ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ CHIA BUỒN VỚI CÁC NẠN NHÂN TAI NẠN LƯU THÔNG TRÊN ĐẢO GUYANNA PHÁP

ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ CHIA BUỒN VỚI CÁC NẠN NHÂN TAI NẠN LƯU THÔNG TRÊN ĐẢO GUYANNA PHÁP

VATICAN: Đức Thánh Cha Phanxicô chia buồn với gia đình các nạn nhân của tai nạn xe hơi xảy ra trên đảo Guyanna Pháp. Ngài dâng lời cầu nguyện cho một bạn trẻ đã chết và bầy tỏ thiện cảm với các người bị thương.

Ngày 17-7-2013 trên đường từ Saint Laurent du Maroni tới Kourou bên đảo Guyanna thuộc nước Pháp một chiếc xe cam nhông đã đụng phải chiếc xe buýt chở một nhóm 23 người trẻ đi tham dự Ngày Quốc Tế Giới Trẻ tại Rio. Tai nạn đã khiến cho một thiếu nữ 21 tuổi tử nạn và 6 người khác bị thương. Tài xế xe cam nhông và một người khác cùng đi bị thương nặng.

Chiều ngày 18-7-2013 Đức Hồng Y André Vingt Trois, Tổng Giám Mục Paris, đã chủ sự buổi canh thức cầu nguyện tại giáo xứ thánh Leon, là giáo xứ của thiếu nữ tử nạn. Trong khi Đức Cha Emmanuel Lafont, Giám Mục sở tại dâng thánh lề cầu cho các nạn nhận trong nhà thờ chính tòa Chúa Cứu Thế ở địa phương.

Trong điện tín do Đức Hồng Y Tarcisio Bertone Quốc Vụ Khanh ký, Đức Thánh Cha Phanxicô bầy tỏ tình liên đới, dâng lời cầu nguyện cho các nạn nhân cùng gia đình họ và gửi phép lành tóa thánh tới mọi người (SD 18-7-2013).

Linh Tiến Khải – Vatican Radio
 

HỘI ĐỒNG TÒA THÁNH SỰ SỐNG LO NGẠI NẠN PHÁ THAI GIA TĂNG TẠI IRELAND

HỘI ĐỒNG TÒA THÁNH SỰ SỐNG LO NGẠI NẠN PHÁ THAI GIA TĂNG TẠI IRELAND

VATICAN: Luật cho phép phá thai với ý kiến của ba bác sĩ trong trường hợp tính mạng của bà mẹ gặp nguy hiểm chỉ là cớ khiến cho các vụ phá thai ngày càng gia tăng tại Ireland.

Đức Ông Jacques Suaudeau, thuộc Hội Đồng Tòa Thánh về Sự Sống đã phát biểu như trên trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng thông tin công giáo CNA ngày 12 tháng 7-2013. Luật mới được Hạ viện Ireland thông qua hôm 11 tháng 7-2013 với 127 phiếu thuận và 31 phiếu chống, chỉ sau hai ngày thảo luận.

Luật đã được đưa ra sau vụ một phụ nữ gốc Ấn Độ từ chối phá thai bị chết, vì bác sĩ không khám phá ra là bà bị nhiễm trùng Coli. Các người chủ trương phá thai đã chụp lấy cơ hội này để áp lực quốc hội thông qua luật cho phép phá thai, với điều kiện có ý kiến của ba bác sĩ.

Đức Ông Suaudeau, từng là bác sĩ sản khoa trước khi đi tu làm linh mục, cho rằng đây chỉ là bước đầu tiên mở cửa cho các vụ tàn sát trẻ em còn trong lòng mẹ, chứ nó không khiến cho nạn phá thai thuyên giảm. Rất thường khi người ta có thể kiểm soát các bệnh tật, và nếu là trường hợp bị đe dọa người ta có thể cho bào thai sinh sớm. Là người đến từ nước Pháp nơi có luật phá thai Đức Ông nói tôi biết các hậu qủa tai hại của tệ nạn này trong xã hội.

Luật mới tại Ireland cho phép phá thai trong trường hợp sự sống của người mẹ gặp nguy hiểm, hay trong trường hợp bà mẹ có nguy cơ tự tử. Theo Đức Ông luật mới này có thể khiến cho số phụ nữ xin phá thai gia tăng vì các lý do nhẹ dạ phù phiếm không đâu, có khi là chỉ vì bà mẹ muốn đi nghỉ hè.

Tại Âu châu con số phá thai gia tăng mạnh, ngoại trừ tại hai nước Ireland và Malta. Tại Pháp ban đầu chỉ có 1,000 vụ phá thai mỗi năm, nhưng từ khi có luật cho phép phá thai thì hàng năm có 200,000 trẻ em bị giết trong lòng mẹ. Một trong các lý đo là vì giới trẻ vị thành niên không được giáo dục cẩn thận trong lãnh vực này. Thêm vào đó là tâm thức thống trị hiện nay trong các xã hội Tây âu là khuyến khích dùng thuốc ngừa thai thay vì có các cung cách hành xử khác. Và hậu quả là càng dùng thuốc ngừa thai thì phá thai càng nhiều, nó cũng giống như tệ nạn giết người êm dịu hay trợ tử. Giới trẻ vị thành niên cần hiểu biết rằng cử chỉ giao hợp là một cử chỉ nghiêm chỉnh, và khi họ mang thai họ có trách nhiệm đối với bào thai đó, là con của họ. Đây là vấn đề giáo dục và hiện thực gía trị cuộc sống của đứa bé, chứ không phải là vấn đề cấm đoán (CNA 12-7-2013).

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

CÁC GIÁM MỤC VENEZUELA KÊU GỌI ĐỐI THOẠI QUỐC GIA

CÁC GIÁM MỤC VENEZUELA KÊU GỌI ĐỐI THOẠI QUỐC GIA

CARACAS: Các Giám Mục Venezuela kêu gọi đẩy mạnh cuộc đối thoại quốc gia trong tinh thần dân chủ, đặc biệt trong hoàn cảnh đất nước đang bị chia rẽ trầm trọng hiện nay.

Đây là lời khẳng định của các Giám Mục Venezuela trong thông cáo công bố sau đại hội thường niên lần thứ 100, nhóm tại Caracas từ ngày 8 đến 12 tháng 7-2013. Kỳ họp đã được toàn dân chú ý theo dõi, nhất là trong khuôn khổ những khó khăn của quốc gia này hiện nay. Các Giám Mục Venezuela viết: ”Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm trong việc xây dựng đất nước. Và tất cả chúng ta đều phải góp phần giải quyết các vấn đề nghiêm trọng của quốc gia như sự mất an ninh hay những gì liên quan đến phẩm giá cuộc sống người dân”. Đề cập đến thực tại đất nước, các Giám Mục Venezuela nói đến cuộc bầu cử tổng thống ngày 14-4-2013 và viết: ”Tiến trình tranh cử mang sắc thái một chiều, chỉ quan tâm đến một đảng phái, và đã cho thấy những thiếu sót trầm trọng trong guồng máy bầu cử của chúng ta. Điều này cũng làm cho sự chia rẽ sâu rộng trong dân tộc chúng ta thành hiển nhiên. Nhưng công ích quốc gia đòi hỏi một giải pháp. Và giải pháp này không thể là quyết định loại trừ những người không có cùng một quan điểm với chúng ta. Trọng tâm tham chiếu của chúng ta phải là Hiến Pháp quốc gia, trong đó, có những giới hạn hoạt động của mọi người, và nó luôn là điểm hiệp nhất đất nước”. (FIDES 13-07-2013).

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

ĐỨC THƯỢNG PHỤ MARONIT LIBAN CẢNH GIÁC CÁC LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TÔN GIÁO TÀN PHÁ NƯỚC NHÀ

ĐỨC THƯỢNG PHỤ MARONIT LIBAN CẢNH GIÁC CÁC LỰC LƯỢNG DÂN QUÂN TÔN GIÁO TÀN PHÁ NƯỚC NHÀ

HARISSA: Trong bài giảng thánh lễ Chúa nhật 14 tháng 7-2013 tại Harissa, Đức Thượng Phụ Maronist Liban, Bechara Boutros Rai đã báo động về số phận tương lai quốc gia. Ngài nói: Cần phải liệt vào hàng bất hợp pháp tất cả mọi lực lượng quân sự nào không thuộc chính quyền và có thể đẩy đưa quốc gia vào cảnh luật rừng, gia tăng nạn tội phạm như đang xảy ra hiện nay.

Đức Thượng Phụ Maronit Liban mời gọi các phe liên hệ hãy hòa giải với nhau trong một thỏa ước xã hội đặt nền tảng trên thỏa hiệp quốc gia năm 1943, qua đó, người Kitô và hồi giáo thỏa thuận với nhau về cách thức quản lý quyền bính chính trị và các chức vụ lãnh đạo cơ cấu quốc gia. Theo Đức Thượng Phụ, các tranh chấp căng thẳng trong nước hiện nay đang góp phần tàn phá Libăng.

Đức Cha Francois Eid, đại diện tòa thượng phụ Maronít cạnh Tòa Thánh, giải thích rằng: ”Ngay từ năm 1943, người dân Liban đã quyết định hoàn toàn độc lập với mọi áp lực địa lý chính trị trong vùng. Người Kitô và hồi giáo Liban đã cùng nhau soạn thảo và chấp thuận các tiêu chuẩn quản lý quyền bính chính trị công bằng, sau này được tái khẳng định trong thỏa hiệp Taif thời hậu nội chiến. Nhưng ngày nay, vì biến chuyển dân số, nhiều người đòi phải dẹp bỏ thỏa ước này để bước sang một thỏa hiệp mới, phân chia quyền bính đồng đều giữa ba khối dân là Kitô, hồi giáo Sunnít và hồi giáo Sciít.

Theo Đức Cha Eid, sự kiện Đức Thượng Phụ Bechara Rai ám chỉ đến các lực lượng dân quân vũ trang cũng là một vấn đề nóng bỏng trong hoàn cảnh Liban hiện nay. Các lực lượng Sciít vũ trang Hezbollah của Liban đang tham chiến cạnh chính quyền Siria, trong khi các nhóm dân quân Salafít Liban thì lại chiến đấu bên cạnh nhóm phản động. Liban đang chìm sâu vào trong chiến cuộc tại Siria và điều này có thể trở thành thảm kịch tàn phá quốc gia. (FIDES 15-07-2013).

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

NHỮNG CHI TIẾT RÕ RÀNG VỀ PHÉP LẠ THỨ HAI DO SỰ CAN THIỆP CỦA ĐỨC GIOAN-PHAOLÔ II

NHỮNG CHI TIẾT RÕ RÀNG VỀ PHÉP LẠ THỨ HAI DO SỰ CAN THIỆP CỦA ĐỨC GIOAN-PHAOLÔ II

Cô Floribeth Mora Diaz, người hưởng được phép lạ thứ hai do sự can thiệp của Đức Gioan-Phaolô II, đã kể hôm 5/7/2013 về những hoàn cảnh mình được chữa lành.

http://xuanbichvietnam.net/trangchu/wp-content/uploads/2013/07/mora-diaz.jpg

Cô Floribeth Mora , người Costa Rica, bị bệnh Túi phình mạch não, chỉ còn sống trong thời gian ngắn. Bác sĩ của cô, ông Alejandro Vargas, cho biết : « Mạng sống của cô ấy đang nguy hiểm ». Cô cho biết : « Thật rất buồn khi nhìn con cái đang nhìn tôi, đứng bên cạnh giường tôi, với chồng tôi… » Chứng bệnh của cô bắt đầu từ tháng 4/2011.

Cô đã cầu xin chân phước Gioan-Phaolô II, ngày 1/5/2011, tức là ngày ngài được phong chân phước. Trong phòng ngủ của cô, ở thành phố Cartago, Costa Rica, cô nói đã lắng nghe tiếng của ngài : « Con hãy đứng lên ! Đừng sợ ! » Lúc đó cô đứng dậy khỏi giường. Chồng cô hỏi : « Em yêu, em làm gì ở đây ? » Cô đáp : « Em thấy khỏe hơn ».

Cô kể : khi cô nhìn bức hình của Đức Gioan-Phaolô II trong một tờ nhật báo, thì chân phước Gioan-Phaolô II đã bắt đầu nói với cô. « Tôi kinh ngạc. Tôi tiếp tục nhìn tờ tạp chí. Tôi nói : « Vâng, lạy Chúa », và tôi đã đứng lên ». Từ đó, tình trạng sức khỏe của cô đã không còn gây ra cho cô bất cứ sự lo lắng nào nữa.

Bác sĩ Vargas đã xác nhận rằng không có bất cứ giải thích y khoa nào đối với việc chữa lành này. « Đó thực sự là một phép lạ, tôi không thể giải thích được ». Cô Mora đã giữ tờ tạp chí này như là một chứng tích.

Cuộc điều tra y khoa và thần học được thực hiện bởi Bộ phong thánh đã xác nhận tính đích thực của phép lạ.

Phép lạ đầu tiên do Đức Gioan-Phaolô II can thiệp liên quan đến một nữ tu người Pháp bị chứng bệnh Parkinson.

Ngày 5/7/2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã ký sắc lệnh cho phép phong thánh chân phước Gioan-Phaolô II và Gioan XXIII. Nghi thức phong thánh có thể sẽ diễn ra trước cuối năm nay.

Tý Linh – Xuân Bích VN

Theo La Croix

Đức Thánh Cha Phanxicô Viếng thăm và Chủ Sự Buổi Đọc Kinh Truyền Tin Lần Đầu Tiên Tại Castel Gandolfo

Đức Thánh Cha Phanxicô Viếng thăm và Chủ Sự Buổi Đọc Kinh Truyền Tin Lần Đầu Tiên Tại Castel Gandolfo

CASTEL GANDOLFO: Vào sáng Chúa Nhật 14 tháng 7 năm 2013, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến thăm và chủ sự buổi đọc Kinh Truyền tin với toàn thể tín hữu hiện diện tại Dinh thự Giáo hoàng tại Castel Gandolfo. Đây mới là lần thứ 2 Đức Thánh Cha Phanxicô tới nơi này. Lần đầu tiên ĐTC đến đây là vào ngày 23 tháng 3 để viếng thăm Đức Nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16.

Đức Thánh Cha khởi hành tại Nhà Nguyện Thánh Marta vào 9h00 sáng. Sau khi đến cổng Marino của Dinh thự Giáo hoàng vào lúc 9h30, ngài đã chào thăm Đức Cha Marcello Semerano, Giám mục Giáo Phận Albano sở tại, giám đốc của Dinh thự, bà thị trưởng của thành phố cũng như một số nhân viên làm việc tại Dinh thự này. Trong buổi gặp gỡ, Đức Thánh Cha đã cảm ơn Giám mục giáo Phận Albano, Giám đốc của Dinh thự và thị trưởng Castel Gandolfo. Ngài nói:

“Hôm nay, tôi đến đây để cùng gặp gỡ với người dân ở Castel Gandolfo, khách hành hương cũng như những người đến đây để thăm viếng… Nhưng, tôi đến đây cũng để diễn tả lòng biết ơn đối với anh chị em, những người làm việc trong Dinh thự này, vì những công việc quý giá của anh chị em. Và cùng với anh chị em, tôi xin chân thành cảm ơn các gia đình, những người mà qua công việc của anh chị em, một cách thức nào đó, đã tham dự vào việc phục vụ Tòa Thánh. Xin Thiên Chúa luôn nâng đỡ anh chị em, xin Ngài nâng đỡ công việc và gia đình của anh chị em. Xin Thiên Chúa đổ đầy trên anh chị em ân sủng của Ngài và với tình yêu phụ tử, xin Ngài đồng hành với tất cả anh chị em.”

Ngỏ lời với vị thị trưởng thành phố, bà Milvia Muniz, Đức Thánh Cha nhắn nhủ như sau:

“Xin gửi đến mọi người lời chào thăm chân thành của tôi, và tôi đảm bảo với anh chị em rằng tôi sẽ luôn nhớ đến mọi người trong lời cầu nguyện. Tôi khuyến khích anh chị em trở thành dấu chỉ của niềm hy vọng và bình an, luôn lưu tâm đến những cá nhân cũng như gia đình đang gặp khó khăn hơn. Điều này rất quan trọng! Chúng ta phải luôn là dấu chỉ của sự bình an và niềm hy vọng trong thời khắc này. Hãy mở cánh cửa của niềm hy vọng, để niềm hy vọng có thể tiến về phía trước và kiến tạo hòa bình!”

Lúc 12h trưa, Đức Thánh Cha xuất hiện tại cổng chính của dinh thự Giáo hoàng và đọc Kinh truyền tin với các tín hữu. Trước khi đọc Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha đã nhắn nhủ với các tín hữu như sau.

“Bài Tin Mừng hôm nay, trong chương thứ 10 của Thánh Luca, là một dụ ngôn nổi tiếng về người Samaritanô nhân hậu. Người đàn ông này là ai? Là một người nào đó, đi từ Giêrusalem tới Giêricô trên con đường ngang qua sa mạc Giuđêa. Trước đó ít lâu, trên con đường này, có một người bị bọn cướp tấn công, bị cướp hết mọi thứ, bị đánh đập và bị bỏ mặc nửa sống nửa chết. Trước khi người Samaritanô đi ngang qua, có một thầy Tư tế và Lêvi cũng đi ngang qua, họ là những người tham gia vào việc phụng tự trong đền thờ của Thiên Chúa. Họ cũng thấy người đàn ông tội nghiệp này, nhưng họ đi ngang qua mà không dừng lại. Trong khi đó, người Samaritanô đi ngang qua, ông đã thấy, và “chạnh lòng thương” (Lc 10,33). Ông đến gần và băng bó vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc và trả mọi chi phí cho anh. Vì thế, người này quan tâm chăm sóc anh ta: ông chính là một mẫu gương về tình yêu đối với tha nhân. Nhưng tại sao Đức Giêsu lại chọn người Samaritanô là nhân vật chính của dụ ngôn? Bởi vì những người Samaria là những người bị người Do thái xem thường, vì sự khác biệt về truyền thống tôn giáo. Thế nhưng Đức Giêsu lại chỉ ra rằng, trái tim của người Samaritano đầy tốt lành và quảng đại – không giống như những thầy tư tế và Lêvi – ông đã thực hành ý muốn của Thiên Chúa, vốn ưa thích lòng nhân hơn của lễ (Mc 12,33). Thiên Chúa luôn muốn lòng thương xót và không kết án ai. Ngài muốn lòng thương xót của con tim, vì Thiên Chúa là Đấng giàu lòng thương xót và Ngài hiểu rất rõ những đau khổ, những khó khăn cũng như tội lỗi của chúng ta. Ngài trao cho tất cả chúng ta trái tìm giàu lòng thương xót này! Người Samaritanô đã làm điều này: bắt chước chính lòng thương xót của Thiên Chúa, lòng thương xót hướng đến những ai cần đến.

Một người đã sống trọn đời sống của người Samaritanô nhân hậu trong bài Tin Mừng hôm nay là vị thánh mà chúng ta mừng kính hôm nay: Thánh Camilo Lellis, Đấng sáng lập Dòng Tôi Tớ Các Bệnh Nhân, vị thánh bổn mạng các bệnh nhân và những người chăm sóc sức khỏe. Thánh Camilo mất vào ngày 14 tháng 7 năm 1614, và hôm nay mở ra thời gian mừng kính 400 năm mà sẽ đạt đến đỉnh cao trong một năm. Tôi xin hết lòng chúc mừng đến những người con thiêng liêng của thánh Camilo, những người sống đặc sủng đức ái của ngài ngang qua các mối tương quan thường nhật với bệnh nhân. Anh chị em hãy trở thành những người Samaritanô nhân hậu! Và với các thầy thuốc, các y tá, và những người làm việc trong các bệnh viện và bệnh xá, tôi hy vọng anh chị em cũng được nuôi dưỡng bởi cùng một tinh thần ấy. Chúng ta cùng tín thác vào lời cầu bầu của Mẹ Maria.”

Tiếp đến, Đức Thánh Cha cũng tín thác Ngày Quốc Tế Giới Trẻ sắp tới vào lời chuyển cầu của Mẹ Maria. Và ngài cũng hiệp ý cầu nguyện với các giám mục và tín hữu đang quây quần bên nhau để dâng thánh lễ trong nhà thờ chính Tòa ở Ukraine nhân dịp kỷ niệm 70 năm thảm kịch Volhynia. Đức Thánh Cha nói rằng, “những hành động như thế, vốn bị kích động bởi chủ nghĩa dân tộc trong bối cảnh của Chiến tranh thế giới thứ 2, đã gây ra cái chết của hàng chục ngàn người và làm tổn thương tình huynh đệ giữa hai dân tộc Ba lan và Ukraine. Tôi tín thác vào lòng Thương xót Chúa linh hồn các nạn nhân, và vì người dân của mình, tôi mong muốn có một cuộc hòa giải sâu xa và một tương lai hòa bình trong hy vọng và trong sự hợp tác chân thành để xây dựng nước Thiên Chúa.”

Sau đó Đức Thánh Cha đã đọc kinh truyền tin và ban phép lành cho toàn thể mọi người hiện diện.
Sau khi đọc kinh truyền tin, Đức Thánh Cha gửi lời chào thăm tất cả các tín hữu, các nhóm, các gia đình và các bạn trẻ. Tiếp đến, ngài gửi lời chúc mừng đến các Nữ tu Dòng Tỷ Muội Thánh Êlizabet (Le Suore di Santa Elisabetta). Ngài ước mong các nữ tu sẽ dấn thân vào một canh tân linh đạo đầy hoa trái. Cuối cùng, Đức Thánh Cha cũng gửi lời chào thăm tới các nữ tu Dòng Tông Đồ Thánh Tâm Chúa Giêsu, các gia đình ở các quốc gia khác nhau; các Nữ Tu Bác Ái Thiên Chúa đang tham gia tổng Công nghị và các bề trên Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ.

Sau Kinh Truyền Tin, ngài dùng bữa với các Linh mục Dòng tên làm việc tại Đài Thiên Văn Vatican có trụ sở tại khu vực dinh thự Giáo Hoàng. Sau đó, ngài trở về Vatican vào buổi chiều ngày Chúa nhật.

Nguyễn Minh Triệu sj – Vatican Radio

Vụ án ĐHY Nguyễn Văn Thuận, cấm Nhà văn Nguyễn Hoàng Đức xuất cảnh – Chính sách “Ngoại giao ổ khoá”

Vụ án ĐHY Nguyễn Văn Thuận, cấm Nhà văn Nguyễn Hoàng Đức xuất cảnh – Chính sách “Ngoại giao ổ khoá”

http://www.lamhong.org/wp-content/uploads/2013/07/HYNVT.jpeg

Chính sách “Ngoại giao ổ khoá”

Vào 9 giờ tối ngày 2-7, nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức đã bị công an sân bay Nội Bài, Hà Nội, chặn lại không cho xuất cảnh khi ông được thư mời của Toà Thánh Vatican tham dự lễ “Bế mạc phần điều tra tại địa phương” trong hồ sơ phong chân phước và hiển thánh cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Hoàng Đức để tìm hiểu thêm vấn đề này.

Cấm xuất cảnh không lý do

Mặc Lâm: Thưa ông, chúng tôi được biết ông vừa bị công an phi trường Nội Bài không cho xuất cảnh sang Vatican. Xin ông vui lòng kể lại câu chuyện này diễn tiến ra sao?

Nguyễn Hoàng Đức: Tôi đến quầy vé của Hãng Hàng không Thái vì tôi được phép transit qua Thái đến Roma. Khi tôi vào quầy thì một cô nhân viên trẻ, ấp úng khi xem tên tôi, rồi một cô có vẻ dáng như là tổ trưởng đến cô ấy nói mời tôi sang gặp công an trước đã. Tôi vào phòng công an đợi mấy phút thì có một anh Thượng tá tên Phạm Tiến Dũng, anh thông báo với tôi là tôi không được phép xuất cảnh. Nếu tôi có kiến nghị hay khiếu nại gì thì về 44 và 46 Trần Phú Cục Quản lý Xuất nhập cảnh để biết thêm. Anh cũng chỉ biết như thế và cũng chỉ thi hành lệnh.

Sau đó, tôi bảo vì là cơ quan nhà nước nên tôi đề nghị phải có văn bản để xác định việc này chứ không thể xác định bằng miệng. Anh ta nói là do anh ta muốn sự việc nhẹ nhàng thì như vậy là được rồi. Nhưng tôi dứt khoát phải đòi giấy tờ. Sau đó thì anh ta có mời một đại uý khác tới và anh đại uý kia là cũng người của Cục Xuất nhập cảnh luôn, anh ta tên là Hoàng Dương. Anh kia viết biên bản và tôi có giữ một bản photo đây: biên bản về việc giữ tôi lại không cho xuất cảnh.

Tôi có hỏi họ lý do vì sao tôi bị cấm xuất cảnh và tôi muốn biết ngay tại đây. Anh ấy trả lời là Cục Xuất nhập cảnh cũng không cho các anh ấy biết lý do.

Mặc Lâm: Như chúng tôi được biết thì chuyến đi này của ông là do Toà Thánh Vatican mời trong khi chuẩn bị hồ sơ phong thánh cho cố Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Ông có thể cho biết nhân duyên giữa ông và vị Hồng y quá cố này như thế nào để dẫn ông tới cái vinh dự này ạ?

Nguyễn Hoàng Đức: Tôi đã từng làm trong Phòng Tôn giáo của Bộ Công an. Trong Phòng ấy người ta có “đối sách” về Đức cha mà sau này là Đức Hồng y Nguyễn Văn Thuận. Ông bị chuyển đổi từ miền Nam ra với cái tội rất to là vì ông là cháu của Ngô Đình Diệm và trở về Sài Gòn làm Phó Tổng Giám mục theo ý là lót ổ để lên Tổng Giám mục. Và ông cứ thế bị chuyển ra ngoài Bắc.

Trong thời gian ông ấy bị cầm cố ở Hà Nội (có nghĩa là không ở tù) tức là được giữ trong mật viện. Có một đội trông ông ta nhưng tôi là một cán bộ cũng khá lâu năm, một sĩ qua khá lâu năm nên tôi đề nghị để tôi ra học tiếng Pháp với Cha, để luyện nói trên tinh thần là luyện tiếng Pháp chứ không phải để trông Cha. Cụ thể là như thế.

Mặc Lâm: Trong lúc tiếp xúc với Hồng y, ông có cảm nhận ra sao về ngài dưới cái nhìn của một sĩ quan công an và nhất là công an chống phản động như ông vừa cho biết ạ?

Nguyễn Hoàng Đức: Sau khi học tiếng Pháp với ngài thì tôi cảm nhiễm tinh thần của Đức cha. Sau này thì tôi thôi việc, lý do là sau khi xảy ra sự kiện Thiên An Môn, tôi không còn muốn làm công an nữa vì tôi làm ở Cục Chống Phản động nên biết dễ phải đi đàn áp và tôi đã xin chuyển ngành nhưng không được, tôi xin thôi việc cũng không cho. Tôi vẫn cứ bỏ việc.

Sau khi vào Sài Gòn tôi làm cho dầu khí Việt Nam. Tôi có đi một số nhà thờ, Nhà thờ trung tâm Đức Bà, Nhà thờ Kỳ Đồng. Sau khi ra Hà Nội thì tôi được mặc khải trong một giấc mơ là tôi đi nhà thờ và tôi có rửa tội. Đúng đêm tôi rửa tội ở nhà thờ lớn thì Cha Ngân, bây giờ trở thành Giám mục, bảo với Cha Hùng, hiện nay đang học bên Ý hay bên Pháp gì đấy, mời tôi viết diễn giải một cái tin và tôi có viết bài “Con đường đức tin qua cây cầu Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận”. Bài này đã gởi qua Toà Thánh và nằm trong hồ sơ và đã được Cha Sỹ đang ở Việt Nam xin đưa chữ ký vào những bản dịch khoảng 4 – 5 thứ tiếng. Tôi hiểu là việc phong thánh cần phải có phép lạ. Phép lạ thứ nhất là đức tin. Phép lạ thứ hai là chữa bệnh. Phép lạ thứ ba là mồ mả phát. Tôi là một trong những phép lạ về đức tin.

Mặc Lâm: Thưa, trước khi nhận được giấy mời thì ông có được Vatican dò hỏi về thời gian ông tiếp xúc với ngài bằng các con đường không chính thức hay chính thức, thưa ông?

Nguyễn Hoàng Đức: Ở Giáo hội Việt Nam thì thỉnh thoảng tôi cũng chia sẻ đức tin và đặc biệt là ở nhà thờ Thái Hà vài lần, đi đâu tôi cũng nói chuyện, đó là điều thứ nhất. Điều thứ hai thì có Cha thỉnh thoảng về hỏi thăm và tôi còn dẫn đến nhà giám quản Đức cha Thuận ở đấy. Cũng có một số người khi ở Việt Nam cũng gặp, nhưng nói chung cũng không nhiều lắm, 3 – 4 lần thôi.

Mặc Lâm: Ông có nghĩ rằng việc sang Vatican của ông có thể gây khó chịu cho Hà Nội vì ông là nhân chứng đối với những hành xử của chính quyền trong thời gian mà Đức Hồng y bị giam giữ đã dẫn đến việc cấm xuất cảnh ngày hôm nay đối với ông?

Nguyễn Hoàng Đức: Tôi tổng kết lại thì có mấy lý do chính. Lý do thứ nhất: việc phong thánh cho Đức cha là không hợp ý với Hà Nội vì Đức cha được phong thánh do công trạng Đức cha bị hệ thống nhà tù của Cộng sản quản lý. Như vậy, việc phong thánh cho Đức cha sẽ có một phản ứng ngược, một cái gương xoay ngược về việc cầm cố người ta, tôi tin là Hà Nội không đồng ý. Điều thứ hai tôi là một người tuy đã ra khỏi ngành lâu rồi nhưng tôi cũng là người ở trong ngành, có thể họ cũng ngại điều gì đấy. Điều thứ ba thì tôi cho đó là lý do khá lớn vì tôi là một cây bút viết khá mạnh. Tôi viết ngắn cũng vừa phải thôi nhưng đặc biệt về phê bình văn học thì tôi viết rất mạnh mẽ và thẳng thắn. Điều thứ tư thì thời kỳ này là thời kỳ nhạy cảm, dường như họ đang làm một cách mạnh mẽ nhất.

Mặc Lâm: Sau khi nhận được tin ông bị cấm xuất cảnh thì Vatican có liên lạc với ông để tìm hiểu vụ việc hay không?

Nguyễn Hoàng Đức: Tôi có mail sang Vatican và một Cha đã từng gặp tôi ở Việt Nam khích lệ tôi hãy chia sẻ sự khó khăn trong nhà nước Cộng sản thì phải chịu đựng và hãy cố lên, hãy hy vọng. Hy vọng vào một dịp khác tôi sẽ được gặp các vị và được viếng Đức Thánh. Ông bảo là hãy hy vọng.

Mặc Lâm: Xin cảm ơn nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức về thời gian ông dành cho chúng tôi thực hiện cuộc phỏng vấn ngày hôm nay.

(RFA)

Chính sách “Ngoại giao ổ khoá”

Vào 9 giờ tối ngày 2-7, nhà phê bình văn học Nguyễn Hoàng Đức đã bị công an sân bay Nội Bài, Hà Nội, chặn lại không cho xuất cảnh khi ông được thư mời của Toà Thánh Vatican tham dự lễ “Bế mạc phần điều tra tại địa phương” trong hồ sơ phong chân phước và hiển thánh cho ĐHY Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận. Mặc Lâm có cuộc phỏng vấn ông Nguyễn Hoàng Đức để tìm hiểu thêm vấn đề này.

– See more at: http://www.lamhong.org/2013/07/13/vu-an-dhy-nguyen-van-thuan-cam-nha-van-nguyen-hoang-duc-xuat-canh-chinh-sach-ngoai-giao-o-khoa/#sthash.U865a0eL.dpuf

Nhớ mang theo trái tim

Nhớ mang theo trái tim

Trường sinh bất tử, muốn được hạnh phúc vĩnh viễn, muốn được sống đời đời, đó là mơ ước muôn đời của mọi người. Hôm nay, một thày thông luật nói lên mơ ước đó khi ông hỏi Chúa “làm cách nào để được hưởng sự sống đời đời”.

Để trả lời ông, Chúa Giêsu kể câu chuyện, một câu chuyện bình thường xảy ra hằng ngày: Một người đi đường từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị cướp trấn lột, đánh nhừ tử, dở sống dở chết nằm rên rỉ bên vệ đường. Thày tư tế đi ngang thấy thế tránh qua bên kia đường mà đi. Thày Lêvi cũng thế. Nhưng một người xứ Samaria, một người ngoại đạo, đã chạnh lòng thương, dừng lại băng bó cho nạn nhân. Chưa hết, ông còn chở nạn nhân đến quán trọ. Hơn thế nữa, ông gửi tiền để nhờ chủ quán chăm sóc nạn nhân cho đến khi bình phục.

Qua câu chuyện người xứ Samaria nhân hậu, Chúa Giêsu chỉ cho ta con đường dẫn đến sự sống đời đời.

Đường Giêrikhô tượng trưng cho con đường về Nước Trời. Đó là con đường gập ghềnh khó đi. Đó là con đường nguy hiểm vì có trộm cướp rình rập. Đó là con đường thử thách. Để vượt qua thử thách, vũ khí duy nhất hữu ích là trái tim. Trái tim chiến thắng có những phẩm chất như sau:

Đó phải là một trái tim nhạy bén.

Người xứ Samaria nhân hậu có một trái tim nhạy bén. Dù đang bận việc riêng, dù vó ngựa phi nhanh, ông vẫn nhìn thấy người bị nạn nằm bên vệ đường. Dù tiếng gió vù vù xen lẫn tiếng vó ngựa lộp cộp, ông vẫn nghe được tiếng rên rỉ rất yếu ớt của người bị nạn. Trong khi đó, thầy Tư Tế và Thầy Lêvi chỉ đi bộ lại không thấy, không nghe. Hay nói đúng hơn, các thầy có nghe, có thấy nhưng trái tim các thầy đóng kín, nên các thầy chẳng động lòng. Trái tim các thầy bị đóng kín vì những cánh cửa lề luật: Sợ đụng chạm vào máu, vào người bị thương, sẽ trở thành ô uế không được tới đền thờ dâng lễ vật. Người xứ Samaria không nghe bằng đôi tai, không nhìn bằng đôi mắt, nhưng nghe và nhìn bằng trái tim. Trái tim nhạy bén có đôi tai thính lạ lùng. Có thể nghe rõ tiếng rên rỉ thì thầm tận đáy lòng. Trái tim nhạy bén có đôi mắt sáng lạ lùng. Có thể nhìn thấy cả những nỗi đau âm thầm trong tâm khảm.

Đó phải là một trái tim quan tâm.

Trái tim quan tâm đưa ta đến gần gũi anh em. Trái tim quan tâm biết làm tất cả để phục vụ anh em. Các thầy Tư Tế và Lêvi không có trái tim quan tâm nên khi thấy người bị nạn đã tránh sang bên kia đường mà đi. Người xứ Samaria có một trái tim quan tâm nên ông lập tức đến gần nạn nhân. Vì có trái tim quan tâm nên ông có thể làm tất cả để giúp nạn nhân. Vì quan tâm nên ông đã mang sẵn bên mình nào là dầu, nào là băng vải. Chẳng học nghề thuốc mà ông săn sóc vết thương một cách thành thạo. Chẳng luyện tập mà ông đã lấy dầu xoa bóp rất nhanh, băng bó rất khéo. Chẳng có kỹ thuật mà ông biết cách đưa được bệnh nhân lên lưng ngựa. Ông đã làm tất cả theo sự hướng dẫn của trái tim. Với trái tim, ông đã làm tất cả với sự chuẩn xác và nhất là với nhiệt tình để cứu nạn nhân.

Đó phải là một trái tim chung thuỷ.

Trái tim chung thuỷ không làm việc nửa vời, nhưng làm đến nơi đến chốn. Trái tim chung thuỷ không mỏi mệt buông xuôi, nhưng theo dõi giúp đỡ cho đến tận cùng. Người xứ Samaria bận rộn công việc, nhưng vẫn lo lắng cho nạn nhân đầy đủ, gửi gắm chủ quán tiếp tục thuốc thang. Và khi xong việc ông sẽ trở lại thăm hỏi để tiếp tục săn sóc cho đến khi khỏi hẳn. Ông làm tất cả với một trái tim chung thuỷ vẹn toàn.

Qua dụ ngôn, Chúa Giêsu dạy ta hiểu rằng: đường đến sự sống đời đời là con đường mọi người vẫn đang đi. Nhưng chỉ người đi với trái tim mới mong đến đích. Thầy Tư Tế và Thầy Lêvi đã rẽ sang hướng khác vì các thầy không mang theo trái tim. Người xứ Samaria đã đi đến nơi vì ông đi đường với trái tim nhân hậu, trái tim rất nhạy bén, rất quan tâm và rất chung thuỷ. Với trái tim ấy, ông đã yêu người thân cận như chính mình ông. Với trái tim ấy, ông đã mở đường đi đến sự sống đời đời.

Chúa Giêsu dạy tôi bắt chước người xứ Samaria nhân hậu. Hãy lên đường với trái tim. Hãy lắng nghe với trái tim. Hãy hành động với trái tim. Hãy đi trên đường của trái tim. Hãy để trái tim tham dự vào mọi lời nói, mọi cử chỉ, mọi suy nghĩ. Hãy mang theo trái tim theo trên khắp mọi nẻo đường. Con đường đi với trái tim chính là con đường dẫn đến sự sống đời đời.

Lạy Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1- Theo ý bạn đâu là những dấu hiệu cho thấy một tình yêu đích thực và đáng tin?
2- Mỗi khi gặp một người cần giúp đỡ, bạn có hăng hái ra tay giúp ngay hay còn chần chờ, viện lý do để thoái thác?
3- Sau khi nghe dụ ngôn “Người xứ Samaria nhân hậu”, bạn có quyết tâm gì?
4- Mang theo trái tim nghĩa là gì?

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

Ai là anh em của tôi?

Ai là anh em của tôi?

Sáng nay, khi đọc đoạn Phúc âm mà chúng ta vừa chia sẻ với nhau trong thánh lễ này, tôi đã nghĩ đến ngay bài tập viết đầu tiên mà tôi đã phải cố gắng vẽ ngoằn ngoèo trên trang tập đầu tiên mới mua về. Đó là ngày tôi được thầy cho lên lớp bắt đầu tập viết những chữ a, b, c… Trưa về nhà khoe với mẹ, đúng ngay lúc cha tôi đang ngồi tiếp chuyện với một ông cụ nhà nho quen biết trong làng.

Nghe tôi khoe, cha tôi cầm lấy cuốn tập, mấy trang đầu đã đề những chữ a, b, c, rồi nói với ông cụ ngồi đối diện: Xin cụ viết giùm vào trong trang thứ hai này bốn chữ “Kính Chúa Yêu Người”. Cụ nhà nho viết xong, cha tôi đưa sang cho tôi đang đứng bên cạnh và nói: “Đây, con đến ngồi trên ghế cạnh kia rồi đồ lại những chữ này”. Thật là khốn khổ cho tôi lúc đó mới học viết được ba chữ a, b, c, mà bây giờ cha tôi lại bắt viết trọn cả bốn chữ “Kính Chúa Yêu Người”.

Tôi còn nhớ rõ hình ảnh những chữ mà tôi cố gắng vẽ theo mà không hiểu gì cả, chỉ biết rằng đây là bốn chữ nói “Kính Chúa Yêu Người”. Biết được bằng lỗ tai, nghe qua miệng cha tôi nói, chứ lúc đó làm gì mà tôi đã đọc được bốn chữ “Kính chúa Yêu Người”. Và biến cố đã in sâu vào tâm trí tôi, đến nỗi mỗi lần nhớ đến cha tôi là mỗi lần tôi nhớ đến bài học đầu tiên này và cũng là bài học mà giờ đây tôi hiểu là cần phải học mãi suốt đời cũng chưa xong: “Kính Chúa Yêu Người”. Nhìn vào những chữ ngoằn ngoèo mà tôi đã phải viết ra hay nói đúng hơn phải đồ lại cho đầy trang giấy rồi mới được đi chơi, và có thể đây là hình phạt cho tật hay khoe của tôi lúc đó. Cha tôi mỉm cười bảo: “Con phải làm sao để sống được bốn chữ này cho đến chết mới thôi”.

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và nhà thông luật hôm nay phần nào cũng có thể được ta hiểu theo viễn tượng của kinh nghiệm nhỏ của tuổi thơ tôi ngày xưa. Người luật sĩ đến với Chúa Giêsu để tìm câu trả lời cho thắc mắc quan trọng nhất của cuộc đời: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sống đời đời?”. Và đây cũng là thắc mắc của mọi người, không ai có thể dập tắt được câu hỏi này trong tâm hồn họ. Tạm thời, họ có thể dẹp qua một bên câu hỏi này, vì những lo toan cho cuộc sống hoặc vì những mê lợi của lợi danh, của quyền lực… Nhưng rồi vào lúc nào đó con người và mỗi người chúng ta cũng sẽ phải đặt ra cho mình câu hỏi này: “Tôi sống đây để làm gì? Và tôi phải làm gì để được sống đời đời?”.

Bản tính con người là như vậy, không thể nào chối bỏ được khát vọng hướng về trời cao, đó là khát vọng căn bản sâu xa nhất của con người, của mọi người chúng ta. Chúa Giêsu đã gợi ý cho nhà thông thái trả lời đúng như Kinh Thánh dạy, mà nội dung theo tôi nghĩ không khác xa gì bốn chữ tôi đã học được từ cha tôi ngay từ khi mới bắt đầu đi học: “Kính Chúa Yêu Người”.

Đây không phải là vấn đề về hiểu biết, một người nông dân bình thường không biết chữ như cha tôi cũng biết tóm gọn luật Chúa trong bốn chữ “Kính Chúa Yêu Người” để truyền lại cho tôi. Vấn đề là nơi thực hành là phải biến đổi tâm hồn của chính mình để nhìn nhận mọi người là anh chị em của mình.

Chúa Giêsu đã phải dùng dụ ngôn người Samaritanô nhân lành để soi sáng cho nhà thông thái, để rồi rốt cuộc như thể chính ông cũng khám phá ra được chân lý. Chúa Giêsu không đặt vấn đề như nhà thông thái: “Ai là người thân cận của tôi”, mà Ngài đã đặt lại vấn đề: “Ai đã trở nên người thân cận của người anh em bị nạn kia”, và nhà thông thái đã trả lời đúng: “Thưa là kẻ đã tỏ ra lòng thương đối với người đó”.

Tâm hồn cần có tình thương, nhất là cần được đầy tràn tình thương của Chúa thì mới dễ dàng trở thành tâm hồn thân cận của mọi người, trở thành người anh chị em của mọi người, bất luận người đó là ai. Không phải dễ thực hiện sáu chữ của Chúa Giêsu cho nhà thông thái: “Hãy đi và làm như vậy”.

Chúa Giêsu cũng nói với mỗi người chúng ta hôm nay, chúng con, những đồ đệ của Ta. Chúng con phải có tâm hồn đã biến đổi bởi tình yêu Chúa, để rồi có thể trở thành người anh chị em của mọi người mà thực hiện trọn vẹn giới răn: “Kính Chúa Yêu Người”.

Cử hành Bí tích Thánh Thể, nhất là được thông phần vào Mình và Máu Thánh Chúa, được chia sẻ chính sự sống của Chúa, người Kitô có được sức mạnh mới để thực hiện tình thương trong cuộc sống của mình, trong bất cứ môi trường sinh sống nào.

Chúng ta đây, chúng ta có biết quí trọng việc cử hành Bí tích Thánh Thể trong đời sống chúng ta không? Chúng ta có năng đến với Chúa trong Bí tích Thánh Thể để múc lấy sức mạnh sống tình thương đối với anh chị em hay không? Không đến với Chúa, chúng ta cũng khó đến với anh chị em xung quanh. Xin Chúa thương nhắc nhở chúng ta, củng cố lòng mến nơi chúng ta và nhất là củng cố đức tin nơi mỗi người chúng ta, đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua kinh tin kính.

Veritas Radio

Ông hoàng hạnh phúc

Ông hoàng hạnh phúc

Có một câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: ở một thành phố nọ, có một Ông Hoàng sống một cuộc đời rất hạnh phúc. Vì thế khi ông chết, người ta đã làm một bức tượng của ông, đặt trên một cái bệ cao giữa thành phố và đặt tên là Ông Hoàng Hạnh Phúc, như là biểu tượng may mắn sẽ mang hạnh phúc đến cho mọi người dân trong thành.

Một buổi chiều đầu mùa đông, một con chim én đến đậu dưới chân pho tượng. Bỗng một giọt nước rơi xuống đầu nó. Nó nhìn lên và ngạc nhiên vì đó là giọt nước mắt của Ông Hoàng. Ông đang khóc. Những giọt nước mắt cứ lăn dài trên đôi má của ông. Chim én ngạc nhiên và hỏi rằng:

– Tại sao ông khóc? Ông là Ông Hoàng Hạnh Phúc kia mà!

– Ông hoàng trả lời: Từ khi đứng trên cao nhìn thấy cảnh sống của dân thành, ta đau lòng quá và không còn hạnh phúc nữa. Ta muốn đi giúp họ lắm, nhưng đôi chân ta bị chôn chặt ở cái bệ này nên không thể nào đi được. Bạn có thể giúp ta không?

– Không được, tôi phải bay đi cho kịp đàn đang bay về phương bắc.

– Hãy làm ơn giúp ta đêm nay đi.

– Chim én ngập ngừng giây lát rồi nói: Thôi được. Bây giờ ông muốn tôi làm gì?

– Trong một túp lều đàng kia có một người mẹ đang khóc vì con bà bị bệnh mà bà không có tiền gọi bác sĩ. Bạn hãy lấy viên ngọc ở chuôi kiếm của ta đem cho bà ấy.

– Chim én dùng mỏ lấy viên ngọc ra và bay đến cho bà mẹ nghèo. Nhờ có tiền, bà đã lo cho con bà khỏi bệnh.

– Hôm sau Ông Hoàng lại xin chim én nán lại một đêm nữa để mang viên ngọc khác đến cho một người nghèo khác. Rồi hôm sau nữa đến giúp một người nghèo khác nữa. Cứ thế hết ngày này đến ngày khác, con chim én lấy các thứ trang sức của Ông Hoàng đem cho người nghèo. Cuối cùng trên mình Ông Hoàng không còn gì quý giá nữa. Khi đó đã là giữa mùa đông, trời đã lạnh rất nhiều.

– Một buổi sáng, người ta thấy xác con chim én đã chết cóng dưới chân pho tượng Ông Hoàng trần trụi. Phía dưới thành phố, mọi người đều hạnh phúc. Họ có biết đâu hạnh phúc của họ là nhờ sự hy sinh của Ông Hoàng Hạnh Phúc và con chim én nhỏ bé kia.

Đôi khi trong cuộc sống chúng ta vẫn vô tâm như vậy. Nhiều người đã được sống hạnh phúc nhưng họ đâu biết rằng hạnh phúc của họ là nhờ sự chắt chiu từng hy sinh âm thầm của biết bao nhiêu người. Có thể đó là sự hy sinh không mệt mỏi của cha, của mẹ từng ngày vất vả trên nương đồng, hay trên công trường. Có thể đó là sự hy sinh nhịn nhục của những người thân chịu thiệt thòi để họ được hạnh phúc. Có thể đó là sự hy sinh nhường nhịn của bạn bè để họ được vui hơn trong cuộc sống. Thế mà, nhiều người vẫn tưởng rằng mình lớn lên không cần ai giúp đỡ. Lối suy nghĩ đó đã dẫn đến một đời sống ích kỷ, hẹp hòi, một lối sống dửng dưng đến xa lạ với đồng loại.

Thực vậy, ở trong cuộc đời này vẫn còn đó biết bao người chắt chiu từng hạt gạo, gom góp từng miếng vải để giúp kẻ cơ hàn. Cuộc đời vẫn còn đó biết bao người hy sinh cả cuộc sống mình để phục vụ các bệnh nhân, nhất là các bệnh nhân nan y. Vẫn còn đó cả hàng triệu người đang đổ mồ hôi vật vã trên công trường, trên nương đồng để làm ra của cải và sản phẩm cho hàng tỉ người trên trái đất hưởng dùng. Vâng, cuộc đời vẫn còn đó biết bao người biết hy sinh vì tha nhân, biết kiến tạo niềm vui trong những giọt mồ hôi lao nhọc để phục vụ tha nhân. Thế nhưng, giòng đời vẫn còn đó những trái tim khô cằn, những tâm hồn lạnh nhạt đến dửng dưng với nỗi đau của đồng loại. Họ đâu biết rằng cuộc đời của họ đang bị cuốn trôi theo một giòng chảy của trần đời. Họ được đón nhận thì cũng phải biết trao ban. Vì chẳng ai có thể giữ mãi cho mình được điều gì mãi mãi. Tất cả những gì mình có rồi một mai cũng bị cuốn trôi theo thời gian.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy biết dừng lại để giúp đỡ những ai đang cần đến chúng ta, hãy biết chia sẻ với những khó khăn của tha nhân. Hình ảnh Thầy Tư tế và Lê vi đã bỏ lại đằng sau tiếng kêu cứu của đồng lại diễn tả một thế giới mà con người luôn hối hả bận rộn với giòng chảy cuộc đời. Họ bị giòng đời cuốn trôi đến nỗi đã quên rằng, cuộc sống đích thực là cuộc sống còn có khả năng chia sẻ với tha nhân. Một cuộc đời có ý nghĩa là cuộc đời biết dùng thời giờ để sống với tha nhân trong yêu thương và phục vụ. Và một cuộc đời đã mất khi không còn khả năng để giúp đỡ anh em. Ông Hoàng hạnh phúc đã không còn hạnh phúc khi ông nhận ra mình không còn khả năng để giúp đỡ đồng loại. Ông cảm thấy bất hạnh khi mình không còn khả năng để xoa dịu nỗi đau của đồng loại. Ngược lại, người Samaria nhân hậu, ông đã tìm được niềm vui của cuộc đời phục vụ. Ông đã dừng lại để xoa dịu nỗi đau của kẻ bất hạnh. Cuộc đời ông hạnh phúc biết bao khi ông băng bó nỗi đau của đồng loại. Khi ánh mắt của kẻ chịu ơn đang nhìn ông một cách trìu mến thân thương. Niềm vui của ông càng được nhân lên khi người mà ông giúp đỡ đã coi ông như anh em. Từ một người xa lạ nay trở thành kẻ thân thích. Ông đã biết dùng của cải đời này để mua bạn hữu đời này và cả đời sau. Đó chính là mẫu người mà Chúa đang mời gọi chúng ta hãy làm theo như vậy.

Ước gì trong năm thánh với chủ đề Giáo hội mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ sẽ là lời nhắc nhở chúng ta về Giáo hội của Chúa, do Chúa sáng lập và hiện diện thì mỗi ky-tô hữu cần phải hiệp nhất với nhau trong Chúa, cần nhìn nhận nhau là anh em và hãy biết sống đời kytô hữu bằng sự dấn thân để phục vụ tha nhân trong yêu thương chân thành. Nguyện xin Chúa là Đấng đã hết lòng yêu thương và phục vụ con người cho đến nỗi bằng lòng chịu chết vì chúng ta, giúp cho chúng ta cũng biết sống yêu thương như Chúa đã yêu thương chúng ta. Amen.

Lm Jos. Tạ Duy Tuyền

YÊU THƯƠNG MỌI NGƯỜI

YÊU THƯƠNG MỌI NGƯỜI

Lẽ ở đời hễ ai thương mình, thì mình thương lại, ai ghét mình thì mình ghét lại hoặc nếu không ghét họ, mình cũng chẳng mặn mà gì với người ghét mình.Đối với người Kitô hữu lại khác, họ yêu thương Thiên Chúa như một người Cha và yêu thương kẻ khác như anh em. Tuy nhiên, tình yêu đối với người khác cần phải đi xa tới đâu, cần phải trải rộng tới đâu? Người thông luật trong đoạn Tin Mừng Lc 6, 25-37, hỏi Đức Giêsu: “Ai là người thân cận của tôi?”. Chúa Giêsu không trả lời với Ông trực tiếp câu hỏi Ông nêu nhưng Ngài lấy dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu để trả lời cho Ông và cho hết mọi người: “Tình thương đó phải trải rộng đến tất cả mọi người, không phân biệt chủng tộc, mầu da, ngôn ngữ v.v…”. Điều này cho thấy, giới răn mới, giới răn bác ái yêu thương là giới răn Chúa Giêsu đem lại hoàn toàn mới mẻ cho nhân loại…

Câu chuyện Đức Giêsu đem ra để trả lời cho người thông luật đồng thời Ngài đặt câu hỏi: “Vậy ai là người thân cận của kẻ bị cướp?”. Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót”. Đức Giêsu bảo Ông: “…Hãy đi, và cũng hãy làm như vậy” (Lc 10, 37). Người Samaritanô nhân hậu đã thực thi đức ái một cách tuyệt vời. Ông đã không chỉ nói đầu môi chóp lưỡi, và đã không chỉ nói cho qua lệ, cho qua loa rồi thôi, nhưng thực tế, Ông đã nói và đã làm. Hành đồng của người Samaritanô nhân hậu hoàn toàn khác với các vị thông luật, Pharisêu, luật sĩ v.v… Các vị này nói mà không làm. Ngôn hành của họ bất nhất.Chắc chắn Đạo Do Thái đã qui định tình yêu thương đối với người khác. Nhưng các vị này vì quá tỉ mỉ, chi li nên đã giới hạn tình yêu thương đối với kẻ khác, cố bóp méo quan niệm về tình yêu thương đó. Chúa Giêsu qua dụ ngôn này đã phá tung rào cản mà những Kinh sư, Luật sĩ, Pharisêu đã núp để khỏi sống theo những đòi hỏi của luật bác ái. Ở đây, chúng ta thấy thầy tư tế và thầy Lêvi “tránh qua bên kia mà đi” khi đối diện với người bị nạn. Sở dĩ hai thầy này có thái độ đó là vì các thầy sợ nhiễm trùng, sợ ô uế khi đụng vào xác chết, sợ bọn cướp, sợ phiền hà, liên lụy tới bản thân v.v… Còn người Samaritanô dù không đồng đạo, dù không phải là chức sắc, chức việc tôn giáo, nhưng ông đã biết dừng lại để làm cái điều mà tiếng lương tâm thôi thúc, đòi buộc. Ông đã biết làm một điều mà thầy tư tế và thầy Lêvi, những chức sắc cao cấp của Đạo Do Thái, những người chỉ biết nói trên đầu môi chóp lưỡi, nhưng thực tế lại sống xa đức bác ái, đức thương yêu… Hành động, cử chỉ của người Samaritanô nhân hậu thật cao quí biết bao bởi vì Ông đã vượt qua giới hạn mà các thầy tư tế, các thầy Lêvi phải làm nhưng đã không làm. Vâng, người Samaritanô đã trở nên bạn với người bị nạn. Bởi vì, tất cả đều có thể trở nên anh em với nhau khi người này người kia biết cảm thông, giúp đỡ và yêu thương nhau. Thầy tư tế và thầy Lêvi thực sự đã sống hoàn toàn xa lạ, không trở nên bạn, không trở thành anh em với người khác. Người Samaritanô tốt lành đã trở nên anh em với người bị nạn.

Chính vì thế, chúng ta có thể hiểu được rằng yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là yêu thương với tất cả con tim, biết hy sinh, từ bỏ, cảm thông, tha thứ, quên mình, hiến thân phục vụ tha nhân. Chúa đã làm gương hy sinh, từ bỏ, hiến thân cho nhân loại: “Không có tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13). Con người phải biết hy sinh, từ bỏ và hiến mạng sống, bản thân để phục vụ mới có giá trị. Vì con người càng ích kỷ, hẹp hòi, càng tìm bản thân mình, càng đánh mất chính mình. Nên, con người chỉ là người khi họ dám hy sinh cho người khác. Biết bao gương của các thánh đã minh chứng hy sinh cho người khác sẽ nhận lại được nhiều, càng cho đi càng nhận lãnh. Chân phước Têrêsa Calcutta và các nữ tu bác ái của Mẹ đã hy sinh biết bao cho người khác. Nhiều vị thánh đã hy sinh cả cuộc đời để phục vụ và đem hạnh phúc cho kẻ khác. Do đó, họ cho đi và họ lại nhận lãnh được nhiều.

Người Kitô hữu phải thể hiện cuộc sống của mình theo gương Chúa Giêsu. Đạo Công giáo là Đạo tình thương. Mọi Kitô hữu đều phải sống tình thương bằng những việc làm tỏa sáng, nếu không họ chỉ là những Kitô hữu giả hiệu.Thánh Gioan đã định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình Yêu”. Nên, người môn đệ Chúa phải bắt chước Chúa sống tình yêu bằng những việc bác ái, hy sinh.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã nêu gương cho chúng con bằng chính sự từ bỏ, bằng chính sự hiến mình trên thập giá.Xin cho chúng con hiểu được rằng Đạo của Chúa thiết lập là Đạo tình thương, cốt lõi của Đạo là tình thương. Xin cho chúng con luôn biết đón nhận, yêu thương mọi người, đừng để chúng con chỉ biết nghĩ đến lợi ích của chúng con mà quên những anh chị em đang sống xung quanh, họ rất cần đến bàn tay góp sức của chúng con. Amen.

LM Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Công viên Công Giáo bị bỏ hoang sẽ được phục hồi

 

Công viên Công Giáo bị bỏ hoang sẽ được phục hồi

Thánh địa tại Mỹ thu hút khách hành hương những thập niên 50 đến 70

Vườn Cây Dầu đã biến mất. Via Dolorosa, bây giờ cỏ mọc um tùm không thể đi vào được. Bức tượng Chúa Kitô với cánh tay dang rộng tại lối vào công viên thiếu mất cái đầu. Mái đền Herod bị sụp đổ.

Thánh địa tại Mỹ này đã từng một thời gây kinh ngạc và tò mò của các tín hữu. Nhưng sau này đã phải chịu sự tàn phá của thiên nhiên và không còn được người ta nhớ tới.

Nơi linh thiêng theo chủ đề Kinh Thánh được xây dựng từ thập niên 1950 có thể tìm lại được cuộc sống mới.

Công viên Công Giáo bị bỏ hoang sẽ được phục hồi thumbnail

Thị trưởng Waterbury, ông Neil O'Leary và ông chủ đại lý xe hơi địa phương Fritz Blasius đã mua 17 mẫu Anh đất đai đã bị huỷ hoại từ Morristown, Học viện Giáo hoàng dành cho Giáo viên Tôn giáo Fillippini có trụ sở tại N.J.

Công viên đóng cửa vào năm 1984, hai năm trước khi nhà sáng lập John Baptist Greco, một người Công giáo sùng đạo qua đời. Ông để lại tài sản cho các nữ tu trông coi. Sau đó công viên dần xuống cấp mà không có một nỗ lực nào để khôi phục lại.

Ông O'Leary nói với tờ Waterbury Observer rằng ông và Blasius sẽ thành lập một tổ chức phi lợi nhuận và gây quỹ  350,000 USD để biến địa điểm Kitô giáo linh thiêng này cho người dân của thành phố có nơi biểu lộ đức tin.

Greco, một sinh viên bỏ học chủng viện và đại học Yale, đã từng xây dựng một bản sao Bethlehem và Jerusalem thu nhỏ được làm từ ván ép, sắt vụn và phế liệu. Những năm làm việc khó nhọc của ông đã biến đỉnh núi cheo leo thành một điểm hấp dẫn thu hút hàng ngàn khách hành hương Kitô giáo trong thập niên 1950, 60 và 70.

Cha Frank Papa, người sống cùng Greco tại Đất Thánh suốt thập niên 1970 và 80 cho biết: "Đất Thánh chính là lời cầu nguyện và sự bày tỏ đức tin Công giáo của Greco”.

Cha Papa nhớ lại Greco hành nghề luật sư vào ban ngày và đục khắc các đoạn Kinh Thánh vào đá vào ban đêm.

Anne Marie Somma cho Washington Post/Religion News Service (UCANEWS)

Hoãn phiên xử nhà hoạt động nhân quyền Công giáo

Hoãn phiên xử nhà hoạt động nhân quyền Công giáo

Việt Nam hoãn phiên tòa xét xử một trong những nhà bảo vệ nhân quyền nổi tiếng trong bối cảnh các nhà hoạt động và các tổ chức nhân quyền quốc tế gây sức ép đòi thả tự do cho ông.

Ông Giuse Lê Quốc Quân, một luật sư Công giáo tại Hà Nội, phải ra tòa vào ngày 9 tháng 7 vì bị cáo buộc trốn thuế.

Tuy nhiên, trong thông báo gửi đến luật sư của ông Quân vào hôm thứ hai, toà án nhân dân Hà Nội cho biết phiên tòa bị hoãn lại vì thẩm phán xét xử bị bệnh cúm. Thông báo không cung cấp thông tin thời gian mới cho cuộc xét xử.

Luật sư Quân, 42 tuổi, bị cáo buộc trốn thanh toán khoản thuế 437,500,000 đồng ($20,636 USD), mà theo các tổ chức nhân quyền các cáo buộc này thường được nhà nước sử dụng để tống giam và bịt miệng các nhà chỉ trích chính phủ.

Ông bị bắt vào ngày 27 tháng 12 năm 2012, chín ngày sau khi BBC công bố một bài báo trong đó ông Quân nhận xét về việc sửa đối Hiến pháp của Việt Nam, trong đó đề cập đến sự duy trì tính độc tôn của đảng Cộng sản trong đời sống quốc gia.

Ông Quân có thể đối mặt bản án lên đến bảy năm tù giam và bị phạt nặng nếu bị kết tội.

Việc bắt giữ ông Quân đã làm các nhà hoạt động và tổ chức nhân quyền quốc tế phẫn nộ.

"Ông Lê Quốc Quân bị đưa ra xét xử bởi vì ông là một nhà phê bình nổi bật và hiệu quả", ông Brad Adams, giám đốc châu Á tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) cho biết hôm qua trước khi tin hoãn phiên tòa xét xử được công bố.

"Thay vì giải quyết sự bất mãn phổ biến với hệ thống chính trị, thất bại kinh tế, và vi phạm nhân quyền nghiêm trọng, chính quyền Việt Nam chỉ đơn giản bắt giam các nhà phê bình."

Một số nhà hoạt động nói rằng việc trì hoãn là dấu hiệu cho thấy chính phủ đã bắt đầu chịu áp lực dưới sức ép quốc tế.

Bà Anna Trần Thị Hương, một nhà hoạt động cho biết: "Chính phủ hoãn phiên tòa để tránh áp lực từ các nhà hoạt động trong nước và các tổ chức nhân quyền quốc tế."

"Chính phủ cũng lo ngại cuộc biểu tình bên ngoài tòa án có thể vượt khỏi sự kiểm soát. Phiên tòa sẽ thu hút rất nhiều người muốn bày tỏ ủng hộ đối với ông Quân," bà Hương nói.

Hôm qua gia đình Quân đăng tải bức thư trên mạng internet cho rằng phiên tòa là "bất hợp pháp" và gọi ông Quân là một người yêu nước cống hiến hết mình để thúc đẩy các nguyên tắc dân chủ và cố gắng xây dựng một chính phủ của dân và vì dân.

Họ cũng kêu gọi mọi người "hãy đến mà xem" phiên tòa nhằm bỏ tù một người lên tiếng cho công lý, sự thật và hòa bình.

Trong thư mới nhất được đăng trên internet, ông Quân bác bỏ các cáo buộc chống lại ông.

“Tôi chỉ là nạn nhân của các hành động và quyết định chính trị," ông nói.

UCANEWS Vietnam

Đức Thánh cha ra lệnh gỡ bỏ tượng chân dung ngài ngay lập tức

Đức Thánh cha ra lệnh gỡ bỏ tượng chân dung ngài ngay lập tức

Hannah Roberts cho Mail Online, Vatican

Ngài trở thành một người được mọi người biết đến và là nhân vật nổi tiếng trên các bìa tạp chí ở tuổi 76.

Nhưng dường như Đức Thánh cha Phanxicô cố tránh trở thành người nổi tiếng – ngài ra lệnh gỡ bỏ tượng chân dung ngài có kích thước bằng người thật mới được đặt tại nhà thờ chính tòa Buenos Aires.

Đức Thánh cha ra lệnh gỡ bỏ tượng chân dung ngài ngay lập tức thumbnail

Từ khi bức tượng được đặt ở đó cách đây hai tuần, các tín hữu đến viếng bức tượng trong vườn nhà thờ chính tòa bày tỏ lòng tôn kính đối với Đức Thánh cha, trong khi du khách đứng chụp hình bên bức tượng.

Nhưng Đức Phanxicô, cựu tổng giám mục của thủ đô Argentina, cảm thấy khó chịu khi nghe tin này.

Ngài gọi điện ngay cho vị linh mục phụ trách, dùng những lời mạnh mẽ nói với ngài: ‘Gỡ bỏ cái đó xuống ngay lập tức’, tờ báo Argentina Clarin đưa tin.

Các nguồn tin Giáo hội nói với tờ báo rằng Đức Phanxicô quyết tâm tránh tạo ra ‘sự sùng bái cá nhân’ giống như Đức Gioan Phaolô II.

Từ khi lên ngôi giáo hoàng vào tháng 3, Đức Phanxicô đã làm nhiều việc được xem là khiêm tốn, tỏ vẻ ít thích cảnh phô trương và nghi thức long trọng dành cho ngài là người đứng đầu 1,2 tỉ người Công giáo trên thế giới.

Nguồn: Mail Online (UCANEWS)

 

Tự sắc của Đức Thánh Cha Phanxicô cải tổ hệ thống hình pháp tại Vatican

Tự sắc của Đức Thánh Cha Phanxicô cải tổ hệ thống hình pháp tại Vatican

VATICAN. Hôm 11-7-2013, ĐTC Phanxicô đã ban hành Tông thư tự sắc nới rộng quyền tài phán của các cơ quan tư pháp Quốc gia thành Vatican về vấn đề hình luật.

Các qui luật mới đã được Ủy ban Tòa Thánh đặc trách quốc gia thành Vatican phê chuẩn ngày 10-7-2013, cải tổ bộ hình luật có từ năm 1929 khi thành lập quốc gia Vatican, và áp dụng cho các nhân viên và những người ở trên lãnh thổ quốc gia thành Vatican.

Trong lời tựa, Tự Sắc của ĐTC khẳng định rằng: ”Thời nay, công ích ngày càng bị đe dọa vị nạn phạm pháp liên quốc gia và có tổ chức, lạm dụng thị trường và kinh tế, cũng như nạn khủng bố. Vì thế, cộng đồng quốc tế cần chấp nhận những phương tiện pháp lý thích hợp giúp phòng ngừa và ngăn chặn nạn tội phạm, tạo điều kiện dễ dàng cho sự cộng tác tư pháp quốc tế trong vấn đề hình sự”. Vì thế với mục đích tái khẳng định quyết tâm của Tòa Thánh cộng tác với những mục tiêu ấy, đã có một số thay đổi được du nhập vào hình luật của Vatican, tiếp tục những hoạt động đã được khởi sự từ năm 2010 dưới triều đạicủa ĐGH Biển Đức 16”.
Tự Sắc của ĐTC có mục đích nới rộng việc áp dụng các hình luật này cho cả các chức sắc và nhân viên giáo triều Roma và các tổ chức gắn liền với giáo triều, ví dụ báo Quan sát viên Roma, Đài Vatican, Trung Tâm truyền hình Vatican, thư viện và văn khố Vatican, v.v. Cả các vị đại diện Tòa Thánh, và nhân viên chính ngạch trong ngoại giao Tòa Thánh.

Những hình luật vừa được phê chuẩn tiếp nối công cuộc thích ứng ngành tư pháp Vatican, qua những hành động bắt đầu từ năm 2010 dưới triều đại ĐGH Biển Đức 16.

Một số điểm mới

Những hình luật ấy nay có nội dung rộng lớn hơn vì thực hiện nhiều hiệp ước quốc tế mà Tòa Thánh chấp nhận. Ngoài ra có sự du nhập những loại tội bị hình luật Vatican trừng phạt như các tội ác chống lại nhân loại, tội tra tấn, tội diệt chủng và Apartheid (Phân biệt chủng tộc); tội tham nhũng như nói trong Hiệp ước năm 2003 của LHQ về tệ nạn này. Một điểm mới khác, đó là quyết định loại bỏ án tù chung thân và thay bằng hình phạt từ 30 đến 35 năm tù. Luật mới gia tăng các biện pháp bảo vệ trẻ em, xác định và gia tăng hình phạt cho những kẻ lạm dụng trẻ em, những kẻ lấy trộm tài liệu mật của các cơ quan Vatican. Luật mới cho phép giao nộp cho các chính quyền tư pháp liên hệ những kẻ phạm tội ác tị nạn vào Vatican.

Phù hợp với hướng đi gần đây trên trường quốc tế, một hệ thống trừng phạt pháp nhân cũng được du nhập vào hệ thống hình luật Vatican, đối với tất cả những trường hợp pháp nhân ấy lợi dụng những hoạt động tội ác do các cơ quan hoặc nhân viên của mình phạm. Luật xác định một trách nhiệm trực tiếp của các pháp nhân đó với những hình phạt cấm chế hoặc phạt tiền.

Trong cuộc họp báo cha Lombardi, Giám đốc Phòng báo chí Tòa Thánh cho biết trong tương lai gần đây sẽ có thêm những đạo luật chống rửa tiền và tài trợ tham nhũng, theo yêu cầu của cơ quan Âu châu Moneyval đặc trách về vấn đề này. Tòa Thánh và Vatican cũng gia nhập và chấp nhận những đề nghị của tổ chức này để phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế (SD 11-7-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Tòa Thánh kêu gọi ngành du lịch cộng tác bảo vệ nước uống

Tòa Thánh kêu gọi ngành du lịch cộng tác bảo vệ nước uống

VATICAN. Tòa Thánh kêu gọi những người hoạt động trong ngành du lịch và các du khách cộng tác để quản lý và bảo vệ nước uống như một thiện ích quí giá của nhân loại.

Trên đây là nội dung sứ điệp của Hội đồng Tòa Thánh mục vụ di dân và người lưu động, công bố hôm 11-7-2013 nhân dịp Ngày Thế giới về du lịch, sẽ được cử hành vào ngày 27-9 tới đây với chủ đề ”Ngành du lịch và nước: bảo vệ tương lai chung của chúng ta”.

Trong sứ điệp, Hội đồng Tòa Thánh nhắc đến vai trò quan trọng của ngành du lịch trong việc bảo vệ môi sinh: ngành này có thể là một đại đồng minh nhưng cũng có thể là một kẻ thù khốc liệt chống lại môi sinh, vì để tìm kiếm lợi lộc kinh tế dễ dàng và mau lẹ, người ta có thể để cho kỹ nghệ du lịch làm ô nhiễm thiên nhiên.
Đề cập đến vai trò sinh tử của nước, Hội đồng Tòa Thánh về di dân tái xác quyết nước như chìa khóa của sự phát triển: nếu không có nước thì cũng chẳng có sự sống. ”Nhưng năm này qua năm khác, sức ép trên nước ngày càng gia tăng. Cứ 3 người trên thế giới thì có một người sống tại một quốc gia với nguồn nước ít gỏi, và vào năm 2013, có thể tới một nửa dân số thế giới lâm vào tình trạng này vì nhu cầu nước vượt quá khả năng cung cấp nước tới 40%.

Trong bối cảnh trên đây, Sứ điệp của Hội đồng Tòa Thánh nêu rõ: ”Điều quan trọng là tái khẳng định rằng tất cả những người can dự đến hiện tượng du lịch đều có một trách nhiệm nặng nề trong việc quản lý nước, làm sao để lãnh vực này thực sự là nguồn mạch sự phong phú trên bình diện xã hội, môi sinh, văn hóa và kinh tế. Trong khi phải hoạt động để sửa chữa những thiệt hại đã gây ra, chúng ta cũng phải tạo điều kiện để nước được sử dụng một cách hợp lý, giảm bớt hết sức những thiệt hại ấy, bằng cách cổ võ những chính sách thích hợp, cung cấp những phương thế hữu hiệu giúp bảo vệ tương lai chung của chúng ta. Thái độ của chúng ta đối với thiên nhiên và sự quản lý kém mà chúng ta có thể gây ra cho các nguồn nước, không thể đè nặng trên người khác và càng không thể gây hại cho các thế hệ tương lai”.

Sau cùng, Hội đồng Tòa Thánh mời gọi tất cả mọi người hãy đón nhận ước mong của ĐTC là ”dấn thân nghiêm tục tôn trọng và bảo tồn thiên nhiên, quan tâm đến mỗi người, chống lại nền văn hóa phung phí và vứt bỏ, để thăng tiến một nền văn hóa liên đới và gặp gỡ” (SD 11-7-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Ơn toàn xá cho các tín hữu tham dự Ngày Quốc Tế giới trẻ Rio de Janeiro

Ơn toàn xá cho các tín hữu tham dự Ngày Quốc Tế giới trẻ Rio de Janeiro

VATICAN. ĐTC Phanxicô ban ơn toàn xá cho các tín hữu tham dự Ngày Quốc Tế Giới trẻ tại Rio de Janeiro, Brazil.
Tòa Ân Giải tối cao cũng cho biết ĐTC ban ơn xá bán phần cho các tín hữu cầu nguyện cho những chủ đích thiêng liêng và cho sự thành công tốt đẹp của biến cố này.

Nguyên văn Sắc Lệnh được Tòa Ân Giải Tối Cao công bố hôm 9 tháng 7-2013, như sau:

”ĐTC Phanxicô mong muốn các bạn trẻ, – hiệp với các mục đích thiêng liêng của Năm Đức Tin do ĐGH Biển Đức 16 ấn định, – có thể đạt được những thành quả thánh hóa như mong ước, từ Ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 23 sẽ được cử hành từ ngày 22 đến 29-7 tới đây tại Rio de Janeiro với chủ đề ”Các con hãy đi và làm cho mọi dân nước trở thành môn đệ” (Xc Mt 28,19), trong buổi tiếp kiến ngày 3-6 vừa qua dành cho Hồng Y Chánh Tòa Ân giải ký tên dưới đây, bày tỏ tâm hồn từ mẫu của Giáo Hội, kín múc từ Kho tàng ân phúc của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, của Đức Trinh Nữ Maria và của tất cả các thánh, đã chấp thuận cho các bạn trẻ và tất cả các tín hữu được chuẩn bị thích đáng, có thể được hơn ơn toàn xá như sau:

1. Ơn toàn xá có thể ban mỗi ngày một lần cho những tín hữu thành tâm thống hối, sốt sắng tham dự cácbuổi lễ và các việc đạo đức được cử hành tại Rio de Janeiro; ơn này được ban theo những điều kiện thường lệ – xưng tội, rước lễ, cầu nguyện theo ý ĐTC- và cũng có thể chỉ cho các linh hồn đã qua đời.

Những tín hữu bị ngăn trở vì lý do chính đáng, cũng có thể được hưởng ơn toàn xá, miễn là – tuân theo các điều kiện thiêng liêng thường lệ, chịu bí tích và cầu nguyện, với lòng tuân phục con thảo đối với ĐTC, – họ hiệp ý tham dự các buổi lễ phụng vụ trong những ngày đã định, nghĩa là họ theo dõi các buổi lễ ấy và các việc vị đạo đức được trực tiếp truyền đi qua truyền hình và truyền thanh, hoặc qua các phương tiện truyền thông xã hội mới mẻ, luôn luôn với lòng sùng mộ phải có.

2. Ơn xá bán phần được ban cho các tín hữu, bất kỳ họ ở nơi nào trong thời kỳ Những Ngày Quốc tế giới trẻ nói trên, mỗi khi họ dâng lên Thiên Chúa những lời khẩn nguyện sốt sắng và ít là với tâm hồn thống hối, và kết thúc với kinh nguyện chính thức của Ngày Quốc Tế giới trẻ, và sốt sắng khẩncầu Đức Trinh Nữ Maria, Nữ Vương Brazil, dưới tước hiệu ”Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội Aparecida”, và kêu cầu các vị Thánh Bổn Mạng và các vị Chuyển Cầu của Ngày Quốc Tế giới trẻ, để khích lệ các bạn trẻ củng cố đức tin và sống đời thánh thiện.

Tiếp đến để các tín hữu có thể dễ dàng tham gia các hồng ân thiêng liêng ấy, các Linh Mục có năng quyền hợp pháp để giải tội, với lòng mau mắn và quảng đại, hãy sẵn sàng giải tội và đề nghị cho các tín hữu những kinh nguyện công khai, để cầu cho Ngày Quốc Tế giới trẻ được thành tựu tốt đẹp.
Sắc lệnh có giá trị cho dịp này, bất chấp những gì trái ngược.

Ban hành tại Roma tại trụ sở Tòa Ân Giải tối cao ngày 24-6 năm 2013, lễ trọng kính thánh Gioan Tẩy Giả.
Ký tên: Hồng Y Manuel Monteiro de Castro
Chánh Tòa Ân Giải Tối Cao
Giám chức Krzysztof Nykiel
Phó Chánh Tòa


G. Trần Đức Anh OP chuyển ý (Vatican Radio)

Đức Thánh Cha Phanxicô tố giác sự dửng dưng đối với người tị nạn

Đức Thánh Cha Phanxicô tố giác sự dửng dưng đối với người tị nạn

LAMPEDUSA. ĐTC Phanxicô tố giác sự dửng dưng đối với số phận người tị nạn, các thuyền nhân chết trên biển cả và những kẻ lợi dụng sự nghèo đói của người khác để làm giàu.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong cuộc viếng thăm mục vụ tại đảo Lampedusa, cực nam Italia, sáng ngày 8-7-2013. ĐTC cho biết ngài đến đảo này để tưởng niệm những thuyền nhân bỏ mình trên biển cả trên đường đi tìm cuộc sống tốt đẹp hơn, gặp gỡ những người di dân, và cử hành thánh lễ cho các tín hữu địa phương. Qua cuộc viếng thăm này ngài cũng muốn thức tỉnh lương tâm của nhiều người trên thế giới, tất cả mọi người, đặc biệt là các giới hữu trách, về thảm trạng người di dân và tị nạn.

Đây cũng là chuyến viếng thăm mục vụ đầu tiên của ĐTC ở Italia, ngoài Roma. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một vị Giáo Hoàng đến viếng thăm tại Lampedusa.

Lampedusa

Đây là một đảo chỉ rộng 20,2 cây số vuông, chiều dài 12 cây số và chiều ngang khoảng 3 cây số, là đảo lớn nhất trong quần đảo Pelagie trong Địa trung hải. Xét về địa lý, Lampedusa thuộc về Phi châu hơn là Âu Châu, vì chỉ cách bờ biển Tunisi 113 cây số, trong khi đó lại cách bờ biển Sicilia của Italia 127 cây số.

Lampedusa chỉ có 5 ngàn dân cư, và thuộc về tỉnh Agrigento trên đảo Sicilia. Nền kinh tế đảo này chủ yếu dựa vào ngành du lịch, đánh cá, và công nghệ cá xanh đóng hộp. Nông nghiệp và chăn nuôi ở đây chỉ được coi là một ngành phụ.

Do vị trí địa lý, trong thập niên gần đây, Lampedusa trở thành một trong những mục tiêu chính trên đường vượt biên của các thuyền nhân, từ Phi châu nam sa mạc Sahara, tìm đường vào Âu Châu. Họ thường được những tay buôn người vô lương tâm khai thác, nhất là từ Libia và Tunisi, buộc phải trả những số tiền lớn để được đi trên những xuồng máy hoặc những con thuyền cũ kỹ để vượt biên sang Âu Châu. Trong khoảng tháng 3 và tháng 4 năm 2011, số người di dân lén lút đổ bộ lên đảo Lampedusa là 6.500 người, tức là đông hơn cả tổng số người dân trên đảo này. Tổng số người đến Lampedusa trong năm 2011, là năm Mùa Xuân Arập bùng nổ ở Tunisi là 51.753 người, một con số kỷ lục. Nếu kể cả số người đến đảo Linosa gần đó, thì tổng số thuyền nhân đến Italia trong năm đó là gần 62 ngàn 700 người.

Sau một thời gian lắng dịu trong năm 2012, từ đầu năm nay, số thuyền nhân đến Lampedusa lại gia tăng và trong 6 tháng đầu năm nay, có gần 8 ngàn người đến Italia, trong số này có gần 3.650 người đổ bộ lên đảo Lampedusa.

Trong cuộc vượt biên như thế, nhiều thuyền nhân đã gặp nạn và bỏ mình trên biển cả. Vụ mới nhất là ngày 16-6-2013 vừa qua, khi 7 thuyền nhân bị chết đuối trong lúc cố gắng bám vào những hàng rào nuôi các ngừ do một xuồng đánh cá của Tunisi kéo đi. Người ta ước lượng trong vòng 17 năm, từ 1994 đến 2011, nguyên tại vùng gọi là ”Con kênh Sicilia” đã có 6.226 người chết và mất tích trên đường từ Libia, Tunisi và từ Ai Cập, vượt biên sang Italia. Đặc biệt năm 2011 là năm đau thương nhất, có tới 1.822 người mất tích trên biển cả, bình quân mỗi tháng có 150 người thiệt mạng.

Thêm vào đó, người ta còn phải kể đến cuộc sống khó khăn của các thuyền nhân đổ bộ lên đảo Lampedusa. Đảo này không có cơ cấu thích hợp để đón người vượt biên và số người lại quá đông. Trung tâm tiếp đón đầu tiên trên đảo có khả năng dự trù tối đa là 300 người, trong thực tế hàng ngàn người phải cư ngụ tại đây, và tình trạng này cũng gây căng thẳng trong cuộc sống chung với người dân trên đảo. Tình trạng khẩn cấp này khiến cho Giáo Hội Công Giáo Italia nhiều lần phải kêu gọi các giới chức hữu trách của quốc gia và Âu Châu quan tâm giải quyết vấn đề.

Do hoàn cảnh và ý muốn của ĐTC, cuộc viếng thăm của ngài diễn ra dưới hình thức đơn sơ tối đa, kể cả về sự hiện diện của các GM và chính quyền địa phương, nghĩa là chỉ có sự hiện diện của Đức TGM giáo phận Agrigento sở tại và thị trưởng ở đảo Lampedusa.

ởng niệm các nạn nhân và gặp người di dân

Lúc 8 giờ sáng 8-7-2013 ĐTC đã đáp máy bay của không quân Italia từ Roma và đến phi trường đảo Lampedusa sau 1 giờ bay.

Tiếp đó ngài đi trên chiếc tàu nhỏ tuần duyên của hải quân Italia, có các ngư phủ Sicilia tháp tùng, và thả vòng hoa xuống biển để tưởng niệm các nạn nhân đã bỏ mình trên đường vượt biên.

Khi tàu cập bến Punta Favarolo, ĐTC đã tươi cười bắt tay, chào thăm một nhóm người di dân, tất cả đều từ Phi châu tới đây. Đại diện cho những người này, nói bằng tiếng Arập Tigrit để chào mừng và cám ơn ĐTC, cũng như xin ngài giúp đỡ.

Rồi ĐTC tiến về sân thể thao Arena để cử hành thánh lễ. Hơn 10 ngàn tín hữu đã có mặt tại đây dưới bầu trời nắng, họ đã dành cho ngài một cuộc tiếp đón nồng nhiệt, khi ngài dùng xe díp mui trần tiến qua các lối để để chào thăm họ, giống như các buổi tiếp kiến chung tại Quảng trường Thánh Phêrô..

Lễ đài rất đơn sơ, cạnh đó có đặt một con thuyền của những người vượt biên, bên phải bàn thờ là tượng Đức Mẹ bổn mạng của dân đảo Lampedusa. Đồng tế với ĐTC có gần 100 LM, và Đức TGM Agrigento sở tại, cha xứ Stefano Nastasi, cùng hai vị TGM tháp tùng ĐTC. Các vị mặc áo tím vì đây cũng là thánh lễ thống hối và cầu nguyện cho các nạn nhân bỏ mình trên biển cả trên đường di cư.

Bài giảng thánh lễ

Trong bài giảng thánh lễ, dựa vào bài sách Sáng Thế trong đó Chúa gọi hỏi Cain đã giết em mình là Abel: Ngươi ở đâu? Máu em ngươi ở đâu, thể thức tỉnh lương tâm mọi người trước thảm trạng người di dân. Ngài nói:

”Những người di dân chết trên biển, từ những con thuyền lẽ ra là một con đường hy vọng đã trở thành một con đường chết chóc. Đó là tựa đề trong các báo chí! Cách đây vài tuần khi tôi nghe tin này, một tin rất tiếc là đã bao nhiêu lần xảy ra, tôi liên tục nghĩ đến điều ấy như một cái gai trong con tim gây ra bao đau khổ. Và khi ấy tôi cảm thấy mình phải đến đây để cầu nguyện, để thi hành cử chỉ gần gũi, nhưng cũng để thức tỉnh lương tâm chúng ta để điều đã xảy ra khỏi tái diễn nữa. Xin làm ơn, đừng để tái diễn nữa! Nhưng trước tiên tôi muốn nói một lới châm thành cám ơn và khích lệ anh chị em, nhân dân tại đảo Lampedusa và Linosa này, các hiệp hội, những người thiện nguyện và các lực lượng an ninh, anh chị em đã và đang tỏ ra quan tâm đến con người, trong hành trình của họ hướng về một cái gì tốt đẹp hơn. Anh chị em là một thực tại nhỏ bé, nhưng nêu gương liên đới! Tôi cũng cám Đức TGM Francesco Montenegro vì sự giúp đỡ và hoạt động, vì sự gần gũi mục tử. Tôi thân ái chào bà thị trưởng Giusy Nicolini. Xin cám ơn vì những gì bà đã và đang làm. Tôi nghĩ đến những người di dân Hồi giáo đang bắt đầu tháng chay tịnh Ramadan, với lời cầu chúc cho họ được dồi dào thành quả thiêng liêng. Giáo Hội gần gũi với anh chị em trong việc tìm kiếm một cuộc sống xứng đáng hơn cho bản thân và gia đình anh chị em.

Sáng hôm nay, dưới ánh sáng Lời Chúa mà chúng ta đã nghe, tôi muốn đề nghị vài lời nhất là thức tỉnh lương tâm của mọi người, thúc đẩy suy tư và thay đổi cụ thể một số thái độ.

”Adam, ngươi ở đâu?” là câu hỏi đầu tiên mà Thiên Chúa gửi đến con người sau khi phạm tôi: ”Ngươi ở đâu?” Đó là một con người lạc hướng đã mất chỗ đứng của mình trong công trình sáng tạo vì tưởng mình trở thành quyền năng, có thể thống trị mọi sự, trở thành Thiên Chúa. Và sự hòa hợp bị phá vỡ, con người sai lầm và điều này cũng lập lại trong quan hệ với tha nhân, họ không còn là ngừơi anh em phải yêu mến, nhưng chỉ là một người khác làm xáo trộn đời sống của tôi, an sinh của tôi. Và Thiên Chúa đặt câu hỏi thứ hai: ”Cain, em ngươi ở đâu?” Giấc mơ trở thành quyền năng, cao trọng như Thiên Chúa, trở thành Thiên Chúa, dẫn tới một chuỗi những sai lầm và cũng là một xiềng xích sự chết, đưa tới việc đổ máu người em của mình!

”Ngày nay, hai câu hỏi này của Thiên Chúa cũng vang dội với tất cả sức mạnh! Bao nhiêu người trong chúng ta, kể cả tôi nữa, chúng ta ngỡ ngàng mất hướng, chúng ta không còn chú ý đến thế giới chúng ta sống, không chăm sóc, không bảo tồn những gì Thiên Chúa đã dựng nên cho tất cả mọi người, và chúng ta cũng không có khả năng giữ gìn nhau. Và khi sự ngỡ ngàng mất hướng này mặc lấy chiều kích thế giới, thì có thêm thảm trạng như chúng ta đã chứng kiến.

Tiếp tục bài giảng, ĐTC nói:

Chúa hỏi: ”Em của ngươi ở đâu?”, tiếng máu của em ngươi đã kêu thấu tới Ta, Chúa nói. Đây không phải là một câu hỏi được gửi tới những người khác, nhưng là câu hỏi được gửi tới tôi, tới bạn, cho mỗi người trong chúng ta. Những người anh chị em chúng ta đang tìm cách ra khỏi những tình cảnh khó khăn để tìm được một chút thanh thản và an bình; họ tìm một chỗ tốt đẹp hơn cho bản thân và gia đình họ, nhưng họ đã tìm thấy cái chết. Bao nhiêu lần những người tìm kiếm điều ấy đã không tìm được sự cảm thông, tiếp đón, không tìm được liên đới! Và tiếng nói của họ vọng lên tới Thiên Chúa!

”Hỡi những người dân đảo Lampedusa, một lần nữa tôi cám ơn anh chị em vì tình liên đới! Mới đây tôi đã nghe một trong những người anh em ấy. Trước khi đến đây, họ đã ở trong tay những kẻ buôn người, những kẻ khai thác sự nghèo đói của người khác; những người mà đối với họ sự nghèo đói của tha nhân trở thành nguồn lợi cho họ. Bao nhiêu người đã chịu đau khổ! và vài người đã đến được nơi đây!

”Em ngươi ở đâu?” Ai là người chịu trách nhiệm về máu này? Trong văn chương Tây Ban nha có vở kịch của Lope de Vega kể lại những ngừơi dân thành Fuente Ovejuma đã giết viên tỉnh trưởng vì là một bạo chúa, và họ làm điều ấy mà không biết ai là người thi hành việc hành quyết ấy. Và khi quan tòa của vua hỏi: ”Ai đã giết ông tỉnh trưởng?” tất cả đều trả lời: ”Thưa ngài, đó là Fuente Ovejuma”. Tất cả nhưng không có người nào! Cả ngày nay câu hỏi này cũng nổi lên một cách mạnh mẽ: ai là người chịu trách nhiệm về những người anh chị em này? Không có ai cả! Tất cả chúng ta đều trả lời như thế: không phải tôi, tôi chẳng dính dáng gì tới điều này. Nhưng chính Thiên Chúa hỏi mỗi người trong chúng ta: ”Máu em ngươi ở đâu là người kêu thấu tới Ta?” Ngày nay không ai cảm thấy mình trách nhiệm về điều ấy; chúng ta đã mất ý thức trách nhiệm huynh đệm chúng ta rơi vào thái độ giả hình của vị tư tế và người phục vụ tại bàn thờ, mà Chúa Giêsu đã nói đến trong dụ ngôn Người Samaritano nhân lành: chúng ta nhìn người anh em giở sống giở chết bên vệ đường, có lẽ chúng ta nghĩ: tôi nghiệp hắn, và chúng ta tiếp tục đi, chúng ta nghĩ đó không phải là nhiệm vụ của mình; và chúng ta cảm thấy mình hợp luật rồi. Nền văn hóa an sinh sung túc làm cho chúng ta nghĩ đến chính mình, làm cho chúng ta không nhạy cảm đối với tiếng kêu của người khác, làm cho chúng ta sống trong những bong bóng xà bông, nó đẹp nhưng chẳng là gì cả, đó là ảo tưởng về sự phù dù, tạm bợ, dẫn tới sự dửng dưng đối với tha nhân, đúng hơn nó đưa tới sự hoàn cầu hóa thái độ dựng dưng. Chúng ta trở nên quen thuộc với đau khổ của người khác, coi đó là điều chẳng liên hệ đến chúng ta, không làm chúng ta quan tâm, đó chẳng phải là việc của chúng ta!

”Hình ảnh người không có tên” của Văn sĩ Manzoni đang tái diễn. Sự hoàn cầu hóa thái độ dửng dưng làm cho tất cả chúng ta trở nên những người không có tên, những người trách nhiệm không có tên, không có mặt mũi.

“Adam, ngươi ở đâu?”, ”Em ngươi ở đâu?”, đó là hai câu hỏi mà Thiên Chúa nêu lên vào đầu lịch sử nhân loại, và ngài cũng gửi tới tất cả những người thời nay, cả chúng ta nữa. Nhưng tôi muốn chúng ta đặt câu hỏi thứ ba: ”Ai trong chúng ta đã khóc vì sự kiện này vì những sự kiện thuộc loại này?”, vì cái chết của những người anh chị em này? Ai đã khóc vì những người đã ở trên thuyền? Và những bà mẹ trẻ mang con nhỏ của họ? vì những ngừơimuốn một cái gì đó để nâng đỡ gia đình họ? Chúng ta là một xã hội đã quên kinh nghiệm khóc, ”đồng cảm thông”: sự hoàn vũ hóa thái độ dửng dưng! Trong Tin Mừng chúng ta đã nghe tiếng kêu, tiếng khóc, lời than khóc: ”Rachele khóc con mình.. vì chúng không còn nữa”. Herôđê đã gieo chết chóc để bảo vệ an sinh của ông, bảo vệ cái bong bóng xà bông của ông. Và điều này còn tiếp tục tái diễn. Chúng ta hãy cầu xin Chúa xóa bỏ những gì của Hêrôđe, và còn tồn đọng trong tâm hồn chúng ta; chúng ta hãy xin Chúa ơn khóc vì sự dửng dưng của chúng ta, vì sự tàn ác ở trên thế giới, trong chúng ta, và cả nơi những người trong sự vô danh đang đưa ra những quyết định xã hội kinh tế mở được cho những thảm trạng như vậy. ”Ai đã khóc?”

Và ĐTC dâng lời khẩn nguyện:

Lạy Chúa, trong thánh lễ này, là phụng vụ thống hối, chúng con xin Chúa tha thứ vì sự dửng dưng đối với bao nhiêu anh chị em, chúng con xin lỗi Chúa vì những người trở nên quen với thảm cảnh, khép kín trong an sinh của mình, làm cho con tim họ không còn cảm xúc nữa, chúng con xin lỗi Chúa vì những người qua những quyết định của họ trên bình diện hoàn cầu đã gây ra những hoàn cảnh đưa tới những thảm trạng này. Lạy Chúa xin tha thứ! Lạy Chúa, ngày hôm nay chúng con cũng nghe được những câu hỏi của Chúa: 'Adam ngươi ở đâu?”, ”Máu em ngươi ở đâu?”.

Khẩn cầu Mẹ Thiên Chúa

Cuối thánh lễ, ĐTC đã đến trước tượng ảnh Đức Mẹ và đọc một kinh do chính ngài soạn:

”Lạy Mẹ là Sao Biển, một lần nữa chúng con chạy đến cùng Mẹ để tìm được nơi nương náu và thanh thản, để khẩn cầu sự bảo vệ và cứu giúp. Lạy Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng con, xin hướng cái nhìn rất dịu dàng của Mẹ trên tất cả những người hằng ngày đang phải đương đầu với những nguy hiểm của biển khơi để mưu sinh cho gia đình họ, để bảo vệ sự tôn trọng thiên nhiên, để phục vụ hòa bình giữa các dân tộc. Lạy Mẹ là người bảo vệ những người di dân và lữ hành, với lòng từ mẫu, xin Mẹ giúp đỡ những người nam, nữ và trẻ em buộc lòng phải trốn chạy khỏi quê hương của họ để tìm kiếm tương lai và hy vọng.

”Xin cho cuộc gặp gỡ của họ với chúng con và với các dân tộc chúng con không biến thành một nguồn mạch của những nạn nô lệ mới mẻ và nặng nề, tủi nhục hơn cho họ.

Lạy Mẹ từ bi, xin khẩn cầu ơn tha thứ cho chúng con là những người trở nên mù quáng vì ích kỷ, co cụm vào quyền lợi của mình và trở thành nạn nhân của những nỗi lo âu sợ hãi của chúng con, chúng con lơ đãng đối với những nhu cầu và đau khổ của anh chị em. Lạy Mẹ là nơi nương náu cho các tội nhân, xin Mẹ hoán cải những kẻ gây chiến tranh, oán ghét và nghèo đói, những kẻ bóc lột anh chị em và sự mong manh của họ, buôn bán mạng sống con người. Lạy Mẹ là mẫu gương bác ái, xin chúc lành cho những người nam nữ thiện chí, những người tiếp đón và phục vụ những người đến gần phần đất này: ước gì tình thương được đón nhận và trao ban trở thành hạt giống sinh ra những quan hệ huynh đệ mới mẻ và là bình minh của một thế giới an bình. Amen”

Thánh lễ kết thúc lúc quá 11 giờ rưỡi trưa. Sau đó, ĐTC còn đến thăm thăm giáo xứ thánh Gerlando ở đảo Lampedusa trước khi trở lại phi trường lúc 12 giờ rưỡi để trở về Roma.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Lời cầu nguyện và cuộc sống kết hiệp với Chúa Kitô bảo đảm sự phong phú của sứ mệnh rao truyền Tin Mừng

Lời cầu nguyện và cuộc sống kết hiệp với Chúa Kitô bảo đảm sự phong phú của sứ mệnh rao truyền Tin Mừng

Các bạn hãy là những người của đời cầu nguyện. Hãy vun trồng chiều kích chiệm niệm cả trong cơn lốc của các dấn thân cấp bách nhất. Việc phổ biến Tin Mừng không được bảo đảm bởi số người, hay uy tín của cơ cấu, hoặc phẫm chất các tài nguyên có được, nhưng bởi sự thấm nhập và kết hiệp sâu thẳm với Chúa Kitô.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên trong bài giảng thánh lễ cử hành lúc 9 giờ rưỡi sáng hôm qua trong đền thờ thánh Phêrô, nhân ngày cử hành hương Năm Đức Tin của 6,000 chủng sinh, tập sinh và thỉnh sinh đến từ khắp nơi trên thế giới kể cả các nước xa như Trung Quốc, Việt Nam, Papua Tân Guinea, Quần đảo Salomon, Zimbabwe và Chile.

Cùng đồng tế thánh lễ với Đức Thánh Cha có hàng chục Hồng Y, Giám Mục và gần 400 Linh Mục với sự tham dự của hàng ngàn tín hữu và du khách hành hương.

Mở đầu bài giảng Đức Thánh Cha đã nói lên niềm vui được cử hành đức tin đặc biệt trong thánh lễ cùng với các chủng sinh tập sinh và thỉnh sinh là sự tươi trẻ của Giáo Hội. Nếu Giáo Hội là Hiền Thê của Chúa Kitô, thì trong một nghĩa nào đó, họ diễn tả sự đính hôn, mùa xuân của ơn gọi, của sự khám phá, kiểm thực và đào tạo.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã quảng diễn ý nghĩa các bài đọc phụng vụ Chúa Nhật thứ 14 thường niên năm C nói về sứ mệnh rao truyền Tin Mừng, niềm vui an ủi, thập giá và lời cầu nguyện. Bài đọc thứ nhất trích tư sách ngôn sứ Isaia nói tới niềm vui của sự an ủi. Ngôn sứ nói với một dân tộc đã trải qua một thời kỳ đen tối của kiếp lưu đầy, bị thử thách cam go, nhưng giờ đây đã tới thời ủi an cho Giêrusalem; sự buồn sầu và nỗi sợ hãi phải nhường chỗ cho niềm vui (Is 66,10). Lý do là vì Chúa sẽ đổ tràn đầy trên Thành Thánh và dân cư của nó một ”thác” của sự ủi an, tràn đầy ủi an, mốt thác của hiền dịu mẫu tử:” Các ngươi sẽ được bồng ẵm trên tay và được vuốt ve trên đầu gối. Như bà mẹ để con thơ trên đầu gối và vuốt ve nó, Thiên Chúa cũng sẽ làm như vậy với chúng ta (Is 66,12-13). Áp dụng vào cuộc sống tín hữu và các người được mời gọi sống đời thánh hiến Đức Thánh Cha nói:

Mỗi tín hữu kitô, nhất là chúng ta, chúng ta được mời gọi đem sứ điệp hy vọng trao ban sự thanh thản và niềm vui: sự ủi an của Thiên Chúa và sự hiền dịu của Người cho tất cả mọi người. Nhưng chúng ta sẽ chỉ là những người đem tin vui, nếu trước tiên sống niềm vui được Chúa an ủi và được Ngài yêu thương. Đây là điều quan trọng để cho sứ mệnh của chúng ta được phong phú: cảm nghiệm sự an ủi của Thiên Chúa và thông truyền nó. Đôi khi tôi thấy vài người sống đời thánh hiến sợ hãi sự ủi an của Thiên Chúa, và thật tội nghiệp, họ hành hạ chính mình, vì họ sợ sự hiền dịu của Thiên Chúa. Nhưng mà anh chị em đừng sơ, đừng sợ! Chúa là Chúa của sự ủi an, Chủa của tình hiền dịu. Chúa là Cha, và Người nói với chúng ta rằng Người sẽ làm với chúng ta như một bà mẹ làm với con nhỏ của mình,, với lòng hiền dịu. Anh chị em đừng sợ hãi sự ủi an của Thiên Chúa. Lời ngôn sứ Isaia mời gọi phải vang lên trong con tim chúng ta: ”Hãy an ủi, hãy an ủi dân Ta” (Is 40,1) và trở thành sứ mệnh. Tìm ra Chúa là Đấng ủi an và ra đi an ủi dân của Thiên Chúa. Đó là sứ mệnh của chúng ta. Con người ngày nay chắc chắn cần lời nói, nhưng nhất là cần chúng ta làm chứng cho lòng thương xót, sự hiền dịu của Chúa suởi ấm con tim, thức tỉnh niềm hy vọng và lôi kéo tới sự thiện. Niềm vui đem sự ủi an của Thiên Cháu đến cho con người!

Tiếp tục bài giảng Đức Thánh Cha khai triển ý nghĩa bài đọc thứ hai trích từ thư thánh Phaolô gửi tín hữu Galát, trong đó thánh nhân khẳng định rằng: ”Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta!” (Gl 6,14). Và thánh nhân nói tới các dấu tích, nghĩa là các vết thương của Chúa Giêsu Bị Đóng Đanh như là dấu ấn đặc biệt trong cuộc sống của người là Tông Đồ của Tin Mừng. Trong sử vụ của mình thánh Phaolô đã sống kinh nghiệm khổ đau, yếu đuối và thất bại, nhưng cũng sống kinh nghiệm niềm vui và sự an ủi. Đây là mầu nhiệm vượt qua của Chúa Giêsu: mầu chiệm của cái chết và sự sống lại. Chính việc để cho mình trở nên đồng hình dạng với cái chết của Chúa Giêsu khiến cho thánh Phaolô đã tham dự vào sự phục sinh và chiến thắng của Chúa. Trong giờ phút của đen tối và thử thách bình minh của ánh sáng và sự cứu rỗi đã hiện diện và hoạt động. Mầu nhiệm vượt qua là con tim phập phồng của Giáo Hội! Và nếu chúng ta ở trong mầu nhiệm đó, chúng ta được che chở khỏi một quan niệm trần thế và duy khải hoàn của sứ mệnh truyền giáo, cũng như khỏi sự chán nản ngã lòng có thể nảy sinh trước các thử thách và thất bại. Đức Thánh Cha giải thích sự phong phú của việc loan báo Tin Mừng như sau:

Sự phong phú của việc loan báo Tin Mừng không tới từ sự thành công cũng không tới sự việc thất bại theo các tiêu chuẩn của con người, nhưng từ việc trở thành đồng hình dạng với cái luận lý của Thập Giá Chúa Giêsu là luận lý của việc ra khỏi chính mình để tự cho đi, cái luận lý của tình yêu thương. Chính Thập giá – luôn luôn là Thập giá với Chúa Kitô – bảo đảm cho sự phong phú của sứ mệnh loan báo Tin Mừng của chúng ta. Và chính từ Thập Giá, cử chị tuyệt đỉnh của lòng thương xót và tình yêu thương mà chúng ta đươc tái sinh như thụ tạo mới (Gl 6,15).

Yếu tố thứ ba bảo đảm cho sứ mệnh loan truyền Tin Mừng của Giáo Hội là lời cầu nguyện. Chúng ta đã nghe Chúa nói trong Phúc Âm: ”Các con hãy cầu xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Lc 10,2). Các người thợ đã không được chọn qua các chiến dịch quảng cáo hay kêu gọi phục vụ quảng đại, nhưng được Thiên Chúa ”chọn” và ”sai đi”. Chính Người tuyển chọn, chính Người sai đi, chính Người ban sứ mệnh. Vì thế cầu nguyện quan trọng. Đức Thánh Cha Biển Đức XVI đã lập lại với chúng ta rằng: Giáo Hội không phải của chúng ta, mà là của Thiên Chúa. Biết bao lần chúng ta, những người được thánh hiến, chúng ra nghĩ rằng nó là của chúng ta, phải không? Chúng ta làm… cái gì đến trong trí… Nhưng mà Giáo Hội không phải của chúng ta, mà là của Thiên Chúa; cánh đồng trồng tỉa là của Người. Như thế sứ mệnh truyền giáo là ơn thánh. Và nếu việc tông đồ là hoa trái của lời cầu nguyện, thì nó sẽ tìm thấy trong đó sức mạnh cho hoạt động của nó. Thật thế, sứ mệnh của chúng ta không phong phú, còn hơn thế nữa tắt lịm, chính trong lúc chúng ta ngưng việc tiếp nối với suối nguồn, với Chúa. Một trong các người đào tạo các bạn hôm trước có nói với tôi rằng ”việc truyền giáo phải làm trên đầu gối”. Hãy nghe rõ: ”việc truyền giáo phải làm trên đầu gối.” Rồi Đức Thánh Cha mời gọi các chúng sinh, tập sinh, thỉnh sinh và mọi người như sau:

Anh chị em hãy luôn luôn là những người của lời cầu nguyện. Không có tương quan liên lỉ này với Thiên Chúa sứ mệnh trở thành một nghề. Nhưng mà bạn làm việc như là ai, là thợ may, đầu bếp, linh mục, làm việc như linh mục, như nữ tu? Không. Nó không phải là một nghề, nó là một cái gì khác. Nguy cơ của việc duy hoạt động, tin tưởng qúa nơi các cơ cấu luôn luôn rình rập chúng ta. Nếu nhìn Chúa Giêsu, chúng ta thấy trước mỗi quyết định hay biến cố quan trọng Người cầm trí cầu nguyện sâu xa và lâu giờ. Chúng ta hãy vun trồng chiều kích chiêm niệm, cả trong cơn lốc của các dấn thân cấp bách nhất. Sứ mệnh càng mời gọi các bạn đi ra vùng ngoại ô cuộc đời bao nhiêu, thì con tim các bạn lại càng phải kết hiệp với con tim tràn đầy thương xót và tình yêu của Chúa Giêsu bấy nhiêu. Đó chính là bí mật của sự phong phú mục tử, của sự phong phú của một môn đệ Chúa.

Chúa Giêsu sai các môn đệ ra đi ”không giỏ, không bị, không dép” (Lc 10.4). Việc phổ biến Tin Mừng không được bảo đảm bởi số người, hay uy tín của cơ cấu, hoặc phẩm chất các tài nguyên có được. Điều đáng kể là được thấm nhuần tình yêu của Chúa Kitô, để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn, và tháp nhập cuộc sống mình vào cây sự sống là thập giá Chúa.

Lúc 12 giờ trưa Đức Thánh Cha đã ra cửa sổ dinh tông tòa để đọc kinh Truyền Tin với 50,000 tín hữu và du khách hành hương. Trong bài huấn dụ ngắn ngài mời gọi tất cả mọi người hăng say rao truyền Tin Mừng đáp lại mệnh lệnh của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã không muốn hành động một mình. Người đến trong thế giới là để đem tình yêu thương của Thiên Chúa đến cho con người và muốn phổ biến nó với kiểu cách của sự hiệp thông, của tình huynh đệ. Vì thế Người thành lập ngay một cộng đoàn môn đệ, một cộng đoàn truyền giáo với mục đích cấp bách là loan báo Tin Mừng. Không có thời giờ để bép xép, không cần chờ đợi sự đồng thuận của mọi người, phải ra đi loan báo Tin Mừng, đem hòa bình của Chúa Kitô tới cho mọi người; và nếu người ta không chấp nhận thì cứ tiến bước; đồng thời chữa lành người đau yếu vì Thiên Chúa muốn chữa lành con người khỏi mọi sự dữ. Cộng đoàn truyền giáo đó gồm Mười Hai Tông Đồ diễn tả các Giám Mục thừa kế các vị; còn 72 môn đệ diễn tả các thừa tác viên có chức thánh các linh mục và phó tế; nhưng trong một nghĩa rộng nào đó có thể nghĩ tới các thừa tác viên khác trong Giáo Hội, các giáo lý viên, các giáo dân dấn thân trong các giáo xứ, làm việc với các bệnh nhân và nhiều hình thức khó khăn và bị gạt ra bên lề khác nhau, nhưng luôn luôn là các thừa sai của Tin Mừng.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã đặc biệt chào 1,500 bạn trẻ Roma chuẩn bị đi Rio de Janeiro tham dự ngày Quốc Tế Giới Trẻ lần thứ 28 và Đức Thánh Cha nói ngài cũng đang chuẩn bị cho lễ hội đức tin này.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Thánh Cha Phanxicô ca ngợi Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận

Đức Thánh Cha Phanxicô ca ngợi Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận

VATICAN. ĐTC Phanxicô ca ngợi tiếng thăm thánh thiện của ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận và phó thác cho Mẹ Maria sự tiếp tục án phong chân phước cho ĐHY.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến lúc 12 giờ trưa ngày 6 tháng 7-2913 dành cho 400 tham dự viên các sinh hoạt trong 2 ngày ở Roma nhân dịp kết thúc giai đoạn giáo phận trong tiến trình điều tra phong chân phước cho ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận. Hiện diện tại buổi tiếp kiến, đặc biệt có ĐHY Peter Turkson, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, Đức TGM Stephano Nguyễn Như Thể, Đức Cha Giuse Võ Đức Minh, GM Nha Trang, các chức sắc của Hội đồng Công lý và Hòa bình, cùng với các vị ân nhân, đông đảo tín hữu Việt Nam từ các nước.

Lên tiếng sau lời chào mừng của ĐTC Turkson, ĐTC Phanxicô nói:

Anh em đáng kính,

Anh chị em thân mến,

Tôi hài lòng được gặp và nồng nhiệt chào mừng anh chị em. Tôi thân ái chào ĐHY Peter Turkson và cám ơn ĐHY vì những lời chào mừng. Tôi chào tất cả anh chị em từ các nơi trên thế giới đến đây nhân dịp kết thúc giai đoạn giáo phận trong án phong của vị Tôi Tớ Chúa ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận.

Các bạn thân mến, niềm vui của các bạn cũng là của tôi! Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa!

Và tôi cũng cám ơn tất cả những người dấn thân trong việc phục vụ này để làm vinh danh Thiên Chúa và Nước Chúa: Vị thỉnh nguyện viên án phong là tiến sĩ Waldery Hilgeman và các cộng sự viên, Tòa án giáo phận và Văn Phòng đặc nhiệm của tòa Giám quản Roma, Ủy ban sử học và chính Hội đồng Tòa Thánh Công lý và Hòa bình, nơi là ký ức về ĐHY Văn Thuận, chứng nhân hy vọng, vẫn luôn sinh động và không phải chỉ là một ký ức, nhưng còn là một sự hiện diện tinh thần tiếp tục mang lại phúc lành của Người.

Thực vậy, nhiều người có thể làm chứng là đã được khích lệ nhờ được gặp gỡ với Vị Tôi Tớ Chúa Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận, qua những giai đoạn khác nhau trong cuộc sống của Người. Kinh nghiệm ấy chứng tỏ tiếng tăm thánh thiện của Người được phổ biến qua chứng tá của bao nhiêu người đã gặp ĐHY và vẫn còn giữ trong tâm hồn nụ cười hiền hòa và tâm hồn cao cả của Người.

”Nhiều người đã biết Đức Cố Hồng Y qua các tác phẩm của Người, đơn sơ và sâu xa, chứng tỏ tâm hồn tư tế của Người được kết hiệp sâu xa với Đấng đã kêu gọi Người trở thành thừa tác viên lòng từ bi và tình thương của Chúa.
Bao nhiêu người đã viết, kể lại những ơn lành và dấu lạ mà họ tin là nhờ lời chuyển cầu của Vị Tôi Tớ Chúa, ĐHY Văn Thuận. Chúng ta cảm tạ Chúa vì Người Anh đáng kính này, người con của Đông Phương, đã kết thúc hành trình trần thế của Người trong việc phục vụ Người Kế Vị Thánh Phêrô.

Chúng ta hãy phó thác cho sự chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria sự tiếp tục án phong này, cũng như tất cả các án phong đang tiến hành. Xin Đức Mẹ giúp chúng ta ngày càng sống trong cuộc đời chúng ta vẻ đẹp và niềm vui được hiệp thông với Chúa Kitô.

Tôi thành tâm ban phép lành cho tất cả anh chị em và những người thân yêu của anh chị em”.

Lúc 4 giờ chiều 6 tháng 7-2013, đã có thánh lễ tạ ơn tại Nhà Thờ Đức Mẹ Cầu Thang của dòng Camêlô Nhặt Phép ở Roma, nơi có mộ của ĐHY Nguyễn Văn Thuận.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio