ĐTC Phanxicô phá kỷ lục tuyên thánh: 898 vị trong gần 7 năm

Trong gần 7 năm làm Giáo hoàng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên phong 898 vị thánh, nhiều hơn tổng số các vị thánh được các Giáo hoàng tiền nhiệm của ngài tuyên phong trong 421 năm trước.

Kể từ năm 1588, khi Đức Giáo hoàng Sisto V thành lập Thánh Bộ Nghi lễ, việc tuyên thánh và chân phước được thực hiện theo một quy luật và một tiến trình và điều này giúp chúng ta biết chính xác con số các vị được tuyên phong. Từ đó cho đến nay Giáo hội đã tuyên phong 1726 vị thánh.

Từ năm 1592 đến 1978: Giáo hội chỉ tuyên phong 302 vị thánh

Điều đặc biệt là trong suốt 386 năm, từ năm 1592 đến 1978, Giáo hội chỉ tuyên phong 302 vị thánh. Nhưng sang đến thời thánh Gioan Phaolô II, trong 27 năm làm Giáo hoàng, ngài đã tuyên phong 482 vị thánh. Trong 8 năm làm Giáo hoàng, Đức Giáo hoàng Biển Đức chỉ tuyên phong 44 vị nhưng sang đến Đức Giáo hoàng Phanxicô, chỉ trong 6 năm ngài đã tuyên phong 898 vị thánh, nhiều hơn con số 828 vị được tuyên phong trong 421 năm trước đó.

Tuyên phong tập thể: 800 vị thánh tử đạo ở Otranto

Con số kỷ lục tuyệt đối về phong thánh dưới thời Đức Thánh Cha Phanxicô một phần do sự thay đổi trong khái niệm về sự thánh thiện, được coi là mục tiêu có khả năng đạt được đối với mọi người và không chỉ chịu dành cho một số rất ít những người thực hiện các hành động anh hùng. Nhưng trên hết, là do việc tuyên phong tập thể nhiều vị thánh cùng một lần, đặc biệt là các thánh tử đạo. Cụ thể là Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên thánh cho 800 vị tử đạo ở Otranto thuộc vùng Puglia của Ý, bị giết dưới bởi người Thổ Nhĩ Kỳ vào năm 1480. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô cũng đã có hai lần tuyên phong cùng lúc nhiều vị thánh như 119 thánh tử đạo Trung Quốc hay 117 thánh tử đạo Việt Nam.

Hơn 15 ngàn chân phước và hiển thánh

Cuốn tử đạo thư Roma, một nguồn tài liệu có thế giá, xuất bản năm 2004, đã liệt kê con số 13.539 hiển thánh và chân phước. Nếu tính đến năm 2019 thì con số đó chắc chắn sẽ hơn 15 ngàn vị (Sismografo 03/01/2020)

Vatican news

Giáo hội sắp có thêm 28 chân phước

Hôm qua 11/12, Đức Thánh Cha đã tiếp Đức Hồng y Angelo Becciu, Tổng trưởng Bộ Phong thánh và đã cho phép Bộ công bố các sặc lệnh liên quan đến 28 tân á thánh và 6 đấng đáng kính.

Sắc lệnh đầu tiên nhìn nhận phép lạ nhờ lời cầu bầu của Đấng Đáng kính nữ tu Maria Luigia Thánh Thể, người Ý, tục danh là Maria Velotti, sáng lập dòng Nữ tu Phan Sinh thờ lạy Thánh giá (1826-1886). Như thế sơ Maria Luigia sẽ được phong chân phước.

Tiếp đến là các sắc lệnh nhìn nhận sự tử đạo của 27 vị Tôi Tớ Chúa, bị giết vì sự thù ghét đức tin giữa các năm 1936 và 1937 trong thời kỳ nội chiến Tây Ban Nha: đó là Angelo Marina Álvarez và 19 bạn cùng dòng Giảng thuyết; Giovanni Aguilar Donis và 4 người bạn cùng dòng Giảng thuyết; Fruttuoso Pérez Márquez, giáo dân dòng Ba Đaminh; và  cuối cùng là Isabella Sánchez Romero, nữ đan sĩ dòng Đaminh. Các ngài sẽ được phong chân phước.

Bộ phong thánh cũng công bố một số sắc lệnh nhìn nhận nhân đức anh hùng của một số vị và như thế các ngài sẽ được tôn lên bậc đấng Đáng Kính Tôi Tớ Chúa (REI 12/12/2019)

Hồng Thủy

Đại lễ kính Các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam

GARDEN GROVE – Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam Giáo Phận Orange vừa tổ chức Đại Lễ Kính Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam vào sáng thứ Bảy, ngày 23 tháng 11, 2019 tại Nhà Thờ Chánh Tòa Chúa Kitô. Đại Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam cũng là Bổn Mạng của Cộng Đồng Công Giáo VN Giáo Phận Orange nên hàng năm, đại lễ được cử hành long trọng và có sự tham dự của các vị Giám Mục, Linh Mục, tu sĩ và hàng chục ngàn tín hữu Công Giáo.
Những năm đầu tiên sau khi người Việt định cư đông đảo tại Nam Cali, đại lễ Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam được tổ chức ở sân vận động Santa Ana, nhưng vì lý do thời tiết không thuận tiện, nên những năm sau đó được tổ chức tại hội trường trường đại học Long Beach rồi trường UCI, vì hai nơi này mới đủ chỗ cho hàng ngàn người tham dự.

Năm nay, lần đầu tiên, đại lễ kính Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam được tổ chức tại một nơi xứng đáng nhất, như lời Linh Mục Giám Đốc Trung Tâm Công Giaó nói, “Năm nay cộng đồng chúng ta được chúc phúc cách đặc biệt: chúng ta được cử hành Đại Lễ tại Nhà Thờ Chánh Tòa Chúa Kitô. Một không gian thờ phượng khang trang và uy nghi lộng lẫy, nhưng không kém phần trang nghiêm và linh thánh. Nơi đây chắc chắn sẽ nâng tâm hồn chúng ta trong lời cầu nguyện lên Thiên Chúa cách sốt sắng hơn.”
Ngoài gần 2 ngàn giáo dân, ca đoàn và các linh mục, tu sĩ trực tiếp tham dự thánh lễ bên trong thánh đường, phía ngoài nhà thờ hàng ngàn giáo dân khác ngồi trong các lều trắng tham dự thánh lễ qua các màn hình lớn.

Trước thánh lễ, LM Phạm Ngọc Hùng, Giám Đốc Trung Tâm Công Giáo đến xông hương trước kiệu Chúa Chịu Nạn, Đức Mẹ La Vang và linh hài các vị tử đạo. Sau đó cuộc cung nghinh bắt đầu với Thánh Gía Nến Cao rồi đến các hội đoàn mặc đồng phục và mang cờ hiệu của hội đoàn mình. Đoàn rước thật trang nghiêm, trật tự, vừa đi vừa lần chuỗi và hát thánh ca.

Khi đoàn rước kiệu vào đến cửa thánh đường; theo sự hướng dẫn của LM Chu Vinh Quang, cha xứ giáo xứ St. Marys By The Sea (Huntington Beach) phụ trách nghi lễ, đoàn trống Thiên Ân chào mừng Các vị Thánh Tử Đạo một điệu trống hết sức rộn ràng. Sau đó, Linh Mục Nguyễn Uy Sỹ, nguyên Giám Đốc Trung Tâm Công Giáo hiện là cha xứ giáo xứ St. Martin De Porres (Yorba Linda) có bài giảng, nhắc nhở giáo dân về đức tin Công Giáo và khuyên mọi người đừng bao giờ nói dối Chúa. Cha đưa ra một vài mẫu chuyện có thật để làm cho bài giảng thêm sống động.  Sau bài giảng của cha Nguyễn Uy Sỹ, Ban Vũ Phụng Vụ của Cộng Đoàn Giáo xứ Saint Columban trình diễn một màn uyển chuyển, đẹp mắt dâng lên Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ Các Thánh Tử Đạo. Sau một tràng pháo tay khen ngợi của mọi người, các nữ tu Mến Thánh Giá làm mọi người vô cùng xúc động qua màn diễn nguyện về phúc Tử Đạo của hai nữ tu Mến Thánh Giá, Soeur Soạn và Soeur Trị, nói lên niềm tin mãnh liệt vào Chúa Kitô, dù những lời dụ dỗ ngon ngọt, dù những đe dọa của quan, quân và những roi đòn của quân lính, hai nữ tu không sờn lòng, không kêu than, không xin xỏ; một lòng trung kiên theo Chúa cho đến khi gục chết trước sự tra tấn cực kỳ dã man của những kẻ bách hại đạo Chúa.



Sau màn diễn nguyện xuất sắc của các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá LA. Từ ngoài thánh đường, 18 vị Chủ Tịch Cộng Đoàn, mỗi vị cầm một lá cờ ghi tên Cộng đoàn mình tiến lên cung thánh, và 18 cờ hiệu được dựng ở hai bên bàn thờ. Các Linh Mục, Phó Tế và hai vị Giám Mục, Đức Cha Kevin Vann và Đức Cha Thomas Nguyễn Thái Thành lên hôn bàn thờ và thánh lễ bắt đầu với bài Ca Nhập Lễ do ca đoàn Chúa Kitô trình bày. Đức Giám Mục Kevin Vann chủ tế thánh lễ, Đức Giám Mục Nguyễn Thái Thành giảng. Trong bài giảng bằng hai thứ tiếng Anh – Việt, Đức Cha Thành nói, “Đối với riêng tôi, ngày này là ngày Giỗ Tổ của Giáo Hội Việt Nam. Quả đúng như vậy, vì các Thánh Tử Đạo Việt Nam là những vị tổ tiên, tiền nhân của Giáo Hội Việt Nam. Từ những hạt giống Đức Tin của các ngài đã chịu chết đi để ngày nay nẩy sinh hoa trái xum xuê là bao nhiêu triệu người Công Giáo Việt Nam hiện nay. Chúng ta tề tựu về đây để tỏ lòng tri ân các Thánh Tử Đạo Việt Nam, đồng thời cầu xin các Ngài thêm lòng tin cho chúng ta hầu có đủ can đảm để chiến thắng những cám dỗ của thời đại mới này là lòng ích kỷ, tham vọng tiền bạc, danh vọng và sự thờ ơ vô cảm trước những nỗi khổ đau của người chung quanh.Xin cho mỗi người chúng ta sẽ trở thành những môn đệ của Chúa, sẵn sàng mang tình yêu đến cho những người thân yêu trong gia đình, trong cộng đoàn và cho mọi người mà chúng ta có cơ hội tiếp xúc. Có thế, chúng ta mới xứng đáng là con cháu của các Thánh Tử Đạo Việt Nam.”

Thánh lễ tiếp tục sau bài giảng của Đức Giám Mục Phụ Tá. Trước khi kết thúc thánh lễ, ông Vũ Viết Quyền, Chủ Tịch Cộng Đồng CGVN thay mặt ban tổ chức dâng lời cám ơn qúy Đức Cha, các Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ, qúy Ban Thường Vụ các Cộng Đoàn, Ban, Ngành, Đoàn Thể đã sốt sắng cộng tác và tham dự Đại lễ Kính Các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam, Bổn Mạng Của Cộng Đồng Công Giáo VN Giáo Phận Orange. Đức Giám Mục Kevin Vann cũng ngỏ lời chúc mừng Cộng Đồng CGVN nhân đại lễ Bổn mạng, và khen ngợi tinh thần sống đạo rất sốt sắng của các tín hữu Việt Nam.

Trong lịch sử Giáo Hội Công Giáo VN, dưới triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức trên 300 ngàn người Công Giáo đã bị giết vì nhất quyết không bỏ đạo, không chịu bước qua cây Thập Giá. Trong số đó có 117 vị vừa là các Giám Mục, Linh Mục Thừa Sai ngoại quốc đến giảng đạo, vừa là các linh mục, giáo dân Việt Nam đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolo Đệ Nhị phong Thánh tại Roma ngày 19/6/1988 và một vị thứ 118 là Anre Phú Yên, tử đạo ngày 26.7.1644 cũng được Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolo Đệ Nhị nâng lên bậc Chân Phước ngày 5 tháng 3 năm 2000. Vì thế, cách gọi đúng nhất phải là Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam.
Trước ngày cử hành Đại Lễ Kính Các Thánh Tử Đạo, LM Phạm Ngọc Hùng, Giám Đốc TTCG đã gửi thư cho toàn thể tín hữu Công Giáo trong Cộng Đồng. Trong thư có đoạn Linh Mục Phạm Ngọc Hùng viết: “Không nơi nào cho chúng ta một cảm xúc trào dâng mãnh liệt như Đại Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, khi Tiếng nhạc oai hùng vang trên khắp cõi trời Việt Nam được cất lên. Là những người Công Giáo Việt Nam, chúng ta hãnh diện vì cha ông chúng ta là những người anh dũng tiến lên pháp trường để minh chứng niềm tin của các ngài nơi Chúa Giêsu Kitô. Máu đào của các ngài đã đổ ra đwể cho hạt giống đức tin được nẩy mầm và lớn mạnh…”
Cuối bức thư, LM Phạm Ngọc Hùng với tư cách Trưởng Ban Tổ Chức Đại Lễ viết: “Song song với tâm tình tạ ơn và ngợi khen Thiên Chúa, chúng tôi chân thành ghi ơn quý Đức Cha, quý cha, quý tu sĩ nam nữ, các hội đoàn, đoàn thể, cơ sở thương mại, và các cá nhân đã cầu nguyện và góp công của để chúng ta có thể mừng Lễ cách trang trọng. Kính xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho từng người trong chúng ta.”

Thanh Phong – Viễn Đông

Thánh ca Tiếng Việt cất lên giữa Tokyo

Vatican News Tiếng Việt: Nhật Bản vẫn được cho là một nước “đóng cửa” với dòng người di cư đang diễn ra trên thế giới. Sự “đóng cửa” này xuất phát từ nguyên nhân nào thưa cha?

Có nhiều nguyên nhân để nói về sự “đóng cửa” của nước Nhật đối với thế giới bên ngoài.

Trước hết đó là lý do địa lý. Nước Nhật bị tách biệt khỏi thế giới bên ngoài, bị bao phủ xung quanh bởi biển. Vậy nên, nước Nhật vốn tự bản chất ít có tương tác với thế giới bên ngoài.

Kế đến là lý do chính trị. Do nhiều mâu thuẫn, hoài nghi nên nước Nhật đã duy trì chính sách “bế quan toả cảng” một thời gian dài cho đến thời Minh Trị. Có thể nói đây là 2 nguyên nhân dẫn đến việc nước Nhật dường như đi bên lề những chuyển biến của thế giới, đặc biệt vấn đề đón nhận người di cư.

Tuy nhiên thời gian gần đây có rất nhiều tổ chức xã hội ở Nhật đang kêu gọi chính phủ mở rộng cửa hơn để tiếp nhận những người di cư do chiến tranh, xung đột hay mâu thuẫn chính trị.

Vatican News: Theo nhiều bài viết thì có một cộng đồng Việt Nam khá đông đang sinh sống tại Nhật Bản. Vậy, sự hội nhập của tín hữu Công giáo Việt Nam vào Giáo hội địa phương như thế nào?

Theo thông kê gần đây nhất, người Việt ở Nhật đã lên tới con số 370.000, chỉ đứng sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Người Việt ở Nhật bao gồm nhiều thành phần người di dân của những năm 80, gần đây là du học sinh, tu nghiệp sinh, kỹ sư.

Nhìn chung tiếng Nhật là rào cản lớn nhất trong việc hội nhập vào xã hội Nhật. Tiếng Nhật là một trong nhưng thứ tiếng khó học nhất trên thế giới.

Phong tục tập quán của Nhật cũng khá khác biệt so với những nước châu Á xung quanh nên việc hội nhập tương đối khó. Người Nhật yêu chuộng sự ngăn nắp, rõ ràng trong công việc và các tương quan.

Tuy nhiên, nói như thế không phải là không thể hội nhập vào xã hội Nhật. Những người đến Nhật từ những năm 80 đã hội nhập vào văn hoá Nhật rất tốt. Nhìn chung, người Nhật có thiện cảm nhiều đối với Việt Nam.

Những năm gần đây do số lượng người Việt đến Nhật quá đông và các công ty, trường học đưa người sang Nhật nhưng chưa trang bị cẩn thận kiến thức cơ bản dẫn đến những khó khăn trong việc hội nhập văn hoá và đời sống ở Nhật. Điều đặc biệt là người Nhật rất không thích sự ồn ào. Người Việt Nam thì khá thoải mái về vấn đề này nên đôi khi làm họ mất thiện cảm phần nào.

Gần đây, người Việt Nam đến Nhật với tư cách là sinh viên, thực tập sinh, kỹ sư… Điều này mang lại bộ mặt mới cho xã hội Nhật nhưng cũng là một thách đố. Làm sao để giúp các bạn trẻ này thật sự tìm được tương lai của mình ở Nhật là câu hỏi lớn dành cho xã hội cũng như Giáo hội Nhật. Nhiều nhóm xã hội, thiện nguyện của nhà nước, chùa và nhà thờ cũng hình thành để giúp các bạn trẻ Việt Nam ở Nhật hội nhập tốt hơn và thành công hơn.

Giáo Hội Nhật cũng dần mở ra hơn với di dân, đặc biệt người Việt Nam. Các thánh lễ Chúa Nhật nhiều nơi được cử hành với nhiều ngôn ngữ. Tiếng Việt cũng được đưa vào phụng vụ như bài đọc tiếng Việt trong thánh lễ, các lời cầu nguyện…

Vatican News: Trong chuyến viếng thăm tại Nhật, Đức Thánh Cha đề cập đến vấn đề “đón nhận người nhập cư” ra sao? Những lời chia sẻ của ĐTC có tác động như thế nào?

ĐTC luôn chủ trương đón nhận người di cư. Tuy nhiên, về phía xã hội Nhật mặc dù có những tiến bộ nhưng vẫn còn dè dặt. Đức Thánh Cha cũng đã đề cập đến vấn đề mở cửa đón nhận mọi người đặc biệt người nghèo, người di dân… Hy vọng thông điệp của Ngài sẽ giúp nước Nhật thay đổi nhiều hơn về mảng này.

Thánh ca Tiếng Việt được cất lên

Vatican News: Trong Thánh lễ do ĐTC chủ tế, cộng đoàn Công giáo Việt cũng đóng góp bài hát “Tán tụng Hồng ân”. Cha có thể chia sẻ sự tham gia của cộng đoàn người Việt trong chuyến viếng thăm lần này?

Ban tổ chức đề nghị tôi tìm 5 bạn trẻ Việt Nam để đại diện đi đón ĐTC tại toà Khâm sứ ngày 23/11, một người đọc lời nguyện và họ muốn mình hát một bài lúc hiệp lễ. Đề nghị này đến cũng khá bất ngờ.

Có một số lớn những người Việt đang sinh sống ở Nhật tham dự thánh lễ của ĐGH tại Nagasaki và Tokyo. Cũng có các phái đoàn từ Việt Nam sang với số lượng khiêm tốn hơn ở Thái Lan. Tuy nhiên, tất cả những ai hiện diện trong thánh lễ ở Tokyo Dome vừa qua đều xúc động khi nghe tiếng Việt vang lên trong thánh lễ. Đó là sự ưu ái của giáo hội Nhật dành cho người Việt.

Trong quá khứ, cộng đoàn Việt Nam ở Nhật chịu nhiều thiệt thòi hơn các cộng đoàn khác như Philippines, Tây Ba Nha, Brazil… Hiện nay Dòng Tên Nhật Bản có trung tâm dành cho người nói tiếng Tây Ban Nha, người Philippines, người Đức, người Trung Quốc nhưng chưa có trung tâm dành cho người Việt.

Tuy nhiên, những năm gần đây với sự tăng trưởng số người Việt đến Nhật Bản, Giáo hội Nhật bắt đầu quan tâm hơn đến chúng ta. Dòng Tên Nhật Bản cũng bắt đầu nghĩ đến chuyện đẩy mạnh hơn hoạt động dành cho di dân, đặc biệt cho người Việt Nam.

Chúng ta cám ơn Giáo hội Nhật vì những nỗ lực của họ trong việc cố gắng đồng hành về thiêng liêng với giáo dân Việt Nam tại Nhật. Đồng thời tôi thiết nghĩ người Công giáo Việt Nam tại Nhật đang được mời gọi để làm chứng cho Chúa ngang qua đời sống của mình trong môi trường vốn đang bị thế tục hoá của Nhật.

Chúng con xin chân thành cảm ơn cha!

Vatican News

Đức Thánh Cha về đến Roma bình an

Máy bay chở Đức Thánh Cha trở về Ý đã đáp xuống phi trường Fiumicino của Roma lúc 16:13. Đức Thánh Cha kết thúc chuyến tông du nước ngoài lần thứ 32, với chuyến viếng thăm hai quốc gia Thái Lan và Nhật Bản từ ngày 19-26/11.

Sau 12 giờ bay, chiếc máy bay Boeing 787 của hãng hàng không ANA (All Nippon Airways) của Nhật chở Đức Thánh Cha và đoàn tùy tùng và các ký giả từ Tokyo đã đáp xuống phi trường Roma lúc 16:13, gần 50 phút so với thời gian dự kiến.

Đức Thánh Cha kết thúc chuyến tông du nước ngoài lần thứ 32 và là chuyến viếng thăm châu Á lần thứ tư. Thái Lan và Nhật Bản, cả hai quốc gia đều có gốc rễ Kitô giáo từ nhiều thế kỷ, đã bày tỏ cho Đức Thánh Cha thấy niềm vui của đức tin và ý muốn tiếp tục hành trình truyền giáo và loan báo Tin Mừng của nhiều vị tử đạo và các chứng tá đã thực hiện trong lịh sử của họ.

Như thường lệ, khi về đến Roma, Đức Thánh Cha đã đến đền thờ Đức Bà Cả, cầu nguyện trước bức ảnh “Đức Bà là phần rỗi dân thành Roma”, trước khi trở về Vatican.

Hồng Thủy – Vatican

Giáo hội sẽ có thêm 1 vị thánh, 14 chân phước và 2 đấng đáng kính

Giáo hội sẽ có thêm 1 vị thánh, 14 chân phước và 2 đấng đáng kính

Sáng 15.01 vừa qua, trong buổi tiếp kiến ĐHY Angelo Becciu, Tổng trưởng Bộ Tuyên Thánh, ĐTC Phanxicô đã cho phép Bộ Tuyên Thánh công bố các sắc lệnh nhìn nhận phép lạ liên quan đến chân phước Margarita Bays, nhìn nhận các cuộc tử đạo của nữ tu Maria del Carmen và 13 nữ tu cùng dòng; và nhìn nhận các nhân đức anh hùng của hai tôi tớ Chúa là nữ tu Anna Kaworek và nữ tu Maria Soledad Sanjurjo Santos.

1 tân hiển thánh

Trước hết, ĐTC chính thức nhìn nhận một phép lạ xảy ra nhờ lời chuyển cầu của chân phước trinh nữ Margarita Bays, dòng Ba Phanxicô. Đây là phép lạ cần thiết để chân phước được tuyên phong hiển thánh. Chân phước Margarita Bays sinh năm 1815 tại La Pierraz, Thụy sĩ, trong một gia đình nông dân. Chị làm thợ may tại nhà, và tuy chăm chỉ làm hết sức mình để đáp ứng nhiều nhu cầu của những người hàng xóm, chị không bao giờ lơ là việc cầu nguyện. Trong cuộc chiến văn hóa, chị đã ủng hộ báo chí Công giáo. Nhưng biến cố thay đổi chị triệt để chính là ơn được mang các dấu thánh. Sau đó, chị lại được lành bệnh ung thư ruột một cách lạ kỳ vào tháng 08.1854, trong khi ĐGH Pio IX tuyên bố tín điều Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội. Chị Margarita Bays qua đời ngày năm 1879 và được tuyên phong chân phước vào năm 1995.

14 tân chân phước

Trong sắc lệnh thứ hai, ĐTC nhìn nhận cuộc tử đạo của nữ tu Maria del Carmen, bề trên tổng quyền, và 13 nữ tu cùng dòng Phanxicô Đức Mẹ thu thai. Các chị đã bị giết tại Tây ban nha vào năm 1936 vì sự thù oán đức tin. Với sắc lệnh này, các chị sẽ được tuyên phong chân phước.

2 Đấng đáng kính

Trong 2 sắc lệnh tiếp theo, ĐTC nhìn nhận các nhân đức anh hùng của 2 vị Tôi tớ Chúa. Thứ nhất là nữ tu Anna Kaworek, đồng sáng lập dòng các nữ tu tổng lãnh thiên thần Micae, sinh tại Biedrzychowice, Balan, năm 1872 và qua đời năm 1936; thứ hai là nữ tu Maria Soledad Sanjurjo Santos, dòng Các Nữ tỳ Đức Maria phục vụ bệnh nhân, sinh tại Puerto Rico năm 1892 và qua đời năm 1973. (REI 15.01.2019)

Hồng Thủy – Vatican

ĐTC Phanxicô: Gọi Chúa là Cha như em bé gọi ba của mình

ĐTC Phanxicô: Gọi Chúa là Cha như em bé gọi ba của mình

Trong buổi tiếp kiến chung sáng thứ tư, ngày 16.01, ĐTC Phanxicô tiếp tục loạt bài giáo lý về Kinh Lạy Cha. Liên kết với từ “Abbà”, cách Chúa Giêsu gọi Chúa Cha, ĐTC nhắc các tín hữu rằng Chúa Cha như người cha trong dụ ngôn người cha nhân lành, không bao giờ thôi yêu thương con cái mình, ngay cả khi con cái lỗi phạm. ĐTC mời gọi các tín hữu trong những thời điểm khó khăn, khi cảm thấy lạc xa Thiên Chúa, khi bị đè nặng trong cảm giác tội lỗi, khi cảm thấy bị bỏ rơi trong thế giới này, hãy tìm sức mạnh cầu nguyện với Chúa Cha, bằng tiếng gọi thân thương “Abbà”, như một đứa trẻ gọi cha của mình với tất cả sự tin tưởng phó thác.

Cốt yếu của lời cầu nguyện: gọi Thiên Chúa là “Abbà” – Cha

 

Bắt đầu bài giáo lý ĐTC nhận định rằng trong Tân ước, việc cầu nguyện dường như muốn đạt đến điều cốt yếu, đến độ chỉ chú trọng đến một lời: “Abbà, lạy Cha.” Và ĐTC giải thích: Trong thư gửi các tín hữu Rôma thánh Phaolô viết: “Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa, nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta được kêu lên: ‘Áp-ba! Cha ơi’ (8,15). Và trong thư gửi các tín hữu Galát, thánh Phaolô nói: “Để chứng thực anh em là con cái, Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em mà kêu lên: ‘Áp-ba, Cha ơi!’ (Gl 4,6).

Lời cầu nguyện này được lặp lại 2 lần và cô đọng toàn bộ Tin mừng. Sau khi đã nhận biết Chúa Giêsu và lắng nghe lời giảng dạy của Người, Kitô hữu không còn xem Thiên Chúa như là một bạo chúa đáng sợ, không còn sợ hãi nữa nhưng cảm thấy trong tâm hồn mình nảy sinh sự tín thác nơi Người: anh ta có thể gọi Đấng Tạo Hóa là “Cha” khi thưa chuyện với Người. Thành ngữ này rất quan trọng đối với các Kitô hữu đến nỗi nó thường được giữ ở nguyên ngữ tiếng Aramaico “Abbà”.

Rất hiếm khi các thành ngữ tiếng Aramaico trong Tân ước không được dịch sang tiếng Hy lạp. Chúng ta phải tưởng tượng rằng các từ tiếng Aramaico này như được ghi âm lại từ tiếng nói của chính Chúa Giêsu: họ tôn trọng ngôn ngữ của Chúa Giêsu. Trong từ đầu tiên của Kinh Lạy Cha chúng ta gặp thấy ngay sự mới mẻ tận căn của kinh nguyện Kitô giáo.

Gọi Thiên Chúa là Cha như em bé gọi ba mình

Tiếp đến, ĐTC giải thích ý nghĩa của việc gọi Thiên Chúa là Cha. Nó không phải chỉ là cách dùng biểu tượng – trong trường hợp này là nhân vật người cha – để nối kết với mầu nhiệm của Thiên Chúa; ngược lại, có thể nói, toàn bộ thế giới của Chúa Giêsu ở trong trái tim của Người. ĐTC khẳng định rằng nếu chúng ta thực hiện hành động này, chúng ta có thể đọc Kinh Lạy Cha thật sự, vì như ĐTC nói: Việc thưa “Abbà” là điều gì đó thân thiết và cảm động hơn chỉ đơn giản gọi Thiên Chúa là “Cha”. Đó là lý do một vài người đã đề nghị dịch từ gốc Aramaico này thành từ “ba” hay “bố”. Thay vì gọi “Cha chúng con” thì nói “ba”, “bố”. Chúng ta tiếp tục đọc “Lạy Cha chúng con” nhưng với trái tim chúng ta được mời gọi gọi “Ba ơi”, được mời gọi có mối liên hệ với Thiên Chúa như một em bé với ba của mình, người mà em gọi là “ba” hay “bố”. Thật ra các cách gọi này gợi lên tình yêu thương, sự ấm áp, một điều gì đó đưa chúng ta vào trong khung cảnh của tuổi thơ: hình ảnh một em bé được vòng tay của người cha ôm choàng cho thấy sự dịu dàng chăm sóc vô vàn của người cha dành cho đứa con. Vì thế, để cầu nguyện tốt, cần có trái tim của một em bé, như một em bé trong vòng tay của người cha, của ba mình, của bố mình.

Thiên Chúa là Cha chỉ biết yêu thương

Nhưng chắc chắn rằng các Tin mừng dẫn đưa chúng ta đến ý nghĩa còn sâu xa hơn của từ này. Lời này có nghĩa gì đối với Chúa Giêsu? Kinh Lạy Cha có ý nghĩa và hay đẹp nếu chúng ta học đọc kinh này sau khi đã đọc dụ ngôn người cha thương xót trong chương 15 của Tin mừng thánh Luca (x. Lc 15,11-32). Chúng ta hãy tưởng tượng rằng kinh này được đứa con hoang đàng đọc, sau khi đã cảm nghiệm được vòng tay ôm của người cha, người đã chờ đợi suốt cả thời gian dài, một người cha không nhắc đến những lời bất hiếu mà đứa con nói với mình, một người cha giờ đây khiến đứa con hiểu cách đơn giản là ông đã nhớ mình bao nhiêu. Do đó, chúng ta khám phá ra những lời đó có sức sống, có sức mạnh thế nào. Và chúng ta tự hỏi: làm sao có thể là Ngài, hay Chúa, chỉ biết có yêu thương? Chúa không biết hận thù sao? Thiên Chúa sẽ trả lời. “Không! Ta chỉ biết tình yêu. Sự trả thù, đòi công lý, sự giận dữ vì danh dự bị tổn thương, nằm ở đâu nơi Chúa? Thiên Chúa trả lời: Ta chỉ biết tình yêu.

Người cha của dụ ngôn đó có những cách thức hành động mà làm chúng ta nhớ đến tấm lòng của một người mẹ.  Điều đặc biệt là các bà mẹ tha thứ cho con cái họ, che dấu cho chúng, không mất đi sự đồng cảm đối với con cái, để tiếp tục yêu thương, ngay cả khi các con không còn xứng đáng với bất cứ điều gì.

Chỉ cần cầu nguyện với từ này – Abbà – bởi vì nó trở thành lời cầu nguyện Kitô giáo. Và thánh Phaolô, trong các thư của ngài, theo cùng hành trình này, và không thể khác hơn, bởi vì đó là con đường mà Chúa Giêsu đã dạy: trong lời cầu xin này có một sức mạnh thu hút tất cả phần còn lại của lời cầu nguyện.

Thai nghén của tình yêu

ĐTC nhấn mạnh đến tình yêu của Thiên Chúa, Cha chúng ta. ĐTC nói: Thiên Chúa tìm kiếm bạn, ngay cả khi bạn không kiếm tìm Người. Thiên Chúa yêu thương bạn, ngay cả khi bạn lãng quên Người. Thiên Chúa nhìn thấy một vẻ đẹp trong bạn, ngay cả khi bạn nghĩ rằng bạn đã phung phí tất cả tài năng của bạn một cách vô ích. Thiên Chúa không chỉ là một người cha, Người giống như một người mẹ không bao giờ ngừng yêu đứa con mình tạo nên. Đàng khác, có một "sự thai nghén" tồn tại mãi mãi, vượt trên chín tháng mang thai thể lý; đó là một sự thai nghén hình thành nên một mạch tình yêu vô tận.

Đối với một Kitô hữu, cầu nguyện đơn giản là thưa “Abbà”, thưa “ba”, thưa “bố”, gọi Chúa là “Cha” nhưng với sự tin tưởng của một đứa trẻ.

Trong khó khăn, hãy can đảm gọi Chúa “Abbà!”

Có thể là chúng ta cũng đang đi trên con đường xa cách Thiên Chúa, như đã xảy ra với đứa con hoang đàng; hoặc là trong sự cô đơn, chúng ta cảm thấy bị bỏ rơi trong thế giới; hay là chúng ta sai lỗi và bị tê liệt trong cảm giác tội lỗi. Trong những lúc này, chúng ta vẫn có thể tìm thấy sức mạnh để cầu nguyện bằng cách bắt đầu với từ “Abbà”. Thiên Chúa không dấu mặt đối với chúng ta; Người sẽ không khép mình trong sự im lặng: Người sẽ nói với chúng ta rằng Người không bao giờ không dõi theo chúng ta, và Người luôn ở đó, trung thành với tình yêu dành cho chúng ta.

Cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu

Vào cuối buổi tiếp kiến, ĐTC đã mời gọi các tín hữu cầu nguyện cho sự hiệp nhất các Kitô hữu. ĐTC nói:

"“Thứ sáu này, với buổi đọc Kinh Chiều tại đền thờ thánh Phaolô ngoại thành,  Tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất của Kitô hữu sẽ bắt đầu, với đề tài: “Anh em hãy cố gắng trở nên người công chính đích thực ”. Trong năm nay, chúng ta cũng được mời gọi cầu nguyện, để tất cả Kitô hữu trở về với một gia đình duy nhất, theo mong ước của Chúa Giêsu, Đấng muốn “xin cho chúng nên một!” (Ga 17, 21). Mục đích của tuần cầu nguyện là phát triển một chứng tá chung và nhất quán trong việc khẳng định một nền công lý đích thực và hỗ trợ những người yếu đuối nhất, thông qua các hành động cụ thể, phù hợp và hiệu quả."

Hồng Thủy – Vatican

ĐTC thư đến gởi cuộc gặp các chủ tịch các Uỷ ban Giáo lý Đức tin

ĐTC thư đến gởi cuộc gặp các chủ tịch các Uỷ ban Giáo lý Đức tin

Đức Thánh Cha đã gởi thư đến các tham dự viên:

Anh em trong hàng giám mục quý mến!

Trong dịp gặp gỡ của các Chủ tịch Uỷ ban Giáo lý Đức tin thuộc Liên Hội đồng Giám mục Á châu và Bộ Giáo lý Đức tin từ ngày 15-18/1/2019 tại Bangkok, tôi vui mừng gởi đến anh em lời chào thăm huynh đệ.

Anh em họp nhau tại Châu Á, một châu lục rộng lớn được đánh dấu bởi sự đa dạng về văn hoá, ngôn ngữ và tôn giáo, để củng cố trách nhiệm chung của chúng ta vì sự hiệp nhất và toàn vẹn đức tin Công giáo, cũng như khám phá những ý nghĩa và phương thức mới làm chứng cho Tin Mừng giữa những thách đố của thế giới đương đại.

Trong Tông huấn Niềm Vui Tin Mừng, tôi đã mời gọi toàn thể Giáo Hội “tiến về phía trước”. Tôi vui mừng khi biết rằng Bộ Giáo lý Đức tin đang hỗ trợ tích cực những công việc quan trọng của các Hội đồng Giám mục và đặc biệt các Uỷ ban Giáo lý Đức tin khi hỗ trợ và cỗ võ sự hợp tác hữu hiệu và huynh đệ giữa các mục Tử của Giáo hội Á châu .

Trong khi cầu nguyện cho cuộc gặp gỡ này trở nên cơ hội để bàn thảo một số vấn đề thuộc về Tin Mừng của Đức Giêsu Kitô đặc biệt thích ứng với Châu Á, tôi vui mừng chúc lành cho tất cả mọi người tham dự trong cuộc gặp gỡ này.

Vatican 10/1/2019

Phanxicô

Đây là lần thứ hai cuộc gặp gỡ của các vị Chủ tịch các Uỷ ban giám mục về Giáo lý Đức tin diễn ra tại Châu Á. Lần đầu tiên diễn ra tại vào năm 1993 tại Hong Kong.Đây là lần thứ hai cuộc gặp gỡ của các vị Chủ tịch các Uỷ ban giám mục về Giáo lý Đức tin diễn ra tại Châu Á. Lần đầu tiên diễn ra tại vào năm 1993 tại Hong Kong. (Rei 15/1/2019).

Văn Yên, SJ

ĐTC Phanxicô gặp các nhân viên cảnh sát Italia cạnh Vatican

ĐTC Phanxicô gặp các nhân viên cảnh sát Italia cạnh Vatican

Trong bài phát biểu, Đức Thánh Cha nhắc đến lễ Giáng Sinh và Hiển Linh vừa được cử hành chứng tỏ sự gần gũi của Thiên Chúa và tình yêu vô hạn của Ngài dành cho con người. Chính sự hiện diện của Ngài làm nên ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta, và giúp chúng ta có niềm hy vọng trước những khó khăn trong cuộc sống thường ngày. Cùng lúc đó, Thiên Chúa cũng thúc đẩy chúng ta sống yêu thương, và tương quan với những người xung quanh bằng thái độ huynh đệ và thương xót.

Đức Thánh Cha nhắc đến việc phục vụ của họ, với tư cách là các nhân viên an ninh, gắn với thái độ gần gũi với con người. Đó là đặc tính công việc của họ. Đức Thánh Cha ghi nhận: “Nhờ công việc đáng quý của anh chị em mà các khách hành hương và những du khách từ khắp nơi trên thế giới đến viếng thăm Đền Thờ Thánh Phêrô được thuận lợi và an toàn. Người ta có thể nhận thấy sự khôn ngoan và khả năng chuyên môn của anh chị em khi đối diện với nhiều tình huống khác nhau, ngay cả nguy hiểm. Về điều này, chính tôi cũng nhận thấy sự đóng góp lớn lao của anh chị em. Tôi cảm ơn anh chị em về khả năng chuyên môn và về lòng quảng đại. Tôi khuyến khích anh chị em luôn trao dồi phong cách làm việc, cố gắng đón nhận tất cả mọi người bằng sự kiên nhẫn và thông cảm, ngay cả đôi khi cũng làm cho anh chị em cảm thấy mệt mỏi hay gánh nặng trong những tình huống khó chịu.”

Kế đến, Đức Thánh Cha kể đến một số công việc của các nhân viên an ninh cạnh Toà Thánh như một cách để cảm ơn họ: đó là việc canh giữ an ninh tại quảng trường thánh Phêrô và các khu vực của Vatican cả ngày lẫn đêm trong mọi hoàn cảnh thời tiết. Bên cạnh đó là việc hỗ trợ của an ninh trong các chuyến viếng thăm của Đức Thánh Cha tại các giáo xứ hay nhiều cộng đoàn khác nhau ở Roma.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha chúc mừng năm mới và ban phép lành Toà Thánh cho mọi người tham dự và những người thân của họ.

Văn Yên, SJ

Các gia đình truyền giáo loan Tin mừng cho thổ dân Paraguay

Các gia đình truyền giáo loan Tin mừng cho thổ dân Paraguay

Các gia đình thuộc các miền ở Paraguay và một đôi vợ chồng người Cuba đã tụ họp tại Porto Murtinho, Braxin, để bắt tay vào dự án loan báo Tin mừng kéo dài một tuần, rồi từ đó họ chia thành các nhóm, xuôi dòng sông Paraguay đi truyền giáo cho 11 thị trấn dọc bờ sông. Nhóm này được 4 linh mục, 1 nữ tu và Đức Tổng Giám mục Valenzuela Mellid của giáo phận Asuncion, Paraguay, đồng hành.

Dưới sức nóng hơn 40 độ ở vùng Nam bán cầu, các nhà truyền giáo sống trong các lều, ở trong các nhà nguyện và nhà dân địa phương. Tại đây họ dạy giáo lý, cử hành Thánh lễ bằng tiếng bản xứ, chia sẻ huynh đệ, xưng tội và ngay cả làm trung gian hòa giải các tranh chấp của dân địa phương với một công ty.

Đức cha Valenzuela nói: “Các nhà truyền giáo đi vào trong bầu khí cầu nguyện, trong đó người ta có thể đối thoại và giải quyết ngay lập tức các xung đột. Tôi ngưỡng mộ lòng can đảm của họ vì họ loan báo tình yêu của Chúa Kitô, là tình yêu biến đổi cuộc sống và khi tình yêu đó được sống thật sự, nó có ảnh hưởng trong các tương quan của con người và trong lao động.” Đức cha cũng chia sẻ thêm: “Niềm vui của các gia đình này thật tuyệt vời và đặc biệt là những đứa con của họ. Đức tin, sự chuẩn bị và xác tín của họ thật đáng kinh ngạc. Nó là một phần của việc trở thành một Giáo hội chứng tá.”

Các Cộng đoàn Các Gia đình Truyền giáo được thành lập năm 2010 bởi hai đôi vợ chồng Carmen và Aldo Fanego, Kika và Vidal Benítez. (CNA 16.01.2019)

Hồng Thủy

Cuộc gặp gỡ đại kết Anh giáo và Công giáo tại Leicester

Cuộc gặp gỡ đại kết Anh giáo và Công giáo tại Leicester

Cuộc gặp gỡ đại kết này được tổ chức mỗi 2 hay 3 năm một lần. Năm nay đến phiên Giáo hôi Anh giáo tổ chức cuộc họp. Các tham dự viên đến đây với tinh thần tôn trọng, tình bạn và sự cộng tác.

Linh đạo, thần học và cùng hiện diện

Mục sư Jeremy Worthen, Tổng Thư ký Ủy ban Quan hệ Đại kết của “Hội đồng Hiệp nhất Kitô hữu” của Giáo hội Anh giáo, chuyên về cải tiến các mối quan hệ với các Giáo hội Kitô, giải thích về cuộc gặp gỡ: “Linh đạo, thần học và cùng hiện diện. Đây sẽ là các yếu tố của cuộc gặp gỡ ở Leicester.”

Chương trình trong 2 ngày tại Leicester là phụng vụ, thảo luận, suy tư  về các điểm của Tuyên ngôn: “Cùng nhau bước đi trên hành trình”. Vào chiều ngày 16 hôm qua, sau cuộc gặp gỡ ngắn, các GM Anh giáo và Công giáo đã họp nhau tại nhà thờ chính tòa Anh giáo để hát kinh chiều. Ngày hôm nay, 17.01, các GM Công giáo sẽ cử hành Thánh lễ tại đan viện Thánh giá của dòng Đaminh; các GM Anh giáo tự do tham dự Thánh lễ nếu muốn. Sau Thánh lễ sẽ có hội thảo và vào ban trưa sẽ có kinh nguyện kết thúc do Giáo hội Anh giáo hướng dẫn.

Gặp nhau, trò chuyện và hiểu nhau hơn

Cuộc gặp gỡ là cơ hội để các GM gặp nhau, trò chuyện và hiểu nhau hơn. Theo mục sư Worthen,  các mục tử gặp nhau để kiến tạo những mối liên hệ và chia sẻ những khó khăn để giúp đỡ nhau. Vì lý do này, các GM được chia thành các nhóm theo vùng địa lý để có thể tìm ra những cách thức cộng tác. Mục sư Worthen cũng nhận định: “Các vấn đề chia cách chúng ta không phải dễ giải quyết, đặc biệt là vấn đề thẩm quyền và giáo hội học, như đã xảy ra từ thời vua Henry VIII. Trong thời đại chúng ta, có một sự nhận thức mới. Bối cảnh mà chúng ta hoạt động là một xã hội bị tục hóa và quan trọng là chúng ta nâng đỡ nhau và cùng nhau suy nghĩ cách thế chúng ta có thể chia sẻ Tin mừng cách tốt hơn với xã hội chúng ta đang sống.” (SIR 14.01.2019)

Hồng Thủy

Nhiều vị Tổng Thống tham dự Ngày Quốc Tế giới trẻ Panama

Nhiều vị Tổng Thống tham dự Ngày Quốc Tế giới trẻ Panama

Ban tổ chức cho biết có các Tổng thống nước Costa Rica, Guatemala, El Salvador và Honduras. Như thế, tất cả các nước Trung Mỹ đều có các vị Quốc trưởng tham dự biến cố này, ngoại trừ Nicaragua đang bị xáo trộn từ nhiều tháng nay, và nước Belize, quốc gia có văn hóa giống như các nước thuộc quần đảo Caraibí hơn là Trung Mỹ.

 Tổng thống Colombia, quốc gia láng giềng của Panama, cũng đến tham dự. Tổng thống Bồ đào nha, Ông Marcelo Rebelo de Sousa, cũng sẽ có mặt tại Panama và tham dự GMG tại đây. Sự kiện này khiến người ta càng tin nơi tin đồn: Fatima sẽ được chọn làm nơi diễn ra Ngày Quốc Tế giới trẻ lần tới cấp hoàn vũ vào năm 2022.

Nghiêm phạt những kẻ  tấn công các bạn trẻ hành hương

 Mặt khác, mạng thông tin ”Telemetro” trích thuật nguồn tin của Ủy viên Công tố của Panama, Ông Julio Villarreal, cho biết những kẻ nào tấn công các bạn trẻ hành hương tham dự Ngày Quốc Tế giới trẻ tại đây có thể sẽ bị trừng phạt nặng nề tới 18 năm tù.

 Biện pháp trên đây nhắm ngăn ngừa những kẻ bất lương đừng ra tay làm hại các bạn trẻ, đến Panama tham dự Đại hội giới trẻ thế giới từ ngày 22 đến 27-1-2019 sắp tới (KNA, Cath.ch 15-1-2019)

Giuse Trần Đức Anh, OP

Lễ Chúa Giêsu chịu Phép rửa 13/01/2019

Lễ Chúa Giêsu chịu Phép rửa 13/01/2019

Bắt đầu bài giảng Đức Thánh Cha hỏi cha mẹ các em: “Các con xin gì cho các con của các con?” Và tất cả cùng trả lời “Xin đức tin”. ĐTC tiếp tục: Các con xin Hội thánh đức tin cho con cái, và hôm nay các em sẽ lãnh nhận Thánh Thần, món quà đức tin trong chính tâm hồn, trong chính linh hồn. Nhưng đức tin này phải được lớn lên, phải được phát triển. Vâng, có người nói với cha rằng: “Vâng, vâng chúng con và con cái chúng con phải học biết đức tin…”

Đức tin phải được thông truyền

ĐTC nói với các cha mẹ: Đúng, khi các em đi đến các lớp giáo lý các em sẽ được học biết về đức tin, nhưng trước khi được học giáo lý,  đức tin phải được thông truyền, và đây là công việc của các con, các cha mẹ. Bổn phận mà hôm nay các con lãnh nhận đó là thông truyền đức tin. Và điều này phải được thực hiện tại gia đình. Bởi vì đức tin luôn luôn được thông truyền qua thổ ngữ: thổ ngữ của gia đình, trong bầu khí gia đình. Bổn phận của các con: thông truyền đức tin bằng gương lành, bằng lời nói, hãy dạy các em làm dấu Thánh Giá. Điều này rất quan trọng. Nhưng hãy quan sát…có những trẻ em không biết làm dấu Thánh Giá… “Hãy làm dấu Thánh Giá”: và các con hãy lãm một lần như vậy, các em không hiểu điều các con làm. Nhưng đầu tiên hãy dạy chúng điều này.

Đừng bao giờ cãi nhau trước mặt con trẻ

Và ĐTC tiếp tục: Điều quan trọng là thông truyền đức tin bằng chính đời sống đức tin của các con: các em sẽ nhìn thấy tình yêu giữa các con, đó chính là sự bình an của gia đình, và chúng sẽ nhìn thấy Chúa Giêsu ở đó trong gia đình. Cho phép cha cho các con một lời khuyên: đó là đừng bao giờ cãi nhau trước mặt con trẻ. Đừng bao giờ. Tất nhiên đây là chuyện bình thường nếu vợ chồng cãi nhau. Nhưng chỉ giữa hai vợ chồng, và không được để cho con cái nghe thấy được điều này. Các con không biết nỗi đau khổ mà một em bé phải chịu đựng như thế nào khi chúng thấy cha mẹ cãi nhau: lời khuyên của cha giúp các con thông truyền đức tin cho con cái đó là không cãi nhau trước mặt chúng.
Và ĐTC nói: trước khi tiếp tục cử hành phụng vụ cha muốn nói với các con một điều khác: các con biết rằng ngày nay trẻ em cảm thấy mình sống trong một môi trường khác lạ: Các em cảm thấy bị hơi nóng bao phủ nhiều hơn, các em cảm thấy không khí oi bức…Và đây là lý do đầu tiên làm cho các em khóc; lý do thứ hai các em khóc bởi vì các em đói; lý do cuối mà các em khóc là vì “phòng ngừa”. Đây là một sự kỳ lạ, không? Đó là một sự bảo vệ. Cha nói cho các con biết các em ổn cả. Nếu chúng khóc vì đói, hãy cho chúng bú. Với các bà mẹ cha muốn nói với các con “Hãy cho các em bú, không có vấn đề gì, Thiên Chúa muốn điều đó”. Đối với các trẻ em nếu một em bắt đầu khóc, em khác đáp lại, và lại một em khác, và chúng trở thành một ca đoàn khóc. Cha nhắc lại hãy thông truyền đức tin cho các em bằng mẫu gương sống trong gia đình.
Sau đó ĐTC tiếp tục thánh lễ với việc cử hành Bí tích Rửa tội cho các em, có các Giám mục giúp ĐTC xức dầu thánh và trao áo trắng cho các em.

Ngọc Yến, Vatican

ĐTC Phanxicô: Sống dấn thân với lời hứa khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy

ĐTC Phanxicô: Sống dấn thân với lời hứa khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy

Ngày lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay kết thúc mùa Giáng Sinh. Phụng vụ mời gọi chúng ta nhận biết Chúa Giêsu một cách trọn vẹn hơn trong dịp chúng ta cử hành biến cố Ngài giáng sinh. Chính vì thế Tin Mừng cho chúng ta thấy hai yếu tố quan trọng: mối tương quan giữa Chúa Giêsu và dân chúng; mối tương quan giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha.

ĐTC Phanxicô đã nói như trên trong buổi đọc Kinh Truyền Tin với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương trưa Chúa Nhật lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa.

Trước đó lúc 9 giờ 30 sáng ĐTC đã chủ sự thánh lễ trong nhà nguyện Sistina, và ban bí tích Rửa Tội cho 27 trẻ em nam nữ.

Chúa Giêsu “dìm mình” trong đám đông và trong dòng nước

Trong bài huấn dụ trước khi đọc Kinh Truyền Tin ĐTC nói: Trong câu chuyện về việc thánh Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho Chúa Giêsu tại sông Giordan, trước tiên chúng ta thấy vai trò của dân chúng. Dân chúng không chỉ là nền của một cảnh, nhưng là một thành phần thiết yếu của biến cố. Trước khi dìm mình vào dòng nước, Chúa Giêsu “dìm mình” trong đám đông, Ngài liên đới hoàn toàn với thân phận của con người, chia sẻ tất cả ngoại trừ tội lỗi. Trong sự thánh thiện của mình, đầy tràn ân sủng và lòng thương xót, Con Thiên Chúa trở thành xác phàm để gánh lấy tội lỗi thế gian. Bởi vậy hôm nay cũng là hiển linh, bởi vì Chúa đến cho Gioan làm phép rửa, hiện diện giữa những người đang sám hối, Chúa Giêsu biểu lộ sự hợp lý và ý nghĩa sứ vụ của Ngài.

Chúa cùng với dân chúng xin Gioan chịu Phép rửa hoán cải, Chúa Giêsu cũng chia sẻ ước muốn sâu sắc đổi mới nội tâm. Và Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Người “dưới hình chim bồ câu” và cùng với Chúa Giêsu dấu hiệu một thế giới mới, một “tạo dựng mới” bao gồm tất cả những ai đón nhận Đức Kitô vào cuộc sống. Mỗi người chúng ta cũng vậy, chúng ta được tái sinh với Chúa Giêsu trong Bí tích Rửa tội, Lời của Chúa Cha: “Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha”. Đây là tình yêu của Cha, mà chúng ta đã nhận lãnh trong ngày chúng ta lãnh nhận Bí Tích Rửa tội, là ngọn lửa đã được thắp lên trong tâm hồn chúng ta, và hỏi hỏi phải được nuôi dưỡng bằng cầu nguyện và bác ái.

Chúa Giêsu “đắm mình” trong cầu nguyện

Sau khi “dìm mình” trong dân chúng và trong dòng nước; yếu tố thứ hai được thánh sử Luca nhấn mạnh đó là Chúa Giêsu “đắm mình” trong cầu nguyện, nghĩa là hiệp thông với Cha. Phép rửa là khởi đầu đời sống công khai, sứ vụ của Chúa Giêsu trong thế giới trong tư cách được Cha sai đến trong thế gian để bày tỏ sự tốt lành và tình yêu của Cha dành cho con người. Sứ mệnh này được Chúa Giêsu hoàn thành trong sự kết hợp liên tục và hoàn hảo với Cha và Thánh Thần. Đây cũng là sứ mệnh của Giáo hội và của mỗi người chúng ta; để trung thành và sinh hoa trái chúng ta được mời gọi “ghép minh” vào Chúa Giêsu. Đó là trong cầu nguyện tiếp tục tái sinh công cuộc loan truyền Tin Mừng và việc tông đồ, để làm chứng kitô giáo một cách rõ ràng không theo kế hoạch của con người mà theo chương trình và cách thức của Thiên Chúa.

Sống lời hứa khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy

Anh chị em thân mến, lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa là cơ hội tốt lành để đổi mới với lòng biết ơn và xác tín lời hứa trong ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Thanh Tẩy, hãy dấn thân sống xác tín này trong đời sống hàng ngày. Chúa Giêsu cứu độ chúng ta không phải vì cộng trạng của chúng ta nhưng là để thực hiện lòng tốt vô biên của Cha, Ngài có lòng thương xót tất cả. Đức Maria Trinh Nữ, Mẹ của Lòng thương xót là người hướng dẫn và mẫu gương của chúng ta

Ngọc Yến, Vatican

ĐTC sẽ khai mạc tuần cầu nguyện hiệp nhất

ĐTC sẽ khai mạc tuần cầu nguyện hiệp nhất

Hằng năm, ĐTC vẫn chủ sự kinh chiều bế mạc tuần cầu nguyện hiệp nhất tại Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành ở Roma vào ngày 25-1, lễ Thánh Phaolô trở lại. Nhưng năm nay, ngài bận viếng thăm tại Panama từ ngày 23 đến 27-1 tới đây, nhân dịp Ngày Quốc Tế giới trẻ lần thứ 34, nên ngài chủ sự kinh chiều khai mạc.

100 năm lịch sử

Tuần cầu nguyện cho sự hiệp nhất các tín hữu Kitô đã có từ hơn 100 năm nay do sáng kiến của Mục Sư Anh Giáo Paul Wattson, sau này trở thành một LM Công Giáo. Từ 50 năm nay, chủ đề và các văn bản Kinh Thánh dùng trong Tuần Cầu Nguyện Hiệp Nhất Kitô do một nhóm làm việc chung thuộc Hội đồng Tòa Thánh hiệp nhất các tín hữu Kitô và Ủy ban Đức tin và Hiến Chế thuộc Hội đồng đại kết các Giáo Hội Kitô ở Genève cùng soạn thảo (KNA 8-1-2019)

G. Trần Đức Anh OP – Vatican

Đức Thánh Cha: Lễ Hiển Linh mở ra cho chúng ta sự mới mẻ của Chúa Giêsu

Đức Thánh Cha: Lễ Hiển Linh mở ra cho chúng ta sự mới mẻ của Chúa Giêsu

Hôm nay lễ Chúa Hiển Linh, ánh sáng là biểu tượng của Ngài. Nơi bài đọc trong sách ngôn sứ, ánh sáng này là lời hứa. Isaia đã hướng về Giêrusalem và nói: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏ trên ngươi.” (60,1). Lời mời này của ngôn sứ hôm nay nói lại với chúng ta qua việc mừng Giáng Sinh của Chúa Giêsu và khích lệ chúng ta đến ánh sáng ở Bêlem.

Ánh sáng mà Isaia tiên báo, trong Tin Mừng, đó là sự hiện diện và gặp gỡ. Đức Giêsu, sinh ra ở Nagiaret, trong thành Vua Đavit, đã mang đến ơn cứu độ cho tất cả, những người ở gần cũng như ở xa. Thánh sử Maccô đã cho thấy nhiều cách thức phản ứng khác nhau trước sự kiện này. Hêrôđê và các kinh sư ở Giêrusalem thì cứng lòng, và từ chối viếng thăm Hài Nhi, một cử chỉ đóng lại với ánh sáng. Có thể chúng ta cũng vậy, đóng con tim với anh chị em đang cần giúp đỡ. Ngược lại, các nhà Đạo sĩ, đại diện cho những người ở xa, đã để cho ngôi sao dẫn đường, đã đi quãng đường dài và nguy hiểm để biết sự thật về Đấng Mêsia. Và sau khi gặp Ngài, họ đã chọn lối khác để về. Mỗi lần một người gặp được Giêsu, thì sẽ đổi con đường, trở về cuộc sống với một cách thức khác. Và họ mang theo trên mình mầu nhiệm của vị Vua khiêm nhường và nghèo khó.

Chúng ta cũng vậy, cần chút thinh lặng trong tâm hồn để được ánh sáng của Chúa Giêsu chiếu giải. Đừng để con tim chúng ta đóng lại, nhưng can đảm mở ra cho ánh sáng này, chỉ đơn sơ và bé nhỏ.

Sau khi buổi đọc Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha nhắc đến những ngày gần đây, 49 người được cứu trên hai con tàu của tổ chức phi chính phủ. Đức Thánh Cha kêu gọi các nhà lãnh đạo Châu Âu thể hiện sự liên đới cụ thể với những anh chị em này.

Kế đến, một số Giáo hội Đông phương, Công giáo cũng như Chính thống giáo, sử dụng niên lịch Giuliano, sẽ cử hành lễ Giáng Sinh vào ngày mai (tức thứ 2, 7/1). Đức Thánh Cha gởi lời chúc mừng trong tình hiệp thông huynh đệ Kitô hữu.

Lễ Hiển Linh cũng là Ngày Truyền Giáo của Thiếu Niên, năm nay mời các nhà truyền giáo rất trẻ trở thành “những vận động viên của Chúa Giêsu”, để làm chứng cho Tin Mừng trong gia đình, nơi trường học và cả những nơi giải trí.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha chào thăm những khách hành hương, đặc biệt đoàn diễu hành truyền thống đến quảng trường thánh Phêrô.

Hôm nay lễ Chúa Hiển Linh, ánh sáng là biểu tượng của Ngài. Nơi bài đọc trong sách ngôn sứ, ánh sáng này là lời hứa. Isaia đã hướng về Giêrusalem và nói: “Đứng lên, bừng sáng lên! Vì ánh sáng của ngươi đến rồi. Vinh quang của Đức Chúa như bình minh chiếu tỏ trên ngươi.” (60,1). Lời mời này của ngôn sứ hôm nay nói lại với chúng ta qua việc mừng Giáng Sinh của Chúa Giêsu và khích lệ chúng ta đến ánh sáng ở Bêlem.

Ánh sáng mà Isaia tiên báo, trong Tin Mừng, đó là sự hiện diện và gặp gỡ. Đức Giêsu, sinh ra ở Nagiaret, trong thành Vua Đavit, đã mang đến ơn cứu độ cho tất cả, những người ở gần cũng như ở xa. Thánh sử Maccô đã cho thấy nhiều cách thức phản ứng khác nhau trước sự kiện này. Hêrôđê và các kinh sư ở Giêrusalem thì cứng lòng, và từ chối viếng thăm Hài Nhi, một cử chỉ đóng lại với ánh sáng. Có thể chúng ta cũng vậy, đóng con tim với anh chị em đang cần giúp đỡ. Ngược lại, các nhà Đạo sĩ, đại diện cho những người ở xa, đã để cho ngôi sao dẫn đường, đã đi quãng đường dài và nguy hiểm để biết sự thật về Đấng Mêsia. Và sau khi gặp Ngài, họ đã chọn lối khác để về. Mỗi lần một người gặp được Giêsu, thì sẽ đổi con đường, trở về cuộc sống với một cách thức khác. Và họ mang theo trên mình mầu nhiệm của vị Vua khiêm nhường và nghèo khó.

Chúng ta cũng vậy, cần chút thinh lặng trong tâm hồn để được ánh sáng của Chúa Giêsu chiếu giải. Đừng để con tim chúng ta đóng lại, nhưng can đảm mở ra cho ánh sáng này, chỉ đơn sơ và bé nhỏ.

Sau khi buổi đọc Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha nhắc đến những ngày gần đây, 49 người được cứu trên hai con tàu của tổ chức phi chính phủ. Đức Thánh Cha kêu gọi các nhà lãnh đạo Châu Âu thể hiện sự liên đới cụ thể với những anh chị em này.

Kế đến, một số Giáo hội Đông phương, Công giáo cũng như Chính thống giáo, sử dụng niên lịch Giuliano, sẽ cử hành lễ Giáng Sinh vào ngày mai (tức thứ 2, 7/1). Đức Thánh Cha gởi lời chúc mừng trong tình hiệp thông huynh đệ Kitô hữu.

Lễ Hiển Linh cũng là Ngày Truyền Giáo của Thiếu Niên, năm nay mời các nhà truyền giáo rất trẻ trở thành “những vận động viên của Chúa Giêsu”, để làm chứng cho Tin Mừng trong gia đình, nơi trường học và cả những nơi giải trí.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha chào thăm những khách hành hương, đặc biệt đoàn diễu hành truyền thống đến quảng trường thánh Phêrô.

Văn Yên, SJ

Đức Thánh Cha dâng lễ Chúa Hiển Linh: Ánh Sáng Dịu Dàng của Thiên Chúa toả sáng trong tình yêu khiêm nhường

Đức Thánh Cha dâng lễ Chúa Hiển Linh: Ánh Sáng Dịu Dàng của Thiên Chúa toả sáng trong tình yêu khiêm nhường

Sáng Chúa Nhật Lễ Chúa Hiển Linh, lúc 10h, Đức Thánh Cha dâng Thánh Lễ trọng thể tại đền thờ thánh Phêrô cùng với nhiều hồng ý, giám mục và các tín hữu tham dự.

Trong bài giảng lễ, bắt đầu từ việc giải nghĩa từ “hiển linh” – Chúa tỏ mình ra, Đức Thánh Cha nhắc đến Chúa tỏ mình ra cho tất cả mọi dân tộc, ba nhà Đạo sĩ là những người đại diện. Ngài tỏ thực tại tuyệt đẹp của Thiên Chúa, đến với tất cả mọi nước, mọi dân tộc và ngôn ngữ đều được Ngài đón nhận và yêu mến. Biểu tượng cho điều này là ánh sáng, vươn đến và chiếu soi tất cả.

Hôm nay, nếu Thiên Chúa chúng ta tỏ mình ra cho tất cả mọi người, thì ngài cũng sẽ tiếp tục làm ngạc nhiên về cách Ngài tỏ mình ra. Tin Mừng kể về những xôn xao trong cung điện vua Hêrôđê, trong khi Chúa Giê-su lại tỏ mình ra như một vị vua: “Đức Vua dân Dothái mới sinh, hiện ở đâu?” (Mt 2,2), Ba vị Đạo sĩ hỏi. Họ sẽ tìm thấy Ngài, nhưng không phải là nơi họ đã nghĩ: không phải trong điện ngà Giêrusalem, nhưng trong ngôi nhà đơn sơ ở Bêlem. Có một sự nghịch lý trong lễ Giáng Sinh khi Tin Mừng nói về kiểm tra dân số trên khắp cả thiên hạ thời hoàng đế Augustô và tổng trấn Quirinio (x. Lc 2,2). Nhưng không một nhà cầm quyền nào để ý rằng Đức Vua của lịch sử đã sinh ra trong thời của họ. Và rồi, khi Chúa Giêsu được 30 tuổi, Ngài lại tỏ mình công khai, Gioan Tẩy Giả đã đi trước, Tin Mừng đã giới thiệu Ngài một lần nữa trọng thể, và liệt kê tất cả mọi “cấp bậc” quyền lực cả đời lẫn đạo: Tiberio Cesare, Phongxio Pilato, Hêrôđê, Philippo, Lisania, thượng tế Anna và Caipha. Và ngài kết luận: “Lời Thiên Chúa phán với Gioan trong hoang địa” (Lc 3,2). Như thế, Lời Chúa không đến với bất cứ cấp bậc nào, nhưng đến với một người ẩn mình trong sa mạc. Quả là ngạc nhiên: Thiên Chúa không lên sân khấu của thế giới này để tỏ mình ra.

Khi nghe danh sách những người nổi tiếng, người ta có thể dễ dàng có khuynh hướng “quay ánh đèn” về phía họ. Chúng ta có thể nghĩ rằng: Có lẽ sẽ hay hơn nếu ngôi sao của Đức Giê-su hiện ra ở Roma trên ngọn đồi Palatino, nơi hoàng đế Augusto đã ngự triều cai quản thế giới; khi ấy toàn đế quốc lập tức trở thành Kitô giáo. Hay nếu ngôi sao chiếu trên cung điện vua Hêrôđê, thì ông ấy có thể làm điều tốt chứ không làm điều xấu. Nhưng ánh sáng của Thiên Chúa lại không đến với ai toả sáng bằng ánh sáng của riêng họ. Thiên Chúa đề nghị nhưng không áp đặt; chiếu sáng nhưng không làm chói mắt. Chúng ta luôn có một cám dỗ lớn là đem so sánh ánh sáng của Thiên Chúa với ánh sáng của thế gian. Đã bao lần chúng ta chạy theo quyến rũ lấp lánh của quyền lực và của sân khấu, lại thấy rằng mình phục vụ tốt cho Tin Mừng. Nhưng như thế chúng ta đã hướng ánh sáng vào nhầm chỗ, vì Thiên Chúa không ở đó. Ánh sáng của Ngài nhẹ nhàng chiếu giải tình yêu khiêm nhường. Rồi bao nhiêu lần chúng ta, như là Giáo Hội, đã toả sáng bằng chính ánh sáng của mình! Nhưng chúng ta không phải là mặt trời của nhân loại. Chúng ta là mặt trăng phản chiếu ánh sáng thật là Thiên Chúa. Giáo Hội là ánh trăng mầu nhiệm và Thiên Chúa là ánh sáng của trần gian (x. Ga 9,5). Chính Ngài chứ không phải chúng ta.

Ánh sáng của Thiên Chúa đến với ai biết đón nhận. Tiên tri Isaia trong bài đọc một (x. Is 60,2) đã nhắc nhở chúng ta rằng ánh sáng của Thiên Chúa không ngăn chặn bóng tối và mây mù phủ lấp mặt đất, nhưng chiếu toả trên ai sẵn sàng đón nhận. Do đó, tiên tri lặp lại lời mời dành cho mỗi người: “Đứng lên, bừng sáng lên” (60,1). Hãy đứng dậy, nghĩa là thoát ra khỏi chỗ hiện tại của mình và sẵn sàng bước đi. Nếu không, sẽ vẫn giậm chân tại chỗ như các kinh sư tư vấn cho vua Hêrôđê, về điều họ đã biết, là Đấng Mêsia sinh ra ở đâu, nhưng không một bước di chuyển. Và rồi mỗi ngày, chúng ta cần mặc lấy Thiên Chúa là ánh sáng, cho đến khi Đức Giêsu trở thành trang phục hằng ngày của chúng ta. Nhưng để mặc lấy trang phục của Thiên Chúa, vốn đơn giản như ánh sáng, thì trước tiên cần cởi bỏ những trang phục hào hoa. Nếu không thì cũng giống vua Hêrôđê, dù thấy ánh sáng của Thiên Chúa nhưng vẫn thích ánh sáng trần thế của thành công và danh vọng. Ngược lại, như Ba vị Đạo sĩ, nhận ra lời tiên tri, họ đứng dậy để mặc lấy ánh sáng. Chỉ có họ nhìn thấy ngôi sao trên bầu trời: các kinh sư không nhìn thấy, Vua Hêrôđê không nhìn thấy và cũng chẳng có ai ở Giêrusalem nhìn thấy. Để tìm kiếm Đức Giêsu, phải đi theo một hành trình khác, con đường của Ngài, con đường yêu thương khiêm nhường. Và phải kiên trì theo con đường đó. Thật vậy, Tin Mừng hôm nay kết luận rằng Ba nhà Đạo sĩ, sau khi gặp Đức Giêsu, đã “đi con đường khác mà về xứ mình” (Mt 2,12). Một con đường khác với con đường của Hêrôđê. Một con đường khác để vào thế giới, giống như con đường của bao nhiêu người trong cảnh Giáng Sinh đã ở với Đức Giêsu: Đức Maria, thánh Giuse, các mục đồng. Cũng giống như các vị Đạo sĩ, họ rời bỏ nơi cư ngụ của mình, để trở thành những kẻ hành hương trên con đường của Thiên Chúa. Bởi vì chỉ có ai dám bỏ đi sự dính bén với thế gian này để bước đi thì mới có thể tìm thấy mầu nhiệm của Thiên Chúa.

Điều này đúng cả với chúng ta. Nếu chỉ biết nơi Chúa Giêsu sinh ra mà không đến nơi thì chưa đủ, giống các kinh sư thôi. Nếu chỉ biết Đức Giêsu mới sinh là ai mà không gặp Ngài thì không đủ. Khi nào nơi của ngài trở thành nơi của chúng ta, thời của ngài trở thành thời của chúng ta, con người của Ngài trở thành sự sống của chúng ta, thì khi ấy lời tiên tri ứng nghiệm nơi chúng ta. Và như thế, Giêsu sinh ra trong chúng ta và trở thành “Thiên Chúa hằng sống vì tôi”. Hôm nay, chúng ta được mời gọi theo gương các vị Đạo sĩ. Họ không bàn cãi, nhưng bước đi; họ không đứng lại nhìn, nhưng bước vào nhà của Giêsu; không đặt mình làm trung tâm, nhưng bái lạy Giêsu, vì Ngài mới là trung tâm; họ không cứng nhắc với kế hoạch của họ, nhưng sẵn sàng chọn đường khác để về. Bằng cử chỉ, họ diễn tả mối tương quan mật thiết với Chúa, một sự mở ra trọn vẹn với Ngài, một liên hệ toàn bộ với Ngài. Họ dùng ngôn ngữ tình yêu để liên hệ với Ngài, cùng một ngôn ngữ mà Giêsu con trẻ đã nói. Thật vậy, các vị Đạo sĩ đến với Chúa không phải để nhận, nhưng để cho. Chúng ta tự hỏi: Chúng ta đã mang đến cho Chúa Giêsu món quà nào trong ngày lễ Giáng Sinh của Ngài, hay chúng ta chỉ trao đổi quà cho nhau giữa chúng ta?

Nếu chúng ta đã đến với Chúa bằng tay không, thì hôm nay chúng ta có thể bù lại được. Có thể thấy Tin Mừng kể một danh sách ngắn những món quà: vàng, nhũ hương mộc dược. Vàng nói lên điều giá trị nhất, để nhắc nhớ rằng vị Đạo sĩ đã đặt Thiên Chúa ở vị trí trên hết, để tôn thờ. Nhưng để làm được điều đó thì phải rút mình khỏi vị trí cao nhất đó và thấy mình cần được giúp đỡ, mình không tự đủ được. Rồi đến nhũ hương, biểu tượng của sự tương quan với Thiên Chúa, việc cầu nguyện, như hương trầm bay toả trước Thánh Nhan (x. Tv 141,2). Nhưng, giống như hương trầm, để toả hương thì phải chịu đốt cháy; vì thế, việc cầu nguyện cũng “đốt cháy” chút thời gian, dành giờ cho Thiên Chúa. Cầu nguyện thật sự thì không phải chỉ bằng lời. Và rồi, mộc dược, được dùng cùng với tình yêu để liệm xác Đức Giêsu tháo xuống từ Thánh Giá (x. Ga 19,39). Chúa vui khi chúng ta chăm sóc những thân thể chịu nhiều đau khổ, những thân xác yếu đuối, những ai bị lùi lại đàng sau, những ai chỉ có thể nhận mà không thể đổi lại gì về vật chất. Thật quý trong mắt Thiên Chúa khi tỏ lòng thương xót đối với những người không có gì để đền đáp – một sự miễn phí, nhưng không! Sự miễn phí, nhưng không thật quý trong mắt Thiên Chúa. Trong thời gian gần kết thúc Mùa Giáng Sinh, chúng ta đừng để mất cơ hội làm một món quà đẹp cho Vị Vua của chúng ta, Ngài đến không trên sân khấu xa hoa của thế giới, nhưng trong sự nghèo mà sáng của Bêlem. Nếu chúng ta làm điều đó, thì ánh sáng của Ngài sẽ chiếu toả trên chúng ta.

Văn Yên, SJ

Thành phố Rakovski, Bungari, chuẩn bị đón tiếp ĐTC Phanxicô

Thành phố Rakovski, Bungari, chuẩn bị đón tiếp ĐTC Phanxicô

ĐTC sẽ đi trực thăng đến thành phố Rakovski ở miền Plovdiv, thành phố có khoảng 30 ngàn dân. Dự kiến là sẽ có khoảng 50 ngàn người tham dự Thánh lễ, trong số đó có rất nhiều người đến từ các vùng khác của Bungari.

40 em rước lễ lần đầu

Cha Mladen, cha sở giáo xứ Thánh Tâm Chúa Giê-su thuật lại rằng tất cả các thiếu nhi 7 và 8 tuổi rất nhiệt tình và nôn nóng được gặp ĐTC. Cha cũng cho biết rằng các em đang chuẩn bị quà tặng cho ĐTC nhưng không muốn tiết lộ các chi tiết khác.

Các công việc chuẩn bị cho cuộc viếng thăm của ĐTC đang tiến hành thuận lợi. Cha Dimitar sẽ đến Vatican vào ngày 12/01 để nhận những hướng dẫn chi tiết về chuyến viếng thăm của ĐGH, đặc biệt để quyết định bài hát nào sẽ được hát, về thời gian cử hành Thánh lễ và các chi tiết đặc biệt khác cần thiết cho việc chuẩn bị sự kiện.

Sự kiện duy nhất  xảy ra một lần trong đời

Thị trưởng thành phố Rakovski, ông Paul Gudzherov, cũng cho biết mình rất nhiệt tình và vui mừng có thể đón tiếp ĐTC Phanxicô. Ông nói: “Chúng tôi đang hăng hái chuẩn bị. Đối với chúng tôi, đây là một sự kiện đặc biệt, duy nhất, thường chỉ xảy ra một lần trong cuộc đời của các thành phố và người dân”.

Thành phố Rakovski được chia thành ba quận – Generale Nikolaevo, Sekirovo và Parchevich – và có cộng đoàn Công giáo lớn nhất nước Bungari. Ông thị trưởng cho biết là nhờ sự trợ giúp của chính quyền nhà nước, các đường phố, quảng trường, vườn hoa, đường đi bộ và ánh sáng đang được xây dựng và sửa chữa; các việc này sẽ sẵn sàng để đón tiếp ĐTC Phanxicô. Thành phố đã bắt đầu công việc chuẩn bị từ năm ngoái khi chuyến viếng thăm Bungari của ĐTC được xác định và lên kế hoạch chi tiết.

ĐTC Phanxicô sẽ thăm Bungari từ ngày 05-07/05 năm nay.

Hồng Thủy

ĐHY Parolin: ĐGH chưa thể viếng thăm Iraq lúc này vì chưa có an ninh

ĐHY Parolin: ĐGH chưa thể viếng thăm Iraq lúc này vì chưa có an ninh

Trong cuộc phỏng vấn dành cho đài truyền hình TV 2000 của Hội đồng Giám mục Ý, được phát sóng trong chương trình đặc biệt “Nhật ký của ĐGH Phanxicô, ĐHY Parolin đã trả lời về một số vấn đề, trong đó có các đề tài: sự quan tâm của ĐGH với thế giới A rập, chủ nghĩa khủng bố, ĐGH viếng thăm Iraq và vấn nạn ấu dâm.

ĐGH chưa thể thăm Iraq

Trước hết là về việc ĐGH viếng thăm Iraq, ĐHY Parolin cho biết tất cả đều rất chờ đợi cuộc viếng thăm của ĐGH: chính quyền, một số người Hồi giáo mà ngài có cơ hội gặp gỡ và nhất là cộng đoàn Ki-tô, họ cảm thấy cần có ĐGH để được củng cố trong đức tin và được khuyến khích trong hoàn cảnh của họ. Nhưng ĐHY nhận định: “Để ĐGH viếng thăm Iraq thì cần có những điều kiện tối thiểu để thực hiện chuyến viếng thăm nhưng hiện tại thì chưa có những điều kiện này. Cho phép tôi diễn tả hy vọng rằng những điều kiện này có thể được thực hiện và ĐGH có thể sớm đến Iraq.”

ĐGH và thế giới A-rập

Tiếp đến, ĐHY nhận định rằng quan tâm của ĐGH với thế giới A-rập là do khó khăn hiện nay trong các tương quan giữa Ki-tô giáo và Hồi giáo, với những thảm kịch của khủng bố và của cực đoan tôn giáo. ĐGH đã tìm cách cổ võ sự gặp gỡ, chống lại mọi sự dửng dưng. Như ĐGH đã nói, những khó khăn của chúng ta không bao giờ được trở thành cơ hội căng thẳng, xung đột hay đối kháng nhưng ngược lại, chúng trở thành khả năng cộng tác cùng nhau và làm cho nhau nên phong phú.”

Nạn ấu dâm

Nói về nạn ấu dâm trong Giáo hội, ĐHY Parolin khẳng định: “Chúng ta phải làm tất cả điều có thể và cả không thể để loại trừ hiện tượng này.” Ngài nhìn nhận rằng Giáo hội đã thực hiện một hành trình tuyệt vời theo hướng này. Giáo hội đã nhận thức tốt hơn về vấn đề này, về sự tàn phá mà những sự kiện này đã gây ra nơi các nạn nhân và Giáo hội đã cố gắng phản ứng. Tuy kết quả chưa hoàn hảo nhưng Giáo hội đã có sự dấn thân và quyết tâm. Cuộc gặp gỡ mà ĐGH vô cùng mong muốn (“Bảo vệ trẻ vị thành niên trong Giáo hội, từ ngày 21-24/02/2019 tại Vatican) là một dấu chỉ mới nhất trong hành trình này.

ĐHY nhận xét rằng tất cả điều này ảnh hưởng nặng nề trên hành động và chứng tá của Giáo hội trên thế giới, nó cũng góp phần làm suy yếu uy tín của Giáo hội. Ngài nói: “Tôi không đau buồn nhiều vì tổ chức Giáo hội mà tôi coi như một người mẹ mà mình luôn yêu thương nhưng vì tất cả những điều này gây thiệt hại cho việc loan báo Tin Mừng. Chúng ta phải phục hồi uy tín và thẩm quyền. Giáo hội đã thực hiện các bước đáng kể để phục hồi uy tín và thẩm quyền, nhưng chúng ta phải làm việc nhiều hơn theo cách này để các tín hữu và những người đã chịu phép rửa có thể tìm lại trong Giáo hội môi trường có sức sống và môi trường của chứng tá".

Hồng Thủy

ĐTC chấp thuận tính luân lý của việc cắt bỏ tử cung trong một số trường hợp

ĐTC chấp thuận tính luân lý của việc cắt bỏ tử cung trong một số trường hợp

Hôm 10/12/2018, ĐTC đã phê duyệt câu trả lời của Bộ Giáo lý Đức tin liên quan đến nghi ngờ về tính hợp luân lý của việc cắt bỏ tử cung trong một số trường hợp.

Các câu trả lời năm 1993 vẫn có giá trị

Bộ Giáo lý Đức tin khẳng đinh giá trị của “Các câu trả lời về những nghi ngờ được đặt ra liên quan đến việc cắt bỏ tử cung và các câu hỏi liên quan” được đưa ra năm 1993. Những câu trả lời này xem việc cắt bỏ tử cung là hợp luân lý khi có nguy hiểm nghiêm trọng và đối với tính mạng hoặc sức khỏe của người mẹ, và xem việc này là bất hợp pháp, như một phương thức triệt sản trực tiếp, cắt bỏ tử cung và thắt ống dẫn trứng (cách ly tử cung) với mục đích không thể có bất kỳ sự mang thai nào mà có thể gây ra một số rủi ro cho người mẹ.

Nghi ngờ

Nhưng trong những năm gần đây, một số trường hợp cụ thể đã được đệ trình lên Tòa Thánh, cũng liên quan đến việc cắt bỏ tử cung, tuy nhiên chúng đề cập đến một vấn đề khác với vấn đề được xem xét vào năm 1993, vì chúng liên quan đến những tình huống không thể sinh sản. Bộ Giáo lý đức tin đã đưa ra một chú giải để cho vấn nạn này.  

Câu hỏi: Khi tử cung bị xem là ở trong tình trạng chắc chắn không còn phù hợp cho việc sinh sản và các chuyên viên y khoa chắc chắn rằng việc mang thai sẽ đưa đến việc hư thai tự nhiên trước khi bào thai có thể đạt đến tình trạng khả thi, vậy thì cắt bỏ tử cung có hợp pháp không?

Trả lời: Có, bởi vì ở đây không phải là trường hợp triệt sản.

Ghi chú chú giải:

Không thể sinh sản

Yếu tố tạo nên sự khác biệt quan trọng của câu hỏi mới này là các chuyên viên y khoa chắc chắn rằng trong trường hợp mang thai, thì nó sẽ tự bị hư trước khi bào thai đạt đến tình trạng có thể sống được. Ở đây không phải là trường hợp khó khăn hay rủi ro, quan trọng nhiều hay ít, nhưng là trường hợp một đôi vợ chồng không thể sinh sản.

Ghi chú của Bộ viết: “Mục đích chính của việc triệt sản là ngăn cản sự hoạt động của các cơ quan sinh sản và điều xấu của việc triệt sản bao gồm việc từ chối con cái: nó là một hành động chống lại thiện ích có con cái. Ngược lại trong trường hợp được đề cập đến trong câu hỏi, chúng ta biết rằng các cơ quan sinh sản không có khả năng bảo vệ một bào thai được thụ tinh cho đến khi nó có thể sống được, nghĩa là nó không có khả năng thực hành chức năng sinh sản tự nhiên của nó. Mục đích của tiến trình sinh sản là để một em bé chào đời, nhưng ở đây, việc tạo nên một bào thai sống là điều không thể về sinh học. Do đó, ở đây chúng ta không đang xét đến sự hoạt động khiếm khuyết hoặc hoặc rủi ro của các cơ quan sinh sản, nhưng đứng trước một tình huống mà trong đó mục đích tự nhiên là sinh ra một đứa trẻ sống thì không thể thực hiện được.”

Sự chắc chắn của y khoa và tính hợp luân lý của việc cắt bỏ tử cung

Can thiệp y khoa không thể bị xét là chống lại việc sinh sản, bởi vì chúng ta ở trong bối cảnh khách quan trong đó cả việc sinh sản và hậu quả, việc chống sinh sản, đều không thể. Do đó, cắt bỏ một cơ quan sinh sản mà không thể đưa đến việc thai nghén thì không thể bị xem như là triệt sản trực tiếp, là điều mà cả mục đích và phương tiện đều bất hợp pháp về bản chất.

Vấn đề về các tiêu chí để đánh giá liệu việc mang thai có thể hoặc không thể kéo dài đến trạng thái sống được là một vấn đề y khoa. Từ quan điểm đạo đức, chúng ta phải hỏi xem y học đã đạt được mức độ chắc chắn nhất mà nó có thể đạt được không, và theo nghĩa này, câu trả lời được đưa ra là hợp lệ cho câu hỏi, vì nó đã được đặt ra với một đức tin tốt.

Chọn lựa những cách thức tốt cho vợ chồng

Câu trả lời cho câu hỏi không nói rằng quyết định thực hành phẫu thuật cắt tử cung luôn là chọn lựa tốt nhất, nhưng nói rằng chỉ trong các điều kiện được đề cập ở trên, nó là một quyết định hợp luân lý, do đó không loại trừ các lựa chọn khác (ví dụ, nghĩ đến thời gian không thể thụ thai hoặc tiết dục hoàn toàn). Đó là quyết định của vợ chồng, với sự bàn bạc với các bác sĩ và người linh hướng của họ, để chọn con đường để theo, khi áp dụng các tiêu chí chung của việc can thiệp y tế từ từ vào trường hợp và hoàn cảnh của họ.

Hồng Thủy