Thẩm Phán Sonia Sotomayor ngăn chận một phần của luật chăm sóc sức khỏe

Thẩm Phán Sonia Sotomayor ngăn chận một phần của luật chăm sóc sức khỏe

Sonia Sotomayor

Washington – Một thẩm phán Tối Cao Pháp Viện  đã ngăn  chận một số phần về luật chăm sóc sức khỏe của Tổng thống Barack Obama bắt buộc một số tổ chức cơ sở tôn giáo phải cung cấp bảo hiểm y tế cho công nhân viên bao gồm kiểm soát sinh đẻ.

Quyết định của thẩm phán Sonia Sotomayor được đưa ra đêm thứ Ba ngày 31 tháng 12 năm 2013, một giờ trước khi đón giao thừa 2014, sau khi một nỗ lực khác nhau của các nhóm cơ sở Công giáo trực thuộc từ khắp nơi trên nướcHoa Kỳ. Các nhóm hội đoàn cùng nhau đến tòa án liên bang để ngăn chặn sự bắt đầu vào ngày thứ Tư của đạo luật Obamacare.

Sotomayor hành động theo yêu cầu của một dòng của các nữ tu Công giáo ở Colorado, mà đã bị từ chối bởi các tòa án thấp hơn trước đây.

Sotomayor cho chính phủ thời hạn đến sáng thứ Sáu để trả lời quyết định của mình.

Các tổ chức cơ sở Công giáo đã cố gắng thực hiện một nỗ lực cuối cùng phút ngày thứ ba để có được Tối Cao Pháp Viện ngăn chặn một vài phần của luật chăm sóc sức khỏe của Tổng thống Barack Obama là phải cung cấp bảo hiểm y tế cho sinh viên và công nhân viên bao gồm kiểm soát sinh đẻ.

Một số tổ chức , bao gồm cả Tòa Tổng Giám Mục Washington , Giáo phận Công giáo của Nashville , Đại học Công giáo và Hội nghị Công giáo Michigan, yêu cầu các thẩm phán ngăn chặn pháp luật cho đến các yêu cầu của họ được lắng nghe . Các phần khác của Đạo Luật Chăm sóc sức khỏe Giá cả phải chăng sẽ có hiệu lực vào ngày thứ Tư đầu năm 2014.

Bắt đầu vào ngày đầu năm, " luật quy định sẽ phạt nặng nề nhiều tổ chức Công giáo, trừ khi họ từ bỏ niềm tin tôn giáo của họ và có phải có hành động để tạo điều kiện dễ dàng cho việc dùng  thuốc phá thai , ngừa thai và triệt sản cho nhân viên và học sinh của mình ", Đây là lời của luật sư Noel J. Francisco nói và kháng cáo cho thẩm phán John Roberts và Elena Kagan.

Luật pháp yêu các chủ hãng, người mướn công nhân viên phải cung cấp bảo hiểm, bao gồm các dịch vụ chăm sóc dự phòng, miễn phí , bao gồm cả biện pháp ngừa thai. Nhưng Giáo Hội Công Giáo cấm việc sử dụng biện pháp ngừa thai.

Vào năm 2012, Tối Cao Pháp Viện duy trì tính hợp hiến của của Đạo Luật Chăm sóc Giá cả phải chăng , nói rằng bảo hiểm là bắt buộc và sẽ bị phạt trên tiền thuế mà mức thuế đó sẽ do quốc hội áp đặt.

Chính quyền Obama tạo nên một sự thỏa hiệp, hoặc sự thích nghi, mà đã cố gắng để tạo ra một gạch nối cho các bệnh viện theo tôn giáo , các trường đại học và các nhóm dịch vụ xã hội phản đối ngừa thai. Luật pháp yêu cầu công ty bảo hiểm bên ngoài chương trình y tế trả cho bảo hiểm ngừa thai và sẽ tìm ra một cách khác để hoàn trả lại.

Nếu như các tổ chức, cơ sở  Công Giáo không tuân thủ theo đạo luật , có thể bị phạt  tiền $ 100.00 một ngày cho mỗi người, và nếu bỏ bảo hiểm chăm sóc sức khỏe của mình, họ sẽ phải chịu tiền phạt hàng năm là $ 2,000 cho nhân viên làm toàn thời gian sau 30 nhân viên đầu tiên , và / hoặc phải đối mặt với những hậu quả tai hại sau đó.

Thái Trọng

Mọi người đều có bổn phận xây dựng một thế giới hòa bình công bằng và liên đới hơn

Mọi người đều có bổn phận xây dựng một thế giới hòa bình công bằng và liên đới hơn

Mẹ Maria đồng hành với chúng ta trên con đường lòng tin và liên tục củng cố đức tin ơn gọi và sứ mệnh kitô của chúng ta. Là con cai Chúa và anh chị em với nhau trong gia đình nhân loại, mọi người đều có bổn phận hoạt động để xây dựng một thế giới hòa bình, công bằng, huynh đệ và liên đới hơn.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã khẳng định như trên trong bài giảng thánh lễ và bài huấn dụ trước khi đọc kinh Truyền Tin chung với 140,000 tín hữu tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô trưa Chúa Nhật mùng 1 tháng Giêng đầu năm dương lịch 2014.

Lúc 10 giờ sáng thứ tư hôm qua, mùng 1 tháng giêng đầu năm dương lịch 2014 cũng là Ngày hòa bình thế giới lần thứ 47, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự thánh lễ kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa trong đền thờ Thánh Phêrô. Cùng đồng tế thánh lễ có hàng chục Hồng Y, Tổng Giám Mục, Giám Mục, và hàng trăm linh mục, trong đó có 70 vị giúp Đức Thánh Cha cho tín hữu rước Mình Thánh Chúa. Tham dự thánh lễ có hàng trăm linh mục tu sĩ nam nữ, ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh và gần 10,000 tín hữu. Đứng hai bên Đức Thánh Cha là Đức Hồng Y Peter Turkson, Chủ tịch Hồi Đồng Tòa Thánh Công Lý và Hòa Bình, và Đức Tổng Giám Mục Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh.

Thánh lễ đã được cử hành bằng tiếng Latinh. Hai bài Sách Thánh đã được tuyên đọc bằng tiếng Pháp và tiếng Anh. Thánh vịnh được hát bằng tiếng Ý và Phúc Âm đã được hát bằng tiếng Latinh. Phần thánh ca đã do ca đoàn Sistina của Tòa Thánh và ca đoàn hỗn hợp gồm 370 ca viên đảm trách.

Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha nói:

Bài đọc thứ nhất tái đề nghị với chúng ta lời chúc lành cổ xưa mà Thiên Chúa đã gợi ý cho ông Môshê để ông dậy cho ông Aharon và con cái ông: ”Xin Chúa chúc lành cho anh em và gìn giữ anh em. Xin Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em. Xin Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em” (Ds 6,24-26). Thật là ý nghĩa, khi nghe lại các lời chúc lành này vào đầu năm mới: chúng sẽ đồng hành với lộ trình của thời gian mở ra trước mặt chúng ta. Chúng là các lời của sức mạnh, lòng can đảm và niềm hy vọng. Không phải một niềm hy vọng hão huyền, dựa trên các lời hứa của con người; cũng không phải một niềm hy vọng ngây thơ tưởng tượng ra một tương lai tốt đẹp hơn. Niềm hy vọng này có lý do của nó chính trong phúc lành của Thiên Chúa, một phúc lành chừa đựng lời cầu chúc lớn nhất, lời cầu chúc của Giáo Hội gửi đến từng người trong chúng ta, tràn đầy tất cả sự chở che yêu thương của Chúa và sự trợ giúp quan phòng của Ngài.

Tiếp tục bài giảng Đức Thánh Cha nói: Lời cầu chúc chứa đựng trong phúc lành này đã đựơc thực hiện một cách tràn đầy nơi một phu nữ là Đức Maria, như là người đã được chỉ định trở thành Mẹ của Thiên Chúa, và đã được thực hiện nơi Mẹ trước mọi thụ tạo.

Mẹ Thiên Chúa! Đây là tước hiệu chình và nòng cốt của Đức Mẹ. Đây là một phẩm tính, một vai trò, mà đức tin của dân kitô đã luôn luôn nhận thức được trong lòng sùng mộ dịu hiền và tinh tuyền đối với người mẹ thiên quốc. Chúng ta nhớ lại thời điểm lớn lao trong lịch sử Giáo Hội xưa kia là Công Đồng Chung Ệphêxô, trong đó chức là Mẹ Thiên Chúa của Đức Trinh Nữ đã được định nghĩa một cách uy quyền. Chân lý về chức làm Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria tìm thấy sự vang vọng tại Roma, nơi ít lâu sau đó đã được xây Vương cung thánh đường Đức Bà Cả, là đền thánh đầu tiên tại Roma và trong toàn Tây Phương, nơi tôn kính ảnh Mẹ Thiên Chúa Theotokos – với tước hiệu ”Sự cứu rỗi của dân Roma”. Người ta kể rằng trong Công Đồng dân chúng thành Êphêxô tụ họp hai bên cửa vương cung thánh đường nơi các Giám Mục đang nhóm họp và kêu lên: ”Mẹ Thiên Chúa!”. Khi xin định nghĩa một cách chính thức tước hiệu này của Đức Mẹ, tín hữu chứng minh cho thấy họ nhìn nhận chức làm Mẹ Thiên Chúa của Người. Đó là thái độ tự phát và chân thành của con cái nhận biết rõ Mẹ mình, bởi vì họ yêu Mẹ với tình yêu hiền dịu vô biên.

Mẹ Maria đã luôn luôn hiện diện trong con tim, trong lòng mộ mến và nhất là trên con đường đức tin của dân kitô. ”Giáo Hội bước đi trong thời gian… và trên con đường này Giáo Hội tiến bước theo lộ trình Đức Trinh Nữ Maria đã đi” (Gioan Phaolô II, Redemtoris Mater, 2). Lộ trình lòng tin của chúng ta giống lộ trình của Đức Maria, vì thế chúng ta cảm thấy Mẹ đặc biệt gần gũi với chúng ta!. Đức Thánh Cha giải thích thêm con đường đức tin của Mẹ Maria như sau:

Liên quan tới đức tin, là cột trụ của cuộc sống kitô, Mẹ Thiên Chúa đã chia sẻ điều kiện của chúng ta, Mẹ đã phải bước đi trên cùng các nẻo đường chúng ta đi, đôi khi khó khăn và tăm tối, Mẹ đã phải tiến tới trong ”cuộc hành hương đức tin” (LG, 58).

Con đường đức tin của chúng ta được gắn liền với Đức Maria một cách không thể hủy bỏ được, kể từ khi Chúa Giêsu hấp hối thập giá đã ban Người cho chúng ta làm Mẹ khi nói: ”Này là Mẹ con” (Ga 19,27). Các lời này có giá trị của một di chúc và ban cho thế giới một Bà Mẹ. Từ khi đó Mẹ Thiên Chúa cũng trở thành Mẹ chúng ta! Trong giờ phút, trong đó đức tin của các môn đệ bị nghiêng ngả bởi biết bao khó khăn và bất ổn, Chúa Giêsu đã tín thác các vị cho Đấng là người đầu tiên đã tin, và niềm tin của Người đã không bao giớ suy giảm. Và ”người đàn bà” trở thành Mẹ chúng ta trong lúc Người mất Con Thiên Chúa. Trái tim của Mẹ nở rộng để có chỗ cho tất cả mọi người, tốt cũng như xấu, và Mẹ yêu thương họ như Chúa Giêsu đã yêu thương họ. Mẹ là Người đàn bà mà trong đám cưới làng Cana vùng Galilea đã trao ban sự cộng tác đức tin để biểu lộ các việc kỳ diệu của Thiên Chúa trong thế giới; trên núi Sọ Người giữ cho ngọn lửa đức tin nơi sự phục sinh của Con được cháy sáng, và Người thông truyền nó cho người khác với tình mẫu tử. Như thế Đức Maria trở thành suối nguồn hy vọng và niềm vui đích thật!.

Mẹ Đấng Cứu Thế đi trước chúng ta và liên tục củng cố chúng ta trong đức tin, trong ơn gọi và sứ mệnh. Với gương mẫu sự khiêm nhường và sẵn sàng của Mẹ đối với ý muốn của Thiên Chúa, Mẹ trợ giúp chúng ta diễn tả đức tin của chúng ta thành lời loan báo Tin Mừng tươi vui và vô biên giới. Như thế sứ mệnh của chúng ta sẽ phong phú, bởi vì được nhào nặn theo chức làm mẹ của Đức Maria. Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ lộ trình đức tin của chúng ta, các ước mong trong con tim chúng ta, các nhu cầu của chúng ta và các nhu cầu của toàn thế giới, đặc biệt nỗi đói khát công lý và hòa bình, và chúng ta hãy cùng nhau tất cả khẩn nài Mẹ: lậy Mẹ Thiên Chúa!

Các lời nguyện giáo dân đã được đọc trong các thứ tiếng Ý, Hoa, Tây Ban Nha, A rập và Bồ Đào Nha. Xin Chúa Giêsu Con Thiên Chúa quy tụ mọi con cái Thiên Chúa tản mát khắp nơi về trong sự hiệp thông đích thật của Tin Mừng và các Bí tích; Xin Chúa Giêsu là Hoàng Tử Hòa Bình chiến thắng mọi chia rẽ, thù hận, báo oán, và xin cho mọi dân tộc được sống kinh nghiệm hòa bình; Xin Chúa Giêsu đã nhập thể trong cung lòng trinh nữ Maria, chúc lành cho tất cả mọi phụ nữ và bà mẹ được mời gọi sinh con, giữ gìn và thăng tiến sự sống; Xin Chúa Giêsu đã xuất hiện ở chân trời của nhân loại khi tới thời viên mãn, giáo dục mọi người biết hoạt động trong lịch sử, nhưng luôn hướng tới cuộc sống vĩnh cửu; Xin Chúa Giêsu Con Thiên Chúa làm người giúp mọi tín hữu đã được rủa tội ý thức và tươi vui sống điều kiện là con Thiên Chúa và được tái sinh trong Ơn thánh.

Trong phần dâng lễ vật có ba em bé thuộc nhóm các trẻ em Đức và Áo trong mùa Giáng Sinh đi hát thánh ca quyên tiền giúp các trẻ em nghèo trên thế giới.

Lúc 12 giờ trưa Đức Thánh Cha đã xuất hiện tại cửa sổ dinh Tông Tòa để đọc kinh Truyền Tin với 140,000 tín hữu tụ tập tại quảng trường Thánh Phêrô, trong đó có hàng trăm nhóm tham dự cuộc tuần hành cho hòa bình do cộng đoàn thánh Egidio, các hiệp hội và phong trào kitô và hòa bình tổ chức ngày mùng 1 tháng Giêng hàng năm. Năm nay cuộc tuần hành cho hòa bình đã được tổ chức trong 700 thành phố trên toàn thế giới.

Mở đầu bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã chúc mọi người được hòa bình và mọi điều thiện hảo trong năm mới 2014, Ngài nói: Lời chúc này của Giáo Hội đựa trên biến cố chính của lịch sử: Đức Giêsu Kitô nhập thể làm người chết và sống lại. Nó có một đích điểm là Nước Của Thiên Chúa, nước của hòa bình, công lý và tự do trong tình yêu. Nó có một sức mạnh là Chúa Thánh Thần làm cho nó hướng tới đích điểm ấy.

Nhắc tới đề tài sứ điệp hòa bình năm nay là ”Tình huynh đệ, nền tảng và con đường của hòa bình” Đức Thánh Cha khẳng định rằng: nền tảng của hòa bình là xác tín chúng ta tất cả đều là con của một Thiên Chúa Cha duy nhất trên trời, là thành phần của cùng một gia đình nhân loại và cùng chia sẻ một số phận. Từ đây phát xuất ra trách nhiệm của từng người phải hoạt động để thế giới trở thành một cộng đoàn anh em tôn trong nhau, chấp nhận nhau trong các khác biệt và lo lắng cho nhau. Chúng ta cũng được mời gọi tính sổ về các bạo lực và bất công hiện có trong biết bao nhơiêu phần đất của thế giới này, và không thể thờ ơ bất động trước các bất công ấy: mọi người đều phải dấn thân xây dựng một xã hội thật sự công bằng và liên đới hơn. Hộm qua tôi có nhận được một bức thư của một người, cỏ thể là của một người trong anh chị em ở đây, kể lại một thảm cảnh gia đình. Sau đó liệt kê ra một chuỗi các chuyện buồn thương: chiến tranh, bạo lực, thù hận, tàn phá, giết chóc thương đau và đặt cậu hỏi: Chuyện gì đang xảy ra trong trái tim con người? Chuyện gì đang xảy ra trong con tim của nhân loại? Đã đến lúc phải dừng lại. Tôi cũng xin lấy lại lời của người ấy: phải, đã đến lúc chúng ta phải dừng lại. Rồi Đức Thánh Cha nói thêm trong bài huấn dụ:

Từ mọi góc của trái đất ngày hôm nay các tín hữu dâng lên lời cầu xin Chúa ơn hòa bình và khả năng đem nó tới mọi môi trường sống. Trong ngày đầu năm này xin Chúa giúp chúng ta, cùng với tất cả mọi người, cương quyết hơn bước đi trên các con đường của công lý và hòa bình. Xin Chúa Thánh Thần hoạt động trong các con tim, đánh tan các khép kín, các cứng cỏi và ban cho chúng ta biết trở thành hiền dịu trước sự yếu đuối của Hài Nhi Giêsu. Thật thế, hòa bình đòi có sức mạnh của sự hiền dịu, sức mạnh không bạo lực của sự thật và tình yêu thương. Chúng ta hãy đặt để trong tay Mẹ Maria, Mẹ Đấng Cứu Thế, các niềm hy vọng của chúng ta với tình con thảo. Chúng ta hãy phó thác cho Mẹ, là Đấng trải dài tình mẫu tử trên tất cả mọi người, tiếng kêu gào hòa bình của các dân tộc bị áp bức bởi chiến tranh và bạo lực, để lòng can đảm đối thoại và hòa giải thắng vượt các cám dỗ báo thù, độc tài và gian tham hối lộ. Chúng ta xin Mẹ cho Tin Mừng của tình huynh đệ được Giáo Hội loan báo và lám chứng có thể nói với mọi lương tâm, và triệt hạ các bức tường ngăn cản các người thù nghịch nhận nhau là anh em.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc kinh Truyền Tin và ban phép lành đầu năm cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã cám ơn Tổng Thống Italia ông Napolitano về các lời cầu chúc trong sứ điệp cuối năm. Ngài xin Chúa tuôn đổ phúc lành trên tổng thống và toàn dân Italia, để với phần đóng góp có trách nhiệm và liên tđới của mọi người đất nước Italia có thể nhìn tương lai với sự tin tưởng và niềm hy vọng. Ngài cũng cám ơn tất cả các sáng kiến dấn thân cho hòa bình tại khắp nơi trên thé giới trong ngày Hòa Bình thế giới, đặc biệt là cuộc tuần hành toàn quốc tại Campobasso do Hội Đồng Giám Muc Italia cùng phát động chiều ngày 31 tháng 12 cùng với tổ chức Caritas và Hòa Bình Chúa Kitô; cũng như các cuộc biểu tình ”Hòa bình trong mọi vùng đất” do cộng đoàn thánh Egidio tổ chức tại Roma và nhiều nơi khác trên thế giới. Đức Thánh Cha cũng cám ơn các gia đình thuộc phong trào ”Tình yêu gia đình” đã tổ chức buổi canh thức cầu nguyện cuối năm tại quảng trường thánh Phêrô. Ngài cũng không quên chào tất cả mọi du khách hành hương hiện diện tại quảng trường, và đặc biệt cám ơn các ”Ca viên của Ngôi Sao” Sternsinger, tức các trẻ em Đức và Áo đi hát thánh ca trong mùa Giáng sinh để quyên tiền giúp các trẻ em nghèo. Sau cùng ngài cầu chúc mọi người một năm mới an bình trong ơn thánh Chúa và sự che chở hiền mẫu của Mẹ Maria.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Thánh Lễ An Táng Nhạc Sĩ Việt Dzũng

Thánh Lễ An Táng Nhạc Sĩ Việt Dzũng

Thanh Phong/Viễn Đông
 

Thánh Lễ An Táng ca nhạc sĩ Việt Dzũng diễn ra tại Nhà Thờ Thánh Linh (Holy Spirit Catholic Church) thuộc thành phố Fountain Valley vào sáng ngày thứ Hai 30 tháng 12, 2013. (Hình:Hồ Đăng / Viễn Đông)
 

FOUNTAIN VALLEY – “Xin vĩnh biệt mọi người – Tôi ra đi lần cuối, Không bao giờ trở lại – Hẹn nhau trong nước Trời.”

Ca đoàn giáo xứ Thánh Linh đã hát bản thánh ca với những lời như trên trong khi kết thúc thánh lễ an táng ca nhạc sĩ Việt Dzũng, được tổ chức long trọng tại thánh đường Holy Spirit, giáo xứ Thánh Linh, ở địa chỉ 17270 Ward St, Fountain Valley, Nam California vào lúc 10 giờ 30 sáng thứ Hai 30.12.2013.
 
Tin Việt Dzũng qua đời đã được tất cả các cơ quan truyền thông Việt ngữ tại Nam Cali loan tải đến đồng hương khắp nơi trên thế giới. Trung Tâm Asia, đài truyền hình SBTN và SET đã tổ chức lễ truy điệu và vinh danh anh với hàng ngàn người tham dự. Rất nhiều các cơ quan truyền thông, các tôn giáo, hội đoàn, đoàn thể, chính quyền địa phương, các vị dân cử Việt, Mỹ cũng như nhiều cá nhân yêu mến Việt Dzũng đã đến nhà quàn Peek Family để thăm viếng, đọc kinh, cầu nguyện cho anh,
 
Và ngày cuối cùng, trước khi thân xác được chôn vào lòng đất, anh đã được đưa vào thánh đường dự thánh lễ cuối cùng, Thánh Lễ An Táng anh.
 
Ngoài Đức Giám Mục Đa Minh Mai Thanh Lương chủ tế còn có hơn 20 Linh mục và ba Thầy Phó Tế đồng tế Thánh lễ.

 


Linh mục Hoàng Quang Đức đang cử hành nghi thức Tiễn Biệt linh hồn Gioakim Việt Dzũng trước sự chứng kiến của Đức Giám Mục, quý Linh Mục, quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, Tăng, Ni và đồng hương. (Hình: Thanh Phong / Viễn Đông)
 

Tham dự thánh lễ an táng Việt Dzũng có phái đoàn Hội Đồng Liên Tôn cùng đông đảo quý Hòa Thượng, Thượng Tọa, Đại Đức và một số Tăng, Ni Phật Giáo cũng như phái đoàn đại diện Cao Đài và Phật Giáo Hòa Hảo. Thánh đường Thánh Linh quá nhỏ bé không đủ chỗ cho hàng ngàn đồng hương tham dự nên một số khá đông đã dự thánh lễ trong hội trường kế bên nhà thờ qua màn ảnh rộng.
 

Linh cữu ca nhạc sĩ Việt Dzũng được đưa từ Peek Family Funeral Home đến thánh đường vào lúc 9 giờ 30. Tại đây đã có rất đông người đến chờ đón từ lúc 8 giờ sáng theo thông báo của Lille Saigon TV.
 
Đúng 10 giờ 30 Thánh lễ được cử hành. Dù số lượng người quá đông nhưng thánh lễ diễn tiến rất trang nghiêm, sốt sắng.
 
Đức Giám Mục Đa Minh Mai Thanh Lương trong bài giảng, có đoạn ngài nói: “Lời của Chúa hôm nay trong Sách Khôn Ngoan nói rằng ‘Chúa thử thách những người công chính như thử vàng trong lửa.’ Chúng ta nhìn vào cuộc đời Việt Dzũng, chúng ta thấy lời đó áp dụng cho anh rất là rõ ràng. Từ lúc sinh ra anh đã bệnh tật, hết bệnh này đến bệnh khác. Chúng ta thấy anh đi bằng nạng suốt cả cuộc đời nhưng lúc nào anh cũng vui vẻ, có đúng như lời Sách Khôn Ngoan nói hôm nay không?
 
“Điểm thứ hai là Bài Đọc thư gửi tín hữu Roma nói về sự chết không phải là cùng đích mà là khởi sự cho một cuộc sống mới. Ca dao, tục ngữ Việt Nam nói Sinh ký tử quy. Nghĩa là chúng ta sinh ra là chúng ta gửi thân xác ở đời này; khi chúng ta qua khỏi cái đời khổ ải này, chúng ta về (quy) thế giới bên kia, lúc đó mới là quê hương đích thực.
 
“Cho nên Việt Dzũng đã sống trên cuộc đời đó. Lời Phúc Âm của Thánh Phaolo gửi tín hữu Roma áp dụng đúng vào trường hợp Việt Dzũng, và điểm sau cùng, chúng ta nghe Tin Mừng của Thánh Mát Thêu nói về ‘Tám Mối Phúc Thật’ mà trong đó có ba mối mà tôi thấy áp dụng rất đúng với đời sống Việt Dzũng, nhất là ‘Phúc cho những người công chính vì họ bị bách hại, vì Nước Trời là của họ.’
 
“Cho nên ngày hôm nay tất cả chúng ta đến đây, các Linh mục cùng với tôi, các nam nữ tu sĩ, các Thầy Sáu, các vị lãnh đạo tôn giáo bạn, các vị lãnh đạo Đạo, Đời. Tất cả chúng ta đến đây để cùng hiệp dâng Thánh lễ. Chúng ta có thể mừng vì cuộc sống vắn vỏi của Việt Dzũng nhưng đầy đủ ý nghĩa và những thách đố mà Việt Dũng để lại cho chúng ta; đó là điểm thứ ba mà tôi muốn chia sẻ với anh chị em.”
 
Cuối thánh lễ, đại diện cho Cộng Đoàn giáo xứ Thánh Linh lên cám ơn quý Đức Cha, quý Cha và tang quyền đã chọn thánh đường giáo xứ Thánh Linh để cử hành thánh lễ an táng cho anh Việt Dzũng, người đã từng sinh hoạt, gắn bó với cộng đoàn và thay mặt giáo dân, vị đại diện ngỏ lời chia buồn cùng táng quyến anh Việt Dzũng.
 
Đại diện tang gia cũng lên cám ơn quý Đức Cha, quý cha, quý tu sĩ , quý vị lãnh đạo các tôn giáo bạn, quý vị chính quyền, dân cử, các cơ quan truyền thông và tất cả đồng hương không phân biệt tôn giáo đã đến thăm viếng, chia buồn, phúng viếng và tham dự thánh lễ cũng như tiễn đưa cố ca, nhạc sĩ Việt Dzũng đến nơi an nghỉ .
 
Linh mục Hoàng Quang Đức, Phó xứ Thánh Linh đã cử hành nghi thức Tiễn Biệt trước khi linh cữu được di chuyển ra khỏi nhà thờ và một đoàn xe rất dài đã đưa tiễn anh đến nghĩa trang Chúa Chiên Lành, Việt Dzũng đã được an nghỉ vào lòng đất lúc 12 giờ 30 trưa thứ Hai 30-12-2013 trong sự xúc động, nghẹn ngào thương tiếc của mọi người.
 
Viendongdaily

Đức Thánh Cha chủ sự Kinh Chiều Lễ Mẹ Thiên Chúa

Đức Thánh Cha chủ sự Kinh Chiều Lễ Mẹ Thiên Chúa

VATICAN. Chiều 31-12-2013, ĐTC Phanxicô đã chủ sự kinh chiều I lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và kinh Te Deum, Tạ Ơn Thiên Chúa, nhân dịp cuối năm dương lịch. Ngài mời gọi mỗi người dân thành Roma cộng tác để thành này trở nên tốt đẹp hơn trong năm mới.

Hiện diện tại Đền thờ Thánh Phêrô trong buổi hát kinh bắt đầu lúc 5 giờ chiều còn có 30 HY, đặc biệt là ĐHY Agostino Vallini, Giám Quản Roma, 7 GM phụ tá và 40 GM khác, đông đảo các cha sở và khoảng 9 ngàn tín hữu cùng với Ông Đô Trưởng và chính quyền miền Lazio và thành phố Roma.

Đảm nhận phần thánh ca trong buổi hát kinh có nhiều ca đoàn, tổng cộng 360 ca viên, cùng với ca đoàn Sistian của tòa Thánh do Đức Ông Massimo Palombella điều khiển.

Trong bài giảng, ĐTC mời gọi mọi người hãy xét mình xem mình đã sử dụng thế nào thời gian Chúa ban: ”Phải chăng chúng ta đã dùng thời gian đó chủ yếu cho bản thân, cho những tư lợi hay cũng sử dụng nó cho tha nhân, cho Thiên Chúa? Bao nhiêu thời gian chúng ta đã dành để 'ở với Chúa', trong kinh nguyện, trong thinh lặng?”
”Năm nay, chúng ta có góp phần, trong sự 'nhỏ bé' của mình để làm cho thành Roma này có thể sống được, có trật tự và hiếu khách không?”

ĐTC cũng nhận xét về thành Roma với bao nhiêu vẻ đẹp có một không hai, là gia sản tinh thần và văn hóa đặc biệt, nhưng tại đây vẫn có bao nhiêu người phải chịu lầm than về vật chất và tinh thần, những người nghèo khổ, bất hạnh, đau khổ đang gọi hỏi lương tâm không những của nhà cầm quyền, nhưng của mỗi công dân nữa. Tại Roma có lẽ chúng ta cảm thấy mạnh mẽ hơn sự đối nghịch giữa môi trường hoành tráng, và đầy vẻ đẹp nghệ thuật, và tình trạng xã hội khó khăn mà nhiều người phải chịu. Roma là thành phố đầy du khách nhưng cũng đầy người tị nạn; Roma đầy những người làm việc, nhưng cũng có những người không tìm được công ăn việc làm, hoặc phải làm những việc với đồng lương kém, nhiều khi không xứng đáng; tất cả đều có quyền được đối xử với thái độ đón tiếp và công bằng, vì mỗi người đều có phẩm giá con người”.

Từ những nhận định trên đây, ĐTC kêu gọi mỗi người cộng tác để Roma trở nên tốt đẹp hơn trong năm tới: ”Roma sẽ tốt đẹp hơn nếu tất cả chúng ta quan tâm và quảng đại đối với những người gặp khó khăn, nếu chúng ta biết cộng tác trong tinh thần xây dựng và liên đới, cho công ích của mọi người. Roma trong năm mới sẽ tốt đẹp hơn nếu chúng ta không phải là những người chỉ nhìn nó từ xa, nhìn cuộc sống của thành này từ bao lơn, mà không dấn thân vào bao nhiêu vấn đề của con người tại đây.. Trong viễn tượng này Giáo hội tại Roma cảm thấy dấn thân đóng góp phần của mình cho cuộc sống và tương lai thành này, linh hoạt nó bằng men Tin Mừng, trở thành dấu chỉ và dụng cụ lòng từ bi của Thiên Chúa”.

Cuối kinh chiều, có nghi thức đặt Mình Thánh Chúa và hát kinh Te Deum tạ ơn Thiên Chúa. Sau đó, ĐTC đã ra quảng trường thánh Phêrô viếng thăm và cầu nguyện hang đá lớn tại đây.

Ngoài ra tối 31-12-2013, có buổi canh thức tại Quảng trường thánh Phêrô để cầu nguyện cho sự hiệp nhất và hòa bình trong các gia đình và giữa các dân nước. Đây là lần thứ 11, Phong trào tình yêu gia đình tổ chức và cổ võ buổi canh thức thuộc loại này. Đức Cha Matteo Zuppi, GM phụ tá Roma, đã khai mạc buổi cầu nguyện này từ lúc 23 giờ 15 phút (SD 31-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Biết xin phép, cám ơn và xin lỗi là các thái độ sống đem lại an bình và niềm vui trong cuộc sống gia đình

Biết xin phép, cám ơn và xin lỗi là các thái độ sống đem lại an bình và niềm vui trong cuộc sống gia đình

Muốn có an bình và niềm vui trong gia đình, chúng ta hãy biết sống ba từ chìa khóa sau đây: xin phép, cám ơn và xin lỗi. Khi trong một gia đình người ta không xâm lần nhau, nhưng biết xin phép. Khi trong một gia đình người ta không ích kỷ, nhưng tập nói tiếng cám ơn. Khi trong một gia đình một người nhận ra mình đã làm điều xấu và biết xin lỗi, thì trong gia đình ấy có an bình và niềm vui.

Kính thưa qúy vị thưa các bạn, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hơn 100,000 tín hữu và du khàch hành hương trong buổi đọc kinh Truyền Tin chung trưa Chúa Nhật hôm qua tại quảng trường Thánh Phêrô.

Mở đầu bài huấn dụ Đức thánh Cha nói phụng vụ Chúa Nhật thứ nhất sau lễ Giáng Sinh mời gọi chúng ta cử hành lễ Thánh Gia Nagiarét. Thật thế, mọi hang đá đều cho chúng ta thấy Chúa Giêsu Đức Mẹ và Thánh Giuse trong hang đá Bếtlêhem. Thiên Chúa đã muốn sinh ra trong một gia đình nhân loại, đã muốn có một người mẹ và một người cha. Phúc Âm hôm nay giới thiệu với chúng ta Thánh Gia trên đường đầy ải đau đớn kiếm tìm nơi trú ẩn bên Ai Cập. Thánh Giuse, Mẹ Maria và Chúa Giêsu đã sống kinh nghiệm điều kiện thê thảm của những người tị nạn, ghi dấu bởi sự sơ hãi, bất an và các khó khăn (x. Mt 2,13-15.19-23). Áp dụng vào thảm cảnh của người di cư tị nạn ngày nay Đức Thánh Cha nói:

Rất tiếc ngày nay có hàng triệu gia đình có thể nhận ra mình trong thực tại buồn thương này. Hầu như mỗi ngày đài truyền hình và báo chí đưa tin các người di cư trốn chay đói khát, chiến tranh, và các hiểm nguy trầm trọng khác để tìm an ninh và một cuộc sống xứng đáng hơn cho mình và cho gia đình mình.

Trong các vùng đất xa xôi, cả khi tìm thấy công ăn việc làm, các người tị nạn và di cư không luôn luôn gặp được sự tiếp đón đích thật, lòng tôn trong và việc đánh gia cao các giá trị họ đem theo. Các chờ mong hợp pháp của họ thường gặp các tình trạng phức tạp và các khó khăn xem ra không thể vượt thắng được. Tuy nhiên, trong khi gắn chặt cái nhìn vào Thánh Gia Nagiarét phải bó buộc tị nạn, chúng ta nghĩ tới thảm cảnh của các người di cư ti nạn, nạn nhân của khước từ và khai thác bóc lột. Nhưng chúng ta cũng nghĩ tới ”những người bị đầy ải” trong chính các gia đình: chẳng hạn các người già cả, đôi khi bị đối xử như là những sự hiện diện kềnh càng ngăn cản. Rất nhiều lần tôi nghĩ rằng có một dấu chỉ giúp nhận biết một gia đính ra sao, đó là nhìn xem trong đó các trẻ em và người già được đối xử như thế nào.

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha nói Chúa Giêsu đã muốn thuộc về một gia đình đã sống kinh nghiệm càc khó khằn này, để không ai cảm thấy bị loại bỏ khỏi sự gần gũi yêu thương của Thiên Chúa. Rồi Đức Thánh Cha giải thích ý nghĩa cuộc trốn chạy sang Ai Cập của Thánh Gia như sau:

Việc chay trốn sang Ai Cập vì các đe dọa của vua Hếrốt cho thấy Thiên Chúa ở nơi đâu con người gặp nguy hiểm, ở nơi đâu con người khổ đau, ở nơi đâu con người trốn chạy, ở nơi đâu nó sống kinh nghiệm sự khước từ và bỏ rơi. Nhưng Thiên Chúa cũng hiện diện ở nơi đâu con người mơ ước, hy vọng trở về quệ hương trong tự do, dự phóng và lựa chọn cho sự sống và phẩm giá của mình và của nhưng người trong gia đình mình.

Hôm nay cái nhìn của chúng ta trên Thánh Gia cũng được lôi kéo bởi sự đơn sơ của cuộc sống tại Nagiarét. Đó là một thí dụ ích lợi cho các gia đình của chúng ta, giúp chúng luôn ngày càng trở thành cộng đoàn hiệp thông của tình yêu và sự hòa giải, trong đó người ta sống kinh nghiệm sự hiền dịu, tương trợ lẫn nhau, tha thứ cho nhau.

Muốn có an bình và niềm vui trong gia đình, chúng ta hãy biết sống ba từ chìa khóa sau đây: xin phép, cám ơn và xin lỗi. Khi trong một gia đình người ta không xâm lần nhau, nhưng biết xin phép. Khi trong một gia đình người ta khô sống ng ích kỷ, nhưng tập nói tiếng cám ơn. Khi trong một gia đình một người nhận ra mình đã làm điều xấu và biết xin lỗi, thì trong gia đình ấy có an bình và niềm vui.

Tôi cũng muốn khích lệ các gia đình ý thức được tầm quan trọng của mình trong Giáo Hội và trong xã hội. Thật thế, lời loan báo Tin Mừng trước hết đi qua các gia đình, rồi tới với các môi trường khác nhau của cuộc sống thường ngày.

Chúng ta hãy sốt sắng khẩn nài Mẹ Maria Rất Thánh, Mẹ Chúa Giêsu và là Mẹ chúng ta, hướng dẫn từng gia đình trên thế giới, để nó có thể chu toàn sứ mệnh mà Thiên Chúa đã giao phó với phẩm giá và sự thanh thản.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã nhắc cho mọi người biết Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới sắp tới sẽ thảo luận về đề tài Gia đình, và giai đoạn chuẩn bị đã bắt đầu rồi. Vì thế Đức Thánh Cha nói: hôm nay lễ Thánh Gia tôi muốn phó thác cho Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse công việc của Thượng Hội Đồng Giám Mục này, bằng cách cầu xin cho các gia đình trên toàn thế giới. Tôi xin mời anh chị em hiệp nhất với tôi trong tinh thần trong lời cầu mà tôi đọc bây giờ:

”Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Cha Thánh Giuse, Nơi các Ngài chúng con chiêm ngưỡng ánh quang của tình yêu đích thật, chúng con hướng lên các Ngài với lòng tin tưởng.

Hỡi Thánh Gia Nagiarét, xin cũng hãy làm cho các gia đình chúng con trở thành nơi hiệp thông và nhà tiệc ly cầu nguyện, các trường đích thật của Phúc Âm và các Giáo Hội tại gia nhỏ.

Lạy Thánh Gia Nagiarét, xin đừng bao giờ để xảy ra kinh nghiệm bạo lực, khép kín và chia rẽ trong các gia đình nữa: xin cho bất cứ ai đã bị thương tích hay gương mù gương xấu mau biết đến hòa giải và chữa lành.

Lạy Thánh Gia Nagiarét, ước chi Thượng Hội Đồng tới đây của các Giám có thể tái lập nơi tất cả mọi người ý thức về tính cách thánh thiêng và bất khả xâm phạm của gia đình và vẻ đẹp của nó trong chương trình của Thiên Chúa.

Lạy Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Cha Thánh Giuse, xin hãy lắng nghe và nhận lời khẩn nài của chúng con. Amen.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đặc biệt gửi lời chào tới các tín hữu theo dõi buổi đọc Kinh Truyền Tin trên kênh truyền hình nối với Nagiarét, trong Vương cung thánh đường Truyền Tin, nơi có sự hiện diện của Đức Tổng Giám Mục Tổng thư ký Thượng Hội Đồng Giám Mục; với vương cung thánh đường Thánh Gia bên Barcelona Tây Ban Nha, nơi có sự hiện diện của Đức Hồng Y Chủ tịch Hội Đồng Tòa Thánh về gia đình; với Vương cung thánh đường Nhà Thánh của Đức Mẹ tại Loreto. Ngài cũng gửi lời chào tín hữu các nơi cử hành lễ các Gia đình như bên Madrid, thủ đô Tây Ban Nha. Ngoài ra ngài cũng chào các bạn trẻ thuộc nhiều giáo phận Italia, cách riêng các thành viên phong trào Tổ Ấm từ nhều nước trên thế giới hành hương Roma.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Sứ điệp Đức Thánh Cha gửi các bạn trẻ Taizé

Sứ điệp Đức Thánh Cha gửi các bạn trẻ Taizé

\Taize

VATICAN. ĐTC Phanxicô kêu gọi các bạn trẻ Kitô Âu Châu góp phần giúp đại lục này vượt thắng những lúc khó khăn.

Ngài đưa ra lời kêu gọi trên đây trong sứ điệp do Đức TGM Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, nhân danh ĐTC gửi tới 30 ngàn bạn trẻ Kitô Âu Châu, gồm Công Giáo, Chính Thống, Tin Lành và Anh giáo, đang tham dự cuộc gặp gỡ lần thứ 36 do Tu viện Đại kết Taizé tổ chức tại Thành phố Strasbourg bên Pháp, từ ngày 28-12 đến 1-1 tới đây.

Đức TGM Parolin cho biết: ĐTC bày tỏ sự gần gũi với các bạn trẻ và nhắc lại kỷ niệm cuộc gặp gỡ của họ tại Roma hồi cuối năm ngoái. Ngài nhận định rằng: ”Miền Alsace và Ortenau đón tiếp cuộc gặp gỡ của các bạn năm nay, tuy đã trải qua những cuộc xung đột xâu xé, nhưng được biến thành biểu tượng hy vọng vì đã đón nhận nơi sinh của gia đình Âu Châu. Thật là một biểu tượng ý nghĩa vì cuộc gặp gỡ năm nay diễn ra đồng thời tại hai nước khác nhau, Pháp và Đức. Âu Châu đang cần sự dấn thân, lòng can đảm và đức tin của các bạn để vượt thắng những lúc khó khăn vẫn còn mạnh mẽ.”

ĐTC khẳng định rằng: ”Sứ mạng mà các bạn ấn định cho mình trong toàn năm 2014 là tìm kiếm sự hiệp thông hữu hình giữa tất cả những người yêu mến Chúa Kitô. Các bạn ý thức sự chia rẽ giữa các tín hữu Kitô là một chướng ngại lớn ngăn cản sứ mạng được ủy thác cho Giáo Hội; sứ điệp Kitô sẽ đáng tín nhiệm hơn nếu các Kitô hữu khắc phục được những chia rẽ.”

ĐTC cũng cho biết ngài chia sẻ xác tín của các bạn trẻ theo đó có thể học được lẫn nhau rất nhiều điều, xét vì những thực liên kết chúng ta với nhau thì nhiều hơn.

Sau cùng, ĐTC chúc lành cho các bạn trẻ, các vị mục tử cũng như tất cả các gia đình đón thiếp họ. Ngài cầu mong rằng nhờ chứng tá của mình, các bạn trẻ có thể phổ biến tinh thần hòa bình và hòa giải theo tinh thần Phúc Âm nơi những người đồng thời”.

Cuộc gặp gỡ tại Strasbourg nằm trong khuôn khổ ”cuộc lữ hành tin tưởng” do Cộng đoàn Taizé linh hoạt vào dịp cuối năm, và năm nay có chủ đề là “tìm kiếm hiệp thông hữu hình giữa tất cả những người yêu mến Chúa Kitô”.
Trong số các bạn trẻ tham dự, có 4.500 người Ba Lan, 1.400 người Ý, 1.200 người Croát, và 1 ngàn người Bạch Nga, cùng với đông đảo các bạn trẻ người Pháp thuộc vùng Alsace, cũng như các bạn trẻ người Đức thuộc miền Ortenau.

Khi đến Strasbourg, các bạn trẻ nhận được lá thư của thầy Alois, Tu viện trưởng Taizé trong đó có 4 mệnh đề cho năm 2014, đó là: ”Những người yêu mến Chúa Kitô trên toàn trái đất họp thành một đại cộng đồng bằng hữu. Họ có một đóng góp cần trao tặng để chữa lành những vết thương của nhân loại: không hề muốn áp đặt, họ có thể tạo điều kiện cho sự hoàn cầu hóa tình liên đới, không loại trừ dân tộc nào, hoặc một ai”.

Các bạn trẻ được đón tiếp trong các gia đình và các giáo xứ Công Giáo cũng như Tin Lành trong vùng. Mỗi sáng họ tụ họp tại hơn 200 xứ đạo ở hai bên sông Rhin, Pháp và Đức, để cầu nguyện và chia sẻ. Ban chiều hai ngày 29 và 30-12, chương trình cuộc gặp gỡ có khoảng 20 đề tài các bạn trẻ có thể chọn để tham dự, ví dụ: ”cuộc khủng hoảng, nạn thất nghiệp, công ăn việc làm bấp bênh.. phải chăng cần phát minh một kiểu mẫu kinh tế mới?”; hoặc ”Công lý và nhân quyền; những suy tư cá nhân về thách đố làm tín hữu Kitô”; ”Đối thoại đại kết: để sống chung yên hàn hay để cho mình được biến đổi nhờ gặp gỡ?”; ”Chúng ta có cần Giáo Hội hay không? Suy tư Kinh Thánh và sự hiệp thông trong Chúa Kitô”; ”Âu châu; miền đất di dân tuyệt hảo: làm thế nào để sống chung với nhau?”

Trong cuộc gặp gỡ, các bạn trẻ tụ họp nhau ban trưa và ban tối để cầu nguyện chung. Các buổi cầu nguyện này diễn ra đồng thời tại 3 nơi là các hội trường tại Wacken, tức là khu vực triển lãm của thành Strasbourg; thứ hai tại Nhà thờ chính tòa của Công Giáo tại Strasbourg và nhà thờ Thánh Phaolô của Tin Lành. Các bài suy niệm do thầy Alois trình bày với các bạn trẻ. (SD 28-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

GIA ĐÌNH CẦU NGUYỆN CHUNG VỚI NHAU THÌ SỐNG HIỆP NHẤT VỚI NHAU

GIA ĐÌNH CẦU NGUYỆN CHUNG VỚI NHAU THÌ SỐNG HIỆP NHẤT VỚI NHAU

Chúa Giêsu Kitô Con Thiên Chúa đã giáng sinh trong một gia đình cụ thể, có cha có mẹ là thánh Giuse và Mẹ Maria. Vì thế, trong bầu khí vui tươi của lễ Giáng Sinh, chúng ta có thể cùng nhau chia sẻ về đời sống gia đình. Mầu nhiệm Giáng Sinh sẽ giúp chúng ta hiểu sâu xa hơn về thực tại gia đình. Mầu nhiệm Giáng Sinh làm cho gia đình Thánh Gia trở thành mẫu gương cho các gia đình trên thế giới. Các bài đọc lễ Thánh Gia đều hướng về một chủ đề chung là mô tả hoàn cảnh sống của một gia đình có Chúa hiện diện và liên kết mọi thành phần lại với nhau.

Trước hết, bài đọc I sách Huấn Ca, nhắc lại bổn phận thảo hiếu của con cái đối với cha mẹ, vì Thiên Chúa suy tôn người cha trong con cái và củng cố quyền lợi của người mẹ trên người con. Vai trò và trách nhiệm của cha mẹ trên con cái là do ý muốn của Thiên Chúa và dựa trên ý muốn của Ngài. Bài đọc II trích từ Côlôsê ghi lại các lời khuyên của thánh Phaolô cho các thành phần trong gia đình: “Hãy đối xử với nhau theo qui luật của đức bác ái”, vì tình yêu tự nhiên giữa các thành phần trong gia đình không đủ. Tình yêu tự nhiên đó được triển nở thành tình thương bác ái, một tình thương đã được tình yêu của Thiên Chúa thanh luyện cũng cố, và tình thương bác ái đó được thể hiện trong những hành động cụ thể chứ không dừng lại ở lời nói suông qua môi miệng. Những lời khuyên này có thể được ta xem như là một hiến chương xây dựng hạnh phúc gia đình. Nếu chúng ta thực hiện được những điều này thì quả thật gia đình chúng ta sẽ được hạnh phúc biết bao.

Tâm tình bác ái của gia đình là sự hiện diện của Chúa trong tâm hồn của mỗi thành phần trong gia đình, đó là sự liên kết mọi thành phần trong gia đình lại với nhau như là cầu chúc của thánh Phaolô trong thơ gửi tín hữu Côlôsê: “Nguyện cho bình an của Chúa làm chủ trong lòng anh em. Nguyện cho Lời Chúa cư ngụ dồi dào trong lòng anh em”. Để thực hiện điều này, chúng ta hãy đặc biệt lưu ý đến hai việc đạo đức sau đây:

1) Việc đọc kinh chung với nhau trong gia đình.

2) Việc gia đình đọc Lời Chúa chung với nhau.

Gia đình cầu nguyện chung với nhau thì sống hiệp nhất với nhau. Gia đình Thánh gia Nagiarét được diễm phúc hơn mọi gia đình khác, vì có chính Chúa Giêsu hiện diện giữa các ngài. Nhưng nếu xét cho cùng thì cũng không phải là chuyện dễ dàng hơn, vì Chúa hiện diện trong gia đình Thánh gia với một hình thức hạ mình sâu thẳm nhất, qua hình thức của một con trẻ yếu đuối như bao trẻ thơ khác để cho mẹ Maria và thánh Giuse chăm sóc. Cần phải có đức tin sâu xa và vững mạnh lắm thì Đức Maria và thánh Giuse mới có thể chu toàn trọn vẹn vai trò của mình.

Việc cụ thể thứ hai là việc đọc Lời Chúa trong gia đình. Chúng ta hãy lấy mẫu gương gia đình Thánh Gia Nagiarét như một khởi đầu cho một sinh hoạt mới trong gia đình, và kể từ nay về sau, mỗi gia đình hãy chăm chỉ thực hiện việc đọc Lời Chúa trong gia đình: “Nguyện cho Lời Chúa cư ngụ dồi dào trong anh em”. Mỗi gia đình Kitô cần có một quyển Kinh Thánh để có thể đọc Lời Chúa hằng ngày chung với nhau, và nếu không hằng ngày được thì ít ra là mỗi tuần một lần. Phải giữ mức độ thường xuyên đều đặn, không nên để tùy hứng.

Sau cùng một khía cạnh khác được nói lên trong bài Tin mừng hôm nay, đó là thử thách mà gia đình Nagiarét gặp phải, đó cũng là thử thách mà mọi gia đình kitô chúng ta ngày nay cũng có thể gặp phải. Sự hiện diện của Chúa không mang lại đặc quyền đặc lợi cho gia đình, mà ngược lại có thể làm cho Đức Maria và thánh Giuse bị phiền phức nữa là khác, vì cảnh sống nghèo nàn bị lãng quên vẫn như cũ, nhưng Đức Maria và thánh Giuse đã vượt qua được thử thách với đức tin vững vàng, khiêm tốn chấp nhận dù không hiểu việc Chúa làm. Đó là mẫu gương cho tất cả mọi gia đình Kitô giáo hôm nay.

Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong niềm tin và phát triển đức tin của mỗi người chúng ta, ban cho gia đình chúng ta được ơn hiệp nhất với nhau, sống yêu thương nhau, nâng đỡ nhau để chu toàn ơn gọi của mình.

Asia Verita Radio

GƯƠNG GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC

GƯƠNG GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC

Ngày lễ Thánh Gia là ngày lễ của các gia đình. Để làm khuôn mẫu cho các gia đình, ta tưởng Giáo Hội sẽ đưa ra hình ảnh một gia đình đầm ấm, vợ chồng con cái sum họp quanh bàn ăn, quanh chiếc ti vi. Hoặc chí ít cũng là cảnh thánh Giuse làm thợ mộc với sự giúp đỡ của Chúa Giêsu. Bên cạnh là Đức Maria đang ngồi khâu vá hoặc nấu nướng. Nhưng không, Giáo Hội mời gọi ta chiêm ngắm cảnh Thánh Gia chạy trốn bạo vương Hêrôđê giữa đêm hôm khuya khoắt.

Thánh Gia đã biết đến những hiểm nguy đe dọa hạnh phúc gia đình. Nhưng các Ngài đã biết cách gìn giữ gia đình bình an qua cơn dông tố. Các bài sách thánh đặc biệt bài Tin Mừng hôm nay trình bày cho ta những bí quyết mà Thánh Gia sử dụng để giữ được hạnh phúc gia đình.

Bí quyết thứ nhất đó là vâng nghe Lời Chúa. Thánh Giuse vâng lệnh Chúa truyền một cách mau mắn và tuyệt đối. Dù lệnh truyền ban ra giữa đêm khuya, Ngài thức giấc thi hành tức khắc. Dù lệnh truyền rất khó khăn Ngài vẫn mau mắn vâng lời. Đức Maria và Chúa Giêsu cũng có một thái độ vâng phục tuyệt đối như thế. Thánh ý Thiên Chúa luôn luôn là mệnh lệnh tuyệt đối. Lời Chúa dạy luôn luôn là kim chỉ nam. Thiên Chúa chính là người điều khiển gia đình các Ngài. Vì thế, dù gặp nhiều gian nan thử thách, gia đình các Ngài vẫn giữ được hạnh phúc.

Bí quyết thứ hai đó là coi con cái là vốn quý nhất. Con cái là vốn quý nhất nên các Ngài đã đem hết sức lực ra bảo vệ. Khi có những nguy cơ đe dọa, các Ngài đem con cái chạy trốn tránh xa. Vì con cái là vốn quý nhất, nên các Ngài sẵn sàng hy sinh tất cả: thời giờ, nhà cửa, tài sản, nghề nghiệp và công việc làm ăn, mong đem con cái đến nơi an toàn. Vì con cái là vốn quý nhất, nên các Ngài không ngần ngại nâng niu phục vụ. Hình ảnh thánh Giuse đi bộ dắt lừa cho Chúa Giêsu và Đức Maria là hình ảnh của một người chủ gia đình hết lòng nâng niu phục vụ vợ con. Vì con cái là vốn quý nhất, nên các Đức Maria đã dõi theo con đến cùng, nhẫn nhục đứng bên thập giá chia sớt đau khổ với con.

Bí quyết thứ ba đó là con cái luôn hiếu thảo với cha mẹ. Chúa Giêsu là một người con hiếu thảo. Tin Mừng tóm tắt cuộc sống thơ ấu của Người bằng một câu ngắn gọn: “Sau đó Người đi xuống cùng với cha mẹ trở về Nadarét và hằng vâng phục các Ngài” (Lc 2,51). Sự hiếu thảo của Chúa Giêsu được thấy trong tiệc cưới Cana. Khi đám cưới thiếu rượu, Đức Maria xin Người giúp. Tuy chưa đến thời điểm, nhưng Chúa Giêsu vẫn làm phép lạ cho nước biến thành rượu để giúp đám cưới theo yêu cầu của Mẹ. Cảm động hơn hết là giây phút cuối đời, khi bị treo trên thập giá, Chúa Giêsu vẫn quan tâm đến Mẹ nên đã gửi gấm nhờ thánh Gioan, môn đệ yêu quý, chăm sóc Mẹ.

Ngày nay, nhiều gia đình đang trong tình trạng báo động. Từ thời mở cửa, gia đình Việt Nam đã biến chuyển mãnh liệt theo chiều hướng nguy hiểm. Số cặp vợ chồng ly dị tăng nhanh một cách đáng sợ. Con cái không còn vâng lời cha mẹ như xưa. Theo đà tiến triển kinh tế, nhiều gia đình trở nên giàu có hơn, nhưng con cái lại bỏ bê học hành, lao vào con đường ăn chơi, vướng vào tệ nạn xã hội, làm cho cha mẹ buồn lòng, gia đình tan nát.

Để bảo vệ gia đình trước làn sóng văn minh vật chất, hưởng thụ và cá nhân chủ nghĩa, ta hãy học hỏi mẫu gương Thánh Gia.

Trước hết, cha mẹ phải coi con cái là vốn quý nhất Chúa ban cho gia đình. Vốn này cần được quan tâm chăm sóc không phải chỉ bằng tiền bạc, phương tiện vật chất mà quan trọng hơn, bằng tình thương, sự săn sóc, dạy dỗ uốn nắn ngay từ khi còn thơ, sự hiểu biết, cảm thông khi đến tuổi trưởng thành. Dù thành công trong xã hội mà con cái hư hỏng thì vẫn là thất bại cả cuộc đời. Vì thế, phải bảo vệ con cái khỏi các bạo vương Hêrôđê thời đại. Đó là sách báo phim ảnh xấu. Đó là bạn bè xấu. Đó là tệ nạn xì ke ma túy. Nếu cần phải đem con cái trốn chạy khỏi nanh vuốt của bạo vương, tìm nơi an toàn để cho con cái sinh sống, ăn học và giữ được đạo đức.

Đáp lại, con cái phải có lòng hiếu thảo với cha mẹ. Hiếu thảo vừa là một đức tính của người có lương tri vừa là một thái độ khôn ngoan của người khiêm tốn. Có lương tri và có sự khôn ngoan, người trẻ mới tiến xa và trở nên hữu ích cho xã hội.

Sau cùng, cả gia đình phải sống theo Lời Chúa dạy. Lời Chúa là nền tảng của gia đình. Sống theo Lời Chúa là xây dựng gia đình trên nền đá vững chắc. Gia đình sống theo Lời Chúa sẽ vững vàng qua mọi bão lốc thời đại.

Gia đình Công Giáo sống theo Lời Chúa không những giữ được hạnh phúc cho gia đình mà còn đóng góp vào việc xây dựng xã hội trong hoàn cảnh đạo đức đang xuống cấp hiện nay.

Lạy Thánh Gia, xin giúp gia đình chúng con sống theo gương lành của các Ngài. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Đâu là những nguy cơ đang đe dọa hạnh phúc gia đình hiện nay?
2) Thế nào là một gia đình gương mẫu?
3) Gia đình bạn quyết tâm làm gì trong tuần này để noi gương Thánh Gia?

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Suy niệm Lễ Thánh Gia

Suy niệm Lễ Thánh Gia

Trong bầu khí Giáng Sinh, hôm nay chúng ta được mời gọi để chiêm ngắm một gia đình của Thiên Chúa ở giữa nhân loại. Ngài đã đến thế gian, đã sống như một con người, trong một gia đình để nêu gương cho chúng ta. Khi chiêm ngắm gia đình Nagiaret, chúng ta nhận ra rằng điều làm cho gia đình này trở nên linh thánh chính là sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa gia đình.

Trước hết, chiêm ngắm hình ảnh thánh Giuse, người cha trong gia đình, ta nhận ra Ngài quả là một người công chính đích thực, nghĩa là người chọn Chúa làm gia nghiệp của đời mình. Đáp lại tiếng gọi của Chúa, Thánh Giuse hiến trọn cuộc đời mình để thi hành thánh ý Thiên Chúa. Ngài mau mắn đáp lại ý muốn của Thiên Chúa mọi lúc mọi nơi. Trong cương vị là người cha, người cũng dạy cho Đức Giêsu biết vâng phục Thiên Chúa. Khi đến ngày như luật định, Chúa Giêsu chịu phép cắt bì. Mẹ Maria thì chu toàn nghi lễ thanh tẩy. Còn thánh Giuse thì nộp tiền chuộc theo như lề luật đã qui định. Và hơn thế nữa, thánh Giuse cùng với Mẹ Maria hàng năm vẫn dẫn Chúa Giêsu lên đền thờ. Đặc biệt là năm Chúa mười hai tuổi, lứa tuổi chưa bị lề luật đòi buộc. Như vậy, có lẽ những bài học quan trọng nhất mà Đức Giêsu học được chính là từ ngôi trường của Giuse, một người công chính.

Thứ đến, với tư cách là một người Mẹ, Đức Maria cũng dành trọn cuộc đời của mình để vuông tròn thánh ý Thiên Chúa. Cuộc sống của mẹ được dệt nên bởi những giai điệu của tiếng xin vâng. Mẹ xin vâng để đón nhận con Thiên Chúa vào lòng, Mẹ xin vâng để chấp nhận những đau khổ và khó khăn trong cuộc sống, và cuối cùng là tiếng xin vâng khó khăn và đau đớn bên thập giá. Với tư cách là một người mẹ và một người bạn, Mẹ cũng gặp nhiều khó khăn và thách đố trong đời sống gia đình. Nhưng niềm tin và sự phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa đã giúp Mẹ vượt qua tất cả. Như trong bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rằng, dù mẹ không hiểu điều Chúa Giêsu nói, nhưng mẹ không giận dỗi và đòi một lời giải thích, trái lại, Mẹ thinh lặng và suy đi nghĩ lại trong lòng. Chính thái độ này giúp mẹ luôn nhận ra thánh ý Chúa và vuông tròn thánh ý Ngài.

Còn Đức Giêsu mời gọi ta đi vào một chiều kích mới mẻ hơn giữa Thiên Chúa và con người. Chịu ảnh hưởng bởi đời sống thiêng liêng của Đức Maria và Thánh Giuse, có lẽ, ngay từ tấm bé, Đức Giêsu đã được dạy dỗ để sống theo lề luật, tuân giữ những tập tục của người Do thái. Ngài cũng học để cầu nguyện, và trong đời sống cầu nguyện Đức Giêsu đã cảm nhận được sự hiện diện của một người Cha trên trời. Một người mà Ngài âu yếm gọi là Cha. Cũng như Mẹ Maria, Ngài hiểu rằng mình cũng có một sứ mạng, đó chính là chu toàn thánh ý Cha. Trong những lúc khó khăn và thách đố của kiếp người, Ngài cũng có một nơi nương tựa, đó là tình yêu trung tín của Cha.

Vâng, sự hiện diện của Chúa trong gia đình là yếu tố căn bản để liên kết mọi thành phần trong gia đình. Nhờ tình yêu Thiên Chúa, tình yêu phàm trần của con người được thánh hóa, và được thấm nhuần chiều kích thiêng liêng. Hơn nữa, sự hiện diện của Thiên Chúa trong gia đình đem lại một niềm hy vọng vững chắc cho mỗi thành viên. Trước những thách đố đầy dẫy nảy sinh trong đời sống gia đình, niềm hy vọng vào tình yêu Thiên Chúa chính là chỗ dựa vững chắc nhất để mọi thành viên trong gia đình cùng nhau đối diện và vượt qua.

Một thống kê cho thấy, tại Mỹ cũng như tại hầu hết các nước thế giới, gia đình Do thái là gia đình trong đó mức phạm pháp của vị thành niên được coi là thấp nhất. Nhưng đâu là chìa khoá giải thích sự kiện này? Thưa chính là niềm tin. Các trẻ em Do thái luôn nhìn vào người cha như một đại diện của Chúa, người cha chúc lành cho con cái.

Như vậy, thánh gia trở nên gương mẫu sống động cho các gia đình trong mọi thời đại vì sự hiện của Thiên Chúa trong gia đình này. Ngày nay người ta thường gạt bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống của họ và đó có lẽ là một trong những nguyên nhân chính gây ra cuộc khủng hoảng về đời sống gia đình. Chúng ta cùng cầu nguyện với gia đình Thánh Gia, xin các Ngài thương nâng đỡ các gia đình trong thời đại ngày hôm nay, để gia đình là mái ấm thực sự cho mọi thành viên.

Nguyễn Minh Triệu

TÔI CHẲNG BAO GIỜ ÐƯỢC BỐ TÔI ÔM HÔN CẢ!

TÔI CHẲNG BAO GIỜ ÐƯỢC BỐ TÔI ÔM HÔN CẢ!

Chủ đề: Chúng ta phải biểu lộ tình thương đối với nhau cả trong lời nói lẫn việc làm

Cách đây ít lâu, tạp chí Readers Digest có làm một cuộc “thăm dò gia đình”, gồm 12 câu hỏi đặt ra cho các bậc cha mẹ. Tôi chỉ muốn đọc ra đây 3 trong số 12 câu hỏi ấy.

Câu thứ nhất: “Nếu trên truyền hình chiếu cảnh một cậu bé khoảng mười mấy tuổi vừa ôm hôn bố mẹ chúc ngủ ngon, thì liệu con cái bạn có cho như thế là chuyện bình thường không?” Bạn sẽ trả lời câu hỏi này như thế nào?

Và đây câu hỏi thứ hai: “Giả như bạn và chồng (hoặc vợ) của bạn đang cùng đọc sách trong một căn phòng, thì liệu con cái bạn sẽ có cùng đến ngồi trong căn phòng ấy không?”

Và cuối cùng, đây là câu hỏi thứ ba: “Có bao giờ con cái bạn kể cho bạn rằng chúng mong ước tạo được một mái gia đình giống như gia đình bạn khi chúng bước vào cuộc sống lứa đôi không?”

Ðiều đập ngay vào mắt chúng ta là cả 3 câu hỏi trên đều liên quan đến mọi gia đình ở một cấp độ nền tảng nhất của đời sống gia đình tức là cấp độ tình yêu thương. Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn cấp độ này.

Một trong những câu hỏi bông đùa thú vị nhất của Bob Hope liên quan đến tình yêu ông dành cho Bing Crosby, và cũng không có điều gì mà Crosby lại không muốn làm cho tôi. Nhưng đó mới là điều gây ra rắc rối. Chúng tôi đã tiêu phí đi cả cuộc đời mình mà chả làm gì cho nhau hết.

Chủ ý của Hope rất hay. Chúng ta thường có khuynh hướng lơ là biểu lộ tình thương đối với nhau. Khi dừng lại suy nghĩ chúng ta sẽ ngạc nhiên thấy hiếm khi chúng ta biểu lộ tình yêu đối với nhau trong lời nói hoặc trong một thái độ cụ thể nào đó. Chẳng hạn lần sau cùng mà bạn nói với một người nào đó trong gia đình bạn qua một cuộc nói chuyện hoặc trong một lá thư, là bạn yêu quí người ấy, lần ấy cách đây bao lâu rồi?

Sự lơ là biểu lộ tình yêu, bằng lời nói hay cử chỉ rõ ràng, đặc biệt đối với đám người trẻ, sẽ có thể gây ra những hậu quả thảm hại. Hơn bất cứ ai khác, những người trẻ khát khao biết rằng họ đang được yêu mến. Họ cần nhìn thấy, cần cảm nếm được điều đó.

Trong quyển sách nhan đề Bố Tôi, Con Trai Tôi (My Father, My Son). Bác sĩ Lee Salk đã mô tả cuộc phỏng vấn đầy cảm động dành cho Mark Chapman, tên sát nhân đã bị khép tội giết John Lennon trong ban nhạc Beatles. Giữa cuộc phỏng vấn, Chapman kể lại: “Tôi không hề nghĩ rằng tôi dã từng được ba tôi ôm hôn. Ông ấy chẳng bao giờ nói với tôi rằng ông ấy thương tôi… Tôi cần cảm nhận được tình yêu và sự nâng đỡ, thế mà tôi chẳng bao giờ có được những thứ ấy”. Chapman mô tả cách thức anh sẽ cư xử với con anh nếu như anh có một đứa con trai. Ðiều ấy quả thật là bi đát vì có lẽ Chapman chẳng bao giờ được ra khỏi tù để tạo lập được mái gia đình riêng cho mình. Chapman nói: “Tôi sẽ ôm con tôi và hôn hít nó… và làm như thế là để cho nó biết rằng… nó có thể tin cậy tôi và đến với tôi… và tôi sẽ nói cho nó rằng tôi yêu thương nó”.

Bác sĩ Salk kết thúc quyển sách trên với lời khuyên sau đây gởi đến các bậc làm cha và các cậu con trai. Và lời khuyên này cũng nên áp dụng cho các bậc cha mẹ và các cô con gaí: “Ðừng e ngại biểu lộ xúc cảm của bạn, đừng ngại nói với Bố mình hoặc con trai mình là mình yêu mến và quan tâm đến người ấy. Ðừng ngại ôm cổ hôn hít bố mình hoặc con trai mình. Ðừng chờ cho đến lúc ngồi cạnh giường chết mới nhận ra là mình đã lầm lẫn, thiếu sót“.

Cách đây ít lâu, Ann Landers có nhận được một lá thư của một bà mẹ hỏi rằng đến tuổi nào thì một ông Bố và cậu con trai thôi ôm hôn nhau và thôi nói với nhau câu nói “Bố yêu con” hoặc “Con yêu bố”. Ann Landers liền trả lời cho bà mẹ ấy một chữ gọn lỏn “Never”. (Không bao giờ)

Sau đó ít lâu, Ann Landers lại nhận được một lá thư khác của một ông bố nọ. Ông ta nói rằng câu trả lời gọn lỏn trên, cho lá thư bà mẹ kia đã làm cho ông cảm động chảy nước mắt. Ông cắt nghĩa lý do như sau: “Cách đây vài tuần, lần đầu tiên tôi ôm hôn đứa con trai và nói với nó rằng tôi yêu nó. Nhưng khốn nạn thay, nó không biết được điều ấy vì nó đã chết mất rồi. Nó đã dùng súng tự sát trước đó rồi!”. Người bố này tiếp tục viết: “Niềm hối hận lớn lao nhất trong đời tôi là tôi đã ngại ngùng trong việc biểu lộ âu yếm đối với nhau thì xem ra nhu nhược quá!… Tôi sẽ chẳng bao giờ nguôi ngoai được nỗi ngu dốt khờ khạo này”.

Ðiều gì đúng nơi mối tương giao giữa bố và con trai thì cũng đúng y như thế đối với tương giao giữa tất cả con cái trong cùng một gia đình với nhau.

Khó có thể hiểu được rằng Chúa Giêsu Người đã từng khóc bên mộ người bạn Ngài là Lazarô, lại không bao giờ ôm hôn mẹ mình và nói với mẹ: “Mẹ ơi, con yêu Mẹ”.

Và khó có thể hiểu được rằng Chúa Giêsu, Người từng kể lại câu chuyện hai bố con ôm nhau trong dụ ngôn đứa con hoang đàng, lại không từng ôm thánh Giuse và nói: “Bố ơi, con thương bố”.

Các bài Thánh Kinh trong lễ mừng kính Thánh Gia hôm nay nêu ra một câu hỏi cực kỳ quan trọng: “Chúng ta với tư cách làm cha, làm mẹ, làm con trai, con gái, chúng ta đã góp phần vào việc biểu lộ yêu thương trong gia đình riêng của chúng ta như thế nào?”

Hãy nhớ lại những câu hỏi trong “cuộc thăm dò về gia đình”. Nếu trên truyền hình chiếu cảnh một cậu bé khoảng mười mấy tuổi vừa ôm hôn bố mẹ vừa nói lời chúc ngủ ngon thì liệu con cái bạn có cho rằng điều này là chuyện bình thường không?. Nếu câu trả lời của chúng ta là không thì các bài đọc Kinh Thánh hôm nay có thể chứa đựng một sứ điệp quan trọng gởi cho chúng ta đấy.

Ðể kết thúc, chúng ta khẩn nguyện suy tư về chủ đề tình yêu trích từ thư thứ nhất của thánh Gioan. Xin vui lòng yên lặng hiệp ý cầu nguyện cùng tôi:

Các con hãy xem Chúa Cha đã yêu mến chúng ta dường nào! Tình yêu của Ngài to tát quá đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa — và qủa thực, chúng ta là thế đấy… Hỡi các con của ta, tình yêu của chúng ta đừng chỉ dừng lại ở nơi lời nói mà phải là một tình yêu đích thực biểu lộ ra bằng hành động” (1 Ga 3: 1-18).

Cha Mark Link SJ

GIA ĐÌNH THÁNH: CHÚA GIÊSU, MẸ MARIA VÀ THÁNH GIUSE

GIA ĐÌNH THÁNH: CHÚA GIÊSU, MẸ MARIA VÀ THÁNH GIUSE

Khi nói về gia đình của Chúa Giêsu, chúng ta hiểu ngay Thiên Chúa đã không muốn Con Một của Ngài đi một con đường nào khác, nhưng Ngài đã chọn cho Con của Ngài một gia đình để sinh ra: Chúa Giêsu có Cha là thánh Giuse và có Mẹ là Đức Trinh Nữ Maria. Bởi đó, gia đình mang một ý nghĩa thật quan trọng, thật tuyệt vời. Chính Chúa Giêsu đã thiết lập Bí tích hôn phối.

Gia đình là nền tảng của xã hội. Gia đình là một Giáo hội thu nhỏ trong đó mọi thành phần sống chung cùng nhau, đùm bọc, yêu thương, giúp nhau thăng tiến. Gia đình cũng là cái nôi để con người được ấp ủ, nâng đỡ, được giáo dục để lớn trong tình yêu thương của cha của mẹ của anh chị em.Gia đình Công giáo cũng là trường học đầu tiên để con người được biết Chúa.Hôm nay, mừng lễ Thánh Gia, chúng ta thử nhìn vào Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse để xác tín hơn, yêu mến hơn Ba Đấng, một gia đình tuyệt đối gương mẫu, hoàn toàn thánh thiện và đầy quyền thế. Xét về phương diện Thiên Chúa, Chúa Giêsu chính là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Thánh Phaolô trong thư gửi tín hữu Côlôsê đã viết : “Ngài là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình, là Trưởng tử giữa các thọ sinh, vì trong Ngài mọi vật đã được tác thành… Và Ngài đã giải hòa cả vạn vật nhờ Ngài và cho Ngài, đã ban lại bình an nhờ Máu Thánh của Ngài đổ ra nơi thập giá, cho mọi vật trên trời dưới đất”. Chính vì thế, Chúa Giêsu là Đấng ngự bên hữu Đức Chúa Cha để cầu bầu cho chúng ta. Ngài đến để chiên được sống và sống dồi dào (Ga 10,10). Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Thiên Chúa, là Mẹ nhân loại,Mẹ Hội Thánh và Mẹ của mỗi người chúng ta. Mẹ đã được Thiên Chúa tuyển chọn để góp tay vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa.Mẹ Maria luôn luôn dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu. Thánh Giuse trước mặt Thiên Chúa thật có công lớn lao, đã có công bảo vệ Đức Mẹ, nuôi dưỡng Chúa Giêsu để Ngài được lớn lên trong tình yêu thương đầm ấm của gia đình. Chính nơi làng Nagiarét, Chúa Giêsu được thánh Giuse và Đức Mẹ yêu thương đùm bọc. Chúa được Mẹ Maria dạy nói, tập đi. Ngài cũng phải học hòa nhập với những người dân làng. Ngài cũng phải nhờ Mẹ Cha dạy cầu nguyện và cư xử theo truyền thống của cha ông. Tại gia đình Nagiarét,và nơi làng Nagiarét, Chúa Giêsu đã tiếp thu, học hỏi và sống hòa nhập để chu toàn sứ vụ nhập thể làm người…

Gia đình Nagiarét là gia đình lý tưởng cho mọi gia đình. Bởi vì, Thiên Chúa đã chọn cho Con Một yêu dấu của Ngài một gia đình. Ba Đấng đều cao cả,lớn lao nhưng tất cả đều khiêm nhượng, đều hòa thuận, yêu thương, tôn trọng lẫn nhau vì cả Ba Đấng đều làm theo ý Thiên Chúa.

Gia đình Nagiarét là một gia đình quên mình để nghĩ đến người khác.Đó là một gia đình yêu thương, bác ái tuyệt vời. Thánh Giuse luôn chuyên cần lao động để nuôi sống gia đình. Mẹ Maria chăm lo việc nội trợ, còn Chúa Giêsu luôn hiếu thảo đối với cha mẹ và sẵn sàng giúp đỡ cha mẹ trong mọi công việc hằng ngày.

Nơi gia đình Nagiarét, Ba Đấng đã cho chúng ta thấy được giá trị của lao động. Các Ngài cho chúng ta hiểu được lao động có ý nghĩa cao sâu là cứu rỗi. Nơi gia đình Nagiarét, Chúa Giêsu luôn làm theo ý Thiên Chúa, nên những vất vả, mồ hôi đổ ra, tất cả đều mang ý nghĩa cứu độ.

Vâng, như các mục đồng, chúng ta hãy mau mắn đi về Bêlem để tìm gặp Ba Đấng : “Các mục đồng hối hả ra đi.Tới nơi, họ gặp thấy bà Maria cùng với ông Giuse. Và gặp thấy Hài Nhi đặt trong máng cỏ” (Lc 2, 16).

Xin mượn lời Bénedicte Ducatel để kết bài suy niệm này : “Gia đình Nadaret là một mô hình gia đình của sự thánh thiện, lễ Thánh Gia mời gọi chúng ta hiểu rằng Ngôi Lời Nhập Thể đến trong một thế giới hiện hữu.Gia đình chúng ta là một hội thánh nhỏ, những niềm vui, nỗi buồn, sự đau khổ hay niềm hy vọng, chính là những gì Thiên Chúa muốn mạc khải trong chúng ta… Đó là những điều bình thường trong cuộc sống của chúng tôi mà chúng ta sẽ nhận ra, hãy noi gương Thánh Gia, hãy để Thiên Chúa đến và ở giữa chúng ta”.

Lạy Thánh Gia xin giúp mọi gia đình Công giáo luôn noi gương bắt chước Chúa Giêsu, Mẹ Maria và thánh Giuse để làm cho gia đình được hạnh phúc. Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:
1. Gia đình thánh nêu gương gì cho chúng ta?
2. Tại sao Thiên Chúa lại chọn cho Chúa Gie6su được sinh ra trong một gia đình?

LM Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

GIA ĐÌNH

GIA ĐÌNH

Chúa Giêsu đã hạ sinh trong môi trường đời sống gia đình. Gia đình Thánh bao gồm có Chúa Giêsu, Đức Maria và Thánh Giuse. Thánh Giuse là người công chính đã chu toàn bổn phận của người cha nuôi. Ngài luôn mau mắn thực hành ý Chúa qua các cuộc báo mộng của thiên thần: “Hãy thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Aicập, và ở đó cho tới khi tôi báo lại ông, vì Hêrôđê sắp sửa tìm kiếm Hài Nhi để sát hại Người.” (Mt 2,13). Giuse không quản ngại đường xa, đêm tối, chỉ một lòng trung kiên bảo vệ an toàn cho Chúa Hài Nhi. Ông thi hành ngay lập tức khi được lệnh trốn sang Aicập: “Ông thức dậy, đem Hài Nhi và mẹ Người lên đường trốn sang Aicập đang lúc ban đêm.” (Mt 2,14). Và khi cả gia đình được trở về quê quán: “Ông liền trỗi dậy, đem Con Trẻ và mẹ Người về đất Israel.” (Mt 2,21). Tình yêu đáp trả tình yêu. Thánh Giuse có một tâm hồn thánh thiện, một trái tim rộng mở và một tình yêu vô điều kiện. Ngài đã nêu gương sáng trong vai trò làm cha và làm chồng. Thánh Giuse khiêm hạ, thế mà sau gần 2 thiên niên kỷ, năm 2014, Uỷ ban Phụng vụ mới ban hành việc đọc thêm tên Thánh Giuse, bạn trăm năm Đức Trinh Nữ, trong các Kinh nguyện Thánh Thể.

Gia đình là tổ ấm yêu thương. Gia đình lý tưởng bao gồm cha, mẹ và con cái chung sống với nhau cách thuận hoà. Mỗi thành viên trong gia đình có trách nhiệm chu toàn bổn phận của mình. Tác giả sách Huấn Ca đã khuyên dạy: “Ai thảo kính cha mình, sẽ được vui mừng trong con cái, khi cầu xin, người ấy sẽ được nhậm lời.” (Hc 3,5). Gia đình là một đơn vị căn bản trong đời sống cộng đồng xã hội. Gia đình là nơi ươm mầm hạt giống tâm linh và là cái nôi vào đời. Chúng ta có thể quan sát một tổ chim ẩn dấu trên cành cây. Chúng ta có thể quan sát, để chuẩn bị một tổ ấm, chim cha và chim mẹ đã dùng sức lao động và sự cần cù của mình tha từng cọng rác về bện tổ uyên ương. Khi hoàn thành ổ ấm, đôi chim đã quanh quyện bên nhau để cùng chăm sóc, bảo vệ và đỡ nâng. Sau khi liên hợp đẻ trứng, đôi chim thay phiên nhau canh chừng và ấp ủ trứng cho tới khi trứng nở con. Chim con được nuôi dưỡng và bảo vệ một cách cẩn thận trong ổ ấm cho tới khi đủ lông đủ cánh mới tập ra ràng. Cặp chim mẹ cha lo tập tành và hướng dẫn chim con từng bước, giúp chúng hoà nhịp vào cuộc sống. Thật tuyệt vời!

Từ đầu hết, Thiên Chúa đã tạo dựng con người có nam, có nữ. Nam nữ kết hợp với nhau nên vợ, nên chồng làm thành một gia đình. Những trang đầu của sách Sáng Thế đã ghi nhận sự mạc khải về sự kết hợp nhiệm mầu: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt.” (St 2,24). Vợ chồng kết hợp nên một trong yêu thương. Mục đích của đời sống hôn nhân gia đình là yêu thương và sinh sản con cái. Con cái lưu truyền dòng giống và nối tiếp sự sống. Có một sự gắn bó linh thiêng dòng máu giữa cha mẹ và con cái. Con cái là do sự kết hợp tình yêu và thân xác của mẹ cha. Cha mẹ yêu thương con cái và con cái thảo kính cha mẹ: “Ai thảo kính cha mình, sẽ được sống lâu dài. Ai vâng lời cha, sẽ làm vui lòng mẹ.” (Hc 3,6). Niềm vui trong đời sống gia đình là sự hòa hợp hỗ tương, có cho và có nhận. Sự sống giữa cha mẹ và con cái là một sợi chỉ xuyên suốt gắn bó trực hệ. Con cái có bổn phận đáp ân trả nghĩa và hiếu thảo: “Vì của dâng cho cha, sẽ không rơi vào quên lãng. Của biếu cho mẹ, sẽ đền bù tội lỗi, và xây dựng đức công chính của ngươi.” (Hc 3,14-15).

Trong đời sống vợ chồng, tình yêu là chìa khóa. Tình yêu là cái không thể mua và không thể bán. Tình yêu chỉ có thể trao tặng một cách tự do và vô vị lợi. Thiếu tình yêu, đời sống gia đình sẽ trở thành như cái lồng chim. Người ta ví đời sống hôn nhân gia đình giống cái lồng chim sơn son thết vàng tuyệt đẹp. Những con chim sống bên trong muốn bay ra ngoài, trong khi những con bên ngoài muốn bay vào. Bởi đó hôn nhân hấp dẫn cứ tiếp diễn không ngừng, hết đời này sang đời khác. Có những cuộc sống hôn nhân thất bại như chim nhốt lồng, nhưng chúng ta cũng phải chân nhận rằng có rất nhiều cuộc sống hôn nhân rất hạnh phúc. Họ biết thông cảm tha thứ và yêu thương nâng đỡ lẫn nhau. Thánh Phaolô khuyên: “Và trên hết mọi sự, anh em hãy có đức yêu thương, đó là dây ràng buộc điều toàn thiện.” (Cl 3,14). Yêu thương thì chín bỏ làm mười. Trong cuộc đôi co tranh luận, hãy nhớ rằng thắng được chồng hay thắng được vợ, thì vẫn thua thắng chính mình.

Mỗi cuộc hôn nhân gia đình là một cuộc lữ hành tình yêu. Cuộc sống nào cũng có lúc vui lúc buồn, lúc thành công khi thất bại, lúc mạnh khoẻ khi ốm đau và thăng trầm năm chìm bảy nổi. Đời sống con người rập khuôn với sự chuyển động của thiên nhiên. Bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông biến đổi không ngừng. Thiên nhiên vạn vần có ngày thanh bình êm ả và có ngày giông gió ồn ào. Sinh hoạt đời sống vợ chồng con cái trong gia đình cũng luôn hấp dẫn và lo âu, vì luôn có những sự cố xảy đến. Mỗi ngày sống là một ngày hoàn toàn mới. Kinh nghiệm của đời sống hôn nhân cũng đòi hỏi vợ chồng phát huy thích thời. Không có khi nào trễ, nếu vợ chồng muốn bắt đầu đổi mới cách sống hôm nay. Khó có thể lấy một cặp gia đình nào đó để làm gương mẫu chung, vì mọi người đều bất toàn. Người ta nói rằng ở trong chăn mới biết chăn có rận. Đừng xét đoán ai cả, vì đôi khi chúng ta nhìn thế mà không phải thế. Đừng suy bụng ta ra bụng người mà bị bé cái lầm.

Thánh Phaolô khuyên dạy cả vợ lẫn chồng: “Hỡi các bà vợ, hãy phục tùng chồng trong Chúa cho phải phép.” (Cl 3,18). Phục tùng trong Chúa như Giáo Hội phục tùng Chúa Giêsu, là đầu của Nhiệm Thể. Lời khuyên này không dễ thực hiện trong hoàn cảnh văn hóa hiện tại, vì người phụ nữ có quyền bình đẳng và quyền tự do. Nhưng Phaolô dạy thêm: “Hỡi những người chồng, hãy yêu thương vợ mình, đừng đay nghiến nó.” (Cl 3,19). Đức yêu thương là cốt lõi. Khi đã yêu thương thật lòng thì mọi sự dễ dàng cảm thông. Trong đời sống, vợ chồng có thể tự vấn đo lường mức độ tình yêu qua sự trao đổi kinh nghiệm sống. Nếu hằng ngày vợ chồng cứ luôn gây gỗ, to tiếng, giận hờn, nói lời chì chiết, bắt bẻ và hay gây sự, xin hãy ý tứ vì có lẽ tình yêu đang bước vào mùa Thu của cuộc sống gia đình.

Thánh Phaolô đã khuyên dạy người chồng và vợ, ngài cũng không quên nhắc nhở những người con trong nhiệm vụ phải vâng lời cha mẹ như chính Chúa Giêsu đã vâng phục cha mẹ của Ngài: “Hỡi những người con, hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì đó là đẹp lòng Chúa.” (Cl 3,20). Có qua có lại mới toại lòng nhau. Con cái thảo hiếu và cha mẹ nêu gương sáng cho con bắt chước. Đừng dạy một đàng, làm một nẻo, con cái sẽ không kính phục. Cha mẹ có bổn phận giáo dục và yêu thương con cái: “Hỡi những người cha, đừng nổi cơn phẫn nộ với con cái, kẻo chúng nên nhát đảm sợ sệt.” (Cl 3,21). Sự hài hoà trong cách cư xử sẽ tạo một bầu khí gia đình yên vui đầm ấm. Biết rằng không có ai hoàn hảo, nhưng mỗi người cố gắng hãm bớt cái tôi ích kỷ, để sống hoà đồng trong mối tương giao. Chúng ta cùng học với gia đình Thánh Gia Thất, hãy nhìn xem Giuse là người thợ mộc đơn thành, Đức Maria thôn nữ dịu hiền sống chung với Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, các Ngài đã tự chu toàn bổn phận mình một cách tuyệt vời trong đời sống gia đình.

Lạy Chúa, đời sống gia đình của chúng con có biết bao niềm vui, nỗi buồn và những khó khăn chồng chất. Xin cho chúng con biết nhận ra giá trị đích thực của tình yêu gia đình. Chúng con sẽ cố gắng hoàn thành tốt vai trò của mình để xây dựng một mái ấm gia đình trong yêu thương, vui vẻ và hạnh phúc.

LM Giuse Trần Việt Hùng

Đức Thánh Cha Phanxicô dùng bữa trưa với vị tiền nhiệm

Đức Thánh Cha Phanxicô dùng bữa trưa với vị tiền nhiệm

VATICAN. Trưa 27-12-2013, ĐTC Phanxicô đã mời vị tiền nhiệm Biển Đức 16 dùng bữa trưa với ngài tại Nhà Trọ Santa Marta nơi ngài cư ngụ.

Trong cuộc viếng thăm hôm 23-12 trước đó tại nhà Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức 16 để chúc mừng nhân dịp lễ Giáng Sinh, ĐTC Phanxicô đã mời vị tiền nhiệm đến dùng bữa với ngài trong những ngày lễ này.

Tham dự bữa ăn trưa thứ năm vừa qua cũng có các vị bí thư riêng của hai Đức đương kim và cựu Giáo Hoàng, cùng với Đức TGM Dominique Mamberti, ngoại trưởng Tòa Thánh, Đức Ông Bryan Wells, Phó Phụ tá Quốc vụ khanh Tòa Thánh, có mặt tại Vatican trong những ngày lễ này.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Nhân Ngày Hòa Bình Thế Giới 1-1-2014

Sứ Điệp Của Đức Thánh Cha Nhân Ngày Hòa Bình Thế Giới 1-1-2014

Kính thưa quý vị thính giả, như chúng tôi đã đưa tin, ngày 12-12 vừa qua, Đức Thánh Cha đã công bố sứ điệp đầu tiên của ngài về ngày hòa bình thế giới 1-1-2014, với chủ đề “Tình huynh đệ, nền tảng và con đường dẫn tới hòa bình”.

Sứ điệp này của Đức Thánh Cha bao gồm 10 số, trong đó Ngài bàn đến nhiều khía cạnh của cuộc sống, mà tâm điểm là tình huynh đệ. Ngài đã dựa vào câu chuyện của ông Cain và Aben trong sách Sáng Thế để nhận định rằng tình huynh đệ là ơn gọi và cũng là khao khát cháy bỏng của mọi con người. Nhưng con người đã vì những ích kỷ của mình mà phản bội lại ơn gọi này khi nỡ ra tay sát hại đồng loại, gây ra biết bao tai ương cho nhau. Ngài cũng trích dẫn một số Thông Điệp của các vị tiền nhiệm để gợi nhắc lại ý nghĩa của chữ “hòa bình”. Để có thể có được bình an, nhất thiết, con người không thể xem nhau như người đối nghịch nhưng như những anh chị em thân cận để quan tâm và chăm sóc. Ngài còn cho biết, con người cũng sẽ không thể có được tình huynh đệ thực sự nếu không quy chiếu đến một tình Phụ tử chung là tình yêu của Thiên Chúa.

Sau đây, chúng tôi xin gửi đến quý vị toàn văn sứ điệp này của ngài:

1. Trong Sứ Điệp đầu tiên của tôi nhân ngày Hòa Bình Thế Giới, tôi xin gửi đến từng người, các cá nhân và mọi dân tộc, lời cầu chúc mong cho mọi người có được một cuộc sống đầy tràn niềm vui và an bình. Ngay nơi tâm điểm của từng người nam nữ đều có một khao khát sống một cuộc sống tròn đầy, trong đó bao hàm một khát vọng không thể kiềm chế về tình huynh đệ vốn là điều lôi kéo chúng ta đến mối hiệp thông với người khác và cho phép chúng ta nhìn đến họ không phải như những kẻ thù hay đối nghịch, như là những người anh chị em được đón nhận và được ôm ấp.

Tình huynh đệ là một chiều kích căn cốt của con người vì chúng ta là những hữu thể có tương quan. Một ý thức sống động về tương quan này sẽ giúp chúng ta nhìn nhận và đối xử với người khác như là anh chị em thực sự của mình; không có tình huynh đệ, chúng ta không thể xây dựng một xã hội công bằng và một nền hòa bình kéo dài và bền vững. Chúng ta nên nhớ rằng tình huynh đệ được học cách chung trước hết nơi gia đình, mà trên hết nhờ vào vai trò trách nhiệm và bổ túc của từng thành viên, cách riêng là của các bậc cha mẹ. Gia đình là nguồn mạch của tất cả các tình huynh đệ, và như thế nó là nền tảng và là con đường chính yếu dẫn tới hòa bình, vì ơn gọi của gia đình là lan tỏa tình yêu của nó ra thế giới chung quanh.

Số lượng các mối liên hệ đan xen và truyền thông không ngừng gia tăng trên thế giới ngày nay làm cho chúng ta ý thức cách mạnh mẽ về sự hiệp nhất và vận mệnh chung của các quốc gia trên trái đất. Trong những năng động của lịch sử cũng như trong sự đa dạng của các nhóm thiểu số, các xã hội và các nền văn hóa, chúng ta thấy được hạt mầm của lời mời gọi làm nên một cộng đồng gồm những anh chị em, những người đón nhận và chăm sóc cho nhau. Nhưng tiếng gọi này vẫn còn thường xuyên bị chối từ và làm ngơ trong một thế giới bị đánh dấu bởi một “sự lạnh nhạt mang tính toàn cầu”, vốn làm cho chúng ta khó cảm nhận được những nỗi đau khổ của người khác và chỉ đóng khung trong chính mình.

Tại nhiều vùng miền trên thế giới, dường như vẫn còn vô số những sự xúc phạm nặng nề chống lại các quyền cơ bản của con người, đặc biệt là quyền được sống và quyền tự do tôn giáo. Hiện tượng đáng buồn nhất là chuyện buôn người, trong đó cuộc sống và nỗi tuyệt vọng của người khác bị đem đi kiếm lời một cách không thương tiếc, là một ví dụ mạnh tiếng nhất về việc này. Những cuộc xung đột võ trang kéo dài bớt minh nhiên hơn nhưng không hề bớt đi sự tàn độc trong các lãnh vực kinh tế và tài chính bằng những phương tiện có thể gây ra sự hủy hoại cho sự sống, gia đình và việc kinh doanh.

Việc toàn cầu hóa, như Đức Biển Đức 16 đã nói, làm cho chúng ta gần nhau hơn, nhưng thực tế nó đã không giúp chúng ta trở thành anh chị em của nhau. Bên cạnh đó, những tình cảnh bất bình đẳng, nghèo đói, bất công là những dấu chỉ, không chỉ phản ánh việc không có một tình huynh đệ sâu sắc, nhưng còn nói lên sự thiếu vắng của một nền văn hóa liên đới. Các ý thức hệ mới, được đặc tính hóa bởi chủ nghĩa cá nhân lan tràn, chủ nghĩa quy kỷ và chủ nghĩa tiêu thụ của cải vật chất đã làm suy yếu đi các mối dây xã hội, cổ xúy cho tư tưởng “loại trừ” vốn dẫn đến việc khinh thường và bỏ mặc những người yếu thế nhất và những ai bị xem là “vô dụng”. Cứ theo lối ấy, việc con người đồng hiện hữu với nhau càng dẫn đến chuyện chỉ đơn thuần là do ut des [có qua có lại], đầy tính thực dụng và ích kỷ.

Đồng thời, dường như rất rõ là các hệ thống đạo đức đương đại không có khả năng sinh ra những mối dây huynh đệ chân thực vì tình huynh đệ mà không quy chiếu đến một vị Cha chung như là nền tảng tối hậu của nó thì không thể kéo dài lâu được. Một tình huynh đệ thực sự giữa con người giả định và đòi hỏi có một tình Phụ Tử siêu việt. Dựa trên việc nhận biết tình phụ tử này, tình huynh đệ của con người mới được củng cố: mỗi người trở nên một “người thân cận” chăm sóc cho người khác.

“Em ngươi đâu? (St 4:9)

2. Để hiểu được đầy đủ hơn ơn gọi huynh đệ giữa con người với nhau, để có thể nhận ra rõ ràng hơn những ngăn trở còn đó trong việc thực thi và xác định những cách thế để vượt qua chúng, điều quan trọng hàng đầu là phải để kế hoạch của Thiên Chúa hướng dẫn mình, vốn được trình bày cách hiển nhiên trong Kinh Thánh.

Theo trình thuật sách sáng thế, tất cả các dân tộc đều xuất phát từ tổ tiên chung là Adam và Eva, cặp đôi được Thiên Chúa dựng nên giống Người và theo hình ảnh của Người (x. St 1:26), cũng là người đã sinh ra Cain và Abel. Nơi câu chuyện của gia đình đầu tiên này, chúng ta thấy những nguồn gốc của xã hội và sự tiến hóa của các tương quan giữa các cá nhân và dân tộc.

Abel là người chăn súc vật, Cain là nông dân. Căn tính sâu sắc và ơn gọi của họ là anh em với nhau, dù có những sự khác biệt trong hành vi và văn hóa của họ, trong cách thức họ có mối tương quan với Thiên Chúa và với các thụ tạo. Việc Cain giết Abel đã là một bằng chứng đau buồn cho việc Cain loại bỏ cách triệt để ơn gọi là anh em giữa họ. Câu chuyện của họ (x. St 4:1-16) mang đến những nhiệm vụ khó khăn mà tất cả mọi người nam nữ được mời gọi sống như người một nhà, mỗi người chăm lo cho nhau. Cain, kẻ đã không chấp nhận được sự ưu ái của Thiên Chúa dành cho Abel khi ông này dâng lên Chúa con vật tốt nhất trong đàn – “Đức Chúa đoái nhìn đến Aben và lễ vật của ông, nhưng Cain và lễ vật của ông thì Người không đoái nhìn” (St 4:4-5), đã giết Abel vì ganh tị. Theo đó, ông cũng không chịu xem Abel là anh em mình, từ chối có tương quan tích cực với ông, và từ chối sống trước mặt Chúa, chối bỏ trách nhiệm quan tâm và bảo vệ người khác. Khi hỏi ông “em ngươi đâu?”, Thiên Chúa muốn ông phải suy nghĩ về những gì ông đã làm. Ông trả lời: “Con không biết. Con có phải là người canh giữ em con đâu?” (St 4:9). Rồi, sách Sáng Thế kể lại cho chúng ta: “Ông Cain đi xa khuất mặt Đức Chúa” (St 4:16).

Chúng ta cần phải tự vấn chính mình đâu là những nguyên do chính dẫn Cain tới việc không đếm xỉa tới mối dây huynh đệ và đồng thời, là mối dây hiệp thông vốn nối kết ông với người anh em Abel. Chính Thiên Chúa đã kết án và quở trách sự thông đồng của Cain với sự dữ: “Tội lỗi đang nằm phục ở cửa” (St 4:7). Nhưng Cain từ chối chống lại sự dữ, thay vào đó, ông vẫn quyết định đưa tay lên “chống lại em mình là Abel” (St 4:8), ông khinh thường kế hoạch của Thiên Chúa. Như thế, ông đã phá hỏng ơn gọi nguyên thủy là con cái Thiên Chúa và sống với nhau trong tình anh em.

Câu chuyện của Cain và Abel dạy chúng ta rằng chúng ta có một ơn gọi cố hữu trở thành anh chị em của nhau, nhưng chúng ta cũng có khả năng phản bội lại ơn gọi ấy. Điều này được phản ánh trong những hành vi ích kỷ hàng ngày của chúng ta, vốn nằm ngay nơi tâm điểm của các cuộc chiến tranh và những bất công: nhiều người đã chết dưới bàn tay của anh chị em mình, những người đã không nhìn nhận họ như là những hữu thể được dựng nên cho một mối dây hỗ tương, cho sự hiệp thông và trao ban chính mình.

“Còn tất cả anh em đều là anh em của nhau” (Mt 23:8)

3. Câu hỏi tự nhiên bộc lên: liệu mọi người trên thế giới này có bao giờ đáp lại cách trọn vẹn khao khát một tình huynh đệ mà Thiên Chúa đã đặt trong họ chưa? Họ đã nỗ lực bằng sức của mình để vượt qua những lạnh nhạt, chủ nghĩa ích kỷ và căm ghét, và để đón nhận những khác biệt chính đáng làm nên cá tính của anh chị em mình chưa?

Diễn giải lại những lời nói của Đức Giêsu, chúng ta có thể tóm tắt lại câu trả lời mà Người đã đưa ra: “Vì anh em chỉ có một Cha trên trời, là Thiên Chúa, nên tất cả các con là anh chị em của nhau” (x. Mt 23:8-9). Căn bản của tình huynh đệ được tìm thấy nơi tình phụ tử của Thiên Chúa. Chúng ta không nói về một tình phụ tử theo giống loài, xa xăm và chẳng có tác dụng gì về mặt lịch sử nhưng đúng hơn là một tình yêu cá vị cụ thể đặc biệt và ngoại thường của Thiên Chúa dành cho mỗi người nam và nữ (x. Mt 6:25-30). Thế nên, đó là một tình phụ tử làm phát sinh ra tình huynh đệ, vì tình yêu của Thiên Chúa, khi được đón nhận, sẽ trở thành phương tiện có sức mạnh mẽ nhất làm biển đối sự hiện hữu và tương quan với người khác, giúp con người mở ra với sự liên đới và sự sẻ chia tích cực.

Cách đặc biệt, tình huynh đệ giữa con người với nhau được tái tạo lại trongnơi Đức Giêsu Kitô qua cái chết và sự phục sinh của Người. Thánh giá là “quy điểm” tuyệt đối của nền tảng tình huynh đệ mà con người không thể tự mình làm phát sinh ra. Đức Giêsu Kitô, Đấng đã mặc lấy xác phàm để cứu độ con người, yêu mến Chúa Cha đến nỗi chết trên cây thập giá (x. Pl 2:8), đã qua cái chết của Người mà làm cho chúng ta trở thành một nhân loại mới, trong sự hiệp thông trọn trẹn với thánh ý Thiên Chúa, với kế hoạch của Người, vốn bao hàm một sự hiện thực trọn vẹn ơn gọi của chúng ta là anh chị em với nhau.

Ngay từ đầu, Đức Giêsu đã mang lấy kế hoạch của Cha, chân nhận tính ưu tiên của nó trên mọi thứ khác. Nhưng Đức Kitô, qua việc hiến mình cho đến chết vì tình yêu dành cho Cha, đã trở nên một nguyên lý mớidứt khoát dành cho tất cả chúng ta; chúng ta được mời gọi để nhìn nhận nhau như là anh chị em trong Người, vì chúng ta đều là con cái của cùng một Cha. Chính Người là giao ước mới; nơi con người của Người, chúng ta được hòa giải với Thiên Chúa và với anh chị em mình. Cái chết của Đức Giêsu trên thập giá cũng mang đến cái kết cho sự chia rẽ giữa các dân tộc, giữa dân của Giao Ước và dân ngoại, những người bị tước mất niềm hy vọng vì cho đến giây phút ấy, họ bị xem không phải là một phần của Lời Hứa. Như chúng ta đọc thấy trong Thư gửi tín hữu Êphêxô, Đức Giêsu Kitô là Đấng đã giao hòa tất cả mọi người trong Người. Người sự bình an, vì Người đã làm cho hai dân tộc thành một, phá vỡ đi bức tường ngăn cách chia rẽ họ, chính là sự thù nghịch giữa họ. Người đã sáng tạo nơi Người một dân duy nhất, một con người mới duy nhất, một nhân loại mới duy nhất (x. Ep 2:14-16).

Những ai đón nhận cuộc đời của Đức Kitô và sống trong Người thì cũng nhìn nhận Thiên Chúa là Cha và trao dâng chính mình hoàn toàn cho Người, yêu Người trên hết mọi sự. Người nào đã được hòa giải thì nhìn thấy nơi Thiên Chúa hình ảnh vị Cha chung của tất cả và kết quả là, người ấy được thúc đẩy đến việc sống một cuộc sống huynh đệ mở ra với tất cả. Trong Đức Kitô, người khác được đón nhận và được yêu thương như một người con của Thiên Chúa, như anh chị em, chứ không phải như một người lạ, càng không phải như người đối nghịch hay thậm chí là kẻ thù. Trong gia đình của Thiên Chúa, nơi tất cả đều là con cái của cùng một Cha, và vì họ được đính vào Đức Kitô, những người con trong Người Con, không hề có “những cuộc sống bị bỏ đi”. Tất cả mọi người cùng vui hưởng một phẩm giá ngang bằng và bất khả xâm phạm. Tất cả mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương. Tất cả mọi người đều được cứu chuộc bởi Bửu Huyết của Đức Kitô, Đấng đã chết trên cây Thập Giá và phục sinh cho tất cả. Đó là lý do giải thích vì sao không ai có thể dửng dưng trước số phận của anh chị em mình.

Tình huynh đệ, nền tảng và con đường dẫn tới hòa bình.

4. Như những gì vừa được nói, thật dễ dàng để nhận ra rằng tình huynh đệ là nền tảng và là con đường dẫn tới hòa bình. Những thông điệp xã hội mà các Vị Tiền Nhiệm của tôi đã viết có thể rất hữu ích trong vấn đề này. Lấy từ các định nghĩa thế nào là hòa bình trong các Thông điệp Populorum Progressio của Đức Phaolô VI và Sollicitudo Rei Socialis của Đức Gioan Phaolô II thiết nghĩ cũng đã đủ rồi. Trong Thông Điệp thứ nhất, chúng ta thấy rằng sự phát triển trọn vẹn của các dân tộc là cái tên mới của chữ hòa bình. Trong Thông Điệp thứ hai, chúng ta kết luận rằng hòa bình là một opus solidaritatis [hoa trái của tình liên đới].

Đức Phaolô VI đã nói rằng không chỉ các cá nhân nhưng là các quốc gia cũng phải gặp gỡ nhau trong tinh thần huynh đệ. Ngài nói: “Trong tình bằng hữu và sự hiểu biết hỗ tương này, trong mối hiệp thông thánh này, chúng ta cũng phải … làm việc cùng nhau để xây dựng một tương lai chung của toàn nhân loại”. Một mặt, nhiệm vụ này thuộc về những người có ưu thế nhất. Những nghĩa vụ của họ được bám rễ trong tình huynh đệ vừa mang tính siêu nhiên và vừa mang tính con người, và được diễn tả theo ba cách: nghĩa vụ liên đới vốn đòi hỏi những quốc gia giàu hơn trợ giúp cho những quốc gia kém phát triển hơn; nghĩa vụ công bằng xã hội vốn đòi hỏi việc tái cấu lại các tương quan giữa các dân tộc mạnh hơn và yếu hơn để nhắm tới sự công bằng lớn hơn; và nghĩa vụ bác ái phổ quát vốn đòi hỏi sự xây dựng một thế giới nhân văn hơn cho tất cả, một thế giới mà trong đó mỗi nước đều có cái gì đó để cho đi và nhận lãnh, mà không có chuyện nước này gây cản trở cho sự phát triển của người khác.

Nếu chúng ta xem hòa bình như là opus solidaritatis, chúng ta không thể không thừa nhận rằng tình huynh đệ là nền tảng cốt yếu của nó. Hòa bình như Đức Gioan Phaolô II đã nói, là một điều tốt lành không thể chia cắt. Hoặc là nó tốt cho tất cả hoặc là chẳng tốt cho ai. Nó có thể thực sự được đạt tới và vui hưởng, như là điều cao cả nhất của cuộc sống và là một sự phát triển nhân văn hơn và có thể đạt được, chỉ khi tất cả mọi người đều được sự liên đới hướng dẫn như “một quyết định chắc chắn và bền bỉ trong việc dấn thân của mỗi người dành cho công ích”. Điều đó không có nghĩa là được hướng dẫn bởi một “khát vọng lợi ích” hay một “khát khao quyền lực”. Điều cần thiết là sẵn sàng “quên mình” vì lợi ích của người khác hơn là khai thác họ, và “phục vụ họ” thay vì áp bức họ vì lợi ích của riêng chúng ta. […]“Cái khác này – dù là một con người, dân tộc hay quốc gia – không được xem như chỉ một thứ công cụ nào đó, có khả năng làm việc và sức mạnh thể lý để bị khai thác với bất cứ giá nào, và rồi vứt bỏ đi khi không còn hữu ích nữa, nhưng phải được nhìn nhận là “người thân cận” của tôi, một “sự trợ giúp” của tôi.”

Tình liên đới Kitô giáo giả định rằng người thân cận của chúng ta được yêu mến không chỉ như “một con người với những quyền lợi riêng của họ và một sự ngang bằng nền tảng với người khác, nhưng như là một hình ảnh sống động của Thiên Chúa Cha, được bửu huyết của Đức Giêsu Kitô cứu chuộc và được đặt dưới tác động miên viễn của Thánh Thần”, như người anh chị em. Như Đức Gioan Phaolô II đã lưu ý: “Ở điểm này, một ý thức về tình phụ tử chung của Thiên Chúa, tình huynh đệ của tất cả trong Đức Kitô – ‘con trong Người Con’ – và sự hiện diện và hành vi trao ban sự sống của Thánh Thần, sẽ mang đến cho thế giới quan của chúng ta một tiêu chí mới để giải thích nó”, để thay đổi nó.

Tình huynh đệ, một điều kiện tiên quyết trong cuộc chiến chống lại nghèo đói.

5. Trong Thông Điệp Caritas in Veritate, Vị Tiền Nhiệm của tôi đã nhắc nhở thế giới việc thiếu đi tình huynh đệ giữa các dân tộc và giữa con người với nhau là một nguyên nhân quan trọng cho cái nghèo như thế nào. Trong nhiều xã hội, chúng ta đang trải nghiệm một cái nghèo tương quan sâu sắc như kết quả của việc thiếu đi những mối tương quan cộng đồng và gia đình bền chặt. Chúng ta bận tâm nhiều về sự gia tăng của những kiểu khốn khổ khác nhau, việc loại trừ ra bên lề xã hội, của việc cô lập và các hình thức lệ thuộc bệnh hoạn khác. Kiểu nghèo này chỉ có thể được vượt qua nhờ việc tái khám phá và đánh giá các mối tương quan huynh đệ nơi tâm điểm của các gia đình và cộng đồng, qua việc chia sẻ niềm vui, nỗi buồn, những khó khăn và những thành công vốn là một phần của cuộc sống con người.

Hơn nữa, nếu một mặt chúng ta đang thấy sự suy giảm trong cái nghèo tuyệt đối, thì đằng khác chúng ta không thể không thừa nhận rằng có một sự gia tăng nghiêm trọng trong cái nghèo tương đối, đó là những trường hợp bất bình đẳng giữa các dân tộc và nhóm người sống với nhau trên những vùng lãnh thổ nào đó hay trong một bối cảnh văn hóa-lịch sử xác định nào đó. Theo nghĩa này, thật cần thiết biết bao khi có những chính sách hiệu quả để thăng tiến nguyên tắc huynh đệ, đảm bảo cho con người – vốn bình đẳng về nhân phẩm và các quyền cơ bản – có được “nguồn vốn”, các dịch vụ, nguồn giáo dục, chăm sóc sức khỏe và kỹ thuật để mỗi người có thể có được cơ hội diễn tả và nhận ra dự phóng cuộc đời của họ và phát triển trọn vẹn như một con người.

Người ta cũng thấy nhu cầu cần có những chính sách giúp làm nhẹ bớt sự bất quân bình thái quá giữa các nguồn thu. Chúng ta không được quên rằng giáo huấn của Giáo Hội trên cái gọi là thế chấp xã hội, cho rằng “là hợp pháp, như Thánh Tôma Aquinô nói và thật sự cần thiết khi con người có quyền sở hữu tài sản”, trong mức độ liên quan đến việc sử dụng, “họ sở hữu chúng không chỉ như của riêng nhưng còn như của chung, theo nghĩa là không chỉ riêng mình họ nhưng cả người khác cũng được hưởng lợi từ tài sản”.

Cuối cùng, cũng có một hình thức khác giúp thăng tiến tình huynh đệ – và vì thế loại trừ nghèo đói – vốn phải nằm ở nền tảng của tất cả những hình thức khác. Đó là việc bức mình ra của những ai chọn sống một lối sống chín chắn và căn bản, những người nỗ lực trải nghiệm mối hiệp thông huynh đệ với những người khác bằng việc chia sẻ của cải của mình. Đây là yếu tố nền tảng của việc bước theo Đức Giêsu Kitô và trở thành một Kitô hữu thực thụ. Đó không chỉ là trường hợp của những người sống đời thánh hiến tuyên khấn khó nghèo, nhưng còn là của nhiều gia đình và các công dân có trách nhiệm, những người đã xác quyết tin nhận rằng chính mối tương quan huynh đệ của họ với những người chung quanh mới làm nên điều tốt đẹp quý giá nhất của họ.

Tái khám phá tình huynh đệ trong môi trường kinh tế

6. Những cuộc khủng hoảng lớn về kinh tế và tài chính hiện nay – vốn bắt nguồn từ việc con người càng ngày càng xa Thiên Chúa và xa nhau, thể hiện một phần trong việc theo đuổi tham vọng của cải vật chất, mặt khác là việc làm kiệt quệ các tương quan cộng đồng và tương quan liên vị – đã đẩy con người đến chỗ tìm kiếm thỏa mãn, hạnh phúc và an toàn trong việc tiêu thụ và thu nhập cao hơn so với nguyên lý của nền kinh tế lành mạnh. Vào năm 1979, Đức Gioan Phaolô II đã gợi nhắc đến “một mối nguy có thể nhận thấy thực sự là trong khi sự thống trị của con người trên thế giới vật chất đang đạt được những thuận lợi đáng kể, thì con người cũng đánh mất đi những kết nối cần thiết trong việc thống trị và trong nhiều cách thế khác nhau, con người để nhân tính của mình bị lệ thuộc vào thế giới và chính mình trở nên lệ thuộc vào những lươn lẹo theo nhiều cách – thậm chí những lươn lẹo này thường không được nghiệm thấy cách trực tiếp – thông qua toàn bộ cơ cấu đời sống cộng đồng, qua hệ thống sản xuất và qua áp lực từ các phương tiện truyền thông xã hội.”

Một chuỗi nối tiếp nhau các khủng hoảng kinh tế có thể mang đến các cơ hội tái suy nghĩ về những kiểu mẫu phát triển kinh tế của chúng ta và một sự thay đổi trong các nếp sống. Những khủng hoảng ngày nay, thậm chí là với những ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống con người, cũng có thể cung cấp cho chúng ta một cơ hội tốt để tái khám phá lại các nhân đức khôn ngoan, can đảm, công bằng, tiết độ. Những nhân đức này có thể giúp chúng ta vượt qua những giây phút khó khăn và phục hồi lại những mối dây huynh đệ nối kết chúng ta lại với nhau, với một sự tin tưởng sâu thẳm rằng nhân loại cần và có thể đạt được cái gì đấy lớn hơn là tối đa hóa lợi ích cá nhân mình. Trên hết, những nhân đức này rất cần thiết để xây dựng và bảo tồn một xã hội phù hợp với phẩm giá con người.

nh huynh đệ dập tắt chiến tranh

7. Trong năm qua, rất nhiều anh chị em của chúng ta đang phải tiếp tục chịu đựng những kinh nghiệm hủy hoại của chiến tranh, vốn đã tạo ra những vết thương nặng nề và sâu thẳm gây tổn hại đến tình huynh đệ.

Rất nhiều trong số đó là những cuộc xung đột diễn ra ngay giữa những lạnh lùng nói chung. Đối với những ai sống trong những vùng đất, nơi xảy ra những vụ khủng bố và phá hủy với những loại vũ khí, tôi bảm bảo rằng cá nhân tôi và toàn Giáo Hội luôn ở gần bên các bạn, vì sứ mạng của Giáo Hội là mang tình yêu của Đức Kitô đến cho những nạn nhân không có sức kháng cự của những cuộc chiến tranh qua lời cầu nguyện xin ơn bình an, và việc phục vụ dành cho những ai bị thương, người đói, người tị nạn, người bị trục xuất và tất cả những ai đang sống trong sợ hãi. Giáo Hội cũng lên tiếng xin các nhà lãnh đạo hãy nghe tiếng khóc than đau đớn của những nỗi khốn khổ và mau kết thúc mọi hình thức căm hờn, lạm dụng và xâm phạm các quyền căn bản của con người.

Vì lý do này, tôi mạnh mẽ thỉnh cầu những ai đang gieo rắc bạo lực và cái chết bằng sức mạnh vũ trang: đừng nhìn thấy nơi con người ngày nay chỉ như một kẻ thù cần phải gây chiến, nhưng hãy nhìn nhận họ như những anh chị em của mình và hãy rút tay lại! Hãy từ bỏ các hình thức vũ khí và đi ra gặp gỡ người khác trong đối thoại, tha thứ và hòa giải, để có thể tái dựng xây hòa bình, niềm tin và hy vọng chung quanh các bạn! “Từ quan điểm này, rõ ràng là, đối với mọi dân tộc trên thế giới, những cuộc xung đột vũ trang luôn luôn là một sự phủ nhận có cân nhắc sự hòa hợp quốc tế, và tạo ra những chia rẽ sâu sắc và những vết thương sâu thẳm mà phải nhiều năm sau mới chữa lành được. Chiến tranh là một sự chối từ cụ thể công cuộc theo đuổi những mục tiêu xã hội và kinh tế to lớn mà cộng đồng quốc tế đã tự mình thiết định”.

Tuy nhiên, trong khi một lượng lớn các võ khí đang lưu hành ở hiện tại, thì người ta có thể viện nhiều cớ mới để phát động những cuộc chiến tranh. Vì thế, tôi xin mượn lời thỉnh nguyện của các vị tiền nhiệm của tôi, mong các bạn hãy hạn chế các loại võ khí tiêu diệt hàng hoạt và giải giáp các bên tham chiến, bắt đầu với việc giải giáp các loại vũ khí hóa học và vũ khí hạt nhân.

Tuy nhiên, chúng ta cũng không quên nhìn nhận rằng các thỏa thuận quốc tế và luật quốc gia – dù đã đủ và rất lý tưởng – tự bản thân chưa đủ để bảo vệ nhân loại khỏi nguy cơ xung đột võ khí. Một sự hoán cải của con tim là rất cần thiết vốn cho phép mỗi người nhận ra nơi người khác một người anh chị em của mình để chăm sóc và cùng làm việc với nhau để xây dựng một cuộc sống tròn đầy hơn cho tất cả mọi người. Đây chính là tinh thần đã giúp soi sáng cho nhiều sáng kiến trong xã hội dân sự, bao gồm cả các tổ chức tôn giáo, để thăng tiến hòa bình. Tôi tỏ bày niềm hy vọng của mình rằng những dấn thân hằng ngày của tất cả mọi người sẽ tiếp tục sinh hoa kết trái và sẽ có một sự ứng dụng hiệu quả trong luật pháp quốc tế về quyền được hưởng hòa bình như một quyền cơ bản của con người và là một điều kiện tiên quyết cần thiết cho các quyền khác.

Tham nhũng và tội phạm có tổ chức đe dọa tình huynh đệ

8. Biên cương của tình huynh đệ cũng phải kể tới nhu cầu đạt đến sự tròn đầy của mỗi người. Những tham vọng chính đáng của con người, đặc biệt là của những người trẻ, không được bị ngăn trở hay phản đối, và cũng không được để hy vọng hiện thực hóa chúng của con người bị đánh mất đi. Tuy nhiên, tham vọng không được lầm lẫn với lạm dụng quyền lực. Trái lại, con người phải cạnh tranh với nhau trong một sự tôn trọng lẫn nhau (x. Rm 12:10). Khi gặp những bất đồng, vốn là điều không thể tránh được trong cuộc sống, chúng ta phải luôn nhớ rằng chúng ta là anh chị em của nhau và vì thế, chúng ta phải dạy bảo nhau không được xem người thân cận như kẻ thù hay như một kẻ đối nghịch cần phải bị loại trừ.

Tình huynh đệ tạo ra hòa bình xã hội vì nó kiến tạo một sự quân bình giữa tự do và công lý, giữa trách nhiệm cá nhân và sự liên đới, giữa thiện ích của các cá nhân và thiện ích chung. Và vì thế, một cộng đồng chính trị phải hành xử sao cho minh bạch và trách nhiệm vì tất cả những điều này. Các công dân phải cảm thấy chính mình được các thẩm quyền công đại diện trong sự tôn trọng tự do của họ. Tuy nhiên, thường thì các lợi ích phe phái cứ làm chia rẽ các công dân với các cơ chế, làm méo mó tương quan này, gây ra một bầu khí xung đột kéo dài.

Một tinh thần huynh đệ chân thực sẽ vượt qua được những ích kỷ cá nhân vốn là cái xung khắc với khả năng sống trong tự do và hòa hợp với nhau của con người. Về mặt xã hội, dù được thể hiện dưới những hình thức tham nhũng, hay rộng rãi hơn ngày nay trong việc hình thành những tổ chức tội phạm, kiểu ích kỷ ấy đã phát triển từ những nhóm nhỏ đến các nhóm có tổ chức ở phạm vi toàn cầu. Những nhóm này đã làm lũng đoạn nền pháp lý và công bình, tấn công vào ngay tâm điểm của phẩm giá con người. Những tổ chức này chống lại Thiên Chúa cách nặng nề, chúng gây tổn thương cho người khác và làm hại đến công trình tạo dựng, càng nguy hại hơn khi nó mang sắc thái tôn giáo.

Tôi cũng nghĩ đến những thảm kịch đau lòng của việc nghiện ngập, trục lợi với một sự xem thường luật luân lý và pháp luật nhà nước. Tôi nghĩ đến việc tàn phá các tài nguyên thiên nhiên và vấn đề ô nhiễm đang diễn ra và việc bóc lột sức lao động. Tôi cũng nghĩ đến việc buôn bán tiền tệ bất hợp pháp và đầu cơ tài chánh, vốn gây ra những hậu quả không tốt và tai hại cho toàn bộ các hệ thống xã hội và kinh tế, đẩy hàng triệu người đến chỗ nghèo túng. Tôi nghĩ đến chuyện mại dâm, một nghề làm giàu từ các nạn nhân vô tội, đặc biệt là người trẻ, cướp đi tương lai của họ. Tôi nghĩ đến những kinh tởm của việc buôn người, tội phạm và lạm dụng chống lại những người yếu thế, tình trạng nô lệ vẫn còn đang tồn tại ở một số vùng trên thế giới; tình trạng thường xuyên bị bỏ quên của những người tị nạn, vốn là nạn nhân của những thao túng phi pháp đáng hỗ thẹn. Như Đức Gioan XXIII có viết: “Một xã hội đặt nền trên các tương quan quyền lực thì chẳng có gì gọi là nhân văn. Thay vì tìm cách giúp con người lớn lên và hoàn thiện, xã hội ấy chỉ cổ võ những áp bức và giới hạn tự do của con người”. Tuy nhiên, con người có thể thay đổi; họ không bao giờ được thất vọng trong việc có thể thay đổi cuộc sống của mình. Tôi mong ước đây là một thông điệp hy vọng và tin tưởng cho tất cả mọi người, kể cả những ai đã thực hiện những tội ác nặng nề, vì Thiên Chúa không muốn tội nhân phải chết nhưng muốn người ấy hoán cải và được sống (x. Ez 18:23)

Trong bối cảnh rộng lớn các mối tương quan xã hội con người, khi chúng ta nhìn thấy tội ác và hình phạt, chúng ta không thể không nghĩ đến những điều kiện phi nhân trong nhiều nhà tù, nơi mà những ai bị giam cầm thường bị giáng xuống tình trạng thấp hơn con người với một sự vi phạm nhân phẩm và ý muốn và khát khao phục hồi của họ bị làm hao mòn. Giáo Hội hoạt động rất nhiều trong những môi trường này, phần lớn là trong thinh lặng. Tôi ủng hộ và khuyến khích mỗi người hãy làm hơn nữa, với một niềm hy vọng rằng những nỗ lực được thực thi trong lĩnh vực này của rất nhiều các thiện nam tín nữ ngày càng được nâng đỡ, cách công bằng và chân thành, bởi các thẩm quyền dân sự.

Tình huynh đệ giúp bảo tồn và nuôi dưỡng thiên nhiên

9. Gia đình nhân loại đã nhận được từ Tạo Hóa một món quà chung: thiên nhiên. Cái nhìn Kitô hữu về tạo dựng bao hàm một cái nhìn tích cực về tính hợp pháp của những can thiệp vào thiên nhiên khi những can thiệp ấy nhằm hưởng lợi từ chúng và được thực thi một cách có trách nhiệm, nghĩa là, qua việc thừa nhận những “quy luật văn phạm” được ghi khắc trong thiên nhiên và sử dụng cách khôn ngoan các nguồn tài nguyên nhằm ích chung, tôn trọng nét đẹp, cùng đích tính và hữu dụng tính của mỗi sinh vật và vị trí của chúng trong hệ sinh thái. Tắt một lời, thiên nhiên nằm trong sự định đoạt của chúng ta và chúng ta được mời gọi để quản lý chúng một cách có trách nhiệm. Tuy nhiên, chúng ta thường bị những tham vọng và sự ngạo mạn của việc chiếm hữu, sở hữu, lươn lẹo và khai thác lôi kéo; chúng ta không bảo tồn thiên nhiên; cũng không coi trọng nó hay xem nó như một món quà quý báu mà chúng ta phải chăm sóc và sử dụng để phục vụ anh chị em mình, kể cả các thế hệ tương lai.

Cách đặt biệt, lĩnh vực nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất hàng đầu với thiên hướng chủ yếu là cải tạo và bảo vệ các nguồn tài nguyên để nuôi sống con người. Thế nên, tình trạng nghèo nói liên tục trên thế giới thúc đẩy tôi đến việc chia sẻ với các bạn câu hỏi này: Chúng ta đang sử dụng các tài nguyên của trái đất như thế nào? Các xã hội đương đại cũng nên suy nghĩ về thứ bậc những ưu tiên mà việc sản xuất hướng đến. Đích thực là nghĩa vụ cấp bách khi ta sử dụng các nguồn tài nguyên của trái đất sao cho mọi người đều được thoát khỏi cái nghèo. Những sáng kiến và các giải pháp có thể nghĩ ra thì rất nhiều, nhưng lại không giới hạn vào việc tăng gia sản xuất. Ai cũng biết việc sản xuất hiện tại là đủ, nhưng lại có hàng triệu người tiếp tục chịu đau khổ và chết đói, và đây là một đáng ô nhục thực sự. Thế nên, chúng ta cần tìm ra cách thức giúp nhiều người có thể thụ hưởng được những lợi ích từ những hoa quả của trái đất, không chỉ là tránh khoảng cách càng ngày càng lớn giữa những người có nhiều và những người phải cố gắng hài lòng với những mảnh vụn, nhưng trên hết vì đó là vấn đề của công bình, bình đẳng và tôn trọng mỗi người. Theo đó, tôi xin gợi nhắc mọi người về mục tiêu phổ quát cần thiết về tài sản vốn là một trong những nguyên tắc nền tảng của giáo huấn xã hội của Giáo Hội. Tôn trọng nguyên tắc này là điều kiện thiết yếu để dễ dàng mang đến cho người khác một cách hiệu quả và công bằng những sản phẩm thiếu yếu và quan trọng mà mỗi người đều cần và có quyền thụ hưởng.

Kết luận

10. Tình huynh đệ cần được khám phá, được yêu mến, được trải nghiệm, được loan báo và làm chứng. Nhưng chỉ có tình yêu, được trao ban như một tặng phẩm từ Thiên Chúa, mới có thể giúp chúng ta đón nhận và trải nghiệm tình huynh đệ cách tròn đầy.

Chủ nghĩa hiện thực cần thiết của các nền chính trị và kinh tế không thể bị giản lược thành một kiểu cơ cấu kỹ thuật, mất đi các lý tưởng và bỏ qua chiều kích siêu việt của con người. Khi con người không mở ra với Thiên Chúa, thì từng hành vi của con người cũng sẽ bị kiệt quệ và nhân vị sẽ bị giản lược thành đối tượng để có thể bị khai thác. Chỉ khi chính trị và kinh tế mở ra để đi vào trong không gian rộng mở được đảm bảo bởi Đấng yêu mến từng người một thì chúng mới có thể đạt được một cấu trúc trật tự đặt nền tảng trên một tinh thần bác ái huynh đệ chân thực và trở nên khí cụ hữu hiệu cho sự phát triển và hòa bình trọn vẹn của con người.

Những người Kitô hữu chúng ta tin rằng trong Giáo Hội, chúng ta là những chi thể của cùng một thân thể duy nhất, tất cả chúng ta cần đến nhau, vì mỗi người chúng ta được trao ban cho một đặc ân tùy theo thước đo ân sủng của Đức Kitô và vì công ích (x. Ep 4:7,25; 1 Cor 12:7). Đức Kitô đã đến trong thế giới này để mang đến cho chúng ta ơn sủng từ trời, nghĩa là, khả năng thông dự vào sự sống của Người. Điều này đòi buộc chúng ta phải đan quyện một khung các tương quan huynh đệ, đánh dấu bằng sự hỗ tương, sự tha thứ và hoàn toàn hiến thân mình, theo như chiều rộng và chiều sâu của tình yêu Thiên Chúa dành cho con người trong Đấng đã nhờ cái chết và sự phục sinh lôi kéo chúng ta đến với Người: “Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau như thầy đã yêu thương anh em. Người ta sẽ biết anh em là môn đệ Thầy nếu anh em yêu thương nhau” (Ga 13:34-35). Đây chính là tin vui đòi hỏi từng người chúng ta thực hiện một bước tiến nữa, thực hành liên lỉ sự cảm thông, lắng nghe những nỗi đau khổ và hy vọng của nười khác, thậm chí là những ai ở xa chúng ta nhất và bước đi trên con đường tình yêu ấy, một tình yêu sẽ giúp ta biết phải trao ban thế nào và dùng chính mình cách tự do vì lợi ích của anh chị em mình.

Đức Kitô đã ôm trọn lấy toàn thể nhân loại và không muốn ai bị lạc mất. “Vì Thiên Chúa đã sai Con của mình đế thế gian, không phải để kết án thế gian, nhưng là để thế gian được cứu độ nhờ Người (Ga 3:17). Người đã làm điều đó mà không cưỡng bức hay ép buộc ai mở cho Người cánh cửa của con tim và tâm trí. “Người lớn nhất trong các con phải trở thành người nhỏ nhất và người đứng đầu phải là người phục vụ” – Đức Giêsu Kitô nói – “Ta ở giữa các con như người phục vụ” (Lc 22:26-27). Vì thế, mỗi hành vi được trở nên cao quý nhờ thái độ phục vụ những người khác, đặc biệt là những người ở xa và ít được biết đến. Phục vụ là linh hồn của tình huynh đệ xây dựng hòa bình.

Nguyện xin Mẹ Maria, Mẹ Đức Giêsu, giúp chúng ta hiểu và sống mọi ngàytình huynh đệ vốn bắt nguồn từ thánh tâm con Mẹ, để chúng ta có thể mang bình an đến cho mọi người trên trái đất yêu dấu này của chúng ta.

Từ Vatican, 8.12.2013

(chuyển ngữ: Pr. Lê Hoàng Nam, SJ)

Đức Thánh Cha kêu gọi cầu nguyện cho các tín hữu Kitô bị kỳ thị và bách hại

Đức Thánh Cha kêu gọi cầu nguyện cho các tín hữu Kitô bị kỳ thị và bách hại

VATICAN. Trong buổi đọc kinh Truyền Tin lễ thánh Stephano tử đạo trưa hôm qua, 26-12, ĐTC mời gọi các tín hữu cầu nguyện cho các Kitô hữu đang bị bách hại hoặc kỳ thị trên thế giới.

Trong bài huấn dụ ngắn trước khi đọc kinh, với sự tham dự của khoảng 10 ngàn tín hữu, ĐTC xác quyết lễ kính thánh Stephano tử đạo rất phù hợp với bầu không khí vui tươi của lễ Giáng Sinh

Huấn dụ của ĐTC

Anh chị em thân mến,

Phụng vụ kéo dài Đại Lễ Giáng Sinh trong 8 ngày: một thời gian vui mừng cho toàn thể dân Chúa! Và trong ngày thứ hai của tuần bát nhật này, trong niềm vui của lễ Giáng Sinh có lễ thánh Stephano, vị tử đạo đầu tiên của Giáo Hội. Sách Tông đồ công vụ trình bày thánh nhân cho chúng ta như một người ”đầy lòng tin và Thánh Thần” (6,5), được chọn cùng với 6 người khác để phục vụ các bà góa và người nghèo trong cộng đồng tiên khởi ở Jerusalem. Và Sách cũng kể lại cho chúng ta cuộc tử đạo của ngài: sau một bài diễn văn nẩy lửa khiến cho các thành viên Thượng Hội đồng Do thái thịnh nộ, thánh Stephano bị lôi ra ngoài thành và bị ném đá. Thánh Stephano đã chết như Chúa Giêsu, xin tha thứ cho những kẻ giết ngài (7,55-60.)

Trong bầu không khí vui tươi của lễ Giáng Sinh, việc tưởng niệm này có thể là không thích hợp. Thực vậy, lễ Giáng Sinh là lễ sự sống và đổ tràn trong tâm hồn chúng ta những tâm tình thanh thản và an bình; tại sao lại làm xáo trộn sức thu hút của lễ Giáng Sinh bằng cách nhắc nhớ bạo lực dữ dằn như thế? Trong thực tế, dưới nhãn giới đức tin, lễ thánh Stephano hoàn toàn hòa hợp với ý nghĩa sâu xa của lễ Giáng Sinh. Thực vậy, trong cuộc tử đạo, bạo lực bị tình thương chiến thắng, sự chết bị sự sống đánh bại. Giáo Hội coi sự hy sinh của các vị tử đạo là sự sinh ra của các ngài trong nước trời. Vì thế, hôm nay chúng ta cử hành sinh nhật của thánh Stephano, xuất phát một cách sâu xa từ sinh nhật của Chúa Kitô. Chúa Giêsu biến đổi cái chết của những ngừơi yêu mến Ngài thành binh minh của đời sống mới!”.

Trong cuộc tử đạo của thánh Stephano tái diễn cùng một cuộc đụng độ giữa sự thiện và sự ác, giữa oán thù và tha thứ, giữa sự dịu dàng và bạo lực, với tột đỉnh nơi Thập Giá của Chúa Kitô. Việc tưởng niệm vị tử đạo đầu tiên ngày sau lễ Giáng Sinh đánh tan hình ảnh sai lầm về lễ này, một hình ảnh hoang đường và vô vị, không hề có trong Phúc Âm! Phụng vụ đưa chúng ta trở lại ý nghĩa chân chính của sự nhập thể, gắn liền Bethlehem với đồi Canvê, và nhắc nhớ cho chúng ta rằng ơn cứu của Chúa bao hàm cuộc chiến đấu chống tội lỗi, đi qua cửa hẹp của Thập Giá. Đó là con đường Chúa Giêsu đã chỉ cho chúng ta một cách rõ ràng như Tin Mừng hôm nay làm chứng: ”Các con sẽ bị mọi người ghét bỏ vì danh Thầy. Nhưng ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu thoát” (Mt 10,22).

”Vì thế, ngày hôm nay chúng ta hãy cầu nguyện đặc biệt cho các tín hữu Kitô đang bị kỳ thị vì làm chứng cho Chúa Kitô và Tin Mừng. Chúng ta hãy gần gũi những anh chị em, như thánh Stephano, đang bị tố cáo bất công và trở thành đối tượng cho bạo lực đủ loại. Điều này đặc biệt xảy ra tại những nơi mà tự do tôn giáo chưa được bảo đảm hoặc không được thực thi hoàn toàn. Nhưng nó cũng xảy ra tại những quốc gia và môi trường tuy bảo đảm tự do và các quyền con người trên giấy tờ, nhưng trong thực tế các tín hữu, nhất là các Kitô hữu bị hạn chế và kỳ thị. Con số các tín hữu Kitô ngày nay bị bách hại còn đông hơn những thời kỳ đầu của Giáo Hội. Đối với tín hữu Kitô, điều này không lạ gì vì Chúa Giêsu đã báo trước sự kiện đó như cơ hội thuận tiện để làm chứng tá. Nhưng về mặt dân sự, cần phải tố giác bất công và loại trừ nó”.

Đến đây, ĐTC mời gọi các tín hữu cùng với ngài cầu nguyện trong thinh lặng cho các Kitô hữu bị bách hại. Rồi cùng mọi người, ngài đọc kinh Kính Mừng, trước khi nói tiếp:

”Xin Mẹ Maria Nữ Vương các Thánh Tử Đạo giúp chúng ta sống lễ Giáng Sinh với niềm tin yêu nồng nhiệt chiếu tỏa rạng nơi trong thánh Stephano và tất cả các vị tử đạo của Giáo Hội”.

Sau phép lành, ĐTC đã chào thăm các gia đình, các nhóm giáo xứ và hội đoàn cũng như cá nhân tín hữu đến từ Roma, Italia và các nơi trên thế giới. Ngài nói: ”Ước gì trong những ngày này, việc dừng lại nơi hang đá máng cỏ để chiêm ngắm Mẹ Maria, và Thánh Giuse cạnh Chúa Hài Đồng, có thể khơi dậy nơi mọi người quyết tâm quảng đại yêu thương nhau, để giữa lòng các gia đình và cộng đoàn khác nhau, mọi người được sống bầu không khí cảm thông và huynh đệ, giúp ích rất nhiều cho công ích”. (SD 26-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio
 

Buổi đọc sứ điệp Giáng Sinh và ban Phép lành toàn xá Urbi et Orbi cho thành Roma và toàn thế giới

Buổi đọc sứ điệp Giáng Sinh và ban Phép lành toàn xá Urbi et Orbi cho thành Roma và toàn thế giới

Hòa bình đích thực không phải là một sự quân bình giữa các lực lượng đối nghịch nhau. Nó không phải là một ”mặt ngoài đẹp”, nhưng đàng sau có các đối kháng và chia rẽ. Hòa bình là một dấn thân của tất cả mọi ngày khởi đầu từ ơn của Thiên Chúa, từ ơn thánh Người ban cho chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô, nhưng cần được tiếp tục.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hơn 130,000 tín hữu và du khàch hành hương tham dự buổi đọc sứ điệp Giáng Sinh và ban Phép lành toàn xá Urbi et Orbi cho thành Roma và toàn thế giới tại quảng trường Thánh Phêrô trưa ngày lễ Giáng Sinh 25-12-2013.

Lúc 11 giờ 15 ban quân nhạc và đại diện các lực lượng binh chủng Italia đã được xe cảnh sát dẫn đường diễn hành từ Lâu Đài Thiên Thần tiến theo dọc đại lộ Hòa Giải để vào quảng trường Thánh Phêrô dàn hàng chào danh dự trước thềm đền thờ. Lúc 12 giờ trưa Đức Thánh Cha đã xuất hiện trên bao lơn chính giữa đền thờ Thánh Phêrô. Hai ban nhạc của Đội cận vệ Thụy sĩ và Cảnh sát Italia đã trình tấu Quốc thiều Vaticăng và Quốc thiều Italia.

Mở đầu sứ điệp Đức Thánh Cha nói: ”Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2,14). Anh chị em Roma và thế giới thân mến, xin chào và chúc mừng lễ Giáng Sinh anh chi em! Tôi lấy lại làm của tôi tiếng hát của các thiên thần hiện ra với các mục đồng tại Bếtlehem trong đêm Chúa Giêsu sinh ra. Một tiếng hát hiệp nhất trời và đất, hướng lên trời lời chúc tụng và vinh danh, và hướng xuống đất lời cầu chúc hòa bình cho loài người. Tôi mời gọi tất cả mọi người hiệp nhất với tiếng hát này: tiếng hát đó là để cho mọi người nam nữ vọng thức trong đêm, hy vọng vào một thế giới tốt lành hơn, lo lắng cho các người khác bằng cách khiêm tốn chu toàn bổn phận của mình. Rồi Đức Thánh Cha nêu bật điểm đầu tiên của sứ điệp như sau.

Vinh danh Thiên Chúa. Đó là điều trước hết lễ Giáng Sinh mời gọi chúng ta: làm vinh danh Thiên Chúa, bởi vì Người nhân lành, trung thành và thương xót. Trong ngày này tôi cầu chúc tất cả mọi người nhận biết gương mặt thật của Thiên Chúa, là Cha đã ban Đức Giêsu cho chúng ta. Tôi cầu chúc tất cả cảm nhận được rằng Thiên Chúa gần gũi, sống trước sự hiện diện của Người, yêu mến Người và thờ lậy Người. Và từng người trong chúng ta có thể làm vinh danh Thiên Chúa nhất là với cuộc sống, một cuộc sống tiêu hao vì tình yêi đối với Người và với các anh chị em khác.

Bình an cho loài người. Hòa bình đích thực không phải là một sự quân bình giữa các lực lượng đối nghịch nhau. Nó không phải là một ”mặt ngoài đẹp”, nhưng đàng sau có các chống đối và chia rẽ. Hòa bình là một dấn thân của tất cả mọi ngày khởi đầu từ ơn của Thiên Chúa, từ ơn thánh Người ban cho chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô, cần được tiếp tục sống.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã duyệt qua các tình trạng khốn khổ buồn thương của cuộc sống con người, trước hết là thảm cảnh của các trẻ em. Ngài nói:

Khi nhìn Hài Nhi trong máng cỏ, Hài Nhi của hòa bình, chúng ta nghĩ tới các trẻ em nạn nhân yếu đuối nhất của chiến tranh, nhưng chúng ta cũng nghĩ đến những người già cả, các phụ nữ bị ngược đãi, các bệnh nhân… Chiến tranh bẻ gẫy và đả thương biết bao nhiêu cuộc sống!

Trong các thời gian qua xung khắc tại Siria đã bẻ gẫy qúa nhiều cuộc sống khi gieo thù ghét và báo oán. Chúng ta hãy tiếp tục cầu xin Chúa để Người tránh cho dân tộc Siria yêu qúy các khổ đau mới, và cho các phe lâm chiến biết chấm dứt mọi bạo lực, và bảo đảm cho các trợ giúp nhân đạo tới được với người dân. Chúng ta đã thấy lời cầu nguyện quyền năng chừng nào! Và tôi hài lòng thấy rằng ngày hôm nay cả tín hữu của các tôn giáo khác cũng hiệp ý với lời khẩn nài của chúng ta cho hòa bình tại Siria. Chúng ta đừng bao giờ mất can đảm cầu nguyện! Can đảm nói: Lậy Chúa, xin ban bình an của Chúa cho dân nước Siria và cho toàn thế giới.

Xin ban hòa bình cho Cộng Hòa Trung Phi thường bị lãng quên. Nhưng lậy Chúa, Chúa không quên ai hết! Và Chúa cũng muốn đem bình an đến cho trái đất này, bị xâu xé bởi vòng xoáy bạo lực và bần cùng, nơi có biết bao người không có nhà ở, nước uống và thực phẩm, không có cái tối thiểu để sống. Xin tạo thuận tiện cho sự hòa hơp tại Nam Sudan, nơi các căng thẳng hiện nay đã gây ra nhiều nạn nhân khác nhau và đe dọa sự chung sống hòa bình của quốc gia trẻ trung này.

Tiếp tục sứ điệp Đức Thánh Cha đã cầu xin Chúa Giêsu Hoàng Tử Hòa Bình như sau:

Lạy Chúa là Hoàng Tử Hòa Bình, xin hãy hoán cải con tim của những kẻ bạo lực ở khắp nơi, để họ buông vũ khí và bắt đầu con đường đối thoại. Xin hãy nhìn đến nước Nigeria, bi xâu xé bởi các tấn kích liên tục không tha cho cả những người vô tội và không được bênh đỡ. Xin hãy chúc lành cho Trái Đất mà Chúa Đã chọn để đến trần gian, và xin làm cho các cuộc thương thuyết hòa bình giữa người Israel và người Palestin đạt kết qủa mỹ mãn. Xin hãy chữa lành các vết thương của dân nước Irak, còn bị đả thương bởi các vụ khủng bố thường xuyên.

Lạy Chúa của sự sống, xin che chở những người bị bách hai vì danh Chúa. Xin ban hy vọng và ủi an cho các người di cư và tị nạn, đặc biệt trong vùng Sừng Phi châu và miền đông cộng hòa Congo. Xin cho các người di cư để tìm một cuộc sống xứng đáng hơn được tiếp đón và trợ giúp. Ước gì các thảm cảnh như thảm cảnh mà chúng con đã chứng kiến trong năm nay với nhiều người chết tại đảo Lampedusa, đừng bao giờ xảy ra nữa!

Ôi, hỡi Hài Nhi Bếtlehem, xin đánh động con tim của những người liên lụy trong việc buôn bán người, để họ ý thức được sự trầm trọng của tội phạm này chống lại nhân loại. Xin hãy hướng mắt nhìn biết bao nhiêu trẻ em bị bắt cóc, bị thương và bị giết trong các cuộc xung đột vũ trang, và các trẻ em bị biến thành các chiến binh, bị cướp mất tuổi thơ của chúng.

Lạy Chúa trời đất, xin hãy nhìn hành tinh này của chúng con, mà sự gian tham và thèm khát của con người thường khai thác bóc lột một cách không phân biệt. Xin hãy trợ giúp và che chở các nạn nhân của các tai ương thiên nhiên, nhất là dân tộc Philippines yêu qúy, bị bão lụt tàn phá mới đây.

Anh chị em thân mến, trong thế giới này, trong nhân loại này hôm nay Đấng Cứu Thế là Chúa Kitô đã giáng sinh. Chúng ta hãy dừng lại trước Hài Nhi Bếtlêhem. Hãy để cho con tim chúng ta rung cảm, hãy để cho nó sưởi ấm bởi sự dịu hiền của Thiên Chúa. Chúng ta cần các vuốt ve của Người. Thiên Chúa cao cả trong tình yêu, xin dâng lên Người lời chúc tụng và tôn vinh muốn đời! Thiên Chúa là hòa bình: chúng ta hãy xin Người giúp chúng ta xây dựng hòa bình mỗi ngày, trong cuộc sống, trong các gia đình, thành thị và quốc gia của chúng ta, và trên toàn thế giới. Chúng ta hãy để cho lòng lành của Thiên Chúa đánh động chúng ta.

Đức Hồng Y Jean Louis Tauran Trưởng đẳng Phó tế đã loan báo cho tín tín hữu biết Đức Thánh sắp ban Phép lành toàn xá cho thành phố Roma và toàn thế giới theo các nghi thức được ấn định. Đức Hồng Y xin mọi người cầu nguyện cho Đức Thánh Cha được Chúa cho sống lâu và khỏe mạnh và ban cho Giáo Hội và thế giới được hiệp nhất và bình an.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc công thức ban Phép lành toàn xá Urbi et Orbi như sau:

Xin các Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô mà chúng ta tín thác nơi sức mạnh và quyền năng, bầu cử cho chúng ta bên Thiên Chúa Amen. Vì lời cầu xin và các công nghiệp của Đức Maria diễm phúc luôn luôn đồng trinh, Tổng lãnh thiên thần Micae, thánh Gioan Baotixita, các Thánh Tông Đồ Phêrô Phaolô và toàn thể các Thánh, xin Thiên Chúa toàn năng thương xót anh chị em và tha mọi tội lỗi cho anh chị em, xin Chúa Giêsu Kitô dẫn đưa anh chị em vào cuộc sống vĩnh cửu Amen. Xin Thiên Chúa toàn năng và thương xót ban cho anh chị em ân xá, ơn tha mọi tội lỗi của anh chị em, một thời gian sám hối tinh tuyền và phong phú, một con tim luôn ăn năn và một sự hoán cải cuộc sống, ơn thánh, sự khuyên bảo của Chúa Thánh Thần và sự kiên trì liên tục trong các việc lành Amen. Và xin phước lành của Thiên Chúa toàn năng, Cha Con và Thánh Thần xuống trên anh chị em và ở cùng anh chị em luôn mãi Amen.

Sau phép lành Đức Thánh Cha đã chúc mừng lễ mọi người như sau: Với các anh chị em thân mến, từ khắp nơi trên thế giới tề tựu về đây tại quảng trường này và với tất cả những ai nối kết qua các phương tiện truyền thông, tôi xin gửi tới anh chị em lời chúc mừng lễ Giáng Sinh. Trong ngày được soi sáng bởi niềm hy vọng phúc âm tới từ hang đá khiêm hạ Bethlehem, tôi nài xin ơn tươi vui và hòa bình cho tất cả mọi người: cho các trẻ em, người già, giới trẻ và các gia đình, cho các người nghèo và người bị gạt bỏ ra bên lề xã hội. Xin Chúa Giêsu giáng sinh vì chúng ta an ủi những ai bị thử thách bởi tật bệnh và khổ đau; xin Người nâng đỡ những ai hy sinh phục vụ các anh chị em cần được trợ giúp nhất. Chúc anh chị em lễ Giáng Sinh tốt lành!

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Đức Thánh Cha Phanxicô cử hành Thánh Lễ vọng Giáng Sinh đầu tiên

Đức Thánh Cha Phanxicô cử hành Thánh Lễ vọng Giáng Sinh đầu tiên

Pope Francis fisrt Vigil Christmas mass

VATICAN. Lúc 9 giờ rưỡi tối ngày 24-12-2013, ĐTC Phanxicô đã cử hành thánh lễ vọng Giáng Sinh đầu tiên tại Đền thờ Thánh Phêrô.

Đồng tế với ĐTC có 30 Hồng Y, 40 TGM và Giám Mục, 250 linh mục, trước sự hiện diện của 9 ngàn tín hữu ngồi chật thánh đường. Đây là lần đầu tiên các linh mục cũng được đồng tế với ĐTC trong lễ vọng Giáng Sinh. Phần thánh ca trong buổi lễ, ngoài ca đoàn Sistina của Tòa Thánh, còn có ca đoàn Mẹ Giáo Hội gồm 80 ca viên, và Ca đoàn Ba Lan trong y phục truyền thống, đảm trách.

Đầu thánh lễ, ĐTC đã đặt tượng ảnh Chúa Hài Đồng Giêsu vào trong máng cỏ, ở trên ngai nhỏ trước bàn thờ chính.

Khi bài ca Vinh Danh được xướng lên, tất cả các chuông của Đại Vương cung Thánh đường được đánh lên cùng với đàn phong cầm.

Cạnh máng cỏ ở trước Bàn thờ Tuyên Xưng đức tin, có một ngai nhỏ trên đó có đặt một sách Tin Mừng, để nói lên rằng trong biến cố vĩ đại của đêm Giáng Sinh: Lời của Thiên Chúa đã làm người.

Bài giảng của Đức Thánh Cha

Trong bài giảng thánh lễ, ĐTC đã quảng diễn lời ngôn sứ Isaia (9,1) trong bài đọc thứ I: ”Dân tộc bước đi trong tối tăm, đã nhìn thấy luồng sáng lớn”. Ngài nói:

1. ”Lời ngôn sứ này không bao giờ ngừng làm cho chúng ta cảm động, nhất là khi chúng ta nghe lời này trong Phụng vụ đêm giáng sinh. Đây không phải chỉ là một sự kiện cảm xúc, tình cảm; lời này làm chúng ta cảm động vì nói lên thực tại sâu xa: chúng ta là ai; chúng ta là dân tộc đang lữ hành, trong và ngoài chúng ta đang có tối tăm và ánh sáng. Và trong đêm này, trong khi tinh thần tối tăm đang vây bủa thế giới, có sự tái diễn biến cố luôn làm cho chúng ta ngỡ ngàng, ngạc nhiên: dân tộc đang lữ hành nhìn thấy một luồng sáng lớn. Một ánh sáng làm cho chúng ta suy tư về mầu nhiệm này: mầu nhiệm bước đi và nhìn thấy.

Bước đi. Động từ này làm cho chúng ta nghĩ đến dòng lịch sử, nghĩ đến hành trình dài là lịch sử cứu độ, bắt đầu từ Abraham, tổ phụ chúng ta trong đức tin, người mà một hôm Chúa đã gọi lên đường, ra khỏi xứ sở của ông để đi tới vùng đất mà Ngài sẽ chỉ cho ông. Từ đó, căn tính tín hữu của chúng ta là căn tính của người lữ hành hướng về đất hứa. Lịch sử này luôn được Chúa tháp tùng! Ngài luôn trung tín với giao ước và những lời Ngài hứa. ”Thiên Chúa là ánh sáng và nơi Ngài không hề có tối tăm nào” (1 Ga 1,5). Trái lại, nơi dân Chúa, có những lúc ánh sáng và lúc tăm tối xen kẽ nhau, trung thành và bất trung, vâng phục và nổi loạn, những lúc dân Chúa như người lữ hành, nhưng cũng có lúc đó là dân lầm lạc.

ĐTC nhận xét rằng ”Cả trong lịch sử bản thân mỗi người cũng có những lúc rạng ngời và tối tăm xen kẽ nhau, ánh sáng và bóng tối. Nếu chúng ta yêu mến Chúa và anh em, chúng ta bước đi trong ánh sáng, nhưng nếu tâm hồn chúng ta khép kín, tìm kiếm tư lợi, thì lúc đó bóng tối phủ xuống trong và quanh chúng ta. Như thánh Gioan đã viết: ”Ai ghét anh em mình, thì ở trong tối tăm, bước đi trong tăm tối và không biết mình đi âu, vì bóng tối làm mắt hắn mù tối” (1 Ga 2,11).

2. ”Trong đêm giáng sinh này, lời loan báo của thánh Tông đồ như một luồng sáng chói: ”Ân sủng của Thiên Chúa đã xuất hiện, mang ơn cứu độ cho mọi người” (Tt 2,11). Ân sủng xuất hiện trong thế giới là Chúa Giêsu, sinh bởi Đức Nữ Trinh Maria, là người thật và Thiên Chúa thật. Chúa đến trong lịch sử chúng ta, chia sẻ hành trình của chúng ta. Người đến để giải thoát chúng ta khỏi bóng đêm và ban cho chúng ta ánh sáng. Nơi Người, ân sủng, lòng từ bi, sự dịu dàng của Chúa Cha xuất hiện: Chúa Giêsu là Tình Thương nhập thể. Người không phải chỉ là một tôn sư hiền triết, không phải là một lý tưởng mà chúng ta hướng tới và chúng ta biết mình xa xăm vô tận đối với Người, Người là ý nghĩa cuộc sống và lịch sử, Người đã 'cắm lều' giữa chúng ta. 3. Các mục tử là những người đầu tiên đã thấy căn ”lều” ấy, đã đón nhận tin Chúa Giêsu sinh ra. Họ là những người đầu tiên vì họ thuộc vào số những người rốt cùng, những người bị gạt ra ngoài lề. Họ là những người đầu tiên vì đã canh thức trong đêm, canh giữ đoàn vật. Cùng với họ, chúng ta hãy dừng lại trước Chúa Hài Đồng, dừng lại trong thinh lặng. Cùng với họ, chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì đã ban cho chúng ta Chúa Giêsu, cùng với họ chúng ta hãy để cho lời chúc tụng lòng trung tín của Chúa trào dâng từ thẳm sâu con tim của chúng ta: Lạy Thiên Chúa là Đấng Tối Cao, chúng con chúc tụng Chúa, Chúa đã hạ mình xuống vì chúng con. Chúa là Đấng vô biên, nhưng đã trở nên bé nhỏ; Chúa giàu sang, nhưng đã trở nên nghèo túng: Chúa toàn năng, nhưng đã trở nên yếu ớt”.

”Trong đêm này, chúng ta chia sẻ niềm vui Tin Mừng: Thiên Chúa yêu thương chúng ta, yêu chúng ta đến độ đã ban Con của Ngài như người anh của chúng ta, như ánh sáng trong đêm đen của chúng ta. Chúa lập lại với chúng ta: ”Các con đừng sợ” (Lc 2,10). Và tôi cũng lập lại với anh chị em: Anh chị em đừng sợ! Cha chúng ta là Đấng kiên nhẫn, yêu thương chúng ta, Ngài ban cho chúng ta Chúa Giêsu để hướng dẫn chúng ta trong hành trình hướng về đất hứa. Ngài là ánh sáng chiếu soi rạng ngời trong đêm tối. Ngài là an bình của chúng ta. Amen”

Cuối thánh lễ, ĐTC đã bồng tượng Chúa Hài Đồng Giêsu đi rước tới hang đá tại nhà nguyện rửa tội trong Đền thờ Thánh Phêrô. Tại đây 10 em bé từ 6 đến 10 tuổi, đại diện cho 5 châu, đặt hoa trước tượng Chúa Hài Đồng. (SD 24-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP  – Vatican Radio

BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI LÒNG NGAY

BÌNH AN DƯỚI THẾ CHO NGƯỜI LÒNG NGAY

Suy niệm lễ Giáng Sinh  năm A

+Tiên tri Isaia đã loan báo về ngày Con Thiên Chúa Giáng Sinh:

“Dân tộc bước đi trong u tối, đã nhìn thấy sự sáng chứa chan. Sự sáng đã bừng lên trên những người cư ngụ miền thâm u sự chết” (Is 9, 2)

Sự sáng chứa chan ấy không là ánh sáng của những ngôi sao hay tinh tú, không là ánh sáng của mặt trời hay mặt trăng, càng không là ánh sáng của điện đèn, nhưng là Ánh sáng của Con Thiên Chúa làm người. Làm người như một hài nhi nhưng là “Cố Vấn Kỳ Diệu, Thiên Chúa Huy Hoàng, Người Cha Muôn Thuở, Ông Vua Thái Bình”. Làm người trong nghèo hèn nhưng là “sẽ mở rộng vương quyền, và cảnh thái bình sẽ vô tận; Người sẽ ngự trên ngai vàng của Đavít, và trong vương quốc Người, để củng cố và tăng cường, trong sự công minh chính trực, ngay tự bây giờ và cho đến muôn đời”. (Is 9, 6-7)

+Còn đây là giáo huấn của  Thánh Phaolô cho ngày mừng Con Thiên Chúa Giáng Sinh: “Ân sủng của Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ chúng ta, đã xuất hiện cho mọi người, dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này, khi trông đợi niềm hy vọng hạnh phúc và cuộc xuất hiện sự vinh quang của Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa cao cả và là Đấng Cứu Độ chúng ta.

Người đã hiến thân cho chúng ta để cứu chuộc chúng ta khỏi mọi điều gian ác, luyện sạch chúng ta thành một dân tộc xứng đáng của Người, một dân tộc nhiệt tâm làm việc thiện. ( Tt 2, 11-14)

+Hai ý tưởng trên rất trùng khớp với Tin Mừng theo Thánh Luca:

“Hôm nay Đấng Cứu Thế đã giáng sinh cho chúng ta. Người là Đức Kitô, Chúa chúng ta. (Lc 2,11)

“Vinh Danh Thiên Chúa Trên Trời

Bình An Dưới Thế Cho Người Lòng Ngay” (Lc 2, 14) 

Như vậy, khi liên kết cả ba bài đọc, có thể kết luận: sứ điệp Giáng Sinh qua lời Chúa gửi đến chúng ta hôm nay là: bước đi trong ánh sáng, để nhận được ân sủng và bình an, nhờ lòng thiện tâm, nhờ ý ngay lành. 

Không ít người đã từng đặt vấn đề rằng tại sao Chúa Giêsu đã giáng sinh, Đấng Cứu Thế đã ra đời, Vua Hòa Bình đã xuất hiện, Ánh sáng Thiên Chúa đã chiếu soi cả  hơn hai ngàn năm nay mà trần gian vẫn còn u tối trong chiến tranh đày đọa, khổ đau chất chồng, bất công tràn lút, tham nhũng đàn áp nhiễu loạn khắp nơi nơi! Vẫn còn chiến tranh giữa các dân nước, chiến tranh giữa các ý thức hệ, chiến tranh ngoài xã hội, trong gia đình, chiến tranh giữa những người tự cho mình là trí thức và xem thương người khác hiểu biết kém cỏi, chiến tranh trong tâm hồn. Vẫn còn những bất công: nơi này ăn cướp đất, nơi kia bán đất công ăn chia. Vẫn còn những hư đốn: chỗ này hút chích chơi bời dâm đãng, chỗ kia ngoi ngóp vật vờ chờ chết, người đốt chồng, kẻ đâm vợ, người tạt a-xít tình địch, kẻ phá thai. Nơi đâu cũng gieo vãi những bất an, xáo trộn làm thành một thế giới luôn trong tình trạng hỗn mang!

Đáng tiếc hơn nữa, tình trạng hỗn mang, không chỉ là chuyện bên ngoài thế giới trần tục hoặc vô thần hoặc hiện sinh, mà còn là chuyện trong lòng những người mang danh là Kitô hữu – hơn thế nữa, đôi khi Kitô hữu ấy còn là trí thức công giáo, là cây đa cây đề của nền thần học công giáo, là những tiến sĩ, bác sĩ, nhà thơ, nhà văn, nhà kinh tế công giáo, là những bậc chức sắc cao niên vị vọng công giáo đáng kính. Vâng, nhưng vẫn còn những chuyện hỗn mang, những bất an do lòng cao ngạo thách thức hơn thua đủ vì chưa thoát ra khỏi cái “tôi” pháo đài chủ quan. Những Kitô hữu vẫn chưa có bình an bởi chưa có lòng ngay, chưa có thiện tâm, chưa có ý ngay lành, nhưng luôn còn đầy ác ý.

Trong đêm Con Chúa Giáng Sinh, lời chúc lành của ca đoàn các Thiên Thần: “Bình an dưới thế cho người lòng ngay” vẫn còn âm vang cho đến tận thế, vẫn còn hát trên môi miệng của bao người, và có thể nói, vẫn còn là khát vọng vô biên của tất cả những người thành tâm đi tìm bình an, hạnh phúc.

Thánh Phaolô nhắc nhở: “Người dạy chúng ta từ bỏ gian tà và những dục vọng trần tục, để sống tiết độ, công minh và đạo đức ở đời này”.

Hãy nhìn vào lòng mình trong đêm rất thánh. Hãy đặt mình trước ánh sáng chí thánh chí thiện của Thiên Chúa để nhờ ánh sáng Chúa soi cho thấy lòng mình còn đầy những ác ý, còn ngổn ngang những gian tà trong tư tưởng, lời nói, trong việc làm; còn hỗn độn những dục vọng cao ngạo hơn người chỉ lo bới lông tìm vết, hoặc đưa tay, đưa bút móc cái xà trong mắt anh em. Người không tin có Thiên Chúa cũng làm như vậy. Người chống lại Thiên Chúa cũng làm như vậy. Đến chúng ta, những người mang danh là Kitô hữu cũng làm như vậy được sao? Đến bao giờ sự Bình An của Chúa Giáng Sinh mới thực sự ngự trị trong tâm hồn?

Lắng tâm tư trong niềm yêu mến Chúa Giáng sinh, chắc chắn bạn và tôi sẽ nghe rõ khao khát của Chúa Giêsu Hài Nhi khiêm nhượng: Hãy tránh xa cái trí thức của ma quỷ dẫn tới sự bất an cho mình và cho người. Hãy từ bỏ cái vốn học của những người thờ Chúa ngoài môi miệng khởi đầu cho những hỗn độn trong nhà, ngoài cửa. Hãy học bài học hiền lành và khiêm nhượng trong lòng của Đấng Cứu Thế.

Trong những ngày này, mọi người đang Mừng Chúa Giáng Sinh, bên ngoài trang trí hoa đèn lộng lẫy, bên trong chuẩn bị cho một lòng thiện tâm, một ý ngay lành để đón nhận bình an của Chúa. Nhưng, không thiếu những vô tình hoặc cố ý lầm lẫn cái chính cái phụ, hoặc chỉ lo bên ngoài mà thiếu tấm lòng ngay lành. Chẳng hạn, thay vì “MỪNG CHÚA GIÁNG SINH”, tôi thấy có nơi đặt trước nhà thờ một tấm bảng to đùng với hàng chữ được trang trí khá tốn kém “MỪNG LỄ GIÁNG SINH”, như người trần gian vẫn đang mừng một lễ hội. Chuyện chữ nghĩa đôi khi chúng ta không ý tứ, nhưng đối với những người “không có lòng ngay” thì họ luôn có chủ tâm. Chuyện “Tốt Đời, Đẹp Đạo” chẳng hạn. Sao không là “Tốt Đạo, Đẹp Đời”?.

Cũng vậy, lại thấy có nơi câu tung hô của các Thiên Thần bị cắt xén, nhưng cũng hoành tráng to tát và cả điện đèn trưng bày thật sáng trưng, nổi bật giữa phố đông người: “VINH DANH THIÊN CHÚA TRÊN TRỜI – BÌNH AN CHO NGƯỜI DƯỚI THẾ”. Sao không là “bình an người lành dưới thế”? Người không ngay lành cũng được bình an sao? Họa chăng khi họ có lòng sám hối nhìn ra ánh sáng của Chúa Cứu Thế mà đổi từ gian ác ra ngay lành! Trong một đất nước có thể nói là kém tự do tôn giáo nhất, thì việc “Mừng Lễ Giáng Sinh” của những người không tin, hoặc chống lại Thiên Chúa với ý đồ hoành tráng như vậy ắt phải là để quảng bá cho thế giới biết rằng đất nước ấy có tự do. Có gì cho Vinh Danh Chúa?

Hồng ân của Chúa Giáng Sinh là “bình an cho người có lòng ngay”, có thành tâm thiện chí, không chỉ là lòng thành tâm với ơn cứu độ cho chính mình mà còn cho những con người cần được Chúa cứu độ. Bình an của người này ắt có ảnh hưởng lớn lao với người kia. Cũng thế, có ác ý hay bất an của người kia hẳn có một hệ lụy không kém nguy hiểm với người này. Thế giới này chỉ thực sự có bình an khi mỗi người, mỗi nhà tìm được nguồn bình an đích thực của Chúa ban thưởng cho khi có ý ngay lành. Vì vậy, mỗi người cũng nhận lấy cho mình trách nhiệm liên đới về việc xây dựng mối tương quan bình an trong nhà, ngoài phố và nhất là trong Giáo Hội thánh thiện của Chúa.

Nguyện xin Chúa Giêsu Giáng Sinh cất khỏi lòng trí chúng con những ý tưởng ám muội, những dục vọng cao ngạo nhưng thấp hèn, và xin lấp đầy lòng trí chúng con đức khiêm nhượng, ý ngay lành, để chúng con xứng đáng đón nhận ơn Bình An Giáng Sinh của Chúa. A men.

PM. Cao Huy Hoàng, 22-12-2011

Trùng tu Vương cung thánh đường Giáng Sinh ở Bethlehem

Trùng tu Vương cung thánh đường Giáng Sinh ở Bethlehem

BETHLEHEM. Vương cung thánh đường Giáng Sinh ở Bethlehem đang được tu bổ mái và các cửa kính màu.

Năm nay, khi đến thánh đường này, tín hữu hành hương và du khách sẽ thấy nhà thờ này có gì khác lạ: với những dàn ráo được bố trí để tu bổ lại mái và các cửa kính mầu. Đây là công trình tu bổ đầu tiên từ 200 năm nay được thực hiện cho nhà thờ quan trọng này, để đối phó với những vấn đề cấp thiết nhất và đã được khởi sự từ tháng 9 năm 2013. Vương cung thánh đường Giáng Sinh đã có từ 1,700 năm nay, được xây tại chính nơi Chúa Giêsu sinh ra. Mỗi năm có tới 2 triệu rưỡi tín hữu hành hương đến kính viếng thánh đường này.

Ngày 29 tháng 6 năm 2012, Đền thờ Chúa Giáng sinh đã được tổ chức Unesco của LHQ ghi vào danh sách gia sản của thế giới. Quyết định của Unesco bị Israel phản đối. Đây là đền đài đầu tiên ở lãnh thổ của Palestine được coi là gia sản của thế giới, và trong tư cách này, Đền thờ Giáng Sinh có thể được hưởng tài trợ quốc tế. Cùng với Vương cung thánh đường Đức Mẹ truyền tin ở Nazareth và Đền thờ Mộ Thánh ở Jerusalem, Đền thờ Giáng Sinh là một trong những đối tượng chính và không thể thiếu được trong các cuộc hành hương tại Thánh Địa.

Trước đó, vào năm 2008, một tổ chức tên là ”World Monuments Fund” (Quỹ các đền đài thế giới), chuyên bảo tồn các di tích lịch sử, đã ghi thánh đường Chúa Giáng Sinh vào danh sách 100 đền đài của thế giới bị nguy cơ hư hỏng, và một tổ hợp các chuyên gia người Ý đã duyệt xét thánh đường để thiết lập danh sách những sửa chữa cấp thiết nhất.

Ông Ziad al-Bandak Said, Cố vấn của tổng thống Palestine Mahmoud Abbas, về Kitô giáo vụ, cho biết ”chính quyền địa phương tài trợ phần lớn công việc tu bổ, với 1 triệu mỹ kim, trong khi 800 ngàn mỹ kim khác đến từ các tư nhân. 3 triệu mỹ kim khác đến từ các nước Âu châu như Pháp, Vatican, Hungari, Nga và Hy Lạp. Hiệp định về việc tu bổ đã được ký kết giữa đại diện của 3 Giáo Hội Kitô coi sóc thánh đường. Đại diện cho Công Giáo là Cha Pierbattista Pizzaballa, Bề trên dòng Phanxicô tại Thánh Địa. Hiện diện trong buổi ký kết cũng có thủ tướng Rami Hamdallah của Palestine, Đức TGM Giuseppe Lazzarotto, Khâm sứ Tòa Thánh tại Jerusalem, và Đức Cha William Shomali, GM Phụ tá của Đức Thượng Phụ Fouad Twal, cùng một số quan chức đạo đời khác.

Ngoài những khó khăn trong việc bảo trì thánh đường này, việc tu bổ còn phải để ý đến những quan hệ tế nhị giữa 3 hệ phái Kitô có nơi thờ phượng riêng trong nhà thờ, đó là Giáo Hội Công Giáo la tinh, Giáo Hội Chính Thống Hy lạp, và Giáo Hội Arméni Tông truyền. 3 Giáo Hội quản lý thánh đường Giáng Sinh theo một qui luật có từ thế kỷ 19 quen gọi là ”Status Quo” về việc sở hữu và sử dụng thánh đường.

Giai đoạn thứ nhất trong công trình tu bổ kéo dài 1 năm và được ủy thác cho công ty của gia tộc Piacenti ở thành phố Prato, trung Italia, chuyên tu bổ các di tích đền đài lịch sử. Trước tiên, hãng này sửa chữa hàng trăm xà gỗ của mái nhà thờ, từng xà một. Ông Giammarco Piacenti đương kim chủ tịch công ty này cho biết: ”Mái Đền thờ Giáng Sinh đã được các thợ mộc người Venezia, thuộc miền đông bắc Italia, tu bổ tốt đẹp hồi năm 1478, tức là cách đây đã 535 năm. Dự án tu bổ của chúng tôi tìm cách duy trì đại đa số những phần nguyên thủy, bao nhiêu có thể, và chúng tôi chỉ thay thế những xà không còn sử dụng được nữa”.

Ngoài mái và các cửa sổ của Thánh Đường, trong tương lai các phần khác cũng cần được sửa chữa như mặt tiền nhà thờ, quét vôi ở bên trong nhà thờ, tu bổ các tranh khảm trên tường, sơn sửa và tu bổ các công trình khác bằng gỗ. Nếu có đủ tài chánh thì chương trình trùng tu sẽ kết thúc trong 5 năm. Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh rằng việc tu bổ hiện nay không bao gồm các nơi được các tín hữu hành hương chiếu cố nhiều nhất, đó là Hang đá Giáng Sinh, theo tương truyền chính tại nơi đó, Chúa Giêsu đã sinh ra.

Giám đốc công trình tu bổ tại chỗ là Ông Marcello Piacenti, 53 tuổi. Trong cuộc phỏng vấn dành cho hãng tin Công Giáo Hoa Kỳ truyền đi ngày 11-12-2013, ông nói: ”Giúp sửa lại mái Nhà Thờ Giáng Sinh giống như chạm đến phần khởi đầu của lịch sử Kitô giáo. Tôi không phải là một người sùng đạo, nhưng thi hành công việc tu bổ tại thánh đường này làm cho tôi rất cảm động. Tôi đã từng trùng tu nhiều nhà thờ cổ kính trên thế giới, nhưng khi tôi đến đây, tôi biết mình đang đi tới trung tâm của mọi sự”.

Ông Marcello Piacenti cho biết trước khi bắt đầu công trình này đã trải qua 5 năm kế hoạch hóa và nghiên cứu.

Còn kỹ sư Imand Nasser, đại diện kỹ thuật thuộc Ủy ban quốc gia Palestine đặc trách trùng tu Nhà Thờ Giáng sinh, cho biết việc tu bổ mái nhà thờ bằng chì và các xà bằng gỗ cũng như 38 cửa sổ mầu của thánh đường này là giai đoạn đầu của một công trình to lớn. Cách đây 2 năm, phí tổn ước lượng là 15 triệu mỹ kim, không kể những phí tổn điều hành việc xây cất. Việc tu bổ được thực hiện qua nhiều giai đoạn, khi kiếm được tiền. Ưu tiên dành cho việc sửa mái. Giai đoạn đầu tiên này còn thiếu 2 triệu 700 ngàn mỹ kim.

Tuy các vị hữu trách về công trình tu bổ tránh gây phiền toái cho các du khách, các tín hữu hành hương và chính nhà thờ, nhưng những ai viếng thăm thánh đường Chúa Giáng Sinh vào dịp này vẫn thấy các dàn ráo bằng kim loại trong và ngoài nhà thờ, và các gỗ bọc quanh các cột bằng cẩm thạch ở bên trong thánh đường.
Công ty Piacenti đã chở các dàn ráo bằng kim loại từ Italia đến đây cho công việc sửa chữa. Làm việc trong giai đoạn này có 10 người Ý và 5 công nhân người Palestine. Trong thời gian qua, các công nhân đã tháo gỡ các khung gỗ của các cửa sổ kính màu có từ 50 năm nay. Một số khung đã có những lỗ đạn bắn vào đây trong thời kỳ cách mạng Intifada khi các chiến binh Palestine chạy vào nhà thờ và bị các binh sĩ Israel bao vây. Các khung cửa sổ này sẽ được thay thế bằng gỗ trắc bá, và những kiếng đặc biệt chặn các tia tử ngoại sẽ được dùng cho các cửa sổ này để bảo vệ các bức bích họa và tranh khảm bên trong thánh đường.

Ông Piacenti cho biết các cửa sổ hiện nay của Đền thờ Giáng Sinh được làm bằng máy và không phải bằng vật liệu tốt. Một số gỗ đã bị mục. Sau khi thợ sửa chữa các xà bằng gỗ có từ thế kỷ 15, một mái mới bằng chì sẽ thay thế mái chì hiện thời vì nhiều chỗ đã bị hư hại, khiến cho nước mưa đổ xuống, làm hư hại các xà gỗ, cũng như tạo nên những vũng nước ở nền nhà thờ, đe dọa nền cổ kính của thánh đường.

Một trong những điều quan trọng mà các thợ chuyên môn phải để ý là làm sao bảo vệ 5 tranh khảm có từ thời đạo binh thánh giá ở trên tường gần mái nhà thờ, che các bức tranh này bằng loại vải bông đặc biệt để tránh các mảnh của bức tranh này khỏi bị rơi hoặc bị hư hại vì công việc sửa chữa các xà nhà và mái. Tuy các thợ cũng sẽ sửa chữa phần nào các miếng nhỏ của các tranh khảm này, nhưng việc tu bổ toàn bộ các bức tranh sẽ được thực hiện trong các giai đoạn sau này.
Trong cuộc phỏng vấn, Ông Piacenti cho biết trước khi đến đây, ông đã được báo trước về quan hệ căng thẳng giữa các đan sĩ người Arméni, Chính Thống Hy Lạp và Phanxicô tại thánh đường này về vấn đề chủ quyền đền thờ, tuy nhiên, ông ngạc nhiên về những quan hệ thân tình mà ông chứng kiến giữa các đan sĩ thuộc các hệ phái Kitô với nhau. Ông nói: ”Đối với tôi, không có vấn đề gì với các đan sĩ, họ rất hiếu kỳ về công việc chúng tôi đang làm và họ xin tôi giải thích. Họ rất hài lòng về công việc”.

Hầu hết công việc tu bổ được thực hiện vào ban chiều và ban đêm, để tránh làm xáo trộn nhịp sinh hoạt của thánh đường, và các công nhân cũng được biết thêm về cuộc sống ban đêm ở thánh đường. Chẳng hạn “Các đan sĩ Chính Thông đến thắp đèn cho thánh lễ, các tu sĩ Phanxicô tu tập để chuẩn bị dầu thánh. Ít có người có thể chứng kiến những hoạt động đó, vì cuộc sống ban đêm của thánh đường vẫn tiếp tục, dù là 3, 4, hay 5 giờ sáng”. (CNS 11-12-2013)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio