Đức Thánh Cha tiếp kiến 8 ngàn nhân viên Đài Rai

Đức Thánh Cha tiếp kiến 8 ngàn nhân viên Đài Rai

VATICAN. ĐTC Phanxicô đề cao sự nghiệp thông tin, xây dựng văn hóa của Đài Phát thanh và truyền hình RAI của Italia, đồng thời ngài cũng nhắc nhở về trách nhiệm luân lý của các nhân viên của đài này.

Ngài bày tỏ lập trường trên đây trong buổi tiếp kiến sáng 18-1-2014, dành cho 8 ngàn người gồm ban giám đốc, các ký giả, các nghệ sĩ và nhân viên của Đài Rai, nhân dịp kỷ niệm 90 năm buổi phát thanh đầu tiên và 60 năm các chương trình đầu tiên của đài này.

Lên tiếng trong buổi tiếp kiến, ĐTC cũng đề cao sự cộng tác của Đài Rai với các cơ quan truyền thông của Tòa Thánh như Đài phát thanh Vatican và Trung tâm truyền hình Vatican. Nhờ sự cộng tác này nhân dân Italia đã có thể theo dõi các sinh hoạt ngoại thường và bình thường của Tòa Thánh và Giáo Hội Công Giáo.

ĐTC nhận xét rằng Đài Rai, với nhiều sáng kiến khác, đã là chứng nhân của tiến trình thay đổi của xã hội Italia, trong những biến đổi mau lẹ và đã góp phần đặc biệt vào sự thống nhất ngôn ngữ và văn hóa Italia.

ĐTC nhắc nhở rằng tưởng niệm một quá khứ đầy những chinh phục như thế nhắc nhở chúng ta tái ý thức về những trách nhiệm đối với hiện tại và tương lai. Ngài nói: ”Tôi muốn nhắc nhở cho tất cả anh chị em, những người hiện diện tại đây và những người không thể tham dự cuộc gặp gỡ này, rằng nghề của anh chị em, ngoài tính chất thông tin, còn có tính chất huấn luyện, một dịch vụ công cộng, nghĩa là phục vụ cho công ích.. Trách nhiệm ấy của những người đảm nhận dịch vụ công cộng không thể từ nhiệm vì bất kỳ lý do nào. Xét cho cùng, chất lượng luân lý đạo đức của truyền thông là thành quả của những lương tâm quan tâm tôn trọng con người, tôn trọng những người là đối tượng thông tin cũng như những người đón nhận thông tin ấy. Tránh loan tin không đúng sự thật, mạ lỵ và vu khống người khác. Mỗi người trong vai trò và trách nhiệm của mình, được kêu gọi cảnh giác để giữ cho mức độ luân lý đạo đức về thông tin luôn được ở cao độ”.

Trước khi được ĐTC tiếp kiến, ban giám đốc và nhân viên đài Rai đã tham dự thánh lễ tại Đền thờ Thánh Phêrô do vị Giám quản thánh đường là ĐHY Angelo Comastri cử hành (SD 18-1-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Cái chết của những người di cư trong sa mạc Sahara

Cái chết của những người di cư trong sa mạc Sahara

Phỏng vấn Linh Mục Moussie Zerai, giám đốc tổ chức Habeshia cộng tác phát triển.

Trong sứ điệp Giáng Sinh trưa ngày 25 tháng 12 vừa qua Đức Thánh Cha Phanxicô đã đề cập tới nhiều điểm nóng trên thế giới, trong đó có thảm cảnh của người di cư tị nạn và tệ nạn buôn người. Đức thánh Cha đã cầu nguyện với Chúa Hài Nhi như sau: ”Lạy Chúa của sự sống… xin ban hy vọng và an ủi cho các người di cư tị nạn, đặc biệt trong vùng Sừng Phi châu và miền đông Cộng hòa Congo. Xin cho các người di cư tìm một cuộc sống xứng đáng hơn được tiếp đón và trợ giúp. Ước gì các thảm cảnh như thảm cảnh mà chúng con đã chứng kiến trong năm nay với nhiều người chết tại đảo Lampedusa, đừng bao giờ xảy ra nữa! Ôi Hài Nhi Bếtlêhem, xin đánh động con tim của những người liên lụy trong việc buôn bán người, để họ ý thức được sự trầm trọng của tội phạm này chống lại nhân loại.”

Trong buổi đọc Kinh Truyền Tin chung với hơn 100,000 tín hữu và du khách hành hương trưa Chúa Nhật lễ Thánh Gia Nazareth ngày 28 tháng 12 Đức Thánh Cha lại tái lên tiếng về thảm cảnh của những người di cư tị nạn. Đề cập đến sự kiện Chúa Giêsu đã cùng cha mẹ phải trốn sang Ai Cập sống kiếp tị nạn đầy âu lo, bấp bênh và khó khăn, Đức Thánh Cha nói: ”Rất tiếc ngày nay cũng có hàng triệu gia đình phải sống trong thực tại buồn thương này. Hầu như moi ngày truyền hình và báo chì đều đưa tin các người di cư trốn chạy đói khát, chiến tranh và các hiểm nguy trầm trọng khác để tìm an ninh và một cuộc sống xứng đáng hơn cho mình và cho gia đình mình. Trong các vùng đất xa xôi ấy, cả khi có tìm được công văn việc làm, các người tị nạn và di cư không luôn luôn gặp được sự tiếp đón đích thật, lòng tôn trọng và đánh giá cao các giá trị họ đem theo. Các chờ mong hợp pháp của họ thường gặp các tình trạng phức tạp và các khó khăn xem ra không thể vượt thắng nổi. Khi nhìn vào Thánh Gia Nagiarét phải bó buộc tị nạn, chúng ta nghĩ tới thảm cảnh của các người di cư tị nạn, nạn nhân của sự khước từ và khai thác bóc lột”.

Như đã biết, ngày mùng 3 tháng 10 năm 2013 một chiếc tầu chở người di cư tị nạn có lẽ khởi hành từ Libya, đã bị đắm rồi bị cháy ngoài khơi cách đảo Lampedusa 6 hải lý, khiến cho 363 người chết. Tai nạn này đã gây chấn động dư luận tại Italia và trong các nước Âu châu trước thảm cảnh của người di cư tị nạn. Kể từ khi có ”cuộc cách mạng hoa nhài” tại các nước Bắc Phi, số người di cư tị nạn tăng vọt, khiến cho Lampedusa rơi vào tình trạng khủng hoảng, vì không có đủ các cơ cấu hạ tầng để tiếp đón hàng chục ngàn người tìm cặp bến tại đây.

Ngoài cảnh di cư ti nạn bằng đường biển, cũng còn có thảm cảnh của những người di cư ti nạn bằng đường bộ, trước khi tiếp tục chặng hai bằng tầu. Hồi tháng 11 năm 2013 đã có gần 100 người di cư bị chết vì đói khát trong sa mạc Sahara bên Niger, đa số là phụ nữ và trẻ em, trong khi họ tìm cách vượt biên giới trên hai chiếc xe camion, để đến Algeria, rồi từ đó sang Âu châu. Ngoài ra trong các năm qua còn có cảnh người di cư tị nạn Phi châu bị các tổ chức buôn người bắt giữ làm con tin và đòi tiền chuộc trong bán đảo Sinai.

Sau đây chúng tôi xin gửi tới qúy vị và các bạn bải phỏng vấn Linh Mục Moussie Zerai, giám đốc tổ chức Habeshia cộng tác phát triển, về cái chết của những người di cư trong sa mạc Sahara nói trên.

Hỏi: Thưa Cha Zerai, cha nghĩ gì về thảm cảnh của những người di cư tị nạn bị chết trong sa mạc Sahara bên Niger, như báo chí đã loan tin hồi tháng 11 năm 2013?

Đáp: Đây là một hiện tượng gắn liền với hiện tượng xảy ra trong vùng Địa Trung Hải, và với các vụ đắm tầu trong thời gian qua. Người ta ít nói đến chúng, nhưng rất thường xảy ra là có hàng chục người chết trong vùng biên giới giữa hai nước Sudan và Libya, Ciad hay Niger. Nhưng rất tiếc là không có ai kể lại các biến cố thê thảm này.

Hỏi: Vả lại đây là các thi thể được tìm thấy trong tình trạng đã rữa nát, vì vậy ngoài thảm cảnh cái chết của họ, trong trường hợp này còn có tình trạng hoàn toàn bỏ mặc không chú ý gì đến và không tôn trọng các nạn nhân khốn khổ này nữa, có đúng thế không thưa cha?

Đáp: Rất tiếc là đúng như vậy, vì thường khi họ bị các tổ chức buôn người bỏ rơi. Cả trong qúa khứ, ít nhất là dưới chế độ của ông Gheddafi, chính các binh sĩ Libya đã đưa người di cư tị nạn rồi bỏ rơi họ tại vùng biện giới giữa hai nước, và các người di cư tị nạn này chết đói chết khát. Người sống mà người ta còn không tôn trọng, huống chi là người đã chết rồi, ai mà tôn trọng họ. Rất tiếc sự thật là như thế.

Hỏi: Đó là các cuộc ”du hành tuyệt vọng” đàng sau nó có các tổ chức tội phạm với các cơ cấu rất tinh vi tỉ mỉ và rộng rãi. Chúng tôi cũng còn biết có các tổ chức buôn người đến nhận người di cư trong các trại tị nạn, bắt họ trả các số tiền rất lớn, và hứa là sẽ đưa họ tới các nước Âu châu, có đúng thế không thưa cha?

Đáp: Vâng đúng thế. Các tổ chức này thường có được sự đồng lõa của các binh sĩ và các chính quyền địa phương, bởi vì di chuyển các nhóm người động như vậy là điều không thể làm được, nếu đã không có sự sắp đặt trước với các binh sĩ và các chính quyền kiểm soát sự di chuyển của người dân. Thế nhưng nhờ hối lộ nên các tổ chức này vượt qua được mọi chướng ngại, và các kẻ buôn người này sống trên da thịt của các nạn nhân đáng thương đó.

Hỏi: Một lần nữa thảm cảnh của những người di cư tị nạn lại khiến cho người ta nói đển một sự cộng tác quốc tế trong việc tránh cái chết cho họ. Nhưng nói đến một hánh lang nhân đạo có đủ không, theo cái nhìn của cha?

Đáp: Các hành lang nhân đạo cũng không đủ đâu, cần phải làm việc trên nhiều mặt khác nhau. Trước hết là dấn thân của cộng đồng quốc tế: đó là giải quyết các lý do thúc đẩy những người này bỏ quê hương xứ sở ra đi. Nhưng cũng có giải pháp tam thời là tìm ra các đường lối hợp pháp để tiếp nhận các người di cư này và cung cấp cho họ sự che chở thực sư mà họ đang cần có. Chẳng hạn mở cửa các tòa đại sứ để thu nhận đơn xin di cư tị nạn của họ. Có các chương trình tái hội nhập, có các dụng cụ khác nhau giúp di chuyển hợp pháp người có đơn xin từ các trại tị nạn tới các nước nhận che chở họ.

Hỏi: Thưa cha Zerai, thường thì từ phía các nước Âu châu người ta áp dụng chính sách hạn chế, nhưng cũng cần như cha nói tập trung trên các lý do gây ra các làn sóng di cư ti nạn này. Chúng ta hãy nghĩ tới Somalia nơi có nội chiến từ 20 năm nay. Đó là các quang cảnh khủng hoảng rất trềm trọng, có đúng thế không?

Đáp: Đúng thế. Nâng cao các hàng rào cản là điều vô ích. Cả trong các ngày này người ta cũng đã nói tới các biện pháp củng cố việc canh phòng các biên giới: điều này có nghĩa là gì, chúng ta củng cố các vụ đẩy lui người di cư tị nạn hay sao? Như thế chúng ta khiến cho các người này có nguy cơ chết trong sa mạc, bởi vì các nước tìm ngăn chặn các làn sóng di cư tị nạn dùng phương tiện hèn hạ bỏ rơi các anh chị em này dọc biên giới trong sa mạc. Đây là điều không thể chấp nhận được. Như vậy nếu pháo đài Âu châu hoàn toàn đóng cửa biên giới đối với việc vi phạm kiểu này, thì chính Âu châu sau cùng sẽ trở thành đồng lõa của các vi phạm ấy. Không thể làm như thế.

Như vậy hành động không chỉ là dựng cao các rào cản là đủ, mà phải làm việc và trước hết là để dập tắt các chiến tranh tại nhiều nước khác nhau. Qúy vị đã nói tới Somalia với cuộc nội chiến kéo dài từ 20 năm qua… Bên Eritrea từ 20 năm qua có chế độ độc tài tự biện minh cho sự hiện hữu của mình bằng một cuộc chiến không bao giờ đánh. Có một cuộc xung đột đã không được giải quyết từ 13 năm nay trong vùng biên giới giữa Etiopia và Eritrea. Chiến tranh bên Syria cũng thế, càng kéo dài chiến tranh loai này, thì lại càng có nhiều người di cư tị nạn thôi.

(RG 1-11-2013)

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

CHIÊN THIÊN CHÚA

CHIÊN THIÊN CHÚA

Trong sách Samuel quyển hai, tiên tri Nathan có kể cho Vua Ðavit nghe câu chuyện sau: Hai người nọ là công dân trong cùng một thành phố. Một người thì giàu có và thế lực, người kia thì nghèo xơ, cô thân cô thế. Gã giàu nọ có một đàn chiên đông đến nỗi gã đếm không xuể, đang khi anh nghèo nọ chỉ có một chú chiên chỏ xíu.

Tuy nhiên, những đứa con của anh nghèo nọ rất thương con chiên ấy và chơi đùa với nó suốt ngày. Chúng mang nó đến cả bàn ăn và chia cho nó phần thức ân ít ỏi của mình. Nathan kể rằng lũ trẻ còn dạy cho con chiên uống nước trong tách nữa và chú chiên ta thật chả khác nào một thành viên trong gia đình.

Một ngày nọ, anh chàng giàu phải tiếp đãi một vị khách quan trọng đến thăm hắn. Hắn chẳng muốn giết bất cứ con chiên nào của mình để đãi khách cả. Vì thế hắn truyền cho đám tôi tớ chạy qua nhà anh chàng nghèo nọ, bắt con chiên của anh ta đem giết để đãi khách.

Câu chuyện gây xúc động về sự độc ác của gã giàu nọ đó là một trong những hình ảnh của Gioan Tẩy Giả mường tượng trong tâm trí khi ngài đưa ngón tay xương xẩu chỉ vào Chúa Giêsu và nói với các đệ tử của mình: “Ðó là Chiên Thiên Chúa” (Ga 1: 29).

Câu chuyện của Nathan về con chiên cưng của anh chàng nghèo nọ chắn chắn thích hợp để áp dụng vào trường hợp Chúa Giêsu. Chúa Giêsu cũng rất được yêu thương. Và Ngài cũng bị đám người độc ác giết chết cách tàn bạo. Tuy nhiên, trong tâm trí thánh Gioan có một hình ảnh khác khi ngài đưa ngón tay chỉ vào Chúa Giêsu và nói: “Ðó là Chiên Thiên Chúa”. Hình ảnh đó là hình ảnh những con chiên bị sát tế mỗi ngày trong đền thờ. Thiên Chúa đã phán với Moisê trong sách Xuất Hành như sau: “Suốt thời gian sắp tới, mỗi ngày các ngươi hãy hiến tế trên bàn thờ hai con chiên tuổi được một năm, một con hiến tế vào buổi sáng, con kia vào buổi chiều.” (Xh 29: 38-39)

Việc hy tế trong đền thánh được thi hành từ năm này qua năm khác, ngay cả trong thời kỳ rất đói kém, là thời thực phẩm rất hiếm hoi và nhiều người dân bị chết đói. Khi chỉ vào Chúa Giêsu và nói: “Kia là Chiên Thiên Chúa, Ðấng xoá tội trần gian”, Gioan đang hình dung trong trí mình những con chiên hy tế được dâng lên mỗi sáng, mỗi đêm trong đền thờ để xoá tội cho dân. Thực ra, Gioan đang nói với các đệ tử mình: “Mỗi ngày chúng ta dâng chiên trong đền thờ vì tội lỗi chúng ta, nhưng chỉ có Thiên Chúa mới có thể cứu chúng ta khỏi những tội lỗi này“.

Trước Gioan Tẩy Giả rất lâu, các tiên tri đã nói về người tôi tớ kỳ nhiệm của Chúa một ngày kia sẽ chịu đau khổ và chết như một con chiên… Isaia đã mô tả cái chết đau thương của người tôi tớ này trong chương 53: 7-8 như sau: “Người đã bị đối xử tàn tệ, nhưng vẫn khiêm tốn chịu đựng, như một con chiên sắp bị đưa tới lò sát sinh, Người không hề thốt ra một lời. Người bị bắt, bị tuyên án và bị dẫn tới chỗ chết… Người đã phải chết vì tội lỗi chúng ta“.

Những lời của tiên tri Giêrêmia cũng rất phù hợp với con người Chúa Giêsu. Trong chương 11 câu 19, Giêrêmia viết: “Tôi giống như con chiên trung tín bị đem đi giết, và tôi không hề biết họ đang trù tính những điều độc ác chống lại tôi“.

Vì thế tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” gợi lên hai hình ảnh sống động. Thứ nhất là hình ảnh của tình yêu và lòng trìu mến như chúng ta đã thấy trong câu chuyện của Nathan kể về gã giàu có và anh chàng nghèo nọ. Thứ hai là hình ảnh sự đau đớn và hy sinh như chúng ta thấy trong việc sát tế chiên trong đền thờ và trong trường hợp người tôi tớ đau khổ của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, Chiên Thiên Chúa còn gợi lên một hình ảnh sau cùng. Chúng ta tìm thấy hình ảnh này trong sách Khải Huyền. Tác giả này áp dụng cho Chúa Giêsu tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” không dưới hai mươi tám lần. Tác giả vẫn giữ lại những ghi chú về tình yêu, sự trìu mến cùng nỗi đau khổ và hy sinh, nhưng còn thêm vào đó những ghi chú về vinh quang và khải hoàn nữa.

Một ví dụ rất hay về điểm này nằm nơi chương 5 của sách trong đó tác giả mô tả thị kíên của mình về con chiên ngự ở trên ngai. Con chiên được muôn dân vây quanh hát ca khen ngợi bằng bài hát sau: “Ngài đã bị giết và nhờ cái chết hy tế của Ngài, Ngài đã mua chuộc họ về cho Thiên Chúa muôn người thuộc mọi bộ lạc, mọi ngôn ngữ, mọi quốc gia và mọi chủng tộc. Ngài đã biến họ thành vương quốc tư tế để phụng sự Thiên Chúa chúng ta” (Kh 5: 9-10)

Bấy giờ các thiên sứ cùng hợp với đám người vây quanh ngai. Tác giả sách Khải Huyền viết tiếp: “Tôi lại ngước nhìn và nghe tiếng các thiên thần, số thiên thần lên tới hàng ngàn triệu! Họ đứng chung quanh ngai và hát to lên: “Con Chiên bị giết đáng được lãnh nhận… Danh dự, vinh quang và tán tụng!… Tán tụng và danh dự, vinh quang và quyền năng đều thuộc về Ngài muôn đời muôn kiếp” (Kh 5: 11-13) và tất cả mọi người đứng quanh ngai hô to: “Amen”.

Tóm lại, tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” gợi lên ba hình ảnh sống động: hình ảnh thứ nhất về lòng trìu mến và tình yêu đối với con chiên, hình ảnh thứ hai về nỗi khổ đau và hy sinh mà con chiên gánh chịu, hình ảnh thứ ba là vinh quang và tán tụng dành cho con chiên.

Không có gì đáng ngạc nhiên khi Chúa Giêsu có rất nhiều tước hiệu như “Ánh sáng trần gian”, “Mục tử nhân lành”, “Bánh hằng sống”… mà chỉ có tước hiệu “Chiên Thiên Chúa” là tước hiệu duy nhất được dùng trong Thánh lễ. Chẳng hạn, ngay trước khi rước lễ, chúng ta thường hợp ca bài “Lạy Chiên Thiên Chúa”. Giây phút rất đặc biệt ấy trong Thánh lễ tiên báo giây phút chung cục của thời gian, khi tất cả muôn dân hiệp cùng các thiên sứ hát lên khúc hát này dâng lên Chúa Giêsu, là Chiên vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Ngài đã bị giết, và nhờ cái chết hy tế của Ngài, Ngài đã chuộc về cho Chúa muôn người thuộc mọi bộ lạc, mọi ngôn ngữ, mọi quốc gia, và mọi chủng tộc. Người đã biến họ thành các vương quốc tư tế để phụng sự Thiên Chúa chúng ta… Con Chiên bị giết đáng được lãnh nhận… danh dự, vinh quang và tán tụng!… Tán tụng và danh dự, vinh quang và quyền năng đều thuộc về Ngài muôn đời muôn kiếp! Amen“.

Cha Mark Link, SJ

Thấy, Biết rồi Làm Chứng

Thấy, Biết rồi Làm Chứng

Trong cuộc sống, chúng ta quen nhiều người, nhưng biết thì ít hơn.

Gioan cũng thế, trong bài Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, hai lần ông khẳng định: “Tôi đã không biết Người” (Ga.1,31-33). Cho đến khi làm phép rửa cho Đức Giêsu, Gioan thú nhận mình vẫn chưa “biết” Ngài.

Dù Đức Giêsu là bà con họ hàng của ông (Lc.1,36), dù ông đã có một số thông tin về Ngài, và dù ông biết Ngài cao trọng hơn mình (Mt.3,14), nhưng cái biết ấy, ông vẫn chưa coi là biết thật sự.

Được Thiên Chúa mách bảo, ông kiên nhẫn đợi chờ. Làm phép rửa trong nước là cách giúp ông khám phá ra Đấng sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần. Ai được Thần Khí ngự xuống và ở lại, Người ấy là “Đấng Thiên Chúa Tuyển Chọn”. Gioan đã thấy Thần Khí ở lại trên Đức Giêsu lúc Ngài được ông làm phép rửa. Bây giờ ông mới có thể nói: ông đã biết Đức Giêsu. Ông đã “biết” sau khi ông đã “thấy”.

Nếu biết là đi vào một mầu nhiệm, thì mầu nhiệm ấy cứ vẫy gọi người ta tiến sâu hơn. Càng tiến sâu, cái biết càng được thanh luyện. Gioan đã thấy, đã biết, đã làm chứng cho Đức Giêsu. Làm chứng cho Đức Giêsu khiến ông trở nên tay trắng. Ông vui khi giới thiệu Đức Giêsu cho môn đệ của mình. Ông mừng khi thấy dân chúng tuốn đến với Ngài (Ga.3,26). Ông sung sướng khi trở nên lu mờ đi để Ngài được nổi bật lên (Ga.3,30).

Từ cái biết nhờ thấy, Gioan đã trở nên người làm chứng cho Đức Giêsu. Hành trình chứng nhân của Gioan cũng là của bạn và tôi hôm nay: “thấy, biết rồi làm chứng”.

Biết một người là chuyện khó. Biết Đức Giêsu còn khó hơn. Tôi chẳng thể nào múc cạn được con người Giêsu, Đấng đã là đích điểm giao hòa giữa trời và đất; Đấng là tạo hóa nhưng lại hòa đồng với tạo vật, và cũng là Đấng đã liên kết giữa thần linh thánh thiện và con người tội lỗi.

Để biết Đức Giêsu, ta cần thấy Ngài tỏ mình ra. Nhưng không phải ta sẽ thấy một thị kiến huy hoàng long trọng. Không hẳn Ngài sẽ xuất hiện trong sức mạnh quyền năng. Ngài vẫn tỏ mình xuyên qua những việc xảy ra trong cuộc sống hằng ngày, qua những con người đơn sơ ta vẫn gặp. Ta cần tập nhìn thấy Ngài tiềm ẩn sau lớp vỏ bọc xù xì của thực tế đời thường.

Cần thường xuyên làm mới lại “cái biết” về Đức Giêsu để mối tương quan của ta với Ngài mỗi ngày trở nên thâm trầm hơn, thân mật hơn. Nếu biết là thấy, là có kinh nghiệm riêng tư, là hiệp thông, là gặp gỡ, là chia sẻ chính cuộc đời của Ngài, là để “ta sống trong Ngài và Ngài sống trong ta”, thì cái biết đó phải là nỗ lực của cả một đời người Kitô.

Và lúc này đây, mời bạn cùng với tôi, chúng ta hãy dành ra đôi ba phút ngắn ngủi để đi vào lòng mình; để tìm gặp khuôn mặt Giêsu: Ngài đang ở đâu, ở chỗ nào trong cuộc sống của tôi? Tôi phải làm gì để nhận ra Ngài, bắt gặp Ngài đang sống bên tôi trong cuộc đời tạm bợ này?

Gioan đã giới thiệu Đức Giêsu là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian.”(Ga.1,29). Còn bạn và tôi, chúng ta sẽ giới thiệu Đức Giêsu như thế nào cho những người xung quanh ta hôm nay?

Lạy Chúa Giêsu!

Xin cho con thấy Chúa thật lớn lao, để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ vô nghĩa.

Xin cho con cảm nhận tình Chúa thật bao la sâu thẳm, để con luôn được sống trong tình yêu thương sâu thẳm bao la ấy.

Xin cho con biết Chúa thật nhân từ và bao dung, để mỗi khi con vấp ngã trên đường đời, con luôn biết chỗi dậy và trở về cùng Chúa.

Giêsu ơi! Xin Ngài hãy đến và cư ngụ trong lòng con luôn mãi, để không còn là con nữa, mà là chính Ngài đang sống trong con. Amen.

Veritas Radio

         Đây Chiên Thiên Chúa

Trong Thánh Lễ, ta đọc Chiên Thiên Chúa nhiều lần. Có lẽ ít người hiểu được ý nghĩa của cụm từ “Chiên Thiên Chúa”. Nhưng khi Gioan Baotixita giới thiệu Chúa Giêsu cho dân Do Thái: “Đây là Chiên Thiên Chúa” thì người Do Thái hiểu rõ ý nghĩa của từ ngữ.

Trong Kinh Thánh, chiên được dùng làm biểu tượng cho những người hiền lành, đạo đức. Trong dụ ngôn về ngày phán xét, Chúa đã tách chiên ra khỏi dê. Chiên ở bên phải, dê ở bên trái.

Thế nhưng chiên còn có một ý nghĩa sâu xa hơn. Hằng năm, vào Lễ Vượt Qua của người Do Thái, mỗi gia đình có tục lệ ăn thịt một con chiên. Phải lựa con chiên non dưới một năm tuổi, tốt đẹp, không tì vết. Người Do Thái ăn thịt Chiên Vượt Qua, không phải để mừng mùa đông đã qua và mùa xuân vừa mới khởi đầu. Nhưng là để kỷ niệm ngày Chúa giải phóng họ khỏi ách nô lệ Ai Cập.

Lễ Vượt Qua được cử hành vào đầu mùa xuân. Người Do Thái nhớ đến con chiên. Con chiên đã chết cho họ được sống. Máu chiên đã đưa họ ra khỏi mùa đông tăm tối, tiến vào mùa xuân tươi sáng. Máu chiên đã giúp giải thoát khỏi ách nô lệ Ai Cập, đưa họ về miền Đất Hứa, sống trong tự do.

Chúa Giêsu đã chịu tử hình vào dịp Lễ Vượt Qua của người Do Thái. Bữa tiệc ly chính là tiệc Lễ Vượt Qua mà Chúa Giêsu ăn với các môn đệ. Chịu chết vào dịp Lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu chính là con chiên của Thiên Chúa bị sát tế để cứu nhân loại.

Chúa Giêsu là con chiên hiền lành, không hé môi khi bị đem đi xén lông. Người khiêm nhường gánh lấy tội lỗi nhân loại.

Bản tiếng Việt dịch là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian. Từ ngữ “xóa” là một cách nói văn hoa nhẹ nhàng, nhưng không lột hết ý nghĩa của nguyên ngữ. Tiếng Hy Lạp dùng từ ‘airein’, tiếng La tinh dùng từ ‘tollit’ có nghĩa là nhận lấy vào mình, gánh lấy, vác lấy. Có lẽ nên dịch là Chiên Thiên Chúa, Đấng ‘gánh’ lấy tội nhân loại thì đúng hơn. Xóa là đứng ngoài cuộc. Đức Giêsu không đứng ngoài cuộc. Người đã nhập cuộc, gánh lấy thân phận con người, và nhất là gánh lấy tội lỗi của con người. Chính vì gánh lấy tội lỗi mà Người, Đấng hoàn toàn trong sạch, vô tội đã chịu hạ mình xếp hàng giữa những người tội lỗi xin Gioan rửa tội. Chính vì gánh lấy tội lỗi nhân loại mà Người lui tới với những người tội lỗi, chuyện trò với họ, ăn uống đồng bàn với họ. Nhưng nhất là chính vì gánh lấy tội nhân loại mà Người phải chịu chết giữa hai tội phạm, đồng số phận với họ, đồng bản án với họ, như những người trộm cướp.

Người gánh lấy tội của ta để ta được tha thứ. Người hạ mình xuống để ta được nâng lên. Người trở nên nghèo hèn để ta được giàu có. Người làm con loài người để ta được làm con Thiên Chúa. Người trở nên yếu hèn để ta được nên mạnh mẽ. Người chịu nhục nhã để ta được vinh quang. Người nhận lấy thân phận nô lệ để ta được tự do. Người cam lòng chịu chết để trả lại cho ta sự sống.

Người tín hữu thường được gọi là “Con chiên của Chúa”. Danh hiệu đó ngầm chứa một lời cầu chúc: Mong cho người tín hữu được xếp vào loại ‘chiên’ trong ngày phán xét. Được đứng bên hữu Vua Thẩm Phán. Được vào hưởng vinh quang trong nước Chúa.

Nhưng danh hiệu đó phải chăng cũng gợi lên một ước mong. Ước mong người tín hữu sống theo gương của Chiên Thiên Chúa. Ước mong những con chiên con nối gót theo chiên mẹ đầu đàn đi vào con đường hiền lành khiêm nhường. Ước mong đoàn chiên tự hiến đời mình như một của lễ dâng lên Thiên Chúa. Và ước mong đoàn chiên gánh lấy số phận của người khác, để yêu thương, đoàn kết, liên đới, chia sẻ với anh em tất cả mọi niềm vui nỗi buồn của họ.

Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội con, xin thương xót con.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) “Chiên Thiên Chúa” gợi lên những ý tưởng nào nơi bạn?

2) Là ‘con chiên của Chúa’ bạn phải sống thế nào cho xứng đáng danh hiệu ấy?

3) Thánh Gioan đã giới thiệu Chúa Giêsu với tất cả ý nghĩa sâu xa của danh hiệu “Chiên Thiên Chúa”. Hôm nay, nếu phải giới thiệu Chúa Giêsu cho người chung quanh, bạn sẽ dùng danh hiệu nào?

ĐTGM Ngô Quang Kiệt

 

Đây Chiên Thiên Chúa…

Đây Chiên Thiên Chúa…

Trong những ngày này, ngang qua Lời Chúa trong các bài Tin Mừng, Giáo Hội tiếp tục trình bày cho chúng ta chân dung của thánh Gioan Tẩy Giả, như là chứng nhân của Đức Kitô, Đấng là Sự Sống và Ánh Sáng.

Xin Chúa cũng khơi dậy nơi chúng ta lòng ước ao trở thành chứng nhân của Đức Kitô, bằng cách đón nhận sự sống mỗi ngày của chúng ta từ Ngôi Lời, và sống sự sống của chúng ta như là ánh sáng, thay vì như là bóng tối. Bởi vì Ngôi Lời là Sự Sống và ở nơi Người Sự Sống là Ánh Sáng.

Trả lời cho câu hỏi về căn tính “ông là ai?”, thánh Gioan tuyên bố thẳng thắn, mình không phải là Đấng Kitô. Nhưng điều phải làm cho chúng ta ngạc nhiên, đó là ông cũng không tự cho mình là Elia hay là một ngôn sứ:

Họ lại hỏi ông: “Vậy thì thế nào? Ông có phải là ông Êlia không? ” Ông nói: “Không phải.” – “Ông có phải là vị ngôn sứ chăng? ” Ông đáp: “Không”.

Trong khi đó, Đức Giêsu sẽ nói về ông như là vị ngôn sứ lớn nhất và như chính ngôn sứ Elia trở lại: “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả… Và nếu anh em chịu tin lời tôi, thì ông Gioan chính là Êlia, người phải đến (Mt 11, 11-15 và 17, 10-13). Nhưng về phần thánh Gioan, ngài chỉ tự nhận mình như là tiếng hô hoàn toàn hướng về Đức Chúa: “Tôi là tiếng người hô trong hoang địa: Hãy sửa đường cho thẳng để Đức Chúa đi, như ngôn sứ Isaia đã nói”. Xin cho chúng ta có lòng ước ao có được tâm tình khiêm tốn này của thánh Gioan:

Như thánh Gioan đã trở thành điều mà lời ngôn sứ Isaia đã loan báo. Cũng vậy, chúng ta được mời gọi để cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm nơi cuộc đời của mình. Xin cho Lời Chúa mà chúng ta đọc, lời nguyện Thánh Vịnh mà chúng ta hát dâng lên Chúa hàng ngày cũng được ứng nghiệm, được thực hiện nơi cuộc đời và trong mỗi ngày sống của chúng ta.

Như thánh Gioan, chúng ta được mời gọi sống sự sống của mình, sống thời gian Chúa ban, sống đời mình và ơn gọi của mình như một lời mời gọi, không phải mời gọi qui về mình, nhưng là qui về Đức Kitô.

Như thánh Gioan, chúng ta cũng tự mình không thể biết Đức Kitô, nhưng đó là ơn huệ của Thiên Chúa Ba Ngôi. Thực vậy, thánh nhân nhấn mạnh:

Tôi đã không biết Người, nhưng để Người được tỏ ra cho dân Ít-ra-en, tôi đến làm phép rửa trong nước”,“Tôi đã không biết Người. Nhưng chính Đấng sai tôi đi làm phép rửa trong nước đã bảo tôi: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần”.

Như thế, sự hiểu biết Đức Kitô của thánh Gioan hoàn toàn là ơn huệ: của chính Thiên Chúa Chúa Cha, vì Người đã thúc đẩy thánh Gioan đi tìm kiếm Đức Kitô; của Chúa Thánh Thần, vì dấu chỉ để nhận biết Đức Kitô, là sự hiện diện của Thần Khí; và cuối cùng là của chính Đức Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa đến tỏ mình ra cho thánh Gioan:

Hôm sau, ông Gioan thấy Đức Giêsu tiến về phía mình, liền nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian”.

Cũng vậy, lời chứng của chúng ta về Đức Kitô, cũng hoàn toàn đến từ kinh nghiệm được đích thân gặp gỡ Đức Kitô và giới thiệu Người cho mọi người, như thánh Gioan sẽ giới thiệu Đức Kitô cho hai môn đệ của mình: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian”.

“Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa bỏ tội trần gian”. Lời tuyên xưng này chất chứa cả một mầu nhiệm cứu độ và vì thế, trở thành bất hủ, vì được tuyên xưng tới bốn lần trong mỗi Thánh Lễ: sau khi chúng bình an, cộng đoàn phụng vụ đọc hay hát: “Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian…” (3 lần); tiếp đến, linh mục chủ tế dâng cao Mình Thánh trên chén (hoặc dĩa) thánh, long trọng công bố: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian…”.

Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Con Chiên vô tội, nhưng lại mang vào mình mọi tội lỗi của từng người và loài người chúng ta, như Người Tôi Tớ Đau Khổ, để ban cho chúng ta sự vô tội của Ngài.

Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Con Chiên vô tội bị sát tế, để bày tỏ sự tín thác tuyệt đối vào đức công chính và sự sống mạnh hơn sự chết nơi Thiên Chúa, và để trở thành đường đi và sự sống cho chúng ta.

Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Con Chiên hiền lành, diễn tả khuôn mặt đích thật của Thiên Chúa: Thiên Chúa là tình yêu và chỉ là tình yêu mà thôi.

Như thánh Gioan, xin cho chúng ta cũng khao khát gặp gỡ, hiểu biết và yêu mến Đức Kitô, để có thể nói cho mọi người, ngang qua chính đời sống hằng ngày của chúng ta: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian”.

LM Giuse Nguyễn văn Lộc

Chiên Thiên Chúa

Chiên Thiên Chúa

Chúng ta vừa kết thúc Phụng vụ Mùa Giáng Sinh. Những trang trí hoa đèn của mùa Noel đã được tháo gỡ và hạ xuống. Bầu khí khu thánh đường trở lại vẻ lặng lẽ và bình thường trong khí trời tuyết lạnh. Giờ đây chúng ta bắt đầu tiếp tục suy gẫm về sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu. Chúng ta được Thánh Gioan Tiền Hô giới thiệu: “Khi ấy, ông Gioan thấy Chúa Giêsu tiến về phía mình liền nói: ‘Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian.’” (Ga 1,29). Khai mở một triều đại mới của Nước Trời. Chúa Giêsu đã hiện diện đồng hành với Dân Người. Chúng ta cần học hiểu về ý nghĩa thần học của con chiên. Chúa Giêsu được ví như cửa chuồng chiên, người chăn chiên tốt lành và chủ chiên. Chủ chiên đi trước và đàn chiên bước theo sau. Trong Cựu Ước hình ảnh quen thuộc của những con chiên tinh tuyền bị hiến tế, con chiên gánh tội, con chiên hiền lành bị xén lông và bị giết để lấy máu chiên đuợc bôi trên cửa, rảy trên dân chúng và thịt chiên nướng làm của ăn.

Tiên tri Isaia đã tiên báo nhiều điều về Đấng sẽ ban ơn cứu độ. Ngài là ánh sáng và nguồn qui tụ mọi con dân về một mối: Người đã phán: “Làm tôi tớ Ta chẳng có là bao, để tái lập các chi họ Giacóp, để dẫn đưa các người Israel sống sót trở về; này đây Ta đặt ngươi như ánh sáng các dân tộc để ơn cứu độ của Ta tràn lan khắp địa cầu.” (Is 49,6). Khoảng 600 năm trước Chúa Giêsu, Isaia đã có những thị kiến ngưỡng vọng về một tương lai huy hoàng. Thiên Chúa sẽ quy tụ mọi con cái đang tản mác khắp nơi về một nguồn sống. Ơn cứu độ sẽ lan tràn khắp chốn và vinh quang của Thiên Chúa sẽ được chiếu toả khắp mọi nơi: Chúa đã phán cùng tôi: “Hỡi Israel, ngươi là tôi tớ Ta, vì Ta được vinh danh nơi ngươi.” (Is 49,3).

Gioan Tẩy Giả là vị tiên tri sau cùng nối kết giữa Cựu Ước và Tân ước. Chương trình cứu độ được thể hiện qua dòng dõi của một Dân tộc mà Chúa đã chọn. Trải qua thời gian, cho dù dân chúng có ngỗ nghịch, ương ngạnh và từ bỏ Chúa, Thiên Chúa vẫn tín trung giữ lời đã giao ước với các cha ông. Gioan được sai đến như vị tiên hô để chứng dám và giới thiệu cho toàn dân về Đấng Cứu Thế: Và Gioan đã làm chứng: “Tôi đã thấy Thánh Thần như chim bồ câu từ trời đáp xuống và ngự trên Ngài. Về phần tôi, tôi đã không biết Ngài.” (Ga 1,32). Gioan đã chu toàn sứ mệnh tiền hô và chuẩn bị lòng dân đón Chúa. Ông đã được nhìn xem tận mắt và chứng kiến Đấng đến sau ông và ông không xứng đáng cúi xuống cởi dây giày cho Ngài.

Gioan kêu gọi mọi người hãy chuẩn bị đường lối của Chúa cho ngay thẳng. Có nhiều người đã chạy đến với Gioan xin lãnh nhận phép rửa sám hối. Một số người thật lòng sám hối ăn năn và sửa đổi đời sống. Cũng có những vị tai mắt trong dân thuộc nhóm Biệt phái và Xađốc chạy đến với Gioan xin nhận phép rửa, nhưng Gioan đã đọc được tâm tư của họ, ông nói với họ: “Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy?” (Mt 3,7). Gioan đã mạnh mẽ rao giảng sự thật giúp mọi người chuẩn bị đón nhận Nước Trời. Ông không vị nể người quyền thế, nhưng dám đối diện thách thức các vị chức sắc trong xã hội và tôn giáo. Gioan đã vạch rõ con đường nội tâm phải sửa đổi cho ngay thẳng và chân thành.

Có một vị giảng thuyết ngoài đường phố đặt một thùng xà phòng ở một góc đường có đông người qua lại. Ông ta can đảm rao giảng về Chúa và sự cần thiết có Chúa trong đời sống, nhưng người qua kẻ lại chỉ đáp lại với thái độ thờ ơ, lãnh đạm. Đột nhiên, ông thay đổi cách thế rao giảng. Kìa có một viên chức trong văn phòng biệt thự đi ra ngoài để ăn trưa, vị giảng thuyết nhìm chằm chằm vào mắt ông và đưa ngón tay chỉ thẳng vào mặt ông và la lớn: Có tội. Rồi ông giữ im lặng vài giây, chọn từ khác ‘nạn nhân’ để cố gắng kéo sự chú ý của vị khách. Ông đưa cánh tay phải lên và chỉ ngay mặt và la to: Tội phạm. Sự đáp trả rất ngoạn mục, khi mới khởi đầu ra rao giảng, sự đáp trả chỉ là một sự khinh rẻ và cười nhạo hay chỉ là vô tư. Tuy nhiên, bây giờ, sự trả lời là một sự khuấy động nội tâm và viên chức văn phòng thực sự bắt đầu cảm thấy có điều lỗi. Có vẻ như là vị giảng thuyết đang đụng chạm tận cửa nhà và hình như người ta nghĩ vị giảng thuyết biết những sự thầm kín của họ.

Tuy thời gian không dài nhưng ông Gioan Tẩy Giả đã hoàn thành được sứ mệnh của người dọn đường. Ông đã xác tín một điều mà muôn dân đợi trông: “Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa.” (Ga 1,34). Ngày nay chúng ta có cơ hội học biết về toàn thể lịch sử ơn cứu độ. Chúng ta có một bức tranh diễn tiến qua từng giai đoạn đón chờ của Dân Thánh. Chúng ta học biết một cách rõ ràng hơn về cách thế Thiên Chúa đã dẫn dắt lịch sử. Chúng ta biết rằng dân Dothái thuở xưa đã phải lần bước trong đêm tối của đức tin với niềm hy vọng. Ngày nay có rất nhiều người Dothái vẫn còn trong tâm tình chờ đợi. Những lời tiên báo, những dấu chỉ và sự xuất hiện của Ngôi Lời đã đến cách đây cả hai thiên niên kỷ. Đôi khi chúng ta tự hỏi: Tại sao nhiều người Dothái trong thời đó đã không nhận biết Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa và là Đấng xoá tội trần gian? Vì Chúa Giêsu đã ẩn mình xuống thế làm người như chúng ta.

Chiên Thiên Chúa đã xuất hiện và đã làm rất nhiều phép lạ để tỏ bày uy quyền trên mọi thụ tạo. Có rất nhiều người đã được ơn chữa bệnh, được ăn bánh, cá và được nhìn xem những dấu chỉ lạ thường, nhưng họ vẫn không tin. Từ dòng dõi này qua dòng dõi kia, họ vẫn còn trong tâm tình chờ đợi khao khát ơn cứu độ. Thánh Gioan Tẩy Giả đã đọc được những tâm tình của những nhà lãnh đạo tôn giáo thời đó. Các thượng tế nắm chặt truyền thống và trung thành với Giáo Ước cũ. Nhưng lạ thay, các nhà chiêm tinh ngoại giáo đã nhìn thấy dấu chỉ và tìm đến cung đình để hỏi vua Hêrôđê về Vua của Dân Dothái. Vua Hêrôđê đã tụ họp các thượng tế và kinh sư cẩn thận tìm hiểu lời tiên báo của các ngôn sứ nói về sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế: “Phần ngươi, hỡi Belem, miền đất Giuđa, người đâu phải là thành nhỏ nhất của Giuđa, vì người là nơi vị lãnh tụ chăn dắt Israel dân Ta sẽ ra đời.” (Mt 2,6).

Chúa Giêsu Kitô đã đến và rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Trong thời gian ngắn ngủi, Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi lời do miệng các tiên tri đã phán dạy. Ngài đã hiến thân mình như con chiên hiền lành bị đem đi giết. Chính Ngài đã hiến dâng mình để cứu độ và giải thoát con người khỏi tội lỗi, sự tối tăm và sự dữ. Ngài đã chiến thắng tử thần, đã sống lại từ cõi chết và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Danh thánh của Ngài được truyền rao qua mọi thế hệ. Thư của Thánh Phaolô Tông Đồ gửi cho giáo đoàn Corintô đã trình bày: “Kính chào Hội Thánh Chúa ở Côrintô, những người được thánh hoá trong Chúa Giêsu Kitô, được kêu gọi nên thánh, làm một với tất cả mọi người khắp nơi đang kêu cầu thánh danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” (1 Cr 1,2). Chỉ có Chúa Giêsu là Đấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa và là Đấng Cứu Độ trần gian.

Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng: Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian xin thương xót chúng con. Chúa Chiên Lành đã yêu thương ẵm vác trên vai những con chiên bị thương tích và đưa dẫn chiên lạc lối trở về. Xin cho chúng con biết dõi theo lối bước của Chúa đến đồng cỏ xanh tươi, có nguồn suối mát và chúng con sẽ được nghỉ ngơi an bình.

LM. Giuse Trần Việt Hùng

Ai thương xót ta, nếu ta không biết thương xót chính mình?

Ai thương xót ta, nếu ta không biết thương xót chính mình?

Ngày 15 tháng Giêng vừa qua hàng chục nước ân nhân của Syria đã kết thúc cuộc họp tại Kuweit. Cuộc họp đã chỉ thành công một nửa, vì đã không đạt được số tiền cần có để cứu trợ Siria. Ông Ban Ki-Moon, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, đã tỏ vẻ thất vọng, khi thông báo số tiền các nước này đã đóng góp chỉ được 2 tỷ 400 triệu mỹ kim, tức ít hơn một phần ba ngân khoản dự trù có được. Liên Hiệp Quốc cũng mạnh mẽ tố cáo các vụ tàn sát tập thể do các lực lượng thánh chiến chủ mưu, trong đó có nhóm ”Nhà nước Hồi giáo Irak” và ”Mặt trời mọc” gắn liền với tổ chức khủng bố Al Qaeda. Trên bình diện ngoại giao trong hai ngày 16 và 17 tháng Giêng đại diện của các chính quyền Nga, Iran và Siria đã gặp nhau tại thủ đô Matscơva. Trước các khó khăn mà việc cứu trợ nhân đạo phải đối phó trong lúc này Đức Tổng Giám Mục Mario Zenari, Sứ Thần Tòa Thánh tại Siria, đã tha thiết kêu gọi cộng đồng quốc tế lắng nghe tiếng gào thét tuyệt vọng của người dân Siria đang ngã qụy trong cơn lốc bạo lực, và mau chóng làm tất cả những gì có thể để cứu sống dân chúng. Điều cấp thiết nhất hiện nay là giúp đạt được một cuộc ngưng bắn để có thể chuyển đồ cứu trợ tới cho các nạn nhân, đặc biệt trong các tỉnh miền đông và cả các vùng chung quanh thủ đô Damasco.

Người ta không biết hội nghị Genève II khai diễn vào ngày 22 tháng Giêng này với sự tham dự của các phe lâm chiến và đại diện của các nước có liên lụy trong cuộc nội chiến có đem lại một giải pháp hòa bình cho Siria hay không. Các lực lượng cách mạng đối lập nhất quyết đòi tổng thống Bashar al-Assad phải ra đi, trong khi chính quyền Damasco vẫn luôn luôn coi các lực lượng nổi dậy là các nhóm khủng bố phá hoại. Và ước nguyện của tổng thổng Bashar al-Assad là ”được chết trên quê hương của mình”. Nhưng đó chỉ là kiểu nói hoa mỹ nhằm che dấu tham vọng duy trì quyền lực bằng mọi cách, kể cả với giá máu của hàng trăm ngàn người dân và một đất nước đổ nát tan hoang, sau bao nhiêu thập niên hy sinh cố gắng xây dựng để đạt được sự phồn thịnh như cho tới cách đây hơn ba năm.

Vấn đề đó là cả hai phe đều dựa vào sự ủng hộ của các nước ngoài sẵn sàng cung cấp khí giới cho họ tàn sát lẫn nhau. Như đã biết, chính quyền của tổng thống Bashar al-Assad được Nga, Trung Quốc và Iran cung cấp khí giới, trong khi Hoa Kỳ, Âu châu và vài quốc gia A Rập cung cấp khí giới cho các lực lượng cách mạng. Từ nhiều thập niên qua số vũ khí Nga bán cho Syria lên tới hơn 2 tỷ mỹ kim mỗi năm. Nhưng Syria cũng mua khí giới của vài nước Âu châu và nhờ kỹ thuật các nước này cung cấp đã chế ra các vũ khí hóa học, hiện nay đã bị tịch thu và sẽ bị hủy bỏ. Siria trở thành chợ trời vũ khí: đó là một trong các lý do khiến cho chiến tranh nước này kéo dài, khó chấm dứt.

Đây cũng là một sự thật sống sượng, mà các phương tiện truyền thông quốc tế thường tránh né, ít khi dám thẳng thắn đề cập tới, hay phân tích hoặc mạnh dạn tố cáo: đó là ”chiến tranh thương mại” làm giầu cho các quốc gia có kỹ nghệ chế tạo và buôn bán vũ khí.” Đứng đầu là Hoa Kỳ, Nga, Trung Quốc, rồi đến các nước Âu châu, trong đó Anh, Đức, Pháp, Italia, Tây Ban Nha chiếm vị thế ưu tiên. Tiếp đến cho tới vài thập niên gần đây lại có thêm các nước có nền kinh tế đang lên như Ấn Độ, Brasil và Nam Phi. Rồi còn có cả các nước A Rập và nhiều nước Phi châu như Ai Cập, A Rập Sauđi, Camerun vv… Như thế chiến tranh là một lợi nhuận, đem lại các số tiền lời khổng lồ hàng trăm tỷ mỹ kim hằng năm, nên việc ”tạo ra thị trường tiêu thụ vũ khí” cũng là một khâu khác của kỹ nghệ chế tạo và buôn bán vũ khí trên thế giới.

Tuy nhiên, ngày nay người ta không còn có thể chỉ quy tội cho các cường quốc, hay các nước tây âu hoặc đông âu, chế tạo buôn bán vũ khí nữa, mà trách nhiệm cũng tùy thuộc rất nhiều nơi hàng lãnh đạo của các nước nghèo đang trên đường phát triển. Sự kiện giới lãnh đạo các nước nghèo dành rất nhiều ngân khoản cho việc mua và trang bị vũ khí cho quân đội là một sự thật qúa hiển nhiên, không thể che dấu và chối cãi được nữa.

Điển hình như tình hình vùng Đông Nam Á hiện nay. Trung Quốc ”xấc xược” coi Biển Đông là của mình và uy hiếp các nước nhỏ trong vùng, chỉ vì muốn ăn cướp tài nguyên, hải sản và mỏ dầu hỏa khổng lồ nằm bên dưới thềm lục địa của Việt Nam và các nước vùng Đông Nam Á. Nhưng các động thái khiêu khích, đe dọa, trấn áp và xâm lăng của Trung Quốc khiến cho các nước toàn vùng ở trong trình trạng căng thẳng báo động, và làm cho các chính quyền thi đua nhau mua vũ khí của Hoa Kỳ, Nga, Âu châu và Ấn Độ. Kể cả chính quyền cộng sản Việt Nam, một đàng thì đã ký thỏa hiệp ngầm bán nước cho Trung Quốc từ lâu, nhằm biến Việt Nam trở thành một tình của Tầu, đàng khác lại ”giả vờ đóng kịch hốt hoảng” ký thỏa hiệp mua khí giới của Hoa Kỳ và Ấn Độ gọi là ”để đương đầu với họa mất nước”. Trong khi đó nhà nước cộng sản Việt Nam lại không hề dám mở miệng lên tiếng phản đối các hành động xấm lăng của Trung Quốc cướp đất, cướp biển, cưởp hải sản và quặng mỏ của Việt Nam, giết ngư dân, để cho người Tầu tha hồ tự do sang Việt Nam thành lập nhiều thành phố làng mạc buôn bán và thống trị thị trường sản xuất trong nước, nhưng lại thẳng tay đàn áp sinh viên học sinh, các nhà tranh đấu cho dân chủ và những người yêu nước biểu tình phản đối chính sách xâm lăng của Trung Quốc.

Như thế, cũng như trường hợp của Siria, nếu chính quyền và các lực lượng của một quốc gia mà không biết thương xót dất nước và dân tộc mình để cố gắng tìm ra giải pháp hòa bình, tránh cho quốc qia khỏi bị diệt vong, thì ai là người có thể thương xót và làm nhiệm vụ này thay cho họ đây? Ai thương xót ta, nếu ta không biết thương xót chính mình?

Linh Tiến Khải
– Vatican Radio

Vị linh mục thúc giục mọi người theo con đường cải cách hòa bình

Vị linh mục thúc giục mọi người theo con đường cải cách hòa bình

Vị linh mục dòng Tên hướng dẫn người biểu tình cầu nguyện giữa lúc chiến dịch đóng cửa Bangkok tiếp diễn

Vị linh mục thúc giục mọi người theo con đường cải cách hòa bình thumbnail

Linh mục Vichai Phoktavi và người biểu tình ở trung tâm Bangkok

Một vị linh mục thúc giục người biểu tình chống chính phủ ở Bangkok tìm kiếm công lý và cải cách thông qua các phương thức hòa bình sau một đêm xảy ra bạo lực lác đác trong thủ đô Thái Lan.

Linh mục dòng Tên Vichai Phoktavi hướng dẫn hàng ngàn người biểu tình tại trung tâm Bangkok cầu nguyện cho hòa bình và công lý tại Thái Lan hôm thứ Tư.

“Tôi nghĩ chính trị và chính phủ tại Thái Lan cần được cải cách, chúng ta cần loại trừ tham nhũng và cần có sự tham gia của người dân nhiều hơn”, ngài phát biểu với ucanews.com.

Cha Vichai cho biết những người tổ chức biểu tình đã đến gặp ngài hôm thứ Ba xin hướng dẫn một nghi thức cầu nguyện liên tôn giáo mở đầu ngày thứ ba liên tiếp biểu tình diễn ra trên khắp thành phố, được những người tổ chức gọi là “Đóng cửa Bangkok”. Ngài hướng dẫn giờ cầu nguyện sau khi một thầy tế Hồi giáo dâng lời cầu nguyện tương tự cho hòa bình và công lý, cha Vichai kể lại.

Các lãnh đạo tôn giáo kêu gọi hòa bình sau khi có tin báo hàng loạt vụ bạo động xảy ra trên khắp thành phố vào tối thứ Ba. Hai người bị bắn, một thiết bị gây nổ được ném vào nhà của lãnh đạo đảng thuộc phe đối lập chính, một xe buýt bị đốt và cảnh sát bị tấn công trong nhiều vụ khác nhau, các nhà chức trách cho biết.

Vụ nã súng xảy ra gần giao lộ Pathum Wan của thành phố, gần nơi diễn ra nghi thức cầu nguyện hôm thứ Tư.

Cha Vichai, cựu giám đốc Ủy ban Công lý hòa bình Công giáo, nói ngài nhắc nhở đám đông trong một thành phố vẫn còn tổn thương vì các vụ bạo loạn gây chết người năm 2010 rằng phi bạo lực là cách tốt nhất để họ đạt mục đích.

“Tôi không tham gia chính trị và tôi không đến đây để theo bên nào cả. Tôi có mặt ở đây để giúp củng cố xã hội Thái Lan và để đẩy mạnh công lý, hòa bình và đạo đức nơi người dân Thái Lan và chính trị Thái Lan”, ngài nói.

Người biểu tình tìm cách truất phế chính quyền của Thủ tướng Yingluck Shinawatra và thành lập một chính quyền được chỉ định để tiến hành cải cách chính trị trước khi tổ chức các cuộc bầu cử mới. Họ và phe đối lập chính là đảng Dân chủ từ chối tham gia các cuộc bầu cử dự kiến tổ chức vào ngày 2-2 nếu không thực hiện cải cách.

Các cuộc biểu tình hiện nay liên quan đến vụ phong tỏa nhiều đường phố và giao lộ chính tại trung tâm Bangkok. Trong khi các cơ quan và trường học bị đóng cửa và các trung tâm mua sắm lớn đóng cửa sớm, những người tổ chức không đạt được mục đích làm tê liệt thành phố. Tại nhiều nơi biểu tình, những người tổ chức đã mở đường cho xe cộ đi qua.

Các cuộc biểu tình này diễn ra ban đầu là do dự luật ân xá cho phép nhà tỷ phú anh trai của bà Yingluck là cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra trở về nước mà không phải đi tù, không được thông qua.

Ông Thaksin sống lưu vong ở nước ngoài để tránh ngồi tù vì tội tham nhũng. Ông được nhiều người ở miền bắc Thái Lan ủng hộ, nhưng lại bị nhiều người ở miền nam và tầng lớp trung lưu ở Bangkok chửi rủa.

Stephen Steele từ Bangkok, Thái Lan

Trích từ UCANEWS VN

 

 

Đức Thánh Cha tố giác những tư tế hư hỏng

Đức Thánh Cha tố giác những tư tế hư hỏng

VATICAN. Đức Thánh Cha tái lên tiếng tố giác những tư tế hư hỏng, thay vì trao bánh sự sống cho dân thánh của Chúa, thì lại cho những lương thực có thuốc độc!

ĐTC đưa ra nhận định trên đây trong bài giảng thánh lễ lúc 7 giờ sáng ngày 16-1-2014 tại nguyện đường nhà trọ thánh Marta ở Vatican. Chú giải bài đọc thứ I trong ngày và thánh vịnh đáp ca, kể lại sự thất trận của quân Israel trước quân Philistin, ĐTC nhận xét rằng dân Chúa thời ấy đã bỏ Chúa. Lúc ấy Lời Chúa ”khan hiếm”, Tư tế Elia già nua thì ”nguội lạnh” và các con cái của ông thì ”hư hỏng, làm dân chúng kinh hoàng và hành hạ họ”. Để chiến đấu chống quân Philistin, dân Israel dùng ”hòm bia giao ước” như một vật ma thuật, một điều bên ngoài. Và thế là họ bị thất trận, hòm bia giao ước bị địch quân chiếm. Không có niềm tin đích thực nơi Thiên Chúa, nơi sự hiện diện thực sự của Ngài trong cuộc sống.”

ĐTC nói: ”Đoạn Kinh Thánh này làm cho chúng ta suy nghĩ xem quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa, với Lời Chúa như thế nào: phải chăng đó chỉ là một quan hệ hình thức, hời hợt, một quan hệ xa lạ? Lời Chúa có đi vào, có thay đổi tâm hồn chúng ta hay không, có quyền năng hay không? Nhưng tầm hồn lại khép kín đối với Lời Chúa. Điều này làm chúng ta nghĩ đến bao nhiêu thất bại trong Giáo Hội, bao nhiêu chiến bại của Dân Chúa chỉ vì họ không cảm thấy Chúa, không tìm Chúa, không để cho Chúa tìm họ! Và rồi sau khi thảm trạng xảy ra, người ta cầu nguyện: Lạy Chúa, làm sao điều ấy xảy ra được? Chúa đã làm cho chúng con bị các lân bang coi rẻ… Chúa biến chúng con thành sự nhạo cười của những dân quanh chúng con”.

Đề cập đến những gương mù, những xì căng đan trong Giáo Hội, ĐTC đặt câu hỏi: ”Chúng ta có xấu hổ không? Có bao nhiêu gương mù mà tôi không muốn nêu riêng rẽ ở đây, nhưng tất cả chúng ta đều biết, chúng ta biết chúng ở đâu. Những xì căng đan mà một số người đã bắt phải trả bao nhiêu tiền.. Thật là một ô nhục cho Giáo Hội. Chúng ta xấu hổ vì những xì căng đan, những chiến bại của các linh mục, giám mục, giáo dân? Lời Chúa trong những xì căng đan ấy thật là hiếm hoi!. Họ không có quan hệ với Thiên Chúa! Họ có một địa vị trong Giáo Hội, một địa vị quyền lực, và thoải mái. Nhưng lời Chúa thì họ không có. Họ biện minh: ”Nhưng tôi có huy chương mà! Tôi có mang thánh giá mà!.. Đúng vậy, cũng như những người Israel xưa kia mang hòm bia giao ước vậy! Nhưng mà họ không có quan hệ sinh động với Thiên Chúa và với Lời Chúa!

ĐTC nói: ”Tôi nghĩ đến Lời Chúa Giêsu nói về những kẻ gây gương mù gương xấu.. và nơi đây xì căng đan đã xảy ra: tất cả sự sa đọa của dân Chúa, cho đến sự yếu nhược, sự hư hỏng của các tư tế”.

Và ĐTC kết luận bài giảng, nghĩ đến Dân Chúa: ”Tội nghiệp dân! Tội nghiệp dân! Chúng ta không cho họ bánh sự sống để ăn; chúng ta không cho họ chân lý! Thậm chí chúng ta cho họ ăn bánh bị nhiễm độc, bao nhiêu lần! .. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta đừng bao giờ đên Lời Chúa, Lời hằng sống, xin cho Lời Chúa đi vào tâm hồn chúng ta và không bao giờ quên dân thánh trung thành của Chúa, đang xin chúng ta bánh mạnh mẽ!” (SD 16-1-2014).

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Bí tích Rửa Tội biến tín hữu trở thành chi thể của Giáo Hội Thân Mình của Chúa Kitô, môn đệ và thừa sai

Bí tích Rửa Tội biến tín hữu trở thành chi thể của Giáo Hội Thân Mình của Chúa Kitô, môn đệ và thừa sai

Bí tích Rửa Tội tháp nhập chúng ta vào Chúa Kitô, làm cho chúng ta trở thành chi thể của Giáo Hội và biến chúng ta trở thành môn đệ và thừa sai loan báo Tin Mừng bằng lời nói và việc làm, mỗi người theo cương vị của mình.

Đức Thánh Cha đã nói như trên với hơn 40.000 tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi tiếp kiến chung tại quảng trường thánh Phêrô sáng thứ tư 15-1-2014.

Trong bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã trình bầy đề tài giáo lý hiệu qủa quan trọng của bí tích Rửa Tội: đó là làm cho chúng ta trở thành các chi thể của Thân Mình Chúa Kitô và Dân Thiên Chúa. Thánh Toma thành Aquino khẳng định rằng ai lãnh nhận bí tích Rửa tội thì được gia nhập vào Chúa Kitô như chính chi thể của Người và được gia nhập cộng đoàn tín hữu (Summa Theologiae, III, q.69, art.5 q.70, art.1). Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ:

Theo học trường của Công Đồng Chung Vaticăng II ngày nay chúng ta nói rằng bí tích Rửa Tội làm cho chúng ta vào trong Dân Chúa, trở thành các chi thể của một dân tộc tiến bước lữ hành trong lịch sử.

Thật thế, như người ta thông truyền sự sống từ thế hệ này sang thế hệ khác, cũng thế từ thế hệ này sang thế hệ khác, qua giếng rửa tội người ta thông truyền ơn thánh, và với ơn thánh Dân Chúa bước đi trong thời gian, như một dòng sông tưới gội trái đất và phổ biến phước lành của Thiên Chúa trong thế giới. Từ khi Chúa Giêsu nói điều này, mà chúng ta đã nghe từ Phúc Âm, các môn đệ đã ra đi rửa tội, và từ thời đó cho tới nay có một dây xích trong việc thông truyền đức tin qua bí tích Rửa Tội, và mỗi người trong chúng ta là một móc của dây xích đó, một bước luôn tiến tới như một dòng sông tưới gội. Ơn thánh của Thiên Chúa là như thế, và đức tin của chúng ta là như thế, mà chúng ta phải thông truyền cho con cái, thông truyền cho các trẻ em, để khi chúng lớn lên chúng cũng có thể thông truyền cho con cái chúng. Bí tích Rửa Tội là như thế. Tại sao vậy? Bởi vì bí tích Rửa Tội làm cho chúng ta bước vào dân này của Thiên Chúa, là dân thông truyền đức tin. Đây là điều rất quan trọng. Một dân của Thiên Chúa bước đi và thông truyền đức tin.

Nhờ bí tích Rửa Tội chúng ta trở thành môn đệ thừa sai, được mời gọi đem Tin Mừng vào trong thế giới (Evangelium gaudium, 120). Mỗi người trong chúng ta, dù có nhiệm vụ nào trong Giáo Hội và có mức độ đào tạo đức tin ra sao, cũng là chủ thể tích cực của việc rao truyền Tin Mừng… Việc tái truyền giảng Tin Mừng đòi hỏi một phong trào tác nhân mới của từng người đã được rửa tội” (ibid). Dân Chúa là một Dân môn đệ, bởi vì lãnh nhận đức tin, và là thừa sai, bởi vì thông truyền đức tin. Đó là điều mà bí tích Rửa Tội làm nơi chúng ta: nó khiến cho chúng ta nhận được ơn thánh. Và đức tin thông truyền đức tin.

Trong Giáo Hội chúng ta tất cả là các thừa sai, mỗi người trong cương vị của mà Chúa đã trao phó cho. Tất cả mọi người: người nhỏ nhất cũng là thừa sai, và người xem ra lớn hơn là môn đệ. Nhưng mà có người nói rằng: ”Thưa cha, các Giám Mục không phải là các môn đệ, các Giám Mục biết mọi sự; Đức Giáo Hoàng biết mọi sự, ngài không phải là môn đệ”. Nhưng mà cả các Giám Mục và Giáo Hoàng cũng phải là các môn đệ, bởi vì nếu các vị không là môn đệ, thì các vị không làm tốt, không thể là thừa sai được, không thể thông truyền đức tin. Hiểu chưa? Anh chị em đã hiểu điều này chưa? Nó rất quan trọng. Chúng ta tất cả đều là môn đệ và thừa sai.

Có một dây không thể tháo cởi được giữa chiều kích thần bí và chiều kích truyền giáo của ơn gọi kitô, cả hai đều đâm rễ sâu trong bí tích Rửa Tội. ”Khi nhận lãnh đức tin và bí tích Rửa Tội, kitô hữu chúng ta lãnh nhận hoạt động của Chúa Thánh Thần, là Đấng dẫn đưa tới chỗ tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa và gọi Thiên Chúa là ”Abba” Cha. Mọi người nam nữ đã được rửa tội đều được mời gọi sống và thông truyền sự hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi, bởi vì truyền giáo là một lời mời gọi tham dự vào sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa (Tài liệu Aparecida, 157). Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh trên sự hiệp thông này như sau:

Không ai được cứu rỗi một mình. Đây là điều quan trọng. Không ai được cứu rỗi một mình. Chúng ta là cộng đoàn các tín hữu và trong cộng đoàn chúng ta sống kinh nghiệm vẻ đẹp chia sẻ kinh nghiệm của một tình yêu đi trước tất cả chúng ta, nhưng đồng thời xin chúng ta trở thành ”các con kênh” ơn thánh cho nhau, cho dù chúng ta có các hạn hẹp và tội lỗi. Chiều kích cộng đoàn không chỉ là một ”cái khung”, một trang điểm chung quanh, mà là phần toàn vẹn của cuộc sống kitô, của chứng tá và việc loan báo Tin Mừng. Đức tin kitô nảy sinh và sống trong Giáo Hội, và trong bí tích Rửa Tội, các gia đình và các giáo xứ cử hành việc sát nhập vào một chi thể mới vào Chúa Kitô và vào thân mình Người là Giáo Hội (ibid., 175b).

Liên quan tới tầm quan trọng của bí tích Rửa Tội đối với Dân Chúa, cộng đoàn kitô bên Nhật Bản thật nêu gương sáng, khi họ bị bách hại vào đầu thế kỷ XVII. Đã có nhiều vị tử đạo, các giáo sĩ bị trục xuất và hàng ngàn tín hữu bị giết. Không có linh mục nào ở lại bên Nhật Bản: tất cả đều bị trục xuất hết. Khi đó cộng đoàn rút lui vào sự lén lút, bằng cách duy trì đức tin và lời cầu nguyện trong trốn tránh. Khi một trẻ em sinh ra thì cha hay mẹ rửa tội cho chúng. Khi vào khoảng hai thế kỷ rưỡi sau đó – 250 năm sau – các thừa sai trở lại Nhật Bản, hàng ngàn kitô hữu đã ra sống công khai và Giáo Hội đã có thể tái nở hoa. Họ đã sống sót nhờ ơn thánh của bí tích Rửa Tội.

Và đây là điều cao cả đúng không? Dân Chúa thông truyền đức tin, rửa tội cho các con cái của mình và tiến tới. Và họ đã duy trì được một tinh thần cộng đoàn mạnh mẽ, dù trong bí mật, bởi vì bí tích Rửa Tội đã làm cho họ tất cả trở thành một thân mình duy nhất của Chúa Kitô: họ đã bị cô lập và lẩn tránh, nhưng đã luôn luôn là các chi thể của Giáo Hội. Chúng ta có thể học hỏi từ lịch sử ấy.

Đức Thánh Cha đã chào các tín hữu hiện diện, đặc biệt các đoàn hành hương đến từ các nước châu Mỹ Latinh như Argentina, Uruguay, Mexico và Brasil. Chào các tín hữu nói tiếng Á rập, Đức Thánh Cha khích lệ họ noi gương các kitô hữu Nhật Bản. Ngài nói: các khó khăn và bách hại, khi được sống với niềm tin tưởng và hy vọng, chúng thanh tẩy và củng cố đức tin. Anh chị em hãy là các chứng nhân của Chúa Kitô và Tin Mừng của Người, hãy là các người con đích thật của Giáo Hội và luôn sẵn sàng trao ban lý lẽ cho niềm hy vọng của anh chị em với tình yêu thương và lòng tôn trọng.

Đức Thánh Cha cũng chào đoàn hành hương giáo phận Civitavecchia Tarquinia do Đức Cha Luigi Marrucci hướng dẫn. Ban nhạc của giáo phận đã liên tục cử hành nhiều bản nhạc vui. Ngài cũng chào tín hữu và đông đảo sinh viên học sinh giáo phận Caserta.

Hôm thứ tư 15-1-2014 Đức Thánh Cha cũng dành nhiều giờ để chào thăm vuốt ve, an ủi hàng trăm bệnh nhân ngồi trên xe lăn. Chào các bạn trẻ, người đau yếu và các cặp vợ chồng mới cưới Đức Thánh Cha nói Chúa Nhật vừa qua chúng ta đã cử hành lễ Chúa Giêsu chịu Phép rửa. Nó là dịp thuận tiện giúp chúng ta suy tư trở lại việc thuộc về Chúa Kitô trong niềm tin nơi Giáo Hội. Ngài khuyên các bạn trẻ hàng ngày biết tái khám phá ra ơn thánh đến từ bí tích Rửa Tội.

Đức Thánh Cha khích lệ các bệnh nhân kín múc nơi bí tích Rửa Tội sự ủi an cho các đau khổ của họ. Và ngài nhắn nhủ các cặp vợ chồng mới cưới biết diễn tả các ơn của bí tích Rửa Tội trong các dấn thân trên con đường cuộc sống gia đình.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với Kinh Lạy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Linh Tiến Khải – Vatican Radio

Quốc vụ khanh Tòa Thánh hội kiến với Ngoại trưởng Mỹ John Kerry

Quốc vụ khanh Tòa Thánh hội kiến với Ngoại trưởng Mỹ John Kerry

VATICAN. Sáng ngày 14-1-2014, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, Đức TGM Pietro Parolin, đã có một cuộc hội kiến tại Vatican với ngoại trưởng Mỹ John Kerry.

Ngoại trưởng Kerry đang thực hiện một cuộc viếng thăm tại các nước để cỗ võ một hiệp định hòa bình giữa Israel và Palestine, cũng như thành quả của Hội nghị Genève 2 về hòa bình tại Siria sẽ tiến hành từ ngày 22-1-2014.

Cha Lombardi, Giám đốc Phòng Báo chí Tòa Thánh, cho biết: Sáng ngày 14-1-2014, ngoại trưởng Mỹ Kerry đã đến thăm Vatican và gặp Đức TGM Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh.

Cuộc gặp gỡ rất quan trọng và cũng bao quát, vì kéo dài 1 giờ 40 phút. Tham dự cuộc gặp gỡ có đại sứ Mỹ cạnh Tòa Thánh, và 3 quan chức Bộ ngoại giao Mỹ. Về phía Tòa Thánh, cũng có Đức TGM ngoại trưởng Mamberti và hai chức sắc khác của Tòa Thánh đặc trách về các vấn đề được bàn tới.

Cuộc gặp gỡ có nhiều thành quả và rất phong phú về nội dung. Các đề tài chính được bàn tới dĩ nhiên là các vấn đề Trung Đông, đặc biệt là tình hình Syria, đứng trước Hội nghị hòa bình tại Genève trong tháng giêng này. Dĩ nhiên những quan tâm và mong ước của Tòa Thánh đã được trình bày, những điều này cũng đã được diễn tả trong diễn văn của ĐTC trước ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh hôm 13-1-2014: Tòa Thánh mong muốn có một giải pháp hòa bình cho cuộc xung đột và nỗ lực cứu trợ nhân đạo cho dân chúng đã bị thử thách nhiều. Rồi cuộc thương thuyết giữa Israel và Palestine cũng được đề cập đến, dĩ nhiên Tòa Thánh khích lệ sự tiếp tục và hy vọng cuộc thương thuyết được thành quả tốt.

Cả Phi châu cũng là đối tượng các cuộc thảo luận. Chúng ta biết tình trạng Sudan trở nên thê thảm trong thời gian gần đây: Tòa Thánh mong ước rằng sự trung gian hiện nay để hai phe thỏa thuận với nhau có thể đạt tới thành quả tốt.

Trong cuộc thảo luận, Tòa Thánh cũng đề cập đến đề tài Hoa Kỳ: cùng với các GM Mỹ, Tòa Thánh bày tỏ lo âu về những vấn đề liên quan đến những qui luật cải tổ y tế trong tương quan với tự do tôn giáo, sự phản kháng của lương tâm. Kế hoạch của tổng thống Mỹ chống nạn nghèo và cải tiến tình trạng của các tầng lớp nghèo nhất trong dân chúng cũng được bàn đến.

Cha Lombardi nói thêm rằng: ”Bầu không khí tích cực; cuộc gặp gỡ có tính chất xây dựng, quan trọng, và chính thời gian dài của cuộc thảo luận biểu lộ ý nghĩa quan trọng của nó”.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha tiếp kiến ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh

Đức Thánh Cha tiếp kiến ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh

VATICAN. Trong buổi tiếp kiến các vị đại sứ và đại diện của 180 nước và tổ chức có quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh, ĐTC Phanxicô đã kêu gọi bảo vệ gia đình, liên đới chấm dứt xung đột, bảo vệ các thai nhi và trẻ em.

Lúc gần 11 giờ sáng 13-1-2014, ĐTC Phanxicô đã nối tiếp truyền thống lâu đời của Tòa Thánh, tiếp kiến đoàn ngoại giao gồm đại diện của 180 quốc gia có quan hệ trên cấp đại sứ cùng với đại diện của chính quyền Palestine, đến chúc mừng ngài nhân dịp đầu năm mới.

Buổi tiếp kiến ngoại giao đoàn cũng là dịp để ĐTC kiểm điểm tình hình thế giới đồng thời bày tỏ lập trường của Tòa Thánh đối với các vấn đề thời sự.

Sau lời chào mở đầu của vị Niên trưởng ngoại giao đoàn cạnh Tòa Thánh, là Đại Sứ Jean-Claude Michel của Tiểu vương quốc Monaco, ĐTC đã lên tiếng chào thăm tất cả các vị đại sứ và cám ơn vị niên trưởng ngoại giao đoàn, ngài đặc biệt nhắc đến và chào mừng các vị đại sứ mới đến trình thư ủy nhiệm. ĐTC nói:

Bênh vực gia đình, ngưi già và người trẻ

Trong sứ điệp nhân Ngày Hòa Bình Thế giới nói về tình huynh đệ như nền tảng và là con đường hòa bình, tôi đã nhận xét rằng ”tình huynh đệ thường bắt đầu được học từ trong gia đình” (Sứ điệp 8-12-2013, 1), gia đình, ”do ơn gọi của mình, phải làm cho thế giới được lây nhiễm tình thương của mình” (ibid.) và góp phần làm cho tinh thần phục vụ và chia sẻ xây dựng hòa bình được tăng trưởng (Xc ibid. 10). Hang đá máng cỏ kể lại cho chúng ta điều ấy, nơi mà chúng ta thấy Thánh Gia Thất không đơn độc và lẻ loi đối với thế giới, nhưng có các mục tử và các đạo sĩ quây quần chung quanh, nghĩa là một cộng đồng cởi mở, trong đó có chỗ cho tất cả mọi người, giàu cũng như nghèo, người gần cũng như người xa. Và như thế chúng ta hiểu những lời của Vị Tiền Nhiệm quí mến của tôi, Đức Biển Đức 16, đã nhấn mạnh rằng ”một từ vựng gia đình là một từ vựng hòa bình” (Biển Đức 16, Sứ điệp nhân Ngày Hòa Bình thế giới lần thứ 41, 8-12-2007, 3).

Rất tiếc là điều ấy không thường xảy ra. vì con số các gia đình chia rẽ và bị xâu xé gia tăng, không những vì trong thế giới ngày nay, người ta thường thấy ý thức cảm thức mình thuộc về gia đình bị suy yếu, nhưng còn vì những điều kiện khó khăn trong đó nhiều gia đình đang phải chịu, đến độ họ thiếu cả những thương tiện sinh sống nữa. Vì thế, ta thấy cần có những chính sách thích hợp để nâng đỡ, trợ giúp và củng cố gia đình.

Ngoài ra, cũng xảy ra là những người già bị coi như một gánh nặng, trong khi những người trẻ không thấy trước mặt những viễn tượng chắc chắn cho cuộc sống của mình. Thực ra, người già và người trẻ là niềm hy vọng của nhân loại. Người già mang lại kinh nghiệm khôn ngoan, người trẻ mở cho chúng ta tương lai, ngăn cản chúng ta đừng khép kín vào mình (Xc Tông Huấn Evangelii gaudium, 108). Một điều khôn ngoan là không gạt những người già ra bên lề đời sống xã hội để duy trì ký ức sinh động của một dân tộc. Cũng vậy, nên đầu tư vào người trẻ, với những sáng kiến thích hợp giúp họ tìm được công ăn việc làm và thành lập gia đình. Đừng dập tắt lòng phấn khởi hăng say của họ! Tôi vẫn còn nhớ rõ kinh nghiệm về Ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 28 ở Rio de Janeiro. Tôi đã gặp được bao nhiêu người trẻ hài lòng! Bao nhiêu hy vọng và mong đợi nơi ánh mắt và kinh nguyện của họ! Bao nhiêu niềm khát sống và ước muốn cởi mở đối với tha nhân! Sự khép kín và cô lập luôn tạo nên bầu không khí ngột ngạt và nặng nề, trước sau gì cũng gây nên buồn sầu và làm ngộp thở. Trái lại cần có một sự dấn thân chung của tất cả mọi người để thăng tiến một nền văn hóa gặp gỡ, vì chỉ những người có khả năng đi gặp tha nhân mới có thể mang lại thành quả, kiến tạo những mối giây hiệp thông, chiếu tỏa vui mừng, xây dựng hòa bình.

Nếu cần thì có những hình ảnh tàn phá và chết chóc chúng ta đã thấy trong năm vừa qua, xác định điều đó. Bao nhiều đau thương, bao nhiêu tuyệt vọng vì sự khép kín vào mình, sự khép kín ấy dần dần mặc một khuôn mặt ghen tương, ích kỷ, cạnh tranh, khao khát quyền lực và tiền bạc! Đôi khi dường như những thực tại ấy nhắm trở thành sự thống trị. Trái lại, Lễ Giáng Sinh đổ tràn nơi các tín hữu Kitô chúng tôi xác tín rằng lời nói cuối cùng và chung kết thuộc về Vị Vua Hòa Bình, Đấng đã biến ”gươm thành lưỡi cày và biến giáo thành lưỡi liềm” (Xc Is 2,4) và biến ích kỷ thành sự hiến thân và biến oán thù thành tha thứ.

Tình hình khó khăn tại Siria

”Và tôi muốn nhìn năm mới với niềm tín thác ấy. Vì thế, tôi không ngừng hy vọng cuộc chiến tại Siria rốt cuộc được chấm dứt. Mối quan tâm đối với dân tộc yêu quí này và ước muốn làm cho bạo lực khỏi trở nên trầm trọng hơn đã khiến tôi tuyên bố một ngày ăn chay và cầu nguyện hồi tháng 9 năm ngoái. Qua quí vị, tôi chân thành cám ơn những vị nơi đất nước của quí vị, Chính Quyền cũng như những người thiện chí hưởng ứng và tham gia sáng kiến ấy. Nay cần có một ý chí chính trị chung được đổi mới để chấm dứt cuộc xung đột. Trong viễn tượng ấy, tôi cầu mong Hội nghị Genève 2, được triệu tập vào ngày 22 tháng 1 sắp tới, đánh dấu khởi đầu hành trình bình định hóa vốn được mong muốn. Đồng thời một điều không thể thiếu được, đó là sự tôn trọng hoàn toàn đối với công pháp nhân đạo. Không thể chấp nhận để cho những thường dân vô tội, nhất là các trẻ em, bị tổn thương. Ngoài ra, tôi khuyến khích tất cả mọi người hãy bênh đỡ và bảo đảm bao nhiêu có thể sự trợ giúp cần thiết và cấp thiết cho phần lớn dân chúng. Tôi không quên những cố gắng đáng ca ngợi của những quốc gia, nhất là Liban và Giordani, đã quảng đại đón tiếp đông đảo người tị nạn Siria trên lãnh thổ của mình.

Trung Đông

Cũng liên quan đến Trung Đông, tôi lo âu nhận thấy những căng thẳng đang đè nặng trên vùng này bằng nhiều cách. Tôi đặc biệt lo lắng nhìn thấy những khó khăn kéo dài tại Liban, tại đây một bầu không khí cộng tác mới mẻ giữa các thẩm quyền khác nhau trong xã hội dân sự và các lực lượng chính trị là điều cần thiết hơn bao giờ hết để tránh cho những đố kỵ trở nên trầm trọng hơn và có thể làm thương tổn sự ổn định của đất nước. Tôi cũng nghĩ đến Ai Cập đang cần tìm lại sự hòa hợp xã hội, và Irak đang gặp khó khăn trong việc đạt tới hòa bình và sự ổn định mong ước. Đồng thời tôi hài lòng khi thấy có những tiến độ đáng kể trong cuộc đối thoại giữa Iran và nhóm ”5 cộng 1” về vấn đề hạt nhân.

Khắp nơi con đường tốt nhất để giải quyết những vấn đề bỏ ngỏ phải là con đường ngoại giao đối thoại. Và con đường chính đã được ĐGH Biển Đức 15 chỉ dẫn một cách sáng suốt khi ngài mời gọi các vị hữu trách của các nước Âu Châu hãy làm cho “sức mạnh tinh thần của luật pháp trổi vượt trên sức mạnh vật chất của võ khí” để chấm dứt thảm trạng chiến tranh vô ích” (Xc Biển Đức 15, thư gửi các vị Thủ lãnh các dân tộc đang giao chiến [1-81017] AAS 9, [1917], 421-423), là thế chiến thứ I, mà năm nay là năm kỷ niệm 100 năm. Cần ”can đảm di xa hơn bề mặt xung đột” (Tông huấn Evangelii gaudium, 228), coi tha nhân trong phẩm giá sâu xa nhất của họ, để sự đoàn kết vượt thắng xung đột và ”có thể phát triển một tình hiệp thông trong sự khác biệt” (Ibid.). Theo nghĩa đó, thật là một điều tích cực việc mở lại các cuộc thương thuyết giữa Israel và Palestine và tôi cầu mong các phe quyết liệt đưa ra những quyết định can đảm, với sự hỗ trợ của cộng đoàn quốc tế, để tìm ra một giải pháp công chính và lâu bên cho cuộc xung đột mà sự chấm dứt ngày càng trở thành cần thiết và khẩn cấp. Một điều không ngừng gây lo âu là làn sóng xuất cư của các tín hữu Kitô ra khỏi Trung Đông và Bắc Phi. Họ muốn tiếp tục được là thành phần của toàn bộ xã hội, chính trị và văn hóa của các nước mà họ đã góp phần xây dựng, và họ muốn góp phần vào công ích của xã hội nơi họ muốn được hoàn toàn hội nhập vào, như những người xây dựng hòa bình và hòa giải.

Phi Châu

”Tại những nơi khác ở Phi Châu, các tín hữu Kitô được kêu gọi làm chứng về tình thương và lòng từ bi của Thiên Chúa. Không bao giờ được ngưng làm điều thiện kể cả khi điều này thật kham go và khi ta phải chịu những hành động bất bao dung, thậm chí cả khi mình bị bách hại thực sự.

”Tại những vùng rộng lớn ở Nigeria bạo lực không chấm dứt và bao nhiêu máu người vô tội tiếp tục bị đổ ra. Nhất là tôi nghĩ đến Cộng hòa Trung Phi, nơi mà dân chúng đang chịu đau khổ vì những căng thẳng mà đát nước trải qua và chúng đã gieo rắc nhiều tàn phá và chết chóc. Tôi hứa sẽ cầu nguyện cho các nạn nhân và đông đảo những người tản cư phải sống trong những tình trạng thiếu thốn, tôi cầu mong cộng đồng quốc tế quan tâm góp phần chấm dứt bạo lực, tái lập chế độ pháp quyền và bảo đảm cho các viện trợ nhân đạo được đưa tới những miền hẻo lánh nhất của đất nước. Về phần mình, Giáo Hội Công Giáo sẽ tiếp tục cam kết sự hiện diện và cộng tác, quảng đại nỗ lực trợ giúp bao nhiêu có thể cho dân chúng, và nhất là để tái tạo bầu không khí hòa giải và hòa bình giữa mọi thành phần trong xã hội. Hòa giải và hòa bình là những ưu tiên cơ bản tại những nơi khác ở Phi châu. Tôi đặc biệt muốn nói đến Mali, nơi người ta ghi nhận có sự tái lập các cơ cấu dân chủ của đất nước, cũng như tôi nghĩ đến Nam Sudan, nơi mà sự bất ổn về chính trị trong thời gian qua đã làm cho nhiều người chết và tình trạng nhân đạo tái ở trong tình trạng trầm trọng.

Á châu

Tòa Thánh rất chú ý theo dõi cả những biến cố ở Á châu, nơi mà Giáo Hội muốn chia sẻ những vui mừng và mong đợi của mọi dân tộc của đại lục rộng lớn và cao quí này. Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Hàn Quốc, tôi muốn cầu xin Chúa ban ơn hòa giải tại bán đảo này, với mong ước rằng vì thiện ích của toàn thể dân tộc Hàn quốc, các phe liên hệ không ngừng tìm kiếm những điểm gặp gỡ và những giải pháp khả thể. Thực vậy, Á châu có một lịch sử sống chung lâu dài giữa các thành phần dân sự, chủng tộc và tôn giáo. Cần khuyến khích sự tôn trọng nhau, nhất là đứng trước một số dấu hiệu đáng lo âu về sự suy yếu của nó, đặc biệt là thái độ ngày càng khép kín, dựa vào lý do tôn giáo có xu hướng làm cho các tín hữu Kitô không còn được tự do và gây nguy hiểm cho sự sống chung trong xã hội với nhau. Trái lại Tòa Thánh rất hy vọng khi nhìn thấy những dấu hiệu cởi mở đến từ những nước có truyền thống lớn về tôn giáo và văn hóa, mà Tòa Thánh muốn cộng tác với họ để xây dựng công ích.

Nạn đói

Ngoài ra, hòa bình cũng bị tổn thương vì bất kỳ sự phủ nhận nào đối với phẩm giá con người, trước hết là tình trạng không được dinh dưỡng đầy đủ. Không khuôn mặt nào của những người bị đói được làm cho chúng ta dửng dưng, nhất là các trẻ em, nếu chúng ta nghĩ đến bao nhiêu lương thực bị phung phí mỗi ngày tại nhiều nơi trên thế giới, theo điều mà tôi nhiều lần định nghĩa là nền văn hóa loại bỏ. Rất tiếc là đối tượng bị loại bỏ không phải chỉ là lương thực hoặc những của cải dư thừa, nhưng là chính con người, họ bị loại bỏ như thể họ là những đồ vật không cần thiết. Ví dụ điều gây kinh hoàng khi nghĩa đến có những trẻ em không bao giờ được chào đời, nạn nhân của nạn phá thai hoặc những trẻ em bị sử dụng như những binh sĩ, bị hãm hiếp hoặc bị giết trong các cuộc xung đột võ trang hoặc trở thành hàng hóa trong hình thức kinh khủng là nạn nô lệ tân thời, là nạn buôn người, nó là một tội ác chống lại nhân loại.

Thảm trạng người tị nạn và di dân

Chúng ta không thể lãnh đạm trước thảm trạng của nhiều người buộc lòng phải chảy trốn nạn hạn hán hoặc bạo lực, nạn cường quyền, nhất là tại Vùng Sừng ở Phi châu và tại miền Đại Hồ. Nhiều người trong số họ đang sống như người tị nạn hoặc tản cư trong những trại trong đó họ không còn được coi như con người, nhưng như những con số vô danh. Những người khác, hy vọng một cuộc sống tốt đẹp hơm, thực hiện một cuộc xuất hành bấp bệnh, và nhiều khi họ gặp nạn bi thảm. Tôi đặc biệt nghĩ đến nhiều người di dân từ Trung Phi tìm đường sang Mỹ, nhưng nhất là những người từ Phi châu oặc Trung Đông tìm nơi tị nạn ở Âu Châu.

Và trong ký ức tôi vẫn còn sống động cuộc viếng thăm ngắn của tôi tại đảo Lampedusa hồi tháng 7 năm ngoái để cầu nguyện cho nhiều người đắm tàu trong Địa Trung Hải. Rất tiếc là có một sự dửng dưng của nhiều người trước những thảm trạng như vậy, đó là dấu hiệu thê thảm về sự đánh mất cảm thức trách nhiệm huynh đệ (Bài giảng thánh lễ tại Lampedusa 8-7-2013), vốn là nền tảng của mỗi xã hội dân sự. Nhưng trong hoàn cảnh ấy tôi đã có thể nhận thấy sự đón tiếp và tận tụy của bao nhiêu người. Tôi cầu chúc cho nhân dân Italia mà tôi quí mến, cũng như do căn cội chung liên kết chúng ta với nhau, biết canh tân sự dấn thân liên đới đáng ca ngợi đối với những người yếu thế và vô phương tự vệ, và với nỗ lực chân thành và cùng nhau của các công dân và tổ chức, vượt thắng những khó khăn hiện nay, tìm lại được bầu không khí sáng tạo xây dựng về xã hội vốn là đặc tính lâu đời của mình.

Bảo vệ môi sinh

Sau cùng, tôi muốn đề cập đến một vết thương khác gây ra cho hòa bình nảy sinh từ sự khai thác ham hố các tài nguyên môi sinh. Tuy rằng thiên nhiên tùy thuộc sự sử dụng của chúng ta (sứ điệp Ngày Thế Giới về hòa bình lần thứ 47 (8-12-2013), nhưng quá nhiều khi chúng ta không tôn trọng và quí chuộng như một hồng ân nhưng không cần phải chăm sóc và dành để phục vụ anh chị em kể cả những thế hệ trẻ” (Ibd.). Cũng vậy trong trường hợp này cần kêu gọi trách nhiệm của mỗi người để, với tinh thần huynh đệ, chúng ta theo đuổi những chính sách tôn trọng trái đất của chúng ta, và là nhà của mỗi người. Tôi nhớ châm ngôn bình dân nói rằng: ”Thiên Chúa luôn tha thứ, chúng ta đôi khi tha thứ, nhưng thiên nhiên, công trình tạo dựng, không bao giờ tha thứ khi nó bị ngược đãi!”. Đàng khác, chúng ta có trước mắt những hậu quả tàn hại của một số thiên tai gần đây. Đặc biệt tôi muốn nhắc nhớ một lần nữa đông đảo các nạn nhân và sự tàn phá trầm trọng tại Philippines và tại một số nước Đông Nam Á do cuồng phong Haiyan gây ra.

Sau cùng, ĐTC nói đến hoạt động của Giáo Hội tại các nơi trên thế giới, qua các LM, các thừa sai và tín hữu giáo dân, với tinh thần tận tụy đang xả thân trong nhiều hoạt động giáo dục, y tế và từ thiện để phục vụ người nghèo, các bệnh nhân, những cô nhi và những người cần được giúp đỡ an ủi. Từ sự quan tâm yêu thương ấy (Tông huấn Evangelii gaudium, 199), Giáo Hội cộng tác với tất cả các tổ chức quan tâm đến thiện ích của mỗi người cũng như công ích.

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Bí tích Rửa Tội vạch ra con đường đức tin và tình bác ái

Bí tích Rửa Tội vạch ra con đường đức tin và tình bác ái

Cuộc sống có mùi vị biết bao, khi chúng ta để cho tình yêu của Thiên Chúa tràn ngập, để biết chia sẻ và lo lắng cho nỗi khốn khó và khổ đau của người anh em. Đó là con đường dấn thân của đức tin và tình bác ái, mà bí tích Rửa Tội vạch ra cho từng người trong chúng ta.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hàng ngàn tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin chung trưa Chúa Nhật 12-1-2014, Chúa Nhật lễ Chúa Giêsu chịu Phép rửa.

Ngài đã loan báo danh sách 19 Tân Hồng Y sẽ được vinh thăng trong Công Nghị ngày 22 tháng 2 tới đây. Trong số 19 Tân Hồng Y thuộc 15 nước khác nhau có 8 vị người âu châu gồm 5 vị người Ý, 1 vị Đức, 1 vi Anh quốc và 1 vị Tây Ban Nha; 3 vị thuộc Bắc và Trung Mỹ là Canada, Nicaragua, Haiti và Antille; 3 vị Nam Mỹ thuộc các nước Chile, Brasil và Argentina; 2 vị Phi châu thuộc Côte d'Ivoire và Burkina Faso; và 2 vị Á châu là Nam Hàn và Philippines.

Đứng đầu 4 Tân Hồng Y thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh là Đức Hồng Y Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh. Trong số 3 Hồng không cử tri có Đức Hồng Y Capovilla, nguyên thư ký của Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII và là vị cao niên nhất 96 tuổi, trong khi vị trẻ nhất là Đức Tân Hồng Y Langlois 55 tuổi.

Trước đó lúc 9 giờ rưỡi Đức Thánh Cha đã chủ sự thánh lễ ban bí tích Rửa Tội cho 32 trẻ em trong nhà nguyện Sistina gồm 18 bé gái và 14 bé trai, con của các giáo dân nhân viên Tòa Thánh. Tham dự thánh lễ có cha mẹ và thân nhân của các em.

Cùng đồng tế thánh lễ với Đức Thánh Cha có các Tổng Giám Mục Pietro Parolin, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, Konrad Krajewski, đặc trách các hoạt động từ thiện của Đức Thánh Cha, Giampietro Gloder, Giám Đốc Trường ngoại giao cảu Toà Thánh, Fernando Vergez. Tổng thư ký Phủ Thống Đốc Tòa Thánh.

Sau lời chào đầu lễ Đức Thánh Cha nói: ”Mở đầu buổi cử hành này tôi xin hỏi cha mẹ và các người đỡ đầu các em với các câu hỏi của lễ nghi Rửa Tội. Anh chị em đặt tên cho con là gì?” Các người cha đã từng người nói lên tên con của mình. Tiếp đến Đức Thánh Cha hỏi: ”Anh chị em xin gì nơi Giáo Hội của Thiên Chúa?” Mọi người thưa bí tích Rửa Tội. Đức Thánh Cha nói: ”Các cha mẹ thân mến, khi xin bí tích Rửa Tội cho con cai anh chị em, anh chị em dấn thân giáo dục chúng trong đức tin, để với việc tuân giữ các giới răn chúng học yêu mến Thiên Chúa và tha nhân, như Chúa Kitô đã dậy chúng ta. Anh chị em có ý thức được trách nhiệm này không?” Các cha mẹ thưa có. Đức Thánh Cha hỏi các cha mẹ đỡ đầu: ”Và anh chị em là các cha mẹ đỡ đầu, anh chị có sẵn sàng giúp các cha mẹ trong nhiệm vụ quan trọng như vậy không?” Các cha mẹ đỡ đau thưa có. Đức Thánh nói: ”Các trẻ em thân mến, với niềm vui lớn Giáo Hội của Thiên Chúa tiếp nhận các con. Nhân danh Ngài cha vẽ dấu thánh giá cho các con. Và sau tôi, các cha mẹ và các cha mẹ đỡ đầu cũng sẽ vẽ dấu của Chúa Kitô Cứu Thế trên con cái anh chị em.”

Các em được cha mẹ và người đỡ đầu bế lên để Đức Thánh Cha vẽ dấu thánh giá trên trán chúng. Đức Thánh Cha nắm tay và vuốt má các em và chúc mừng các cha mẹ.

Giảng trong thánh lễ Đức Thánh Cha nói: Chúa Giêsu không cần phải lãnh phép rửa, nhưng các thần học gia đầu tiên nói rằng với phép rửa Chúa Giêsu đã thánh hóa tất cả mọi nước để có quyền ban bí tích Rửa Thế rồi trước khi về Trời Chúa Giêsu đã truyền cho chúng ta đi rửa tội khắp thế giới. Và từ ngày đó cho đến nay nó đã là một sợi xích liên tục: người ta rửa tội cho con, cho cháu, cho chắt… Và ngày nay sợi xích ấy vẫn tiếp tục. Các trẻ em này là một móc của dây xích ấy. Anh chị em là những người có con trai hay con gái rửa tội. Dây xích lòng tin ấy sẽ tiếp tục với chúng, khi chúng có con có cháu trong một ít năm nữa. Điều này có nghĩa anh chị em là những người thông truyền đức tin, có nhiệm vụ thông truyền đức tin cho con cái và giáo dục chúng trong đức tin. Đó là gia tài đẹp nhất mà anh chị em sẽ để lại cho chúng. Hãy nghĩ tới điều này. Hãy luôn nghĩ tới việc làm sao thông truyền đức tin cho các em. Hôm nay ca đoan hát, nhưng mà ca đoàn đẹp nhất là ca đoàn các em bé ồn ào. Một vài em sẽ khóc vì không thoải mái, hay vì các em đói. Các bà mẹ hãy cho con ăn. Cứ tự nhiên vì các em là ”tác nhân chính” ở đây.

Sau đó là phần lời nguyện giáo dân cầu cho Đức Thánh Cha và các chủ chăn của dân Chúa. Xin Chúa làm cho việc giảng dậy Tin Mừng của các vị được hiệu qủa trong con tim của những người chưa biết Chúa Giêsu Kitô. Cầu cho các gia đình là các Giáo Hội nhỏ. Xin chúa làm sống lại ơn bí tích hôn nhân và cho các gia đình có khá năng giáo dục con cái. Xin cho các trẻ em hôm nay lãnh bí tích Rửa Tội xin chúa giúp các em bước đi trong cuộc sống mới và làm chứng sự thật cho thế giới. Xin Chúa cho các trẻ em đau khổ vì bị ngược đãi, vì đói khát và bệnh tật. Xn Chúa làm cho có nhiều người cúi xuống trên các em với tình bác aí và niềm hy vọng kiên trì. Cầu cho mọi người hiện diện xin Chúa làm cho họ ý thức được sự hiện diện trung thành của Thiên Chúa là thẩm phán công bằng, là Cha thương xót và là Đấng gin giữ các con cái Ngài với quyền năng vô địch của tình yêu Ngài.

Mọi người đã hát kinh cầu các Thánh xin các ngài bầu cử cho các em. Tiếp đến là nghi thức trừ qủy và xức dầu cho các em. Hai Tổng Giám Mục đã cùng với Đức Thánh Cha xức dầu cho các em. Rồi tới nghi thức Rửa Tội với phần làm phép nước, hứa từ bỏ Satan, tuyên xưng Đức Tin và nghi thức Rửa tội. Đức Thánh Cha đã gọi tên từng em và đổ nước nửa tội cho các em. Tiếp đến là nghi thức xức dầu thánh trên đầu các em, trao áo trắng và nến Phục Sinh là ngọn lửa đức tin mà các cha mẹ và cha mẹ đỡ đầu phải giúp cháy sáng luôn mãi trong cuộc sống các em. Cuối cùng là nghi thức ”Effata” Đức Thánh Cha và hai vị đồng tế dùng ngón cái đụng vào hai tai và môi của từng em một, xin Chúa Giêsu là Đấng đã khiến cho người điếc nghe được người câm nói được làm cho các em mau lắng nghe lời Người, tuyên xưng đức tin của các em và chúc tụng vinh danh Thiên Chúa Cha.

Lúc 12 giờ trưa Đức Thánh Cha đã xuất hiện tại cửa sổ dinh Tông Tòa để đọc Kinh Truyền tin với dân chúng. Trong bài huấn dụ ngài nhắc tới lẽ nghi ban bí tích rửa tội cho 32 em bé trước đó và nói: Mỗi trẻ em sinh ra là một ơn của niềm vui và hy vọng, và mỗi trẻ em được rửa tội là một sự kỳ diệu của đức tin và một lễ cho gia đình của Thiên Chúa.

Nhắc tới Phúc Âm kể lại biến cố Trời mở ra, khi Chúa Giêsu nhận phép rửa thống hối từ tay thánh Gioan Tẩy Giả trong nước sông Jordan, Đức Thánh Cha nói điều này ứng nghiệm các lời tiên tri. Thật thế, phụng vụ mùa Vọng khiến cho chúng ta lập đi lập lại lời cầu: ”Phải chi Chúa xé trời mà xuống với chúng con!” (Is 63,19). Nếu trời đóng kín, thì chân trời cuộc sống trần gian của chúng ta tăm tối, không hy vọng. Trái lại, khi cử hành lễ Giáng Sinh, đức tin một lần nữa trao ban cho chúng ta sự chắc chắn trời xé ra khi Chúa Giêsu đến. Và trong ngày Chúa Kitô lãnh phép rửa chúng ta còn chiêm ngưỡng trời mở ra. Đức Thánh Cha giải thích điểm này như sau:

Việc biểu lộ của Con Thiên chúa trên trần gian ghi dấu lúc khởi đầu thời gian thương xót, sau khi tội đã đóng kín trời, bằng cách dựng lên hàng rào ngăn cách con người với Đấng Tạo Hóa. Với biến cố Chúa Giêsu giáng sinh trời mở ra! Trong Đức Kitô Thiên Chúa ban cho chúng ta sự bảo đảm của một tình yêu không thể phá hủy. Như vậy, từ khi Ngôi Lời nhập thể làm người có thể thấy trời mở ra. Điều này đã có thể đối với các mục đồng Bếtlêhem, các nhà Đạo Sĩ Phương Đông, thánh Gioan Tẫy Giả, các Tông Đồ của Cháu Giêsu, thánh Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên là người đã kêu lên:”Tôi chiêm ngưỡng trời mở ra!” (Cv 7,56). Và nó cũng có thể đối với từng người trong chúng ta, nếu chúng ta để cho tình yêu của Thiên Chúa xâm chiếm chúng ta, tình yêu được Chúa Thánh Thần ban cho chúng ta lần đầu tiên trong bí tích Rửa Tội.

Đức Thánh Cha nói tiếp trong bài huấn dụ: Khi Chúa Giêsu nhận phép rửa thống hối từ Gioan Tẩy Giả, bằng cách liên đới với dân sám hối, Người là Đấng vô tội và không cần hoán cải – Thiên Chúa Cha đã cho nghe tiếng của Người phán từ trời: ”Này là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Người” c. 17). Đức Giêsu nhận sự phê chuẩn của Thiên Chúa Cha trên Trời, là Đấng đã gửi Người đến để chia sẻ điều kiện sống và sự nghèo khó của chúng ta. Chia sẻ là phương thế yêu thương đích thật. Chúa Giêsu không xa cách chúng ta, Người coi chúng ta như em và chia sẻ với chúng ta. Và như thế Người khiến cho chúng ta trở thành Con của Thiên Chúa Cha với Người. Đó là mạc khải và là suối nguồn tình yêu đích thật. Xem ra thời đại chúng ta lại không cần đến một bổ túc của sự chia sẻ huynh đệ và tình yêu hay sao? Xem ra tất cả chúng ta lại không cần một bổ túc của tình bác ái hay sao? Không phải tình bác ái bằng lòng với sự trợ giúp tạm thời, không lôi cuốn, không liên lụy, nhưng một tình bác ái chia sẻ, lo lắng cho nỗi khốn khó và khổ đau của người anh em. Cuộc sống có mùi vị biết bao, khi chúng ta để cho tình yêu của Thiên Chúa tràn ngập! Chúng ta hãy xin Đức Thánh Trinh Nữ trợ giúp chúng ta với sự bầu cử của Mẹ trong dấn thân theo Chúa Kitô trên con đường đức tin và tình bác ái, là con đường đã được bí tích Rửa Tội vạch ra.

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc Kinih Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã chào tín hữu hiện diện tại quảng trường đặc biệt các cha mẹ có con được rửa tội sáng hôm qua cũng như các cha mẹ đang chuẩn bị cho con cái họ lãnh bí tích Rửa Tội.


Linh Tiến Khải – vatican Radio

 

Đức Thánh Cha cám ơn các ân nhân giúp học bổng cho sinh viên Chính Thống

Đức Thánh Cha cám ơn các ân nhân giúp học bổng cho sinh viên Chính Thống

VATICAN. Sáng 11-1-2014, ĐTC đã tiếp kiến Ủy ban Công Giáo cộng tác văn hóa với các Giáo Hội Chính Thống và Giáo Hội Chính Thống Đông Phương. Ngài cám ơn các ân nhân đã hỗ trợ để Ủy ban này cấp học bổng cho các chủng sinh, tu sinh Chính Thống.

Ủy ban này được ĐGH Phaolô 6 thành lập các đây 50 năm nhắm thăng tiến con đường hòa giải và canh tân tình huynh đệ giữa các Giáo Hội Công Giáo và Chính Thống, được đánh dấu bằng cuộc gặp gỡ lịch sử cách đây 50 năm giữa Đức Phaolô 6 và Đức Thượng Phụ Chính Thống Athenagoras.

Ủy ban thuộc Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các Giáo Hội Kitô và có nhiệm vụ cứu xét và cấp học bổng cho các chủng sinh, tu sinh thuộc các Giáo Hội Chính Thống và Chính Thống Đông phương, theo học tại các Đại Học và Học Viện Giáo Hoàng ở Roma, đồng thời hỗ trợ các dự án đại kết.

Trong số 60 người hiện diện trong buổi tiếp kiến, ngoài ĐHY Kurt Koch, Chủ tịch Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô, còn có Đức Cha Johan Bonny, GM giáo phận Anvers bên Bỉ, là Chủ tịch Ủy ban, các thành viên, ân nhân và nhiều sinh viên Chính Thống được Ủy ban giúp đỡ.

Ngỏ lời trong buổi tiếp kiến, ĐTC đã nhắc lại lai lịch của Ủy ban và cám ơn các ân nhân đã và đang nâng đỡ hoạt động của Ủy ban này. Ngài nói: ”Nếu không có sự đóng góp quí giá của anh chị em, thì hoạt động của Ủy ban Cộng tác giữa Công Giáo và Chính Thống không thể có được. Vì thế, tôi khuyến khích anh chị em tiếpo tục hoạt động anh chị em đang thực hiện”.

Với các sinh viên Chính Thống giáo, ĐTC nói rằng ”Sự hiện diện của các bạn giữa chúng tôi thật là quan trọng cho cuộc đối thoại giữa các Giáo Hội ngày nay và nhất là ngày mai… Tôi cầu chúc mỗi người trong các bạn có thể có một kinh nghiệm vui tươi về Giáo Hội và thành Roma, làm cho các bạn được phong phú về mặt tinh thần và văn hóa, và các bạn không cảm thấy như là khách, trái lại như những người anh em giữa anh chị em với nhau. Tôi cũng chắc chắn rằng với sự hiện diện của anh chị em nơi chúng tôi, anh chị em cũng là một sự phong phú cho cộng đoàn học hành nghiên cứu mà các bạn theo học”.

Giáo Hội Chính Thống là những Giáo Hội ly khai với Công Giáo hồi thế kỷ 11 và hiện có 16 Giáo Hội, đứng đầu là Chính Thống Constantinople, trong khi các Giáo Hội Chính Thống Đông Phương, cũng được gọi là Giáo Hội Đông Phương cổ, ly khai với Công Giáo sau Công đồng Calcedonia năm 451, như Giáo Hội Chính Thống Copte Ai Cập, Siriac, Arméni, Etiopia, v.v.. (SD 11-1-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Đức Thánh Cha phê bình linh mục kinh tài, linh mục phô trương

Đức Thánh Cha phê bình linh mục kinh tài, linh mục phô trương

VATICAN. ĐTC Phanxicô phê bình những LM kinh tài, phô trương không có quan hệ chân thực với Chúa Giêsu.

Ngài đưa ra lời cảnh giác trên đây trong bài giảng thánh lễ sáng 11-1-2014, tại nguyện đường Nhà Trọ thánh Martha ở nội thành Vatican. Đồng tế với ĐTC có ĐHY Angelo Bagnasco, TGM Genova, chủ tịch HĐGM Italia, và một nhóm LM thuộc quyền, trước sự tham dự của một số giáo dân.

Trong bài giảng, ĐTC diễn giải bài đọc thư nhứ I của thánh Gioan Tông Đồ và nói về quan hệ của linh mục với Chúa Giêsu. Ngài nói: ”Linh mục chân chính là người được Thiên Chúa xức dầu để phục vụ Dân Chúa, LM có quan hệ mật thiết với Chúa Giêsu: khi thiếu quan hệ này, thì LM trở thành người không còn được xức dầu nữa, thành người thờ ngẫu tượng, thờ thần là cái tôi của mình.”

ĐTC cũng nhận xét rằng khi tiếng thăm của Chúa Giêsu gia tăng nơi dân chúng, thì Chúa rút lui vào nơi hoang vắng để cầu nguyện. Điều này chính là viên đá để so sánh, để kiểm chứng các LM chúng ta xem chúng ta có đi tìm Chúa Giêsu hay không? đâu là chỗ của Chúa Giêsu Kitô trong đời linh mục của tôi? Phải chăng đó là một quan hệ giữa trò và Thầy, giữa em với anh, giữa một người nghèo hèn với Thiên Chúa, hay chỉ là một quan hệ hời hợt.. không đến từ con tim?”

ĐTC nhấn mạnh rằng: ”Những linh mục không còn được xức dầu nữa, LM giải dầu (unto), thì họ gây hại dường nào cho Giáo Hội! Những linh mục như thế đặt sức mạnh của họ nơi những điều hời hợt, trong sự háo danh… Bao nhiêu lần ta đau lòng khi nghe nói: Kìa, đó là một linh mục huênh hoang, một linh mục không có quan hệ với Chúa Giêsu! Một linh mục đã đánh mất sự xức dầu”.

ĐTC nói thêm rằng: ”Các linh mục chúng ta có nhiều khuyết điểm, tất chúng ta là người tội lỗi. Nhưng nếu chúng ta đến cùng Chúa Giêsu Kitô, nếu chúng ta tìm Chúa trong kinh nguyện – kinh nguyện chuyển cầu, kinh nguyện thờ lạy – thì chúng ta là linh mục tốt, mặc dù chúng ta là người tội lỗi. Nhưng nếu chúng ta xa Chúa Giêsu, chúng ta phải tìm bù trừ tình trạng này bằng những thái độ .. phàm tục khác. Và như thế có những thứ linh mục áp-phe, linh mục doanh nhân.. Nhưng linh mục thờ lạy Chúa Giêsu, linh mục nói với Chúa Giêsu Kitô, linh mục tìm Chúa và để cho Chúa tìm kiếm: đó chính là trung tâm đời sống chúng ta. Nếu không được như thế, thì chúng ta mất hết! Chúng sẽ nói gì với dân chúng?”

”Ước gì quan hệ của chúng ta với Chúa Giêsu Kitô, quan hệ của những người được xức dầu với dân Chúa, ngày càng tăng trưởng nơi các linh mục chúng ta”

”Thật là đẹp khi thấy những linh mục hiến mang sống mình như linh mục, và dân chúng nói về các linh mục ấy: ”Cha này, cha kia khó tính, nhưng đó là một linh mục! Dân chúng 'đánh hơi' giỏi lắm! Trái lại, khi dân thấy các linh mục thờ thần tượng, những linh mục thay vì có Chúa Giêsu, thì lại có những thần tượng nhỏ, tôn thờ cái thần tôi của mình, thấy các linh mục như thế, dân chúng nói: ”thật là một kẻ tội nghiệp!”.

Và ĐTC kết luận rằng: “Điều cứu chúng ta khỏi những sự trần tục, khỏi sự thờ thần tượng khiến chúng ta bị ”giải dầu”, điều giữ chúng ta trong tình trạng được xức dầu, chính là quan hệ với Chúa Giêsu Kitô. Và ngày hôm nay, anh em đến đây đồng tế với tôi, tôi cầu chúc anh em điều này: Anh em hãy đánh mất mọi sự trong cuộc sống, nhưng đừng bao giờ đánh mất quan hệ này với Chúa Giêsu Kitô! Đó chính là chiến thắng của chúng ta. Với điều đó, anh em hãy tiến bước!” (SD 11-1-2014)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican Radio

Sống trọn ơn gọi làm người

Sống trọn ơn gọi làm người

Một hiện tượng đáng lo ngại cho Giáo Hội tại Áo bên Âu Châu, đó là sự kiện con số những người tuyên bố rút tên khỏi Giáo Hội Công giáo ngày càng gia tăng. Dĩ nhiên về nghĩa vụ, rút tên ra khỏi Giáo Hội có nghĩa là mỗi năm không còn phải đóng thuế tôn giáo nữa. Về quyền lợi, người tuyên bố rút tên ra khỏi Giáo Hội cũng sẽ tự rút phép thông công, nghĩa là chấm dứt mọi tham gia vào cac bí tích và đời sống của Giáo Hội. Nói cách khác, rút tên ra khỏi Giáo Hội cũng đồng nghĩa chối bỏ mọi cam kết khi chịu Phép Rửa Tội.

Nói chung, thế giới phương tây vốn được mệnh danh là Kitô giáo, hiện nay đã trở thành một vùng truyền giáo mới. Thật thế, trong những nước có con số người theo Kitô giáo, phép rửa thường chỉ còn là một nghi thức xã hội không hơn không kém. Người ta chỉ có lý khi nói rằng, suốt một đời nhiều người Tây Phương chỉ đến nhà thờ có ba lần, lần đầu khi chịu phép rửa để gia nhập vào một xã hội vốn được mệnh danh là Kitô giáo. Lần thứ hai để cử hành Hôn Phối cho long trọng. Lần thứ ba cũng là để cử hành tang lễ cho long trọng.

Khi Giáo Hội chỉ được mời để có mặt ba lần như thế trong cả một đời người, thì quả thật người ta chỉ mang danh hiệu Kitô nhưng không sống trọn những cam kết của phép rửa. Hôm nay kỷ niệm Chúa Giêsu chịu phép rửa, Giáo Hội muốn mời gọi các Kitô hữu hãy đào sâu và ý thức về những cam kết khi chịu phép rửa tội. Trái với lối sống đạo cả đời đến nhà thờ chỉ có ba lần của người Tây Phương, các tín hữu Kitô Việt Nam chúng ta lại tập trung đời sống đạo vào nhà thờ. Trái với những nhà thờ hầu như trống rỗng tại Tây phương, các nhà thờ Việt Nam chúng ta hầu như lúc nào cũng đông nghẹt người. Tuy nhiên, biết đâu những đám đông chật ních trong các nhà thờ ấy lại không là những con người có lối sống hoàn toàn xa lạ, hay ngược lại với giáo huấn của Giáo Hội và Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô. Biết đâu đám đông sốt sắng cầu kinh ra rả trong nhà thờ ấy lại chẳng là những con người không hề biết đến thế nào là công bình, là bác ái, là tình liên đới, là quảng đại, sợ chia sẻ lòng cảm thông và sợ tha thứ. Nói tắt một lời, nếu chúng ta chưa sống cho ra người thì sự hiện diện đông đảo trong nhà thờ, những lời cầu kinh ra rả, hay những cuộc biểu dương long trọng chưa hẳn đã là thể hiện đích thực của lòng tin.

Khi đến nhận phép rửa của Gioan tại sông Giordan, nghĩa là khi đến dìm mình trong dòng nước, Chúa Giêsu đã muốn thể hiện trọn vẹn ý nghĩa của mầu nhiệm Nhập Thể, Ngài muốn sống trọn thân phận con người mà thành phần tất yếu là cái chết. Qua cử chỉ này, Chúa Giêsu muốn nói lên sự vâng phục trọn vẹn với Chúa Cha, Ngài đón nhận cái chết như thể hiện tận cùng của tình yêu.

Sống như một con người như Chúa Giêsu đã từng sống, chính là sống yêu thương và yêu thương đến độ sẵn sàng thí ban mạng sống mình. Đức Chúa Cha đã gọi Đức Chúa Giêsu là Người Con chí ái đẹp lòng Ngài mọi đàng, bởi vì Chúa Giêsu đã sống trọn ơn gọi làm người của Ngài. Đây chính là ý nghĩa của phép rửa mà Chúa Giêsu đã thiết lập và ủy thác cho Giáo Hội qua phép rửa ấy. Người tín hữu Kitô được mời gọi để sống trọn thân phận làm người như chính Chúa Giêsu đã từng sống. Thật thế, chỉ trong Chúa Giêsu, chúng ta mới thấy được thập giá và ơn gọi cao cả của con người. Chỉ trong Chúa Giêsu chúng ta mới thấy được thế nào là sống cho ra người. Chỉ trong Chúa Giêsu chúng ta mới hiểu thế nào là sống yêu thương.

Thập giá vừa là biểu hiện cái chết của Chúa Giêsu, vừa là dấu chứng tình yêu của Ngài. Với phép rửa chúng ta được ghi dấu Thánh Giá trên người, chúng ta làm dấu Thánh Giá mỗi ngày và biết bao nhiêu lần trong cuộc sống chúng ta. Chúng ta treo Thánh Giá khắp mọi nơi, chúng ta đeo Thánh Giá trên người, và ước gì Thánh Giá ấy không chỉ là thứ trang sức trên ngực, trên cổ hay trên tai của chúng ta, mà phải là một nhắc nhở về tình yêu của Đấng đã yêu thương chúng ta đến độ thí ban mạng sống của Ngài cho chúng ta. Ước gì Thánh Giá luôn là động lực thúc đẩy chúng ta ngày càng sống cho ra người hơn.

Nguyện xin các thánh Tử Đạo Việt Nam, những người đã thà chết hơn là bước qua Thánh Giá để chối bỏ Chúa Giêsu, nay nguyện giúp cho chúng ta để chúng ta được luôn luôn trung thành với đức tin, thể hiện đức tin ấy bằng cuộc sống chứng tá, đó là giá trị của Tin Mừng.

Veritas Radio

BÍ TÍCH RỬA TỘI

BÍ TÍCH RỬA TỘI

Vào giữa thập niên 1800 bệnh dịch cùi bùng nổ khắp các đảo Hạ Uy Di.
Vào lúc đó y học vẫn còn trong thời kỳ sơ khai, hậu quả là nhà cầm quyền không cách chi có thể chữa được căn bệnh truyền nhiễm này.

Để ngăn chặn sự lây lan họ phải thi hành một điều dù họ không thích, nhưng phải làm.

Họ thiết lập một trung tâm người cùi trên hòn đảo Molokai xa xôi. Diễn tả về tình trạng do sự kiện này tạo nên, Robert Ellsburg viết:

Người Hạ Uy Di… đau khổ vì căn bệnh này bị bắt đi ra khỏi gia đình và cộng đoàn và gửi tới đảo này…

Có thể nói bệnh nhân bị quăng vào sóng biển và để họ tự bơi vào bờ, tìm chỗ tạm trú trong các hang hoặc căn lều bẩn thỉu và bám víu lấy sự sống mà họ có thể.

Một linh mục trẻ tuổi người Bỉ, Cha Damien, thật bàng hoàng khi biết về số phận của các nạn nhân đáng thương này. Do đó, cha đã tình nguyện đến Molokai để giúp đỡ họ.

Khi đến đảo, người tổ chức họ thành một cộng đồng. Sau đó người dựng một nhà thờ và bắt đầu giúp đỡ họ theo bất cứ phương cách nào có thể.

Khi thi hành điều này, người hoàn toàn đồng hoá với họ.

Người làm việc với họ, đi lại với họ, và ăn uống với họ. Người trở nên giống họ về mọi phương cách – để chia sẻ căn bệnh thảm thương của họ.

Sau năm năm chăm sóc người cùi, Cha Damien cũng bị nhiễm căn bệnh đáng sợ này.

Người tiếp tục chăm sóc họ thêm bốn năm nữa, trước khi căn bệnh này lấy đi sự sống của cha vào năm 1889. Gần một trăm năm sau, vào năm 1995, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên phong chân phước cho người, chuẩn bị để tuyên xưng là thánh.

Câu chuyện cảm động của Cha Damien thích hợp với ngày lễ hôm nay, lễ Đức Giêsu chịu Thanh Tẩy.

Để thấy sự thích hợp đó, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc nhớ lại điều dân chúng thường hỏi: “Tại sao Đức Giêsu lại xin được thanh tẩy?”

Nói cho cùng, Thánh Phaolô nói, “Phép rửa của Gioan là cho những người xa lánh tội lỗi.” CVTĐ 19:4

Nếu Đức Giêsu không có tội, tại sao Người lại xin chịu phép rửa? Ông Gioan cũng tự hỏi như thế. Khi Đức Giêsu xin được thanh tẩy, ngay lập tức ông Gioan từ chối, nói rằng:

Lẽ ra tôi phải được Ngài thanh tẩy, nhưng Ngài lại đến với tôi.” … Đức Giêsu trả lời ông, “Bây giờ hãy để xảy ra như vậy. Vì chúng ta phải thi hành những gì Thiên Chúa đòi hỏi theo phương cách này.”

Chính tại đây sự thanh tẩy của Đức Giêsu có liên hệ đến câu chuyện của Cha Damien.

Cha Damien đến đảo Molokai không phải vì bị bệnh cùi. Người đến đây chỉ vì muốn giúp đỡ người cùi bằng mọi phương cách có thể.

Và để giúp đỡ họ bằng mọi phương cách có thể, người đã chọn đồng hoá với họ theo mọi phương cách người có thể.

Người ăn uống với họ, làm việc với họ, cầu nguyện với họ, và người chịu đau khổ với họ.

Theo một cách tương tự, Đức Giêsu đến thế gian không bởi vì Người là một tội nhân. Người đến để giúp các tội nhân theo mọi phương cách mà Người có thể.

Và vì thế Người đồng hoá với họ theo mọi phương cách có thể – ngoại trừ tội lỗi. Đức Giêsu sống với họ, cầu nguyện với họ, ăn uống với họ, và ngay cả tự để mình chịu cám dỗ giống như họ.

Do đó, thật tự nhiên khi Đức Giêsu nới rộng sự đồng hoá với con người bằng cách chịu thanh tẩy như họ.

Giống như Cha Damien, Đức Giêsu đồng hoá với loài người đến độ hy sinh mạng sống mình vì họ.

Điều này đưa chúng ta đến với bí tích rửa tội của chính chúng ta. Qua bí tích đó, chúng ta được tháp nhập vào Thân Thể Đức Kitô. Qua đó, chúng ta trở nên các chi thể của thân thể Đức Kitô và chia sẻ sứ vụ cứu chuộc thế gian của Người.

Nói cách khác, qua bí tích rửa tội, chúng ta được mời gọi hãy sử dụng các khả năng độc đáo Chúa ban để hoạt động với Đức Kitô trong việc cứu chuộc nhân loại.

Và như vậy, bí tích rửa tội là bước đầu tiên trong hành trình lớn lên trong Đức Kitô và học cách sử dụng khả năng của mình để làm việc với Người trong sự cứu độ – cũng như Cha Đamien đã sử dụng tài năng của mình cho mục đích này.

Điều này nêu lên một câu hỏi quan trọng. Chúng ta lớn lên trong Đức Kitô như thế nào? Chúng ta phải chuẩn bị chính minh như thế nào để chia sẻ công việc cứu độ của Người?

Thánh Phaolô trả lời câu hỏi này trong Thư gửi tín hữu Côlótsê:

Vì anh chị em đã chấp nhận Đức Giêsu Kitô là Chúa, hãy sống hiệp nhất với Người.

Hãy bám rễ sâu vào Người, xây dựng cuộc đời anh chị em trên Người… Vậy, anh chị em hãy mặc lấy tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hoà, và nhẫn nại. Col 2:6-7; 3:12-14

Nói cách khác, chúng ta thi hành điều này bằng cách bắt chước Đức Kitô.

Chúng ta cố gắng đối xử từ bi với người khác, như Đức Kitô đã đối xử với chúng ta.

Chúng ta cố gắng đối xử nhẫn nại với người khác, như Đức Kitô đã đối xử với chúng ta.

Nói tóm, chúng ta cố noi gương Đức Kitô là Người đã ban sức cho chúng ta để giúp thi hành điều này bằng cách chia sẻ chính sự sống thánh thiêng của Người cho chúng ta trong bí tích rửa tội.

Hãy kết thúc với một lời nguyện, xin Chúa Giêsu giúp chúng ta sống bí tích rửa tội của mình, như Người đã sống:

Xin cánh tay Chúa Giêsu hãy nâng con lên khi ngã quỵ.
Xin tiếng nói của Chúa Giêsu hãy dẫn đưa chúng con về nhà khi lạc lối.
Xin máu Chúa Giêsu rửa chúng con sạch khi chúng con hoen ố.
Xin thân thể Chúa Giêsu nuôi dưỡng chúng con khi chúng con đói khát.
Xin thánh tâm Chúa Giêsu giúp chúng con kết hợp với Ngài,
vì tâm hồn của chúng con được dựng nên cho Ngài,
và nó sẽ không an nghỉ cho đến khi an nghỉ trong Ngài.

Cha Mark Link, SJ

CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA

Thực tế, thời thơ ấu của Chúa Giêsu đã chấm dứt.Lễ Giáng Sinh và Mùa Giáng Sinh cũng đã lui vào dĩ vãng. Bây giờ là thời rao giảng công khai của Chúa Giêsu. Bởi vì, khi được 30 tuổi, Chúa Giêsu đã rời khỏi Quê hương của mình là Nazareth để đi khắp nơi công bố Nước Trời và kết nạp các môn đệ, các tông đồ.Hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu xuất hiện trước công chúng trong tư thế sẵn sàng khởi đầu sứ vụ Thiên Chúa Cha đã trao cho Ngài…

Các bài đọc ngày lễ hôm nay đều giới thiệu với chúng ta rằng Chúa Giêsu là Người được Thiên Chúa Cha yêu dấu. Bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia cho biết Chúa Giêsu là Người được tuyển chọn, nâng đỡ, an ủi, quý mến. Bài đọc hai, thánh Phêrô làm chứng Thiên Chúa Cha luôn ở với Ngài. Hai bài đọc này, nhằm cho chúng ta hiểu sâu xa hơn về Đức Kitô, Đấng được Thiên Chúa Cha từ trời gọi là “Này là Con Ta yêu dấu, Cha hài lòng về Con”.

Đọc các bài đọc này, chúng ta càng lấy làm bỡ ngỡ, ngạc nhiên về việc Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, được Chúa Cha ca tụng khen ngợi, thế mà khi khai mạc sứ vụ công khai, Ngài đã xếp hàng cùng với tội nhân để xin ông Gioan Baotixita làm phép rửa cho ở sông Jordan. Như thế phải chăng Chúa Giêsu cũng là tội nhân sao? Thưa không phải bởi vì đã có lần Chúa Giêsu tuyên bố rằng “Ai trong các ông có thể bắt lỗi tôi vì tội gì?”. Chúa Giêsu là Đấng xóa tội trần gian, Ngài là Đấng đã gánh lấy tội lỗi của thế gian như có lần Gioan Tẩy Giả đã chỉ vào Chúa Giêsu và nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian”. Chúa Giêsu xóa tội trần gian bằng cách gánh lấy tội con người, gánh lấy tội trần gian. Ngài đến để phục vụ, chứ không phải để được hầu hạ. Ngài khai mạc sứ vụ công khai bằng cử chỉ loan báo: “Thời giờ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã đến gần, hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”. Chính các môn đệ lúc đó cũng chưa hiểu được ý Chúa. Họ nghĩ rằng theo Thầy Giêsu khi Thầy lên làm Vua thì các môn đệ sẽ được chia chác nhau ngôi vị, chỗ đứng trong nội các của Chúa Giêsu. Do đó, mới có việc hai con của ông Giêbêđê cùng đi với mẹ tỏ ước vọng muốn một người ngồi bên tả, một người ngồi bên hữu trong Vương Quốc của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã cho các Ông hiểu rõ quan điểm và ý hướng của Chúa. Các con có uống được chén của Cha sắp uống không, còn việc ngồi bên hữu hay bên tả là thuộc quyền của Cha… Chén ở đây là chén thống khổ, sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu. Chén hay cuộc thông khổ không chỉ là nước thanh tẩy trong sông Giorđăng và do bàn tay của Gioan Tẩy Giả mà bằng chính máu của Chúa Giêsu đổ ra trên Thập Giá. Chúa Giêsu làm gương cho nhân loại bằng việc chịu phép rửa thống hối ở sông Giorđăng. Đây là hình bóng của nhân loại được thanh tẩy trong máu của chúa Giêsu đổ ra trên Thập Giá, và sự phục sinh của Ngài và để con người đã được tái sinh sẽ trở thành con của Thiên Chúa. Câu chuyện của Nicôđêmô trong đêm tối tới gặp Chúa Giêsu nói lên điều đó. Con người phải được tái sinh nghĩa là trở nên con người mới, được dìm trong máu của Chúa Giêsu đã đổ ra để cứu chuộc con người và được phục sinh với Ngài…

Đọc lại Tin Mừng chúng ta nhận ra điều này Chúa Giêsu chính là sự sống, do đó, phép rửa hay thanh tẩy không chỉ còn là nghi lễ mà đã trở thành cuộc sống mới cho nhân loại, cho con người, cho mọi người. Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết, tội lỗi và ma quỷ. Phép rửa không chỉ còn là một nghi thức để gia nhập Giáo Hội, làm con Thiên Chúa một cách máy móc, nhưng phép rửa đã là một cuộc tái sinh, một cuộc sống mới, một sự đẩy lùi tội lỗi trường kỳ ra khỏi thế gian để rồi cuộc sống của người Kito hữu luôn là cuộc sống mới trong sự tái sinh bằng máu, sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu.

Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa chúng ta nhớ tới bí tích rửa tội chúng ta đã lãnh nhận ngày chúng ta được rửa tội. Qua phép rửa chúng ta được trở nên Con của Thiên Chúa và Con của Giáo Hội.

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, khi Đức Kitô chịu phép rửa tại sông Gio-đăn và Thánh Thần ngự xuống trên Người, Chúa đã long trọng tuyên bố Ngươi là Con chí ái. Xin cho chúng con là đoàn nghĩa tử được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, hằng bền vững thi hành ý Chúa (Lời nguyện Nhập lễ lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa).

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ:

1. Phép rửa của Gioan Tẩy Giả là phép rửa gì?

2. Phép rửa của Chúa Giêsu là phép rửa gì?

3. Sự khác biệt giữa phép rửa của Gioan Tẩy Giả và của Chúa Giêsu?

4. Tái sinh theo nghĩa Kinh Thánh?

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

SỨ VỤ MỚI

SỨ VỤ MỚI

Sự kiện Chúa Giêsu chịu Phép Rửa là gạch nối giữa giai đoạn quan trọng: sống ẩn dật và rao giảng công khai. Sau 30 năm sống âm thầm với gia đình tại Nadarét, Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ loan báo Tin Mừng.

Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa cũng là gạch nối giữa hai mùa: Giáng sinh và Thường niên. Giáo Hội đã cùng sống với Chúa Giêsu qua các biến cố Giáng Sinh và Hiển Linh. Hôm nay Chúa nhật I thường niên, Giáo Hội sẽ cùng đồng hành với Người qua các biến cố của đời rao giảng.

1. Chúa Giêsu chịu Phép Rửa

Khởi đầu cuộc sống công khai, lúc đã 30 tuổi, tức là đã trưởng thành trọn vẹn như người Á Đông vẫn quan niệm “tam thập nhi lập”, Chúa Giêsu tìm đến sông Giođan để xin Gioan Tẩy Giả cử hành phép rửa cho mình. Thật lạ lùng, trong số những người đến “xưng thú tội lỗi” ( Mc 1,5) và chịu “ phép rửa sám hối để đước ơn tha tội” (Mc 1,4) lại có Chúa Giêsu. Người là Đấng Thánh, là Thiên Chúa, siêu việt tuyệt đối, tại sao lại đến xin Gioan làm phép rửa sám hối ? Người là Đấng mà Gioan “không đáng cúi xuống cởi quai dép cho Ngài ” lại có thể đứng chung với đám đông người tội lỗi chờ đến lượt mình được chịu thanh tẩy? Đây là động thái gây kinh ngạc cho con người thời nay, vì khó hiểu: Đấng không có tội lại đi nhận phép rửa làm gì? Nhưng người ta cũng sớm hiểu ra rằng: phép rửa của Gioan Tẩy Giả chỉ là nghi thức mang tính tẩy trần, nếu có giá trị thì chỉ theo quy định của lề luật thôi, còn chưa có hiệu quả đích thực tôn giáo. Chính Gioan Tẩy Giả đã minh định: “Tôi rửa anh em trong nước, nhưng Đấng đến sau tôi sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và trong lửa”. Khi Chúa Giêsu nhận phép rửa này, ngoài việc “nhập thế đến cùng”, khiêm tốn xếp hàng đứng chung với các tội nhân đợi chờ đến phiên, Người còn hữu ý qua động thái có một không hai đó, công khai khởi đầu cuộc sống mới: cuộc rao giảng Tin Mừng cho mọi người.

Tất cả các tiên trưng trong Cựu Ước đều được thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Để “chu toàn thánh ý Thiên Chúa“(Mt 3,15), Chúa Giêsu tự nguyện chịu phép rửa của thánh Gioan, dành cho những người tội lỗi. Cử chỉ này cho thấy Chúa Giêsu đã đi vào mầu nhiệm “tự hạ” (Pl 2,7). Chúa Thánh Thần xưa kia đã bay là là trên mặt nước trong cuộc sáng tạo thứ nhất, nay ngự xuống trên Đức Kitô như khúc nhạc dạo đầu của bản giao hưởng sáng tạo mới, và Chúa Cha giới thiệu Chúa Giêsu là “Con Chí Ái” của Ngài (Mt 3,16-17).

Trong cuộc Vượt Qua, Đức Kitô đã khơi nguồn Bí Tích Rửa Tội cho mọi người. Người nói về cuộc tử nạn sẽ phải chịu tại Giêrusalem như “một Phép Rửa” Người phải lãnh nhận (x. Mc 10,38; Lc 12,50). Máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Người bị đâm thâu trên thập giá (Ga 19,34) tiên trưng cho Bí Tích Rửa Tội và Bí Tích Thánh Thể là những bí tích ban sự sống mới (x.1Ga 5,6-8); từ giây phút ấy, chúng ta có thể “sinh ra nhờ nước và Thánh Thần” để được vào Nước Thiên Chúa (Ga 3,5).

Bí Tích Rửa Tội là cánh cửa phân chia tách bạch đời sống, một đàng là khép lại quá khứ của bóng tối, tội lỗi, chết chóc, và đàng khác là mở ra tương lai của ánh sáng, thánh ân, sự sống. Bí Tích Rửa Tội cần thiết cho ơn cứu rỗi, nên bí tích này cũng là khởi đầu cho một sự hiện diện mới: từ kẻ ngoại đạo trở thành người đã tòng giáo; từ một lương dân trở nên tín hữu; từ kẻ xa lạ trở thành người nhà của Thiên Chúa. Quả là một hồng ân vô cùng lớn lao cho những ai đón nhận trong lòng tin.

2. Ân Sủng của Bí Tích Rửa Tội

Khi ban Bí Tích Rửa Tội, Thừa tác viên Giáo Hội đổ nước trên đầu thụ nhân và đọc công thức “Cha rửa con nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Đơn giản trong cung cách cử hành, nhưng hiệu quả ơn thánh lại phong phú bội phần. Bằng những hình ảnh do Thánh Kinh gợi ý, người ta trở thành thành viên trong Dân Chúa Cha, chi thể trong Thân Mình Chúa Kitô và viên đá sống động kiến tạo Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Con người mới chính là con cái Thiên Chúa và được thông phần vào sự sống của Thiên Chúa hằng sống.

Bí Tích Rửa Tội là nền tảng của toàn bộ đời sống Kitô hữu, là cửa ngõ dẫn vào đời sống thần linh và mọi bí tích khác. Nhờ bí tích này chúng ta được giải thoát khỏi tội lỗi và tái sinh làm con cái Thiên Chúa, thành chi thể của Đức Kitô, được gia nhập và tham dự sứ mạng của Hội Thánh (GLCG 1213).

Bí Tích Rửa Tội tha thứ nguyên tội, mọi tội cá nhân và các hình phạt do tội. Bí Tích Rửa tội cho tham dự vào đời sống của Thiên Chúa Ba Ngôi nhờ ơn thánh hoá, nhờ ơn công chính hoá giúp tháp nhập vào Đức Kitô và Hội Thánh. Bí tích này cho tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô và tạo nền tảng cho sự hiệp thông với tất cả các Kitô hữu. Bí tích này trao ban các nhân đức đối thần và các hồng ân của Chúa Thánh Thần. Người lãnh nhận bí tích Rửa tội thuộc về Đức Kitô luôn mãi: họ được đóng ấn không thể xóa được của Đức Kitô (GLCG 263).

Như vậy, có hai hiệu quả chính yếu của Bí Tích Rửa Tội là thanh luyện tội lỗi và tái sinh trong Chúa Thánh Thần (x. Cv 2,38; Gl 3,5).

a. Được tha thứ tội lỗi

Nhờ Bí Tích Rửa Tội, mọi tội lỗi đều được tha : nguyên tội, mọi tội riêng cũng như mọi hình phạt do tội (x. DS 1316). Những người đã được tái sinh sẽ được vào Nước Thiên Chúa và không còn gì ngăn cản họ, dù là tội Ađam, tội riêng của họ, những hậu quả của tội, kể cả hậu quả trầm trọng nhất là xa lìa Thiên Chúa.

Tuy nhiên, người đã được rửa tội còn phải chịu một số hậu quả tạm thời của tội như : đau khổ, bệnh tật, chết chóc hay những bất toàn trong cuộc sống như tính tình yếu đuối… và một sự hướng chiều về tội mà Truyền Thống quen gọi là vật dục hay nói bóng bẩy là “cái nôi của tội”. “Thiên Chúa để vật dục lại cho chúng ta chiến đấu. Vật dục không có khả năng làm hại những ai không đồng tình mà còn can đảm chống lại nó nhờ ân sủng của Đức Kitô. Hơn nữa, “không đoạt giải nếu không thi đấu theo luật lệ” (2 Tm 2,5) (x. CĐ Trentô: DS 1515).

b. “Trở nên thụ tạo mới”

Bí Tích Rửa Tội không chỉ rửa sạch mọi tội lỗi, mà còn làm cho người tân tòng trở nên “một thụ tạo mới” (2 Cr 5,17), thành nghĩa tử của Thiên Chúa (x. Gl 4,5-7), “được thông phần bản tính Thiên Chúa” (2 Pr 1,4), thành chi thể Đức Kitô (x.1Cr 6,15; 12,27) và đồng thừa tự với Người (Rm 8,17), thành đền thờ Chúa Thánh Thần (x.1Cr 6,19).

Chúa Ba Ngôi Chí Thánh ban cho người được rửa tội ơn thánh hóa, ơn công chính hóa để người đó :

– Có khả năng tin tưởng, trông cậy và yêu mến Người nhờ các nhân đức đối thần.

– Có thể sống và hành động dưới tác động của Chúa Thánh Thần nhờ các hồng ân.

– Ngày càng hoàn thiện hơn nhờ các nhân đức luân lý.

Toàn bộ đời sống siêu nhiên của người Kitô hữu đều bắt nguồn từ Bí Tích Rửa Tội.

Bí Tích Rửa Tội làm cho chúng ta thành chi thể trong Thân Thể Chúa Kitô, “bởi thế, chúng ta là phần thân thể của nhau” (Ep 4,25). Bí Tích Rửa Tội tháp nhập chúng ta vào Hội Thánh. Dân Thiên Chúa của Giao Ước Mới phát sinh từ giếng rửa tội. Dân này vượt trên mọi ranh giới tự nhiên hay nhân trần, quốc gia, văn hóa, chủng tộc và giới tính. “Tất cả chúng ta đều đã chịu Phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể” (1 Cr 12,13).

Những người đã được rửa tội trở nên “những viên đá sống động… để xây nên ngôi đền thờ của Thánh Thần, xây dựng hàng tư tế thánh” (1 Pr 2,5). Nhờ Bí Tích Rửa Tội ,họ tham dự vào chức tư tế của Đức Kitô, vào sứ mạng ngôn sứ và vương đế của Người: “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hoàng tộc chuyên lo tế tự, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công vĩ đại của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối vào nơi đầy ánh sáng dịu huyền” (2 Pr 2,9).

Bí Tích Rửa Tội cho các tín hữu tham dự vào chức tư tế cộng đồng của Dân Chúa.Người đã được rửa tội trở thành phần tử của Hội Thánh, họ “không còn thuộc về mình, nhưng thuộc về Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta” (1Cr 6,19). Do đó, họ được mời gọi để phục tùng nhau (x.Ep 5,21;1Cr 16,15-16) và phục vụ nhau (x.Ga 13,12-15) trong tình hiệp thông của Hội Thánh. Họ được mời gọi vâng lời và phục tùng các vị lãnh đạo của Hội Thánh (x.Dt 13,17) với lòng kính trọng và quý mến (x.1Tx 5,12-13). Bí Tích Rửa Tội đã trao cho người lãnh nhận những trách nhiệm và bổn phận, đồng thời cũng cho họ được hưởng những quyền lợi trong lòng Hội Thánh: được lãnh nhận các bí tích, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và được Hội Thánh nâng đỡ bằng các trợ giúp thiêng liêng. (x.LG 37).

3. Đón nhận một sứ vụ mới

Cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và Gioan là lúc Tân – Cựu ước giao duyên, là lễ bàn giao giữa hai niên đại cũ và mới mà Chúa Giêsu và Gioan là đại biểu. Gioan, ngôn sứ cuối cùng của Cựu ước gặp gỡ trao đổi bàn giao với Đức Kitô,vị ngôn sứ của thời kỳ mới.Nơi cuộc gặp gỡ lịch sử này,Thiên Chúa đã xuất hiện và chứng nhận. Lúc ấy các tầng trời mở ra, Thánh Thần đáp xuống như chim bồ câu và có tiếng Chúa Cha tuyên phán: Con là Con Ta yêu dấu. Ba Ngôi Thiên Chúa tỏ hiện vào chính lúc lịch sử của hai niên đại mới và cũ chuyển giao.Từ nay Chúa Giêsu sẽ lên đường vào sứ vụ mới với cuộc sống công khai, chính thức rao giảng Tin Mừng và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền trong dân chúng. Lời Người nói là Lời chân lý khai quang tâm hồn, dẫn người người về đường ngay nẻo chính Nước Trời, và việc Người làm là việc giải thoát đem lại ơn cứu rỗi, đưa toàn thể nhân loại vào trong tình nghĩa thiết ngàn đời với Thiên Chúa tình thương. Chúa Giêsu khai mở kỷ nguyên cứu rỗi.

Thánh Phaolô gọi Bí Tích Rửa Tội là tắm trong Chúa Thánh Thần, để được tái sinh và đổi mới (x. Tt 3,5). Được tái sinh làm con Thiên Chúa, những người đã được rửa tội có bổn phận tuyên xưng trước mặt mọi người đức tin mà họ nhận lãnh từ Thiên Chúa qua Hội Thánh (x.LG 10), tham dự vào hoạt động tông đồ và truyền giáo của Dân Thiên Chúa (x.LG 17; AG 7,23).

Thánh Giúttinô gọi Bí Tích Rửa Tội là ơn soi sáng, vì những người được đạo lý giáo huấn thì tâm trí được soi sáng. Người chịu phép rửa, vì đón nhận Ngôi Lời là “ánh sáng đích thực chiếu soi mọi người” (Ga 1,9), nên sau khi “đã được soi sáng” (Dt 10,32), họ trở thành “con cái sự sáng” (1 Tx 5,5) và là “ánh sáng” (Ep 5,8).

“Bí Tích Rửa Tội là hồng ân cao đẹp nhất và kỳ diệu nhất trong các hồng ân của Thiên Chúa…Chúng ta gọi là hồng ân, ân sủng, xức dầu, soi sáng, mặc lấy sự bất tử, tắm để tái sinh, ấn tín và tất cả những gì quý giá nhất. Là hồng ân, vì được ban cho những người trắng tay. Là ân sủng, vì được ban cho cả những người có lỗi. Dìm xuống,vì tội lỗi bị nhận chìm trong nước. Xức dầu, vì có tính cách linh thiêng và vương giả (như những người được xức dầu). Soi sáng, vì đó là ánh sáng chói lọi. Mặc, vì che đi nỗi tủi nhục của chúng ta. Tắm, vì làm cho chúng ta sạch. Ấn tín, vì gìn giữ chúng ta và là dấu chỉ về quyền tối cao của Thiên Chúa” (Thánh Ghêg-riô Nadien, Bài giảng 40,3-4).

Nhờ Bí Tích Rửa Tội, trong tư cách là “Kitô hữu thuộc về Chúa Kitô”, chúng ta được nhắc nhớ về sứ mạng phải làm triển nở sự sống của Chúa Kitô nơi mình và nơi những người lân cận bằng lòng tin và bằng tình yêu chân thành và trung tín.

Trong tư cách “Kitô hữu hướng về Chúa Kitô”, chúng ta cũng được hun đúc để luôn biết sống bằng niềm hy vọng và bằng lời kinh phó thác, nhất là trong lúc gặp thử thách gian truân.

Trong tư cách “Kitô hữu tìm về Chúa Kitô”, chúng ta còn biết sẵn sàng thanh tẩy đời sống qua việc sám hối hòa giải để đón nhận lòng thương xót của Chúa một cách dồi dào hơn.

Trong phép lần hạt Năm Sự Sáng, gẫm thứ nhất, chúng ta vẫn đọc: “Thứ nhất thì ngắm, Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa”. Theo gương Mẹ Maria, chúng ta xin được sống gắn bó với Chúa Giêsu mật thiết hơn, để xứng đáng là những người con yêu dấu của Thiên Chúa.

LM Giuse Nguyễn Hữu An