưng trái lại phải hạ mình xuống, để phục vụ, để trở nên bé nhỏ với những người bé nhỏ và nghèo với người nghèo. Thật là một điều xấu, khi thấy một Kitô hữu không muốn hạ mình xuống, không muốn phục vụ, một Kitô hữu vênh váo khắp nơi: thật là xấu có phải không? Người đó không phải là tín hữu Kitô, mà là một người ngoại giáo. Kitô hữu thì hạ mình và phục vụ. Chúng ta hãy làm sao để các anh chị em này không bao giờ cảm thấy cô đơn! Sự hiện diện liên đới của chúng ta bên cạnh họ không chỉ diễn tả bằng lời nói nhưng bằng sự hùng hồn của các cử chỉ cho thấy Thiên Chúa gần gũi tất cả mọi người.

Đề cập tới khía cạnh thứ hai Đức Thánh Cha nói:

Nếu qua Chúa Giêsu Thiên Chúa đã liên lụy với con người cho tới nỗi trở thành như một người trong chúng ta, thì có nghĩa là bất cứ gì chúng ta sẽ làm cho một người anh chị em, là chúng ta làm cho Chúa. Chính Chúa Giêsu đã nhắc cho chúng ta nhớ điều đó: ai cho ăn, lắng nghe, thăm viếng, yêu thương một trong những người bé nhỏ và nghèo nàn nhất là đã làm cho chính Con Thiên Chúa. Trái lại, ai khước từ, quên lãng, không biết tới một trong các người bé nhỏ và nghèo nàn nhất là đã bỏ quên và khước từ chính Thiên Chúa (x. Mt 25,35-46). Như thánh Gioan đã viết: ”Thật ra ai không yêu thương người anh em mà mình trông thấy, thì không thể yêu thương Thiên Chúa mà mình không trông thấy” (1 Ga 4,20).

Chúng ta hãy phó thác cho sự cầu bầu hiền mẫu của Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu và Mẹ chúng ta, để Mẹ giúp chúng ta trong lễ Giáng Sinh thánh gần kề này, nhận biết nơi gương mặt của tha nhân, đặc biệt của những người yếu đuối và bị gạt bỏ ngoài lề nhất, hình ảnh của Con Thiên Chúa làm người. Xin Mẹ Maria nâng đỡ chúng ta trong quyết tâm trao ban cho tất cả mọi người tình yêu thương, lòng tốt và sự quảng đại của chúng ta. Trong cách thế này chúng ta sẽ phản ánh và kéo dài ánh sáng của Chúa Giêsu, Đấng từ hang đá Bếtlêhem tiếp tục tỏa lan trong các con tim, bằng cách hiến tặng niềm vui và hòa bình, mà chúng ta ngưỡng vọng từ tận thẳm sâu con người chúng ta.

Sáng thứ tư 18-12-2013 đã có vài ca đoàn và ban nhạc ”Viva la Gente” của phong trào Tổ Ấm hát thánh ca Giáng Sinh và trình tấu chào mừng Đức Thánh Cha cũng như tạo bầu khí tươi vui cho buổi tiếp kiến.

Chào các tín hữu Đức Thánh Cha chúc mọi người những ngày hành hương sốt sắng, lễ Giáng Sinh và Năm mới tươi vui an lành và thịnh vượng.

Chào các tín hữu Ba Lan hiện diện tại quảng trường cũng như bên Ba lan và khắp nơi trên thế giới Đức Thánh Cha xin mọi người hãy nghĩ tới các người nghèo, người đói, người cô đơn, người vô gia cư, bị gạt bỏ ngoài lề xã hội, cũng như các nạn nhân của chiến tranh, đặc biệt là các trẻ em.

Ngài cũng đã chào nhiều người đau yếu ngồi trên xe lăn, ôm hôn vuốt ve và an ủi họ. Đức Thánh Cha khích lệ người trẻ tiến tới với mầu nhiệm Giáng Sinh với cùng các tâm tình đức tin và sự khiêm nhường của Mẹ Maria. Ngài cầu mong cho các anh chị em đau yếu kín múc được niềm vui và sự bình an mà Chúa Giêsu đem đến cho nhân loại. Đức Thánh Cha nhắn nhủ các cặp vợ chồng mới cưới chiêm ngưỡng Thánh Gia Nagiarét và noi gương các nhân đức của Thánh Gia.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với kinh Lạy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

ĐHY OUELLET TIẾP TỤC ĐỨNG ĐẦU BỘ GIÁM MỤC

ĐHY OUELLET TIẾP TỤC ĐỨNG ĐẦU BỘ GIÁM MỤC

Đức Thánh Cha Phanxicô đã xác nhận ĐHY Marc Ouellet, pss, tiếp tục giữ chức vụ Tổng trưởng Bộ Giám Mục. ĐHY Ouellet, 69 tuổi, người Canada, được Đức Bênêđictô XVI bổ nhiệm vào vị trí này vào năm 2010.

ĐTC  cũng bổ nhiệm các thành viên của Bộ này : ĐHY Francisco Robles Ortega, Tổng Giám mục Guadalajara (Mêhicô) ; ĐHY Donald William Wuerl, Tổng Giám mục Washington (Hoa Kỳ) ; ĐHY Rubén Salazar Gómez, Tổng Giám mục Bogota (Colombia) ; ĐHY Kurt Koch, Chủ tịch ủy ban thăng tiến hiệp nhất Kitô ; ĐHY João Braz de Aviz, Tổng trưởng Bộ Đời sống thánh hiến và Hội đời sống tông đồ ; Đức cha Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh ; Đức cha Beniamino Stella, Tổng trưởng Bộ Giáo Sĩ ; Đức cha Baldisseri, Tổng thư ký của THĐ Giám mục ; Đức cha Vincent Gerard Nichols, nguyên Tổng Giám mục của Ferrara-Comacchio (Ý) ; Đức cha Gualtiero Bassetti, Tổng Giám mục của Perugia-Città della Pieve (Ý) ; Đức cha Felix Genn, Giám mục giáo phận Münster (Đức).

Đức Thánh Cha cũng xác nhận các thành viên của Bộ là các ĐHY Tarcisio Bertone, Zenon Grocholewski, George Pell, Agostino Vallini, Antonio Cañizares Llovera, André Vingt-Trois, Jean-Louis Tauran, William Joseph Levada, Leonardo Sandri, Giovanni Lajolo, Stanislaw Rylko, Francesco Monterisi, Santos Abril y Castelló, Giuseppe Bertello, Giuseppe Versaldi; các Đức cha Claudio Maria Celli, José Octavio Ruiz Arenas,  Zygmunt Zimowski. Ngài cũng xác nhận các cố vấn của Bộ.

Tý Linh (Xuân Bích VN)

Theo Radio Vatican

Đức Giáo Hoàng mừng sinh nhật thứ 77 với 4 người vô gia cư

Đức Giáo Hoàng mừng sinh nhật thứ 77 với 4 người vô gia cư

Pope-francis-birthday and 4 homeless-men

VATICAN. 4 người vô gia cư đã được mời tham dự thánh lễ và dùng bữa ăn sáng với ĐTC Phanxicô tại Nhà trọ thánh Marta sáng ngày 17-12-2013, nhân dịp sinh nhật thứ 77 của ngài.

Đồng tế với ĐTC có ĐHY Angelo Sodano, niên trưởng Hồng Y đoàn, và Đức TGM Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh. ĐHY niên trưởng đã đại diện các HY chúc mừng ĐTC, còn Đức TGM Parolin chúc mừng ngài nhân danh các nhân viên trong Phủ Quốc vụ khanh. Đức TGM Konrad Krajewski, người Ba Lan, đặc trách văn phòng từ thiện của ĐGH và là người giới thiệu 4 người vô gia cư lên ĐTC.

Hiện diện trong thánh lễ có tất cả các nhân viên nhà trọ thánh Marta.

Trong bài giảng, ĐTC đã quảng diễn ý nghĩa bài Tin Mừng theo thánh Mathêu ghi lại gia phả của Chúa Giêsu. Ngài nhận xét rằng gia phả này nhắc nhớ chúng ta: ”Sau tội đầu tiên trong vườn địa đàng, Thiên Chúa đã đồng hành với chúng ta. Chúa đã gọi Abraham người đầu tiên trong gia phả, rồi đến các tổ phụ khác.. Chúa đã muốn làm lịch sử với chúng ta, một lịch sử đi từ thánh thiện đến tội lỗi, như trong gia phả có những người thánh nhưng cũng có những người tội lỗi cao độ, như vua Salomon.. Đó chính là sự khiêm tốn của Thiên Chúa, sự kiên nhẫn và tình thương của Thiên Chúa.”

pope-francis-birthday-cake


Sau lễ, như thường lệ, ĐTC đã bắt tay chào thăm từng người, kể cả 4 người vô gia cư, ở khu vực quanh Vatican. Tất cả họ được mời ăn sáng với ngài sau đó. (SD 17-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Ký giả báo La Stanpa phỏng vấn Đức Thánh Cha

Ký giả báo La Stanpa phỏng vấn Đức Thánh Cha

VATICAN. Trong cuộc phỏng vấn dành cho báo La Stampa ở Italia, ĐTC Phanxicô gọi ”chủ thuyết mác xít là một ý thức hệ sai lầm”.

ĐTC đã dành cho ký giả Andrea Tornielli của báo La Stampa một cuộc phỏng vấn dài 1 giờ 30 phút về nhiều vấn đề thời sự và văn bản phỏng vấn được đăng trên báo này số ra ngày 15-12 vừa qua.

Ký giả Tornielli hỏi: Một số đoạn trong Tông Huấn ”Niềm Vui Phúc Âm” (Evangelii gaudium) của ĐTC bị những người siêu bảo thủ tại Mỹ phê bình và họ tố cáo ngài là người ”hoàn toàn theo chủ thuyết mác xít”. Một vị Giáo Hoàng cảm thấy thế nào khi bị định nghĩa là người mác xít?. ĐTC đáp:

”Ý thức hệ mác xít là điều sai lầm. Nhưng trong đời, tôi đã quen biết bao nhiêu người mác xít tốt lành trong tư cách là người, và vì thế tôi không cảm thấy bị xúc phạm”. Những lời gây ấn tượng mạnh nhất là những lời nói về nền kinh tế ”giết hại”… Trong Tông Huấn không có điều gì mà không ở trong Đạo lý xã hội của Hội Thánh. Tôi không nói theo quan điểm của một chuyên gia, tôi tìm cách trình bày như chụp hình những gì đang xảy ra. Trích dẫn đặc thù duy nhất là về những lý thuyết gọi là ”được hưởng lợi ké”, theo đó mỗi sự phát triển kinh tế do thị trường tự do tạo điều kiện thuận lợi để nó diễn ra, thì tự nó cũng tạo nên một sự công bình và làm cho nhiều người được tham gia xã hội và sự sung túc hơn trên thế giới. Đó là một lời hứa khi chiếc ly nước chưa đầy, nếu ly nước ấy đầy tràn thì người nghèo cũng được hưởng nước tràn ra từ chiếc ly ấy. Nhưng thực tế là khi chiếc ly tràn đầy nước, thì nó phình ra một cách huyền nhiệm và thế là chẳng bao giờ người nghèo được hưởng những gì từ ly nước ấy. Đó là điều tham chiếu duy nhất về lý thuyết ấy. Tôi xin lập lại là tôi không nói như một chuyên gia, nhưng theo đạo lý của Giáo Hội. Và điều này không có nghĩa là tôi là người mác xít”.

Trong cuộc phỏng vấn, ĐTC cho biết ngài đặt vấn đề đại kết các tín hữu Kitô lên hàng ưu tiên; và tái bày tỏ mong ước và sẵn sàng gặp Đức Thượng Phụ Chính Thống Bartolomaios I, Giáo chủ chính thống Constantinople, nhân dịp kỷ niệm 50 năm cuộc gặp gỡ lịch sử tại Thánh Địa giữa Đức Phaolô VI và Đức Thượng Phụ Athenagoras của Constantinople. Ngoài ra, ĐTC bày tỏ hài lòng về tiến trình cải tổ Viện giáo vụ, quen gọi là ngân hàng Vatican.
Về vấn đề những người ly dị tái hôn, ĐTC không bày tỏ lập trường, nhưng ngài cho biết vấn đề này sẽ được bàn đến trong công nghị Hồng y đoàn vào tháng 2 tới đây, rồi sẽ được bàn đến trong Thượng HĐGM thế giới khóa đặc biệt vào tháng 10 năm tới, 2014, cũng như trong Thượng HĐGM thường kỳ vào năm 2015 sau đó. ”Tại những khóa họp ấy, bao nhiêu điều sẽ được đào sâu và làm sáng tỏ”. Ngoài ra, ĐTC chống lại quan niệm cho rằng việc Giáo Hội không cho những người ly dị tái hôn được rước lễ, đó là một hình phạt.

Về vấn đề cải tổ các cơ quan trung ương Tòa Thánh cũng như Hội đồng 8 Hồng y cố vấn, ĐTC cho biết đó là một công việc lâu dài. ĐHY Bertello đã thu thập ý kiến của các cơ quan trung ương Tòa Thánh và chúng tôi đã nhận được những gợi ý đề nghị của các GM trên thế giới. Trong khóa họp mới đây, 8 HY cố vấn nói là chúng ta đã đi tới lúc đưa ra những đề nghị cụ thể và trong khóa họp vào tháng 2 tới đây, các Hồng Y sẽ trao cho tôi những đề nghị đầu tiên.

Trả lời câu hỏi: liệu Giáo Hội sẽ có các Hồng y phụ nữ hay không, ĐTC đáp: ”Đó là một câu nói đùa, tôi không biết từ đâu mà ra. Các phụ nữ trong Giáo Hội phải được đề cao giá trị, chứ không phải được ”giáo sĩ hóa”. Ai nghĩ đến các phụ nữ làm Hồng y thì là người phần nào có não trạng ”giáo sĩ trị”. (SD 16-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

“Phép lạ” của Đức Phaolô VI được y khoa công nhận

"Phép lạ" của Đức Phaolô VI được y khoa công nhận

Paul VI PP

Đức Phaolô VI đến gần thêm một bước để được tuyên chân phước theo như Uỷ ban Y khoa của Bộ Tuyên Thánh tuyên bố, rằng việc chữa lành nhờ sự chuyển cầu của Đức cố Giáo hoàng của Ý cho một em bé chưa chào đời là không thể giải thích được.

(VATICAN INSIDER, 13-12-2013) – Uỷ ban Y khoa của Bộ Tuyên Thánh dưới sự chủ trì của Tiến sĩ Patrizio Polisca, bác sĩ riêng của ĐGH Bênêđictô XVI và ĐGH Phanxicô, đã gọi việc chữa lành nhờ sự chuyển cầu của Đức Giovanni Battista Montini – Giáo hoàng Phaolô VI – là "không thể giải thích được". Phép lạ sẽ được thẩm tra bởi các nhà thần học và các hồng y trước khi nhận được sự chấp thuận của Đức Giáo hoàng; nhưng phần khó khăn nhất đã vượt qua và hy vọng việc tuyên chân phước Đức Montini sẽ diễn ra trong vài tháng tới.

 Từ danh sách các trường hợp được tường trình chữa lành mà cáo thỉnh viên của ĐGH Phaolô VI, Cha Antonio Marrazzo, nhận được, ngài đã chọn một trường hợp thử nghiệm lâm sàng cho thấy là "không thể giải thích được". Cha Marrazzo đã chọn trường hợp chữa lành này cách đây không lâu.

Một năm trước, vào ngày 20-12-2012, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã chấp thuận các nhân đức anh hùng của Đức Phaolô VI, kết thúc tiến trình theo Giáo luật; chỉ cần một phép lạ để tiến tới việc tuyên chân phước.
 
Phép lạ do Cha Marrazzo chọn để trình bày cho uỷ ban là việc chữa lành một em bé chưa chào đời ở California trong khoảng đầu thập niên 1990. Trong chu kỳ mang thai của người phụ nữ, các bác sĩ nhận thấy một vấn đề nghiêm trọng nơi bào thai, thường dẫn đến tổn thương não, và khuyên người mẹ huỷ bỏ thai nhi. Người mẹ từ chối và quyết định tiếp tục mang thai, tin tưởng vào sự cầu bầu của Đức Phaolô VI, vị Giáo hoàng đã viết Thông điệp “Humanae Vitae” (Sự sống Con người) vào năm 1968.

Đứa trẻ được sinh ra mà không có bất kỳ khuyết tật nào, nhưng chỉ khi đứa trẻ đến tuổi dậy thì các bác sĩ mới có thể chắc chắn em hồi phục hoàn toàn mà không có bất kỳ vấn đề nào.

Một năm trước, Cha Marrazzo nói với Đài Phát thanh Vatican rằng "một sự kiện thực sự phi thường và siêu nhiên đã xảy ra nhờ lời cầu bầu của Đức Phaolô VI". Vụ chữa lành này là hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Đức Phaolô VI, người đã viết Thông điệp "Humanae Vitae" về bảo vệ sự sống con người, nhưng đồng thời cũng để bảo vệ gia đình, bởi vì tài liệu còn nói đến tình yêu vợ chồng, chứ không phải chỉ nói đến sự sống chưa sinh mà thôi. Việc chữa lành này phù hợp với cách suy nghĩ của Đức Montini.
 
Cuộc tranh luận về án tuyên chân phước của Đức cố Giáo hoàng Phaolô VI đã gia tăng trong năm qua, từ việc các bác sĩ trao đổi những ý kiến về y khoa cho đến khi có phán quyết cuối cùng vào ngày hôm qua.

Phát biểu tại một hội nghị vào cuối tháng 11 về chuyến thăm của Đức Phaolô VI đến Đất Thánh, Đức Tổng Giám mục Milan, Đức Hồng y Angelo Scola, cho biết việc tuyên chân phước Đức cố Giáo hoàng "sắp diễn ra".

Hùng Nguyễn
Nguồn: Emty